Những chuyển động của đề tài
chiến tranh biên giới Tây Nam
trong
văn xuôi Việt Nam đương đại
Hơn mười năm trở lại đây, thể ký lại nở rộ, hàng loạt tác phẩm viết về chiến tranh biên giới Tây Nam lần lượt ra mắt bạn đọc. Đặc biệt thành công nhất trong loại hình ký là hồi ký chiến tranh, trong đó phần lớn là những tác phẩm của những người lính một thời đã trực tiếp chiến đấu trên chiến trường biên giới Tây Nam đầy gian khổ, ác liệt, đau thương nhưng rất oanh liệt…
1. Chiến tranh biên giới Việt Nam – Camphuchia hay còn được gọi
là Chiến tranh/Chiến trường biên giới Tây Nam/Chiến trường K là một cuộc xung đột
quân sự giữa Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Camphuchia Dân chủ. Từ năm
1975 đến 1978, các hoạt động quân sự của lực lượng Khmer Đỏ (dưới sự hậu thuẫn
của Trung Quốc) đã gây hấn và tấn công vào lãnh thổ của nước ta, đốt phá nhà cửa,
cướp phá tài sản, bắt cóc, giết chóc người dân dọc biên giới Tây Nam. Trước
tình hình đó, Việt Nam đã đề nghị một giải pháp ngoại giao nhằm thiết lập một
vùng phi quân sự dọc biên giới nhưng Pol Pot đã từ chối, đơn phương cắt đứt
quan hệ ngoại giao với nước ta và tiếp tục gây hấn, giao tranh tiếp diễn.
Ngày 23 tháng 12 năm 1978, được sự hỗ trợ bởi một số tiểu
đoàn Khmer thân Việt Nam đã đưa quân tình nguyện sang giúp nhân dân Campuchia
đánh đổ chế độ diệt chủng, lần lượt giải phóng đất nước Campuchia thoát khỏi
ách diệt chủng tàn bạo của tập đoàn Pol Pot – leng Sary, thành lập chế độ Cộng
hòa Nhân dân Campuchia. Từ năm 1978 đến 1990 là một chặng đường lịch sử đầy đau
thương nhưng vô cùng vĩ đại của đất nước Campuchia, dân tộc Việt Nam đã kề vai
sát cánh cùng với nhân dân, chính quyền mới của Campuchia. Hành động của Việt
Nam xuất phát từ nhu cầu tự vệ chính đáng, trách nhiệm quốc tế, lương tâm của một
dân tộc đã từng chịu nhiều áp bức và ngoại xâm. Sự đóng góp, hi sinh to lớn của
Việt Nam tại Campuchia vừa vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc vừa với tinh thần đoàn kết
quốc tế trong sáng, thủy chung, tình hữu nghị đặc biệt cao cả giữa hai nước
mang tình nhân loại. Văn học đóng vai trò là “thước đo của lịch sử” đã kịp thời
phản ánh, ghi lại một cách chân thật, xúc động nhất thời kỳ lịch sử đầy biến động,
đau thương, anh dũng này của dân tộc Việt Nam, góp phần làm phong phú, đa dạng
thêm bức tranh chung của nền văn học Việt Nam đương đại về đề tài chiến tranh
và người lính.
2. Nhìn tổng thể trong hơn bốn mươi năm qua, đội ngủ sáng tác
về mặt trận biên giới Tây Nam khá hùng hậu, vững tin, quy tụ được nhiều thế hệ
sáng tác ở nhiều thể loại khác nhau như thơ ca, bút ký, hồi ký, truyện ngắn, tiểu
thuyết,… Thế hệ các nhà văn từng tham gia đánh Mỹ, trưởng thành trong kháng chiến
chống Mỹ hợp thành một lực lượng đông đảo đã tình nguyện khoác áo lính tiếp tục
ra chiến trường mới như Thanh Giang, Thu Bồn, Nguyễn Đức Mậu, Hữu Thỉnh, Nguyễn
Chí Trung, Ngân Vịnh, Anh Ngọc, Mai Ngữ, Lê Lựu, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trí
Huân, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Khắc Phục, Quang Chuyền, Trần Thế Tuyển, Đỗ Văn
Nhâm, Lam Giang, Nguyễn Hồ, Văn Lê, Trần Văn Tuấn,…
Tại chiến trường Campuchia cũng đã xuất hiện một đội ngũ các
cây bút trẻ vừa là người lính cầm súng chiến đấu trực tiếp vừa sáng tác thơ văn
tại mặt trận như Lê Duy Khanh, Đỗ Viết Nghiệm, Phạm Sĩ Sáu, Nguyễn Quốc Trung,
Lê Minh Quốc, Cao Vũ Huy Miên, Lê Mạnh Tuấn, Bùi Thanh Minh, Đoàn Minh Tuấn
(Đoàn Tuấn), Trần Trí Thông, Nguyễn Vũ Quỳnh, Lương Hữu Quang, Trần Thế Vinh,
Nguyễn Thành Nhân, Nguyễn Trung Nguyên, Sương Nguyệt Minh,… Cùng với dòng chảy
của đề tài văn học chiến tranh biên giới Tây Nam, văn xuôi viết về đề tài này vẫn
đã/đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới để tạo nên những tác phẩm thấm đẫm lòng yêu
nước, tự hào dân tộc, có giá trị nhân văn, đầy ám ảnh, mê hoặc bạn đọc.
Nhờ vào tính thời sự mà phóng sự, kí sự đã xuất hiện khá sớm, ngay trong khi cuộc chiến tranh bắt đầu để ghi lại những thông tin về chiến sự quan trọng, góp một tiếng nói kịp thời. Đường vào Phnôm Pênh là tập bút ký của Thiếu tướng Bùi Cát Vũ được sáng tác ngay trong và sau khi chỉ huy Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 4 Quân đội nhân dân Việt Nam tiến vào giải phóng Phnom Penh, Thủ đô của Campuchia ngày 7 tháng 1 năm 1979. Thiên ký sự này được tác giả gửi về nước đăng nhiều kỳ trên Báo Sài Gòn Giải phóng, sau đó được Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành vào năm 1981. Tác phẩm không chỉ đưa đến cho đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế một cách kịp thời những thông tin “nóng bỏng hơi thở của mặt trận” về cuộc chiến đấu của Quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng của chế độ Pol Pot, mà còn là nguồn tư liệu quý giá về cuộc chiến này được tác giả ghi lại một cách khách quan, trung thực và giàu cảm xúc mãnh liệt của người trong cuộc. Ngô Vĩnh Bình đã đánh giá rất cao, chính xác về thiên kí sự này, khi cho rằng: “ Đọc Đường vào Phnôm Pênh của Bùi Cát Vũ, người đọc hiểu sâu hơn tình hình chiến sự lúc bấy giờ cũng như cuộc hành quân đầy gian khổ, vượt qua rất nhiều thử thách ác liệt cũng như tinh thần chiến đấu quả cảm, thái độ nhân văn của các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện lên đẹp đẽ, cao thượng trong khi thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả,… mà còn biết thêm về một tài năng quân sự, tay súng – tay bút [Tác giả Bùi Cát Vũ nguyên Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Quân đoàn 4 – BNH nhấn mạnh] mang đậm dấu ấn, phong cách Nam Bộ”(1). Tác phẩm đã đặt một dấu mốc quan trọng cho văn xuôi viết về chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và người lính tình nguyện Việt Nam trên chiến trường K khốc liệt, gian khổ trong gần 15 năm, góp phần hun đúc nên những nét mới về hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ.
Hơn mười năm trở lại đây, thể ký lại nở rộ, hàng loạt tác phẩm
viết về chiến tranh biên giới Tây Nam lần lượt ra mắt bạn đọc. Đặc biệt thành
công nhất trong loại hình ký là hồi ký chiến tranh, trong đó phần lớn là những
tác phẩm của những người lính một thời đã trực tiếp chiến đấu trên chiến trường
biên giới Tây Nam đầy gian khổ, ác liệt, đau thương nhưng rất oanh liệt
như Từ biên giới Tây Nam đến đất Chùa Tháp (2016, 2017, 2018) của Trần
Ngọc Phú, Mùa chinh chiến ấy (2017) của Đoàn Tuấn, Lính Hà (2017)
của Nguyễn Ngọc Tiến, Về từ hành tinh kí ức (2018) của Võ Diệu
Thanh, Mùa linh cảm của Đoàn Tuấn (2019), Chuyện lính Tây Nam (2019)
của Trung Sỹ, Rừng khộp mùa thay lá (2019) của Nguyễn Vũ Điền, Đất
K (2020) của Bùi Quang Lâm,… Các tác phẩm này không chỉ cung cấp cho
người đọc có thêm các tư liệu về quá khứ một thời trước đó chưa có điêu kiện để
nói được, mà còn có giá trị văn học trong việc kết hợp linh hoạt các phương thức
tự sự, nghị luận và trữ tình, với ngôn từ rất giàu hình ảnh, cảm xúc. Mùa
linh cảm của Đoàn Tuấn đã làm ám ảnh, day dứt người đọc không nguôi bởi đằng
sau cái trần trụi, bi thảm của cuộc chiến và cái chết của những người lính trẻ
như Hoàng An và bao nhiêu người lính khác nữa chính là bản lĩnh, là tình người
của những chiến binh trong một cuộc chiến đẫm máu ở “đất bên ngoài Tổ quốc”,
mang ý nghĩa thiêng liêng, đó là vì phẩm giá của con người, vì nghĩa vụ quốc tế
cao cả. Đúng như Olga Fyodorovna Berggolts đã từng nói về những ai dám chết để
cho người khác được sống: “Không ai bị lãng quên, không điều gì bị lãng quên”.
Bằng cái nhìn của người trong cuộc, nhà văn Trung Sỹ đã khiến
độc giả kinh ngạc, lôi cuốn, lây động khi đọc Chuyện lính Tây Nam bởi
ngoài lời tựa ngắn gọn, giản dị nhưng đầy kiêu hãnh của tác giả là một hiện thực
đa chiều, sinh động, chân thực, trần trụi về một cuộc chiến tranh trên đất
Campuchia còn được ít biết đến. Nhà văn Nguyễn Văn Thọ đã tâm sự rất chân thành
sau khi đọc xong tác phẩm này rằng: “Tôi đã chùi nước mắt nhiều lần khi đọc lại
đời sống chiến tranh, một đời sống mà tôi không muốn trải qua lần nữa cũng có
rũ bỏ để quên đi sau những trang viết về nó của chính tôi. Nhưng chính Trung Sỹ
lại cho tôi hồi tưởng lại chính tôi. Đau khổ và kiêu hãnh những con người Hà Nội
nói riêng và nói chung là binh sĩ cách mạng Việt Nam. Điều cực quan trọng hơn
thế là, dẫu chiến tranh đã từng như thế vẫn không làm tôi thiếu tin cậy ở dân tộc,
ở bản anh hùng ca viết bằng máu, xương, cả nỗi đau khổ,… dấu trong nhiều thế hệ,
nối nhau mà sẵn sàng bảo vệ đất nước”(2).
Về từ hành tinh kí ức của Võ Diệu Thanh – một cây bút trẻ
trưởng thành trong thời bình lại là một khuôn mặt khác của cuộc chiến tranh
biên giới Tây Nam. Độc giả sẽ có nhiều xúc cảm khác nhau, có thể bàng hoàng, có
thể đớn đau, có thể xa xót, có thể phẫn nộ,… về những câu chuyện được chính những
người trong cuộc hoặc trực tiếp chứng kiến như cô Năm Chậm, cô Tư Chỉnh, mợ
Tám, thím Ba Tệt, chị Sương, chú Tư Long, anh Út Nam,… kể về ký ức của họ trong
các cuộc tấn công, thảm sát của quân đội Polpot ở biên giới Tây Nam kinh hoàng
cách đây hơn bốn thập niên. Với một cảm quan hiện thực khách quan, chân thực, đầy
tính chất “điền dã” của văn học dân gian, tác giả đã phơi bày được tội ác man rợ
của Pol Pot, đặc biệt là cuộc thảm sát Ba Chúc (Tri Tôn) đầy kinh hoàng, thảm
khốc trước những sinh mạng vô tội đã bị bắn chết, bị đập đầu, những người phụ nữ
vô tôi bị hiếp, bị đóng cọc vào cửa mình, những đứa trẻ vô tội bị xé làm đôi,…
Cuốn sách Về từ hành tinh kí ức ra đời đã góp thêm một tiếng nói mạnh
mẽ, đầy thuyết phục trong việc đòi công lý, công bằng cho những nạn nhân bị diệt
chủng đã nằm xuống, cho những người còn sống, cho cả thế hệ tương lai sau này.
Và đồng thời, đó chính là thông điệp của tác giả muốn gửi đến bạn đọc hãy nói
không với cái ác, phải loại trừ cái ác ra khỏi đời sống của con người. Lê Thị
Nga cũng đã khẳng định rằng: “Đọc Về từ hành tinh kí ức mỗi một câu
chuyện là một góc nhìn khác nhau của người trong cuộc, một vùng kí ức rùng rợn.
Viết về họ, nhà văn để cho những nạn nhân được kể lại nỗi đau, nỗi oan của mình
chính là cách giúp họ trút bỏ hết những oán hận, hờn trách suốt mấy mươi năm
qua, muốn hóa giải cuộc chiến, hàn gắn vết thương quá khứ”(3).
Truyện ngắn là một thể loại xung kích, nóng hổi, kịp thời in ấn
để đến với người lính ngoài chiến hào, có rất nhiều tác phẩm hay, có giá trị.
Ngoài tập truyện Campuchia một câu hỏi lớn của Lê Lựu do Nhà xuất bản
Thanh niên in năm 1980, thì đến nay có rất nhiều tác phẩm hay được ấn hành, ám ảnh
bạn đọc đến tận bây giờ, như Em bé câm trước đền Ăng – co (1979) của
Lê Lựu, Biển hồ yên tĩnh (1980) của Mai Ngữ, Bài thơ của anh (1981)
của Chu Lai, Bà mẹ U – đôn (1981) của Lê Quốc Phong, Em Hương (1981)
của Hồ Phương, Sự sống còn lại (1981) của Trung Trung Đỉnh, Anh ấy
không đơn độc (1982) của Văn Lê, Mùa khô này có một dòng suối
trong (1984) của Nguyễn Chí Trung,… Truyện ngắn viết về đề tài này đã phản
ánh một cách chân thật về hiện thực cuộc chiến đấu, đời sống quân ngũ, vẻ đẹp
tâm hồn của người lính tình nguyện Việt Nam với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thiêng
liêng và nhiệm vụ quốc tế cao cả.
Khác với truyện ngắn, tiểu thuyết viết về đề tài này hầu hết
được viết sau khi cuộc chiến tranh kết thúc nên các nhà văn có điều kiện để
nghiền ngẫm, trau chuốt, chú trọng hơn về phương diện nghệ thuật. Hơn 40 năm
qua, nếu tính từ năm 1980 cuốn tiểu thuyết Dòng sông của Xô Nét của
Nguyễn Trí Huân ra đời đầu tiên đến nay vẫn không ngừng tuôn chảy, dẫu số lượng
tác phẩm thuộc mảng sáng tác này không nhiều, đáng chú ý như Biên giới (1982), Bên
rừng thốt nốt (1984), Không phải trò đùa (1985) của Khuất Quang
Thụy; Biên giới (1982), Bên rừng thốt nốt (1984), Người
đàn bà khóc mướn (1990) của Nguyễn Quốc Trung; Khoảng rừng có những
ngôi sao (1985) và Ngôi chùa Pratthana (1985) của Văn Lê; Dòng
sông nước mắt (1989) của Thanh Giang;… Nhất là, trong khoảng thời gian hai
thập niên đầu của thế kỷ XXI xuất hiện hàng loạt tiểu thuyết viết về đề tài này
đã tạo được tiếng vang lớn, tiêu biểu như Đất không đổi màu (2005) của
Nguyễn Quốc Trung, Thế giới xô lệch (2009) của Bích Ngân; Bên
dòng sông Mê (2012) của Bùi Thanh Minh; Hạt hòa bình (2013) của
Minh Moon; Mùa xa nhà (2013) của Nguyễn Thành Nhân; Miền hoang (2014)
của Sương Nguyệt Minh; Hoang tâm (2015) của Nguyễn Đình Tú; Rừng
đói (2016) của Nguyễn Trọng Luân; Dưới tán rừng thốt nốt (2016)
của Nguyễn Tam Mỹ; Một trăm ngày trước tuổi hai mươi (2018) của Đoàn
Tuấn; Viên đạn về trời (2018) của Võ Diệu Thanh; Vùng biên không
yên tĩnh (2022) của Thương Hà,…
Các nhà văn đã nhìn thẳng vào hiện thực để bóc tách, tái nhận
thức lại lịch sử bằng những góc nhìn mới, đa diện, phức cảm và phản tỉnh, vì thế
hiện thực của cuộc chiến đấu chống Pol Pot ở biên giới Tây Nam, hình tượng người
lính Việt Nam chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, thực hiện nghĩa vụ quốc tế ở
Campuchia trong các tiểu thuyết nêu trên được phản ánh một cách chân thật, với
những cảm nghiệm về hiện thực rất sâu sắc, giàu tính nhân văn, nhân đạo. Miền
hoang – cuốn tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Sương Nguyệt Minh, được giải
thưởng sách hay năm 2015 rất hấp dẫn và đầy ám ảnh, gây được sự chú ý của dư luận
bởi cách nhìn mới về hiện thực chiến tranh với nhiều cật vấn, phản biện của tác
giả – một người lính từng chiến đấu ở biên giới Tây Nam và là Quân tình nguyện
Việt Nam ở Campuchia. Miền hoang là cuốn tiểu thuyết được viết bởi
cây bút giàu kinh nghiệm trận mạc của tác giả viết về cuộc chiến đấu của Quân
tình nguyện Việt Nam trên chiến trường K tàn khốc, bi thảm và hào hùng từ những
năm 1980.
Tác phẩm Miền hoang chủ yếu tập trung vào việc khắc
họa những trạng thái đời sống của những con người ở hai đầu chiến tuyến sau một
trận kịch chiến trong vùng rừng hoang Tây Bắc Campuchia và những ngày cuối cùng
cuộc chiến tranh trước khi bộ đội tình nguyện Việt Nam rút quân về nước họ bị lạc
trong rừng, mất phương hướng tìm về đơn vị, đó là: Lục Thum – đại tá, thằng Rô
– đám tàn quân Pol Pot, Saly – cô y tá giả câm và Tùng – lính tình nguyện Việt
Nam bị bắt làm tù binh. Những ngày tháng bị lạc trong rừng Miên của bốn con người
ở hai đầu chiến tuyến không còn là nỗi ám ảnh của chiến tranh, của bom rơi, đạn
lạc, mà là nỗi ám ảnh với cái đói, cái khát, cái chết, phải chống chọi với muôn
vàn nguy hiểm, khó khăn để sinh tồn, tìm đường trở về. Tùng – người lính quân
tình nguyện Việt Nam và Sa ly – cô y tá giả câm thuộc lính Pol Pot đều là nạn
nhân của cuộc nội chiến đẫm máu đã tìm thấy sự đồng cảm trong những tháng ngày
lạc giữa rừng hoang, cả hai rất hoang mang, sợ hãi, phải chống chọi với đói
khát, hiểm nguy. Trong cơn tuyệt vọng Tùng đã khôn nguôi nhớ về thời ấu thơ, nhớ
về người mẹ của mình nơi chốn quê nhà như một cách tìm sự cứu rỗi. Sa ly – cô y
tá giả câm đã oán trách cuộc nội chiến này, vì nếu không có cuộc nội chiến này
thì cô đã là một sinh viên y khoa đang theo học ở Liên Xô hay Cộng hòa Pháp.
Qua câu chuyện này, người đọc đã tìm thấy rõ bản chất của cuộc chiến tranh, sự
tàn khốc của cuộc chiến tranh mà tập đoàn Pol Pot tiến hành đánh phá Việt Nam
và bần cùng hóa nhân dân Camphuchia. Miền hoang là một tác phẩm không
phải đọc để giải trí, để thưởng thức mà là để chiêm nghiệm về lẽ sống, niềm
tin, niềm hy vọng, nỗi khát vọng của con người trước thiên nhiên hoang dã, trước
cái sống, cái chết, trước thất vọng, trước những nhục dục thấp hèn. Tôi rất đồng
tình với Nhật Anh đã nhận định rất đúng về tác phẩm khi cho rằng: “Với Miền
hoang, tác giả muốn đưa ra thông điệp về bài ca sức sống mãnh liệt của con
người, về niềm tin yêu con người và khát vọng sống trong an lành, hòa bình. Đây
là cuốn tiểu thuyết chiến tranh chân thật, đích thực, ám ảnh và lôi cuốn khiến
người đọc chìm đắm trong mỗi phân đoạn nhỏ của truyện”(4).
Thương Hà là nhà văn thuộc thế hệ 8X rất có bản lĩnh, đã mạnh
dạn tìm được một góc độ riêng để khai thác đề tài chiến tranh biên giới Tây
Nam. Năm 2022, Nhà xuất bản Đà Nẵng vừa mới ấn hành tiểu thuyết Vùng biên
không yên tĩnh đầy lôi cuốn, hấp dẫn đã neo đậu được trong lòng độc giả, tạo
nên sự chú ý trong dư luận văn chương trẻ vài năm trở lại đây. Lê Thiếu Nhơn
đánh giá rất đúng khi cho rằng: “Đề tài chiến tranh biên giới Tây Nam từng được
nhiều nhà văn cựu binh thể hiện như Miền hoang của Sương Nguyệt
Minh, Mùa xa nhà của Nguyễn Thành Nhân, Mùa chinh chiến ấy của
Đoàn Tuấn, Đất K của Bùi Quang Lâm. Vậy mà, tác giả Thương Hà vẫn tìm
được một góc độ riêng để viết. Vùng biên không yên tĩnh của Thương Hà
nhẹ nhàng, linh hoạt mà cũng đầy day dứt,…”. Nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng
cũng đã đánh rất cao khi đọc tác phẩm này: “Tôi thật sự bất ngờ khi biết tác giả
Thương Hà thuộc thế hệ 8X, lại viết được những trang văn mang dấu ấn của một thế
hệ trải nghiệm chiến tranh sâu sắc đến nhường ấy. Tác giả sớm định hình một giọng
điệu vừa chững chạc, vừa phóng túng khi viết về một thế giới mở, không bị đóng
băng bởi thiên kiến hay sự giằng kéo ngoài văn chương nào. Đọc xong Vùng
biên không yên tĩnh, tự nhiên tôi cảm thấy một cách thật rõ ràng: dường như
trong đó có cả hoa, có cả nụ” [Dẫn theo Lê Công Sơn](5).
3. Đề tài chiến tranh biên giới Tây Nam trong văn xuôi Việt
Nam được các nhà văn nhận thức lại, soi chiếu, phản tỉnh, thể hiện một cách
sáng tạo, đầy linh hoạt, phá vỡ quan niệm sử thi độc sáng, đơn trị về hiện thực
của văn xuôi viết về đề tài này trước 1975. Chính sự thay đổi về tư duy nghệ
thuật, về cách tiếp cận hiện thực chiến tranh đã tạo ra nhiều cơ hội cho các
nhà văn lựa chọn, miêu tả từ những góc nhìn trực diện, đa chiều, đa sắc, đa
thanh hơn. Các nhà văn viết về đề tài này đã dựng lại hình ảnh về một chiến trường
K dưới những góc nhìn khác nhau, đan lồng nhiều mảnh hiện thực phi sử thi, với
đặc trưng đa chiều văn hóa, tâm linh một cách chân thực, cụ thể, sâu sắc, như
nó vốn có, vốn tồn tại, mang lại những xúc cảm, sắc thái thẩm mĩ mới mẻ, sống động
của chất văn xuôi, của tinh thần hậu hiện đại.
Văn xuôi viết về đề tài này đã nỗ lực tái hiện, phác họa lại
bộ mặt thật của hiện thực chiến tranh biên giới Tây Nam ít hùng lắm bi, đầy
khói lửa, khốc liệt với sức hủy diệt, phi nhân, kinh hoàng (Miền hoang của
Sương Nguyệt Minh, Hoang tâm của Nguyễn Đình Tú,…). Lên án, tố cáo sự
tàn bạo, man rợ, dã man, phi nhân tính, đến mức vô cảm của tập đoàn Pol Pot –
Ieng Sary với những kiểu giết người rùng rợn hơn cả thời trung cổ mà bọn chúng
cho là “có tội” bằng cuốc, xẻng, chọc mũi lê, chém dao quắm vào gáy, bắn nát
bét, băm vằm, cưa họng, cắt xẻo vú, đâm cọc nhọn vào cửa mình, lột trần truồng,
hãm hiếp tập thể, vùi trong đất,… (Đường vào Phnom Penh của Bùi Cát
Vũ, Dòng sông của Xô Nét của Nguyễn Trí Huân, Bên dòng sông Mê của
Bùi Thanh Minh,…). Những tình thế hiểm nghèo, khó khăn, gian khổ, chiến đấu, mất
mát, hi sinh thầm lặng, những oan khiên, ngờ vực của Quân tình nguyện Việt Nam
và các cuộc bao vây, thanh trừng, tàn sát nhân dân Campuchia (Biên giới, Bên
rừng thốt nốt của Nguyễn Quốc Trung, Chiến tranh không phải trò đùa của
Khuất Quang Thụy,…). Ngợi ca người lính Quân tình nguyện Việt Nam luôn lạc
quan, yêu đời, hi vọng, nghĩa tình, hữu nghị, yêu thương, giúp đỡ nhân dân
Campuchia như người thân ruột thịt của mình, được người dân Khmer gọi là Bộ đội
nhà Phật (Đường vào Phnom Penh của Bùi Cát Vũ, Mùa xa nhà của
Nguyễn Thành Nhân, Người đàn bà khóc mướn của Nguyễn Quốc Trung,…). Nỗi
nhớ quê hương, gia đình, khát khao được trở về đất nước của người lính tình
nguyện Việt Nam (Dưới tán rừng thốt nốt của Nguyễn Tam Mỹ, Miền hoang của
Sương Nguyệt Minh, Lính Hà của Nguyễn Ngọc Tiến,…). Những không gian
văn hóa tâm linh bí ẩn, không gian thiên nhiên nguyên sơ, hoang dại và đời sống
sinh hoạt, phong tục độc đáo, dị quái của đất nước Campuchia (Hoang tâm của
Nguyễn Đình Tú, Miền hoang của Sương Nguyệt Minh,…). Những góc khuất
của người lính cũng được các nhà văn quan tâm đề cập, lột trần đến, đặc biệt là
khát khao về tình yêu, tình dục (Lính Hà của Nguyễn Ngọc Tiến, Hoang
Tâm của Nguyễn Đình Tú, Dưới tán rừng thốt nốt của Nguyễn Tam Mỹ, Không
phải trò đùa của Khuất Quang Thụy, Một trăm ngày trước tuổi hai mươi của
Đoàn Tuấn,…).
Chiến tranh biên giới Tây Nam được các nhà văn thể hiện dưới
những góc nhìn mới, vừa được khai thác với cảm hứng lịch sử vừa được khai thác
dưới cảm hứng nhân văn, nhân bản sâu sắc nhưng mỗi giai đoạn, chặng đường lại
có những biểu hiện khác nhau. Ở chặng đường đầu 1978 – 1985, văn xuôi viết về đề
tài này vẫn theo quán tính cũ, hơi hướng sử thi còn đậm, vẫn mang màu sắc ký sự,
vẫn nằm/chưa thoát khỏi văn chương minh họa, miêu tả địch/ta, trắng/đen một
cách rạch ròi, chủ yếu tập trung khắc họa nhân vật – người lính trong mối quan
hệ với dân tộc, với lịch sử. Những người lính tình nguyện như Hoán (Ngày ấy
không đơn độc), Dũng, ông nhà văn già (Biển hồ yên tĩnh), Thà và Thiệt (Mùa khô
này có một dòng suối trong), và như bà mẹ U-đôn (Bà mẹ U-đôn),… là những người
đại diện cho một lớp người, một đất nước anh hùng, trượng nghĩa, giàu lòng nhân
ái, kiên định với lý tưởng cách mạng,… Ở chặng đường 1986 – 2023, văn xuôi viết
về đề tài này đã có những chuyển mình trong tư duy nghệ thuật, trong cách viết
mới với những cách tân về mặt kĩ thuật theo hướng thi pháp hậu hiện đại với những
yếu tố liên văn bản, huyền ảo, đa thanh và đối thoại, giễu nhại,…
Đặc biệt, trong phạm vi phản ánh, trong cách nhận thức hiện
thực cuộc sống và quan niệm nghệ thuật về con người. Ở tác phẩm Miền hoang,
Sương Nguyệt Minh đã xây dựng nên một tình huống vô cùng éo le, đó là tình huống
lạc rừng của bốn con người ở hai đầu chiến tuyến, để rồi đẩy họ đến cùng cực của
sự tuyệt vọng khi lạc trong rừng sâu, đối diện với lưỡi hái tử thần và rồi họ tự
chiến đấu để sinh tồn, để thoát khỏi cái đầm lầy khổng lồ miền nhiệt đới. Điểm
nhìn trần thuật trong tác phẩm được tác giả xây dựng từ nhiều nhân vật khác
nhau, có sự luân chuyển một cách liên tục, đan xen giữa những điểm nhìn để gia
tăng tính đa thanh, đa chiều. Hạt hòa bình của Minh Moon – một
tác giả trẻ yêu thích những khám phá mới lạ và trải nghiệm chính bản thân mình
trên một đề tài tưởng chừng rất cũ bằng một thể tài fantansy (kỳ ảo) khá mới mẻ
đã rất thành công. Tác phẩm mang nhiều yếu tố kỳ ảo, xoay quanh câu chuyện về một
sinh viên thế kỉ XXI xuyên không về quá khứ, nhập vào hình hài của một anh lính
tình nguyện đang trên đường đến Campuchia. Từ đó, cậu chiến đấu chống Pol Pot với
nỗi nhớ gà rán KFC và giai điệu Somewhere over the Rainbow.
4. Hơn bốn mươi năm qua, văn xuôi Việt Nam về đề tài chiến
tranh biên giới Tây Nam vẫn đang chuyển động, không ngừng tuôn chảy, tìm tòi,
thể nghiệm để cách tân, đổi mới đến từ sự nỗ lực của từng cá nhân của mỗi nhà
văn nói riêng và sự tiếp nối đội ngũ những nhà văn trong thời chiến, những nhà
văn trưởng thành thời bao cấp, thời kỳ Đổi mới, lớp nhà văn thành danh đầu thế
kỷ XXI nói chung đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, góp một phần
không nhỏ vào dòng chảy lớn của nền văn học Việt Nam về đề tài chiến tranh cách
mạng. Tuy nhiên, những thành tựu của văn xuôi viết về đề tài này vẫn chưa thật
sự tương xứng với nguồn hiện thực còn rất đa dạng và phong phú, các nhà văn vẫn
còn “chưa đào sâu tận gốc số phận con người trong chiến tranh. Dường như các sự
kiện của cuộc chiến đấu trong tác phẩm lôi con người vào như một hành động, con
người thiếu những hoàn cảnh tâm lý cần thiết để thể hiện mình”(6). Các tác phẩm
vẫn còn “mang màu sắc ký sự”, “hơi hướng sử thi còn đậm”, “vẫn chưa thoát khỏi
văn chương minh họa”(7) thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
Văn học nói chung, xuôi viết về đề tài chiến tranh biên giới Tây Nam vẫn còn là một miền đất đầy phong nhiêu, hứa hẹn, giàu tiềm năng, nhiều khởi sắc đang chờ đợi, vẫy gọi các nhà văn đương thời cũng như các nhà văn thuộc thế hệ tiếp nối tiếp tục cày xới, chăm bón để đem lại những tác phẩm hay, đạt chất lượng cao, có giá trị, từ đó bạn đọc thêm nâng niu giá trị của cuộc sống hòa bình, tự do, hạnh phúc.
Tài liệu tham khảo chính:
1. Ngô Vĩnh Bình (2023), “Đường vào Phnôm Pênh” – con đường đại
nghĩa”, Nguồn: http://sknc.qdnd.vn, (04/04).
2. Dẫn theo Nguyệt Hà (2018), “Chuyện lính Tây Nam – hồi ức của
nỗi đau và lòng kêu hãnh”, Nguồn: baodansinh.vn, (30/04).
3. Lê Thị Nga, “Đối thoại về chiến tranh trong Về từ hành
tinh kí ức của Võ Diệu Thanh”, Nguồn: 123doc.net.
4. Nhật Anh (2014), “Miền hoang – tiểu thuyết thời chiến khốc
liệt”, Nguồn: zingnews.vn, (16/12).
5. Lê Công Sơn (2022), “Nhà văn Thương Hà đau đáu với đề tài
nóng nơi vùng biên và những… oan hồn”, Nguồn: thanhnien.vn, (15/7).
6. Huỳnh Kim (2009), “Nhà thơ Phạm Sỹ Sáu: “Bi tráng nhưng
không bi lụy”, Nguồn: CầnThơonline, (10/01)
7. Trần Ngọc Hiếu (2019), “Văn học về chiến tranh biên giới phải kết nối với ngày hôm nay”, Nguồn: thanhnien.vn, (17/02).
30/7/2023
Bùi Như Hải
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét