Đi tìm Dora "Ta rất muốn
hiểu tại sao lại thế"
Là một người “sở hữu năng lực dị thường” trong việc “cảm nhận những rung động từ quá khứ và cả những tiên đoán từ tương lai” (Debarati Sanyal, Public Books), Patrick Modiano – giải Nobel văn học năm 2014 – đã làm những chuyến thám hiểm vào sương mù quá khứ, phục dựng một cách xuất sắc bầu khí quyển Paris và những phận người thời Đức chiếm đóng từ những mảnh vỡ kí ức và dấu vết hết sức rời rạc, từ đó gợi dẫn đến những dự phóng về tương lai không chỉ riêng của Paris hay nước Pháp cách đây hơn nửa thế kỉ.
Hơn 40 tiểu thuyết của ông, với sự trở đi trở lại của những nỗi
ám ảnh về kí ức và sự quên lãng, về sự tái thiết một căn tính đã thất lạc, về
cách mà thời cuộc đã hư vô hóa những con người lưu vong trên cái nền Paris ấy,
đã không ngừng phản tỉnh người đọc về sự “xong xuôi” của quá khứ. Mỗi tác phẩm
của Modiano, vì thế, luôn luôn là một hành trình tìm kiếm kí ức, khi thì của
chính “tôi”, khi thì của một người hoàn toàn xa lạ. Đi tìm Dora (tên
tiếng Pháp: Dora Bruder, vừa được dịch và ấn hành ở Việt Nam), được xuất bản lần
đầu tiên vào năm 1997, cũng là sự triển khai motif và chủ đề quen thuộc của
Modiano. Và nó đã trở thành một trong những tác phẩm quan trọng bậc nhất trong
sự nghiệp văn chương của ông, bởi nỗi ám ảnh, day dứt không nguôi về sự biến mất
của một con người mà những gì còn lại về người đó ít ỏi và mơ hồ đến độ sau những
vất vả kiếm tìm thì nó lại chỉ gợi lên một nỗi nghi ngờ: nỗi nghi ngờ về sự tồn
tại.
Ba lần bị hư vô hóa và bí mật của Dora
Năm 1988, nhân vật “tôi” (cũng có thể là chính tác giả) bắt gặp
một mẩu tin tìm người trên tờ nhật báo cũ ra ngày 31 tháng mười hai năm 1941:
‘”PARIS
Tìm một thiếu nữ, Dora Bruder, 15 tuổi, cao 1 mét 55, mặt
trái xoan, mắt màu ghi ánh vàng, áo măng tô thể thao màu ghi, áo len màu đỏ đô,
chân váy và mũ màu xanh nước biển, giày thể thao màu hạt dẻ. Xin gửi mọi thông
tin chỉ dẫn cho ông bà Bruder, số 41, đại lộ Ornano, Paris.”
Nhân vật nữ, đặc biệt là những nhân vật trẻ tuổi, trong tiểu
thuyết của Patrick Modiano thường xuất hiện và chiếm lấy phần lớn kí ức của các
nhân vật nam chính trong hành trình tìm về quá khứ. Dẫu vậy, chân dung và lai lịch
của nhân vật nữ vẫn hiện ra như những bóng hình mờ ảo của một thời đã xa: không
rõ tên, không rõ tuổi, không nhân thân, không lai lịch, không nghề nghiệp và
không ngừng dịch chuyển. Nói cách khác, sự hiện hữu của họ luôn bị chìm khuất
trong hai lớp mù sương: sương mù quá khứ và sương mù thời cuộc. Dora Bruder
cũng không ngoại lệ.
Đó là một cô gái hoàn toàn xa lạ, nhưng lại nhanh chóng cuốn
hút “tôi” vào một cuộc truy tìm các chỉ dấu xa xôi nhất trong thời gian. Thế
nhưng, bất chấp mọi nỗ lực của “tôi”, những gì còn lại về một Dora Bruder chỉ
là những mảnh vỡ rời rạc mà khi ghép lại chỉ có thể cung cấp cho người ta một hồ
sơ đầy thiếu khuyết: một vài tấm ảnh Dora chụp với gia đình trước khi mất tích,
một vài thông tin về cha mẹ Dora, một chút kí ức của người em họ về tính cách của
Dora, và một vài dòng ghi chú ngắn gọn trong các sổ đăng kí ở khách sạn tạm
trú, ở trường nội trú và ở đồn cảnh sát. Làm cách nào, sự hiện diện của một con
người, vốn dĩ rất khó nhọc, lại có thể bị hư vô hóa đến mức mọi cuộc tìm kiếm đều
trở nên vô vọng đến vậy?
Paris thời chiếm đóng là nỗi ám ảnh của Patrick Modiano. Bầu
không khí chính trị ngột ngạt, căng thẳng bởi những vụ bắt bớ, vây ráp bất ngờ
khiến người ta phải không ngừng lẩn trốn. Với người Do Thái, tình cảnh càng trở
nên khủng khiếp hơn, khi đạo luật dành cho người Do Thái bắt đầu có hiệu lực.
Gia đình Dora là một gia đình Do Thái lưu vong. Nhưng dẫu ở xa nước Đức, họ vẫn
phải chịu chung số phận. Từ đây, sự hủy diệt bắt đầu tấn công vào Dora.
Trong hồ sơ Do Thái, cha của Dora đã không khai báo cô con
gái của mình. Song đó là cách cha cô bảo vệ cô thoát khỏi sự giám sát của cảnh
sát. Dora, về mặt pháp lí, là hoàn toàn không tồn tại. Cha mẹ cô bị số hóa
thành 49091. Những người Do Thái khác cũng vậy. Không lâu sau, họ bị vật hóa,
thành những ngôi sao vàng. Còn Dora, cô thậm chí còn không có số. Dora bị hư vô
hóa lần thứ nhất.
Sự kiện Dora bị mất tích đã buộc cha cô khai báo bổ sung và
đăng tin tìm Dora. Lần này, cô đã hiện hữu, nhưng là sự hiện hữu để chính thức
bị hư vô hóa lần thứ hai, khi cô bị bắt vào những trại tập trung. Cũng như biết
bao nhân vật khác trong thế giới tiểu thuyết Modiano, Dora và những người Do
Thái chỉ mang trong mình hi vọng được tồn tại. Các vấn đề về căn tính, bản sắc,
tương lai, hiện tại… đều trở nên xa xỉ cực độ. Thế nhưng, hi vọng sinh tồn đó
thường chỉ là ảo vọng. Số người may mắn (một cách kì diệu) sống sót sau
Holocaust là rất ít. Hai lần bị hư vô hóa, Dora có phải đã từng tồn tại không?
Hành trình Đi tìm Dora của “tôi” đã khai quật được
từng mảnh vụn cuộc đời của cô gái ấy theo nhiều cách khác nhau, song những dấu
vết rõ ràng nhất chỉ là một hai địa chỉ mà cô đã từng ở, những ngày tháng năm
đánh dấu cô sinh ra, bỏ trốn, bị bắt, chuyển trại. Cuộc đời một con người còn
lưu lại trên thế gian chỉ có vậy. Có lẽ vì thế mà “tôi” không ngừng đưa ra những
phỏng đoán, bằng năng lực “thấu thị” (được nhắc đến trong tác phẩm như là một
năng lực kích hoạt những trực giác ngắn ngủi liên quan tới các sự kiện đã qua
hoặc trong tương lai), để làm đầy những vùng trũng của quá khứ. Sự trống rỗng của
quá khứ khiến “tôi” choáng ngợp. “Tôi” buộc mình không ngừng neo chặt vào những
chỉ dấu, thậm chí viết hẳn một cuốn tiểu thuyết về Dora. Một nỗ lực kháng cự lại
sự quên lãng và để tái hiện hữu hóa một con người! Thế nhưng, đó vẫn chỉ là những
phỏng đoán của “tôi”. Nó là những mảnh ghép mãi mãi không thể nào chính xác và
tương thích hoàn toàn với những phần bị mất đi của Dora. Đó là sự gán ghép cuộc
đời “tôi” với Dora, là sự chỉnh sửa đầy nguy cơ. Vì ở một góc độ nhất định, sự
lấp đầy đó có thể làm biến dạng, sai lệch chân dung lẫn số phận của Dora. Dora
không còn đúng với Dora nữa. Và khi đó, nỗ lực tái hiện hữu hóa lại trở thành một
lần hư vô hóa Dora, lần thứ ba!
Đến cuối cùng, Dora không hiểu tại sao cả thế giới mà cô đang
sống, thành phố Paris, những năm 1941 – 1942, lệnh giới nghiêm, lính tráng, cảnh
sát, toàn bộ đều trở nên thù địch và muốn cô tiêu đời – ở tuổi 16. Dora và bao
nhiêu người Do Thái cùng chung số phận với cô, có lẽ, cho đến tận thời khắc cuối
cùng của đời mình, trong những trại tập trung, trong những phòng hơi ngạt, cũng
không hiểu tại sao.
Nhìn lại những nỗ lực vô vọng của “tôi” trong việc Đi
tìm Dora từ màn sương mù kí ức, có thể nói, cuộc đời Dora đã bị đánh cắp gần
như toàn bộ. Những gì còn lại quá ít ỏi, những phần thiếu khuyết giờ mãi mãi bị
vùi lấp trong đám bụi mờ thời gian và trở thành một bí mật. Một bí mật của
riêng Dora, như chính “tôi” cảm nhận: “Tôi vẫn sẽ không biết được cô từng làm
những gì để qua ngày, cô đã lẩn trốn ở đâu, cô sống cùng ai trong những tháng
mùa đông lần đầu bỏ trốn và trong vòng vài tuần mùa xuân, khi cô lại trốn đi lần
nữa. Đó là bí mật của cô. Một bí mật nghèo nàn và quý giá mà đám đao phủ, các đạo
luật, chính quyền với danh chiếm đóng, Dépôt, các trại lính, các trại, lịch sử,
thời gian – toàn bộ những gì vấy bẩn ta và hủy diệt ta – hẳn chẳng bao giờ đánh
cắp được của cô.”
Đó là một bí mật không ai đánh cắp được, nhưng cũng không có cơ hội lưu dấu hay trao truyền được. Bí mật cũng đã hóa hư vô.
Một nỗ lực phục hồi kí ức
Theo dấu hành trình “đi tìm thời gian đã mất” của những nhân
vật nam chính trong tiểu thuyết của Patrick Modiano, người đọc có thể cảm nhận
rõ họ luôn bị thu hút bởi hình ảnh và hành trạng của một người phụ nữ dẫu rằng
những cuộc gặp gỡ của họ hầu hết là tình cờ giữa những phận người trôi dạt.
Trong Đi tìm Dora, giữa “tôi” và Dora không có bất cứ mối quan hệ huyết
thống hay xã hội nào, “tôi” còn chưa từng biết đến sự tồn tại của cô gái Do
Thái ấy, và phải gần 50 năm sau, khi biết thì người đó đã hoàn toàn thuộc về
quá khứ và gần như bị chìm lấp. Vì sao “tôi” lại bị cuốn hút và dấn bước vào
hành trình tìm kiếm quá khứ của một cô gái xa lạ và cách xa mình đến thế?
Những điểm tương đồng tình cờ giữa Dora và “tôi” không chỉ
giúp “tôi” có được sự “thấu thị” và dấn sâu vào công việc tìm kiếm lại những
năm tháng bị khuất lấp của Dora, mà còn trở thành chất dẫn cháy làm bùng lên những
điểm rời rạc nhưng rõ ràng trong vùng kí ức của mình. Ông không biết gì về Dora
vào năm 1965, khi ông 20 tuổi và bà đã chết hơn 20 năm, ông nhận ra rằng tất cả
những kí ức không trọn vẹn đáng lo ngại này từ năm 1965 “không chỉ đơn giản là
do tình cờ”. Việc Dora bỏ trốn khỏi trường nội trú cũng làm “tôi” nhớ lại ấn tượng
mạnh mẽ trong lần bỏ trốn năm 16 tuổi. Địa chỉ 41, đại lộ Ornano, ngay lập tức
đánh thức những kí ức của “tôi” về nó. Cái số 41 ông chưa bao giờ chú ý, giờ
đây neo chặt vào tâm trí ông. Như vậy, kí ức của “tôi”, sau mấy mươi năm, lại bất
ngờ được làm đầy theo cái cách như thế.
Như hầu hết tiểu thuyết của Modiano, thời gian tuyến tính
hoàn toàn bị phá vỡ, tự sự mang tính vụn mảnh khi các khoảng thời gian có thể
chia lưới, thâm nhập vào nhau, xếp lớp, pha trộn và làm mờ một cách tự nhiên
trong tâm trí. Nỗ lực khôi phục kí ức tuy kiên nhẫn và kiên quyết, nhưng lại
mang đến một bức tranh mà tổng thể là vô cùng lồi lõm. Tại một số điểm không –
thời gian, kí ức hoàn toàn trống rỗng, là một vùng trũng sâu xuống như vùng bí
mật của Dora; nhưng cũng có một số điểm, những lớp kí ức chồng lên nhau, phồng
lên bởi kí ức về Dora chồng lên kí ức của “tôi”, kí ức về những những người phụ
nữ và những người Do Thái khác cùng thời với Dora… và có một số điểm được lấp đầy
bằng tưởng tượng của “tôi”. Khả năng gợi lại những kí ức vừa mơ hồ vừa rõ ràng
về Paris đầu những năm 40 của thế kỉ trước có thể nhắc nhớ về hành trình “đi
tìm thời gian đã mất” của Marcel Proust, song không phải làm sống lại một cách
chi tiết và sinh động thời quá vãng, mà là làm mờ hóa mọi đường nét để người đọc
chỉ còn bị ấn tượng đến ám ảnh bầu không khí ngột ngạt, căng thẳng khi đó. Mức
độ hư vô hóa của nó đối với những phận người lưu vong, những người Do Thái luôn
ở mức cao nhất: “Những bố mẹ mất dấu con của họ, và một trong số họ đến lượt
mình cũng biến mất, vào ngày 19 tháng ba, như thể mùa đông năm ấy chia tách mọi
người, làm rối tinh và xóa mất lộ trình của họ, tới nỗi ném một nỗi nghi ngờ
lên sự tồn tại của họ. Và chẳng hề có sự trợ giúp nào. Chính những người có
trách nhiệm đi tìm ta lại lập các tờ phiếu nhằm làm ta biến mất sau đó – vĩnh
viễn.”
Những sáng tác của Modiano về quá khứ của Paris, của người Do
Thái, của những người lưu vong có thể xem như là một hoạt động địa bàn hóa kí ức
bằng văn học. Khi nguy cơ những kí ức về những năm tháng đó bị mờ dần do sự biến
mất các khuôn xã hội của nó – những tòa nhà ngày nào đã bị san phẳng hoặc thay
thế bằng những công trình khác, những người cùng thời nay cũng không còn hoặc
phần nhiều bị chứng lãng quên làm mờ đi kí ức, bối cảnh lịch sử xã hội cũng đã
đổi khác hoàn toàn… – thì nỗ lực phục hồi kí ức trở nên vô cùng quan trọng, dẫu
đó chỉ là những kí ức cá nhân rời rạc, để chống lại sự quên lãng của thời gian.
Annette Kuhn từng viết trong Family Secrets (tạm dịch: Những
bí mật gia đình) rằng: “Quá khứ như hiện trường vụ án: Nếu không thể nào khôi
phục được động cơ, thì dấu vết vẫn còn đó.” Dấu vết của một Holocaust trong quá
khứ sẽ không thể mờ nhòe, bất chấp mọi nỗ lực hòng xóa bỏ nó. Với Đi tìm Dora,
Patrick Modiano, người nhạy cảm với những vấn đề kí ức, rõ ràng đã biết cách
lưu cữu những dấu vết ấy như là những bằng chứng minh định khả dĩ nhất cho những
kí ức, dù cá nhân hay tập thể, về một thảm họa mà nhân loại không thể quên và
không nên quên. Không quên, không phải để chia rẽ hay thù hằn, mà là để nỗi băn
khoăn day dứt “ta rất muốn hiểu tại sao lại thế” không bao giờ được phép tái lặp
thêm một lần nào nữa, dù là với bất kì ai và ở bất kì đâu.
9/8/2023
Võ Nguyễn Bích Duyên
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét