Cánh hoa chùm gửi
Chương 1
Những năm dài trôi qua, tôi là của mẹ, mẹ là của tôi, gian
phòng này là của hai người. Thế mà bây giờ, chỉ một khoảnh khắc biến đổi, tất cả
đều thay đổi. Mẹ đã ra đi, tôi lại sắp đi xa, gian phòng này rồi đây sẽ đón nhận
ai. Không biết tôi đứng lặng như vậy bao lâu, việc đón xe lửa cho đúng giờ đã bị
quên lững, mãi đến khi tiếng cửa mở làm tôi giật mình quay lại, bà hiệu trưởng
họ Lâm bước vào vỗ về tôi: - Ức My, con đến Đài Bắc ngay bây giờ sao con? -
Vâng ạ! Tôi nhỏ nhẹ đáp - con đi chuyến xe bốn giờ rưỡi chiều nay. - Sao gấp
quá vậy, con vẫn có thể ở thêm vài ngày nữa được mà. Tôi lắc đầu không đáp. Bà
hiệu trưởng lại nói tiếp: - Thôi được, muốn đi thì đi cho sớm vậy. Bây giờ chỉ
còn bác ở lại, buồn quá. Bà hiệu trưởng lại thở dài chăm chú nhìn tôi:
Này Ức My, bác với mẹ cháu sống gần gũi nhau đã trên mười hai
năm, như thế cũng có thể kể như là tâm tình lắm rồi, thế mà bác vẫn không hiểu
nổi mẹ cháu. Tại sao mẹ cháu lại không tin tưởng bác, bác không thể chăm sóc
cháu được hay sao mà lại phải bắt cháu chạy đến nương trọ nhà một giáo sư ở tận
phương trời xa xôi? Một người bạn mà suốt mười mấy năm không liên lạc, liệu
giáo sư La Nghị có chăm sóc chu đáo cháu được hay không? Tôi vẫn không đáp, tôi
biết là bà làm hiệu trưởng trường tiểu học này đã lâu, lại cũng chơi rất thân với
mẹ, nhưng tôi biết mẹ không để tôi sống với người, vì một mục đích, một hy vọng
duy nhất, đó là làm thế nào tôi có thể lên đại học, “con phải biết chỉ có một
người có thể đưa con đến mục đích, đó là Giáo sư họ La. Mặt khác tuy bà hiệu
trưởng Lâm là người bạn tốt của mẹ, nhưng bà có đến sáu đứa con, một người hiện
học ở đại học, ba ở trung học và hai ở tiểu học, do đó mẹ sợ bà ta không thể lo
thêm cho con”. - Thôi được, bà Lâm nói - Muốn kịp xe lửa thì phải đi nhanh đi kẻo
trễ. Đến đó con xem tình hình xem nếu có thể ở được thì ở, bằng không thì trở về
đây, thêm một miệng ăn cũng chẳng có bao nhiêu con nhé! Tôi gật đầu. Bây giờ
thì chỉ còn đúng một giờ nữa là tàu hỏa bắt đầu chạy. Tôi bước ra cửa, bà Lâm lặng
lẽ theo sau. Ra đến ngoài, nỗi tiếc nuối làm tôi do dự, tôi quay lại nhìn gian
phòng to không hơn sáu manh chiếu mà mẹ con tôi đã sống trên mười hai năm, giờ
phải xa cách. Thôi, tạm biệt! Những giọt nước mắt chua xót làm mờ cả mắt. - Ức
My! Có tiếng ai gọi tôi, tôi quay đầu lại. Một đám đông đầy đủ cả mọi người,
giáo sư Trương Ngụy và hầu như đủ cả những người bạn đồng nghiệp của mẹ tôi.
Tôi hít thở một hơi dài để giọt lệ khỏi lăn xuống má. Phải làm thế nào để tỏ ra
mình đã là người lớn. Tôi thẳng người đến chào từng người một và nói lời từ biệt,
cố giữ vẻ mặt nghiêm trang và yên lặng để nghe những lời chúc may mắn. Lí nhí một
vài tiếng cám ơn. Rồi sau cùng tôi rời khỏi cổng trường tiểu học, rời khỏi một
nơi mà suốt bao năm tôi đã sống yên ấm. Bà hiệu trưởng đưa tôi đến tận ga. Bà đứng
trên sân ga đảo mắt nhìn quanh. Tôi bước lên toa tàu tựa người vào cửa sổ ngắm
khuôn mặt buồn thảm của người bạn già của mẹ. Tôi không biết nói gì, có lẽ vì
tương lai quá mù mịt, không thể đoán được rồi sẽ ra sao khiến cho tôi trầm lặng
không nói được chăng? Bà Lâm không còn vẻ vui tươi hàng ngày, bà cũng lặng lẽ
nhìn tôi. Có phải bà đang chua xót cho tôi, chua xót cho mẹ tôi, hay chua xót
cho chính mình, một người không đủ khả năng bao bọc đứa con côi của người bạn bạc
số của bà! Tiếng còi xe hú to, tiếng máy xình xịch nổ, xe đã bắt đầu chuyển
bánh, Bà Lâm ngoái đầu sang nói to: - Ức My, con nhớ viết thư cho bác nhé! -
Vâng ạ! tôi lớn tiếng- xin tạm biệt bà hiệu trưởng. - Tạm biệt con! Bà Lâm
không tự chủ được, chạy với theo xe, - Ức My! con ráng lo bảo vệ lấy thân vì từ
nay con đã sống tự lập rồi đấy nhé! Xe chạy đã xa, chiếc bóng gầy của bà hiệu
trưởng khuất dần trong tầm mắt. Phải rồi, từ nay tôi đã là người sống tự lập.
Nói khác đi, từ nay tôi sẽ là người không nhà không cửa, không nơi nương tựa.
Giáo sư họ La có thông cảm cho tôi tạm trú chăng? Chấp nhận tôi chăng? Ngồi tựa
lưng vào cửa sổ, nhìn những bóng núi xa xa mờ bên ngoài tôi càng thấy buồn bã
làm sao. Tôi còn nhớ, cách đây năm năm trong một buổi sáng, mẹ đang xem báo, bỗng
bỏ xuống thở dài: - Không ngờ bây giờ La Nghị lại cũng đến Đài Loan rồi! Tôi vội
hỏi: - La Nghị là ai vậy mẹ? - Một nhà Địa Chất học. Mẹ lạnh lùng đáp. Khi bắt
đầu ăn điểm tâm, tôi kéo tờ báo để trước mặt thấy một cái tít: “Địa chất gia trứ
danh, Bác Sĩ La Nghị ngày hôm qua cùng gia quyến đáp tàu từ Hồng Kông qua Đài Bắc
để đảm nhiêm chức vụ giảng huấn tại tường Đại Học Đài Bắc”. Mảnh tin nhỏ trên
không làm cho tôi chú ý mấy, vì hôm ấy hãy còn nghỉ hè và tôi có hẹn cùng mấy
người bạn đến viếng hồ Đại Bối. Bỏ tờ báo xuống, tôi hỏi mẹ: - Mẹ có quen với
ông giáo sư này hả mẹ? - Có, lúc trước khi còn ở Lục Đia, mẹ và vợ ông ta là
đôi bạn thân. - Mẹ có tính đến thăm họ hay không? Vừa hỏi tôi vừa cắn miếng
bánh nướng. - Đến thăm họ à? Mẹ hơi nhíu mày - Không! đến làm chi trong lúc họ
đang vui sướng, mình đến thành ra...
Mẹ bỗng nín bặt, đoạn quay sang nhìn tôi hét:
- My, sao con ăn uống không đàng hoàng để bánh rơi đầy nhà thế
này. Đối với Giáo sư họ La, tôi chỉ biết được có bao nhiêu đó. Từù đấy về sau mẹ
tôi không hề nhắc dến ông ta nữa. Còn riêng tôi ư? chỉ vài phút sau là quên
ngay câu chuyện ở chín từng mây đó. Cho mãi đến ba tháng trước đây, khi mẹ tôi
biết chắc bị bệnh ung thư ở tử cung, thì hai mẹ con tôi đều ý thức rằng bóng
dáng thần chết ngày đêm đang đe dọa chúng tôi.
Một hôm, mẹ bỗng bảo tôi đi gửi một bức thư, trên phong bì đề
tên giáo sư La Nghị, địa chỉ ở đường Roosevelt, Đài Bắc. Khi gửi xong thư trở về,
mẹ mới nói về giáo sư La Nghị cho tôi nghe: - Ông ấy là một nhà học giả rất
thân với gia đình chúng ta. Một mai mẹ có bất hạnh qua đời chỉ có ông ta là người
mà mẹ hy vọng nhất có thể lo lắng cho tương lai con mà thôi. Như mẹ thường nói,
tôi là một đứa con gái ít khi dám nhìn vào sự thật, có lẽ là vì tôi là con gái
độc nhất của mẹ, hay làm nũng và quen được nuông chiều chăng? Mặc dù biết mẹ
mang phải chứng bệnh bất trị, không bao lâu người sẽ từ bỏ tôi, nhưng tôi không
bao giờ dám nghĩ đến những hình ảnh ấy, vì vậy mỗi khi mẹ tôi đề cập đến vấn đề
này là tôi bao giờ cũng quỳ xuống thét to: - Không bao giờ có ngày đó xảy đến.
Mẹ, không bao giờ! Và tôi vụt chạy đến một góc kẹt nào đó dể ngồi khóc. Nhưng
bây giờ cái ngày đó đã đến, trong hành lý tôi có bức thư mà ba ngày trước khi mẹ
nhắm mắt mẹ đã viết và dặn dò tôi phải trao tận tay giáo sư La Nghị. Bức thư được
chính tay mẹ dán kín nên tôi không biết được người đã viết những gì trong ấy,
nhưng tôi nghĩ đó là những lời nhờ vả gửi gấm. Bản tính của mẹ hồi nào tới giờ
chưa bao giờ khuất phục hay van xin một ai, thế mà không ngờ trước khi đến bước
đường cùng của cuộc sống, lại phải nài nỉ một người bạn lâu ngày không qua lại
để nhờ thu nhận gìum đứa con gái “không bao giờ lớn” của mình. “Đứa con gái
không bao giờ lớn”. Mẹ vẫn thường bảo thế và thường hỏi tôi: - Này Ức My, đến
bao giờ con mới hết là đứa con nít. Đến bao giờ con mới biết chuyện người lớn,
không còn là đứa bé tối ngày lẩn quẩn quanh chân mẹ hở con? Đứa con nít! Tôi chỉ
thích làm đứa con nít, để dược suốt ngày nằm vùi trong lòng mẹ. Bất cứ một việc
nhỏ nhặt đến đâu cũng đều có mẹ lo, suốt ngày tôi chỉ ăn, ngủ, học bài rồi đùa
giỡn, không phải bận tâm điều gì cả. Nhưng nay, mẹ đã đi rồi, những chuỗi ngày
không còn tiếng cười đã đến, tôi bỗng cảm thấy mình biến thành người lớn, bắt
buộc phải đối diện với mọi sự thật ở đời.
Chương 2
Bên ngoài khung cửa, bóng tối âm thầm đến, cánh đồng hoang vu
đã bắt đầu lập loè ánh lửa. Bánh xe vẫn quay, vượt qua đồng bằng, phố thị, thôn
xóm để mang cuộc đời tôi vào nơi vô định. Chiếc xe chạy hơi chậm, nên đến Đài Bắc
thì đã gần mười một giờ đêm. Xuống xe, với chiếc sắc nơi tay, bước ra khỏi nhà
ga, tôi đứng nhìn quanh. Suốt mười hai năm dài sống với mẹ tại Cao Hùng, tôi
chưa hề nhìn thấy một thành phố nào tấp nập ồn ào như Đài Bắc. Ngẩng đầu lên,
những ánh đèn màu huy hoàng lấp lánh, phòng ngủ, quán ăn san sát hai bên đường.
Đài Bắc! Thành phố mà bao lâu nay tôi đã ước mơ đến viếng đang ở trước mặt. Những
chiếc xe kéo, xe taxi chạy thành hàng, phố xá tấp nập người qua lại tạo một cảm
giác lo lắng, sợ sệt trong tôi. Lần đầu tiên trong đời tôi mới thấy được thế giới
rộng lớn như thế, không phải chỉ vỏn vẹn như “chiếc phòng sáu manh chiếu” của mẹ
con tôi. Đường phố đan nhau chằng chịt cộng thêm những kiến trúc đồ sộ chung
quanh, không giống cái xã hội thu hẹp của mẹ con tôi ngày nào. Một chiếc xích
lô chạy trờ đến trước mặt: - Đi xe không cô? Tôi do dự một chút bảo:
Đến số ba đường Roosevelt bao nhiêu? - Mười đồng. Mười đồng!
Tôi không biết là rẻ hay mắc, vì tôi nào có biết đường Roosevelt ở đâu đâu. Leo
lên xe, tôi nghĩ thấy hối tiếc. Bây giờ đã mười một giờ khuya rồi, chạy đến quấy
rầy như thế không quá muộn hay sao? Biết đâu họ đã ngủ cả rồi, đánh thức người
trong giấc ngủ ngon là một việc làm vô lễ. Mẹ thường bảo tôi làm việc gì cũng
không chịu suy nghĩ trước sau, như vậy là tôi vẫn chưa là người lớn được. Nhưng
mà, bây giờ xe đã lăn bánh rồi, biết sao? Những ngọn gió đêm đầu mùa hạ thổi
mát cả người, tôi không còn muốn suy nghĩ thì thêm nữa! Chiếc xe chạy suốt hai
mươi phút mới đến. Bước xuống xe, tôi thấy mình đang đứng trước hai cánh cổng
to màu đỏ, chung quanh là bờ tường cao. Nhìn số nhà, biết mình không lầm, tôi
trả tiền ông phu xe và chờ chiếc xe đi khuất mới quay sang quan sát cánh cổng
và bờ tường. Chiếc cột đèn bên lề đường phản chiếu chiếc bóng gầy còm của tôi
xuống đường trông thật ảm đảm, thật cô đơn! Chiếc đồng hồ trên tay, di vật của
mẹ chỉ đúng mười một giờ ba mươi. Tựa lưng vào tường, lén nhìn qua cổng, bóng tối
bao trùm trên khắp ngôi nhà to lớn vẫn còn để thừa một ít ánh sáng thoát ra
ngoài. Do dự khoảng hai ba phút, tôi nghĩ thầm nghĩ dù đã khuya, tôi cũng không
thể đứng mãi thế này chịu trận suốt đêm được. Cố lấy hết sức bình tĩnh, tôi nhấn
nhẹ vào chuông. Ngôi nhà này chắc to rộng lắm, vì tiếng chuông bấm xong rồi,
tôi đứng ngoài cửa vẫn không nghe thấy. Đợi một lúc lâu vẫn không thấy động
tĩnh gì cả, có lẽ chủ tớ đều ngủ say cả rồi. Không thể chần chờ được, tôi bấm
chuông một lúc ba lần. Một lát sau có tiếng chân người bước ra, tiếng chân nặng
nề bước nhanh ra cửa, rồi cánh cửa mở to. Một gương mặt râu ria xồm xoàm nhô ra
với chiếc trán bóng, đôi chân mày sậm cau lại đôi mắt tóe lửa, bảo tôi: - Mày
có khùng hay không hở con bé? Tiếng hét giận dữ của lão làm tôi giật mình lui lại
hai bước. Tôi lắp bắp trong cơn hoảng hốt: - Tôi...tôi à mà...
- Mày, mày là cái gì, có cút đi ngay không? Tiếng nói như tiếng
rít của con thú dữ. Trong lúc chưa lấy lại kịp bình tĩnh thì hai cánh cửa đã
đóng xầm lại. Tôi hốt hoảng nhảy chồm về phiá trước, đập mạnh vào cửa. Dù sao
đi nữa tôi cũng không thể bị bỏ ngoài cửa được, vì trời đã khuya rồi, tôi biết
đi đâu bây giờ. Đấm thùm thụp vào cửa tôi la lớn: - Ây da. Ông ơi, đợi tôi một
chút, tôi có chuyện muốn thưa với ông! Cánh cửa lại mở ra, chiếc đầu rối khi
nãy lại xuất hiện, gần chạm vào mũi tôi, tiếng gầm gừ lại vang lên: - Cút ngay,
mày có nghe không? Ai là ây da, ở đây không có ai là ây da cả! Đi, cút ngay! Tiếng
rít của lão già nghe thật dễ sợ, tiếp theo sau là một tiếng ầm, cánh cửa lại
đóng kín. Tôi lặng người đứng nhìn hoảng hốt. Tiếng hét của lão làm tôi sợ.
Nhìn cánh cổng đóng kín, tôi bỗng như bị mất cả chủ đích. Trước khi đến Đài Bắc,
tôi đã từng tưởng tượng trăm lần, nhưng không ngờ sự kiện lại xảy ra thảm não đến
thế này. Tôi cũng đã từng nghĩ đến chuyện họ không cho tôi ở trọ, nhưng cũng
chưa hề tưởng dược việc họ lại xua đuổi tôi một cách tàn nhẫn như thế. Tiếng
hét của lão râu xồm khiến tôi không thể tỏ bày được việc gì cả. Bây giờ bị bỏ
ngoài đường, trong một thành phố xa lạ lúc khuya khoắt như thế này, tôi phải
làm sao đây. Đứng chần chờ trước cổng một lúc khá lâu, tôi không biết phải đi
đâu. Gió đêm thổi bùng tóc rối, trời lưa thưa vài cánh sao, tôi cảm thấy lạnh
vì khí hậu giữa miền bắc và nam hơi khác biệt nhau. Nhưng không thể đứng trước
cổng mở rương lấy áo mặc, thôi đành chịu lạnh vậy. Con đường sâu hút không một
bóng người, không một chiếc xe chạy qua, tôi phải đứng đây đợi sáng hay sao?
Nhìn cảnh đêm trống trải, cô độc bỗng nhiên tôi muốn khóc. Phải làm sao bây giờ
đây? Làm sao trời ơi! Mẹ ở dưới tuyền đài có biết rằng tôi đã bị người ta tiếp
đãi như thế này hay không? Đứng như thế một lúc lâu, bỗng nhiên một chiếc xe đạp
từ đầu đường chạy vào. Tôi nhìn trân trối, chiếc xe đạp thắng lại trước mặt
tôi. Một người con trai nhảy xuống nhìn tôi lạ lùng, tôi cũng nhìn anh ta vì
không biết anh ta là ai, cũng không biết nên hay không nên cho hắn biết tại sao
tôi phải đứng trước cổng này. Chúng tôi cứ nhìn nhau như thế, một khắc sau anh
hỏi: - Cô đứng đây làm chi vậy? Đoạn quay sang nhìn chiếc va li để dưới đất cạnh
tôi hắn bỗng khoanh tay lại gật gù, hỏi: - À hay là cô bỏ nhà ra đi vì mẹ mắng
chớ gì, phải không? Thôi được rồi, cho tôi biết địa chỉ, tôi sẽ đưa về nhà cho
nhé. Tôi chăm chú nhìn hắn, tên này thật là lắm chuyện, tôi nào có phải là đứa
trẻ nít lên ba đâu mà hẳn tưởng bị ba mẹ mắng. Chính nhờ nhìn hắn, tôi mới thấy
hắn hãy còn trẻ, chỉ độ 26, 27 tuổi gì đó, mặc áo si trắng dài tay, cúc tay
không cài bỏ lửng. Áo thì hở cổ không cà-vạt, đầu tóc rối bù sù. - Sao, chịu
không? Hắn hỏi tiếp - Bộ có tính ngủ đêm ở đây sao hả? Hay là cô vào nhà ngồi
chơi một chút đi nhé. Vừa nói hắn chỉ vào đôi cánh cổng màu đỏ. Tôi choàng tỉnh,
đứng thẳng người lại, hỏi: - Bộ anh ở đây hả? Nhà này của anh đấy à! - Vâng,
tôi ở đây. Hắn gật đầu - Mặc dù đây không phải là nhà của tôi nhưng có thể tạm
xem như vậy. Tôi sẽ tìm cách để cô ngủ nhờ một đêm, nhưng mai phải về nhà nghe,
chịu không? Tôi gục đầu nhìn xuống muốn khóc...tôi, tôi bây giờ không có nhà cửa.
Nhưng cố trấn tĩnh, bây giờ đâu phải là lúc để xúc động, phải giải quyết vấn đề
của chính mình nữa chứ. - Tôi đến đây, mục đích là tìm giáo sư La Nghị. Gã
thanh niên ngạc nhiên: - Tìm giáo sư La Nghị! Thế sao nãy giờ cô không chịu bấm
chuông? - Tôi đã bấm mấy lần rồi chứ, nhưng đã bị một lão cổ quái đuổi ra. -
Lão cổ quái là ai vậy? - Vâng, một lão già cổ quái, râu tóc bùm xùm, không nhìn
thấy chân mày, mồm miệng đâu cả. Gã thanh niên bỗng nhìn tôi một cách thú vị, hỏi:
- Thế cô tìm giáo sư La Nghị có việc chi? - Có chứ, một vấn đề hết sức quan trọng.
- Vậy cô hãy theo tôi vào nhà nhé. Hắn cho tay vào túi tìm chià khóa mở cửa. Một
tay hắn đẩy cửa ra, một tay xách valise cho tôi, bước vào. Qua khỏi cửa là một
khu vườn hoa rộng lớn. Chàng thanh niên dựng xe bên căn nhà nhỏ, đóng cổng lại
đoạn quay sang nói: - Bây giờ mình vào phòng khách xem có giáo sư ở trong phòng
không nhé! Hắn bước trước, tôi theo sau. Trong đêm tối chỉ trông thấy bóng cây ẩn
hiện. Qua khỏi con đường nhỏ lát đá sỏi, tôi nhìn thấy một tòa nhà đồ sộ hai từng,
phiá trước có bực thềm cao và đèn hãy còn sáng. Qua khỏi bực thềm, đẩy cánh cửa
kính ra, gian phòng bên trong tối om, gã thanh niên tìm công tắc điện, đèn bật
sáng. Tôi thấy mình đang đứng giữa gian phòng khách lộng lẫy, bộ sa lông để cận
tường, chiếc đàn dương cầm ở góc, trên có lọ hoa. - Cô ngồi đây đợi tí, tôi
sang phòng đọc sách tìm giáo sư. Tôi ngồi đấy, trong khi hắn đẩy cánh cửa nhỏ
đi ra. Tôi nhìn quanh, phòng khách này hình như có cửa ăn thông với bên ngoài bằng
tấm màn voan trắng. Bốn bề yên lặng, tôi cảm thấy không an tâm. Sự mệt mỏi và cảm
giác rối rắm phiền muộn bao quanh, khiến cho tôi ước mơ được trở về gian phòng
nhỏ của tôi để đánh ngay một giấc ngon lành. Có tiếng mở cửa, tôi quay lại,
lòng không khỏi khiếp đảm, lão già kỳ quái hồi nãy bỗng xuất hiện, đôi mắt giận
dữ đang tròn xoe nhìn tôi như muốn ăn tươi nuốt sống. Dưới ánh sáng của ngọn
đèn, vóc dáng to lớn với mái tóc bồng của ông càng làm vẻ kinh dị. Tim tôi như
muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Lão bước tới lại gần tôi. Trong một phút, tôi bỗng
có cảm tưởng lão sẽ xách cổ tôi tống ra khỏi phòng. Nhưng lão không làm vậy mà
nện mạnh gót chân rồi hét to: - Ai cho cô vào đây? - Dạ thưa tôi ạ! Có tiếng trả
lời từ bên cửa. Lão già quay sang nhìn gã thanh niên lúc nãy cho tôi vào, hùng
hổ: - Anh à. Tại sao anh cho cô ta vào đây? Ai khiến anh vậy. - Dạ lúc nãy cô
ta nói muốn gặp mặt giáo sư. Hình như cô ta có chuyện quan trọng lắm, nhưng
giáo sư đã làm cho cô ta sợ. Gã thanh niên lơ đãng đáp. Trời! Vậy ra đây là
Giáo sư đây ư? Con người kỳ quái không thân thiện như thế mà mẹ lại bắt tôi đến
với ông ta. Tôi ngạc nhiên tròn xoe mắt nhìn. Giáo sư La Nghị cũng quay sang
nhìn tôi, ông đưa tay lên vuốt mũi, đôi chân mày sâm hơi nhíu lại, đoạn miễn cưỡng
hỏi: - Vậy có phải cô là bạn của Hạo Hạo không? Tôi ngạc nhiên! Hắn muốn nói gì
thế? Nhưng sau đó tôi đoán ngay ra là có lẽ ông ta đã tưởng lầm tôi là người
ông không thích gặp. Dầu sao đi nữa, không thể để tình trạng này kéo dài, tôi
phải tự giới thiệu cho ông ta biết ngay tôi là ai mới được, tôi nói: - Dạ tôi họ
Mẫn, tên là Ức My con của Giang Tú Lâm ạ - Giang Tú Lâm là tên của mẹ tôi - Mẹ
tôi có gửi cho ông bức thư. Nói xong, tôi lấy bức thư trong vali trao ngay cho
ông ta. Giáo sư La Nghị sau khi nghe xong bị xúc động như chạm phải điện. Ông
há hốc miệng, đôi mắt chăm chú nhìn tôi yên lặng không đáp. Một lúc sau, như chợt
tỉnh, ông chộp ngay bức thư xé toạc ra, liếc sơ nhìn những dòng chữ trên giấy,
xong quay sang tôi, lời lẽ cộc lốc: - Mẹ của em giờ ra sao? - Chết rồi. Ông hơi
nhíu mày, hừ một tiếng trong mũi: - Tại sao chết? Chết ở đâu? Tôi cũng đáp gọn:
- Chết ở Cao Hùng, bệnh ung thư tử cung. - Cao Hùng ư? Miệng lảm nhảm không
thành tiếng, một lúc sau ông lại lập lại:
- Cao Hùng? Và quay sang,đôi mắt sáng chăm chú nhìn khuôn mặt
tôi, một lúc lâu ông lại đưa tay lên vuốt mũi. - Thôi được. Em mệt lắm rồi, mọi
chuyện để mai kể tiếp nhé. Giọng nói thô lỗ bỗng trở nên ôn tồn hơn. - Em từ
Cao Hùng đến phải không? Thôi đi ngủ ngay đi. - Dạ. Dáng dấp ông ta có vẻ hơi hối
hận: - Tại sao lúc nãy khi tôi ra mở cửa em không nói ngay? Nếu không gặp Trung
Đan thì em đứng ngoài cửa suốt đêm sao? Tôi bối rối: - Nhưng lúc nãy Giáo sư
nào có để cho tôi nói gì được đâu. - Hừ! Ông ta hừ thêm một tiếng, đoạn quay
sang nhìn gã thanh niên lúc nãy bảo - Lại đây Trung Đan! Gã thanh niên lại gần,
không quên mỉm cười với tôi. - Dẫn cô này lên lầu. Giáo sư ra lệnh xong quay
sang hỏi tôi - Lúc nãy em nói em tên gì họ gì đấy? - Dạ, em tên Mẫn Ức My. Ức
là ký ức, còn My là chữ My có thêm bộ thủy bên cạnh. - Mẫn Ức My! Ông ta nhấn mạnh
từng tiếng như để ghi nhớ. Sau đó lầu nhầu trong miệng như rủa thầm một ai, hoặc
là không thích tên tôi gì mấy, rồi xua tay: - Họ Mẫn ư? Họ không đẹp lắm. Nhưng
thôi, Trung Đan hãy dẫn cô họ Mẫn này lên lầu, phòng bên cạnh phòng của Khởi Khởi
đó nhé. Tôi cúi đầu lúng túng: - Thưa Giáo sư, tôi muốn được tắm một cái trước
đã ạ. Giáo sư La Nghị bực bội: - Trời ơi! Sao lộn xộn vậy. Lên lầu đi, đi chứ.
Tôi chần chờ một lúc xong đứng dậy. Gã thanh niên tên Trung Đan đã xách valise
tôi bước ra cửa, tôi chỉ còn biết bước theo. Đến trước cửa tôi quay lại nhỏ nhẹ:
- Xin chào Giáo Sư, cám ơn Giáo sư đã cho tôi ở trọ. Ông ta vẫn đứng đó, gương
mặt đầy râu tóc dịu hẳn xuống. Những chiếc râu hơi rung động, đôi mắt sáng trộn
lẫn cả nét ôn hoà, ông quay người đến ngồi trên ghế. Tôi vẫn nghe thấy những tiếng
lầu bầu của ông trong phòng, nhưng không rõ lắm! Theo chân Trung Đan, tôi di
qua một gian phòng rộng lớn khác, có lẽ dây là phòng ăn của nhà họ La. Gian
phòng thật rộng và ngăn nắp bên cạnh có một cầu thang dẫn lên lầu. Qua khỏi cầu
thang là một hành lang rộng, hai bên là hai dãy phòng. Trung Đan dẫn tôi dến
phòng thứ ba bên phải, mở cửa, bật đèn xong quay sang nhìn tôi cười: - Cô My
tôi nghĩ có lẽ giáo sư La Nghị chờ đợi cô đã mấy tháng nay rồi. Căn phòng này
đã được sửa soạn từ ba tháng trước. Tôi tò mò nhìn vào phòng, chiếc phòng ngủ
được chăm sóc khéo léo và xinh xắn. Chiếc giường nệm nhỏ, bàn trang điểm, chiếc
tủ đứng đựng quần áo, chiếc bàn giấy xinh đẹp trên có ngọn đèn để bàn, ngoài ra
còn một chiếc kệ sách lồng kính trên có bình hoa hồng. Trên giường, nệm gối xếp
đặt ngay ngắn, chứng tỏ chủ nhân đã sẵn sàng đón nhận tôi. Sự ngỡ ngàng khiến
tôi hơi ngại ngùng. Trung Đan nhìn tôi cười luôn miệng: - Cô thấy có đẹp không?
Cách bài trí nầy tương tợ phòng của Khởi Khởi, con gái giáo sư La Nghị. Tôi rất
sung sướng được biết cô là một nhân vật mới của gia đình họ La. Bây giờ xin
phép không dám làm phiền cô, để mai ta gặp lại nhé. - Cám ơn anh. Tôi không biết
gọi anh ta là gì khác hơn, vì chưa biết rõ địa vị của Trung Đan trong gia đình
này. Có lẽ Trung Đan cũng đoán được ý của tôi, nên hắn nói: - Tôi họ Từ, tên
Trung Đan, chữ Trung là trung gian, còn Đan là tên của một loài cây. Ngưng một
phút, hắn lại tiếp:
- Tôi chưa biết cô là ai, nhưng tôi đoán có lẽ địa vị của hai
ta trong ngôi nhà này giống nhau. Thôi được rồi, mọi chuyện sẽ tính sau, bây giờ
xin phép cô! Hắn bước ra khỏi phòng, thuận tay đóng cửa lại. Và đến lúc này tôi
mới buột miệng: - Chào anh. Tôi chắc hắn nghe rõ lời chào của tôi. Nhìn khắp
gian phòng, tôi có cảm giác như đang sống trong ảo tưởng. Căn phòng này quá huy
hoàng, quá xinh xắn, không thể ngờ lại có thể thuộc về tôi được. Như vậy đây là
sự thật, tôi đã không hề bị nhạo báng, bị bỏ rơi, mà lại còn được đặt vào một
hoàn cảnh mới sang trọng gấp trăm lần căn phòng khi xưa mẹ con tôi đã sống. Đến
bên song cửa, tôi kéo cao tấm màn xanh lơ, mở toang cửa kính, luồng gió đêm từ
ngoài lùa vào mang theo hương hoa thơm ngát. Hít một hơi dài, nhìn ra ngoài cửa
lòng vẫn băn khoăn, tôi tự hỏi. Tôi là ai? Một đưá bé mồ côi vừa mất mẹ? Tôi hiện
ở đâu đây? Ngôi nhà một người bạn xa lạ. Có phải đây là một sự thật chăng? Ngọn
gió đêm luồn qua hàng cây cao trong vườn, quanh quẩn quanh tôi rồi đi ra ngoài
tiếng gió rít nhẹ như lập lại những câu hỏi mơ hồ: - Có phải là ta đang sống thật
hay chăng? Tôi bắt đầu thức giấc khi tia nắng ban mai len vào phòng. Trong cơn
mơ màng tôi không biết mình đang ở đâu. Chiếc nệm êm, chiếc gới mới còn thoang
thoảng mùi vải. Khung cửa kính rung nhẹ bên ngoài khi gió mơn man, tất cả thật
xa lạ với tôi. Đôi mắt khẽ chớp, gió từ phương nào thổi đến mà lại nhẹ nhàng
thơm tho như vậy. Tôi hít lấy một hơi dài, có phải mùi hoa hồng? hoa lài? hay
Diễm kim hương? Trở mình sang một bên, rồi tôi lại nhắm mắt ngủ lại, nhưng gió
thổi lạnh đôi vai. Cuộn kín chăn cả người, thế mà mặt vẫn lạnh, có lẽ tối qua
tôi quên đóng cửa sổ chăng! Nhưng tôi nhớ rõ là mình đã đóng kín rồi cơ mà, thế
thì gió từ đâu đến đây? Tôi lăn người trở lại cố gắng mở mắt và choàng tỉnh.
Đôi mắt nhìn thẳng vào khung cửa sổ, tôi ngạc nhiên vô cùng, vì đôi cánh cửa
đang mở, chiếc màn xanh lơ đang phất phơ trong gió. Nhưng điều tôi ngạc nhiên,
không phải là vì cửa sổ bị mở tung ra, mà vì chiếc bóng trắng đang đứng cạnh cửa,
chiếc bóng bất động mờ ảo như sương. Đó là bóng dáng của người đàn bà, đang hướng
mặt nhìn ra phiá ngoài, quay lưng về phiá tôi. Chiếc áo dài lụa trắng, mái tóc
đen xõa ngang vai bị thổi tung bay trong gió, dáng cao và gầy của bà lồ lộ
trong lớp vải. Tôi chăm chú nhìn, không hiểu tại sao bà ta lại xuất hiện trong
phòng tôi? Bà ta là ai? Chờ đợi một lúc lâu vẫn thấy bà đứng bất động như đang
chú tâm nhìn một cái gì ngoài cửa sổ. Tôi giả vờ ho khẽ một tiếng, bà nghiêng đầu
nhìn sang và nhẹ bước đến cạnh giường. Bà đứng đấy chăm chú nhìn tôi, và tôi vẫn
nằm yên nhìn bà không chớp mắt. Gương mặt thật lạ lùng nghiêm trang, trắng
xanh, chỉ có đôi mắt to là mang vẻ sống động. Đôi mắt sâu hút đó đang chăm chú
nhìn tôi trong khi đôi môi mím chặt như không muốn lời nói thoát ra ngoài.
Chúng tôi cứ thế yên lặng nhìn nhau. Trời sáng dần, ánh sáng tràn ngập căn
phòng khiến tôi dễ dàng nhận diện khuôn mặt bà hơn. Tuy không còn trẻ, đôi mắt
đã có những vết xếp, mép đã hằn vết tích của thời gian, nhưng làn da vẫn mịn
màng. Có lẽ bà đã ngoài bốn mươi. Một lúc sau bà xoay ánh mắt ra song cửa và
buông tiếng thở dài não nuột, chua xót, bà nói nhỏ nhẹ: - Chị ấy chết thật rồi
sao? Tôi không biết có phải bà ấy hỏi tôi hay không? Tôi cũng không biết tiếng
chị ấy là để hỏi ai? Nhưng tiếng nói của bà đã đánh tan lòng nghi hoặc ban đầu.
Ngôn ngữ có thể làm tiêu tan vẻ xa lạ giữa người với người. Tôi đoán có lẽ bà
là bà chủ của ngôi nhà này, vì thế tôi mong chúng tôi có thể thân mật nhau hơn.
- Thưa bà, bà hỏi tôi? Bà ta quay sang nhìn tôi lạnh lùng: - Vậy chớ cô tưởng
tôi nói ai? Tôi cảm thấy hơi ngỡ ngàng: - Bà muốn hỏi mẹ tôi đấy à? Mẹ tôi đã
chết rồi, thưa bà. Bà ta nhìn tôi một lúc, đoạn gật đầu như nói thầm một mình:
- Chết rồi à? Bà quay sang nhìn song cửa với đôi mắt âu sầu. - Chết là đã được
giãi thoát! Bà lại quay sang nhìn tôi, rồi lảng lặng bước ra khỏi phòng. Tiếng
bước thật nhẹ không gây một tiếng động. Khi bóng bà đã khuất, tôi mơ hồ cảm thấy
thái độ của bà như không thân thiện với tôi lắm. Ngồi trên giường, hai tay ôm lấy
gối tôi nghĩ ngợi mãi vẫn khônng tìm thấy một lý do, chỉ biết là mình đang sống
trong một hoài cảnh lạ lùng. Mẹ thường nói tôi không thực tế, hay nghĩ vẫn vơ,
tôi phải học làm người lớn. bỏ cái bản tính trẻ con. Choàng dậy, thay áo quần,
mở cửa ra ngoài hành lang trống vắng không một tiếng động, nhìn đồng hồ đã tám
giờ, có lẽ ngoài tôi ra mọi người trong gia đình này đều quen thói ngủ trưa cả.
Đến phòng rửa mặt, nhìn dáng mình trong gương tôi thấy thích thú, đôi mắt long
lanh với đôi má phúng phính mà mẹ thường bảo là chưa hề biết đau khổ là gì. Đó
là một sự thật vì trước ngày mẹ bệnh, cuộc đời tôi chưa hề khổ đau bao giờ, tôi
thích cười dù sung sướng như cọng cỏ “vô ưu”. Cọng cỏ không bao giờ buồn. Tôi
khôntg biết có cây cỏ nào mang tên như vậy không. Chỉ nghe mẹ thường bảo và gọi
tên tôi như vậy thôi. Nhưng mà, đến khi mẹ bệnh và mất đi, thì niềm vui của tôi
cũng khép lại. Cọng cỏ không buồn của mẹ giờ đang đương đầu với một tương lai mờ
mịt.
Chương 3
Từ phòng rửa mặt trở về, tôi ngạc nhiên vô cùng khi thấy cô tớ
gái khoảng mười bảy, mười tám tuổi đang thu xếp nệm gối và đồ đạc trong phòng
tôi. Áo ngủ đã được bỏ vào ngăn tủ, ngay cả valise của tôi cũng bị mở tung ra,
áo quần trong ấy đã được treo vào tủ đứng, chỉ có hai bức hình là còn nằm trên
bàn giấy mà thôi. Người tớ gái thấy tôi cúi đầu chào: - Thưa cô, em tên là Mạc
Bính, bà chủ sai em đến hầu cô. Tôi quá ngạc nhiên khi thấy mình được sủng ái.
Hồi nào tới giờ, tôi có được ai hầu hạ đâu. Nhìn đứa tớ gái sạch sẽ gọn gàng,
tôi bỗng ngớ ngẩn:
Để đó tôi làm cũng được mà! Mạc Bính nhìn tôi cười, có lẽ nó
cho tôi là đứa con gái nghèo nàn chưa có quen nếp sống trưởng giả, nụ cười của
nó không có vẻ gì ngạo báng. Ôm bình hoa trên tay Mạc Bính hỏi tôi: - Thưa cô
cô thích loại hoa nào à? - Hoa hồng cũng đẹp lắm rồi! Tôi đáp. - Cô chủ tôi
không thích loại hoa có sắc đỏ. Mạc Bính nói. - Cô chỉ thích loại hoa cánh màu
lam, vừa khó trồng lại vừa ít bông, trong khi bà chủ lại thích loại hoa trắng.
Tôi hơi ngạc nhiên: - Thế tất cả những loại hoa đó đều được trồng lấy cả à? -
Vâng ạ! Ngoài vườn hoa ra, chúng tôi còn một nhà mát để nuôi hoa nữa. Mạc Bính
đáp. - Tất cả mọi người trong nhà nầy ai cũng thích hoa. Rồi như sực nhớ điều
gì Mạc Bính hoảng hốt:
- Chết không, tí nữa thì quên rồi, ông chủ đang đợi cô trong
phòng ăn. Đến cửa nó lại quay vào nói:
- Vậy cắm hoa hồng hở cô? - Vâng! Tôi đáp. Mạc Bính ôm bình
hoa bước ra ngoài. Tôi đứng trước bàn trang điểm, chải lại mái tóc ngắn, ngắm
hình ảnh tươi mắt của mình trong gương, hai vết chân mày thẳng làm tôi mang
chút dáng vẻ con trai, đưa tay kéo lại lọn tóc xòa trước má, tôi ngửi thấy
hương hoa. Nhìn xuyên ra cửa kính, những cánh hoa khoe sắc thắm trong rừng cây
xanh um, sắc đỏ chen vàng như lung linh trong nắng sớm khiến tôi lặng người trước
vẻ mê hoặc của thiên nhiên. Hoàn cảnh của cuộc sống mới khiến tôi cảm thấy vui
sướng. Hình ảnh đen tối với cái chết của mẹ tôi đã mờ dần, bản tánh hồn nhiên lại
đến với tôi. Nhìn bầu trời xanh mây trắng, ngắm cảnh xanh um của hoa lá, lòng
tôi mở rộng muốn ca vang. Ra khỏi phòng, qua hành lang tôi chạy nhanh xuống lầu.
Trong gian phòng ăn rộng và sáng sủa, giáo sư La Nghị đang dùng bữa ăn sáng, có
lẽ đã nghe thấy tiếng chân xuống lầu, ông ngẩng lên nhìn. Trong vùng ánh sáng tỏ,
mái tóc ông vẫng bồng bềnh che khuất cả miệng. chỉ có đôi mắt là như hai ngọn
đèn pha trong khu rừng thẳm đang chăm chú nhìn tôi: - Chào giáo sư ạ. Tôi cười
nói. - Ừ. Ông ậm ừ một tiếng rồi lại chăm chú nhìn tôi ra lệnh:
- Ngồi đó đi! Tôi ngồi xuống trước mặt ông, trên bàn đã có
xúc xích và món cải xào. Một người đầy tớ trung niên mang đến cho tôi chén cơm
trắng. Giáo sư La Nghị tiếp tục cúi xuống dùng điểm tâm, không nhìn tôi nữa
trong khi tôi vẫn tò mò nhìn ông.
Bỗng nhiên, ông ngẩng lên nhìn thẳng tôi: - Sao không ăn cơm
đi? Đôi chân mày ông nhíu lại. - Em làm gì nhìn tôi dữ thế? - A. Tôi vội vàng
đáp - Dạ tôi chỉ ngạc nhiên không hiểu bằng cách nào giáo sư cho cơm vào miệng
mà không làm lấm những sợi râu quanh miệng? Tôi vừa dứt tiếng thì một tiếng cười
dòn thật to từ phiá sau đưa tới. Tôi nghiêng đầu nhìn sang, một thanh niên từ
thang lầu chạy bay xuống, đến cạnh tôi mỉm cười thú vị. Tôi chợt thấy đôi mắt của
hắn và giáo sư giống tạc nhau, chỉ khác một điều là hắn sạch sẽ hơn, râu hàm cạo
sạch, đầu tóc chải ngăn nắp, áo sơ mi trắng, cà vạt màu xám bạc. Hắn nhìn tôi
cười, đôi mắt pha lẫn nét tinh quái, đùa cợt không có vẻ đứng đắn tí nào, Giáo
sư trừng mắt nhìn hắn: - Hạo Hạo! mầy làm cái gì đấy? - Phải cô này là cái cô
mà hồi hôm còn chút nữa ba đuổi ra ngoài đó không hở ba? Gã thanh niên vừa nói
xong quay sang tôi cúi mình thật thấp, - Xin lỗi cô, cho phép tôi được tự giới
thiệu, tôi là La Hạo Hạo, nhưng tên Hạo Hạo có vẻ nữ tính quá nên xin được gọi
tắt là La Hạo dễ nghe hơn. Giáo sư hét lớn: - Mầy có ngồi xuống không Hạo? La Hạo
ngồi xuống, đôi mắt trong sáng vẫn tinh quái nhìn tôi. Hắn hãy còn quá trẻ, có
lẽ chỉ là thằng nhóc con lớn hơn tôi ba hay bốn tuổi là cùng. - Thưa cha cô họ
Mẫn này ở luôn trong nhà mình hở cha? La Hạo Hạo quay sang nhìn cha hỏi. - Ừ,
Giáo sư ậm ừ - Việc đó không liên can gì đến mầy cả. Bữa nay có học không mà giờ
còn chưa chịu ăn cơm? - Có hay không có học gì cũng vậy mà thôi. La Hao bất
mãn, nhìn sang tôi gã hỏi:
- Cô tên chi? - Dạ tôi tên Ức My. Tôi đáp. Hắn móc cây bút
nguyên tử trong túi áo ra viết hai chữ “Ý Mai” trên quyển sổ nhỏ và đưa cho
tôi, đôi mắt hắn nhìn tôi dò hỏi: - Phải viết như vầy không? - Không. Tôi đáp,
đoạn lấy bút viết hai chữ “Ức My”. Hắn gật đầu mỉm cười: - Chữ Hán thật phong
phú phải không cô? Cùng đồng âm nhưng lại khác chữ. Giáo sư nghiêm khắc: - Hạo
Hạo! Cút ngay đi, tao có chuyện muốn nói với Ức My. La Hạo chống đối: - Thưa
ba!...
Giáo sư tròn xoe mắt giận dữ: - Tao biểu cút ngay, có nghe
không? - Thôi được để con đi. La Hạo miễn cưỡng đứng đậy, hắn nhìn tôi:
- Ức My, có cơ hội chúng ta sẽ nói chuyện sau. Nhà họ La của
chúng tôi, cha con không thể cùng sống một nhà được, hai người mà ở chung nóc
nhà sẽ sụp ngay. Cha con chúng tôi không ai chịu được ai cả. Nói xong hắn quay
đầu đi ngay ra cửa. Trong nầy, Giáo sư đã dùng xong điểm tâm ông đứng dậy cứng
cỏi và vắn tắt: - Ức My, tôi nghĩ rằng tôi có quyền gọi tên cô, đã từ lâu rồi mẹ
cô là người bạn thân của gia đình chúng tôi. Mẹ cô là người đàn bà cứng cỏi
không phục ai cả. Ba tháng trước, người có viết cho tôi một bức thơ nhưng không
có viết địa chỉ, có lẽ vì bà không muốn cho chúng tôi biết để đến gặp bà. Tuy
nhiên vì bà muốn chúng tôi chăm sóc cô, nên cô sẽ được chúng tôi chu đáo lo lắng.
Nhưng có một điều cô cần lưu ý, là đối với Hạo Hạo, cô cần phải để mặc hắn, đừng
chú ý đến, hắn là thằng lêu lổng không dạy bảo được. Còn riêng đối với Khởi Khởi,
tôi mong rằng cô và nó sẽ là chị em bạn tốt. Giáo sư đưa mắt nhìn lên thang lầu,
như muốn tìm Khởi Khởi, nhưng chiếc thang vẫn vắng lặng. Một lúc ông lại tiếp:
- Khởi là con gái của chúng tôi. Còn riêng đối với vợ tôi. Ông chợt nhìn tôi,
giọng nói biến thành nhẹ nhàng êm ái. - Sáng nay nàng đã gặp em rồi phải không?
- Vâng ạ! Tôi đáp. Tôi hồi tưởng lại hình dáng người đàn bà xanh gầy. - Nhưng
lúc đó cháu không biết đó là bác gái. - Bà ấy rất yếu. Giáo sư nói. - Ít khi rời
phòng. Tốt nhất, em đừng làm phiền bà ấy nhé! - Vâng ạ! Tôi mím chặt môi - Tôi
sẽ cố gắng hết sức không làm phiền mọi người! Giáo sư đăm đăm nhìn tôi: - Tánh
nết của em giống mẹ em như đúc. Ương ngạnh, cố chấp, giàu tình cảm nhất là tự
ái quá cao. Tôi biện hộ: - Nhưng mẹ là người rất tốt! Giáo sư ngắt ngang: -
Đúng vậy. Nhưng thôi hãy ăn cơm đi, cơm nguội rồi! Nói xong ông bước ra khỏi
phòng ăn. Tôi ngồi một mình trong phòng ăn rông thênh thang dùng hết bữa điểm
tâm. Gian phòng này giống như phòng khác có rất nhiều cửa, trong số đó, có một
cánh cửa toàn bằng kính nhìn suốt qua vườn hoa. Có lẽ ngôi nhà này rộng hơn tôi
tưởng. Nếu không vì quá xa lạ với nhà họ La, có lẽ tôi đã đi thám hiểm rồi, bây
giờ chưa quen nhiều thì đành nhẫn nhịn vậy. Buông chén cơm xuống, tôi nhìn
quanh, trên tường treo la liệt ba bốn bức tranh sơn dầu, đa số là những cảnh tối
mờ ảo, dưới mỗi bức đều có ký chữ “K. K.” viết tắt. Bước lên lầu, tôi đi về
phòng, nhưng khi bước qua một gian phòng có cánh cửa sổ, tôi tò mò dừng lại
nhìn bà La đang ngồi trên chiếc ghế trước bàn. Bộ áo trắng thêu hoa với thắt
lưng thả rộng hai bên, đầu tóc được búi cao, để lộ chiếc gáy trắng nõn. Gương mặt
nhìn nghiêng với một nét đẹp tuyệt vời, sống mũi cao, hai hàng lông mi cong
vút. Dáng dấp thật trang trọng, cao quí thanh nhã như một bức họa. - Vào đây
em! Tôi hốt hoảng nhìn quanh, nhưng không có bóng người thứ hai nào khác ngoài
tôi. Vậy có phải bà gọi tôi chăng? Tôi do dự không hiểu nên vào hay không thì
bà ta đã quay sang, đôi mắt to đen chăm chú nhìn tôi: - Tôi kêu em vào đây! Bà
ta nói giọng nói thật lạnh lùng. Tôi bước vào, sực nhớ lại lần gặp mặt ban sáng
có lẽ tôi vô lễ với bà, nên vội cười và gật đầu chào: - Thưa bác ạ. Bà Nghị
nhìn tôi đăm đăm một lúc rồi bảo: - Lại đây em. Tôi bước đến gần. Trong lúc bà
chăm chú nhìn tôi, bỗng nhiên đôi mắt đẹp của bà ta như bị làn sương mờ bao phủ.
Bà nhẹ nhàng đưa tay lên xoa vào vai tôi, rồi lại nắm hai tay tôi, những ngón
tay thon dài trắng bệch so với màu da cháy nắng khỏe mạnh của tôi, tạo nên sự
khác biệt rõ rệt. Bà ta xiết chặt tay tôi, rồi mơ màng nói: - Màu da đẹp quá, đẹp
như nước da của mẹ em. Đoạn ngẩng lên nhìn tôi: - Mẹ em với tôi như hai chị em
ruột, bà ấy thường bảo tôi: “Em đừng làm như vậy, em đừng làm như thế kia, hãy
nghỉ ngơi nhiều để béo ra một tí! “. Bà chăm sóc tôi, tạo cho tôi một cuộc sống
rất đẹp, màn cửa màu trắng, nệm trắng, khăn trải bàn cũng trắng. Tất cả cái gì
cũng trắng cả. ỉ Mẹ em nói, “này Nhã Trúc, chỉ có màu trắng là hợp với em thôi.
Em đẹp quá, phải chi chị đẹp bằng một phần mười của em thì hay biết mấy”. Mẹ em
không cho tôi làm một việc gì cả, thương tôi như thương con búp bê. Bà ấy nói
là: “tôi sẽ chăm sóc em suốt đời, suốt đời”. Tiếng nói của bà Nghị bỗng trầm hẳn
đi, gương mặt càng trắng bệch ra, tia mắt như hôn mê, như hỗn lọan quấn lấy
tôi. Sự thay đổi của bà làm tôi khiếp sợ tôi xụp xuống, lo lắng: - Bác Nghị,
bác làm sao thế? Đôi tay bà vẫn nắm lấy chặt tôi, đôi mắt càng lúc càng hỗn loạn,
càng tóe lửa, như đang chú tâm nhìn một ai ở sau lưng tôi, như không hề nghe thấy
tôi hỏi, miệng bà vẫn lải nhải: - Em là em gái tôi, tôi sẽ chăm sóc em suốt đời,
suốt đời. Cứ mấy câu đó bà nhai đi nhai lại. Đôi mắt càng lúc càng to như đang
tóe lửa. Tôi hoảng hốt cực độ, thử rút tay ra, nhưng bà tay tôi như đang bị kềm
chặt không rút ra được, tiếng lải nhải càng lúc càng nhanh để rồi không biết bà
ta nói gì nữa. Tôi hốt hoảng la to: - Bác Nghị, Bác Nghị, Bác làm sao vậy? Tôi
cố gắng chống trả để rút tay ra, nhưng vẫn không được vì bị siết quá chặt,
chúng tôi đang lấn quấn thì bỗng nhiên một tia sáng lóe trong đầu tôi, hay là
bà ta điên! Ý niệm này càng làm cho tôi khiếp đảm hơn, vì tôi sợ người điên
hơn, gấp trăm lần ma quỷ. Tôi la lớn: - Buông tôi ra! Buông tôi ra! Có tiếng
người chạy vào phòng. Tôi quay sang đó là một thiếu nữ rất đẹp, cô ta chỉ nhìn
thoảng tôi, xong vội chạy ra. Lập tức, tôi nghe gót giày nện mạnh trên cầu
thang, sau đó bóng dáng cao lớn của giáo sư chạy đến. Đặt hai bàn tay to lớn của
ông lên vai bà Nghị, ông lớn tiếng gọi: - Nhã Trúc. Bà Nghị buông lỏng hai tay
tôi ra, đôi mắt quay sang nhìn giáo sư, sau đó lại khóc ngất: - Chị ấy nói là
lúc nào cũng chăm sóc em, chăm sóc em suốt đời kia mà! - Thôi nín đi, Nhã Trúc.
Giọng giáo sư thật nhẹ nhàng giống như đang vỗ về chú mèo con. Ông nẹp đầu bà
Nghị vào lòng, chiếc đầu nhỏ búi cao tựa vào lồng ngực vững chãi. Một mặt ông
đưa tay vuốt ve chiếc lưng gầy của bà, vỗ về. - Thôi nín đi em. Nhã Trúc, nín
đi em. Bà Nghị vẫn còn thút thít khóc, nhưng rồi cũng nín đi. Một lúc khá lâu
ngước đôi mắt đầy lệ nhìn chồng vẻ mặt đã tỉnh hẳn, bà nhẹ nhàng bảo: - Anh Nghị,
em xin lỗi mình. - Không sao cả phải không em? Ông Nghị nói, đôi mắt thật hiền
từ khiến tôi có cảm giác như đó không phải là đôi mắt của giáo sư, vì với một
người có bản tính cộc cằn thô lỗ như ông lại có thể dịu dàng như vậy được sao?
Ông Nghị vỗ nhẹ lên lưng vợ: - Thôi mình đi nằm nhé, để anh bảo Mạc Bính vô hầu
em. Bà Nghị gật đầu, đứng lên, bước về phiá giường ngủ. Ngoan ngoãn như con thỏ
trắng. Tôi bước ra khỏi cửa giáo sư Nghị theo sau, nhìn thấy tôi vẻ dịu dàng
lúc nãy của ông bỗng biến mất ông tròn xoe mắt giận dữ: - Cũng cô nữa, ai bảo
cô đến quấy rầy bà ấy chi vậy? Tôi đã bảo cô rồi mà, cô đừng làm rộn mà chẳng
nghe? Tôi cảm thấy cả một trời oan ức, chỉ có trời mới dám bảo tôi quấy rầy bà
ta, vả lại nếu biết trước bà ta ghê gớm như vậy, thì tôi đã lánh xa từ lâu rồi.
Mở miệng tôi lẩm bẩm: - Không biết ai quấy rầy ai trước. Giáo sư Nghị trợn mắt
nhìn tôi, vẻ mặt bất mãn bỏ đi. Tôi bước về phòng, lòng đầy hối hận và khó chịu,
chỉ mới là buổi sớm mai đầu tiên đến ở nhà này mà đã không may như thế! Vào
phòng ngồi ở mép giường nghĩ đến cuộc sống ăn nhờ ở đậu phải va chạm với bao
nhiêu khuôn mặt bất giác tôi thở dài. Có chiếc bóng đen đứng án trước mặt. Tôi
ngẩng đầu lên, thì ra là cô gái ban nãy trong phòng bà Nghị, cô ta nhìn tôi gật
đầu bảo: - Thấy chị không khép cửa, tôi mới bước vào. Cô ta rất trẻ, có lẽ
không lớn hơn tôi, chiếc robe màu trắng, mái tóc xõa chấm vai. Không cần ai giới
thiệu tôi cũng đoán được cô ta là ai, khuôn mặt giống tạc mẹ cô nhưng đẹp hơn
nhiều. Làn da mịn màng trắng xanh như bà Nghị, đôi mắt đen nháy hơi sâu, hàng
lông mi cong với đôi môi mỏng tạo nên một vẻ đẹp xúc động lòng người. Tôi tuy
không phải là con trai mà vẫn bị mê hoặc như thường. Bản tính tôi từ xưa tới giờ
lúc nào cũng tôn sùng cái đẹp. Tuy nhiên vẻ đẹp tương tợ mẹ cô, vừa cao quý, vừa
trang nhã này khiến tôi cảm thấy thật cách biệt. - Chị là Khởi Khởi phải không?
Tôi hỏi. Cô ta gật đầu không đáp. - Tôi là Mẫn Ức My. Tôi tự giới thiệu. Cô ta
lại gật đầu với vẻ cao ngạo và lạnh lùng như không muốn nói chuyện với tôi. Thế
là, tôi cũng yên lặng, đến một lúc sau, mới nghe cô ta nói: - Mẹ tôi thần kinh
suy nhược, nhưng không đến nỗi nào. Đôi lúc mới nổi cơn một lần, nhưng mỗi lần
có ba tôi bên cạnh là người hồi phục nhanh chóng. Tôi nhìn cô ta, lòng bỗng xúc
cảm. Tôi nghĩ có lẽ cô ta nói như thế là để cho tôi khỏi lo sợ bà Nghị nữa, cho
tôi hiểu rằng dù với vẻ lạnh lùng bên ngoài nhưng bên trong lại chứa đựng trái
tim hiền hoà, vì có nhiều người trời sanh ra không biết biểu lộ tình cảm của
mình cho người biết. Nghĩ thế, tôi càng thấy thích Khởi Khởi hơn. Tôi nhiệt
thành nói: - Vậy hả? Sao không mời bác sĩ đến khám bên cho bác? Cô ta bỗng trừng
mắt nhìn tôi: - Tại sao chị biết chúng tôi không mời bác sĩ đến khám bên cho mẹ
tôi? Lòng nhiệt thành của tôi đã bị dìm vào băng giá. Tôi nghĩ rằng càng ít nói
càng hay hơn, nói nhiều chả ích gì lại đụng chạm nữa thì khổ. Tôi thề với chính
mình là sẽ không nói một câu nào nữa hết. Nhưng rồi bỗng nhiên từ vườn hoa bên
ngoài tiếng hát lanh lảnh của một cô gái đưa vào giọng hát ấm, cao vút. Đây là
bản nhạc quen thuộc mà mẹ tôi thường hát: Hoa phi hoa, vụ phi vụ Dạ bán
lai,thiên minh khứ Lai như xuân mộng bất đa thời Khứ tựa triều vân, vô thỏa xứ.
Tạm dịch: Chẳng phải là sương, chẳng phải hoa, Nửa khuya em đến, sáng em về, Đến
như giấc mộng, xuân không đợi, Đi tựa mây trời không định nơi. Tiếng ca lảnh
lót lập đi lập lại mãi. Tôi như bị lôi cuốn bởi tiếng hát, quên đi lời thề lúc
nãy, tôi hỏi Khởi Khởi: - Ai đang hát thế hở chị? - Gia Gia hát đấy. Cô ta nói,
đoạn lạnh lùng quay đi khi tôi chưa kịp hỏi tiếp câu thứ hai. Gia Gia là ai vậy?
Tôi muốn hỏi nhưng cô ta đã ra khỏi phòng. Không dừng được, tôi nhoài người
nhìn ra ngoài, chỉ thấy vườn hoa dầy dặt, tiếng hát phát ra từ đó mà người đâu
không thấy. Nhịn không nổi tính tò mò, Gia Gia? Ở nhà họ La này lúc nào cũng
thích dùng tiếng lập lại như: Hạo Hạo, Khởi Khởi, rồi lại thêm Gia Gia. Thế Gia
Gia có phải là em út của Hạo Hạo với Khởi Khởi hay chăng? Nghe tiếng hát, có lẽ
cô bé này đẹp lắm! Bước ra cửa, tôi biết rằng ít bước ra khỏi nhà chừng nào tốt
chừng nấy, chỉ mới một buổi sáng đầu tiên mà tôi đã bị rắc rối như vậy. Nhưng rồi
cũng không thoát khỏi sự quyến rũ của tiếng hát, tôi phải tìm cho ra người ca
bài hát trên. Bước xuống lầu, nương theo tiếng hát, tôi bước ra vườn hoa. Mở vội
cánh cửa từ phòng ăn thông ra ngoài, nhảy xuống mấy bực tam cấp, bước vào khu
vườn cây rộng lớn, ven theo con đường nhỏ trải đá mát rượi bởi những hàng cây
cao, tôi bước vào vườn hoa. Vườn hình tròn, chính giữa trồng một trụ sắt, bên
ngoài nhiều loại hoa được vun trồng rất thứ tự, hàng ngoài cùng rộng nhất đầy
hoa hồng, mùi hương thơm ngát, những cánh hoa rơi lả tả chung quanh theo ngọn
gió nhẹ đầu hè. Vượt qua vườn hoa, là khu rừng cây nhỏ, thoáng nhìn không thấy
thứ tự nhưng khi lại gần thì mới nhìn thấy sự chăm sóc khéo léo, những cây
tùng, cây bách tuy chưa thật lớn nhưng thẳng vút lên cao trông rất hùng vĩ. Xen
kẽ là những hoa hướng dương và trà hoa, có lẽ vì chưa đến mùa trà nên chưa thấy
hoa nở, chỉ có loài hoa hướng dương là phô cả sắc hương bên đám lá xanh thu
hút. Bên dưới thân cây các loài hoa khác như hoa hồng, cúc, thạch lựu, tường vị..nở
đầy chen lẫn với những loài hoa khác mà tôi chưa biết tên. Vào vườn cây, tôi có
thể nhận định rõ nơi tiếng hát cao vút thanh tao kia vọng tới. Đôi lúc tiếng
hát như ngưng bặt, có lẽ người hát đang làm việc. Tuy rằng lời ca vẫn bấy nhiêu
lập đi lập lại mãi, lúc cất lên, lúc ngưng bặt, lúc thấp, lúc cao nhưng vẫn đầy
vẻ quyến rũ. Lần theo tiếng hát, bước vào vườn cây, tôi đứng đấy lắng nghe. Tiếng
ca bỗng ngưng bặt, chung quanh không một bóng người, trước mắt chỉ là những
hàng cây xanh điểm những chấm đỏ nơi đầu cành. Vượt qua giàn cây, đưa mắt lục lọi
khắp nơi cũng chỉ thấy hoa và lá. Tôi ngồi xuống ghế tựa lưng suy nghĩ mông
lung và lắng chờ tiếng hát. Tôi cảm giác như mình đang bị trêu chọc, bực tức ngẩng
đầu lên, tôi la lớn: - Có ai trong này không? Tiếng hỏi của tôi như tan biến đi
trong gió. Đứng lặng một lúc, vẻ yên lặng chung quanh như hơi khác thường, tôi
thấy không an tâm lắm, tôi muốn ra khỏi vườn cây. Khi vừa bước được mấy bước
thì tiếng hát khi nãy lại cất lên. Theo những câu cuối của bài hát, tôi chạy
nhanh vào vườn cây, và giờ đây, tôi đã bắt gặp người đang hát. Cô ta đang khom
người trước gốc tùng, lưng quay về phiá tôi. Bên cạnh có bình tưới hoa và cây
cuốc. Cô ta vừa nhổ cỏ vừa hát. Có lẽ vì vừa mải hát vừa chú tâm vào công việc
nên cô ta không nghe tiếng chân của tôi đi đến cạnh, đang nhìn ngắm cô ta. Thân
thể cô gầy ốm trong chiếc áo hoa nội hoá, đầu tóc búi theo kiểu xưa, nhìn cách
ăn mặc, tôi nghĩ có lẽ cô ta là người làm trong nhà. Đứng dừng lại, tôi la lớn:
- Hù! Tiếng “hù” thật lớn của tôi không gây một xúc động nào, cô ta vẫn tiếp tục
ca hát như không nghe thấy gì hết. Tôi ngạc nhiên nhìn, bỗng nhiên tôi khám phá
ra một điều gì không ổn! Đúng rồi mái tóc bạc! Nếu là con gái thì tóc sao lại bạc
như thế! tôi đến trước mặt bà la to: - Hù! Lần này thì bà ta đã chịu ngưng tiếng
hát và ngửng đầu nhìn lên. Tôi chăm chú nhìn gương mặt lạ lùng này. Đó là một
bà già, nhưng gương mặt cũng như tiếng hát ngớ ngẩn một cách hết sức thơ ngây.
Bà ta nhìn tôi với đôi mắt ngơ ngác, miệng há hốc. Một gương mặt không làm sao
cho người ta ghét được. Tôi nhìn bà cười hỏi: - Ngôi vườn này do tay bà chăm
sóc đấy à? Bà đứng lên, tướng người lùn, chỉ cao đến mí mắt tôi. Chăm chú nhìn
tôi không đáp và mỉm miệng cười ngờ nghệch. - Bà ca hay quá! Tôi nói thêm vì nụ
cười của bà làm tôi cảm thấy thân thiện. Bà ta vẫn cười không nói. Nhưng mà đã
hai câu nói của tôi không được trả lời khiến tôi hơi cụt hứng. Tôi nghĩ rằng
hay là mình nên tự giới thiệu trước có lẽ hay hơn chăng? - Tôi là người mới đến
gia đình giáo sư, tôi tên là Ức My. Bà ta lại cười, nụ cười giống như bức tượng
phật. Tôi không vui lắm, tại sao mọi người trong nhà họ La nầy lại đối xử với
tôi lạnh lùng đến thế, bàn tay thân thiện của tôi đưa ra không được một ai bắt
lấy. Quay đầu lại, tôi hơi giận: - Tôi buồn cười lắm phải không? Bộ tôi đui què
sức mẻ gì hay sao mà bà nhìn tôi cười hoài vậy? Có lẽ lời nói của tôi làm cho
bà ta ngượng. Bà cúi xuống, rồi ngồi xuống tiếp tục nhổ cỏ, thờ ơ. Tôi cắn lấy
ngón tay cái, ngẩn người suy nghĩ xem có nên thu xếp đồ đạc trở về Cao Hùng hay
không? Bà hiệu trưởng họ Lâm tuy nghèo, không thể mang đến cho tôi một cuộc sống
đầy đủ, nhưng thành thật và gần gũi hơn, có đủ tình cảm của một con người còn đủ
tim óc. Đang lúc tôi ngẩn người ra suy nghĩ thì bà ngước lên nhìn tôi, nụ cười
vẫn điểm trên môi, tay chỉ về phiá cây tùng, nói từng tiếng trên môi: - Sắp nở
hoa rồi đấy! Tôi kinh ngạc. Sắp nở hoa rồi, mà cái gì sắp nở hoa đây chứ? Nhìn
theo hướng tay, tôi thấy trên thân cây tùng có một loại dây leo không lá màu
vàng, trên có những nụ hoa rung rinh trong gió một cách tội nghiệp. Tôi bỗng thấy
thích thú vì bà ta đã nói chuyện với tôi. Lấy tay vuốt nhẹ nụ hoa màu trắng sữa,
tôi vui sướng hỏi: - Thế hoa nầy tên gì hả bà? Bà ta ngơ ngẩn nhìn tôi làm như
tôi đang nói tiếng Mông cổ không bằng. - Hoa sắp nở rồi! Bà ta lập đi lập lại
và đứng dậy. Sắp nở hoa rồi, khi gió lên lá bắt đầu rụng thì hoa sẽ nở. Bà ta lại
ngẩng lên trời với tất cả sự chú tâm và lập lại:
- Khi gió lên, lá bắt đầu rụng thì hoa sẽ nở. Tôi ngạc nhiên:
- Tại sao phải đợi đến lúc gió lên? Bà ta không đáp, nhìn tôi ngẩn ngơ, một lúc
sau lại nói: - Cô có thấy không? Tôi ngơ ngác:
- Thấy gì? - Hoa sắp nở rồi. Bà ta chỉ lên cây tùng, tôi chăm
chú nhìn bà, người đàn bà nầy sao lạ vậy, hình như có một cái gì bất thường tôi
nghĩ mông lung. Trong lúc tôi đang nghĩ mông lung. thì từ trong lùm cây một
bóng người bước ra. Từ Trung Đan, gã thanh niên đã đưa tôi vào ngôi nhà họ La nầy,
quần áo xốc xếch, tay cầm một quyển sách dầy. Thái độ hết sức tự nhiên, hắn bước
đến bên tôi, nụ cười trên môi gật đầu chào tôi: - Chào cô Mẫn. - Dạ, không dám
chào ông. Tôi gật đầu chào lại. Hắn lại quay sang bà lão gật đầu: - Chào Gia
Gia. Đoạn bước đến đưa tay vỗ vai bà lão như vỗ về trẻ nít. - Sao? Hoa nở chưa?
Gia gia vui vẻ: - Hoa sắp nở rồi! - Ồ! Trung Đan có vẻ vui sướng. - Hoa sắp nở
thật rồi, năm nay hoa nở sớm hơn mọi năm. Hắn lại quay sang tôi. - Cô Ức My đi
đạo quanh vườn với tôi một chút nhé! - Vâng! Tôi đáp. Chúng tôi thả bộ trong
khu vườn cây. Trung Đan nói: - Cô đừng mất công chuyện trò với Gia Gia, bà ta
hơi khật khùng, không biết gì hết. - Vậy sao? Tôi ngạc nhiên. - Nhưng đừng sợ,
coi vậy chứ bà ấy hiền lắm không làm phiền ai hết. Đôi lúc bà ta không có vẻ gì
là ngây ngô cả, thí dụi? như bà ta thích được khen ngợi, biết ăn mặc sạch sẽ,
biết chăm sóc cây cỏ, biết cỏ nào là cỏ dại, biết đâu là mầm hoa. Có nhiều khi
tôi thấy bà ta rất thông minh, biết nhìn người nhìn vật. Trí nhớ rất khá như
bài ca mà bà ta thường hát không bao giờ hát nhảy hay ca sai một câu. Tôi ngạc
nhiên, háo kỳ lắng nghe: - Thế bà ta là gì trong gia đình nầy? - Hình như là có
họ xa. Gia đình giáo sư La đã mang bà ta từ Đại Lục đến đây. Đúng ra bà ấy là
người làm vườn, chăm sóc cả vườn hoa rộng lớn nầy. Khu vườn nầy mà tốt tươi đều
do sự trông nom của Gia Gia. Tôi lắng nghe. Trung Đan tiếp: - Nhưng có một điều,
bà ấy có những ngôn từ riêng của bà ấy. Thí dụ khi nói gió lên thì có nghĩa là
đến mùa giông bão. Gia Gia thích nhất là những sợi dây leo đó, bà ta chăm sóc kỹ
như mẹ chăm sóc con. - Thế dây leo đó tên gì vậy? - Ồ! Trung Đan cười to - Cây
cỏ đối với tôi thật xa lạ Trong khu vườn nầy có nhiều loại hoa tôi không biết gọi
tên, tuy vậy tôi cũng thích nghiên cứu vấn đề nầy lắm. Cành dây leo kia, cô có
bao giờ nghe đến một loài cây có tên là Thố Ty Hoa chưa? - Thố Ty Hoả Tôi nói -
Trong thơ cổ tôi có nghe thấy nói đến, như trong thơ Lý Bạch có một bài thơ hay
nói về Thố Tý Hoa và Nữ Oa Thảo. - Đúng rồi, tôi ngờ rằng loại Thố Ty là lại
dây leo đó, nhưng tôi không chứng minh được. Chỉ biết có lần tra tự điển tôi thấy
giải thích về Thố Ty tương tợ loại dây leo nầy vì vậy tôi gọi nó là thố ty Hoa.
- Tiếc là không có Nữ Oa Thảo ở đây. Tôi cười nói. Bằng không thì: Bá Trượng
thác viễn Tòng. Triển cảm thành nhất gia (Cách xa nhau trăm trượng. Nhờ Tòng kết
thông gia). Như vậy thì đẹp biết bao! Trung Đan quay sang, nhìn tôi thăm dò: -
Cô thích thơ lắm à? - Cũng không thích gì mấy, nhưng tôi hay nghe mẹ tôi ngâm
nga nên quen tai rồi cũng bị ảnh hưởng phần nào. Nhưng mà bản tánh tôi ít khi
chịu chú tâm vào một việc. Sở thích quá rộng rãi, lại không ưa gò bó, mà thi ca
bắt buộc phải để tất cả tâm hồn vào, nên đối với tôi thì cao xa quá. Chúng tôi
đi đến cạnh một băng ghế đá, Trung Đan hỏi: - Chúng ta ngồi một lát nhé. Tôi ngồi
xuống, hắn ngồi bên cạnh, đặt quyển vở lên gối, tôi liếc nhìn thấy đề “Phổ
thông Tâm Lý Học”. - Anh học môn tâm lý à? Tôi ngạc nhiên. - Không. Hắn đáp -
Nhưng, vì đối với tôi cái gì tôi cũng thích, nên tôi nghiên cứu chơi cho vui vậy.
Tôi nhìn hắn: - Thế anh là gì trong nhà họ La nầy? - Tôi là học trò giáo sư La
Nghị, tôi đã học hết hai năm địa chất, sau đó vì thấy nó quá khô khan nên tôi
chuyển qua học mỹ thuật. Tôi tốt nghiệp năm rồi. Bây giờ tôi dạy trường trung học
công lập ở đây. Giáo sư mời tôi đến đây ở, sẵn dịp dạy cho Khởi Khởi vẽ luôn. -
Khởi Khởi à? Tôi hỏi. - Đúng vậy. Khởi Khởi vừa thông minh vừa dễ thương lại
siêng học. Nghĩ đến Khởi Khởi, vẻ xinh đẹp tuyệt vời và nét mặt lạnh lùng của
cô ta, tôi hỏi tiếp. - Thế anh ở đây đã bao lâu rồi? - Khoảng hơn một năm. Tôi
yên lặng nhìn quanh, tia mắt rơi trên bìa quyển Tâm Lý Học: - Quyển tâm lý học
nói gì vậy anh? Nó có thể giúp anh biết được tâm lý người khác không? Trung
Đang ôm sách vào lòng đôi mắt sáng nhìn tôi như cười cợt: - Biết chớ sao không!
Thí dụ như bây giờ tôi có thể phân tách được tâm lý của cô. - Đâu thử xem. Tôi
nói. Hắn nhìn tôi một chập đoạn nói: - Cô ấy à? Tôi biết cô đang nghĩ trong gia
đình họ La nầy người nào cũng lạ lùng ngoài điều cô tiên liệu, cô lạ lùng về sự
kết hợp của gia đình nầy. Một người cha thô lỗ khó tánh, một người mẹ đau thần
kinh, hai đứa con hai bản tánh, một bà làm vườn khật khùng cộng thêm vào một
giáo sư tư gia không ăn lương như tôi. Và cô nghĩ rằng việc cô nhảy vào nhà họ
là nầy ở trọ là một điều thiếu suy xét cẩn thận. Đến đây không được ai đoái
hoài đến, tự ái bị tổn thương và cô đang suy tính tìm cách để ra khỏi gia đình
nầy trở về chốn cũ thích thú hơn. Trung Đan nhìn tôi cười, hắn hất đầu lên để
những sợi tóc trước tránh rơi về sau, hỏi: - Đúng phần nào không cô? Tôi ngạc
nhiên mở to đôi mắt: - Ồ! Anh có thể là nhà tâm lý tài ba lắm đấy. Hắn cười to,
vui vẻ: - Nói cho cô biết, sự thật ra việc phân tách tâm lý cô và quyển tâm lý
học nầy hoàn toàn không giống nhau. Tâm Lý Học là một khoa học còn việc thấu hiểu
tâm lý của một người lại là một chuyện khác. Tâm lý học chuyên môn hơn và có
liên hệ mật thiết với y học và sự cấu tạo thể xác của con người. Còn việc tôi
phân tích tâm lý của cô được, đó là một điều giản dị. Một năm trước, khi mới đến
đây tôi cũng mang một tâm trạng như cô, và tôi nghĩ rằng một người ở cùng hoàn
cảnh sẽ có cùng một tâm trạng, do đó tôi nghĩ rằng cô cũng tương tự. - À thì ra
thế! Tôi cũng cười to. - Giản dị quá phải không cô? - Vâng, thật giản dị, nhưng
mà anh đã làm cách nào thoát được cái cảm giác bị bỏ rơi đó. Trung Đan nhìn tôi
thật lâu, yên lặng một cách kỳ quái. Sau đó hắn đứng lên chậm rãi nói:
- Rồi một ngày nào đó, cô sẽ khắc phục được. Nói xong hắn lại
nhìn ra vườn. - Bây giờ tới giờ dạy Khởi Khởi học. Bỗng nhiên, hắn đứng lại hỏi:
- Cô đậu tú tài chưa? - Dạ, đậu chừng một năm nay rồi. Tôi đi
học sớm lắm, chỉ tại mẹ bệnh nên tôi không thi vào đại hoc. - Thế cô muốn thi
không? Tôi gật đầu. - Cô muốn học ngành nào? - Tôi chưa quyết định. Hắn dừng lại
thêm một lúc, đoạn cười nói: - Cô có thấy loài người lạ lùng không. Mỗi cái miệng
nhưng không bao giờ có cùng một khuôn mặt. Mỗi người đều có cùng một cấu tạo về
nội tạng, xương cốt, đại não, tiểu não, thế nhưng không bao giờ óc có cùng một
bản tánh. Ngay cả trí thông minh cũng có sự khác biệt, mỗi người mỗi dáng trời
sinh ra con người không bao giờ có sự trùng hợp. Như giữa cô và Khởi Khởi đều ở
tuổi mười bảy, mười tám, nhưng cả hai lại hoàn toàn khác biệt. Tôi cười nói:
- Đó có phải là nguyên nhân khiến anh nghiên cứu về tâm lý học
chăng? Rồi tôi thắc mắc- Thế Khởi Khởi không đi học à? - Cô ấy chỉ học đến đệ
tam thôi. - Tại sao vậy? - Tại bệnh phổi hay là bệnh gì khác không biết, cô ấy
quá cô độc không thể sống hợp quần, không thể hòa hợp được với các sinh hoạt
nhà trường. Mặc dù bệnh phổi đã hết hẳn nhưng cô ấy không thích đến trường nữa.
Niềm vui của cô ấy quá nhỏ bé, lối giáo dục phổ thông không thích hợp với cô
ta. - Nói khác đi, có phải bài vở trong lớp của cô ấy quá kém chăng? Tôi hỏi. -
Đúng vậy, trừ môn hội họa và âm nhạc, bài vở của Khởi Khởi ít khi trên điểm
trung bình. Vì vậy trên phương diện nghệ thuật, cô tỏ ra là một thiên tài lãnh
hội rất nhanh chóng, cô đàn piano rất hay. Đối với người có thiên tài như vậy,
nền giáo dục phổ thông chỉ làm thiệt tài năng thôi. - Anh có vẻ bất bình cho cô
ấy lắm. - Đúng! Trung Đan suy nghĩ một lúc đoạn nói - Đó là một cô bé có thiên
tài, rất dễ thương. Tôi nghĩ đến Khởi Khởi, không ai lại không nói là cô ấy dễ
thương. Đẹp là một lợi thế. Thượng đế thật lạ lùng, đã tạo ra con người mà còn
phân biệt đẹp xấu làm chi? Như chợt nhớ ra, Trung Đan cắt đứt dòng tư tưởng của
tôi: - Chết! tôi phải đi đây, cô có thể tiếp tục đi dạo ở đây vừa mát, phong cảnh
lại hữu tình. Trung Đan bước đi một đỗi rồi quay lại cười thật tươi:
- Cô thông minh lắm, nói chuyện với cô thật thích thú. Tôi ngồi
lại, ngắm nhìn cái dáng cao gầy của hắn khuất sau lùm cây. Hai tay ôm gối, tựa
lưng vào thân cây, tôi nghĩ ngợi vu vơ. Cơn gió phất phơ làm vài chiếc lá vàng
rơi trên áo, tôi nhặt một chiếc lá hãy còn màu xanh nhạt, hình quả tim, có mùi
thơm, cọ nhẹ lên mũi. Tạo cho tôi một cảm giác thích thú. Có tiếng chân người
nhẹ bước về phiá tôi. Quay đầu sang, thì ra là Gia Gia, bà ta đang đứng cạnh và
chăm chú ngắm tôi. Đôi mắt không còn ngây dại nữa, mà đăm đăm nhìn tôi như muốn
tìm một ai qua hình ảnh tôi. Tôi vỗ nhẹ tay lên ghế và mời: - Ngồi chơi, Gia
Gia! Tức khắc nụ cười khờ khạo lại xuất hiện và bà ta xoay lưng bỏ đi, vừa đi vừa
lẩm bẩm, tôi chỉ nghe những tiếng đứt đoạn: - Bà ấy nói bà thích.. kêu tôi chăm
sóc hoa. Bà nói tôi với mọi người như nhau cả, nếu không chăm sóc.. sống không
được...
Tôi vẫn cô độc ngồi đấy, đồng hồ trên tay chỉ gần mười hai giờ,
đứng dậy, phủi nhẹ những chiếc lá bám trên áo, tôi bước ra khỏi vườn hoa. Cầm
hoa trên tay tôi bước lên bực tam cấp, mở cửa kính và bước vào phòng. Nhưng tôi
vô cùng ngạc nhiên vì phòng nầy khác hơn lúc nãy. Trong lúc tôi còn đang sửng sốt
ngó quanh, thì tia mắt tôi bắt gặp giáo sư đang ngồi sau chiếc bàn giấy rộng trố
mắt nhìn tôi. - Ủa giáo sư! Xin lỗi, tôi đã đi lộn cửa. Giáo sư vẫn chăm chú
nhìn tôi. Trong đám râu tóc rậm rạp như cỏ dại, đôi mắt ông long lanh một cách
kỳ quái. Tôi không nghe ông la lối, có lẽ việc đường đột xông vào của tôi đã
làm cho ông ta phiền lòng. - Xin lỗi giáo sư. Tôi lập lại, một mắt lui ra cửa -
Xin lỗi đã làm phiền giáo sư. Bỗng nhiên ông ta nói: - Khoan đã, đến đây bảo.
Tôi hơi do dự, đoạn bước tới. Giáo sư vẫn nhìn tôi rồi kéo ghế để trước mặt,
ông nói: - Ngồi xuống đây. Tôi vâng lời ngồi xuống, bây giờ đối mặt ông tôi có
thể nhìn ông rõ hơn. Hai hàng lông mi đen sậm với chiếc trán rộng, một phần phủ
đầy tóc, chiếc cằm vuông đầy vẻ cương nghị, sống mũi hơi cao, chứng tỏ ông là
người cứng rắn. Ông cất tiếng hỏi: - Em đang nghĩ gì đấy? Tôi hoảng hốt: - Dạ,
dạ tôi.. tôi nghĩ là nếu giáo sư cạo sạnh râu đi thì không biết gương mặt sẽ ra
sao! Ông ta lườm tôi. Tôi chợt hối hận, sao lúc nào tôi cũng có thể thốt ra những
tiếng không nên nói như vậy. Giống như mẹ thường nói, tôi chưa thể lớn được phải
không? Len lén nhìn ông, tôi hú hồn, ông không có vẻ gì là giận dữ cả, đôi mắt
vẫn đăm đăm nhìn tôi từ mặt đến đóa hoa trên tay. Ông ôn tồn hỏi: - Em cũng
thích hoa nữa à? - Vâng ạ! Ông đón lấy đóa hoa trên tay tôi, đoạn chăm chú
nhìn: - Đây là hoa của Khởi Khởi, nó đặt tên là Đừng quên tôi. - Có thật đóa
hoa nầy tên là Đừng quên tôi hay không giáo sư? Tôi hỏi. - Có lẽ. Ông liệng đóa
hoa xuống - Hoa cỏ là những món giải trí của đàn bà. Rồi ngước lên ông như xuất
thần, bất động ngắm gương mặt tôi một lúc lâu như trên gương mặt nầy có một cái
gì lạ lùng kỳ quái. Sau đó ông đưa bàn tay to lớn của ông lên, vuốt những sợi
tóc trước trán tôi, hành động bất ngờ nầy làm tôi hoảng sợ. Nhưng nhìn vẻ ôn
hòa dịu dàng của ông tôi an tâm, tia nhìn vẫn còn bị khuôn mặt tôi thu hút, một
lúc sau ông bỏ tay xuống, tựa vào ghế, nhỏ nhẹ bảo: - Em không đẹp lắm, nhất là
không đẹp bằng Khởi Khởi, nhưng nhìn đôi mắt thông minh và gương mặt tươi sáng
của em, tôi biết em là người giàu nghị lực. Ông yên lặng một lúc - Em không những
chỉ thông minh mà còn đầy lòng thương người nữa phải không? Rồi không đợi đáp
ông nói:
- Vẻ đẹp đâu cần chỉ ở bề ngoài. Đoạn ông vỗ về cách tay đặt
trên gối của tôi - Ức My! Em đẹp lắm. Tôi như người mê ngủ trước đôi mắt như
thôi miên của ông, lời nói ôn tồn làm tôi xúc động. Đây là người đàn ông như thế
nào? Trái tim ông ta ra sao mà dễ thay đổi như thế? Gương mặt đầy râu ria của
ông giống như một con sư tử đực hùng tráng. Sư tử đực! Tôi bỗng nghĩ đến cái bờm
của nó, rồi nhìn gương mặt đầy râu của giáo sư, bỗng nhiên tôi không thể nín cười
được. - Hừ! Giáo sư nhíu mày lại - Bộ em thường hay cười khan như vậy sao? Tôi
hốt hoảng: - Dạ xin lỗi, tôi thường cười không nhằm lúc, xin lỗi giáo sư, tôi sẽ
cố gắng bỏ tật đó. - Em nói cho tôi biết, tại sao em cười? - Dạ, dạ.. tôi nói
như đớ lưỡi- Dạ. Tại con sư tử đực. Ông ta lườm lườm nhìn tôi, tất cả vẻ hiền
hòa trên gương mặt lúc nãy đã biến mất: - Em thường nói bậy, nói bạ như vậy lắm
sao? Tôi ngương nghịu: - Dạ không phải tôi nói bậy nói bạ mà vì tôi nói chưa
tròn câu ạ. Giáo sư lại cân nhắc nhìn tôi một lúc, rồi như không nhẫn nại được
nữa, ông xô ghế đứng lên lạnh lùng nói: - Hôm nay là ngày nghỉ cuối cùng của
em. - Dạ thưa chi ạ? Tôi chưa rõ ông bảo gì?
- Bắt đầu ngày mai em phải làm một thời khóa biểu ấn định giờ
giấc đàng hoàng, em sẽ bắt đầu học để sang năm thi vào đại học. Tôi sẽ nhờ
Trung Đan dạy em học toán lý hoá, quốc văn môn nào nó cũng giỏi cả. Đấy cũng là
nguyện vọng của mẹ em, em hãy ráng mà liệu lấy, bây giờ em có thể đi được rồi!
Tôi đứng dậy hơi hối hận nhìn ông:
- Cám ơn giáo sư, Giáo sư đã lo lắng cho tôi quá đầy đủ. Ông
ta ngẩng lên, mắt nhìn tôi trừng trừng như không biết tôi nói những gì.
Chương 4
Hôm ấy, tôi thức dậy thật sớm lúc trời hãy còn mờ sương.
Không khí buổi sáng thật tinh khiết. Rửa mặt xong tôi thấy tinh thần thật sảng
khoái, đứng bên cửa nghe tiếng hát thanh thoát của Gia Gia vương vấn trong gió.
Tôi bước ra khỏi phòng chạy xuống thang lầu, thẳng ra vườn hoa, thiếu chút nữa
đã đụng vào một người, ngẩng lên, thì ra là Trung Đan. Tôi sung sướng: - À anh,
tôi không nghĩ là anh lại dậy sớm hơn tôi thế. - Vậy à? Hắn cười - Sáng nào tôi
cũng dậy sớm, tôi thích ngồi xem sách trong vườn hoa. - Vậy à! Thế mà hồi nào tới
giờ tôi vẫn tưởng người trong nhà họ La nầy không bao giờ thức trước tám giờ chứ!
Nhưng tôi nào có phải là người họ La đâu? Hắn nói. Ngoài ra đến
tám giờ tôi đã phải dạy cô rồi? Cô quên sao? - Thế anh có thấy bực mình không?
- Bực mình chuyện gì? - Thì việc dạy một học trò ngu như tôi đó. - Cô à? Hắn
nhìn tôi cười - Nếu tất cả đứa học trò tại tư gia mà đều “ngu” như cô thì hay
biết mấy! - Mấy đứa học lớp đêm của anh có thông minh không? - Ơ. Hắn nhăn mặt.
Thông minh quá đỗi thông minh. - Sao vậy? - Tôi thí dụ cô nghe nhé, cậu bé đó học
đệ thất tôi phải dạy đủ môn cho cậu ta. Chương trình đệ thất có môn vạn vật cô
biết chứ? - Có. - Một hôm tôi phải mất suốt cả một buổi tối để phân biệt cho cậu
ta biết thế nào là đực cái đồng thể. Thế nào là đực cái dị thể giảng muốn khan
cả cổ, thế rồi tôi hỏi cậu ta hiểu chưa hắn nói hiểu. Tôi mới tìm một câu hỏi để
khảo sát, sợ câu hỏi khó thì cậu ta trã lời không được, nên tôi mới hỏi một câu
thật dễ, tôi hỏi: Con người thuộc loại đực cái đồng thể hay dị thể, cô biết hắn
trả lời ra sao không? - Thế hắn đáp ra sao? - Hắn nghĩ gần cả buổi mới đáp là:
Con người thuộc loại “đực cái đồng thể”! Tôi cười rũ rượi, sau đó chúng tôi bước
vào con đường nhỏ giữa hàng long bá, Trung Đan nói: - Tôi đến Đài loan một mình
khi tôi vừa được mười mấy tuổi. Lúc đầu ở đậu nhà bà dì, sau đó bà dì không
nuôi tôi nữa. Mười mấy năm qua, tôi phải tự lực cánh sinh để học, đến tốt nghiệp
đại học, sống nhờ nghề kèm trẻ. Tôi đã dạy qua không biết bao nhiêu nhà, nhưng
có một hạng người mà tôi ghét nhất không muốn dạy. - Hạng nào? - Đó là hạng bất
tài. - Nhưng mà trên đời nầy hạng bất tài thì lúc nào cũng nhiều hơn thiên tài,
vì vậy tôi không ghét họ, mà chỉ ghét một hạng người. - Hạng người nào? Trung
Đan hỏi ngược lại. - Đó là hạng nô tài. Hắn cười to: - Thật ư? Nhưng bọn bất
tài với bọn nô tài hạng nào đáng ghét hơn thì cần hỏi lại. - Bọn bất tài chỉ
đáng ghét chứ không đáng giận, trái lại bọn nô tài đáng giận hơn. - Cô nói có
lý, bọn bất tài chỉ vô dụng, còn với bọn nô tài thì thật là hạ tiện. Đối với
người chuyên moi móc, luồn cúi thì không thể nào chịu được. Ức My, cô có vẻ
nhìn rõ vấn đề hơn tôi, nhưng có một hạng bất tài, chỉ thích lăn trong bùn nhơ
phân thối, thân thể vừa hôi vừa tởm, thế mà lúc nào cũng cười ngạo kẻ tay trắng
làm nên, họ lại còn tự cho mình hay, mình giỏi không cần ganh đua với đời, chịu
an phận trong cuộc đời hạ tiện và gán cho những kẻ đang nỗ lực xây đựng là những
phần tử có dã tâm, đua chen danh lợi không thanh cao. Đối với hạng thối tha nầy
nói thật, tôi không xem họ ra gì cả. Không lúc nào tôi nghĩ rằng: trên đời nầy
người không xông xáo gì cả mà có được lợi danh. Giả sử như có đi nữa thì chẳng
qua họ chỉ là một thứ bù nhìn. - Đúng vậy. Tôi đồng ý.
- Tôi cũng nghĩ rằng những kẻ nhạo báng sự thành công của người
khác chỉ vì họ không thành công được, hoặc vì họ không chịu cố gắng. Nếu chỉ ngồi
không trong phòng trống, không cần phải tranh giành hay tốn sức lao động thì có
lẽ họ sẽ vui vẻ chấp nhận ngay! Tôi chăm chú nhìn Trung Đan, rồi hỏi:
- Thế anh có thuộc thành phần có tham vọng chăng? Trung Đan
cũng nhìn tôi, gương mặc sáng sủa đầy cương nghị, điển hình cho một tinh thần
tranh đấu giàu nghị lực, nếu so sánh về cái mã đẹp trai thì thua xa Hạo Hạo, Hạo
Hạo đẹp trai hơn lại có vẻ phóng khoáng, nhưng chọn loại điển hình cho hạng người
thực tế và tự lập thì Trung Đan lại hơn. Dù không đẹp trai, y phục xốc xếch, ăn
uống nhanh nhẩu, nhưng khi làm việc hay lúc dạy học chàng đều hết sức chăm chỉ.
Tôi thích nhất vẻ suy tư của Trung Đạn mỗi lần chàng yên lặng nhíu mày là tôi lại
tưởng tượng ra bao nhiêu tư tưởng đang quay cuồng trong bộ óc lớn mà mỗi ngày
phải bao nhiêu việc để thỏa mãn tinh thần cầu tiến của chàng. Trung Đan vẫn
nhìn tôi với đôi mắt hơi khác thường, chàng nói: - Đúng, cô có thể cho tôi là
người đầy tham vọng cũng được, tôi không hề tự cho rằng mình thuộc loại thanh
cao. Lúc nào tôi cũng dùng hết sức mình để làm việc, chinh phục những gì tôi cần
chinh phục, không cần biết đó là danh hay lợi. Nhưng có một điều, đối với lợi lộc
tiền tài tôi chỉ muốn mình không nghèo là được, chớ không đòi hỏi phải là phú
ông, chỉ cần sống không thiếu thốn, tiền tài dư dả không ích lợi gì, vì nếu chỉ
cần năm trăm cho một ngày là cuộc sống của cô được đầy đủ, thì một triệu, chục
triệu, trăm triệu hay một tỷ có nghĩa lý gì thêm nữa đâu, phải không cô? Tôi gật
đầu hỏi: - Thế đối với công danh thì sao? Đôi mắt Trung Đan chợt sáng ra, một
lúc lâu chàng nói: - Thuở nhỏ tôi có xem một quyển sách tên là “Anh hùng và những
kẻ được ngưỡng mộ” cuốn sách nầy đã ảnh hưởng đến cuộc đời tôi, tôi mong rằng
mình được ngưỡng mộ chớ không muốn là một bọt nước trên dòng, có thể vỡ ra
không một âm vang. Sống một cuộc đời bình thản, vô danh là lãng phí! Tôi muốn
được thành công, muốn là một anh hùng được vạn ngàn người ngưỡng mộ. Có lẽ cô
cho tôi là hạng phàm phu tục tử chăng? Ức My.
- Cười anh phàm tục à? Không đâu, tôi hết sức ngưỡng mộ sư
siêu phàm của anh. Thật vậy ai bảo anh phàm tục? Không, anh không phàm tục chút
nào cả, vì có rất nhiều người khao khát được thành công nhưng không dám thú nhận
còn anh thì không thế, anh đã nói thẳng điều anh muốn. Chúng tôi đến cạnh vườn
hoa. Tôi đứng lại. Gia Gia đang trổ tài hát, khoan thai tưới mấy cụm hoa, thấy
chúng tôi đến, bà ngừng tưới, ngẩng đầu nhìn chúng tôi cười ngớ ngẩn. Trung Đan
ôn tồn hỏi: - Hoa nở hết chưa, Gia Gia? - Hoa nở rồi. Gia Gia ngớ ngẩn nói, đôi
mắt tròn xoe nhìn tôi như khám phá ra một điều gì mới lạ. Thùng nước trên tay hạ
dần xuống, nước đổ tung tóe. Để bà nhìn một lúc lâu, tôi cảm thấy hơi dễ chịu
và bước đến gần bà cười: - Nước trong bình đổ ra hết rồi kìa, Gia Gia. Vừa nói
tôi vừa tiếp lấy thùng. - Để tôi giúp bà tưới hoa nhé, được không? Tôi thích tưới
hoa lắm. Bà ngạc nhiên nhìn, nhưng rồi cũng để tôi cầm chiếc thùng tưới lên những
luống hoa, một tay tôi giữ áo vì sợ bị ướt. Nhìn những giọt nước ướt đẫm trên
hoa lá với ánh nắng mới lấp lánh sáng, tôi thích thú vô cùng. Rồi như vô tình một
mặt tưới hoa, một mặt tôi hát bài mà Gia Gia thường hát. Đến khi nước trong
thùng đã hết, tôi ngừng tưới, quay nhìn ra thì bắt gặp Trung Đan đang ngắm tôi
với đôi mắt chiêm ngưỡng và nụ cười trên môi, tôi mỉm cười đáp lại. Kéo thẳng nếp
áo, đưa mắt lên gặp ánh mắt của Gia Gia. Gia Gia nhìn tôi sung sướng, những vết
nhăn trên mặt ửng đỏ, đôi môi khép hờ, thái độ thật giống trẻ thơ khi trông thấy
món quà vừa ý, tôi hơi ngạc nhiên, bước đến nắm lấy cánh tay trơ xương: - Gia
Gia làm gì vậy? Bà vẫn nhìn tôi âu yếm, rồi chạy nhanh vào vườn hoa, ngắt lấy
hai cánh hoa xong chạy trở lại. Hai đoá hoa màu vàng không tên. Cánh hoa không
có vẻ gì quí giá cả, có lẽ là một loài cỏ dại. Bà trao hai cánh hoa cho tôi,
gương mặt hồng hào vui sướng. Tôi Ngac nhiên: - Bà cho tôi đấy à? Hai cánh hoa
được vào lòng tôi với bao nhiêu vẻ thành khẩn, tôi nhận lấy hoa gật đầu: - Cám
ơn Gia Gia nhiều nhé! Quay đầu sang nhìn Trung Đan, thái độ của hắn cũng tương
tợ khiến tôi không hiểu gì cả. Cầm hoa trên tay, tôi tiếp tục bách bộ với chàng
một đoạn xa, quay đầu nhìn lại vẫn thấy Gia Gia đứng sững nơi ấy, chăm chú nhìn
chúng tôi. Đưa hoa lên mũi ngửi, rồi lại cầm xem, tôi tò mò hỏi Trung Đan: -
Anh biết hoa này hoa gì không? - Tôi nghĩ chắc nó thuộc loài Khổ Công Anh, một
thứ cỏ dại. Chàng đáp - Hình như loại hoa nầy là thứ rẻ tiền nhất trong các
loài hoa trong vườn này, nhưng nó lại là bảo vật của Gia Gia đấy. Bà cho mọi
người hái tất cả các hoa nhưng trừ thứ nầy. - Thật không? Tôi nghi ngờ. - Bởi vậy
việc nầy có vẻ hơi lạ lùng đấy. Rồi Trung Đan trầm ngâm nhìn tôi: - Gia Gia có
lẽ rất thích cô nên mới hái thứ hoa mà bà yêu quí nhất để tặng cô. Hành động
hôm nay của bà hồi nào tới giờ tôi chưa hề thấy. Chúng tôi bước vào rừng cây, đến
ngồi đưới giàn hoa giấy. Tôi thẫn thờ nhìn đóa hoa vàng năm cánh của Gia Gia
cho, tuy không đẹp, nhưng vương vấn một vẻ gì mong manh đáng thương. - Đóa hoa
đáng thương, Tôi nói - Hình như nó yếu đuối quá phải không? Cánh hoa nho nhỏ
như có thể rơi ngay khi chạm đến. Tôi đặt cánh hoa lên ghế, ngẫm nghĩ một lát
nói:
- Anh có nghĩ rằng Gia Gia là người có tình cảm, biết vui buồn
giận hờn hay không? - Có chớ, Trung Đan đáp - Có lẽ bà ta còn nhiều ký ức trong
tiềm thức. Chàng nhìn tôi, đôi môi mím lại, đôi mày hơi cau, có lẽ tư tưởng
đang quay cuồng trong đầu chàng. - Tôi nghĩ bà ta cô độc vì không ai chịu kết bạn,
và cô tử tế với bà, nên bà thích cô. Sự thật, bà cũng là người cũng có tình cảm
và tư tưởng. Thế giới riêng của bà có lẽ còn dễ thương hơn xã hội chúng ta nữa
là khác. - Tại sao vậy. - Vì bà chỉ cần có người cho cơm ăn, thấy hoa nở đẹp là
sung sướng. Thỏa mãn rồi không có một đòi hỏi, không biết thất tình, tự ái cũng
không...tất cả những điều phiền não đều không có. Ngoài ra lại không có trách
nhiêm đối với sự hiểu biết, thế có phải bà quá giản dị sung sướng hơn chúng ta
nhiều không? - Trách nhiêm đối với sự hiểu biết là gì? - Thế cô không nghĩ rằng
sự hiểu biết là trách nhiệm của con người à? Rồi chàng cười:
- Sự hiểu biết càng nhiều, con người càng thấy mình có trách
nhiệm vì trí thức vói tư tưởng luôn luôn đi đôi. Cô hãy xem, những người làm việc
lao lực, quần quật suốt một ngày, tối về tắm rửa, ăn cơm xong là nhảy lên giường
đánh một giấc ngon lành không cần suy nghĩ gì ngoài một giấc ngủ thỏa mãn. Trái
lại với người học thức cao, tư tưởng phong phú thì lại khác, không phải chỉ cần
ăn với ngủ mà họ còn cả một trời hiểu biết, suy nghĩ. Họ nghiên cứu bản tính
con người, khoa hoc, xã hội, tìm hiểu cái này tìm hiểu cái kia lúc nào cũng làm
cho đầu óc nứt ra để thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu vô biên của họ. Cô thấy không,
chỉ có hạng người trí thức mới phải dùng đến thuốc ngủ thôi. Những câu nói của
Trung Đan khiến tôi thích thú, hai tay ôm lấy gối nhìn lên những đóa hoa tím
trên giàn tư lự, còn chàng ngã người về sau, cánh tay choàng ra băng ghế phiá
sau, Trung Đan tiếp tục: - Con người có hai trách nhiệm lớn đó là trí thức và
tình cảm. Tôi nhíu mày, suy nghĩ:
- Như thế có ích lợi gì đâu? - Sao lại không ích lợi? Chàng
nói - Nếu mọi người như thế cả, thì cuộc sống vẫn bình thường biết bao. Cô chỉ
cần đi săn thú kiếm thịt cho đầy bụng là thỏa mãn rồi, cuộc sống sẽ giản dị và
sự bực mình sẽ giảm nhiều. Nhất là cô không phải lo lắng sợ thi rớt vào đại học,
cũng như khỏi phải buồn khi chứng minh một bài hình học mãi mà không ra. Tôi mỉm
cười, chàng cũng cười theo, xong quay nhìn đồng hồi giật mình bảo: - Chết chửa,
gần tám giờ rồi. Thôi chúng mình phải trở về thực tế lo học đi là vừa. Ờ, mà
hình như cô chưa ăn điểm tâm phải không? Mau đi ăn đi để học cho kịp. Hôm nay nếu
tôi không lầm thì giờ đầu chúng ta ôn Hình học, môn đau đầu nhất của cô đấy!
Tôi đứng dậy vươn vai, lười biếng đáp: - Ơ! Nói chuyện thích hơn học nhiều, Rồi
nhìn hắn tôi nhăn mặt nói - Anh Trung Đan, anh biết tôi nghĩ thế nào về anh
không? Tôi nghĩ có lẽ anh là người có trái tim sắt đá nhất. - Tại Sao? - Anh
xem, trong một không khí vui vẻ như thế này mà anh nỡ bắt tôi vùi đầu vào sách,
anh thiên về lý trí nhiều quá, vì vậy tôi nghĩ anh là người ít tình cảm. - Thật
à? Chàng mỉm cười, đôi mắt sáng lên - Đối với điều cô nói, tôi nghĩ rằng tốt nhất
là để thong thả hãy kết luận, đợi đến lúc nào chúng ta biết nhau rõ hơn đã nhé!
Tôi nhặt các cánh hoa trên ghế đá sửa soạn đi: - Chúng ta không cùng đi sao?
Anh ăn sáng rồi à? - Tôi để cô 15 phút ăn điểm tâm. Chàng nói- Tôi còn được mười
lăm phút xem sách. Nói xong chàng dở quyển Tâm Lý Phổ Thông ra. Tôi cầm các
cánh hoa bước về phiá khu vườn. Đi một đoạn, tôi quay đầu lại: - Anh biết
không, giờ phút nầy tôi chỉ mong mình biến thành người thượng cổ. Chàng nhìn
tôi: - Nhưng không được phải không? Sống trong xã hội thời đại này lúc nào cũng
phải tranh đấu, vì vậy Ức My, đừng bao giờ làm kẻ yếu hãy làm một kẻ mạnh. Tim
tôi đập mạnh nhìn hắn, gương mặt thành khẩn đầy tình hữa nghị, gương mặt của một
giáo sư tận tâm, tôi gật đầu, lòng mang mang xúc động. - Anh cứ yên trí, tôi nhẹ
nhàng đáp- Tôi sẽ cố gắng thi đậu vào Đại Học. Cầm những cánh hoa, bước lên lầu
trở về phòng, lấy chiếc bình đặt lên kệ sách xuống, thay những cánh hoa hồng bằng
loài hoa vàng không tên nầy. Mãi nhìn những cánh hoa, 15 phút trôi qua, Trung
Đan đẩy cửa bước vào: - Sao? Cô dùng điểm tâm chưa? Hắn hỏi, đoạn ngồi xuống
trước mặt tôi, giở quyển hình học ra sắp sửa giảng bài. - Rồi ạ! Tôi nhẹ nhàng
đáp.
- Ăn rất no.
Đoạn tôi nhìn hắn cười, và miễn cưỡng mở vở ra.
Chương 5
Một buổi chiều, tôi bước vào phòng Khởi Khởi. Khởi Khởi đang
đứng cạnh cửa sổ một tay cầm giá vẽ, một tay cầm bút sơn dầu. Vừa lúc đó cô ta
quay lại nhìn thấy tôi bước vào, chúng tôi gật đầu chào nhau. Tữ ngày dọn vào
nhà họ La đến nay đã hơn tháng, tôi lúc nào cũng tìm cơ hội để gần gũi nàng,
tôi mong ước được làm bạn với Khởi Khởi, có lẽ vì vẻ đẹp lạnh lùng của nàng đã
quật ngã tôi; do đó, chảng ngần ngại tôi bước đến gần nàng. Phòng Khởi Khởi và
của tôi có cùng cách bài trí nhưng phòng của Khởi Khởi trang nhã hơn, màn cửa,
nệm giường tất cả đều xanh nhạt. Chiếc bình hoa trên bàn với những cánh hoa màu
lam thoảng hương. Hôm nay Khởi Khởi mặc chiếc robe mỏng màu vàng nhạt, tóc
buông xõa đứng cạnh cửa dáng dịu dàng như tiên nữ. Tôi bước đến cạnh ngắm bức họa.
Đó là bức họa phong cảnh, màu đỏ xâm chiếm gần hết hình bình nguyên với những
ngọn núi đá và mặt trời sắp lặn, bức họa quá quen thuộc! tôi ngẩn người một
lúc, Khởi Khởi nói: - Tôi đã ăn cắp cách bố cục của bức tranh trong phòng chị.
Nét tang thương và hùng vĩ của nó khiến tôi thích thú. Tôi chợt tỉnh, thì ra thế,
nhưng bức họa của mẹ nền xanh cơ mà (bức họa đó hiện đang treo trong phòng
tôi). Nếu so sánh, bức họa của Khởi Khởi có vẻ tươi sống động hơn bức họa của mẹ,
Hoàng hôn chiếm cả khoảng không, ngọn núi nổi bật hơn. Khi Khởi Khởi vẽ xong,
nàng lui ra sau một bước ngắm nghiá, xong lại cầm bút tô thêm lên nền trời đôi
chim nhạn khiến cho bức họa càng gợi hình. Tôi buột miệng khen: - Chị vẽ đẹp
quá! Khởi Khởi quay sang nhìn tôi lạnh lùng: - Bức họa không do tôi nghĩ ra thì
có gì là đẹp và hay đâu? Lúc nào cũng thế, hình như nàng rất khó khăn trong việc
tạo một gương mặt vui tươi và giọng nói dịu dàng để nói chuyện với người khác.
Đã mấy trăm lần đụng phải trường hợp đó, biết được bản tính Khởi Khởi là như vậy,
nên tôi, tuy có phần ngượng ngùng nhưng cũng không đến nỗi nào, bước đến cạnh
bàn, tôi tìm lời lấp liếm: - Chị thích những cánh hoa màu lam này lắm à? Nghe
nói hình như tên nó là Đừng Quên Tôi phải không chị? Cô ta nhìn tôi, thong thả
đáp: - Tôi thích loài hoa cánh lam vì nó hiếm, với những loài hoa thường thì
tôi không ưa. Hơi nhíu mày Khởi Khởi lại nói - Hoa này có phải là tên Đừng Quên
tôi hay không thì tôi không biết, vì tôi có phải là nhà Thực vật học đâu? Tôi
ngước mặt lên thầm nghĩ, tốt nhất trở về phòng mình nằm sướng hơn. Nhưng bỗng
nhiên cô ta liệng bút đi, rửa những vết dầu sơn trên tay, đoạn quay sang tôi,
đôi mắt mơ màng nhìn tôi chăm chú. Cô ta đang đò xét tôi chăng? Ngẩng đầu lên,
tôi cũng ngắm Khởi Khởi. Trời ơi! Nàng quá đẹp, đẹp đến độ khiến người ta mê mẩn.
Nếu tôi là con trai, có lẽ tôi sẽ vứt bỏ tất cả để theo đuổi nàng. Bỗng nhiên
nàng nói: - Chị giống cha hay giống mẹ? - Theo tôi nghĩ, có lẽ giống mẹ tôi
hơn. Tôi đáp và tiếp - Tôi thấy chị cũng thế. - Đúng vậy. Nhưng tôi thích được
giống cha hơn. Khởi Khởi trả lời. - Sao vậy? Tôi hỏi - Mẹ chị đẹp mà chị còn đẹp
hơn nữa mà! Nàng nhìn tôi một lúc, sắp xếp dụng cụ, giấy bút xong nói: - Chị có
để ý cha tôi không? Ông ta đẹp trai lại có cá tính cứng cỏi, bất khuất giống
nhu cây tòng cao vời vợi, còn mẹ tôi? Nàng cúi đầu xuống suy nghĩ một lúc - Người
giống như những cánh hoa vàng trong phòng của chị. Nghĩ đến sự so sánh của Khởi
Khởi, tôi thấy có đôi phần đúng. Giáo sư cứng cỏi thắng thắn, còn bà Nghị thì
quá yếu đuối. Sự kết hợp giữa hai người là cả một sự lạ lùng, phải chăng có một
sức mạnh siêu việt nào đó an bài tất cả mọi việc ở đời nầy? Có lẽ vì thấy tôi
không nói gì cả nên Khởi Khởi cũng yên lặng theo, nàng tỉ mỉ dọn dẹp bút, giấy
và dầu sơn, trong khi tôi rỗi rảnh tựa lưng vào ghế, thuận tay với lấy quyển
sách để trên bàn lật ra xem, đó là quyển tốc họa của Khởi Khởi. Tấm đầu tiên là
bản phác họa giáo sư với đôi chân mày rậm, râu hàm, tóc rối, mắt quắc thật sống.
Bức thứ hai là cảnh hoa viên, bức thứ ba khiến tôi chăm chú nhìn, đó là gương mặt
đàn ông trán rộng, mắt to, càm vuông, đôi mắt nghiêm nghị đúng là Trung Đan. Lật
thêm vài trang tôi thấy một cánh hoa màu lam nhạt, khung giấy trắng bên cạnh có
tuồng chữ của Khởi Khởi với mấy hàng: Đừng bóp nát những cánh hoa này, Anh có
biết nó mang tâm sự gì trong ấy? Đừng vứt đi cánh hoa xanh nhạt, Vì anh phải biết
nó vẫn có trái tim. Cũng đừng bảo rằng chúng ta chưa hề biết nó. Vì nó mang tên
“Đừng Quên Tôi”! Tôi chăm chú nhìn hàng chữ, rồi cánh hoa xanh nhạt, bỗng nghĩ
vẩn vơ. Trong lúc tôi còn đang xuất thần thì Khởi Khởi chạy vụt đến, giựt lấy
quyển sách trên tay, đôi mắt xinh đẹp kia giận dữ nhìn tôi: - Chị làm gì thế? -
A! Tôi hoảng hốt - Xin lỗi, tôi không cố ý, tôi lật thử xem cái gì đấy mà. - Lật
thử xem à? Cô ta la to - Bộ mẹ chị không dạy chị là không nên tự ý lấy đồ của
người khác xem hay sao? Thái độ ngạo mạn, tàn nhẫn của Khởi Khởi khiến tôi giận
dữ: tôi đứng thẳng người lên, không thể đè nén được cơn giận trong lòng trào
ra, cảm giác bị sỉ nhục làm tôi cứng cỏi: - Mẹ tôi dạy tôi nhiều thứ lắm chứ,
nhất là phải biết thương người phải làm cách nào để thành người. Mẹ tôi nói,
con đừng bao giờ chê cười người vì như thế người ta sẽ mắng vào mặt con. Nếu
con thành thật đối đãi thân tình thì chẳng bao giờ người ta tệ bạc với con.
Nhưng lúc nào con cũng phải biết rõ người, vì có một hạng người không có trái
tim, họ không biết phân biệt thế nào là sự đùa bỡn thế nào là sự thành thật. Cô
ta ưỡn ngực về phiá trước, trừng mắt nhìn tôi một lúc lâu rồi nói: - Chị quả có
người mẹ tốt, bà ta đã dạy cho chị biết là có một giống người không có trái tim
dùng oán để báo đức phải không? Tôi nghĩ không có một người họ La nào trong nhà
nầy lại không tốt với chị cả. Tôi đỏ bừng cả mặt nhìn cô ta. Tôi biết câu nói của
cô ta như thế còn nhẹ lắm, cô ta có quyền nói thêm những câu nặng nề khác nữa
mà. Thái độ của Khởi Khởi như tát vào mặt tôi “Này Ức My, mày đừng quên rằng
mày là đứa bé mồ côi mà nhà họ La này đã cho ở đậu”! Tôi ứa nước mắt bỏ chạy ra
cửa, vì chạy quá nhanh tôi đã va vào một người làm sách vở bắn tung rơi rải đầy
đất, người ấy nắm lấy tôi: - Ức My, lại cũng cô, cô làm gì chạy nhanh thế?.. Rồi
như ngạc nhiên - Cô làm sao thế hở...? Tôi đưa tay quẹt ngang mắt. Biết rằng nếu
muốn khóc chỉ nên đợi lúc trở về phòng đã. Tôi lấy lại điệu bộ ngay ngắn gượng
cười nói:
Không, đâu có gì?
Hắn chăm chú nhìn tôi, đôi mắt tò mò dọ hỏi, hắn gật gù nhỏ
nhẹ nói: - Khoan đã đợi tôi hỏi rõ ràng xem tại sao? Tôi lắc đầu trước đôi mắt
xúc động của hắn: - Không, không có chuyện gì hết. Nói xong tôi cúi xuống nhặt
những quyển vở, hắn cũng cúi xuống phụ nhưng các quyển vở đã lượm hết. tôi thấy
một vật rớt ra từ một quyển sách, đó là vật mà tôi đã nhìn thấy trong phòng của
Khởi Khởi - Một cánh hoa ép màu xanh. - Cái nầy là cái gì vậy? Hắn có vẻ hơi bất
mãn: - Ờ, Khởi Khởi đó, lúc nào nó cùng ép hoa trong vở, tôi cũng không biết
hoa gì! Nói xong, hắn lấy cánh hoa và bóp nát, vo tròn lại sắp sửa vứt đi. Tôi
lặng người, và đột nhiên thốt lên những câu thơ ban nãy.
- Ức My cô đang đọc cái gì đó? Hắn hỏi, đoạn nhìn tôi dò xét.
- Việc học đã làm cô mệt mỏi lắm phải không? Cô cũng nên nghỉ ngơi một chút, để
chiều thứ bảy này tôi mời cô xem hát bóng, xong chúng ta sẽ bát phố. Tôi lúc
nào cũng muốn.. Hắn bỗng thành khẩn nhìn tôi - Muốn mua tặng cô vài bộ áo quần.
Ức My, cô có nghi ngờ sự thành thật của tôi chăng? Tôi nhìn hắn. Tôi làm sao
nghi ngờ hắn được? Đôi mắt hắn quá thành khẩn, lời nói lại ôn tồn thân mật. Những
giọt nước mắt tròn mi, tất cả cảnh vật chung quanh như mờ hẳn. Hắn kinh ngạc: -
Ức My, tôi đã làm cho cô buồn đó à? - Không phải vậy, Trung Đan! Tôi nói, vẫn
không quên nhìn hắn - Tại sao anh lại quá tốt với tôi như vậy? Ai cũng...
Tôi bỗng ngưng bật. Hắn nghi ngờ: - Thế ai đã hiếp đáp cô? -
Không, không có ai cả. Hắn lại đăm đăm nhìn tôi:
- Vậy thì cười lên đi chứ Ức My, tôi biết cô không phải là đứa
con gái đa sầu, đa cảm, đúng không? Hãy nghe tôi nói Ức My, cô không phải là
người cô độc. Hắn lại nhìn tôi cười - Cuộc đời tôi với cô giống hệt nhau, nhưng
tôi không bao giờ để cho nỗi buồn lấn át tôi cả. Tôi gật đầu bước về phòng. Tôi
sẽ không bao giờ buồn nữa, thật vậy, vì tim tôi đang hát một bản nhạc vui.
Chương 6
Chuỗi ngày đài trôi nhanh. Một buổi chiều mưa to đầu hè đuổi
xua đi bao nhiêu nóng bức. Chiếc móng trời chắn ngang rặng cây xanh, ánh nắng
chiều tiếp nối theo sau nhuộm đỏ cả mái nhà mốc xám, rừng cây, đồng cỏ và cả bầu
trời. Cảnh hoàng hôn thật đẹp với những trận gió tươi mát khiến mọi người cảm
thấy sảng khoái. Bước ra khỏi phòng, chạy bay xuống thang lầu, miệng tôi không
quên lẩm nhẩm bài học: - “Thiên tương giáng đại nhậm dữ tư nhân giả, tất tiên
khổ kỳ tâm chí, lao kỳ cơ cốt. Không phân kỳ thân, hành, phất loạn kỳ sở vi, sở
dư” Bỗng có tiếng người đọc tiếp: - “Đông tâm nhẫn tánh, tăng ích kỳ sở bất
năng”. Tôi ngẩng đầu nhìn, thì ra là Hạo Hạo, hắn đang đứng tì lưng vào lan can
ở cuối thang lầu, hai tay tựa cằm đặt trên cây chống, mỉm nụ cười tinh nghịch
nhìn tôi: - Ức My, bộ cô muốn làm con mọt sách nữa sao? Tôi cười nói: - Anh
Trung Đan là một ông thầy dữ lắm, anh biết không? Nụ cười trên môi hắn chợt
ngưng một lúc xong lại cười xòa. Hai tay vòng ngang ngực, hắn nhìn tôi thăm dò:
Thế, cô với Khởi Khởi đều nể nang Trung Đan lắm à? Theo tôi
nghĩ thì cô hãy còn trẻ phải có một chút sinh khí chớ tối ngày co rút mãi trong
sách vở thì không thể bình thường được. Bản tính cô thuộc vào loại hồn nhiên và
vui nhộn, chớ nào phải mọt sách đâu, phải không? - Sao anh biết? Tôi hất hàm hỏi.
- Nhìn dáng đi của cô là biết chớ gì, đi không ra đi, chạy cũng không ra chạy,
lúc nào cũng như muốn đâm sầm vào người khác. - Hứ! Tôi nguýt hắn, đoạn ngồi
ngay xuống thang lầu, tay chống cằm giận lẫy: - Phải, mẹ tôi cũng thường nói tại
tôi đi đứng không vững vàng nên không thể nào trở thành một tiểu thư trang
nghiêm đài các được? Nụ cười trên môi hắn càng tăng thêm vẻ diễu cợt: - Tiểu
thơ đài các ư? Hắn lại nháy nháy đôi mắt:
- Không, tôi biết nơi cô xuất thân không phải là một gia đình
giàu có, vì vậy ngay cả dáng điệu cử chỉ của cô cũng không có vẻ gì là quí phái
cả. Cô với Khởi Khởi khác biệt với nhau, mặc dù nó có vẻ trang nghiêm, quí phái
hơn cô, nhưng đổi lại cô hồn nhiên và dễ thương hơn nó. Đối với tôi, cô có biết
giữa hai người tôi thích ai hơn không? Tôi thở dài: - Có lẽ chị ấy dễ thương
hơn, tôi cũng muốn bắt chước cách đi đứng dịu dàng, hành động cho trang nhã,
nhưng mà...Tôi lắc đầu - Có lẽ tại Khởi Khởi cao quí hơn tôi nhiều, nhất là
trên phương diện thể chất...
- Cô có nghĩ là Khởi Khởi dễ thương lắm à? Hắn hỏi tôi - Cô
có biết rằng nó còn thiếu một món mà con người cần phải có hay không? - Thiếu
cái gì? - Thiếu sự sống động. Này Ức My, cô nên là cô mà đừng bao giờ bắt chước
nó! Đoạn ngắm nghiá tôi một lúc, hắn nói:
- Ức My cũng đẹp, cũng dễ thương lắm chứ. Tôi thích vẻ ngổ
ngáo và tự nhiên của cô. Ngưng một chập rồi hắn lại cười bảo:
- Khởi Khởi hồi nào tới giờ chưa hề dám ngồi bệt xuống thang
lầu như cô thế này. Vừa nghe hắn nói, tôi nhỏm dậy ngay, hắn lại cười lớn: - Bộ
ở ván cầu thang có đinh hở cô? Hay là có lửa? Cô làm gì mà như bị đốt không bằng!
Tôi tròn mắt nhìn hắn, miệng chu chéo: - Bộ anh trêu được ai anh mới vui thích
được sao mà anh cứ mãi chọc quê tôi hoài thế? Hắn càng cười to: - Đúng vậy,
nhưng đừng có lo, để từ từ tôi dạy cô cái thú trêu người nhé! - Tôi không thú nổi
cái trò đó. - Nhất định sẽ thú lắm mà, tôi biết, vì tôi với cô cùng một loại với
nhau. Tôi quắc mắt nhìn hắn. Đôi mắt to đen tinh quái trên gương mặt sáng, mái
tóc tuy chải xong vẫn lòa xòa trên trán, chiếc mũi hỉnh lên, theo sách tướng
thì những con người có gương mặt này thường là những con người có quyền bính
trong tay. Đôi môi mỏng với nụ cười tinh quái, đó là một nụ cười khiến người mất
cảm tình. Tôi bước xuống thang lầu đi về phiá cửa, mở cánh cửa kiếng ăn thông
ra vườn hoa. Bên ngoài, trên bực thêm một đôi giày trượt tuyết để nằm đấy. Tôi
quay đầu lại nhìn hắn, bộ quần áo thể thao bó sát một thân thể khỏe mạnh, chứng
tỏ hắn vừa mới chơi xong. Hắn bước đến gần tôi, rồi nhìn đôi giày hỏi: - Cô
thích thể thao không? - Thích chứ! Tôi đáp. - Biết bơi không? Tôi gật đầu. - Thế
chủ nhật tới, tôi mời cô đến hồ Bích Đầm bơi nhé? Hắn nói, đoạn bước xuống thềm.
- Cô biết trượt băng không? Tôi lắc đầu. - Xuống đây, tôi dạy cho, học một lúc
là biết ngay! Môn trượt băng như có một cái gì hấp dẫn, lôi cuốn, tôi cưỡng
không lại ý thích. Đã từ lâu rồi tôi hằng ước ao học cách trượt băng nhưng
không có cơ hội. Khoảng sân ciment bên dưới bực thềm không rộng lắm, lại vì vừa
mưa xong nên những vết bùn ẩm vẫn chưa khô. Hạo Hạo cầm lấy chiếc giày nhìn
tôi:
- Ngồi xuống mang vào chân đi! Tôi hơi do dự, rồi cũng ngồi
xuống thềm. Đôi mắt hắn nhìn như đang thích thú. Tôi bắt hắn cười việc tôi vừa
nhảy nhỏm ở cầu thang thì giờ lại ngồi xuống bực thềm. Nhưng mà mặc hắn, việc học
trượt băng làm tôi thích thú hơn là để ý đến hắn. Hạo Hạo cúi người xuống phụ
tôi cột chặt chiếc giày vào chân. - Bây giờ nhé, thử đi một chân trước xem sao,
đừng ham đi quá nhanh. Đứng dậy xem nào! Hắn ra lệnh, tôi đứng lên thử. Trọng
tâm của con người tôi hình như đã đi đâu mất, tôi ngã tới ngã lui, vội vàng lấy
chiếc chân còn lại giữ vững thân thể, nhiều lúc đi thử đều không được, lúc nào
cũng muốn trượt té cả. Hắn đứng bên cạnh khoanh tay nhìn một lúc, đoạn dìu tôi
đến bên thềm, bực dọc: - Tôi thấy cô ngu ơi là ngu! Ngồi xuống coi, có bấy
nhiêu mà học cũng chẳng nên thân, tôi chỉ còn dùng cách cứng rắn để dạy cô
thôi. Vừa nói hắn vừa lấy thêm một chiếc giày còn lại mang vào chân tôi, rồi lại
cười: - Bây giờ thì không còn tựa vào đâu được nữa. Đứng dậy cho cẩn thận xem!
- Đừng đùa, tôi không thích bị ngã chút nào đâu! Tôi đáp. - Vậy thì cô phải
ráng giữ sao cho đừng ngã mới hay chứ! Hắn nói xong không đợi tôi phát biểu ý
kiến gì cả, nắm lấy hai tay lôi tôi đứng dậy. Tôi hốt hoảng hét to, tay vẫn nắm
chặt lấy hắn. Bốn cái bánh xe bên dưới chân vừa chạm đất là như mắc toi không
lăn không được. Thân hình tôi ngã về phiá trước, trong khi đôi chân lại chạy toạc
về sau. Tôi hốt hoảng ôm chặt lấy tay hắn hét: - Làm cái gì kỳ vậy. anh muốn
phá tôi hả? Ôi, ôi. Không được đâu, té bây giờ, ái ái...Không được, ngã cho
coi. Tôi la lớn như thế, mà hắn như giả điếc không thèm để ý đến, lại còn cố gắng
bỏ tay tôi ra. Rút được tay về, hắn nép sang một bên, trong khi tôi bị mất điểm
tựa, giống như đầu xe hỏa bị đứt thắng, trượt tới trượt lui trên sân. Hắn đứng
bên sân, vòng tay trước ngực hét to: - Giảm bớt tốc lực một chút! Để trọng tâm
ra sau một chút. Rồi! Nếu hai chân chạy theo hai ngã phải rút bớt một chân lại.
Có lẽ chỉ có trời mới biết tôi đã làm thế nào để giảm bớt tốc độ, phải để trọng
tâm ra sau một chút là như thế nào? Chỉ biết bản năng sợ té đã khiến tôi phải
tìm đủ cách để giữ thăng bằng cho cơ thể, trong lúc đôi tay quơ quào lung tung
trên không. Thật tội nghiệp cho đôi tay tôi lúc đó biết chừng nào vì có lẽ hắn
cũng muốn giúp tôi lắm trong việc chế ngự đôi chân không còn nghe tôi chỉ huy nữa.
Nhưng rồi sự cố gắng của tôi cũng chẳng giúp ích được gì. Tôi nghe tiếng Hạo Hạo
hét to: - Ức My, chú ý! Coi chừng lọt ra khỏi nền ciment, xử dụng ngay hai bánh
xe đầu mũi giày, chân trái giơ cao lên. Ức My, chú ý! Trời.! Sau tiếng la của hắn,
tôi - chiếc đầu xe hỏa đứt thắng - đâm thẳng ra khỏi nền ciment, lọt ngay vào
vũng đất bùn chưa khô do cơn mưa lúc nãy để lại! Tại sao chui vào đâu không
chui mà chui sang hướng này? Sau tiếng “trời” của Hạo Hạo là tôi không còn biết
gì nữa, chỉ nghe một tiếng “tõm!” thì đã thấy mình đang ngồi trong vũng nước,
hai cánh tay chống sâu xuống bùn, chỉ có đôi chân mang giầy là lú khỏi mặt nước.
Hạo Hạo bước đến, khom người xuống nhìn tôi, chân mày nhướng cao, có lẽ lúc ấy
đôi mày tôi cũng thế. Đôi mắt hắn mở rộng như tôi. Chúng tôi cứ nhìn nhau một
lúc rồi bỗng phá lên cười lớn, cười ngặt nghẽo. Tôi nghĩ rằng có lẽ hắn đang cố
gắng gom góp tất cả nụ cười trong đời hắn ra cười luôn một lần cho thỏa thích.
Tiếng cười của hắn chưa dứt, tôi đã thấy có bóng người chạy về phiá chúng tôi.
Tôi ngẩng đầu lên, trời ơi! Giáo sư La Nghị! Ông ta khom người xuống nhìn tôi.
Thân hình to lớn của ông như cái núi che khuất cả mặt trời trước mặt. Tia mắt
long lanh từ trong đám rừng râu tóc rối kia chiếu vào người tôi, cái nhìn như lạ
lùng, rồi như không tin rằng điều mình nhìn thấy là đúng, ông đưa tay lên dụi mắt,
xong lại mở mắt lớn ra nhìn tôi một lần nữa. Nhìn từ đầu đến chân, miệng lại lẩm
bẩm một tràng dài. Một lúc sau, ông hậm hự: - Hừ, Ức My! Tôi nghĩ rằng việc em
ngồi ở trong vũng bùn như thế này không hay chút nào cả! - Vâng ạ. Tôi gật đầu,
miệng lúng túng - Vâng tôi cũng không thích ngồi đây chút nào hết. Giáo sư lại
nhíu mày, lắc đầu: - Tôi cũng thấy nó không đẹp. - Vâng không đẹp thật. Tôi lại
gật đầu. - Được rồi. Ông ta đăm đăm nhìn tôi - Thế em ngồi trong đó làm gì thế?
- Dạ! Tôi...Đôi mắt mở to, tôi không biết nói sao bây giờ, chỉ biết đưa đôi
chân có mang giày trượt băng lên nói - Tại như thế này này, nếu dưới đôi giầy của
giáo sư cũng có mang mấy chiếc bánh xe như thế này thì ngài ngồi vào nơi này rất
dễ dàng ạ. Đôi mày trên trán ông càng nhíu lại, trợn mắt nhìn đôi giầy hàng mấy
giây đồng hồ sau đó ông gật đầu như hiểu được lý do. Đưa tay lên vuốt mũi, giáo
sư vẫn nhẫn nại: - Thế bây giờ em muốn ngồi trong ấy đến bao giờ. - Dạ! Tôi le
lưỡi liếm mép - Tôi không thích ngồi một giây nào cả, nếu giáo sư chịu giúp kéo
em ra khỏi nơi này. Tôi cố gắng rút cánh tay trong bùn ra, cố nhiên là bùn trên
tay vẫn còn rất “đẹp”. Giáo sư Nghị chăm chăm nhìn vào cánh tay tôi, có lẽ ông
sẽ phải hối hận nếu phụ giúp, nhưng sau đó ông ta vẫn lôi tôi lên. Ông nắm lấy
bàn tay tôi. Trời ơi! Cánh tay sao mạnh và to dễ sợ! Ông kéo mạnh, thân hình
tôi được nhấc bổng lên, nước từ trong robe chảy tuôn xuống. Vì ông nắm quá chặt
nên tôi thấy đau ơi là đau. Khi ra khỏi vũng nước, tôi mới thấy được việc không
ổn, vì vừa đặt chân xuống đất xong tôi mới phát giác đôi giầy trượt băng vẫn
còn trên chân và bánh xe bắt đầu lăn như điên tôi không thể chế ngự được, tôi
ngã người về phiá trước như mũi tên bắn đi, chỉ nghe tiếng của giáo sư La Nghị
hét ầm ĩ: - A, ạ..lại làm cái trò quỷ gì nữa đây? Trong khi tiếng cười của Hạo
Hạo bên cạnh lại dòn tan. Tôi bất cần để mặc cho hai cha con họ cự nự hay cười
đùa, cố giữ thăng bằng cho cơ thể, vì tôi không muốn diễn trò hề một lần thứ
hai nữa. Giữa lúc tôi đang quờ quạng một cách nguy hiểm thì có tiếng mở cửa
phòng ăn, tôi như bị hoa cả mắt vì thân hình đang đổ ập về phiá đó, tôi hét:
- Coi chừng! Coi chừng tôi đâm tới! Vừa dứt câu, thì “ầm!“ một
tiếng, tôi đã ngã người vào lòng hắn. Có lẽ ngoài ý muốn, hắn giữ lấy tôi, định
thần kỹ thì ra là Từ Trung Đan. Sự đau đớn do việc va chạm làm hắn nhăn nhó, một
tay giữ lấy vai tôi, hắn hỏi: - Ức My, cô làm gì mà như hỏa tiễn bay thế này?
Nương theo thế, tôi ngồi xuống bực thềm, việc đầu tiên là tháo đôi giày ăn hại
này ra. Hạo Hạo đã nín cười, hắn bước đến bên cạnh, cúi xuống nhìn tôi với đôi
mắt tinh quái đáng ghét! Tôi quá giận liệng thẳng đôi giày vào người hắn nói: -
Chắc anh sung sướng lắm phải không? Tôi biết mà, anh chỉ vui khi chọc phá tôi
mà thôi! Hắn vẫn nhìn tôi, nụ cười dần dần tan biến, cúi mình nhặt đôi giầy trượt
băng cầm trên tay, hắn nói như không nghe thấy: - Ức My, cô đã tìm thấy được những
bí quyết để trượt băng rồi, từ đây mỗi ngày chỉ cần tập vài phút là cô có thể vững
vàng hơn cả những người biết đi lâu nữa là khác. Lẳng lặng một lúc hắn lại nói:
- Ráng thông minh một chút Ức My nhé, đừng có khù khù khờ khờ như chó cắn tiên
ông Lữ Động Tân! Nói xong, hắn bước lên ngạch cửa sửa soạn quay đi. Tôi đứng
trơ ra đó với áo quần, tay chân đầy bùn nhìn hắn. Bỗng nhiên có tiếng quát lớn:
- Này Hạo Hạo, mày đứng lại đó. Tôi quay sang, giáo sư La Nghị đang hùng hổ bước
đến. ] - Việc gì nữa đó hở ba? Hạo Hạo từ bậc thầm quay sang thái độ khiêu
khích:
- Con có xúc phạm gì tới ba đâu? Giáo sư La Nghị la lớn: -
Tao cảnh cáo mày, từ rày mày muốn làm ma làm quỷ gì bên ngoài cũng được, nhưng
trong nhà này, tao muốn mày để tao được yên ổn một chút! - Con có làm gì khiến
ba không yên đâu? Hạo Hạo nhìn cha với thái độ ngạo mạn. - Bộ ba không cho phép
con dạy cô Ức My trượt băng nữa à? Hắn lại quay sang nhìn tôi, vẻ châm chọc hiện
rõ trên mặt. Tôi không biết hắn đang trêu tôi hay trêu giáo sư La Nghị? Hắn lại
chậm rãi tiếp:
- Thôi được dù sao con cũng mừng cho cha tìm thấy được một cô
bé hợp ý. Nói xong hắn xoay người bước đi luôn. Giáo sư La Nghị giận dữ, như một
hỏa diệm sơn bốc khói, chiếc mũi ông nở to ra, miệng lẩm bẩm cục cằn, âm thanh
vướng víu trong ổ họng. Một lúc lâu quay sang thấy tôi vẫn còn ngồi nơi ngạch cửa
cơn giận như được chỗ trút, ông chỉ vào mặt tôi hét: - Ức My, em làm gì ở đây
chứ? Tôi ngạc nhiên nhìn ông ta, chỉ có trời mới hiểu ông muốn nói gì? Không đợi
tôi đáp ông lại tiếp tục! - Này, tôi cho em hay nhé, ngoài việc học tôi không
cho em làm một cái gì khác, em ở nhà tôi, bắt buộc phải nghe lời tôi, bằng
không.... Câu nói chưa dứt, ông ta đã quay đi, miệng vẫn lẩm bẩm. Bỗng ông quay
lại trừng mắt đe dọa tôi, rồi hậm hực bước vào thư phòng. Tôi vẫn ngồi yên, tay
chống lên gối, tì lên cằm, mắt nhìn trân trối bóng đêm đang che phủ vườn hoa.
Có người vỗ nhẹ lên vai tôi, tôi quay lại thì ra Từ Trung Đan đã ngồi bên tôi
lúc nào không rõ: - Nào, cho tôi biết đầu đuôi câu chuyện ra sao? Tôi vung tay:
- Thì như anh đã thấy lúc nãy đấy! Hắn nhìn tôi mỉm cười - Này Ức My, cô thử
đoán coi cô bây giờ giống cái gì nè? - Thế anh nói tôi giống cái gì? - Giống thằng
hề trong gánh xiệc! - Hứ! Tôi nguýt hắn, xong nhìn đôi tay lấm bùn tôi nghĩ có
lẽ mặt tôi cũng bẩn không ít, thế là tôi nhảy qua bật tam cấp, một tay vén chiếc
áo đầy bùn, vừa đi tôi vừa nói: - Như vậy tôi phải đi tắm ngay mới được! Bước
qua hai bậc thềm tôi lại quay sang hỏi:
- Anh Trung Đan, theo anh việc học Đại Học có cần thiết
không? - Cái gì? Tôi cắn lấy răng đáp. - Tôi không muốn thi vào Đại Học nữa! -
Tại sao? Hắn chăm chú nhìn tôi. - Vì tôi muốn rời khỏi nhà này. Trung Đan bước
đến đứng trước mặt tôi đưa tay ấn nhẹ trên vai, hắn nói: - Ức My, cô cần phải
thi vào Đại Học tại vì cô nghèo, mồ côi lại không nơi nương tựa. Việc học và khả
năng con người là quan trọng hơn cả cô biết không? Hãy thực tế một chút, Ức My ạ!
Tôi nhìn hắn, khẽ gật đầu vì tôi đã biết rồi, biết từ lâu rồi, biết nhiều hơn cả
những điều Trung Đan đã nói. Vâng, chỉ tại tôi nghèo, mồ côi, không nhà không cửa
nên tôi phải cố gắng, phải cố tự chủ để giành lấy một chỗ ngồi trong cuộc đời ở
trọ. Tôi bỏ đi về phòng. Xô cửa bước vào, tôi bỗng ngạc nhiên vì bà La Nghị đã
ngồi trong phòng tôi tự bao giờ, bà ta đang ngắm bức ảnh chụp cha tôi, mẹ và
tôi trên vách. Mái tóc chải thật gọn, vẫn chiếc áo trắng phất phơ trên thân
hình gầy đét của bà, mặt ngước cao để lộ chiếc cằm nhọn và chiếc cổ trắng thật
đẹp...Trông thật giống như bức tượng sáp của các nhà điêu khắc. Bước vào bên
trong phòng, khép cửa lại, có lẽ tiếng khép cửa đã làm cho bà giật mình, bà
quay lại chăm chú nhìn tôi như một người xa lạ. - Chào bác ạ. Tôi mỉm cười chào
bà. Bà Nghị vẫn nhìn tôi không đáp, tôi đến cạnh ngước lên hình giải thích: - Tấm
hình này chụp lúc cháu vừa được 6 tuổi, bác thấy cháu lúc ấy trông dễ ghét ghê
nhỉ. Nghe mẹ thường kể lại thì cháu lúc nhỏ giống như chú mèo con chỉ thiếu những
cọng râu ở mép nữa thôi. Nói xong, tôi cười lớn trong khi bà ta vẫn lặng yên
nhìn tôi, rồi bỗng nhiên bà đưa tay lên vuốt má tôi, đẩy những cọng tóc ngắn
lòa xòa trước trán ra sau, và chăm chú nhìn. Đôi mắt to, sâu hút của bà đẹp làm
sao, dáng điệu khoan thai, từ tốn, khiến tôi như bị bà nuốt hồn. Hôm nay đôi mắt
bà nhìn tôi thật dịu dàng, dịu dàng như đôi mắt của Giáo Sư La Nghị đã từng
nhìn tôi. Một lúc sau, bà bỗng thở dài, nhỏ nhẹ như nói với chính bà:
- Khởi Khởi ơi! Tôi ngờ ngợ: - Khởi Khởi? Bác muốn gọi Khởi
Khởi đến đây à? - Không. Bà nhỏ nhẹ đáp, đoạn nắm lấy tay tôi kéo đến cạnh giường.
Bà ngồi xuống và để tôi đứng cạnh. Bà lại thở dài, trầm mặc. - Lúc em sáu tuổi,
cuộc sống của em có sung sướng không? Cha em là người ra sao? - Dạ, con cũng
không nhớ rõ, chỉ biết người là một giáo sư trung học, cận thị. Nhưng mẹ nói
cha con rất thật thà, siêng học lắm. Con nghĩ có lẽ người rất tốt. Bà Nghị xoa
vai tôi hỏi: - Thế tại sao cha em mất đi? - Nghe nói vì bệnh phổi. Tôi đáp thật
nhỏ - Vả lại lúc đó nhà con cũng quá nghèo. Hình như bà Nghị hơi rùng mình, bàn
tay bà xiết chặt vai tôi hơn: - Gia đình con nghèo lắm hay sao? - Vâng ạ Nếu
không thì có lẽ mẹ con đã không phải chết sớm như thế mà có thể kéo dài thêm 2,
3 năm nữa. Vì nếu có tiền trị bệnh bằng quang tuyến, giải phẫu, hoặc đưa qua Mỹ
chạy chữa thì chưa chắc đã chết. Đằng này. Tôi nói nhỏ - Vì nghèo quá biết làm
sao? Bà Nghị càng lúc càng run rẩy, cánh tay tôi bị bà xiết quá chặt nên tôi phải
quỳ xuống tựa vào gối của bà. ỉ Ngước mắt nhìn lên một thoáng giây, tôi bỗng cảm
thấy như vẻ ngăn cách giữa tôi với bà không còn nữa, chúng tôi như thân thiết
nhau tự bao giờ. Bà Nghị lại vuốt mái tóc ngắn của tôi, run giọng nói: - Nhưng
mà, con rất giống như...
Đôi mày bà hơi chau lại, đôi mắt lờ đờ hẳn. - Con có vẻ rất
sung sướng và không hề buồn khổ. - Vâng ạ, từ nhỏ con chưa hề biết khổ là gì, mẹ
con thường gọi con là vô ưu thảo. - Vô... Ưu Thảo, cỏ quên sầu. Bà ta lập lại từng
chữ một. - Thế còn mẹ của con, người cũng không buồn phiền gì ư? - Không phải
thế. Tôi thở dài - Mẹ thường buồn lắm chứ, nhưng lúc nào người cũng nhìn thẳng
vào thực tế. Người là một người đàn bà can đảm, cứng cỏi. Bà Nghị không nói gì
nữa đăm đăm nhìn tôi, đôi mắt đen thẫm như một màn sa mù vây kín, rồi những giọt
nước mắt long lanh.. Tôi hoảng hốt đứng lên sợ phải gặp trường hợp xảy ra như
hôm trước, nhưng bà ta bỗng vỗ nhẹ tôi, ôn tồn bảo: - Con đừng sợ bác. - Không,
con không sợ. Tôi không biết nói gì khác. - Bác sẽ không bao giờ làm cho con
đau đớn. - Vâng, con biết. - Chị ấy là người tốt. Rồi như sợ tôi không hiểu, bà
Nghị lại tiếp:
- Tôi nói mẹ em đấy! Một giọt nước mắt rơi trên tay tôi, bà
Nghị sụt sùi:
- Chị ấy quá tốt, tốt đến đỗi...
Rồi thêm một giọt nước mắt rớt trên tay tôi khiến tôi hoảng hốt
la to: - Bác Nghị, bác đừng xúc động quá!...
- Tôi không xúc động. Bà Nghị bỗng nhiên như tỉnh hẳn - Vì chỉ
có những con người có trái tim mới biết đau xót, còn những người không có trái
tim như tôi làm sao đau xót! Em không hiểu. Tôi không xúc động bao giờ cả! Lại
một chuỗi nước mắt rơi xuống vỡ tan. Tôi không biết gì hơn là nhìn bà ta. Chết
rồi! Bà ấy lại nổi cơn nữa rồi. Tại sao mỗi lần nhìn thấy mặt tôi là bệnh bà ta
lại tái phát? Phải chăng trên thân thể tôi chứa chấp một cái gì kích thích cơn
bệnh của bà. Bà Nghị vẫn nhìn tôi, tiếp tục những câu nói vớ vẩn: - Trên đời
này không phải ai ai cũng đều có trái tim cả đâu mà hầu như đa số là không có
trái tim, có một số khác lại không có linh hồn. Thật tội nghiệp cho tôi, tôi là
người không có cả trái tim lẫn linh hồn, tôi chỉ có một thể xác... một thể xác
đáng ghê tởm và vô dụng...
Tôi ngạc nhiên tột độ nhìn bà Nghị mà nói không ra tiếng,
trong lúc sợ hãi cực điểm thì phòng mở rộng, chiếc đầu rối bù của giáo sư La
Nghị thò vào. Như gặp cứu tinh tôi la lớn: - Giáo sư! Giáo sư La Nghị bước vào
phòng. Chợt nhìn thấy bà vợ đang sụt sùi khóc, ông có vẻ hoảng hốt hơn cả tôi,
vội nắm lấy vai bà Nghị lắc nhẹ hỏi dồn dập: - Sao thế, sao thế hở em? Bà Nghị
khẽ thở dài, đoạn tựa đầu vào lưng chồng giọng ngọt ngào yếu ớt: - Không có
chuyện gì cả, em chỉ nói chuyện với Ức My thôi. - Có thật vậy không? Giáo sư La
Nghị vừa dỗ vợ vừa hỏi, dáng dấp ông giống như người cha đang vỗ về đứa con gái
cưng đang làm nũng - Thế tại sao em khóc hở? Giọng nói ngọt lịm của ông như có
thể chắt ra nước. - Tại sao vậy. Rồi bỗng nhiên ông quay sang tôi trừng mắt, giọng
điệu trở nên cộc lốc: - Ức My, cô nói gì để cho bác gái khóc đấy hả? - Tôi à?
Tôi ngạc nhiên - Tôi nói gì đâu? - Nhất định cô vừa nói cái gì đây? Ông ta như
đoán chắc. Bà Nghị thở dài: - Anh! Anh đừng dữ dằn như vậy với Ức My, nó là đứa
bé dễ thương lắm. Giáo sư La Nghị vội cải chính: - Không, không, anh nào có dữ
dằn với ức My đâu? Nó là đứa bé ngoan lắm mà. Bà Nghị lại thở dài: - Có, anh đã
dữ dằn với nó. Nghị, anh hãy thương nó, hãy chăm sóc nó chu đáo nghen anh. Bà
Nghị tựa đầu vào ngực chồng, sụt sùi khóc. Giáo sư La Nghị càng hoảng hốt: - Ờ,
ờ, thôi em đừng khóc nữa. Nhã Trúc, Nhã Trúc, em đừng khóc nữa, anh sẽ không dữ
dằn với nó nữa đâu, em xem này, anh đối với Ức My rất tốt cơ mà! Bà Nghị đã nín
khóc. Giáo sư đỡ dậy và dìu bà vợ ra khỏi phòng tôi. Đứng bên trong nhìn theo
dáng hai người đang tựa nhau khuất ngoài cửa, lòng tôi bỗng bồi hồi. Một cảm
giác lạ lùng khó tả như vây quanh lấy tôi, cảm giác đó giống như màn đêm đang
lùa vào từ khung cửa sổ: mù mờ, rối rắm, mông lung và tràn đầy bí mật...
Chương 7
Lại một đêm trăng sáng. Khi lững thững bách bộ trong vườn
hoa, nhìn bóng mình và bóng cây lúc phân lúc hợp, hương hoa thơm ngát khiến tôi
cảm thấy thật dễ chịu. Sau một ngày tập làm quen với thành ngữ Anh văn, cách
ghép câu một cách máy móc làm cho đầu tôi muốn vỡ. Bây giờ thì hãy để cho những
cơn gió đêm quét sạch đi bao nhiêu công thức văn phạm trong đầu. Mặt trăng vừa
to vừa tròn treo lơ lửng trên ngọn cây. Ngắt lấy cánh hoa loa kèn, phần giữa
lõm, trong khi cánh hoa bên trên nở xòe ra tạo nên dạng chiếc cốc rượu vang,
tôi nâng cánh hoa lên cao hướng về mặt trăng mời mọc một cách trẻ thơ: - “Cử
bôi yêu minh nguyệt. Đối ảnh thành tam nhân”. Quay đầu lại nhìn xuống đất tìm
bóng mình dưới ánh trăng ngã dài trên mặt đất với chiếc áo ngủ và mái tóc ngắn
tung bay theo gió. Bỗng nhiên tim tôi nhảy thót, cơn lạnh chạy luồn trong thân
làm nổi da gà, vì dưới đất không những chỉ có một chiếc bóng duy nhất của tôi
mà cách đó khoảng hai ba thước, chiếc bóng thứ hai cũng mang áo ngủ nhưng tóc
dài hiện ra, đó là bóng một người đàn bà. Trong lúc tôi ngẩn ngơ vì kinh ngạc
thì chiếc bóng biến mất. Ngẩng đầu lên gió đêm rít nhẹ trong khu vườn âm u,
chung quanh không có một người, bản năng tự vệ khiến tôi lùi ra sau hai bước.
Lúc đó tôi mới phát giác mình đang đứng bên ngoài khu rừng cây. Từ lúc nghe nói
nơi đây có ma, tôi thường tránh không đi đêm qua đây nữa, thế mà hôm nay có phải
chăng ma đưa lối quỷ dẫn đường về khiến tôi bước đến cạnh nó? Quay người lại đi
vội về phiá nhà, tôi không cần biết rằng chiếc bóng ban nãy vừa bắt gặp có phải
là ma hay không; tôi nghĩ, điều tốt nhất là tránh trước thì hay hơn. - Ôi! Một
tiếng than kéo dài, theo gió lọt vào tai khiến cho tất cả tóc tai tôi muốn dựng
đứng. Tôi đứng lại, lắng tai nghe ngóng rồi nghĩ thầm. Có lẽ Hạo Hạo hắn nhát
mình đấy! Thế là, lấy tất cả can đảm còn lại tôi quay ra sau, nhưng ánh mắt tôi
chỉ chạm vào khoảng không trống trải. Ánh trăng bệnh hoạn với khu rừng âm u, tiếng
côn trùng lẫn trong tiếng gió. Một luồng khí lạnh len lén nhập vào hồn, bất
giác tôi bước nhanh hơn về phiá cửa. - Hự! Lại một tiếng than thứ hai, lần này
tôi có thể nghe rõ đó là tiếng của một người con gái, nơi xuất phát là rừng cây
âm u. Tiếng than lần này có vẻ u uất, đau thương và nặng nề hơn. Tim tôi càng đập
nhanh, cảm giác sợ hãi đã xâm lấn tôi. Tay chân tuy lạnh cóng nhưng mồ hôi đã
thấm ướt hết lưng, càng sợ tôi càng thấy những bóng cây chung quanh hòa lẫn tiếng
gió rì rào như biến thành muôn ngàn hình bóng ma quỷ. Rồi nơi đâu cũng nghe tiếng
than van. Từ chỗ bước nhanh tôi bắt đầu co giò chạy, chạy thật nhanh vì tôi tưởng
tượng rằng ở phiá sau lưng con quỷ tóc xõa kia đang rượt tới. Đến nhà, nhảy
ngay lên bực tam cấp, chui vào phòng ăn ánh sáng chói của ngọn đèn trên cao trấn
tĩnh tôi. Nhìn bóng đêm bị bỏ lại bên ngoài khung cửa kính, tôi thở phào nhẹ
nhõm. - Hắt! Một tiếng ho phát ra bên cạnh, khiến tôi giựt mình quay đầu lại,
thì ra cô bé tóc dài xõa vai. - Khởi Khởi! Tôi đưa tay lên chận lấy ngực và
nghĩ rằng chỉ cần nhìn có lẽ cũng thấy tim tôi đang đập nhanh. Sờ đụng chiếc ghế,
tôi ngồi xuống. - Chị làm gì mà mặt mày trắng bệch ra thế kia? Tôi lắc đầu: -
Không, không có gì cả. Nhưng giọng nói của tôi vẫn không che dấu được sự run rẩy.
Dầu sao cũng đừng để cho cô ta biết tôi sợ ma, vì bóng người lúc nãy và tiếng
than cũng có thể là một việc do tôi tưởng tượng ra kia mà? Khởi Khởi lại thăm
dò: - Thế lúc nãy chị đi đâu vậy. Tôi nhẹ nhàng nói: - Tôi ra vườn cây. Tôi
nhìn chừng chừng cô ta dò xét phản ứng vì tôi không rõ cô ta có biết chuyện đồn
trong khu vườn nhà có ma hay chăng? - Chị đến vườn cây à? Khởi Khởi mở to mắt -
Chị có nghe thấy hay nhìn thấy gì chăng? Tôi mím môi do dự một lát, nói: - Tôi
thấy một chiếc bóng đàn bà, tóc xõa, mặc áo choàng. Tôi cũng nghe tiếng rên rỉ
nhưng không nhìn thấy người thật. Khởi Khởi không ngạc nhiên chút nào cả, cô ta
gật đầu: - Đúng là nó rồi! - Ai vậy. Tôi hỏi. - Thì người đàn bà treo cổ chết
đó. Tôi phản đối ngay: - Không thể có chuyện ma quỷ, tôi nghĩ đó là người thật.
- Người à? cô ta cười khẩy - Vậy là ai? Nhà nầy chỉ có hai người tóc dài là tôi
với mẹ. Tôi thì đứng đây, còn mẹ thì ở trên lầu, thế nó là ai? Tôi rùng mình: -
Thế chị có thấy con quỷ ấy lần nào chưa? Khởi Khởi lắc đầu:
Chưa, nhưng má Lý quả quyết là thường nghe thấy tiếng than
khóc của nó. Dù sao đi nữa tôi vẫn tin có ma quỷ. Tôi biết nó vẫn ở đó, trong rừng
cây, có lẽ lúc chết vì uất ức không nhắm mắt được nên vẫn hay hiện ra trong những
đêm trăng sáng. - Thế tất cả mọi người đều tin chuyện ma này có thật à? - Chỉ
có cha tôi là không tin. Cách đây năm năm, khi chúng tôi vừa đến Đài Loan, cha
tôi muốn mua một ngôi nhà có vườn hoa rộng. Gặp lúc căn nhà này đăng bản bán
giá rẻ nên mua ngay. Sau đó mới biết là mua được rẻ như thế là vì nó có ma,
nhưng cha tôi thì lúc nào cũng cho rằng đó là chuyện nhảm. - Thế tại sao người
đàn bà đó lại treo cổ? Khởi Khởi nhún vai: - Ai mà biết! Chỉ nghe nói hình như
tại chồng bà ấy yêu người khác. Thì cũng quanh quẩn chuyện tình yêu ấy mà. Tôi
đưa mắt nhìn song cửa. Nghĩ đến người đàn bà đã chết vì tình, nhớ lại tiếng thở
dài não nuột và chiếc bóng đen ban nãy, không khỏi rùng mình thầm lần nữa. Nếu
sự thật có linh hồn thì chỉ có trời mới biết con quỷ ấy sẽ làm gi. Nó có còn tư
tưởng và dục vọng? Có biết kính trọng loài người chăng? Hơn nữa, đó là nó phải
có hình dáng vì nếu không sao lại có bóng đen? Khởi Khởi nhìn tôi thăm dò, cô
ta mỉm cười lạnh lùng: - Chị sợ rồi chăng? Tôi có cảm giác như Khởi Khởi đang
nhìn nỗi lo sợ của tôi với vẻ thích thú. Cô ta tiếp:
- Có người bảo rằng, linh hồn của những kẻ chết treo thường
không nơi nương tựa, vì thế trong bóng đêm nó có thể đến tất cả mọi nơi. Thí dụ
giờ này, có thể nó đang đứng bên ngoài cửa sổ. Tôi nhảy nhỏm lên, lườm nó: - Chị
Khởi Khởi, có phải chị muốn nhát tôi không? Khởi Khởi cười nhạt: - Tôi biết chị
sơ, chị đừng gạt tôi là chị không sợ! Hồi nào tới giờ chị có chơi trò cầu hồn
bao giờ chưa? - Tôi nghe nói phải dùng một chiếc đĩa úp xuống tờ giấy viết đủ
chữ cái, trên đĩa có một mũi tên. Mỗi lần cầu cơ cần ba người, mỗi người đặt một
ngón tay mình lên đĩa, khi cơ lên chiếc đĩa sẽ tự động chạy và chúng ta có thể
đặt nhiều câu hỏi. Khi chiếc đĩa ngừng, mũi tên chỉ chữ nào, thì đó là lời đáp,
phải không? Khởi Khởi gật đầu: - Phải, có một lần tôi, anh tôi và Trung Đan
cùng cầu cơ, chúng tôi đã cầu hồn của bà quỷ này. - Thật à, thế bà ta đã nói
gì? - Bà ta đã dùng mũi tên chỉ bốn câu. - Bốn câu đó ra sao? Tôi trở nên thích
thú. Khởi Khởi nhìn tôi dò xét đôi mắt to đen nháy đẹp vô cùng, đoạn đọc bốn
câu sau:
- “Hồn ma phiêu bạt, không nơi nương tựa, muốn tìm lại ân
tình cũ, nhưng sao vẫn hận ngàn trùng.“ - Thật vậy ư? Sao khó tin quá. Tôi nói.
- Nếu chị không tin, chị cứ hỏi Trung Đan xem. Hôm ấy trời mưa, cũng trong căn
phòng này, chúng tôi ngồi quanh bàn ăn, bên cạnh có Mạc Bính đứng hầu. Tôi đã cầu
nguyện một lúc, khi bà ta nhập vào cơ thì một cơn gió lạnh thổi đến làm rung cả
cửa kính, khiến Mạc Bính còn phải run nữa là. Lời nói của Khởi Khởi chưa dứt,
thì một cơn gió thổi đến làm hai cánh cửa kính kêu ken két, tưởng chừng như muốn
mở tung ra. Tôi giật mình nhảy nhỏm lên, trừng mắt nhìn về hướng cửa; không một
bóng người, trong khi Khởi Khởi nhìn tôi, trấn an: - Chị sợ phải không? Nhưng đừng
lo, báo sáng nay có đăng là bão sắp thổi đến đấy! Nói xong, cô ta xoay người đi
lên lầu. Tôi cũng không thể ngồi nơi phòng ăn trống trải này một mình được, nhất
là sau trận gió kỳ quái ban nãy khiến tôi có cảm giác như con quỷ đó đã vào
phòng và đang bước theo Khởi Khởi, nên cũng vội vàng lên lầu. Chia tay với Khởi
Khởi trước cửa phòng, đôi mắt của nó nhìn tôi hơi đặc biệt, một chút khinh thường
pha lẫn ngạo nghễ. Đóng cửa phòng lại, ngồi ở mép giường, bỗng tôi như sực nhớ
lại, biết đâu chiếc bóng ban nãy không là Khởi Khởi vì cũng tóc dài cũng áo
choàng (áo Khởi Khởi mặc lúc nãy là chiếc áo ngủ dài). Anh nó đã từng nhát tôi
một lần, thì sao nó lại không dám nhát tôi một lần nữa chứ? Chỉ cần rên một vài
tiếng, xong chạy ngay vào phòng đọc sách của giáo sư La Nghị, rồi bước qua
phòng ăn trước tôi một bước, và giả vờ tỉnh như không là xong. Nhưng mà tại sao
họ lại nhát tôi chứ? Có mục đích gì chăng? Nhưng Khởi Khởi tính không giống
anh, đâu thích đùa giỡn và châm chọc. Thế thì lúc nãy chiếc bóng tôi thấy có thật
là của quỷ chăng, con quỷ treo cổ trên cành cây đó. Gió lại thổi tung cửa sổ,
làm ớn lạnh cả gáy, khiến tôi rùng mình. Tôi chạy ngay đến cài then thật chặt,
phủ thêm tấm màn xong tôi nhảy lên giường tìm giấc ngủ, nhưng những câu chuyện
ma quỷ này làm tôi tỉnh táo, cảm giác sợ sệt vẫn còn lảng vảng trong tim. Mở vở
sử ký ra, lật phần cận đại, tôi đọc lớn: - “Năm dân quốc thứ hai (1913), quốc hội
được thành lập, chánh phủ được tổ chức Ba Tây và các quốc gia khác thừa nhận
Trung Hoa Dân Quốc. Cũng trong năm nầy Tống Giáo Nhơn bị đâm tại nhà ga Thượng
Hải”. Với tay tắt ngọn đèn ở đầu giường, mồm tôi vẫn lâm râm đọc những sự kiện
lịch sử ở năm Dân Quốc thứ 2: - Tống Giáo Nhơn bị giết tại nhà ga Thượng Hải, Tống
Giáo Nhơn bị giết tại nhà ga Thượng Hải, bị giết ở nhà ga ở Thượng Hải. Rồi mơ
mơ màng màng, hình như tôi đã vào giấc ngủ. Giấc ngủ đến một cách chẳng bình
thường, tôi lăn qua, lăn lại rồi bỗng thấy một dọc xe hỏa, thấy người đàn ông nằm
trên vũng máu trong khi tôi đứng cạnh và bị một lớp người vây quanh hét: - Bắt
lấy nó! Bắt lấy nó! Nó chính là kẻ giết người! Rồi có người nắm lấy tôi, tôi
vùng vẫy la to: - Không! Tôi không biết ông ta là ai cả! Tôi không hề biết ông
ta thật mà! Bỗng nhiên, người đàn ông với gương mặt đầy máu ngồi nhỏm dậy, trợn
mắt nhìn tôi, đôi mắt lòi ra dễ sợ: - Mi không biết ta thật à? Ta là Tống Giáo
Nhơn đây! Tôi lăn qua, ôm chặt lấy mền đầu lắc nhanh. - Tống Giáo Nhơn? Tống
Giáo Nhơn bị giết ở nhà ga Thượng Hải đó ư? Trời ơi! Tôi biết mình đang trong
cơn ác mộng. Cầu trời cho con được giấc ngủ yên lành! Tôi vùi đầu vào gối và lại
tiếp tục ngủ. Cơn ác mộng khác lại đến, tôi bỗng thấy mình đơn độc trong vùng
tuyết băng hoang dã. Trên trời có rất nhiều mặt trăng, nhưng sao lại lạnh thế?
Gió lạnh thổi vào gáy, tôi đi mãi, đi mãi mà sao vẫn không ra khỏi được nơi
hoang vu này? Gió thổi mạnh làm tôi chợt ngã, chồm dậy, bổng nhiên tôi thấy một
con quỷ tóc dài, trên cổ sợi thừng vẫn còn lủng lẳng...Nó càng lúc càng tiến đến
gần, rồi thở phì phào vào mặt, khiến tôi phải né tránh. Mặc dầu vẫn mù mờ hiểu
rằng đây chỉ là giấc mộng, cố gắng thức dậy nhưng chẳng được. Rồi bỗng nhiên
con quỷ chụp được tôi những ngón tay trơ xương đang sờ vào gáy khiến tôi vùng vẫy.
Nhưng càng lúc, gương mặt con quỷ càng kề cận, thở phì phò làn hơi lạnh giá vào
mặt, vào gáy tôi, bàn tay trơ xương lại sờ soạng vào má tôi. Tôi hoảng hốt,
vùng vẫy hét to. Rồi bỗng, những tiếng ầm, ầm do khung cửa kính đập vào tường lọt
vào tai. Tôi nhớ mình đã cài kỹ cửa sổ, thế thì gió nào thổi đến thế? Giựt mình
tôi choàng tỉnh. Trước nhất, tôi cảm thấy có một bàn tay, một bàn tay thật đang
xoa trên mặt, trên cổ tôi. Những ngón tay lạnh lẽo kia làm tôi trở mình, tiềm
thức như đang bảo tôi chưa tỉnh hẳn mà hãy còn trong mộng. Nhưng rồi lại nghe
tiếng cửa đập vào tường. Gió thổi phất vào mặt làm tôi giật mình. Cánh tay! Phải,
cánh tay! Tôi cố gắng mở mắt, trước tiên thấy cửa sổ vẫn mở và ánh trăng lơ lửng
trên không, tôi lại quay đầu nhìn về phiá đầu giường. Tay chân tôi bỗng rụng rời,
máu như ngưng chạy về tim. Một người đàn bà xõa tóc đang đưa tay sờ lấy cổ tôi!
Tôi nhắm chặt mắt lại, hét to. Cánh tay kia đã rút về, nhưng, tôi vẫn hét không
ngừng, ôm chặt chiếc mền, tiếng hét của tôi rền vang trong đêm tối càng khiến
tôi sợ thêm và tôi càng la to hơn. Liền theo đó, có tiếng chân người chạy nhanh
vào phòng, rồi đèn bật sáng. Tôi mở choàng mắt ra, đầu tiên vẫn nhìn thấy người
đàn bà xõa tóc đứng trước giường với chiếc áo ngủ trắng thêu hoa - Trời bà La
Nghị, bà ta đang đứng thẳng nơi đấy giương mắt nhìn tôi với nét sợ sệt, có lẽ
vì tiếng la của tôi quá lớn. - Chuyện gì vậy! Có chuyện gì nữa vậy. Người xông
vào phòng đầu tiên là Từ Trung Đan, hắn mặc chiếc áo ngủ đứng giữa phòng, vẻ hoảng
hốt vẫn còn nguyên trên gương mặt hãy còn ngáy ngủ. Một lúc sau tôi lại nghe
nhiều tiếng chân bước loạn ngoài hành lang, tất cả mọi người đều bước vào
phòng, gồm: giáo sư La Nghị, Hạo Hạo, Khởi Khởi và sau đó là Mạc Bính. Mọi người
đều hoảng hốt hỏi: - Chuyện gì thế? Có sao không? Giáo sư La Nghị thò đầu vô
hét: - Ức My, bộ em điên rồi hở? Tôi ngồi dậy, run run ôm chặt mền. Vừa qua khỏi
cơn kinh hoàng, lại nghe tiếng hét của giáo sư một cách vô cớ, oan ức, nước mắt
từ từ chảy quanh. Chưa trấn áp được sự run rẩy, vừa khóc tôi vừa nói: - Bác Nghị,
sao bác nhát cháu sợ làm chi? Ở nhà này ai cũng muốn nhát tôi cả. Nghĩ đến chiếc
bóng đen trong vườn và lần nhát ma của Hạo Hạo, tôi tiếp: - Tất cả mọi người
trong nhà này, ai cũng ăn hiếp tôi, cũng xem tôi như một trò đùa nghịch cả! Tôi
úp mặt vào tay nức nở khóc. - Hừ, chuyện gì nữa vậy. Ai ăn hiếp em đâu? Giáo sư
La Nghị bực bội gắt. - Xin giáo sư hãy chậm rãi hỏi cô ta, có lẽ có chuyện gì
đã làm cô ấy sợ. Trung Đan nói xong bước đến đứng cạnh giường. Tôi ngước mặt
lên, đôi mắt thành khẩn và tội nghiệp của hắn đang quấn tôi, rồi hắn lại đưa
tay lên vai tôi, bàn tay ấm áp khiến cho sự run rẩy của tôi ngưng hẳn. Hắn nhỏ
nhẹ hỏi: - Ức My, Có phải cô vừa nằm mộng phải không? Tôi nhìn bà Nghị, xong
cúi đầu xuống: - Tại bác Nghị làm tôi giật mình. Tôi...Tôi...không ngờ nửa đêm
thế này bà lại đến đứng ở đầu giường tôi. Tôi bắt đầu lấy lại bình tĩnh, việc
làm chấn động mọi người làm tôi hơi sượng sùng: - Xin lỗi, tôi đã làm cho cả
nhà hoảng hốt. - Thôi được rồi, giáo sư La Nghị ôn hòa nói - Em Nhã Trúc, em ở
đây làm gì thế? Bà Nghị có vẻ ngại ngùng, ngước đôi mắt đẹp và to lên nhìn giáo
sư La Nghị rồi lại nhìn tôi nói:
- Tôi chỉ đến thăm xem Ức My có đắp chăn hay không thế thôi.
Tôi chăm chú nhìn bà Nghị, những sợi lông mi cong vút trong đôi mắt sâu thẳm
kia có thật tình muốn chăm sóc tôi không? Làm sao có thể tin được? Bà khẽ chớp
mắt, tôi nhận thấy vẻ thành khẩn và ngay thật của bà. Trong một lúc, đôi mắt ấy
phân trần như trẻ thơ, bà nói: - Bác chẳng có ác ý nhát em. Ức My, bác chẳng
bao giờ có ý đó cả. Tôi cảm thấy ngượng ngùng khó tả, lí nhí trong miệng tôi
nói:
- Vâng chỉ tại con không phải. Con.. không nhìn cho rõ ràng lại
la lớn lên, thật...con ngượng quá! - Thôi được rồi, không có chuyện gì cả chứ?
Giáo sư La Nghị choàng vai bà vợ - Thế chúng mình về nhé, Nhã Trúc. Bà Nghị có
vẻ ái ngại như tôi, tựa vào chồng bà hối tiếc: - Anh Nghị, em thật ân hận! -
Thôi đừng nghĩ tới nữa, hãy coi như không có chuyện gì xảy ra cả. Khi ông bà
Nghị ra ngoài, Hạo Hạo bước đến, đôi mắt mở lớn nhìn tôi với nụ cười tinh quái.
Nhìn hắn tôi biết hắn rất vui sướng khi thấy tôi sợ muốn chết. Đứng cạnh giường,
hắn đưa tay vò mái tóc rối của tôi, cười nói:
- Ức My, bộ cô cũng sợ nữa sao? Tôi trề môi:
- Sợ là phản ứng tự nhiên của con người. Giữa khuya đang say
ngủ mà bỗng nghe một bàn tay bò trên mặt, ai lại không sợ. Đó là chưa nói ngôi
nhà của anh thuộc vào loại...
Nói tới đây tôi ngưng bặt. - Loại nhà ma phải không? Khởi Khởi
chen mồm vào: - Thế tại sao chị không tin có ma mà lại sợ ma? Tôi lẩm bẩm: - Có
trời mà biết! Nhưng mà đôi lúc người ta còn đáng sợ hơn ma quỷ nữa là đàng
khác. Từ Trung Đan quay lại, tôi nghĩ có lẽ chỉ có hắn là nghe rõ câu tôi nói,
vì đôi mắt kia ra chiều tư lự tìm hiểu. Trong lúc Hạo Hạo cúi xuống nhìn tôi cười
an ủi, nụ cười của hắn bây giờ đã mất hết vẻ trêu chọc. Hắn vỗ nhẹ lên cánh tay
để trên mền của tôi, rồi lấy giọng đàn anh nói: - Thôi ngủ yên đi, đừng tưởng
ma tưởng quỷ nữa, để mai sáng tôi đi mua ông thần trừ tà Chung Cửu cho là cô sẽ
đánh một giấc đến sáng! Tôi cười bị như nhột, Hạo Hạo sung sướng: - Rốt cuộc rồi
cũng thấy cô cười, nụ cười của cô đẹp lắm. Anh có đồng ý không Trung Đan? Hắn
nháy mắt nhìn Trung Đan, Trung Đan nhìn lại với tia mắt không thân thiện lắm.
Tôi nghe có tiếng người tằng hắng, quay sang, Khởi Khởi đang bước ra khỏi
phòng. Mạc Bính cũng rút lui lúc nào không hay. Trong phòng, Trung Đan nhìn Hạo
Hạo xong quay sang nhìn tôi rồi từ tốn nói: - Ngủ ngon nhé, Ức My! Trời sắp
sáng rồi đấy! Rồi quay sang Hạo Hạo với ánh mắt khiêu khích: - Còn anh thì sao?
Nếu thích chúng ta châm bình cà phê đánh vài ván cờ chơi, được không? Đến phòng
tôi đánh luôn tới sáng nhé? - Đánh mạc chược? Hạo Hạo thích chí.
- Được. - Chịu ngay. Hai người cùng bước ra khỏi phòng, đây
là hai tay kỳ phùng địch thủ trên bàn cờ. Ra đến cửa Trung Đan lại thò đầu vào,
chăm chú nhìn tôi, đoạn chậm rãi: - Thôi chào cô, Ức My. Nếu tôi là cô, tốt nhất
trước khi đi ngủ tôi sẽ cài cửa cẩn thận. Hạo Hạo hểnh mũi lên nói: - Bộ anh tưởng
nhà tôi có kẻ trộm, có thể bắt cóc Ức My được sao mà anh nói thế? - Tôi làm sao
biết được? Tiếng của Trung Đan vọng lại. Đợi đến khi họ đã đi xa, tôi cài cửa lại,
tiếp tục ngồi trên giường hai tay ôm gối tư lự nhìn ánh trăng bên ngoài khu vườn
hoa. Biết rằng đêm nay tôi sẽ không thể nào ngủ được nữa. Sáng hôm sau Trung
Đan vác bộ mặt phờ phạc đến dạy tôi học. Ngồi một lúc, hắn mệt mỏi đưa tay lên
xoa cổ, xem gã không có một chút tinh thần nào cả. Tôi hỏi:
- Không khỏe lắm à? - Đánh cờ nhức mỏi cả tay chân. - Thế ăn
hay thua? - Bàn đầu Hạo Hạo thua, bàn thứ hai tôi thua, bàn thứ 3 thì huề. - Thế
các anh đánh ăn gì vậy. Hắn ngẩng lên nhìn tôi, sau đó cúi đầu xuống lật sách
nói: - Chúng tôi đánh với nhau không thể nói ai thua ai thắng được. Còn nếu hỏi
đánh ăn cái gì, thì tôi nói ngay là chẳng qua chỉ để hạ nhau chơi cho vui. - Thế
hai người không ưa nhau à? Anh không thích Hạo Hạo sao? - Vậy cô thích hắn
không? Hắn hỏi ngược lại. Tôi thành thật: - Tôi thích lắm chứ! Nhất là cái vẻ
gàn của hắn cộng với những ý nghĩ lạ lùng. Gần hắn, anh sẽ không bao giờ biết
buồn vì hắn rất nhanh trí. - Đúng vậy! Hắn hơi lạc giọng - Hắn thông minh thật.
Rồi đưa tay chống cằm, Trung Đan nhìn tôi một lúc nói:
- Bây giờ cho tôi biết rõ chuyện gì xảy ra đêm qua đi Ức My.
Tôi nhìn hắn, rồi đem chuyện từ việc bách bộ trong vườn cây, bóng đen, tiếng
than van và những câu chuyện của Khởi Khởi. Rồi giữa khuya tiếng khua động của
cửa, gió, cánh tay lạnh lùng sờ mặt, giấc mơ, kể cả tiếng la hét, nhất nhất tôi
đều kể ra hết. Hắn suy nghĩ một lúc đoạn ngẩng đầu lên: - Ức My, cô phải biết rằng,
trước nhất thế gian này không có ma quỷ, thứ hai bất cứ việc gì cũng đều phải
có cách giải thích hợp lý. Vì vậy theo tôi nghĩ, bóng đen và tiếng than trong
vườn cây chẳng qua là do cô tưởng tượng ra mà thôi. Riêng về việc bác gái vào
phòng cô có lẽ là có liên quan đến bệnh của bà ấy. Hắn chau mày trầm tư, như có
một cái gì làm cho việc suy tư bị bế tắc khiến hắn ngồi không yên. Một lúc, hắn
cắn môi nói:
- Dù sao đi nữa, Ức My, từ nay cô cũng nên cài cửa lại trước
khi đi ngủ. Tôi chẳng yên tâm, lo lắng hỏi:
- Trung Đan, anh nghi ngờ điều gì chăng? Hắn cười, cố ý làm
ra vẻ như chẳng mảy may để ý: - Tôi? Không nghi ngờ điều chi cả, gia đình này
quá đơn thuần, cô cũng thế, thì tôi làm sao nghi ngờ cho được. Thôi, bây giờ
chúng ta bắt đầu vào bài học nhé. Trung Đan mở quyển Anh Văn ra, bỗng có một miếng
gì rơi xuống, tôi nhìn theo thì ra là cánh hoa lam “Đừng quên tôi” đã khô tàn,
tôi thò tay ra lượm lên, chăm chú ngắm cánh hoa ép mỏng, đoạn chậm rãi nói: -
Hoa đẹp quá, đẹp như chủ nhân của hoa. - Có thật không? Trung Đan hỏi, hắn đưa
tay sang nắm cành hoa, tôi giựt lại, hắn chụp lấy hoa lẫn tay tôi, cánh tay ấm
và mạnh mẽ bóp chặt làm đau tay tôi. Đôi mắt nhiệt thành và say đắm của hắn
không rời tôi: - Em thường ca ngợi Hạo Hạo nhanh trí, nhưng tôi lại nhanh trí
hơn hắn nhiều. Em có biết bây giờ tôi đang nghĩ gì chăng? Tim đập mạnh, tôi hỏi:
- Anh đang nghĩ gì? - Muốn hôn em! Rồi hắn chồm sang, thân tôi bị siết chặt
trong lòng Trung Đan, trong một giây phút đê mê lạ lùng...Sau đó, mở choàng mắt
ra tôi chỉ thấy những cành hoa bị bóp nát trong đôi tay chúng tôi đang tả tơi
rơi đầy trên mặt đất.
Chương 8
Chuỗi ngày kế tiếp cuộc sống rối loạn hẳn lên. Vì đã lâu,
tình cảm tôi như chú mèo con yên ngủ, bây giờ lại thức giấc. Mỗi buổi sáng thức
dậy với một cảm giác mơ màng, đêm đến tôi lại thiếp đi với tình cảm lâng lâng.
Ban ngày, tâm hồn ngơ ngẩn. Ban đêm ngủ đầy mộng mơ. Mỗi ngày nhìn vào kính,
lúc nào cũng thấy đôi má tôi ửng hồng, đôi mắt như đắm đuối say mê. Tôi đã biết
chuyện gì xảy ra, vì trên từng lỗ chân lông tôi lúc nào cũng như đang thì thào
lập đi lập lại hai chữ: Tình Yêu! Tình Yêu! Sống trong tình cảm đó, lại phải học
mỗi ngày với Trung Đan khiến tôi nó có vẻ làm sao ấy. Mỗi buổi sáng, tôi hồi hộp
chờ đợi tiếng gõ cửa, rồi trong một thoáng khi Trung Đan bước vào, tôi ngẩng đầu
lên mở to mắt chăm chú nhìn chàng lấy tập ra, tò mò muốn biết chàng sẽ làm cách
nào để tự khắc phục chính mình, để đóng trọn vai trò của một ông giáo. Khi
Trung Đan giảng bài, đôi lúc tôi như đánh mất chính mình, tôi tì tay vào cằm,
thẫn thờ nhìn khuôn mặt của chàng. Có lần Trung Đan để sách bút xuống, chau mày
ngắm tôi một cách ngạc nhiên: - Trời ơi! Ức My, sao em dễ thương quá vậy. Sách
vở bắt đầu bỏ rơi một bên, bút lăn trên đất, còn giấy thì mặc gió thổi bay.
Trong khi mắt anh trong mắt tôi, môi anh lướt qua cổ qua mặt, còn những ngón
tay lướt nhẹ trên mũi, giọng êm ái như ru: - Em có chiếc mũi như đuôi chim, đôi
mắt to như mắt mèo, nhưng đôi mày em quá sậm không đẹp lắm. Mái tóc ngắn ngổ
ngáo quá, lúc nào cũng che bít cả trán. Tay em không mềm, da em không trắng.
Tóm lại anh biết em không đẹp nhưng em có duyên và dễ thương làm sao? Rồi môi
Trung Đan kề cận tai tôi, giọng ngây ngô như trẻ nhỏ: - Em có muốn nghe anh thố
lộ cho biết một chuyện bí mật chăng? Tôi gật đầu: - Muốn. - Thế thì nghe đây
nhé. Chàng cố ý làm ra vẻ quan trọng - Có người muốn ăn thịt em! - Ai? - Anh! -
Tại sao? - Vì anh sợ kẻ khác cướp mất em. - Ai cướp? - Hừ, Trung Đen hểnh mũi
lên, như vừa uống phải hũ giấm chua - Cần gì phải nói ra, vì anh biết, em biết,
cả hắn cũng biết nữa. Tôi cười: - Anh thật đa nghi! - Có đúng là anh đa nghi
không? Trung Đan ngẩn mặt ra, nhìn tôi dò xét, một lúc gật đầu bảo:
Chúng ta cùng biết hết phải không? Nhìn nụ cười rạng rỡ của
em, anh biết em đang tự hào về sức thu hút của mình. Có lẽ trong đáy lòng em,
em đang dự định chinh phục tất cả đàn ông trên đời này. - Đừng đoán ẩu như vậy,
anh tưởng rằng công cuộc nghiên cứu về tâm lý của anh đã đến chỗ toàn bích rồi
sao? - Đúng vậy, nhất là với tâm lý của em! - Thật không? Tôi nhướng mày hỏi. -
Thật! - Thế thì xin anh trả lời tôi ba câu hỏi. Trước nhất, điều tôi hy vọng nhất
là gì? Thứ hai, tôi đang nghĩ gì? Và thứ ba, người tôi yêu mến nhất là ai? - Trả
lời câu thứ nhất là Từ Trung Đan, câu thứ hai cũng là Từ Đan và câu thứ ba lại
là Từ Trung Đan. - Nói mà không biết ngượng. Vừa nói tôi vừa bước xuống. Trung
Đan ngăn lại: - Đừng đi! - Tại sao anh lại cản tôi? - Chỉ vì anh muốn nghe tim
anh đang thổn thức, em thấy không? Tôi kề tai sát vào ngực chàng. Chàng hỏi: -
Nó có đập dữ không em? - Nó đập thùm thụp, thùm thụp...
Trung Đan tựa cằm vào tóc tôi, chàng nói nhỏ: - Em nói sai rồi,
anh nghe nó kêu Ức My, Ức My. Tôi ngẩng đầu lên, môi chàng vôi giữ chặt lấy môi
tôi. Mở to mắt ra, tôi nói: - Anh là ông thầy tồi, anh muốn dạy tôi môn gì đây?
- Dạy môn khó nhất và tế nhị nhất, đó là luyến ái học. - Hứ! Tôi lại cười.
Chàng cúi xuống lật vở ra, tằng hắng, cúi nhặt cây bút chì khi nãy rơi dưới đất,
rồi đứng thẳng người nghiêm giọng: - Thôi bắt đầu giờ phút này không cho lộn xộn
nữa nhé, học hành đàng hoàng đấy! - Hứ! Anh làm như tôi là người gây ra lộn xộn
không bằng! - Thì tại em trước chứ còn ai nữa? Ai bảo em cứ nhìn anh chằm chập
khiến anh phải động lòng. - Thế em không nhìn anh thì nhìn ai? Chính tại mình động
lòng tà rồi đổ lỗi cho người ta. - Thôi được rồi đừng cãi nữa. Trung Đan dằn
chiếc thước kẻ trên bàn tiếp - Bây giờ nếu ai đi ra ngoài phạm vi bài vở trước
sẽ bị đánh. Thước kẻ tôi để đây, đôi bên có thể thi hành. Bây giờ lật trang số
một trăm hai mươi mốt, chúng ta xem các công thức về tam giác. Tôi mở sách ra,
lật đúng trang 121, đoạn quay nhìn chờ đợi. - Kiếm được chưa? - Rồi. Trung Đan
bắt đầu giảng: - Người ta gọi một hệ thức tam giác là...
Và chàng ngưng bặt, nhìn tôi lạ lùng. - Ồ! Ức My, anh vừa
khám phá ra tròng mắt em không phải màu đen mà hình như là màu hổ phách! Tôi cầm
thước lên, đánh thật mạnh vào lưng bàn tay chàng một cái khiến Trung Đan nhảy
nhỏm lên: - Ức My, em đánh mạnh quá! Chàng xuýt xoa. Thật đúng như sách dạy,
trong đời độc ác là trái tim người đàn bà! - Ai biểu anh không lo giảng bài. -
Thôi được để anh giảng. Chúng tôi trở về với sách vở, chàng cầm bút chì lên, bắt
đầu giảng một cách thật tỉ mỉ cho tôi biết thế nào là một hệ thức tam giác, vẽ
hình rồi ví dụ. Trong khi tôi đưa tay nâng cằm lắng nghe giọng nói của chàng,
tiếng nói trầm trầm khiến tôi thích thú. Tôi nghĩ có lẽ chàng hát hay lắm, dù
ít khi chàng hát vì chàng chỉ thích nhạc hòa tấu Nhạc của Schubert là loại nhạc
tuy không hẹn, mà tôi và chàng đều cùng thích. Bỗng nhiên Trung Đan cầm thước
đưa lên: - Nào đưa tay cho tôi! Tôi không chịu trợn mắt: - Cái gì? - Em nghĩ vẫn
vơ không chịu nghe. Em nghĩ gì thế? - Nghĩ về Schubert. - Tốt! Vậy đưa tay ra đừng
nói nhiều! Tôi nhìn chàng, cây thước đưa lên cao, gương mặt không một nụ cười
và nghiêm khắc như một quan tòa, khiến tôi phải miễn cưỡng đưa tay ra, nhắm chặt
mắt, tôi cười: - Này đánh đi thầy! Nhưng tôi thực kinh ngạc, vì chàng đánh thật,
đánh rất đau. Tròn xoe mắt nhìn vết thước đỏ nằm dài, tôi hơi giận, thách thức:
- Muốn đánh nữa không? - Muốn. - Thế thì đánh đi! Chàng đưa
môi hôn lấy bàn tay tôi, ậm ừ: - Ức My ơi! chắc phải tìm một giáo sư khác! Tối
hôm ấy, Trung Đan và tôi đi xi- nê. Khoảng chín giờ đã ra. Chúng tôi đi xe bus
đến góc đường Tân Sanh Nam và Bình Đông, rồi thả bộ đi dọc theo đường Tân Sanh
Nam về nhà. Buổi tối mùa hạ trời thật đẹp, ánh sao lấp lánh trên cao, gió lộng.
Chúng tôi kề vai nhau vừa đi vừa cười nói, lòng vui như khung trời không một gợn
mây. Chàng nói cho tôi biết những cảm nghĩ của chàng về giáo sư La Nghị: - Giáo
sư là người có khuôn mặt dữ tợn nhưng lại có một tấm lòng rất tốt. Tôi phản đối
ngay:
- Chỉ tại ông ấy không chịu chải tóc, chải râu cho đàng
hoàng. Em nghĩ nếu ông ta đầu tóc gọn ghẽ, râu ria cạo sạch, thì gương mặt sẽ đẹp
lắm. Chân mày sậm, mắt sáng, mũi cao, chỉ bao nhiêu đó cũng đủ chứng tỏ ông rất
đẹp trai. Anh nghĩ xem Hạo Hạo đẹp trai như thế thì thuở xưa khi còn trẻ ông ta
nào có thua gì Hạo Hạo đâu? Trung Đan ậm ừ: - Thế em thấy Hạo Hạo đẹp trai lắm
sao? - Đúng vậy, anh không thấy hắn đẹp trai à? Trung Đan nhìn tôi dò xét: - Thế
hắn đẹp trai hơn anh không? - Anh...Tôi đứng lại ngắm nghía, rồi cười - Anh
cũng biết là anh không có vẻ gì đẹp trai cả mà! - Còn hắn đẹp lắm ư? - Vâng. Hắn
rất đẹp. Tôi gật đầu. Trung Đan chau mày. Chúng tôi tiếp tục bước. Chàng bẻ một
cành cây bên vệ đường, miệng lẩm bẩm:
- Mong cho nó xuống địa ngục cho rồi! Tôi hỏi: - Anh nói ai?
- Anh nói Hạo Hạo. - Trung Đạn Nói xấu người vắng mặt là một điều không tốt,
sao anh ích kỷ thế? Chàng thở dài: - Ức My, ai biểu em khen cái vẻ đẹp trai của
hắn làm chi. - Chớ anh không thích thưởng thức cái đẹp à! - Phần nào thôi, anh
thích vẻ trầm lặng và phóng khoáng của hắn, nhưng không thích cái lối sống phù
phiếm của hắn. Ức My, anh biết hình ảnh hắn đang chiếm một vị trí trong tim
em...
Tôi phá ngang:
- Đừng nói khùng! - Anh không khùng, Ức My, nhất là đối với
em, ngoài việc đem tất cả tâm hồn ra để được gần gũi em, anh còn đang tìm tôi để
hiểu tất cả bí mật trong tận cùng quả tim em, kể cả những phần mà em cũng chưa
hề biết. Tôi thấy hơi khó chịu: - Đừng anh, đừng bao giờ nghĩ thế, vì em thấy rằng
chưa chắc chắn viếc làm đã đúng. - Anh cũng mong như vậy. Chúng tôi đến bên bức
tường của trường Đại Học, tôi ngẩng đầu lên nhìn bờ tường cao ngất: - Tường cao
thế này, muốn vào cũng đâu phải là chuyện dễ. Chàng nói. - Nhưng em sẽ vào được!
- Anh chắc như thế? - Ừ! Tôi mỉm cười, không tin tưởng chút nào. Đang bước chợt
thấy một vật gì trăng trắng đang cựa quậy dưới bờ tường. Tò mò nhìn, thì ra là
chú mèo con. Dưới ánh sáng của ngọn đèn đường, chiếc thân ốm nhỏ tựa nơi góc tường
trông nó cô độc và buồn thảm làm sao. Có lẽ nó chỉ mới sinh được khoảng mười bữa
nên trông chẳng khác chú chuột bạch. Tôi cúi xuống, vuốt nhẹ chiếc đầu nhỏ, tội
nghiệp:
- Ôi chú mèo con! Trung Đan nói: - Có lẽ nó bị vứt bỏ đấy. Nó
sống không lâu đâu! Còn nhỏ quá, đang còn bú sữa mẹ mà bị bỏ như vậy, tội nghiệp.
Tôi ôm chú mèo lên, nó khoanh tròn trong tay tôi kêu meo meo, gương mặt nhỏ nhắn
với đôi mắt to nhìn tôi e ngại, có phải chăng nằm trong tay tôi ấm áp hơn là bức
tường? Trung Đan nhìn chú mèo dò xét một lúc rồi nói: - Ối trời ơi! Chú mèo sao
giống em quá. - Nói bậy không à! - Thật mà, nhất là đôi mắt. Tôi nghiêng đầu ngắm
nghía, chú mèo cũng ngẩng đầu nhìn tôi. Trong khi tôi chau mày, hắn lại hỉnh hỉnh
chiếc mũi nhỏ. Trung Đan bật cười: - Em với chú mèo giống nhau thật mà, cả cử
chỉ cũng thế. - Hừ! Tôi đặt chú mèo xuống đất, định bước đi. Bỗng chú mèo bò đến,
đầu cọ vào chân tôi, kêu nhỏ như cầu xin. Lúc ấy, tôi mới nhìn thấy cái chân tật
nguyền của hắn. Lòng chợt rung động, tôi thở dài:
- Lại một cuộc đời đáng thương, nếu không được ân cần chăm
sóc và nuôi nấng, nó không thể nào sống nổi! Thế là tôi cúi xuống bồng chú mèo
lên, nói với Trung Đan: - Anh nghĩ em có thể nuôi chú mèo này được hay không? -
Sao lại không. - Em sợ giáo sư La Nghị nói em lộn xộn. Hình như tất cả những
người trong gia đình họ La đều không thích thú vật. Nhưng em sẽ cố chăm sóc nó
và không để làm phiền mọi người. Tôi vuốt đầu mèo con. - Chú mèo con tật nguyền
tội nghiệp quá! Từ nhỏ em đã thích chăm sóc cho những loài vật xấu số như thế
này rồi anh ạ! - Mang nó về đi, rồi anh sẽ giúp em nuôi. Nhìn xem hình như nó
đói lắm rồi! Thật vậy, chiếc bụng chú mèo xe.p lép, đôi mắt to đang xoe tròn
nhìn tôi, chiếc lưỡi nhỏ liếm quanh bàn tay. Tôi háo hức muốn tìm ngay thức ăn
cho nó thế là chúng tôi kêu ngay chiếc xích lô chạy nhanh về nhà. Bước vào
phòng khách quang cảnh chung quanh làm tôi ngạc nhiên, vì chiếc phòng vắng lạnh
hằng ngày nay bỗng đầy đủ cả mọi người. Điều ngạc nhiên hơn nữa là bà Nghị, hồi
nào tới giờ chưa hề bước xuống thang lầu, thế mà hôm nay đang ngồi ở salon với
chiếc áo cánh trắng, nước da trắng xanh, trông đẹp làm sao! Khởi Khởi ngồi trước
chiếc đàn piano đang dạo “Khúc nhạc ngày xuân” của Mozart. Hạo Hạo đứng tựa
lưng lên cửa sổ lơ đãng. Giáo sư La Nghị ngồi yên trong ghế lắng tai nghe tiếng
đàn của Khởi Khởi. - Ủa? Hôm nay ngày gì thế này? Trung Đan giật mình. - Anh
không biết thật à? Hạo Hạo đốt điếu thuốc, hít một hơi thật dài - Hôm nay là
ngày sinh nhật thứ mười tám của Khởi Khởi. Trung Đan hơi ngại ngùng: - Thế mà
tôi quên mất. Khúc nhạc vừa dứt, Khởi Khởi đậy nắp đàn lại, xong quay qua, đôi
mắt đẹp của nàng lấp lánh nhìn chúng tôi với một vẻ lạnh lùng không cảm giác.
Nhìn Trung Đan, Khởi Khởi lãnh đạm: - Chỉ có mẹ là còn nhớ ngày sinh nhật của
tôi, vì đó là ngày đau đớn nhất của người. Còn đối với người khác thì sinh nhật
của tôi nào có nghĩa gì đâu? Có khi còn coi đó là một ngày đáng phiền nữa là
khác. Trung Đan vồn vã: - Sinh nhật là ngày chào đời của một mạng sống, theo
tôi thì sự ra đời của một sinh mệnh là điều đáng vui, vì thế gian này chỉ tồn tại
khi có sự hiện diện của sự sống, nếu không sẽ không có cuộc đời này. Khởi Khởi
có nhận thấy như vậy không? Hàng mi dài của nàng khẽ rung động, đôi mắt đen
nhánh chăm chú nhìn Trung Đan, nàng chậm rãi: - Lời anh nói như lời của các nhà
truyền giáo. Hẳn nhiên đối với thế giới này, không có sự sống thì chỉ là một quả
thạch cầu to mà thôi, nhưng nếu bàn về cuộc sống riêng rẽ, thì dù có hay không
có cũng không khác chi mấy. Vì đúng ra trước khi thượng đế tạo ra con người,
nên tìm hiểu trước xem họ có chán sống không? Vì cuộc sống đôi lúc chỉ là một
gánh nợ chớ không vui sướng gì! Anh có thấy như vậy chăng? - Cô cũng có lý.
Trung Đan gật đầu - Nhưng mà theo tôi, nếu đã có cuộc sống rồi nghĩa là đã có sự
hiện diện của thể xác chính mình trên đời này thì mình phải biết yêu quí sự sống,
phải biết tìm thú vui trong cuộc đời ô trọc này. Con người còn sống là còn
trách nhiệm với thân xác. Cuộc đời chẳng qua như ngọn đèn sáp, đốt một phút,
cháy một phút, đốt một ngày cháy sáng một ngày, mãi đến khi sáp đã tan, đèn tan
hết thì ánh sáng mới tắt...
Hạo Hạo chịu không nổi, hắn chặn ngang lời Trung Đan: - Thôi
được rồi, đem tất cả cuộc sống của anh, đèn sáp, trách nhiệm.. dẹp hết đi. Giờ
này đâu phải giờ học mà thầy giáo cứ lải nhải mãi những lý luận đó, hãy để đó đợi
đúng lúc sẽ bàn sau. Rồi đi ngang tôi hắn nhìn dò xét:
- Ức My, cô ôm cái gì đó? - Một sinh mạng! Tôi cười đáp, đoạn
đem chú mèo đặt trên ghế salon. Chú mèo con đưa mắt thăm dò hoàn cảnh cuộc sống
mới. - Vì nghĩ là kẻ đã sáng tạo ra nó đã phủi trách nhiệm, nên tôi mang nó về
đây. - Ức My, cho phép tôi nói một câu. Hạo Hạo nói - Sao cô ưa gánh hộ việc
người quá vậy. Cô tưởng là cha tôi cho phép cô thu nhận kẻ bá vơ như vậy sao?
Tôi nhìn giáo sư, ông hơi nhíu mày có vẻ không vui. Mắt ông nhìn tôi đăm đăm,
tôi nghĩ có lẽ ông không hài lòng cho lắm về việc tôi mang về một mạng sống nhỏ
bé. Tôi vuốt nhẹ trên lưng mèo, đưa mắt van xin nhìn giáo sư La Nghị:
- Xin giáo sư cho phép tôi được nuôi nó. Tôi sẽ không để cho
nó quấy rầy ai cả. Tôi nghĩ rằng giáo sư thu nhận một kẻ không nhà, không cửa
như tôi thì có lẽ ngài cũng không phản đối việc tôi thu nhận một con mèo bơ vơ
như thế này, phải không? Giáo sư nhìn tôi một lúc, nói ngắn ngủn: - Liệng nó
đi, nhà này không nuôi thú vật! - Thưa giáo sư, con mèo con này có gì phiền
đâu, nếu liệng đi, nó sẽ chết. Xin giáo sư hãy để tôi nuôi nó, vì nhất là nó
tàn tật làm sao nó có thể sống được? Liệng nó đi tội nó. Hàm râu của giáo sư
rung động, đôi mắt ông như dịu hẳn, ông đưa tay sờ mũi, rồi lẩm bẩm câu gì
trong miệng, hình như tư tưởng ông đang xung đột dữ dội. Một lúc, ông nghiêm sắc
mặt lại, rồi hét: - Tôi nói đem liệng nó ngay nghe không? Tôi bị tiếng hét làm
giựt mình, cúi xuống nhìn chú mèo con lòng tôi thật đau xót, có lẽ con vật đã
biết được vận mạng của mình, hắn nhìn tôi tròn xoe mắt, rồi kêu meo meo thật
não nuột. Tôi ngẩng đầu lên nhìn thẳng giáo sư, cố gắng một lần chót: - Thưa
giáo sư, tại sao giáo sư lại từ chối làm một việc thiện? Nuôi một có mèo có mất
mát gì đâu? Ngoài ra tôi xin cam đoan với giáo sư tôi sẽ cố gắng hết sức không
để phiền lòng giáo sư. Cắn môi, tôi nói - Tôi biết giáo sư có một trái tim hiền
lành và dễ xúc động, thế tại sao người mãi dùng cái bề ngoài tàn ác kia che đậy
nó. Tại sao? Tôi không tin rằng giáo sư tàn nhẫn và vô tâm như thế. Giáo sư đứng
chồm lên, suýt chút làm vỡ bình trà trước mặt, mắt trừng trừng mở lớn, như muốn
rơi ra khỏi đám cỏ rối, miệng ông lẩm bẩm hay tay nắm chặt, như sẵn sàng đập
cho tôi một trận...Nhưng rồi, nắm tay buông thõng, mắt chớp nhẹ, ông nói: - Em
có “nghĩa vụ” phải nuôi nó chăng? - Không có nghĩa vụ mà chỉ vì vui thích. -
Vui thích? Giáo sư La Nghị trừng mắt nhìn tôi - Em đã dùng hai chữ gì kỳ cục thế?
- Vâng, tôi thật tình ưa thích, vì khi còn bé tôi đã thích nuôi loài vật rồi,
nhất là với loại tàn tật, ốm yếu, không nơi cư ngụ. Lúc còn ở Cao Hùng, trước
ngày mẹ bệnh, tôi có nuôi ba con chó, hai con mèo và năm chú thỏ. Tôi thích
nuôi những con vật ốm yếu để nhìn thấy một ngày nó trở nên khỏe mạnh, làm như
thế tôi cảm thấy mình là kẻ quan trọng là kẻ giúp đời. Nhìn sự trưởng thành của
nó ta sẽ thấy vui sướng biết chừng nào. Có một lần...
Tôi ngưng lại vì cảm thấy mình nói quá nhiều, nhưng giáo sư
La Nghị lại chăm chú nhìn tôi: - Nói tiếp đi! - Có một lần, nhà bạn tôi có nuôi
một con khỉ, chú khỉ ấy bị bệnh sắp chết, bạn tôi muốn quăng nó đi, tôi đã xin
về nhà, dùng thuốc giải nhiệt, giải cảm cho uống. Lẽ dĩ nhiên là nó khỏi hẳn,
nhìn nó càng ngày càng khỏe mạnh, tôi sung sướng lắm. Thế mà một hôm nó lại cắn
tôi một phát, tôi phải vào bệnh viện chích hết bốn mũi thuốc. Tôi buồn lắm vì
không ngờ con vật được mình cứu sống lại có thể hại mình như vậy. Mẹ tôi bảo - Ức
My, đây là bài học đầu tiên cho con, con hãy nhớ rằng cuộc đời này đôi lúc
không thể nói chuyện tình nghĩa, kẻ hại con có khi lại là người con tin yêu nhất,
vì thế con đừng quá tin ai, kể cả chị em, bạn bè thân thuộc, chỉ có thể tin ở
chính mình vì đó là người đáng tin cậy nhất. Con cũng đừng quá dễ dãi thương
yêu ai để tránh khỏi phải khóc hận sau này. Việc đó đã ghi sâu vào tâm não tôi,
cũng từ hôm đó tôi không còn nuôi một con vật nào nữa cả. Nhưng bây giờ chú mèo
này lại khiến tôi động lòng. Tôi mỉm cười, vỗ nhẹ đầu chú mèo. - Tôi tin rằng,
nó sẽ không bao giờ cắn hay cào tôi. Giáo sư! Giáo sư có đồng ý cho tôi thí
nghiệm một lần nữa không? Hãy để cho tôi nuôi nấng con vật khốn nạn này, nếu
không nó sẽ phải chết ở đầu đường xó chợ. Ngài có thể nhẫn tâm nhìn nó chết như
vậy không? Giáo sư La Nghị không nói một lời gương mặt đăm đăm kỳ bí, tia mắt
như muốn đi sâu vào trong mắt tôi. Lối nhìn của ông khiến tôi cảm thấy ngại
ngùng, chỉ vì một chú mèo con mà có thể gây nên hoàn cảnh khẩn trương như vậy
hay sao? Hạo Hạo bước đến cạnh salon, ôm chú mèo lên ngắm nghía, cười lớn: - Ô
hô! Đúng là chú mèo sợ chuột gương mẫu. Được rồi! Ức My nuôi nó đi, tôi sẽ giúp
cô, đây là của chung của hai người nhé, chịu không? Nói vậy chứ chú mèo này xem
ra cũng lanh lợi lắm có lẽ bắt chuột được. Bạn tôi cũng có nuôi một con mèo, hết
ăn tới ngủ, mập đi không muốn nổi, đến nỗi các chú chuột chạy quanh mình mà chú
vẫn cứ ngủ tỉnh bơ, cho đến một hôm lũ chuột kéo nhau đến vặt sạch cả râu mép
mà vẫn không hay! Tôi cười to lên dù biết rằng chuyện của hắn là chuyện xạo, những
vẫn không nín được. Trong phòng ngoài tôi không một ai cười hết, không thí thật
nặng nề. Mọi người yên lặng suy nghĩ làm nụ cười nham nhở của tôi bị cụt hứng.
Nhìn ông Nghị, rồi bà Nghị tôi không hiểu gì cả, thắc mắc: - Làm sao vậy? Bà
Nghị đứng dậy, gương mặt trắng bệch ra hơn, đôi mắt đen ưu sầu nhìn tôi, đoạn
quay đi như một xác chết, bà thẫn thờ bước khỏi phòng đi về phiá phòng ăn. Giáo
sư La Nghị bước theo đỡ vợ, nhưng khi bước đến cửa ông lại quay sang nhìn tôi,
lần này với ánh mắt trang nghiêm nhưng không kém phần đau khổ. Kế đến là Khởi
Khởi cũng đứng dậy, lạnh lùng nhìn tôi và Trung Đan một lúc, ho khan một tiếng
rồi bước ra khỏi phòng. Trung Đan quay nhìn tôi, từ mặt đến tay, tôi theo tia mắt
ngó xuống mới thấy mình đang đặt tay trên đầu chú mèo, còn chú mèo thì đang nghẻo
cổ nằm trong lòng Hạo Hạo. Do đó dù muốn dù không tôi cũng đang đứng cạnh Hạo Hạo,
đầu tôi gần như muốn tựa vào vai hắn, Trung Đan hậm hực: - Thế các người định
“nuôi chung” chú mèo đó ư? Hạo Hạo đáp nhanh: - Đúng vậy, tôi đã nghĩ ngay cho
nó một cái tên. - Tên gì? - Tiểu Ba ( Sóng nhỏ). - Tiểu Ba ư? Theo điển cố nào
mà đặt như thế? Hạo Hạo ậm ự:
- Vì tôi thấy hình như có một cơn bão vô hình đang xảy ra
quanh chú mèo, nhưng mong rằng với trí thông minh của tôi, tôi có thể giúp nó
giải quyết. Trung Đan tư lự nhìn Hạo Hạo, Hạo Hạo cũng nghinh lại, Hạo Hạo hỏi:
- Sao, đánh cờ không? - Mạt chược nhé? - Được. Hạo Hạo đưa chú mèo cho tôi, rồi
theo Trung Đan ra khỏi phòng. Trong một thoáng, phòng khách rộng thênh thang chỉ
còn lại mình tôi. Lặng người giữa bao nhiêu chuyện lạ lùng, cho mãi đến lúc chú
mèo kêu meo meo tôi mới chợt tỉnh. Cầm chú mèo trên tay, tôi hỏi: - Chuyện gì
thế hở Tiểu Ba?
Chương 9
Trong rừng cây, Thố Ty Hoa đã nở. Những đóa hoa trắng trên
thân dây xanh nhạt, nhẹ rung theo từng cơn gió mùa hè. Tôi ngồi trên bãi cỏ,
vòng tay ôm gối nhìn theo những dây leo yếu ớt đầy hoa với vẻ to lớn cành lá
xum xuê của cây tòng mà tội nghiệp. Nhìn chúng quấn quýt nhau, bỗng nhiền tôi
chợt có một so sánh lạ lùng chống tay lên cằm lẩm bẩm: - Tạo hóa đã vì cây tòng
mà tạo ra Thố Ty Hoa hay vì Thố Ty Hoa mà tạo ra cây tòng? - Tôi nghĩ là tòng
được tạo ra cho Thố Ty Hoa. Có tiếng người trả lời ngay câu hỏi của tôi. Ngẩng
đầu nhìn lên, Trung Đan đang đứng trước mặt nhìn tôi cười: - Vì cây tòng tách
ra khỏi Thố Ty Hoa vẫn có thể sống được, nhưng Thố Ty Hoa không thể sống xa được
tòng, em hãy đến nhìn kỹ sẽ rõ, Thố Thy Hoa không có rễ, nhánh nó bám sâu vào
thân cây tòng để sống. Tôi chồm người về trước nhìn, thật không sai. Trung Đan
ngồi đối diện, nhìn tôi: - Tòng và Thố Ty Hoa sống tựa nhau thế này có gợi cho
em một hình ảnh nào không? Em thử nhìn kỹ Thố Ty Hoa có giống ai không? Tôi
nhìn một lúc ngẩn ngơ:
Thì nó giống Thố Ty Hoa chứ gì! Trung Đan cười, chàng cầm bút
lên phát họa vào mặt sau quyển sách và cho tôi xem một cây tòng chằng chịt lá,
trên thân cây có một gương mặt màu sậm, mắt to ẩn bên trong lớp lá vây quanh,
ngoài ra còn có một thân dây leo ốm yếu, trên đấy có những đóa hoa nhỏ quấn
quanh thân tòng, trên một đóa hoa có gương mặt một người đàn bà. Tôi ngẩng đầu
lên, ngạc nhiên và cảm động: - Có phải anh vẽ giáo sư La Nghị và vợ ông ta hay
không? - Đúng, có giống không? - Óc tưởng tượng của anh thật phong phú. Trung
Đan đưa tay sờ chuỗi hoa: - Đúng là một đóa Thố Ty Hoa, anh muốn nói bà Nghị đấy.
Em thử nghĩ xem, không nương cậy vào giáo sư, liệu bà có sống nổi hay không, vì
bà ấy đã mọc rễ trên mình giáo sư La Nghị rồi. Nhìn hình ảnh của Thố Ty Hoa với
Tòng nương tựa nhau mà sống, ai lại không cảm động. Nhìn vợ chồng giáo sư La
Nghị mình cũng có cùng một cảm giác. Đời sống thật lạ lùng, như điều em vừa
nói, tạo hóa đã vì cây Tòng mà tạo ra Thố Ty Hoa, hay vì Thố Ty Hoa mà tạo ra
Tòng? Thượng đế đã vì giáo sư La Nghị mà tạo ra bà Nghị hay ngược lại? Cả hai
quấn quýt không rời nhau như hai loại cây này. Rất nhiều lúc anh lạ lùng về sự
kết hợp của cặp vợ chồng này. Tôi chậm rãi ngâm hai câu thơ của Lý Bạch: Khinh
điều bất tự dẫn. Vi trục xuân phong hạc. Tạm dịch: Thân gầy không tự đến. Chỉ tại
gió xuân sang. - Đúng vậy, thân cây yếu đuối kia không thể đưa sang, mà chỉ tại
gió xuân đưa lối dẫn đường. Nhưng ai là cơn gió mùa xuân đưa đường dẫn lối đó!
- Theo anh thì ông bà Nghị có một chuyện tình éo le lắm sao? - Đúng! Trung Đan
tư lự một lúc - Anh thấy chuyện gia đình nhà họ La này không giản dị lắm, kể cả...
Bỗng nhiên chàng ngừng lại, chỉ ra phiá trước. - Gia Gia đến
rồi kìa! Có lẽ bà ta thích em lắm đấy, Ức My. Trên thân thể em hình như có một
sức thu hút đặc biệt, em đã thu hút tất cả mọi người kể cả một bà khùng như Gia
Gia. Thật vậy, Gia Gia đã đến gần chúng tôi, trên tay bà là bó hoa màu vàng mà
chúng tôi cho là Thố Ty Hoa. Nụ cười khờ khạo trên môi, như một tín đồ tôn sùng
một thần tượng, Gia Gia đến trước tôi và trao cho tôi bó hoa. Nhận hoa với một
chút xúc động, tôi vỗ nhẹ lên bãi cỏ nói: - Ngồi chơi nhé, Gia Gia. Bà ngồi xuống,
tia mắt khờ khạo vẫn đăm đăm nhìn tôi. Thái độ này tôi đã quen thuộc nên không
còn ngạc nhiên nữa. Trong lúc này Trung Đan vẫn chăm chú nhìn Gia Gia. Chúng
tôi cứ thế yên lặng. Bỗng nhiên Gia Gia cất tiếng hát: “Chẳng phải là sương, chẳng
phải hoa, Nửa khuya em đến, sáng em về, Đến như giấc mộng xuân không đợi, Đi tựa
mây trời không định nơi.“ Tiếng hát bất thần, khiến tôi ngẩn người ra một lúc,
quay sang thì bắt gặp ánh mắt trìu mến của bà đang nhìn tôi và nói: - Cô ơi! Em
biết hát rồi! - Vâng, Gia Gia hát hay lắm! Bà ta đắc chí cười hớn hở. Trung Đan
hỏi - Ai dạy Gia Gia hát thế? Bà ngẩng đầu lên một cách ngờ nghệch như không hiểu
Trung Đan hỏi gì, vì bà đã trả lời một câu không đầu, không đuôi: - Hoa nở rồi.
Trung Đan thở dài, nắm nhẹ áo tôi:
- Thôi đi em, sắp tới giờ học rồi. Tôi đứng dậy phủi sạch lá
vụn trên người, vẫy tay chào Gia Gia. Trung Đan như thắc mắc một điều gì, chàng
lẳng lặng đi bên tôi không nói không rằng. Lên lầu, bước vào phòng, tôi hỏi: -
Anh đang nghĩ gì đấy? - Nghĩ về em! - Về em! - Ờ, chàng nắm hai tay tôi, nhìn
tôi chăm chăm - Anh muốn tìm xem điểm nào trên người đã thu hút người khác. Lần
đầu tiên khi vừa trông thấy em, anh đã có một cảm giác là lạ như đã quen em từ
thuở nào, gương mặt em sao quen thuộc quá! Tôi cười, cầm nhánh hoa vàng cắm vào
bình: - Anh đã lầm vì anh chưa hề thấy em bao giờ. Cách đây 3 tháng em chưa hề
đặt chân lên Đài Bắc, không thể có chuyện nhìn thấy trên xe bus nữa là quen. -
Thế em tin có giác quan thứ sáu không? - Tin chút chút! - Thế thì có lẽ là do
giác quan thứ sáu anh đã nhìn thấy em trong mộng. Trung Đan vòng tay ôm ngang
lưng tôi chàng hôn lên vành tai. - Ức My! Có lẽ ông trời đã vì anh mà tạo ra em
cũng như vì em mà tạo ra anh, vì vậy vừa gặp nhau ta đã biết nhau. Tôi thấy hơi
ngại ngùng, vì nói thật, lần đầu tiên gặp chàng tôi không hề có cái cảm giác
quen biết như chàng nói. Nếu nó là giác quan thứ sáu, thì tại sao chỉ có chàng
có mà tôi lại không? Trong lúc đang nghĩ mông lung bỗng “Meo! Meo!“ Chú mèo con
từ đâu nhảy rơi trên kệ sách, tôi ôm nó lên vuốt ve, rồi ngồi xuống ghế. Tất cả
mọi việc từ cơ duyên gặp gỡ đến ân oán nhân quả, đều như có số cả. Vì thế có
nhiều chuyện không thể giải thích được như ma quỷ, thần linh, linh hồn...Do đó
tôi tin có định mệnh, cũng như tin rằng có một sức mạnh huyền bí đang chi phốt
tất cả mọi việc ở đời. Lấy Tiểu Ba làm ví dụ nếu không gặp tôi, có lẽ nó đã phải
chết ở đầu đường xó chợ. Ngoài ra nếu hôm ấy chúng tôi không đi xem chiếu bóng
hay là sau khi tan hát xong lại ngồi xích lô về thẳng nhà, thì làm sao lại gặp
nó. Nâng chú mèo lên, tì mặt vào chiếc thân bé bỏng đầy lông mịn, tôi nói: -
Đây là một sinh vật may mắn! Trung Đan nhìn tôi cười, đưa tay sang vuốt lấy
thân chú mèo, rồi nâng cằm tôi lên, chàng nhìn tận vào mắt:
- Ức My, em là người giàu tình cảm. Rồi chàng lắc đầu - Anh
không hiểu sao anh yêu em nhiệt tình như vậy, bất cứ việc làm, lời nói, tiếng
cười của em, đều như cuốn hút từng lỗ chân lông trên người anh. Đôi mắt chàng
mơ màng nhìn tôi, chúng tôi cứ thế nhìn nhau không biết thời gian lạnh lùng
trôi qua. Một lúc, chàng giựt mình. - Này Ức My, mở vở ra học chứ! Tôi ôm chú
mèo trong tay, lười biếng lật sách, mắt vẫn nhìn chàng. Trung Đan liếm mép, bắt
đầu: - Em nói cho anh biết Đại Hội Quốc Dân Đảng lần thứ nhất đã khai mạc nơi
đâu? Lúc nào? Tôi chỉ đưa mắt nhìn chàng. - Tôi hỏi em cái gì, em có nghe
không? Ức My? - Hả? - Tôi hỏi em Đại Hội Quốc Dân Đảng lần thứ nhất mở ra năm
nào? - Suỵt! Đừng nói lớn, Tiểu Ba đã ngủ rồi, anh lắng nghe xem tiếng thở nhè
nhẹ của hắn như muốn nói chuyện gì đấy! Trung Đan nhìn tôi một lúc, bỗng đứng
lên đi đến gần tôi, không nói một tiếng chàng xách chú mèo lên đặt xuống đất, vỗ
nhẹ và đẩy nó vào gầm giường, đoạn quay lại, nghiêm nghị nhìn tôi: - Bây giờ,
em có thể trả lời câu hỏi tôi được chưa? Tôi miễn cưỡng: - Trung Đan, sao anh
nghiêm khắc quá vậy. Chàng đẩy quyển sách qua một bên, nắm lấy tay tôi, trầm giọng
bảo: - Ức My, có lẽ em cũng biết rằng không thể ở nhờ nhà người mãi được phải
không? Vì vậy việc thi vào Đại Học với người khác thì không quan trọng, nhưng với
em thì ngược lại, em phải thành công chớ không thể thất bại. Tiếng nói của
chàng thành khẩn lo lắng, khiến tôi cảm động. Cúi đầu tự hổ thẹn, xác mẹ chết
chưa lạnh, ơn của giáo sư La Nghị lại như núi thì tôi không có quyền thi rớt!
Ngước nhìn lên, lệ đọng quanh mi. Trung Đan xiết chặt tay tôi, chàng dùng lời lẽ
thật ôn hòa: - Ức My, cho anh xin lỗi. Tôi gạt vội nước mắt nhìn chàng cười: -
Không, anh không có lỗi chi cả. Rồi tôi quay sang chuyện khác: - Lúc nãy anh hỏi
em việc gì thế? Ờ có phải Đại Hội Quốc Dân Đảng lần thứ nhất không? Ngẫm nghĩ một
lúc tôi đáp - Có phải triệu tập vào năm Dân Quốc thứ mười ba tại tỉnh Quảng
Châu không anh? Trung Đan nhìn tôi rồi khép mắt lại, cười tươi và thở hắt ra: -
Ức My, em thật tuyệt vời! o0o Một buổi trưa, mọi người đều ngủ yên, tôi mở cửa,
lắng tai nghe ngóng, hành lang trống vắng không một bóng người, quay về phòng mở
ngăn tủ lấy đồi giầy trượt băng mà hôm trước tôi vừa lén mua ngoài phố. Nhè nhẹ
bước xuống lầu, ra chiếc sân ciment ngoài phòng ăn. Ngồi xuống bực thềm, mang
giầy vào chân tôi tự hứa - phải học cho biết cách trượt trước, sao cho hay cho
đẹp để Hạo Hạo ngán chơi. Đã quyết tâm, tôi cẩn thận đứng lên, nhưng bánh xe bỗng
trượt đi làm tôi ngã xuống, rồi tôi đứng lên tập lại. Mặt trời buổi trưa như
thiêu như đốt, nhưng tôi bất cần. Té xuống rồi đứng lên, may nhờ không ai trông
thấy và tôi cũng không thấy ngượng nên một lúc sau, tôi đã đi vững được một đoạn
đường. Bất cứ một trò chơi nào cũng thế, lúc bắt đầu học chính là lúc quan hệ
nhất, càng tập tôi càng thích thú, quên đi thời gian và cả mặt trời đổ lửa đã
làm ướt đẫm lưng áo. Chiếc quần dài tôi dành riêng cho việc tập trượt băng đã lấm
đầy bụi. Tay tôi sưng phù do những lần chống xuống đất. Tuy thế tôi vẫn vui
quên cả đau. Việc trượt té không phải là vô ích, vì lần lần tôi đã khám phá ra
bí quyết vận dụng chiếc bánh xe và đôi chân. Trong lúc quá vui sướng, tôi bất
thần hát to lên bài hát mà mẹ đã dạy khi tôi còn nhỏ: - Bay bay lên đi, bay như
thế này này, Khi lên cao con nhớ vươn đầu ra trước, vảnh đuôi cong lên..... Có
lẽ vì chiếc đuôi tôi đặt không đúng cách, nên khi trượt chân một cái, chiếc bàn
tọa nện ngay xuống đất đau điếng, chưa dứt cơn đau thì đã thấy một chiếc bóng đổ
dài trước mặt. Hạo Hạo đang nghểnh đầu nhìn tôi cười: - Ức My, cô đừng nên tập
bay vì dưới chân cô có bánh xe, và cô thì không có cánh, vì vậy nếu cô muốn bay
thì bay đâu chẳng thấy mà chỉ thấy đo đất mà thôi! Tôi trợn mắt nhìn hắn: - Nãy
giờ anh nhìn trộm tôi bao lâu rồi! - Bắt đầu từ lúc cô giống như kẻ trộm, len
lén xách đôi giày trượt băng chạy xuống lầu. Ối trời ơi, thì ra hắn đã thấy tất
cả rồi, từ việc té lên té xuống đến việc lẩn thẩn cả. Tôi ngượng ngùng nói: -
Thế tại sao lúc thấy tôi té, anh không đến đỡ lên mà còn đứng cười, thất đức
quá. Hắn cười lớn: - Thất đức! Ờ, cô cũng biết là tôi có bao giờ có đức hậu đâu
mà sợ thất hay không. Rồi hắn lại tiếp - Tôi đã nói rồi cô đừng mơ ước được
“bay” thì có lẽ cô sẽ trượt rất khá! Tôi cắn lấy môi, liếc nhìn hắn, lời hắn
nói cũng có lý. Hạo Hạo đưa tay cho tôi nắm lấy và kéo tôi đứng dậy. Hắn dẫn
tôi đi như dẫn một kẻ mù, miệng luôn mồm chỉ bảo: - Dùng tay mặt - Bây giờ đổi
chân trái - Rồi đổi chân mặt - Đổi chân, vận dụng bánh xe dướt gót, quay người
đi - Đúng rồi! Không sai! Tôi buông tay nhé! Hắn buông tay ra, tôi vững vàng
quay đi được một vòng. Hạo Hạo đón tôi lại và dẫn tôi về phiá ngạch cửa cho tôi
ngồi xuống. Hắn lấy chiếc khăn tay ra đặt lên gối tôi, bảo: - Chùi sạch mồ hôi
đi, hôm nay tập bấy nhiêu đủ rồi, từ rày cô nên lựa lúc chiều mát hãy tập, chớ
tập trong lúc trời nóng như thế này dễ cảm lắm đấy. Tôi cầm chiếc khăn tay của
hắn lên chùi lấy mặt. Chiếc khăn ướt và đen bẩn khiến tôi phải đỏ mặt. Hắn có vẻ
vui sướng lắm ngồi xuống cạnh tôi, tay ôm đầu, vừa mỉm cười vừa nhìn tôi. - Cô Ức
My, tôi đố cô chứ cô có biết cô đã mang đến cho nhà họ La này cái gì không? Tôi
không hiểu hắn muốn nói gì, hỏi: - Mang đến cái gì đâu? - Cô đã mang đến sự sống!
Hắn đáp. - Sự sống à? Tôi ngạc nhiên. - Vâng đúng thế, vì trước khi cô đến, nhà
họ La này chỉ là ngôi nhà chết, và khi cô đến, nó mới bắt đầu tỉnh dậy! Nụ cười
của hắn biến dần, hắn chăm chú nhìn tôi. - Cô không nhận thấy là lúc gần đây thời
gian ở nhà của tôi càng lúc càng nhiều hay sao? Tôi ngẫm nghĩ, đúng vậy. Nhưng
đôi mắt như tóe lửa của hắn khiến tôi cảm thấy bất an. Hạo Hạo nhướng mắt nói:
- Cô sợ tôi lắm sao, Ức My? Tôi chu miệng: - Tôi không sợ cái gì cả. - Nhưng
tôi biết cô sợ một thứ, đó là quỷ! Tôi cười to lên và sực nghĩ đến buổi tối bị
bà Nghị nhát. Tại sao người ta thích những chuyện bực mình như vậy. Hạo Hạo vẫn
ngẩng đầu nhìn tôi, hắn nói: - Lúc nãy tôi có nghe cô hát một bài ca rất quen
thuộc, rất gần gũi mà tôi ưa thích. Cô có thể hát lại cho tôi nghe được chăng?
Tôi bắt đầu hát, hát xong một đoạn tôi giải thích: - Bài ca này rất dài, là một
vở kịch dành riêng cho trẻ con. Phiá trước là chim mẹ đang dạy chim con bay, dặn
dò những điều cần thiết mà chim con phải chú ý đến. Hạo Hạo nhìn tôi như ra lệnh:
- Hát tiếp đi! Tôi ca tiếp: - Con đừng hối hả, đừng hoảng hốt, Hãy bay lên đi,
nhưng phải đề phòng, Chú ó, lão diều xấu xa, đáng sợ, Còn ông chim ục, còn rắn
hổ mang...
Mắt Hạo Hạo chợt sáng lên, vẻ sung sướng của hắn làm tôi đỏ mặt,
hắn ca tiếp: - Những kẻ ấy đều có thể chui vào phòng, Những kẻ ấy đều có thể
leo qua tường, Lúc nào con cũng nên ghi nhớ nằm lòng...
Tôi ngạc nhiên: - A, anh cũng biết hát nữa à? Hắn nhíu mày
nghĩ ngợi: - Hình như tôi đã biết hát bản này trong giấc mộng, có lẽ thế. Vì
cho tới bây giờ, tôi chẳng hề nghe một ai hát cả. Tôi nói: - Nhất định là anh
đã nghe ai hát rồi, vì đây không phải là bài ca ít người biết, mấy năm trước bản
này được phổ biến rộng rãi lắm. - Thế cách đây khoảng bao lâu? - Có lẽ hai, ba
chục năm rồi. Hắn trừng mắt nhìn tôi:
- Thế ai dạy cô hát bài này. - Mẹ tôi. Một khoảnh khắc im lặng
trống rỗng, đôi chân mày của hắn nhíu lại suy nghĩ rồi trở lại bình thường. Rồi
hắn vui vẻ cười nói: - Tôi đã tìm được giải đáp rồi. Cô nghĩ xem phải không, mẹ
cô và mẹ tôi hai người thương nhau như chị em ruột, thân thích nhau như thế thì
lúc tôi được ba hay bốn tuổi gì đó, chắc mẹ cô đã dạy tôi hát nên bản nhạc đối
với tôi mới quen thuộc như thế. Tôi nghi ngờ: - Nghe từ lúc ba, bốn tuổi làm
sao có thể nhớ được cho đến bây giờ. - Tôi nghĩ là có thể được, ít nhất nó cũng
có một ấn tượng trong tiềm thức. Tôi bỗng nghĩ đến lần tôi và Trung Đan bàn về
trí nhớ trong tiềm thức rồi liên tưởng đến tiềm thức của Gia Gia. Gạt bỏ những
việc trên qua một bên, tôi cúi xuống tháo chiếc giày trượt băng để qua một bên,
khi vừa tháo xong một chiếc thì tay tôi bị một bàn tay khác chụp lấy, ngẩng đầu
lên mặt tôi chạm phải đôi mắt nóng bỏng của Hạo Hạo dán chặt vào mặt tôi. Hắn
nhỏ nhẹ bảo: - Cô Ức My, cô có còn nhớ cái lý luận về phiếm Ái của tôi đã nói với
cô hay không? Tôi khẽ gật đầu. Hắn nói tiếp, đôi mắt không rời tôi: - Tôi có
cái nhìn khác biệt về đàn bà. Với tôi mỗi người đàn bà đều có những nét đáng
yêu riêng, nhưng bây giờ. Đôi mắt hắn nhìn tôi thăm dò. - Gần đây tôi thấy lý
luận của mình không vững nữa, vì mỗi người con gái có thể có một vài điểm phù hợp
với cái nhìn của mình, nhưng khi có sự xuất hiện của một người hội đủ tất cả những
điều tôi mong ước, thì những người đàn bà khác bị lu mờ ngay. Đôi mắt hắn từ chỗ
nóng bỏng biến dần qua chỗ đắm đuối. - Ức My! Cô có hiểu tôi nói gì không? Tôi
chầm chậm lắc đầu, băn khoăn:
- Tôi không hiểu gì cả! - Thế thì để tôi bảo cho cô biết. Hắn
vừa nói vừa kéo mạnh tôi, mặt đối mặt. Tôi có thể nhìn thấy hình mình trong
lòng tử đen nháy đầy vẻ hoảng hốt, băn khoăn, mê loạn. Hắn nói như thì thầm. -
Trung Đan có chỗ nào đáng yêu đâu Ức My? Hắn chẳng qua chỉ là con mọt sách, đâu
xứng với em. - Không phải thế. Tôi nói, cổ họng như thật khan - Anh không hiểu
được anh ấy, vì anh ấy có tư tưởng, nghị lực và cả lý trí. - Thế tôi không có
tư tưởng, nghị lực và lý trí sao? Tôi cảm thấy thật rối rắm: - Anh hình như
cũng có chứ! - Hình như à? Thế cô giải thích xem tại sao? - Vì tư tưởng anh quá
rộng rãi, thái độ anh đối với mọi người chung quanh lại quá phóng túng, lúc nào
cũng thích châm chọc không cần biết điều ấy đúng hay sai. Anh lại không coi gì
quan trọng kể cả cuộc sống và tình cảm, không trách nhiệm trên cả phương diện học
hành lẫn chuyện tình yêu. - Tôi có nhiều khuyết điểm đến thế sao? Hạo Hạo chớp
mắt - Đó là hình ảnh của một La Hạo Hạo trong mắt em đấy à? - Vâng, nhưng có
đúng không chứ? - Cũng đúng phần nào, nhưng - Môi hắn kề sát mặt tôi - sau khi
thành hôn, cô không được phê bình tôi một cách cẩu thả như thế nhé, bây giờ thì
được, nhưng sau này tôi sẽ là người chồng cứng rắn và độc tài. Tôi hoảng hốt:
- Anh lầm rồi, tôi không hề có ý làm vợ anh. - Tôi không lầm.
Hắn lạnh lùng nói - nhất định cô phải là vợ tôi. - Không bao giờ! - Nhất định
phải như thế. Môi hắn mơn tóc bên tai tôi:
- Sao mặt em lại nóng bừng như vậy. Sao tim em lại đập nhanh
thế? Sao em lại hoảng hốt? Ai làm em xúc động? Em sung sướng? Em sợ hãi? Bên cạnh
Trung Đan có bao giờ em có những cảm giác như thế này không? Ức My, nói cho tôi
biết đi! Tôi chống trả:
- Anh làm tôi hoảng hốt, Trung Đan mang đến cho tôi sự bình
an. - Bình an? Hạo Hạo hểnh mũi, hắn nói - Tình yêu không phải là vấn đề bình
yên. Ức My, để tôi dạy em biết thế nào là tình yêu nhé! Hạo Hạo xiết chặt khiến
tôi ngộp thở, tim tôi đập nhanh, các mạch máu như muốn vỡ tung ra. Tâm thần tôi
mê loạn, tôi chỉ còn biết mở to mắt ra nhìn hắn. Bỗng nhiên thân thể hắn bị
tách rời ra, trước khi biết chuyện gì đã xảy ra tôi nghe tiếng đấm thật to.
Nhìn ra thân hình to lớn của giáo sư La Nghị đang đứng giữa tôi và Hạo Hạo, bên
cạnh đó là gương mặt tái mét của Trung Đan. Hạo Hạo bò dậy, đưa tay sờ cằm, đôi
mắt giận dữ của hắn đang ghìm giáo sư. Những biến động xảy ra làm tôi kinh ngạc,
hoảng hốt không nói được lời nào trong sự xuất hiện bất ngờ của giáo sư La Nghị
và Trung Đan, cùng việc giáo sư đánh Hạo Hạo thẳng tay. Bên dưới cằm hạo Hạo
xanh bầm, đủ thấy giáo sư La Nghị đã đánh thẳng tay như thế nào. Hai cha con đứng
đó nghinh nhau như đôi bò rừng đang chạm sừng trước khi giao đấu. Hạo Hạo lên
tiếng: - Hừ! Tại sao ba làm thế? Tiếng hét to của giáo sư La Nghị: - Tao đã từng
cảnh cáo mày, không cho mày quấy nhiễu Ức My! Hạo Hạo nghênh mặt lên, lạnh lùng
hỏi:
- Ba cho là con không xứng với Ức My hả? Cha tưởng con và Ức
My đóng kịch đấy à? Ba lầm rồi! Đúng ra ba phải sung sướng vì có người kềm chế
được con. Với Ức My, con không có ý qua đường. Ba hiểu không? Ba không muốn có
một đứa con dâu như Ức My hay sao? Giáo sư La Nghị lặng người không thốt lên một
lời nào. Tôi cũng yên lặng, đưa mắt qua bất chợt chạm phải tia mắt lạnh lùng của
Trung Đan. Đôi mắt không mang lấy một vẻ trách móc nào cả, nhưng đầy nét đau khổ,
chua xót, xa lạ Tôi muốn giải thích, nhưng tôi bị bấn loạn. - Đồ điên khùng! Tiếng
hét của giáo sư La Nghị khiến tôi giật mình, tiếp đó một loạt tiếng chửi bới
như sấm nổ vang. - Đồ hư thối! Mày sẽ chết! Sẽ xuống địa ngục, xuống mười tám tầng
địa ngục! Đồ súc vật! Mày muốn cưới đồ quỷ nào thì cưới tao không cần biết,
nhưng nếu mày đụng tới Ức My tao đập mày gảy cẳng, đồ thối tha! Thối tha! Chửi
xong, ông nhảy chồm qua trước mặt tôi, những tiếng chửi như tạt vào mặt tôi:
- Ức My, em là đồ ngu, ngu như bò! Em cũng đáng chết, đáng chết
lắm! Hãy mở mắt ra xem con thú này có chỗ nào đáng cho em để ý hở? Sống sao
không chịu an phận cứ gây rắc rối hoài vậy. Đồ ngu! Đồ hư thối! Cả một lũ hư thối!
- Hừ! Hạo Hạo lạnh lùng cắt đứt tiếng chửi rủa của giáo sư La Nghị - Thôi ba đừng
la lối um xùm nữa, bao nhiêu đó cũng đủ chứng tỏ điều con nghĩ là sự thật. Hắn
ngưng một lúc, đoạn chậm rãi nói:
- Ba đã tự lừa dối chính ba, có phải ba cũng yêu Ức My hay
không? Câu nói cuối cùng của Hạo Hạo như một quả bom nổ tung. Tất cả mọi người
đều sững sờ không ai mở miệng được nữa, kể cả kẻ vừa châm ngòi là Hạo Hạo. Một
thứ yên lặng khó chịu, tôi thấy giáo sư La Nghị nhảy tới trước, rồi Hạo Hạo lăn
tròn trên thềm. Mồm tôi há hốc. Tôi kinh hoàng trước diễn biến này. Hạo Hạo lồm
cồm ngồi dậy, trên mặt hắn lại thêm một vết bầm xanh, mắt hắn đỏ ngầu, hắn lườm
giáo sư đoạn xông đến hai tay nắm chặt, nghiến răng, thái độ như quyết sống chết
một phen. Tôi hoảng hốt la to: - Đừng làm thế! Tôi không thể nhìn thấy cảnh hai
cha con họ đập nhau, nhất là vì tôi, vì thế, tôi nhảy vội xuống chạy về phiá
hai người. Nhưng tôi đã quên mất chiếc giày còn lại trên chân nên khi nhảy xuống,
chân trợt trên thềm, tôi bị ngã ập xuống nền xi măng, cơn đau từ chân như động
lên tim khiến tôi hét lên. Sự đau đớn như xé rách da thịt, rồi tôi nghe tiếng
chân người chạy đến, ba khuôn mặt cúi xuống nhìn tôi - Hạo Hạo, Trung Đan và
giáo sư La Nghị. Tôi cắn răng, nhắm chặt mắt. Có người đụng vào chiếc chân đau,
tôi hét to, mồ hôi ướt đẫm lưng. Tôi nghe tiếng Hạo Hạo bảo:
- Ức My bị gãy xương rồi, phải mời bác sĩ đến ngay mới được.
Rồi có người bồng tôi lên, tôi mở mắt ra thì ra là giáo sư La Nghị, đôi mắt ông
nhìn tôi không những với vẻ lo lắng không thôi mà còn pha lẫn sự xúc động hoảng
hốt. Ông bảo:
- Mau mời bác sĩ đến nhanh đi! Hạo Hạo chạy vụt đi, tôi biết
hắn đi gọi bác sĩ. Giáo sư La Nghị bế tôi vào nhà, sự đau nhức càng lúc càng
gia tăng. Từ đuôi mắt tôi có thể nhìn thấy gương mặt của Trung Đan trắng bệch
như không một giọt máu. Sự đau khổ ẩn hiện trong mắt, chàng quay người đi ra.
Phiá ngoài, ánh nắng cuối cùng trong ngày kéo dài chiếc bóng của chàng trông thật
cô đơn, thật tội nghiệp. Tim tôi đau thắt, muốn gọi chàng lại, nhưng sự đau đớn
làm tôi thốt không ra tiếng. Tôi ngất đi.
Chương 10
Chân đã được bó thạch cao. Tôi bị đọa đày như thế suốt một
tháng trời. Một kẻ lúc nào cũng thích hoạt động nay phải ngồi trên giường nhìn
những buổi bình mình tươi mát hay những buổi hoàng hôn đẹp trời, là cả một cực
hình. Đúng ra tôi phải vào nhà thương dưỡng trị nhưng giáo sư La Nghị lại nhất
định giữ tôi tại nhà. Ông nói như thế việc chăm sóc tôi sẽ dễ dàng hơn. Hơn nữa
tôi cũng sợ nằm nhà thương lắm. Mỗi ngày bác sĩ đều đến xem mạch và chích thuốc
cho tôi. Hạo Hạo thường vịn vào điều này để nhạo tôi: - Lúc này xem cô có vẻ
quý phái lắm rồi đấy! Giáo sư La Nghị cũng thường đến thăm tôi, bàn tay to lớn
đặt nhẹ lên trán thăm dò nhiệt độ. Thực ra tôi nào có phải là loại con gái yểu
điệu, yếu ớt đâu, thân thể tôi rất tráng kiện, cảm mạo phong hàn đều khó mà vật
ngã. Chỉ có lần này bị gãy xương, việc đau khổ nhất là không thể hoạt động được,
tối ngày phải ngồi ì trên giường khiến cho lòng tôi nóng nảy, tinh thần suy sụp.
Một buổi tối, giáo sư La Nghị nhìn tôi xong ông nói: - Này Ức My, tôi thấy sắc
mặt em không khỏe lắm nhé. Đoạn quay sang nhìn Trung Đan vừa bước vào phòng ông
tiếp:
Bắt đầu ngày mai tạm thời ngưng dạy để em nó nghỉ ít bữa.
Trung Đan lẳng lặng không đáp, đến lúc giáo sư La Nghị bước ra khỏi phòng,
chàng mới chầm chậm bước về phiá cửa sổ hai tay chắp sau đít, mắt mông lung
nhìn ra bầu trời bên ngoài, thái độ thật buồn thảm khiến tôi xúc động. Kể từ
ngày cha con nhà họ La gây gổ đến nay, cũng là ngày tôi bị gãy chân, thì Trung
Đan cũng bắt đầu trầm lặng, hình như chàng muốn tránh tôi, tuy vẫn đến thăm tôi
mỗi ngày, nhưng vào xong là đi ngay, tôi khó có cơ hội được ngồi riêng rẽ với
chàng, cũng như khó có dịp để nói chuyện. Tôi hiểu rằng chàng đang muốn xa lánh
tôi, lạnh nhạt với tôi. Điều này làm cho lòng tự ái của tôi bị thương tổn. Thế
nên, trước mặt chàng tôi càng tỏ ra lạnh lùng hơn, khiến cho tình cảm của chúng
tôi càng trở nên nhạt nhẽo. Thấy chàng cứ mãi nhìn màn đêm bên ngoài tôi không
chịu nỗi nữa, gọi lớn: - Anh Trung Đan! - Hử? Chàng vẫn không chịu quay lại. -
Anh có thể đến đây một chút được không? Chàng chậm rãi quay người lại, rồi
thong thả bước về phiá tôi. Đứng cạnh giường, đôi mắt chàng nhìn tôi một cách
lơ đãng, khiến tôi dằn không nổi cơn bực tức, tôi nói: - Anh Trung Đan, câu
chuyện xảy ra hôm ấy, em muốn giải thích cho anh rõ, mà anh có thể bỏ cái lối
nhìn em như thế được không? Chàng miễn cưỡng hỏi: - Anh nhìn em như thế này có
gì khác thường đâu? - Thế anh ngồi xuống được không? Chàng ngồi xuống cạnh giường,
vẫn với cái thế bị động lơ là. Tôi cố gắng đè nén cơn bực bội: - Anh Trung Đan,
anh phải cho tôi cơ hội để giải thích chứ. Hôm ấy như anh thấy, chuyện xảy ra
giữa tôi với Hạo Hạo hoàn toàn do hắn chủ động.. lúc tôi chưa rõ ất giáp gì cả.
Đôi mắt Trung Đan nhìn tôi dò xét, đôi mày hơi cau: - Có đúng vậy không hở Ức
My? Có phải hắn đã mê hoặc em không? Mê hoặc? Tôi ngẫm nghĩ hai tiếng chàng vừa
xử dụng rồi nhớ đến hình ảnh hôm đó, tôi thấy thật sự tôi có phần bị mê hoặc,
hơn thế tôi cũng không quyết liệt chống cự. Tựa lưng vào gối tôi suy nghĩ và
phân tích, và tôi thấy một sự thật không chối cãi được là Hạo Hạo đã quyến rũ
tôi, vẻ trẻ trung, đẹp trai, phóng khoáng, tình cảm...tất cả những ưu điểm đó
làm sao không cuốn hút tôi cho được? Từ trong tiềm thức, tôi băn khoăn không hiểu
tình cảm tôi và Hạo Hạo có vượt qua khỏi tình bạn bè không? Rồi lại nghĩ đến việc
lên học trượt băng, có phải là để mong mỏi được hắn khen ngợi không? Cứ thế suy
nghĩ, tôi bỗng thấy lập trường của mình bị lung lay, khiến tôi không còn can đảm
giải thích cho Trung Đan hiểu nữa. Chăm chú nhìn những đóa hoa, tôi im lặng.
Trung Đan nắm tay tôi, bàn tay còn lại của chàng nâng cằm tôi, nhìn sâu vào mắt
tôi, tôi buồn bã nhìn chàng vì không biết phải làm gì khác hơn. Chàng lắc đầu
thở dài nói: - Ức My, đúng ra anh không có quyền trách em như thế, vì em là một
nguồn sáng, kẻ nào đến gần em, đều bị em chiếu rọi, em đã thu hút người khác
trong sự ngay tình, đó không phải là cái tội. Anh hẹp hòi quá, ích kỷ quá!
Nhưng em hiểu cho anh, anh không thể làm khác được, vì trên phương diện tình cảm
anh là kẻ ích kỷ nhất, anh không muốn bất cứ một thằng đàn ông nào khác được đến
gần em, ngay cả khi nhìn bàn tay của giáo sư La Nghị đặt trên trán em, lòng anh
như bị thiêu, bị đốt...
- Anh đừng nghi ngờ mọi người như vậy. Giáo sư La Nghị chăm
sóc em như bậc cha chú chăm sóc con cái vậy mà. - Đừng bao giờ tự dối lòng
mình, Ức My. Lời nói của Hạo Hạo không phải là không có lý đâu. Em nghĩ cho kỹ
thì biết, giáo sư La Nghị có thật tình chịu chăm sóc em chăng? Ngoài bà Nghị
ra, chưa một ai được ông ta chăm sóc, kể cả Khởi Khởi là con gái ruột, thân thể
yếu đuối, nay ốm mai đau thế mà em có thấy ông ta hỏi han tiếng nào hay sờ đến
chút nào không! Ông ta chỉ biết đi mời bác sĩ đến cho thuốc uống, chích vài mũi
thuốc là xem như đã hết trách nhiệm rồi. Trái lại, em là đứa mồ côi đến nương
nhờ ở tựa, thì tại sao ông ta lại đặc biệt chăm sóc lo lắng như thế? Ức My, em
thông minh thế này mà không nhìn ra sự thật như thế nào sao? Tôi phản đối:
- Không có chuyện đó, Trung Đan. Anh cũng biết em chỉ là đứa
con gái không đẹp lại không thông minh xuất chúng, anh đừng nghĩ là ai cũng yêu
em. Không thể có chuyện như vậy được. Trung Đan ngắm tôi một lúc, chàng nói: -
Em tưởng em không đẹp à, em lầm, Ức My. Chỉ vì em chẳng nhìn thấy nét đẹp của
em cũng như em chẳng nhìn thấy sự dễ thương của chính mình. Em là cả một đời sống
hoàn hảo, đầy nét thu hút và nhiệt tình. Em giống như cánh sao trời lấp lánh, đến
nơi nào nơi đó sẽ được soi sáng theo. Tôi lắc đầu:
- Trung Đan, anh đừng phóng đại như thế, anh đừng ca tụng tôi
như vậy mà làm em không nhận ra sự thực. - Đúng vậy. Chàng nói - Anh không nên
ca tụng vẻ đẹp của em, tuy nhiên anh xin thề là những điều anh vừa nói đều là
những cảm nghĩ chân thật. Ức My, em không hiểu được em trọn vẹn, anh không bao
giờ giả dối ca tụng em, vì không có một điều giả dối nào có thể tồn tại trước mặt
em, em quá thành thật và trinh bạch lại có tư tưởng phong phú giống như một hầm
mỏ khai thác không bao giờ cạn. Rồi chàng lại thở dài. - Anh chỉ mong rằng anh
sẽ ít yêu em một tí, như thế sẽ đỡ phải đau khổ vì ghen, vì sợ mất em...Ức My,
em biết không? Hôm ấy nhìn thấy em và Hạo Hạo, anh đã muốn đánh dập mật hắn và
muốn nghiền nát cả em. Trung Đan bóp mạnh cằm khiến tôi đau nhói - Đúng ra em
phải gãy lìa cả chân mới phải, để trừng phạt tội bội tình của em. - Anh thật giống
như bà vợ đa nghi, em chẳng bao giờ bội tình cả! - Đúng, anh là người đa nghi
và anh muốn em hoàn toàn thuộc về anh, từ nụ cười, tư ngọn chân lông, từ một tư
tưởng, tất cả đều là của anh. Trung Đan bỗng ôm lấy tôi hôn vội. - Ức My, anh
không còn giận em nữa. Giọng chàng thật nhỏ nhẹ - Nếu anh chưa chiếm được quả
tim em, có lẽ là anh chưa đủ khả năng chinh phục, anh sẽ cố gắng. Rồi chàng lại
cười - Sống trên đời, anh không bao giờ chấp nhận thất bại, trên trận chiến ái
tình cũng thế, anh sẽ dùng tất cả nghị lực và bạo lực để chiếm em, rồi em sẽ thấy.
Trông dáng điệu của chàng vừa nghiến răng vừa bậm môi khiến tôi phì cười. Tôi
cười ra nước mắt, bản tính cứng rắn và kiên nghị của chàng với sự nồng nhiệt
kia đã làm tôi mềm lòng. Đưa tay vuốt lấy lưng bàn tay của chàng, tôi nói: -
Anh đã có những điều anh muốn, thế còn chưa đủ sao? Trung Đan nhìn tôi dò xét:
- Có thật thế chăng? Tôi gật đầu, chàng vội ôm lấy tôi, đôi môi nóng bỏng ghì
chặt, chúng tôi ngã lăn trên giường khiến cho chiếc chân tôi đau nhói. Tôi khẽ
kêu, chàng vội nhỏm dậy, sửa chân tôi ngay ngắn rồi nhìn tôi say đắm, và mỉm cười.
Tôi cũng cười theo. Trong mắt chàng hình như có nước mắt, mắt tôi cũng thế,
chàng ngồi xuống êm ái nắm lấy tay tôi nói: - Đây là tình yêu, phải không Ức
My? Sống đã hai mươi lăm năm, bây giờ anh mới biết thế nào là ái tình. Có nụ cười,
có nước mắt, có ngọt mật lẫn chua xót, có đau khổ lẫn vui tươi. Trận gió đầu
thu lướt qua bên song cửa, chiếc lá vàng đầu tiên lọt qua song, rơi ngay trên
bàn của tôi. o0o Buổi sáng, Gia Gia tung tăng bước vào phòng thay những cánh
hoa úa bằng những hoa cúc mới hái. Chân tôi chưa lành hẳn, tôi vẫn nằm trên giường.
Tôi giả vờ ngủ để nhìn trộm Gia Gia. Bà ta lẩn quẩn một lúc, rồi sung sướng như
trẻ thơ khi phát giác ra chú Tiểu Ba đang cuộn tròn trên ghế. Bà ngồi xuống tựa
cằm vào cạnh ghế và lầm thầm với Tiểu Ba. Chú mèo đứng dậy, ểnh cao lưng “Meo”
như chào mừng Gia Gia. Gia Gia như vui sướng lắm cũng nhún đôi vai lên và giả lại
tiếng kêu “Meo!“ khiến tôi không nhịn cười được. Gia Gia đứng dậy, bước đến cạnh
giường cúi xuống nhìn, tôi giả vờ nhắm mắt lại nhưng vẫn không quên theo dõi bà
qua khe mắt. Nét mặt nhăn nhúm vẫn còn mang nụ cười khờ khạo. Bà ngắt một đóa
cúc vàng cài lên gối, rồi nhè nhẹ kéo mền đắp cho tôi như mẹ hiền chăm sóc con
thơ, như một đầy tớ trung thành chăm sóc chủ. Sau đó bà cười mãn nguyện rồi
tung tăng bước ra khỏi phòng, khép cửa lại. Tôi mở choàng mắt ra, tai vẫn còn
nghe tiếng chân bà nện ngoài hành lang và tiếng ca vọng lại khi bà xuống lầu.
Tôi lăn người qua nhìn cánh cúc vàng trên gối, cánh hoa hãy còn những giọt
sương đêm, một mùi hương thoảng nhẹ qua mũi, sự tươi mát của bông hoa khiến tôi
ngây ngất. Bỗng nhiên, cánh cửa lại lay động. Có người vào, ai vậy. Trung Đan
chăng? Tôi sửa người nằm yên rồi giả vờ nhắm mắt. Có tiếng cửa mở, rồi lại
đóng, có tiếng người bước về phiá tôi nhẹ nhàng như chú mèo. Tôi mở hé mắt
nhìn. Một chiếc bóng áo dài trắng phất phơ tiến về phiá tôi như một màn sương
khói. Lại bà Nghị! Bà ta muốn gì nữa đây? Đứng bên giường, bà cúi xuống nhìn
tôi, đôi mắt đen như hai cánh sao lấp lánh. Ánh mắt chạy dài từ khuôn mặt sang
gối, rồi đôi mày bà khẽ chau lại, bà tái mặt khi mắt chạm phải cánh hoa. Bà nhẹ
nhàng nâng cánh hoa lên, bước ra cửa sổ. Tôi không còn nhìn được nét biểu lộ
trên mặt bà, tôi cũng không còn nhìn thấy cánh hoa, rồi tôi thấy những cánh hoa
vàng nhẹ rơi từng cánh trên nền gạch và sau cùng cành, đế hoa rơi xuống tả tơi.
Bà Nghị đứng trước cửa sổ khoảng năm phút, chú mèo Tiểu Ba bỗng nhảy vụt lên
thành cửa khiến bà giựt mình nhìn Tiểu Ba với vẻ không vui. Bà lại quay sang
nhìn tôi khiến tôi không kịp giả vờ nhắm mắt nữa. Chúng tôi cứ thế nhìn nhau,
trong một lúc, cả hai như cùng kinh ngạc. Tôi thì bất mãn cho kiếp hoa còn bà
Nghị có lẽ vì giật mình trước sự thức giấc của tôi. - Bác Nghị khỏe ạ. Tôi lên
tiếng trước. Bà Nghị vẫn nhìn tôi không đáp. Tôi lại tiếp. - Bác không thích
hoa màu vàng sao? - Ai cho cô đấy? - Dạ, Gia Gia ạ. - Gia Gia? Bà trầm ngâm một
lúc rồi lảm nhảm. - Gia Gia đã biết những gì? Còn em có biết điều gì không? Bà
Nghị nhìn tôi - Ức My, sao em lại đến đây? Ở đây có ai quen đâu mà em dám xách
valise đến xin tá túc? Làm sao em biết được mọi người sẽ thích em mà em dám bước
vào một hoàn cảnh xa lạ như hiện tại, em...
Bà Nghị ngưng lại nhìn tôi với đôi mắt hực lửa, thái độ thật
lạ lùng. - Ức My, em đến đây để làm gì? Nói cho tôi nghe đi! Em đến đây để làm
chi? Tôi ngạc nhiên ngồi dậy nhìn bà ta. Bà Nghị muốn gì đây? Không lẽ tôi đến
đây cư ngụ ngoài lý do không nhà không cửa còn lý do nào khác nữa sao? Hay là
bà không ưa tôi? Nhìn thẳng bà Nghị tôi đáp: - Tôi không còn cha không còn mẹ
nên đến tá túc nhà bác chớ không có mục đích gì khác nữa. Bà Nghị, thế theo bác
tôi đến đây để làm gì? - Em...Bà Nghị hạ thấp giọng - Có phải ông ấy cho em đến
ở không? Ngày đầu tiên em đến tôi đã biết. Em đến đây, tất cả đều thay đổi, điều
này tôi biết, Gia Gia cũng biết. Thế em muốn gì? Em dự định sẽ làm gì? Nhưng
tôi van em, em hãy tha thứ cho nó, em hãy tha thứ cho nó! Tôi nhẹ nhàng đáp: -
Bác Nghị, bác nói chi tôi không hiểu? Bác nói nó, mà nó là ai, đàn ông hay đàn
bà? - Tôi biết em biết, phải không? Em hiểu tất cả! - Tôi không hiểu cái gì hết!
Bà Nghị nhìn tôi trân trối, một lúc bà gằn từng tiếng một: - Thế em có biết mẹ
em là ai chăng? - Mẹ tôi? Tôi kêu lên - Tôi phải biết chứ! Người là Giang Tú
Lâm đã qua đời rồi. Bác Nghị, bộ bác muốn thêu dệt thêm huyền thoại hay sao?
Không lẽ mẹ tôi lại là một người khác? - Mẹ của em là...
Bà Nghị nói chưa dứt câu thì giáo sư La Nghị đã xô cửa bước
vào, thân hình to lớn của ông đến bên tôi, đôi mắt sáng trong khuôn mặt râu tóc
rối kia nhìn thẳng vào bà Nghị, ông nói nhẹ nhưng đầy vẻ cảnh giác:
- Tôi đứng bên ngoài cửa nghe hai người nói chuyện. Nhã Trúc
em định nói gì thế? Tôi vội cướp lời, nghi ngờ nhìn ông bà Nghị: - Bác gái đang
nói về mẹ cháu. Hai bác trước kia chơi rất thân với người, vậy thưa giáo sư, mẹ
cháu là ai vậy? Giáo sư La Nghị nhìn tôi giọng gay gắt: - Mẹ em là ai à? Em có
mê không mà mẹ em là ai em cũng không biết còn hỏi tôi nữa. Đầu óc em đâu? Em
có mê không? Chỉ có trời mới hiểu được! Những câu hỏi của bà Nghị đưa ra thế mà
tôi lại lãnh đủ. Tôi trề môi: - Tôi không biết ai mới chính là người không có đầu
óc, ai là người mê sảng, vì tôi chỉ lập lại câu hỏi của một người! Giáo sư La
Nghị liếc vợ: - Nhã Trúc, em về phòng trước đi, anh muốn nói chuyện riêng với Ức
My một chút! Bà Nghị quay lưng bước đi, đến gần cửa phòng bà quay lại nhìn tôi
với đôi mắt bí mật, tôi càng không hiểu. Giáo sư Nghị khép cửa lại, xong ngồi
xuống chiếc ghế tựa ở cạnh giường. Nhìn tôi, ông hỏi: - Ức My, bây giờ em có
chuyện gì muốn nói thì nói đi! Tôi ngẩn người. Chuyện gì đâu? Rõ ràng là lúc
nãy ông nói là có việc muốn nói với tôi, thế mà bây giờ lại đảo ngược lại.
Không chịu được tôi nhăn mặt: - Tôi không có chuyện gì nói cả, mọi người đã làm
tôi rối lắm, ai cũng muốn làm ra vẻ bí mật trước mặt tôi! - Làm ra vẻ bí mật?
Giáo sư La Nghị tròn xoe mắt - Ức My, em đừng nghe Nhã Trúc nói, em không biết
là bà ấy có bệnh thần kinh hay sao? Bà ấy nói chuyện không đầu không đuôi tin
làm gì. Tật em lúc nào cũng muốn nhảy chổm vào việc kẻ khác, ưa hỏi vẫn vơ
thôi! Tôi mở to mắt: - Tôi à? Chỉ có trời mới biết! - Hừ!...Ông ta gằn một tiếng,
rồi đưa tay xoa lấy mũi, chăm chú nhìn tôi rồi bất chợt nói: - Lúc này em có vẻ
ốm đấy? - Thì cũng tại chiếc chân này! Nếu phải ngồi trên giường thêm một tháng
nữa có lẽ tôi sẽ điên mất. Giáo sư Nghị hơi lưỡng lự: - Em cần phải ăn thêm nhiều
chất bổ dưỡng. Thế em thích ăn gì? Tôi nói: - Với em, ăn như vậy là ngon lắm rồi,
đối với cuộc sống ngày trước thì đây là thiên đàng. - Lúc trước em sống kham khổ
lắm sao? - Vâng, nhất là thời kỳ mẹ bệnh. Môi mím chặt, giáo sư La Nghị nhìn
tôi dò xét, bàn tay to lớn của ông đặt lên tay tôi, sự ấm áp đi vào tim, cái
nhìn của ông bắt đầu biến đổi, tia mắt ông hiền hòa, lo lắng như lúc bà Nghị trở
bệnh khiến cho lòng tôi dịu hẳn. Ngoài vẻ hiền hòa, một chút chua xót thương hại
pha lẫn trong ấy làm tôi xúc động. Ông lắc đầu khổ sở và nhỏ nhẹ nói với tôi: -
Ức My, từ đây về sau em sẽ không còn nghèo khổ cô độc nữa, em sẽ xa rời tất cả
những khổ đau đó. Nói xong, ông xiết chặt tay tôi. Trong một khoảnh khắc, tôi
thấy mình nằm gọn trong lòng ông, đầu tôi tựa vào ngực, nơi đây nhất định phải
chứa đựng một trái tim vĩ đại mà tôi có thể nghe được tiếng đập của nọù. Chiếc
cằm đầy râu của ông cọ vào tóc tôi như chiếc bàn chải với những sợi lông cứng
làm tôi đau, nhưng tôi lại cảm thấy dễ chịu và ấm áp. Bàn tay của giáo sư vuốt
nhẹ lên lưng tôi, miệng ông lẩm bẩm: - Thật tội nghiệp cho Ức My! Thật tội nghiệp.
Tiếng lẩm bẩm của ông khiến cho tôi thấy lòng mình thật trống trải, mệt nhọc và
tôi như thiu thiu ngủ. Một thứ tình cảm lạ lùng lại đến với tôi. Tôi có cảm giác
như một kẻ lâu ngày lạc trong rừng sâu bỗng thấy nhà cửa, như một kẻ rét mướt gặp
được đống lửa to. Tứ chi buông thả, tôi thấy ngây ngất như nằm trong cơn sóng
bình yên. Mắt nhắm lại, bản năng như cột chặt tôi vào người giáo sư La Nghị,
tôi không muốn rời xa ông, vì ông đã mang đến cho tôi một cảm giác được bảo vệ
như điều ông vừa nói. Từ rày về sau em sẽ không còn nghèo khổ cô độc nữa, em sẽ
lánh xa nó! Tôi biết rằng đó không là lời nói suông, mà đó là một sự chấp thuận,
tôi sẽ được bảo vệ, được thương yêu. Thế gian này có còn ai sung sướng hơn hạnh
phúc hơn tôi nữa không? Cánh cửa bỗng bật mạnh, tôi lười biếng mở mắt ra. Từ
Trung Đan tay bưng chiếc mâm đựng thức ăn điểm tâm của tôi bước vào. Lúc gần
đây chàng dành lấy công việc của Mạc Bính, chàng giúp tôi mang thức ăn và làm
những công việc lặt vặt. Trung Đan vừa bước vào vừa vui vẻ gọi lớn: - Này cô bé
lười biếng, dậy đi chớ, mặt trời sắp đến gối của cô rồi còn gì. Tôi nhìn thấy nụ
cười trên môi chàng chợt tắt, tôi cũng nhìn thấy những thớ thịt trên mặt chàng
nhăn lại. Máu trên mặt chàng như biến dần và chiếc mâm trên tay rơi xuống rổn rảng.
Nhưng tôi vẫn nằm yên trong lòng giáo sư, không muốn bước ra khỏi nơi ấm áp
này, tôi biếng lười gọi: - Anh Trung Đan! Chiếc mâm rơi trên tủ kê đầu giường,
ve sữa lăn tròn vỡ tan. Sữa bắn tung tóe những vẫn không trắng như gương mặt của
chàng. Tôi chợt tỉnh, hoảng hốt ngồi ngay ngắn lại, gọi to: - Trung Đan! Chàng
vẫn đứng đó, giận dữ nhìn tôi như muốn nuốt sống tôi. Hồi nào tới giờ tôi chưa
hề thấy một đôi mắt giận dữ như thế. Trung Đan đã làm cho tôi hoảng hốt. Mở to
miệng nhưng tôi không biết phải nói gì, phải làm sao giải thích cho chàng biết
những cảm giác mà giáo sư La Nghị đã mang đến cho tôi. Đó không là ái tình,
không là tình cảm trai gái mà vượt lên trên, trên hết như tình tôi đối với chú
Tiểu Ba, hay tình của Gia Gia đối với hoa cỏ. Giáo sư La Nghị thương tôi, tình
thương thật tự nhiên, tinh khiết...tôi biết thế vì tôi đã cảm giác được, thu nhận
được, nhưng không thể giải thích được. - Ức My! Trung Đan bỗng mở miệng, tiếng
nói của chàng như tiếng rít của thép, vừa cứng vừa xa lạ - Em là giống người
thay lòng đổi dạ, vô tình vô nghĩa! Tôi nghe cả tiếng răng cọ sát, thấy cả những
thớ thịt trên miệng chàng rung động nhưng tôi vẫn không thốt được nên lời.
Chàng bước đến gần, bấu mạnh vai tôi. Tôi chưa kịp phản ứng thì chàng đã kéo mạnh,
bả xương vai tôi như muốn vỡ ra, chàng lắc mạnh người khiến tôi choáng váng, miệng
chàng không ngớt thóa mạ: - Nếu tôi giết được em, tôi sẽ bầm nát em ra, đốt em
cháy thành than, xay em thành bột, em là con người dễ đổi tánh, vô tình và độc
ác. Giáo sư La Nghị la lớn: - Thôi im ngay, Trung Đan! Trung Đan im bặt. Tôi thở
dài hất mái tóc ra sau, nhìn rõ giáo sư La Nghị đang nắm lấy tay Trung Đan, tia
mắt chiếu thẳng vào chàng trong lúc Trung Đan tay nắm chặt, nhìn giáo sư. Tôi sợ
chàng sẽ vung thẳng tay đấm giáo sư La Nghị, nhưng có lẽ chàng đang cố gắng dằn
bớt cơn giận, chàng nói: - Thưa giáo sư, xưa nay tôi vẫn tưởng ông là người có
nhân tánh, bây giờ mới biết sự thật ông chỉ là lão già chẳng nên nết. Nói xong,
chàng rút mạnh tay về và quay sang tôi chàng lườm mắt. - Ức My, bây giờ tôi mới
hiểu rõ được con người thật của cô. Rồi chàng bỏ đi. Nhìn theo bóng chàng vừa
khuất lòng tôi đau nhói, quên cả đau, tôi nhoài đuổi theo chàng. Tôi la to:
- Đừng làm thế, anh Trung Đan! Chân tôi vì chưa lành hẳn, nên
khi vừa chạm đất, thì cơn đau kéo đến, làm tôi ngã xoài trên người tới trước xuống
gạch, mồm tôi vẫn gọi to: - Anh Trung Đan! Anh Trung Đan! Tiếng cửa đóng xầm,
chàng bước đi thẳng không quay đầu trở lại. Tôi ngã lên giường khóc ngất, không
biết giáo sư La Nghị đã bước ra lúc nào. Mãi cho đến khi ngừng khóc ngẩng đầu
lên, thì trong phòng chỉ còn lại một mình tôi. Trên nền gạch, những cánh hoa bị
gió thu thổi bạt đi. Chiếc mền một phần bị rơi xuống đất thấm ướt cả sữa. Ngẩng
đầu lên nhìn bức hình chụp chung cả gia đình, đôi mắt mẹ như đang nhìn tôi, tôi
lẩm bẩm: - Mẹ ơi! Mẹ đã sắp đặt con một đời sống lạ lùng như vầy sao mẹ?
Chương 11
Đã 3 ngày qua, Trung Đan không bước vào phòng tôi. Trong suốt
3 ngày đó tôi không biết phải sống ra sao. Buổi sáng, mở to mắt mong chờ cánh cửa
lay động. Khi cánh cửa xịch mở, tim tôi đập nhanh chờ đợi, nhưng lúc nào cũng
như lúc nào, chỉ thấy Gia Gia ôm những nhánh cúc bước vào! Không biết từ bao giờ
Gia Gia đã phụ giúp tôi thay hoa và nuôi chú mèo Tiểu Ba. Bà đã dành lấy công
tác này và nhất định không để cho Mạc Bính chạm đến. Khi Gia Gia bước ra, lại đến
Mạc Bính mang thức ăn điểm tâm vào. Nhìn chai sữa, tôi xúc động không thể uống
nổi, nước mắt rơi xuống ly hòa tan vào sữa. Mỗi lần Hạo Hạo đẩy cửa bước vào là
tôi lại tưởng Trung Đan, đến khi nhìn rõ ra, lòng tôi lại đau thắt, nước mắt lại
lưng tròng. Cho đến bây giờ, tôi mới hiểu rõ mình, hiểu một cách chính xác là
giữa hai người con trai bên cạnh, tình tôi đối với Trung Đan nặng hơn Hạo Hạo
nhiều! Nhưng tại sao chàng không vào thăm tôi, tại sao không để tôi giải thích
rành rẽ. Sao không chịu hiểu tình tôi đối với chàng nặng ra sao? Điều ấy làm
tôi thất vọng, sự giận dữ và đau khổ càng lúc càng gia tăng. Giận là giận chàng
quá cố chấp, chủ quan, giận cả sự xem thường tình tôi như thế. Buổi chiều hôm
thứ ba, Hạo Hạo bước vào phòng, hắn đến ngồi cạnh giường nhìn tôi dò xét rồi lại
nhìn tôi cười. Lúc nào cũng vậy, trông hắn vẫn ung dung và bình thản. - Này Ức
My, suốt ba ngày qua cô đã phí bao nhiêu nước mắt, bây giờ cô định đổ thêm bao
nhiêu tình cảm cho khúc gỗ vô tri ấy nữa? - Khúc gỗ. Tôi không hiểu hắn muốn
nói gì. - Là Từ Trung Đan đó. Ức My, cô hãy cho tôi biết. Hắn có chỗ nào đáng để
cô mềm lòng như vậy. Hắn chỉ biết lý thuyết đạo đức suông chỉ là con mọt sách,
đâu có chỗ nào hơn người đâu? Nói thật hắn không bằng một phần mười tôi, vì một
phần mười của tôi càng hay hơn. Tôi trề môi không đáp. - Ức My, để tôi tính cho
cô thấy nhé! Nếu yêu Từ Trung Đan nghĩa là yêu một phần mười của La Hạo Hạo,
thì nếu La Hạo Hạo yêu cô có phải là cô đã được mười thằng Từ Trung Đan yêu cô
hay không? Tôi phì cười trước lý luận gàn bướng của hắn, chưa bao giờ có một ai
lý luận gàn như vậy. Hắn có vẻ thích chí, nhìn vào mắt tôi, thao thao:
Bây giờ mới thấy cô cười. Ức My, cô ngu thật, cô thử nghĩ xem
giữa tôi với Từ Trung Đan, sống với ai vui hơn? Hắn chỉ biết lẩn quẩn trong ba
mớ lý luận chớ không biết cách làm thế nào cho cô vui vẻ. Tại sao cô không lựa
chọn? Nhiều lúc tôi thấy cô là đứa con gái thông minh nhất, nhưng trên phương
diện ái tình tôi lại thấy cô là kẻ ngu đần nhất. Tôi vẫn giữ vẻ yên lặng. -
Thôi được! Hạo Hạo nắm tay tôi, lấy vẻ thản nhiên nói:
- Tôi đã nghĩ kỹ rồi, việc thi vào Đại Học của em không còn cần
thiết nữa, vì tôi sẽ không để em làm bất cứ một việc gì. Làm vợ không cần phải
làm thêm nghề khác, không tốt. Anh sẽ để em ở nhà, yêu em, cung phụng em, em
không cần làm gì cả ngoài sự vui vẻ tự nhiên và hưởng thụ. Đó là những việc mà
không một trường đại học nào dạy được em cả. Tôi chau mày: - Cái gì? Anh nói
cái gì, tôi không hiểu gì cả. Hạo Hạo thở dài: - Trời, thế linh tính em chạy
đâu mất rồi? Ý tôi muốn nói là hè năm tới tôi ra trường, đến mùa thu chúng ta sẽ
kết hôn, kết hôn vào mùa thu được chứ. Trời không nóng cũng không lạnh...
Tôi ngắt ngang: - Hạo Hạo! Tôi không bao giờ làm vợ anh hết.
Hắn nhìn tôi dò xét một lúc đoạn khoanh tay trước ngực, chậm rãi nói: - Thế này
nhé, chúng ta hãy bàn tính cho kỹ. Tôi biết em phản đối tôi, không phải vì em
yêu Từ Trung Đan, em không hề yêu nó mà là yêu tôi! Đừng vội đính chánh, hãy
nghe tôi nói. Ngay từ đầu em đã yêu tôi, nhưng trong quả tim em đã có vết
thương đó là những áp lực mà cha tôi đã gây cho em. Ông ta không muốn tôi và em
gần nhau, vì cho rằng tôi hư hỏng. Hơn nữa em là người có tự ái cao. Cha tôi
thu nhận cho em nương tựa, khiến bên trong tâm lý em nảy sinh ra một sức đối
kháng với nhà họ La. Còn Từ Trung Đan vì có một hoàn cảnh tương tự em, nên
không tránh được sự thông cảm. Em đã lầm lẫn thứ tình yêu là tôi chớ không ai
khác. Đối với cha tôi, có lẽ vì quí em, nên sợ tôi sẽ hại đời em, vì người sớm
mang ám ảnh tôi là thằng sở khanh, mất dạy. Ức My, em đừng ngại, rồi cha sẽ từ
từ hiểu được anh...Ức My, em đẹp quá. - Anh đã lầm rôi! Tôi nói - Cha anh
thương tôi cũng như tôi thương anh. Đó chẳng qua chỉ là một thứ tình cảm bình
thường, chứ không phải là tình yêu. - Thế sao mới gọi là tình yêu? - Chẳng hạn
như tôi đối với Trung Đan, và Trung Đan đối với tôi! - Em lầm. - Không, tôi
không bao giờ lầm lẫn. - Chắc chắn như vậy. - Em cũng chắc là em không yêu tôi?
Tôi buồn bã nhìn hắn:
- Vâng, nhất định như vậy. Hạo Hạo thờ thẫn nhìn tôi, hơi thở
hắn dồn dập, ngã người về sau, nhướng mày hắn nói: - Thôi được, nếu sự thật như
vậy thì tôi không biết làm gì khác hơn. Nhưng này, Ức My, em có chắc là em
không lầm lẫn chứ? - Vâng, không bao giờ. - Thế thì tình yêu và tình bạn khác
nhau ra sao? Tôi không nhìn thẳng vào Hạo Hạo nói:
- Không có anh, tôi vẫn sống được. Nhưng nếu không có Trung
Đan...Tôi lắc đầu nước mắt đọng trên mi - Thì cuộc đời, năm tháng sẽ biến
thành...
Tôi nói không thành tiếng. - Dễ sợ thật! Hạo Hạo nâng cằm tôi
lên dùng khăn tay chậm nhẹ. Đôi mắt đen nháy của hắn, không còn mang vẻ diễu cợt
hằng ngày nữa mà hết sức tha thiết, hắn gật đầu nhè nhẹ, khẽ thở dài: - Phải
chi nước mắt này vì tôi mà đổ xuống, Ức My, tôi vẫn thấy như có điều không phải,
tôi nghĩ rằng em phải thuộc về tôi. Chúng ta giống nhau thế này, lại cùng bản
tánh, nhưng mà...À! Có lẽ tôi vẫn chưa đủ thành khẩn. Ức My, em có thể dành cho
tôi những cơ hội khác không? Tôi không muốn mình làm kẻ thua cuộc. Tôi đặt tay
vào lòng bàn tay Hạo Hạo nói:
- Hãy làm anh của tôi nhé? Hồi nào tới giờ tôi không có anh
chị em gì cả, lúc nào cũng mong mỏi có được người anh để thương yêu, bênh vực
tôi. Hạo Hạo bước xuống giường, hắn nói:
- Tôi không muốn làm anh cô. Bước ra tới cửa, hắn quay lại
nhìn tôi nói:
- Tôi đã có em gái. Tôi nhìn theo hắn bước ra khỏi phòng,
khép cửa lại. Màn đêm đang ùa vào phòng, bên ngoài trời xám bạc. Tôi bước xuống
giường tập đi lại vài bước. Thật cảm ơn thuốc thang hiện đại, càng cảm ơn giáo
sư La Nghị đã tìm cho tôi vị y sĩ giỏi. Chập chững bước tới chiếc ghế đặt bên cửa,
gió thu lành lạnh thổi nhẹ khiến tôi cảm thấy cô đơn, tiếng hát của Gia Gia từ
vườn hoa văng vẳng: - Đến như giấc mộng xuân không đợi. Đi tựa mây trời không định
nơi. Mong rằng những câu trên không phải là viết về một chuyện tình, bằng không
thì thật là đau thương. Nghĩ đến Trung Đan, Trung Đan...Đó cũng có thể là một
giấc mộng đêm xuân? Cũng có thể là đám mây trời trôi mãi. Đêm dần đến, càng lúc
trời càng khuya, không biết tôi đã ngồi ở trước song cửa bao lâu rồi, hôm nay
là ngày thứ mấy? Trung Đan có giờ dạy ở nhà nào chăng? Nếu có thì chàng sẽ về
trễ lắm. Nhìn thấy ánh đèn vẫn sáng trong phòng tôi, liệu chàng có ghé vào
không? Dầu sao đi nữa tôi vẫn phải đợi. Bốn bề yên lặng, hình như cả nhà đều ngủ
cả rồi. Tôi lắng tai nghe, tiếng côn trùng từ trong vườn hoa đang thì thầm, gió
đêm xào xạc trên ngọn cây, ngoài ra tuyệt không còn tiếng gì khác. Đứng lên
nương theo bờ tường tôi bước ra cửa, mở ra, rồi thò đầu nhìn sang phòng Trung
Đan, không một ánh điện, chứng tỏ chàng chưa về nhà. Tại sao tôi không đến
phòng chàng ngồi đợi. Nếu chàng thấy tôi lê chiếc chân đau đến để đợi chàng liệu
chàng có còn giận tôi nữa không? Làm như thế tuy có bị chạm tự ái, nhưng với
tình yêu, tự ái còn có nghĩa là gì nữa đâu? Làm thế nào đi nữa tôi cũng phải gặp
chàng, vì tôi mong mỏi phải giải thích cho chàng hiểu rõ mọi chuyện. Bản tính
tôi nói là làm. Thế là tôi bước ra khỏi phòng, khép cửa lại nương theo tường bước
về phiá phòng của Trung Đan. Vặn trái cửa, tôi bước vào định tìm ngắt điện,
nhưng tôi chạm phải một chiếc ghế, tôi vấp ngã đau điếng. Ngồi trên nền gạch,
tôi rên khe khẽ, sợ làm thức giấc những người trong nhà. Nhưng bỗng nhiên, tôi
có cảm giác tưởng như trong phòng tối đen này hình như có một cái gì? Tôi ngẩng
đầu lên thì ngay lúc ấy, một chiếc bóng phớt qua trước mặt đồng thời một mảnh vải
tơ chạm nhẹ vào mặt tôi. Vậy đây là người đàn bà! Bỗng nhiên tôi hoảng hốt,
trong phòng Trung Đan lại có người đàn bà! Một sự ngạc nhiên ngoài trí tưởng tượng,
tôi hỏi lớn: - Ai đó? Thật ra thì người con gái kia đã bước ra khỏi phòng. Cánh
cửa vẫn còn mở toang. Ngay lúc tấm áo chạm vào mặt tôi thì người con gái đã lướt
qua tôi và đi vào hành lang tối om kia rồi. Vậy thì cô ta là ai lại ở trong
phòng này một mình như vậy mà không bật đèn? Bà Nghị hay linh hồn trong khu rừng
cây? Tôi rùng mình, nghe ớn lạnh chạy dài trên sống lưng. Ngồi yên một lúc, mắt
tôi quen dần bóng tối, tôi thấy rõ mọi thứ. Sự bài trí này tôi đã quen thuộc từ
lâu và tôi tưởng rằng ngoài tôi ra không một ai vào đây nữa cả. Vịn tay vào ghế
tôi đứng lên, cài lại cửa xong tôi mới bước đến bàn học, bấm nút điện đèn bàn,
ngồi xuống ghế. Trên ghế hãy còn ấm, như vậy người con gái lúc nãy tôi gặp
không phải là quỷ, vì quỷ làm sao có hơi ấm? Như vậy cô ta là ai? Chắc chắn tám
mươi phần trăm là Khởi Khởi. Thế cô ta ở trong phòng tối om này để làm gì? Có
phải để đợi Từ Trung Đan chăng? Mặt tôi nóng bừng lên vì ghen. Tôi ngồi đấy một
lúc, bốn bề yên tịnh. Thư thả mở hộc tủ bên dưới bàn. Đôi mắt tôi như bị thu
hút bởi chiếc mề đay bằng thủy tinh hình cánh hoa, bên trên có một mảnh giấy nhỏ,
với những hàng chữ, tôi mang tấm giấy trên đến cạnh đèn: Mong em trong sáng như
thủy tinh Nhưng em đừng lạnh tựa giá băng Mong em huy hoàng như ngọc sáng.
Nhưng em đừng lạnh như đá xanh. Nét bút thật quen thuộc đối với tôi, tuy không
có chữ ký bên dưới, tôi cũng biết tác giả của những giòng chữ này, Từ Trung Đan
chứ không ai xa lạ. Hiển nhiên, chiếc mề đay này là một tặng vật nhưng có lẽ
người thu nhận kia đã đem hoàn trả lại cho chủ nhân. Ngoài chiếc mề đay ra bên
trong hộc tủ còn một bức họa - Đó là ảnh Khởi Khởi - Cặp chân mày nhỏ, đôi mắt
sáng, chiếc cằm nhọn và mái tóc óng ả phủ vai. Bức họa thật sống, thật tỉ mỉ.
Người đã đẹp mà nét vẽ còn đẹp hơn. Bên cạnh góc có chữ ký của Trung Đan bằng
Anh ngữ và ngày tháng. Bức họa đã trên một năm rồi. Lật ra phiá sau, tôi thấy
những hàng chữ: Mong rằng sẽ có một ngày, Anh sẽ vẽ đước nét cười em yêu. Mong
rằng có một ngày nào, Em không còn vẻ u sầu đơn côi. Nhẹ nhàng anh nói đôi lời,
Mừng em hạnh phúc trọn đời đẹp tươi! Bên cạnh đó, còn một hàng chữ nhỏ: “Trung
Đan chúc mừng ngày Khởi Khởi lành bệnh“. Tôi ngẩn ngơ vài phút, rồi đóng mạnh hộc
tủ lại. Bấy giờ tôi có thể đoán chắc chiếc bóng người con gái ban nãy là ai? -
Khởi Khởi - Nó đem trả lại hai món kỷ vật này để thức tỉnh kẻ thay lòng đổi dạ.
À, hay là Trung Đan theo đuổi mãi Khởi Khởi không được mới quay sang tôi? Tôi
đâu có thể nào sánh với Khởi Khởi được, vì nó đẹp, điềm đạm, quí phái và cao
quý, tôi không thể nào hơn được. Còn nếu bảo Trung Đan chỉ yêu có một mình tôi
thì e quá chủ quan. Giữa tôi và Khởi Khởi, chàng sẽ chọn tôi và bỏ rơi người đẹp
Khởi Khởi? Hay đó là sự ngộ nhận? Ngộ nhận vì không thể chinh phục được Khởi Khởi
nên chàng đã đến với tôi? Bao nhiêu ý nghĩ quay cuồng trong óc tôi. Tôi đứng dậy
ngắm mình trong gương nhỏ. Mái tóc ngắn rối bù, nước da bánh mật, đôi mắt to
nhưng không đen lắm, như Trung Đan đã từng nói, pha lẫn màu hổ phách. Đôi hàng
lông mi dày, chiếc cằm cụt. Đó là khuôn mặt của tôi, một khuôn mặt của con mèo.
Ai lại có thể thương được người con gái có khuôn mặt như thế? Tôi lẩm bẩm:
- Này Ức My, mày đừng có điên, mày tầm thường, mồ côi lại trẻ
con như thế mà mày vẫn tưởng là chàng yêu mày thật sao? Úp gương mặt xuống bàn,
tôi vừa khóc vừa bước ra, chưa kịp mở cửa thì đã nghe thấy tiếng chân người đi
ngoài hành lang. Trung Đan về rồi! Cửa xịch mở, chúng tôi chạm mặt nhau, vừa bước
vào chàng đã nắm lấy tay tôi, sung sướng lẫn ngạc nhiên: - Ức My! Chân em đã
lành rồi ư? Tôi gật đầu: - Có thể đi được rồi. - Vào đây đi em. Tôi cứng cỏi: -
Không, tôi muốn trở về phòng ngay. - Ức My! Giọng chàng thật nhỏ nhẹ - Em giận
anh đấy à? Anh đã hiểu tất cả rồi! Chàng đã biết rõ. Biết rõ gì chứ? Trung Đan
nâng mặt tôi lên chàng hỏi: - Ức My, em làm sao thế? Rồi chàng nhìn tôi dò xét,
giọng nói âu yếm hơn. - Cho em hay, may nhờ anh chưa đến nỗi hồ đồ, nên chưa dọn
khỏi nhà họ La. Chiều nay, giáo sư La Nghị đã nói chuyện với anh, tuy chỉ vài lời
nhưng tất cả đã được giải thích thỏa đáng. - Thế ông ấy nói sao? - Giáo sư nói
em thật dễ thương, dễ thương như đứa trẻ. Trong mắt ông, em không là thiếu nữ
mười chín tuổi mà chỉ là đứa bé lên ba. Ông mong ước được đứa con như em, ngoài
ra. Trung Đan bỗng ngưng nói. - Ngoài ra sao hở anh? Chàng nhìn tôi dò xét,
thong thả: - Ngoài ra giáo sư cũng nói là ông không phản đối chuyện của chúng
mình. Ý ông muốn nói chuyện tình yêu đấy và giáo sư cho rằng em với anh xứng
đôi hơn là em với Hạo Hạo. Chàng lại thở dài. - Ức My, em còn giận anh sao? Hãy
để bao nhiêu sự hiểu lầm tan ra. Ức My, anh yêu em! Tôi muốn vùng thoát cái nắm
tay của chàng. Nếu không có Khởi Khởi, có lẽ tôi đã ngã vào lòng chàng, nhưng
làm sao có thể xóa mờ sự thật là chàng từng đeo đuổi cô ta? Tôi chỉ là kẻ đến
sau. Nếu chàng chinh phục được Khởi Khởi, liệu tôi có còn được chàng chú ý tới
nữa chăng? Quay đầu lại, nước mắt đọng quanh mi, tôi giận dỗi sụt sùi bảo: -
Buông tôi ra để tôi về phòng. Nhưng chàng lại không buông mà nắm chặt hơn, nâng
cằm tôi lên chàng nhìn thẳng vào mắt: - Ức My, chuyện gì nữa đó? Tôi lắc đầu: -
Em chỉ muốn trở về phòng. - Em đang giận anh, ghét anh phải không? Ức My, đừng
nên trách anh như vậy, anh làm sao chịu được hình ảnh của em trong lòng một người
đàn ông khác. Trên phương diện tình cảm, anh công nhận là anh là người ích kỷ,
không muốn để em yêu một ai, dầu yêu chút chút. Đó chẳng qua chỉ vì ghen, em có
thể tha thứ cho anh không hở Ức My? Trên thực tế, tôi đã tha thứ sự ghen tuông
của chàng, tha thứ cả sự ngộ nhận, nhưng mà câu chuyện đã xoay chiều. Bây giờ
tôi đang ghen, lòng tự ái không cho phép tôi bỏ qua. Giật tay ra tôi không nói
một lời, bỏ đi về phiá hành lang, vừa đi vừa tựa vào tường, bước chân lại chệnh
choạng nên chẳng mấy lúc Trung Đan đã bắt kịp. - Ức My, sao em ngoan cố như vậy.
Anh đã giải thích rõ ràng như vậy mà em vẫn chưa chịu hiểu sao? Chàng giận dữ.
Tôi la nho nhỏ:
- Buông tôi ra! - Không. Tôi la lớn hơn: - Buông tôi ra! -
Không! Lần này tôi la thật lớn. Trung Đan kéo mạnh, chiếc chân đau làm tôi đứng
không vững nên ngã ập tới trước. Trong lúc tôi chưa lấy lại thăng bằng thì
Trung Đan đã ôm chầm lấy tôi, hôn mạnh lên môi tôi. Tôi cảm thấy bị làm nhục
nên chống trả, nhưng vì chàng ôm chặt quá tôi vùng vẫy không ra. Tức giận tôi
la lớn: - Anh Trung Đan, anh là đàn ông anh đừng ức hiếp tôi. - Anh ức hiếp em
à? Chàng thật ngoan cố không buông tha tôi. - Tại em cố chấp không chịu nghe ai
nói cả. Em thử nghĩ xem anh đã làm gì không phải với em đâu? - Anh về mà xem lại
hộc tủ của anh thì biết! - Về xem thì biết! - Em đi với anh, nếu có chuyện hiểu
lầm, chúng ta giải quyết ngay, chớ nếu để tình trạng này kéo dài thêm ba bốn
ngày nữa, có lẽ anh điên mất. - Tôi không đi! - Em phải đi! Tôi la lớn:
- Em không muốn đi! Một cánh cửa mở ra. La Hạo Hạo mặc áo ngủ
chạy đến đứng trước mặt chúng tôi, hắn ngáp một hơi dài, đoạn nói: - Trời ơi! Ức
My, bộ cô gặp cướp hay sao mà la lớn thế? - Hừ! Trung Đan có vẻ khó chịu - Anh
Hạo, tốt hơn anh nên trở về phòng đi, đừng xiá vô chuyện người khác. Hạo Hạo giả
vờ kinh ngạc, hắn nói:
- Ủa! Thế ra ông giáo sư, anh đang dạy Ức My môn gì đấy? Nhu
đạo à? - Tôi đã bảo anh đừng xiá vô anh có nghe không? Chuyện riêng giữa tôi và
Ức My không có liên hệ gì đến anh cả! Hạo Hạo nhún vai: - Chuyện riêng? Anh nói
chuyện gì với Ức My sao có vẻ như diễn kịch thế? Rồi hắn nhìn đồng hồ. - Bây giờ
đã mười hai giờ hai mươi lăm phút, chuyện ồn ào như vầy có thể để mai nói được
chăng? Nếu không cả nhà này sẽ bị chấn động hết đấy. Hắn ngừng lại rồi đóng kịch
hắn cúi xuống thật thấp, chìa tay ra một cách lịch sự hắn nói - Mẫn tiểu thơ,
tôi có vinh hạnh được đưa cô về phòng chăng? Có lẽ chân cô đã mỏi lắm rồi đấy.
Tôi đặt tay lên tay Hạo Hạo, nhưng đồng thời bàn tay của Trung Đan cũng đặt lên
đấy. Tình hình có vẻ khẩn trương, Hạo Hạo quay người sang đối diện với Trung
Đan, cả hai gầm gừ nhau, ngòi nổ như lẩn quẩn đâu đây. Trung Đan có vẻ giận dữ,
Hạo Hạo bất bình, nét giận hiện lên mắt, hắn gằn giọng: - Ông giáo sư, ông muốn
dạy tôi học võ nữa à? Trung Đan run giọng: - Tôi cho anh biết, tôi không thích
thấy bộ mặt đóng kịch của anh nơi đây, đừng can thiệp vào chuyện riêng của tôi
và Ức My, bằng không.. - Bằng không thì sao? Hạo Hạo khiêu khích. - Bằng không
tôi sẽ đánh gãy răng anh chứ sao? Trung Đan giận dữ hét lớn. Gương mặt chàng trắng
bệch, mắt lộ ra, tôi chưa trông thấy lần nào chàng giận đến độ như thế. Trong
khi Hạo Hạo vẫn giữ vẻ ung dung tự tại, hắn nháy mắt, chậm rãi nói: - Đâu anh
thử xem! Chuyện người khác thì tôi bỏ mặc, nhưng chuyện của Ức My tôi không thể
không can thiệp, vì Ức My là khách của gia đình này, chớ đâu là gì của anh?
Này, tôi thấy anh có vẻ hay xen vào chuyện người lắm nhé! Từ Trung Đan trừng mắt
thật lớn, hơi thở dồn dập, chàng gằn từng chữ: - Ức My là vị hôn thê của tôi. -
Hả! Hạo Hạo liếc nhìn Trung Đan một lúc đoạn quay sang tôi hỏi:
- Có đúng vậy không hở Ức My? Trung Đan cũng nhìn tôi, chàng
hối thúc: - Nói cho hắn biết đi em. Tôi nhìn người này, rồi lại nhìn người kia,
mở miệng ra mà nói không thành tiếng. Thế hùng hổ giữa hai người khiến tôi căng
thẳng, muốn tìm một phương cách để làm nguội không khí, nhưng trước cái nhìn
như hối thúc, tôi hấp tấp: - Tôi...tôi...
Trung Đan không chịu được, chàng quát: - Ức My, em làm sao thế?
Hạo Hạo cũng quát to: - Ức My em đừng sợ. Trung Đan quay lại nhìn Hạo Hạo: -
Câm mồm lại đi. Hạo Hạo cũng không vừa: - Anh câm mồm đi! “Bốp!“ Tôi nghe tiếng
đánh nhau, trước mặt tôi rối mờ không biết là ai đã đập ai, chỉ biết họ đang quần
thảo. Hoảng hốt tôi la to, các cánh cửa hai bên xịch mở. Trước hết là chiếc đầu
rối bù của giáo sư La Nghị, rồi tiếng quát tháo của ông: - Đùa giỡn gì nữa đấy,
sao ồn ào quá vậy? Chẳng mấy chốc, ông đã đứng trước mặt chúng tôi. Nhìn thấy
tôi, ông hơi ngạc nhiên. - Cũng lại là cô nữa hở Ức My? Chân cô lành rồi phải
không? Trách chi chẳng xảy ra chuyện ồn ào như vầy. Rồi quay sang hai chàng chiến
sĩ vừa ngừng tay, ông nói. - Bộ mấy người định biểu diễn võ thuật hả? Về phòng
ngay, đánh nhau không biết lựa chốn lựa giờ làm ồn cả người khác. Trung Đan lạnh
lùng nói với giáo sư La Nghị: - Thưa ông, tôi xin thưa ông rõ là kể từ ngày
mai, tôi sẽ không đảm nhận vai trò giáo sư tư gia tại đây nữa, xin ông tìm người
khác. Tôi sẽ dọn khỏi nhà này ngay ngày mai. Nói xong, chàng quay người lại muốn
bước đi, nhưng tiếng giáo sư La Nghị đã chận lại:
- Khoan! Đứng lại Trung Đan! Trung Đan đứng lại. Tiếng giáo
sư giận dữ: - Anh không dạy rồi việc thi vào đại học của Ức My sẽ ra sao? Này cậu
trẻ tuổi kia, cậu có biết trách nhiệm là gì không? Dù cậu có ngàn lý lẽ đi nữa,
nếu cậu muốn dạy là dạy, không dạy là nghỉ, Ức My mà thi rớt đại học thì tôi đập
cậu gãy cẳng nghe không? Bộ nói muốn đi là đi dễ dàng như vậy sao? Nói bậy
không hà. Tất cả mọi người về phòng ngay cho tôi! Ức My, chân đã lành rồi thì
mai bắt đầu học lại, nghe không? Trung Đan bị giáo sư mắng một hơi, chàng đứng
chịu trận cúi đầu nhìn xuống. Một lúc sau, ngẩng đầu lên chàng nói: - Giáo sư
nói thế là sao? - Tôi bảo, anh không thể rời khỏi nhà này, nghe không? Ông
quát. - Tôi nghĩ là nếu anh muốn đi thì anh là thằng điên. Trung Đan ngạc
nhiên: - Tôi là thằng điên? Chỉ có trời mới biết trong nhà này ai điên. Nói
xong chàng quay mình bỏ về phòng. Giáo sư La Nghị như sực nhớ đến tôi, ông
quát:
- Ức My, em tưởng chân em như thế là lành lặn lắm rồi sao mà
nửa đêm long rong trong nhà, em có điên không? Tôi ngẩn người ra, bây giờ lại đến
tôi bị mắng nữa, tôi lầm bầm trong miệng quay về phòng, giáo sư La Nghị không
tha, ông kêu lại: - Ức My, em lại lẩm bẩm cái gì đó? Tôi đứng lại nói lớn: -
Tôi nói nếu thần kinh tôi mà có bị mất thăng bằng thì đó là do sự truyền nhiễm
của nhà họ La này đó. La Hạo Hạo cười lớn, tiếng cười của hắn trong đêm tối khiến
cho giáo sư tức giận, ông quát: - Mày đứng đó làm gì? Có khùng có điên không mà
la như vậy. Hạo Hạo càng cười lớn, vừa cười vừa đi về phòng, giữa tiếng cười hắn
nói to:
- Ai cũng điên hết, chỉ khác với nhau ở cách điên thôi. Rồi cửa
phòng đóng lại, trước khi đóng hắn còn thòng thêm một câu: - Đây đúng là ngôi
nhà điên!
Chương 12
Đêm ấy tôi lại mất ngủ. Đầu óc tôi rối mò với những việc xảy
ra lúc nãy. Khuôn mặt của giáo sư, bà Nghị, Hạo Hạo, Khởi Khởi, Trung Đan...cứ
lần lượt ẩn hiện không thôi trong óc. Dầu mệt mỏi vô cùng tôi vẫn không tài nào
nhắm mắt. Tinh thần bất an, tình cảm bị khuấy nhiễu, tất cả lôi cuốn tôi vào
trong cơn lốc rối rắm, tôi thấy như mình bị rơi vào một gia đình đa sự. Hết
chuyện này đến chuyện khác xảy ra, những sự việc cứ như những dây gai chằng chịt
lúc nào cũng quấn quanh tôi. Lăn lộn mãi trên giường để vỗ về giấc ngủ, tôi bắt
đầu đếm số. Từ số một tôi đếm đến số một ngàn lẻ ba mươi, một ngàn lẻ ba mươi mốt,
một ngàn lẻ ba mươi hai vẫn chưa ngủ được, tôi lại đếm ngược lại: một ngàn lẻ
ba mươi, một ngàn lẻ hai mươi chín, một ngàn lẻ hai mươi tám...Khi đến đến số
tám trăm bảy mươi chín, tôi bắt đầu đếm lộn chín trăm bảy mươi tám rồi bảy trăm
tám mươi chín. Miệng vẫn lảm nhảm bảy a tám ạ..Nhưng thần trí tôi vẫn mê muội,
cơn buồn ngủ kéo đến, mí mắt nặng trĩu. Không rõ là mình đã đếm bảy trăm tám
mươi chín hay chín trăm tám mươi bảy, thì nghe có tiếng mở cửa, hình như có tiếng
người nhẹ bước vào. Tiềm thức tôi vật lộn với những con số, rồi tiếng chân bước,
hơi thở lạ, bóng người mờ ảo. Rồi một bàn tay đặt nhẹ lên tay khiến tôi hoảng hốt
bật lên, miệng vẫn đọc: - Bảy trăm tám mươi chín! Sực tỉnh, tôi nhìn ánh sáng lờ
mờ trong phòng, nhớ sực ra mình đã quên kéo màn ở cửa sổ lại. Ánh trăng rọi qua
khung kính tạo nên thứ ánh sáng mờ ảo. Trên đầu giường, bà Nghị như bóng ma
đang đứng sững nơi đấy, vì không phải là lần thứ nhất bắt gặp, nên dù có bản
năng phòng bị của tiềm thức, tôi cũng không còn kinh hãi với sự xuất hiện đột
ngột của bà nữa. Chỉ có bà Nghị vẫn còn hoảng hốt vì tiếng bảy trăm tám mươi
chín của tôi. Bà đứng đấy, trố mắt nhìn tôi. Tôi nhỏ nhẹ hỏi:
Chào bác ạ! Bác có chuyện chi không mà đến khuya như thế này?
Bà Nghị không đáp. Tôi với tay tìm ngắt điện của chiếc đèn nơi bàn ngủ, bà vội
khoát tay: - Đừng mở đèn cháu! Tôi không muốn ông nhà tôi biết tôi đang ở đây
cũng như không muốn làm phiền một ai khác. Tôi lại tắt đèn, tựa lưng vào gối, vỗ
nhẹ lên mép giường nói: - Mời bác ngồi chơi. Bác thường đến gặp con, có lẽ có
chuyện gì muốn nói với con phải không? Bà Nghị ngồi xuống, nhìn thẳng vào tôi
không nói gì cả. Nhưng trên gương mặt buồn bã với đôi mắt đẹp ảo não kia tôi biết
bà đang muốn nói một cái gì với tôi. Bà Nghị là người ít khi nào chịu biểu lộ
tình cảm của mình ra ngoài, với nét mặt hiện tại, tuy ánh sáng không được tỏ lắm
nhưng tôi vẫn phân biệt sự khác biệt với lúc bình thường, bà ấy muốn nói gì với
tôi đây? Bỗng nhiên, tôi có linh cảm là ngay từ lúc đầu gặp tôi bà ấy đã muốn
thố lộ một việc gì mà đều bị mọi người gạt ngang. Chuyện gì bí mật thế? Bí mật?
Tại sao tôi lại nghĩ đến hai chữ bí mật? Có phải chăng vì ngôi nhà này lúc nào
cũng bao trừm một vẻ lạ lùng? Hay là sự kết hợp của gia đình này quá đặc biệt?
Dầu sao đi nữa, tôi đang nôn nóng được sự giải thích của bà Nghị. Nhìn bà mãi
không chịu nói, tôi không nhịn được: - Bác Nghị, bác muốn dạy bảo con điều chi?
Bà ta lắc đầu, thở dài, rồi với một giọng điệu đau thương, bà nói: - Bác không
có điều chi dạy bảo cả, chỉ có lời muốn xin cháu. - Xin? Tôi ngạc nhiên - Bác
muốn xin cháu điều chi? Đâu có việc gì mà bác cần phải xin cháu? - Có, nhưng
cháu có sẵn sàng chấp nhận lời cầu xin của bác không chứ? Tôi nghi ngờ: - Thế
chuyện chi? - Cháu hãy tha cho nó. Lại cũng câu ấy! Tôi không hiểu gì cả. Xích
lại gần một chút, tôi nói: - Bác có thể cho cháu biết rõ một chút không? Bác bảo
cháu buông tha nhưng mà tha cho ai? Cháu chưa hề ghét hay làm hại một ai cả. Bà
Nghị nói thật thản nhiên: - Có, cháu có thể làm cho nhiều người phải đau khổ. -
Thật sao bác? Tại sao? Bác cho con biết bác muốn con tha cho ai? - Tha cho Khởi
Khởi. - Khởi Khởi ư? Tôi càng ngạc nhiên hơn - Con đã làm gì Khởi Khởi đâu mà
bác phải lo lắng như thế? Bác Nghị, bác đừng hiểu lầm, con lúc nào cũng muốn được
làm bạn của Khởi Khởi, chỉ có Khởi Khởi từ chối con. Bác Nghị, con xin thề với
bác là con không hề có một ác ý gì với chị ấy cả. Bà Nghị cắt ngang: - Có! -
Không, không bao giờ. - Cô đã chiếm đoạt Từ Trung Đan của nó! Giờ tôi mới mơ hồ
tìm được một chút giải đáp. Thì ra tất cả rắc rối là do Từ Trung Đan! Chăm chú
nhìn bà Nghị, chăm chú nhìn bóng bà trong tối, ánh mắt long lanh mặt ngước cao.
Đúng là gương mặt của một người mẹ. Thế mà tôi vẫn tưởng bà là người không tình
cảm. Tôi đã lầm, vì bà đích thực là người mẹ hoàn toàn, một người mẹ đáng yêu.
Nhưng, những điều bà vừa trách tôi có lẽ không hợp lý chút nào cả! Vì vậy, tôi
cong người lại ôm gối, nhìn bà Nghị, nhẹ nhàng đáp: - Thưa bác, cháu không hề cố
ý chiếm đoạt Từ Trung Đan, mà là cháu yêu anh ấy. Bác không trách cháu khi cháu
yêu phải không? Bà Nghị nhìn tôi, giọng nói bà như uy hiếp, như bắt buộc: - Cô
đã cố ý chiếm đoạt Trung Đan, tôi biết, vì ngay từ phút đầu cô đã biết Khởi Khởi
đã yêu hắn. Tôi thành thật: - Có lẽ, tôi cũng hiểu được phần nào Khởi Khởi yêu
Trung Đan, nhưng không phải vì thấy Khởi Khởi yêu anh ấy rồi tôi cũng yêu theo,
mà tôi chỉ yêu anh ấy vì anh ấy là Từ Trung Đan thôi. Bà Nghị nghi ngờ: - Cô có
thật tình yêu hắn không? Tôi thành thật không hổ thẹn đáp:
- Dạ thật! - Nhưng hắn có phải là người đẹp trai lắm đâu? -
Bác nghĩ là thế, nhưng thật ra đối với tôi cũng như với Khởi Khởi, anh ấy có sức
thu hút làm sao ấy. Tôi không hiểu tại sao bỗng nhiên mình lại thích biện hộ
cho Trung Đan như vậy, có lẽ vì tôi không thích một ai nói xấu chàng, tôi tiếp:
- Không phải chỉ cần hai chữ đẹp trai không là được, bác xem Hạo Hạo có cái mã
như thế, rất dễ thu hút phụ nữ, nhưng tình yêu thành thật thì không phải chỉ cần
thứ ấy không là đủ. Tôi ngần ngừ một chút - như bác trai ở nhà chẳng hạn, bản
tính nóng nảy dễ giận, chắc chắn ít có người đàn bà nào thích, thế mà đối với
bác thì lại khác, bác có thấy không? Có lẽ việc quá lẻo mép của tôi khiến bà La
Nghị hơi run rẩy? Tôi đã nói câu nào xúc phạm đến bà? Nhìn vẻ mặt bất an và
nghi ngờ của bà, tôi thấy bà ta như sợ một cái gì? Sợ tôi chăng, hay sợ một cái
gì khác? Trong khoảnh khắc, đôi môi bà Nghị khẽ rung, bà nói: - Ức My, hãy
buông cho hắn nhé! - Buông tha ai? Bản năng kháng cự làm tôi hỏi: - Tại sao? -
Vì Khởi Khởi. Bà Nghị nhỏ nhẹ nói - Nếu cô không đến đây, thì Trung Đan có thể
hoặc đã yêu Khởi Khởi rồi. Cô đến đây khiến bao nhiêu tình cảm vỡ tan. Khởi Khởi
vì không biết cách biểu lộ tình cảm nên khi nhìn bề ngoài, cô thấy nó rất dửng
dưng, lạnh lùng, nhưng thật ra nó chỉ là đứa con gái yếu đuối. Ức My, cô với Khởi
Khởi hoàn toàn khác biệt, cô cứng cỏi, phóng khoáng vui vẻ, tôi biết cô có thể
chịu đựng sự đau khổ, với Khởi Khởi thì không thể như vậy được. Lần đầu tiên
tôi mới nghe bà Nghị phân tích sự việc một cách rõ ràng như thế, cũng là lần đầu
tiên tôi thấy bà đề cập đến một vấn đề trơn tru như vậy. Bà Nghị không phải lúc
nào cũng mê loạn, bà vẫn còn đủ tâm trí và tư tưởng sáng suốt. Nhưng việc yêu cầu
của bà có đúng không? - Bác Nghị, bác ích kỷ lắm. - Vâng, tôi ích kỷ thật. Bà
Nghị thở dài - Nhưng, Ức My, bản tính cô cứng cỏi, việc mất Trung Đan sẽ không
làm cô đau đớn cho lắm. - Tại sao bác biết? Tôi hỏi ngược lại - Bác Nghị, sống
trên đời, con người có thể vứt bỏ tất cả nhưng với ái tình thì không. Nếu có một
ai có thể vì mình thì tôi nghĩ là người ấy là thần chớ không là người nữa. Bác
Nghị, bác đã đưa tôi lên cao quá sự thật tôi vẫn là người chớ không phải là thần
thánh gì cả. Bà Nghị lại run rẩy, tôi đã làm bà ấy đau buồn khổ sở sao? - Ức
My, tình yêu của cô không giống như tình yêu của Khởi Khởi với Trung Đan. Bà
Nghị nói. - Tại sao bác biết như thế? Không có một cái gì có thể đo lường được
tình yêu. Tôi như khiêu khích - Giả sử như tình yêu của Khởi Khởi với Trung Đan
có nhiều hơn của tôi đi nữa, thì đó cũng đâu phải là lý do để tôi bỏ rơi Trung
Đan được.! - Đúng vậy, nhưng nếu không có cô thì Trung Đan đã yêu Khởi Khởi rồi.
Tôi cũng nghĩ điều ấy đúng, nhưng lời nói của bà Nghị đã đánh thức cho tôi thấy
một sự thật. Tôi hiểu rõ tại sao bà nghĩ rằng bà có quyền, có tư cách bắt tôi
phải buông Trung Đan, vì tôi là con bé mồ côi ăn nhờ ở đậu nhà họ La này, tôi
không có quyền tranh giành tình yêu với cô chủ. Nếu có tranh chấp thì tôi phải
là kẻ hy sinh cho Khởi Khởi. Khởi Khởi là chủ, còn tôi hèn mọn đâu đáng kể. Như
bị tổn thương, tôi nói: - Bác Nghị, bác có hối hận vì đã cho tôi ở trong nhà
này không? Tôi ngẩng đầu lên, một niềm kiêu hãnh đau thương làm tôi cao giọng.
- Bác Nghị, tôi chỉ là con bé mồ côi được gia đình bác cho ăn nhờ ở đậu, nhưng
chẳng phải vì bác là người ơn mà tôi phải hoàn toàn tùy thuộc vào sự sắp xếp của
bác...
Bà Nghị vội cắt ngang:
- Không, cô lầm rồi, tôi không có ý chèn ép cô. - Nhưng tại
sao bác bắt tôi phải bỏ anh Từ Trung Đan? Tôi hơi lớn giọcháu thà làm thân Vi
Kính Thảo đứng trong gió lộng, hơn là trở nên loài Thố Ty Hoa yếu ớt. Bà Nghị sững
người ra đứng đấy, hình như những lời nói của tôi đã làm cho bà bị xúc động mạnh.
- Bác có thể yêu cầu một người vứt bỏ tất cả tương lai, mộng tưởng, khoái lạc
cuộc đời chăng? Trung Đan đối với tôi là tất cả những điều đó. Làm sao tôi có
thể chỉ vì ơn nghĩa, vì chén cơm mà vứt đi tất ca. ũ Nếu bác thấy là đã cho tôi
một chỗ nương tựa nên có quyền đòi hỏi như thế thì tôi xin được dọn ra khỏi nhà
này nội trong ngày mai. Tôi và Trung Đan với đôi bàn tay trắng sẽ tự gầy dựng
cuộc sống không cần nhờ vả ai cả, như thế cuộc đời của chúng tôi càng có giá trị
hơn. Bà Nghị hét lớn: - Ức My, tôi không có ý như vậy, vì Khởi Khởi thật đáng
thương, nó yếu đuối, giàu tình cảm, em hãy hiểu cho, vì tôi là mẹ. Tôi nói: -
Khởi Khởi phải tập cứng rắn một chút chớ, tôi nghĩ chị ấy sẽ làm được. Bà cũng
đừng bao giờ để chị ấy biến thành một loài Thố Ty Hoa. Bà Nghị ngạc nhiên:
- Thố Ty Hoả - Vâng, giống như loài cây ở bên rừng đó, bác có
để ý không? Nó leo trên thân cây Tòng, rễ đâm sâu vào thân, cuộc sống hoàn toàn
tùy thuộc vào đó. Bác Nghị, khi cây Tòng ngã xuống thì Thố Ty Hoa cũng chết
theo. Tôi không suy xét gì nữa, nói ngay. - Bác đã là một loại Thố Ty Hoa rồi,
không lẽ lại nỡ để Khởi Khởi biến thành dây Thố Ty Hoa thứ hai sao? Với cháu
thà làm thân Vi Kính Thảo đứng trong gió lộng, hơn là trở nên loài Thố Ty Hoa yếu
ớt. Bà Nghị sững người ra đứng đấy, hình như những lời nói của tôi đã làm cho
bà bị xúc động mạnh. Tôi thấy mình hơi quá lố đúng ra không nên nói như vậy với
bậc trưởng thượng, niềm hối hận làm tôi xấu hổ. Bà Nghị quay sang tôi, đôi mắt
bà long lanh đọng lệ. Tôi hoảng hốt không biết phải làm thế nào. Bà Nghị nói: -
Đúng vậy, nên làm loài Vi Kính Thảo hơn là làm loài Thố Ty Hoa. Nhưng Ức My, Thố
Ty Hoa có phải cũng là một trong những loài thực vật không? - Vâng ạ. - Cũng là
một sinh vật trong trời đất này? - Vâng. - Thế thì thân xác và cuộc sống của nó
cũng là do thượng đế ban cho chứ? - Vâng. - Vậy thì Thố Ty Hoa không thể không
là Thố Ty Hoa được, phải không? Tôi muốn nói nếu tạo hóa đã chỉ định rằng nó phải
là loài Thố Ty Hoa, phải sống bám vào thân thực vật khác thì nó không thể nào
cãi lại với tạo hóa rằng tôi không muốn làm loài Thố Ty Hoa, hãy để tôi làm
loài cỏ dại, phải không? Thố Ty Hoa thì lúc nào cũng là Thố Ty Hoa, cô làm sao
có thể van xin để nó trở nên một loài khác? Và sự hiện hữu của nó đâu phải là một
lỗi lầm phải không cô? Nghe cũng có lý, đầu óc tôi như bị quay cuồng với những
chữ Thố Ty Hoa, Vi Kính Thảo. Bà Nghị buồn bã thở dài, nhẹ nhàng bảo: - Đó cũng
là những điều khổ đau của chính tôi, tôi không thể nào không làm loài Thố Ty
Hoa được. Nói xong, bà chậm rãi bước ra cửa. Ánh sáng ban mai đã bắt đầu xuất
hiện. Khung kính lờ mờ trắng đục như khuôn mặt bà Nghị với đôi mắt đen lánh nước
mắt. Tôi như bị quật ngã trước sự bi thương đó thảng thốt kêu: - Bác Nghị! Bà
Nghị đứng lại, mặt đối diện với tôi, tôi chưa nói lời nào bà đã buồn bã nói: -
Thôi được rồi Ức My, tôi xin rút lại lời tôi vừa nói. Em có lý, tôi không có
quyền yêu cầu em xa Trung Đan được. Tôi đã tưởng rằng em có thể hoặc là không
yêu hắn, nhưng bây giờ tôi biết tôi đã lầm. Bà thở dài - Ở đời có nhiều việc
không thể ngờ được, em đã đến đây ngay lúc mà tình cảm giữa Trung Đan và Khởi
Khởi bước vào giai đoạn huyền diệu nhất, rồi nhẹ nhàng cướp lấy Trung Đan...
Bà Nghị ngẩng đầu lên nhìn ra ngoài khung kính màu trắng đục,
chậm rãi như tự nói với chính mình. - Ai đã an bài tất cả mọi việc ở thế gian
này? Cuộc sống tự nhiên có những luật lệ riêng của nó để phán xét tất cả những
tội lỗi, ân oán một cách công bằng chăng? Tôi không hiểu bà muốn nói gì, đôi mắt
bà vẫn thẫn thờ nhìn ra khung cửa như một tín đồ ngoan đạo chiêm ngưỡng đấng tối
cao. Lời nói như than van kia có một mãnh lực làm nát lòng người. Tôi bị mê hoặc
trong tư thế đó, chúng tôi lặng lẽ đứng nhìn nhau. Một lúc sau cánh cửa từ từ mở,
Trung Đan nhẹ bước vào, chàng đứng sững đấy. Nhìn thoáng qua, tôi hiểu rằng nãy
giờ chàng đã đứng bên ngoài khá lâu, vẫn bộ đồ ngủ với chiếc áo hở cổ, bất động
với đôi mắt say đắm nhìn tôi suốt một đêm dài không ngủ, lại bị dằn vặt vì chuyện
vừa qua, tôi như mơ mơ màng màng, ánh mắt của chàng làm tôi như mê say. Chúng
tôi vẫn nhìn nhau cho đến lúc tiếng thở dài của bà Nghị đánh thức chúng tôi. Bà
Nghị bước ra cửa và nói với Trung Đan đang đứng chắn ngang nơi ấy: - Cho tôi đi
qua. Trung Đan nhích sang bên, chàng cúi đầu thật thấp chào bà Nghị, thành khẩn
nói: - Cám ơn bác thật nhiều, bác đã giúp cho tôi hiểu mọi việc. Bà Nghị liếc
ngang chàng rồi bước ra. Trung Đan đến gần tôi, đứng cạnh giường, vẫn nhìn tôi
bằng đôi mắt say đắm. Chàng ngồi xuống, chìa tay ra nắm lấy đôi tay tôi, tôi
nghĩ là chàng sẽ ôm lấy tôi và hôn một nụ hôn thật dài. Nhưng không, chàng vẫn
bất động, như để nhìn thấu ruột gan tôi. Một lúc sau Trung Đan từ từ đưa tay
lên ôm mặt tôi. Tôi ngẩng lên nhìn chàng, chàng nhẹ nhàng bảo: - Ức My, anh
không ngờ rằng anh đã chiếm được một địa vị như thế trong tim em, anh thật là
ngu xuẩn và vô tình quá phải không em? Tội anh thật đáng đánh đòn. Tôi không
nói gì cả. Trung Đan xích lại gần ôm tôi vào lòng, cọ nhẹ cằm lên tóc tôi thủ
thỉ: - Ức My, anh thú thật, trước khi em đến đây anh có đeo đuổi Khởi Khởi, đó
là lỗi lầm của anh, cũng có thể là lỗi lầm của bao thằng con trai khác. Khởi Khởi
đẹp, quá đẹp đến rung động lòng người, nhưng chẳng bao lâu anh nhận ra sự lầm lẫn
của mình. Không phải thất vọng vì sự lạnh lùng của nàng mà là sự khác biệt về
cá tính và phong cách. Em có hiểu cho anh không hở Ức My? Anh đã xa Khởi Khởi
không phải vì sự hiện diện của em, mà là vì sự giác ngộ. Đối với em, Ức My, anh
không muốn tán tỉnh là em đẹp hay tài giỏi nhưng em quả thật là một đứa con gái
lý tưởng, một đối tượng hoàn toàn của anh. Trung Đan hít một hơi dài rồi lại
nói ; - Ức My, em hãy để cho mọi đau khổ và ngộ nhận trôi qua từ đây hai đứa
mình sẽ không còn sự quấy nhiễu tranh chấp hờn ghen và lầm lẫn. Tất cả những gì
không hay, không đẹp đều do chính chúng ta tạo nên chứ tự nhiên làm sao có. Về
sau chúng ta sẽ sáng suốt hơn không còn làm khổ nữa em nhé! Trung Đan nâng cằm
tôi lên, môi chàng trôi từ vành tai đến môi tôi rồi dừng ở đấy. Trời đã sáng, một
buổi tối không ngủ đã trôi qua. Tôi lại trở lại tung tăng trong vườn hoa, đếm
những cánh hoa cúc vàng nở, nhặt những chiếc lá vàng rơi đầy đất, hứng những
cơn gió mùa thu. Tôi vui sướng như loài hoa Phong Linh Thảo (tôi cũng không biết
Phong Linh Thảo là loài cây gì, chỉ thấy thinh thích cái tên như vậy mà thôi).
Từ vườn hoa bước qua vườn cây, qua giàn giây leo, tôi đứng lại trước cây Tòng
đang chằng chịt dây Thố Ty Hoa. Tôi ngạc nhiên vì Khởi Khởi đang ngồi đấy, hai
tay ôm gối lơ đãng nhìn tôi. Cô ta mặc chiếc áo mầu xanh nhạt với chiếc jupe
xanh đậm hơn, tóc tung tăng trong gió, giống như một đóa hoa trông thật dễ
thương - Đừng Quên Tôi. Tôi vui vẻ cười: - Ủa chị cũng ra đây làm gì thế? Cô ta
lạnh lùng: - Không làm gì cả, ngồi chơi thôi. Tôi ngồi xuống bãi cỏ bên cạnh,
duỗi dài chân ngắm Khởi Khởi. Dáng vẻ cô ta thật đẹp, thật sang, còn chân tay
tôi thì không giống ai cả. Tôi bắt chước tréo chân nhưng thấy khó chịu lại bỏ
xuống. Chống tay xuống đất, tôi ngã dài người ra, nhìn Khởi Khởi cười nói: - Chị
ngồi sao trông tự nhiên quá, tôi tập mãi không được. - Ai biết đâu! Nàng trả lời
cộc lốc, mặt nghiêm nghị làm tôi cụt hứng. Điệu này có muốn thân thiện với cô
ta cũng thật vô ích. Buông thõng tay, tôi nằm dài trên cỏ táy máy ngắt một cọng
cỏ, cẩn thận tét bỏ hai chiếc lá già ở hai bên, nhai lấy phần non bên trong,
mùi cỏ dại hòa lẫn nước bọt trôi dần vào dạ dày gây cho tôi một cảm giác sảng
khoái. Khởi Khởi vẫn ngồi cạnh, cô ta nhìn tôi lạ lùng. Để tránh khỏi phải nghe
những lời cộc lốc, tôi không nói gì mà chỉ nằm yên nhìn bầu trời xanh lơ, tâm hồn
thảnh thơi. - Họ thích chị ở điểm này đấy à? Khởi Khởi đột nhiên lên tiếng. Tôi
không hiểu cô ta muốn gì: - Gì? Chị nói gì? - Tôi nói Hạo Hạo và Trung Đan. Khởi
Khởi đưa tay chỉ tôi, đôi chân mày châu lại: - Thì ra họ thích chị như vậy đó.
Tôi ngồi dậy, lắc đầu bảo: - Tôi cũng không biết họ thích tôi chỗ nào. Nhưng nằm
như vầy, tôi cũng thấy không có gì bậy lắm. Rồi ngắt một cọng cỏ non khác tôi
trao cho Khởi Khởi. - Chị thích thử không? Nhai nhai cũng vui vui. Cô ta lách
người qua một bên như bị tôi nhát sâu, vừa lắc đầu cô ta vừa hét: - Trời ơi! Chị
từ đâu đến vậy? - Cao Hùng. - Cao Hùng? Chỗ đó đâu phải là nơi man ri mọi rợ
đâu? - Đúng vậy, ở đấy phố xá rất đẹp, có nhũng thương xá lớn nhất, có bến chài
và eo biển cùng với bao nhiêu người thân thuộc. Tôi bỗng nhớ tới bà hiệu trưởng
họ Lâm, bạn đồng nghiệp của mẹ, đến đám học trò ngây thơ dễ mến mà tôi đã lâu
không viết thơ thăm. - Bộ ở đó con gái đều ăn cỏ hết sao? Khởi Khởi hỏi. Tôi ngẩn
người ra chợt hiểu và cười to lên. Chuyện thật khó tin, cô ta tưởng việc ăn cỏ
như một phong tục địa phương! Tôi không hiểu sao đầu óc Khởi Khởi lại có thể
đơn giản như vậy. Ném cọng cỏ đi, tôi giải thích: - Nhai nhai cho vui vậy mà. Vậy
chớ lúc nhỏ chị chưa hề ăn mầm cỏ, ăn nhị hoa hồng hay cỏ me chua chua sao? Khởi
Khởi thật thà: - Mấy cái đó ăn được ư? Tôi nói: - Được chứ! Ăn cho vui miệng.
Thuở nhỏ tôi thường leo lên núi tìm mầm cỏ, nhị hoa, cỏ lá me. Đôi lúc tôi cũng
hái những tai nấm dại đem về cho mẹ nấu canh, thích lắm, lúc nhỏ chị không chơi
như thế à? Khởi Khởi đứng lên, phủi những chiếc lá rơi trên áo và lạnh lùng bảo:
- Tôi thấy cũng không có gì vui lắm. Rồi như dợm bước đi, nhưng rồi cô lại
không nhúc nhích và đứng đó nhìn tôi chăm chú, gật gật đầu: - Thì ra thế, bỗng
dưng có một đứa con gái không quen biết thích ăn cỏ non từ đâu chạy đến làm náo
loạn cả một nếp sống bình thản của một gia đình. Chị không thấy sự kiện như vậy
là lạ lùng lắm sao? Tôi không hiểu cô ta nói thế với một dụng ý gì? Khởi Khởi lại
cười, nụ cười thật nhạt nhẽo và có vẻ khinh thị: - Chị không lạ lùng, nhưng tôi
thì thấy thật lạ. Tại sao mẹ chị lại đem con đi gửi cho người bạn già lâu năm
không liên lạc? Tại sao cha tôi lại nhận chị vào nhà? Mẫn Ức My! Chị có đơn giản
như cái tên đó không? Chị là ai? Mẹ chị, cha chị là ai? Chị đến đây với mục
đích gì? Tôi đờ người, cứng miệng trước những câu hỏi hóc búa của Khởi Khởi. Đầu
óc tôi lờ mờ, nhà họ La này, tôi có phải là người không có lai lịch hay không?
Câu hỏi “Mẹ chị là ai” lần đầu tiên tôi mới nghe người ta hỏi đến. Mẹ tôi! Chẳng
lẽ người là người lạ. Không thể được. Tôi lắc đầu, dẹp bỏ cái ấn tượng mà Khởi
Khởi vừa mang đến cho tôi. - Vâng. Thái độ tôi không kém - Chị Khởi Khởi, chị
muốn đưa tôi vào con đường rối rắm phải không? Việc giản dị như vậy mà chị phân
tích một hồi là thành không giản dị chút nào cả. Chính chị, chị không hề biết
ăn một cọng cỏ chị mới chính thật là người kỳ quái. - Có thật vậy không? Hồi đó
tới giờ tôi chỉ nghe người ta nói loài trâu, bò mới ăn cỏ hoặc trong chuyện nhi
đồng có nói đến những vị thiên sứ ăn cỏ hoa và uống sương mai. Chẳng lẽ chị là
thiên sứ à? Rồi cô ta cười mỉa - Có lẽ, có lẽ chị là thiên sứ thật, nhưng chẳng
phải là loại thiên sứ bình thường mà là loại thiên sứ phục thù! Thiên sứ phục
thù! Lần đầu tiên tôi mới nghe đến danh từ kỳ quặc như vậy. Tôi phục thù. Nhưng
phục thù ai? Phải chăng, vì thất tình mà đầu óc Khởi Khởi bấn loạn? Hay cô ta
muốn làm tôi bị rối óc chơi? Khởi Khởi vuốt lại những sợi tóc bị gió thổi tung,
cô ta đi về phiá khu vườn cây, đi được vài bước, cô ta quay đầu lại nhìn tôi
nói: - Ức My, chị lầm rồi, tôi không phải là loài Thố Ty Hoa mà có thể là loài
Vi Kính Thảo. Mong rằng chị đừng tành nhẫn ăn cả đọt non của tôi nhé. Cô ta đi
mất rồi, tôi vẫn còn thẩn thờ ngồi đó. Thố Ty Hoa! Vi Kính Thảo! Vậy là đêm đó,
lúc tôi và bà Nghị nói chuyện không hẳn chỉ một mình Trung Đan nghe lén. Nhìn
bóng Khởi Khởi khuất dần trong lùm cây, đầu óc tôi rối mò, tâm hồn tôi mông
lung. Ngay trong lúc tôi thẩn thờ như thế, thì một bàn tay lạnh lẽo đặt lên vai
tôi, gương mặt đang cười khờ khạo của Gia Gia. Thở phào nhẹ nhõm, đưa tay lên
chặn lấy ngực, tôi nói hơi giận dỗi: - Gia Gia làm cái gì vậy. - Hoa tàn rồi!
Hoa tàn rồi! Đúng thế, vì hôm nay là cuối thu. Nhìn Gia Gia, thấy bà vẫn mặc
chiếc áo cánh mỏng, tôi không lấy làm lạ tại sao tay chân bà lại lạnh cóng như
thế. Không có ai chăm sóc áo quần cho bà sao? Cởi chiếc áo bông đang mặc, tôi đứng
dậy khoác lên người bà, vỗ về: - Cho Gia Gia chiếc áo này đấy, mặc đi kẻo lạnh!
Bà ngạc nhiên nhìn tôi, đưa tay nắm thân trước áo. Tôi không thể hiểu được bà
đang vui hay buồn? Chậm rãi bà quay người vừa đi vừa lập lại: - Hoa tàn rồi!
Hoa đã tàn rồi! Tôi ngẩng đầu lên, chợt bắt gặp dây Thố Ty Hoa. - Thật vậy, hoa
đã tàn rồi!
Chương 13
Sau buổi nói chuyện với Khởi Khởi, tôi thấy khoảng cách giữa
chúng tôi càng ngày càng xa. Hình như cô ta lúc nào cũng muốn xa lánh tôi, ngay
cả lúc chạm mặt nhau trên hành lang hay trong phòng ăn cũng thế, chúng tôi ít
khi nói chuyện. Vẻ lạnh nhạt của Khởi Khởi làm cho tôi mất can đảm làm thân với
cô ta. Lúc nào đôi mắt to đen cũng nhìn tôi với những tia nhìn thù nghịch làm
tôi khó chịu vô cùng. Cuộc sống càng ngày càng bận rộn. Trung Đan và việc thi
vào Đại Học, hai vấn đề lớn đó chiếm hết thời gian, tôi không còn giờ phút rãnh
rỗi nào để nghĩ đến vấn đề nát óc khác. Mỗi lần nghĩ đến 4 tiếng “Tôi và Trung
Đan” là lòng tôi ấm lại. Bây giờ, trời đã lạnh, gió đông bắt đầu thổi tung những
chiếc lá vàng. Các loài thực vật ở Đài Loan mang tiếng là “bốn mùa như xuân“ thế
mà khi đông đến, vẫn có những cành cây khô cằn. Trong rừng, lá rụng ngập đất,
Trung Đan và tôi ngồi trên lá ngắm những chiếc lá buông vèo trên không, rồi rơi
xuống, chỉ một thoáng chốc là có thể hứng đầy vạt áo. Hình ảnh thơ mộng, đẹp
như tranh kia có bút mực nào tả xiết. Có lạnh chăng? Không bao giờ, vì lòng
chúng tôi tràn đầy hơi ấm, gió đông rồi gió xuân cách nhau bao xa đâu? Có lúc,
nhìn những chiếc lá vàng rơi, tôi buột miệng ngâm câu thơ: “Vô biên tặc mộc
tiêu tiêu hạ” ( Cây ngã dài trên lối) Trung Đan sẽ tiếp nối ngay: “Bất tận như
tình cổn cổn lai. ( Tình cảm nồng ấm cuồn cuộn trong lòng ) Chàng đã sửa câu “Bất
tận trường giang cổn cổn lai” của Đỗ Phủ có nghĩa là nước trường giang cuồn cuộn
chảy cho hợp tình hợp lý với khung cảnh hiện tại. Chàng cười, tôi cười và những
chiếc lá rụng kia hình như cũng cười theo. Ngồi dưới giàn hoa, tay cầm quyển
sách giáo khoa, tôi cố tâm nuốt trôi vào óc. Trung Đan ngồi trước mặt, bận rộn
đan chiếc vương miện bằng hoa giấy. Một trò chơi trẻ con, mà chàng chú tâm như
đang sáng tác một công trình mỹ thuật. Nhìn vào vở, tôi lâm râm đọc những thành
ngữ Anh Văn với những tiếng gần giống nhau nhưng ý nghĩa cách xa ngàn trùng.
Tôi rủa thầm những kẻ đã tạo ra Anh ngữ, tại sao bày ra lắm sự rắc rối khó
khăn, ai có thể phân biệt một cách rõ ràng như những chữ in, on, of, off...cách
phát âm giống như chú mèo Tiểu Ba ấy, thật bực mình! Rốt cuộc lại thấy chỉ có
chữ ta là dễ học nhất, không cần phải rối óc như vậy. Tôi chau mày, hểnh mũi,
ngoác miệng rồi lắc đầu tức giận, sao những chữ này mãi không chịu chạy vào óc!
Không chịu hợp tác với tôi? Hình như có điều gì không đúng, Trung Đan làm sao đấy?
Tại sao lòng tôi như bất an thế này? Ngẩng đầu lên, Trung Đan đang ngồi cách
tôi chiếc bàn đá, chàng đang chăm chú nhìn tôi, và nói: - Năm mươi năm lần! Tôi
ngạc nhiên không hiểu chàng nói gì. - Anh đang thực nghiệm cảm ứng tâm linh đấy.
- Nghĩa là sao? - Anh đã thầm gọi tên em trong lòng đến lần thứ 55 mới thấy em
ngẩng đầu lên! Điên quá, phải không? Chả trách chi những tiếng Anh kia đã chẳng
chịu hợp tác với tôi. Hồn tôi đã bị chàng gọi đi mất rồi! Tôi chớp mắt, trề
môi, xong nhìn chàng cười. Trung Đan cười, cả đám gió đông len lỏi qua giàn hoa
cũng cười theo. Mùa mưa lại đến, vườn hoa suốt ngày mù mịt trong mưa. Nhiệt độ
càng ngày càng xuống thấp. Mây xám dày đặc phủ đầy trên nóc nhà, trên ngọn cây.
Mạc Bính đốt lò lửa nhỏ đặt cạnh bàn học giữa tôi và Trung Đan. Lửa ấm, tai lắng
nghe tiếng mưa rơi, tôi lẳng lặng ôn bài vở, sử lý, địa lý, quốc văn, anh văn,
đại số, hình học...
Ối dào! Nếu chẳng có những rắc rối thi với cử thì ngồi nghe
tiếng gió rì rào ca hát trên ngọn cây, tiếng mưa gõ nhẹ trên cửa kính như một
bài thơ thì tuyệt nhất trên đời. Bỗng nhiên Trung Đan gõ đầu bút chì vào lưng
tôi khiến chút nữa tôi đã quăng hết sách vào lửa. Chàng nói: - Chú ý học! Tôi hỏi:
- Bằng cách nào? - Mắt nhìn vào sách, tim để vào sách! Mắt
tôi nhìn vào sách, trên quyển sách có một khuôn mặt khó chịu đang nhìn tôi.
Chau mày dụi mắt, tôi nhìn kỹ, thì ra đó là hình lục giác. Ối trời ơi! Lại diện
tích hình lục giác! Phải chi những Sin, Cos chết quách cả đi, thì mưa tuyệt biết
chừng nào. Tôi sẽ góp nhặt từng hạt mưa để rồi dệt một tấm lưới bao trùm lấy
chàng, lấy tôi thì đẹp biết mấy. - Cô lại không chịu chú ý vào sách. Chàng nói.
Tôi khẩn khoản nhìn chàng:
- Anh, sao anh nỡ nhẫn tâm như vậy. Ngón tay của chàng trượt
từ trán xuống mũi tôi rồi buông thõng, chàng thở dài: - Ức My, anh muốn hôn em.
- Được rồi, anh hãy mang tất cả những kiến thức lên nụ hôn để em nuốt vào bụng,
không cần phải học nữa. Chàng nhìn tôi lắc đầu: - Em thật không biết mắc cở. Mặt
tôi nóng ran lên cúi đầu xuống quyển vở. Chàng bước đến nâng cằm tôi lên, môi
chàng ghì chặt môi tôi, những nụ hôn từng chiếc từng chiếc một, mỗi một nụ hôn
chàng nói: - Đây là Anh Văn, đây là quốc văn, đây là sử lý, đây là địa lý, đây
là đại số. Còn nữa, hình học, văn phạm Anh văn và môn học bổ túc. Khoan đã, đừng
động đậy môn học bổ túc nhiều gấp đôi môn học giáo khoa, bây giờ mới học có một
phần ba. Có mùi khét, rồi khói từ dưới chân bay lên, lửa cháy ở đâu vậy. Xô
chàng ra, tôi thấy chiếc jupe của mình đang bén lửa. Tôi nhảy cẫng lên, chàng nắm
tay tôi rồi dùng chiếc mền lông đập mạnh lên chỗ cháy. Lửa đã tắt, may là chưa
bị phỏng chỉ có chiếc jupe là xui xẻo. Chúng tôi đứng đối diện nhau rồi phá lên
cười. Chàng cười, tôi cười, cả cái lò lửa đang liếm mép cũng cười. Trên lãnh vực
ái tình, hạnh phúc như vô biên. Kể từ câu chuyện đêm ấy đến nay chúng tôi không
còn hờn ghen, nghi ngờ cũng không còn hành hạ nhau nữa. Mỗi một khắc, mỗi một
giây lúc nào cũng rộn rã tiếng cười. Niềm vui như hàn kín từ ly, từ tấc không
gian. Một khoảnh khắc nhìn nhau, một khoảnh khắc ngăn cách đều mang những thi vị
khác nhau. Chiếc ly hạnh phúc như tràn đầy. Ngoài việc lo lắng cho cuộc thi vào
đại học đang đè nặng trên vai, tôi thấy không còn một điều gì khác có thể làm
chiếc ly vỡ đổ. Nhưng chiếc ly quá đầy thì thế nào cũng tràn, tôi không biết
làm thế nào để chiếc ly lớn lên bằng với lương hạnh phúc trong ấy, nhiều lúc,
tôi cảm thấy mình quá đầy đủ. Tôi, một đứa con gái vô danh tiểu tốt tên Mẫn Ức
My này hình như chưa đủ tư cách để hưởng được như vậy. Chỉ mong trời xanh đừng
ghen ghét thân tôi! Mùa đông đến càng khiến cho ngôi nhà họ La rơi vào trạng
thái lạnh lùng hơn. Bà Nghị và Khởi Khởi trốn trong phòng sưởi ấm, không dời
chân ra ngoài một bước. Hạo Hạo có vẻ biến đổi lớn hơn cả, bạn bè lăng nhăng của
chàng không đến tìm nữa, điều này khiến cho giáo sư La Nghị giảm bớt được rất
nhiều công việc. Tiếng la hét, chửi mắng của ông không còn nghe thấy. Hạo Hạo ở
nhà thường hơn, nhưng cũng ít đến làm phiền tôi, chỉ đôi lúc gặp nhau, hắn hỏi
tôi: - Ức My, đến bao giờ tôi mới thấy cô giác ngộ. - Giác ngộ cái gì? Tôi
không hiểu thật tình. - Khi cô phát giác ra mình đã chọn lầm đối tượng. Lúc đó
xin đến với tôi! - Còn lâu! Tôi mỉm cười lảng đi. Hắn giữ tôi lại:
- Ức My, cô là người con gái không có trái tim, đối với mối
tình của tôi cô chẳng hề xúc động sao? Tôi đứng lại: - Anh lầm, tôi có trái
tim, nhưng chỉ có một trái độc nhất. - Mà đã cho người khác rồi, phải không? -
Vâng! Hạo Hạo buông tôi ra, gã nhún vai: - Được rồi! Điệu này chắc tôi chỉ còn
nhảy xuống sống là ổn nhất! Tôi cười lớn và quay đi về phòng: - Tôi biết anh
không đời nào làm như thế cả. Hạo Hạo khoanh tay tựa vào hành lang cau mày vừa
thở dài vừa nhìn theo dáng tôi đi. Hắn chạy theo, mở hộ cửa, rồi nghiêng người
xuống một cách rất lịch sự mời tôi bước vào. Khi tôi đã vào trong, hắn trầm giọng
nói: - Tôi ganh tị với nỗi vui sướng của cô. Tôi nhìn lại, hắn bước nhanh. Tôi
nhìn theo cho đến khi bóng hắn đã khuất. Thật lạ lùng, không lẽ hắn thật sự “bị
thương” như vậy sao? Đó đâu phải là cá tính của một người đàn ông! Rồi mai đây,
khi tìm được người bạn gái mới, tất cả mọi đau khổ sẽ được đi vào quên lãng.
Tôi bước vào trong, lập tức bỏ rơi hình dáng hắn, vì tôi còn nhiều việc để làm,
không còn tâm trí đâu để nghĩ ngợi đến hắn. Chú mèo Tiểu Ba đã dọn cạnh lò lửa
làm phòng ngủ. Bây giờ, hắn đã trở thành chú mèo khỏe mạnh, nhưng chỉ tiếc là
trong tòa nhà họ La này hình như không có lấy một chú chuột để cho hắn trổ tài.
Chỉ có một lần, hắn đã bắt được hai chú châu chấu trong nhà bếp, hắn ngậm thành
tích đến trước mặt tôi khoe khoang. Như vậy còn hơn là không bắt được con gì để
đủ chứng minh hắn không hoàn toàn là loại vô dụng. Ở đây không ai ưa thích nó.
Ông bà Nghị có vẻ không ưa nó, phải chăng vì chiếc cẳng què đã khiến cho nó
không lanh lẹ như những chú mèo khác? Đối với tôi thì trái lại, điều khiến tôi
thương nó nhất là vì nó tàn tật. Có lẽ hắn cũng biết thế nên lúc nào cũng chỉ
quanh quẩn bên tôi để được yên ổn, không bị xua đuổi hay bị đánh đập. Hạo Hạo
đã quên lời hứa cộng đồng nuôi dưỡng chú mèo con, còn Trung Đan mỗi lần nhìn thấy
nó quanh quẩn bên tôi thường ngạo tôi là nhà “Từ Thiện tí hon”. Mùa đông vừa đến
là Tiểu Ba lại nhiễm bệnh làm biếng, tối ngày quanh quẩn mãi bên lò lửa ngồi
ngáp, ngay cả việc bắt cào cào, châu chấu cũng không màng đến nữa. Mỗi lần nhìn
Tiểu Ba nằm bên cạnh hỏa lò là tôi lại liên tưởng đến lời bỡn cợt của Hạo Hạo,
không biết đến bao giờ thì râu mép của nó sẽ bị chuột gặm mất? Nhưng có một lần
sự thực xảy đến, là râu hắn bị lửa thiêu hết ba sợi. Chiều hôm ấy, vừa thức giấc
sau giấc ngủ trưa. Bên cạnh hỏa lò lẫn trên giường bóng dáng Tiểu Ba đâu cũng
không thấy (Lúc sau này Tiểu Ba đã có thói quen ngủ trên giường tôi). Không lẽ
hôm nay hắn đã bắt đầu siêng năng rồi sao? Tôi ngồi dậy khơi rộng lửa trên lò một
chút, ngáp dài một cái rồi nhìn đồng hồ, đã gần đến giờ Trung Đan dạy học về. Lật
tập lượng giác ra lại ngáp thêm một cái nữa Sin 2x bằng bao nhiêu? Cos 2x bằng
bao nhiêu? Thật nhạt nhẽo, chán ngấy. Bỗng có tiếng hét thật to, phá tan bầu
không khí yên tĩnh của cả ngôi nhà. Tôi gạt vở chạy ra cửa. Trên hành lang nhiều
người hấp tấp chạy vụt qua, giáo sư, bà Nghị và Hạo Hạo. Tiếng kêu lớn ấy phát
xuất nơi phòng của Khởi Khởi. Cửa đóng kín mà tiếng hét vẫn lanh lảnh vọng ra.
Giáo sư La Nghị tông cửa ra và tôi nhìn thấy một khung cảnh thật kinh hoàng. Tiểu
Ba! chú mèo tàn tật của tôi, không biết làm thế nào mà chạy vào phòng của Khởi
Khởi, trên mồm còn ngoạm một chú chuột vừa to vừa mập. Có lẽ vì mới lập công đầu
tiên nên nó vui lắm, nhưng tiếng hét của Khởi Khởi đã làm hắn hoảng hốt chạy loạn
cả lên, miệng vẫn ngoạm chú chuột từ nơi này sang nơi khác. Khởi Khởi hình như
đang vẽ, trên bàn còn bày biện đầy dầu sơn và khung vải. Tiểu Ba làm vỡ hết mấy
lọ dầu, sơn đỏ sơn trắng đổ tràn ra đất. Trên tay Khởi Khởi vẫn còn cầm cọ nét
mặt vừa sợ, vừa giận. Khởi Khởi cố tránh không để cho chú chuột trong miệng Tiểu
Ba đụng đến mình. Nàng vừa la vừa cầm cọ đập về phiá Tiểu Ba, khiến nó càng hoảng
hốt nhảy về phiá bức tranh, bức tranh sắp hoàn thành bị rách toạc một mảnh to
Tiểu Ba bị máng trên ấy nhưng mồm hắn vẫn không chịu nhả con chuột ra. Khởi Khởi
giận dữ, vừa giậm chân vừa ném nó với tất cả những thứ có trên tay. Nàng hét: -
Đồ mèo quỷ, mèo chết bầm! Ai nuôi nó mà không coi chừng gì hết vậy. Nhờ cánh cửa
hãy còn hé mở, chú Tiểu Ba như tìm thấy đường chạy nên đánh thoắt một cái, nhảy
ra khỏi và chạy về phiá tôi. Khởi Khởi nhìn bức tranh rách, mắt đỏ hoe, nàng chụp
cọ chạy bay về phiá phòng tôi. Tôi, giáo sư La Nghị và Hạo Hạo cũng chạy theo.
Chúng tôi tràn vào phòng khiến Tiểu Ba càng hoảng hốt. Tôi la lớn:
- Thôi đủ rồi! Mấy người đã làm nó sợ quá rồi. Khởi Khởi vẫn
luôn miệng, đồ mèo quỷ, mèo chết bầm! Thuận tay nàng ném luôn chiếc cọ về phiá
nó. Chú mèo nhảy cao về phiá bức tranh của mẹ, bỏ rơi chú chuột gần chết xuống
đất. Tôi chỉ nghe hai tiếng rổn rảng rồi khung kính trên tường đã rơi xuống đất
vỡ tung. Tiểu Ba nhảy qua cửa sổ thoát nạn ra vườn. Cơn sóng gió đến đây đã ngừng
lại. Mạc Bính đã chạy đến, cô ta nhặt xác chuột và quét những mảnh vụn kính bể
Khởi Khởi vẫn còn đứng trước cửa phòng tôi, cô ta giận dữ run giọng: - Đây là bức
tranh thành công nhất của tôi, chị đền tôi đi! Giáo sư La Nghị khoát tay nói: -
Thôi bấy nhiêu đầy đủ rồi, bỏ qua đi. Chỉ tại con mèo mà làm ùm cả lên, làm cái
trò gì thế? Hạo Hạo cười to, hắn có vẻ sung sướng lám: - Tôi đã biết trước là
chú mèo này sẽ gây sóng gió mà, thật không sai. Vui quá! Vui quá! Rồi quay sang
Khởi Khởi, hắn cười. - Đúng ra em phải thưởng cho chú mèo mới phải, vì nó giúp
em la lớn, làm vận động được gân cổ. Em khó tính, không thích thể thao như vậy
càng bể đồ nhiều chừng nào, đối với em càng tốt chứ sao! Khởi Khởi trợn mắt lườm
anh, trề môi rồi bước ra khỏi cửa. Mạc Bính đã đi ra tự bao giờ. Ra khỏi cửa,
có lẽ chưa hả giận Khởi Khởi quay sang tôi nói:
- Ức My, chị phải quăng con mèo đó đi. Nhà họ La của chúng
tôi không phải là cái phòng chứa đồ. Ngoài việc thu nhận chị, chúng tôi không
thể thu nhận thêm một con vật tàn tật nào khác nữa. Rồi cô ta bỏ đi. Những câu
nói của cô ta như những cơn sét đánh ngã tôi. Đúng vậy, nhà họ La này nào phải
là nhà kho đâu? Việc thu nhận tôi đã là nhiều quá lắm rồi, thế mà tôi vẫn không
ý thức được còn mang thêm một con vật tàn tật vào nữa. Cắn chặt môi, hai hàng lệ
nóng tràn ra mắt, trước cảnh vật như mờ hẳn, tôi chỉ còn nghe thấy tiếng quát
giận dữ của giáo sư La Nghị: - Khởi Khởi! Mày đứng lại đấy! Tiếp theo, tôi nghe
tiếng bước chân của ông chạy về phiá hàng lang và Khởi Khởi bị lôi trở lại
phòng tôi. Tôi kinh hoàng mở vội mắt, những giọt lệ làm mờ khung cảnh. Bàn tay
to lớn của giáo sư La Nghị đang nắm chặt cánh tay gầy của Khởi Khởi lôi nàng
đi. Đồng thời, miệng ông hét:
- Khởi Khởi! Mày phải xin lỗi Ức My, nhanh lên! Xin lỗi những
câu nói ban nãy, nói mau! Có lẽ Khởi Khởi bị giáo sư nắm đau, mặt nhăn nhó
nhưng nàng vẫn cắn răng không nói một lời nào. Điều này khiến giáo sư càng giận
dữ, ông giậm chân cả gian phòng muốn rung rinh, ông quát: - Khởi Khởi! Tao biểu
mày xin lỗi Ức My, mày có nghe không? Khởi Khởi bắt đầu khóc, nước mắt lăn xuống,
tiếng khóc thút thít hòa lẫn vẻ đẹp yếu đuối làm mềm lòng người. Tôi đã quên hết
mọi tủi nhục. Tôi ân hận vì chú mèo của tôi đã làm hư bức tranh, lại còn làm đổ
cả dầu sơn, làm nàng kinh hoảng, bị giáo sư la hét như thế. Lấy tay chùi nước mắt
tôi ngập ngừng nói: - Thưa giáo sư, chị ấy không có lỗi chi cả! Giáo sư ngạc
nhiên nhìn tôi, ánh mắt ông có vẻ kỳ quái làm sao. Một lúc lâu, mồm ông lại lẩm
bẩm một cách quen thuộc những điều gì không rõ. Có phải chăng ông đang mắng tôi
là đồ ngu, hay đang hậm hực vì sự cứng đầu của Khởi Khởi. Quay lưng lại, ông bỏ
đi như quên hết tất cả những rắc rối vừa qụa. Lúc ấy bà Nghị bước vào, gương mặt
bà trắng bệch như mặt Khởi Khởi, nắm tay con bà bước ra khỏi phòng tôi. Nhìn
theo hình ảnh hai mẹ con sóng bước, lòng tôi nghe tủi hổ, cô đơn, như những câu
thơ trong “Thiên luân lệ” như lướt qua đầu: Nhơn giả hữu phụ, ế ngã vô độc.
Nhân giả hữu mẫu, ế ngã độc vô. Tạm dịch: Người ta có cha, sao tôi chẳng? Người
ta có mẹ, sao tôi không? Nếu tôi có cha mẹ, thì đâu có vì chuyện nuôi con mèo
tàn tật mà khổ sở như vầy? Ngồi xuống giường, hai tay nép vào áo, tôi nghĩ ngợi
lan man. Có người đến gần, đứng trước mặt tôi. Hạo Hạo, hắn đang nhìn tôi cười,
tinh thần có vẻ sảng khoái lắm. Vuốt mái tóc ngắn của tôi, Hạo Hạo nói: - Chỉ
là một chuyện cỏn con phải không ức My? Nếu em thật sự là loài hoa Vi Kinh Thảo
thì ngay cả gió bão cũng mặc gió bão. Đây chỉ là một cơn gió nhẹ, em không những
là loài cây vững chắc mà còn là cọng cỏ vô ưu nữa kia mà! Kinh Thảo! Kinh Thảo
với Thố Ty Hoa! Điển tích này có lẽ thông dụng khắp nhà. Nhìn Hạo Hạo, nụ cười
của hắn vẫn tươi, hắn lại xoa tóc tôi: - Vui lên đi Ức My! Sung sướng là của em
cơ mà! Hắn lại bước ra, cài cửa lại cho tôi. Nhìn theo dáng hắn, lòng tôi nghe ấm
áp lại, nước mắt lại trào ra mi, tôi lẩm bẩm: - Hạo Hạo! Tôi thích anh, thích
anh thật tình! Trung Đan dạy học về là vào ngay phòng tôi trong lúc tôi đang sắp
sửa quần áo. Chiếc valise nhỏ cũ rách của tôi đặt trên bàn. Nhìn những thứ ấy,
tôi nhớ lại ngày đầu tiên mới đến chỉ có một ít quần áo thôi, bây giờ đồ đạc đã
tăng hơn gấp đôi. Phần lớn là giáo sư cho tiền mua, còn phần còn lại là Trung
Đan sắm. Bây giờ có nên mang theo tất cả không? Hay phải bỏ lại? Trung Đan bước
vào, nhìn cảnh hỗn độn trong phòng, chàng ngạc nhiên hỏi: - Ức My em làm gì đấy?
Tôi nhẹ nhàng đáp: - Tôi thu xếp đồ đạc. - Để làm gì? Ngẩng đầu lên nhìn chàng,
tôi nói: - Trở về Cao Hùng ở với bà hiệu trưởng Lâm. - Em điên à? - Không bao
giờ, vì em thấy em không thể ở đây được nữa. Trung Đan bước đến cạnh, ôm vai
tôi và xoay người tôi lại, ấn tôi xuống ghế rồi ôn tồn nói:
- Bây giờ nói cho anh biết có chuyện gì đã xảy ra đi. Tựa
lưng vào vai chàng tôi chậm rãi đem tất cả những giông tố do Tiểu Ba gây nên kể
một mạch. Chàng chăm chú nghe rồi buông thõng tôi ra, đứng dậy. Vừa đếm bước vừa
suy nghĩ, một lúc sau chàng đến trước mặt tôi hỏi thật nghiêm nghị: - Ức My, có
thật em muốn rời khỏi nơi đây không? - Vâng. Tôi đáp, thật ra trong lòng tôi
cũng không hẳn quyết định thế. - Được rồi, như vậy thì...Chàng nói - Chúng ta sẽ
cùng đi. Ở nhờ nhà người thật khó. Anh đã định sẵn là đến khi em đậu vào đại học
mình sẽ dọn vào cư xá ở, nhưng bây giờ tốt hơn là kiếm một căn nhà cho em. Còn
anh, anh sẽ ở chung với bạn bè hay vào cư xá giáo chức độc thân ở tạm. Nhưng
như vậy cũng hơi bất tiện, thí dụ như vấn đề ăn ở, giặt giũ chẳng hạn, em là
gái ở một mình như thế anh không an tâm chút nào. Còn điều em đòi về Cao Hùng
anh nhất quyết bằng mọi cách không để em đi. Chàng đặt hai tay lên vai tôi, chồm
sát mặt tôi nhỏ nhẹ:
- Dầu sao đi nữa em cũng sẽ là vợ của anh, hãy để cho anh
chăm sóc em nhé. Tôi không đáp, chàng đi thêm một vòng rồi dừng lại nói: - Em
khoan sửa soạn đồ đạc đã, để anh kiếm nhà trước rồi hãy hay. Làm cái gì cũng phải
có kế hoạch, không thể hấp tấp được, phải không? Đến trước bàn học, chàng cầm bức
tranh của mẹ lên ngắm. Tấm kính lồng ngoài đã bể, khung gỗ đã sứt. Chàng gỡ bỏ
khung đi, cuốn tròn bức tranh lại rồi mở ra xem và phê bình: - Mẹ em có thể là
một họa sĩ lắm nhé, nét vẽ mạnh hơn Khởi Khởi nhiều. Lật ra mặt sau chàng ngắm
nghía, rồi đần mặt ra nhìn tôi như vừa khám phá ra một điều gì. Một lúc lâu,
chàng dùng lời lẽ thật lạ lùng nói: - Ức My, em sanh tại đâu? Tôi ngẩn người một
lúc nói: - Em cũng không biết vì mẹ em không có nói. Hình như ở Tứ Xuyên thì phải,
sao? - Anh khám phá được một điều rất thích thú. - Thích thú? - Mẹ em có viết ở
phiá mặt sau bức tranh mấy hàng chữ em có nhìn thấy không? Tôi lắc đầu: - Bức
tranh do mẹ lồng khung, em chưa hề mở ra xem sao? Có liên hệ với nơi sinh ra em
à? Trung Đan mang bức họa đến trước mặt tôi, phiá mặt sau bức tranh núi non
hùng vĩ có nét bút bay bướm của mẹ với hai câu thơ: “Mặt trời khuất núi non che
Hàng hàng chim nhạn tung về nơi đâu? “ Bên dưới lại có hàng chữ nhỏ thật khó đọc:
“Mùa thu, năm Dân Quốc Thứ Bốn Mươi Tám, nhớ cảnh My Đàm, chuyện xưa như khói
mây, không tìm lại được”.
Tôi nhìn Trung Đan, chàng cũng nhìn tôi như đang cố nghĩ một
điều gì. Tôi tưởng tượng mình có thể nhìn thấy tư tưởng của chàng như loài ngựa
hoang đang dục dã. Ánh mắt chàng thật trang nghiêm, răng cắn chặt. Tôi gọi:
- Anh Trung Đan. Chàng gắt: - Đừng, để anh suy nghĩ. - Anh
đang nghĩ gì thế? - Một vấn đề. Chàng trả lời tôi như không trả lời gì hết, bỗng
đôi mày chàng dãn ra. - My Đàm là tên của một địa phương hình như là tên một quận
nhỏ ở tỉnh Quý Châu thì phải. - Thế anh nghĩ em sanh ở My Đàm, nên mẹ đặt cho
em cái tên Ức My ư? - Không, anh không nghĩ thế. Mẹ em có thể sinh em ở My Đàm,
nhưng cũng có thể My Đàm là một nơi mà bà ấy không thể nào quên được, chẳng hạn
như tại nơi đó bà và cha em đã gặp nhau, nên đặt cho em cái tên Ức My. Nhất định
tên em và My Đàm không thể tách rời ra được, cũng như đó là nơi mà mẹ em không
thể quên. Nhưng đó cũng chẳng phải là điều anh nghĩ, mà anh đang nghĩ đến một
chuyện khác. Tôi không nhẫn nại được nữa: - Chuyện khác là chuyện gì? Anh muốn
bày điều gì nữa đây? - Một năm về trước, trong lần phụ giúp giáo sư La Nghị sắp
dọn lại những tài liệu về địa chất, anh đã thấy một số tài liệu bị cũ rách mất
mấy trang nên anh đã lục lạo các ngăn tủ tìm thì vô tình thấy một bức hình cũ,
chụp một người đàn ông và một người đàn bà. Người đàn ông là giáo sư La Nghị,
còn người đàn bà thì không phải là bà Nghị mà là một người khác. Bên dưới bức ảnh
lại có một hàng chữ: “Chụp tại My Đàm - Quý Châu”. Tôi bực dọc:
- Thế anh nghĩ rằng người đàn bà ấy là mẹ em à? - Cũng có thể
lắm. Tôi nhìn lên tường, lên bức hình gia đình của mẹ, hỏi: - Thế người đàn bà
có giống mẹ em trong hình chăng? - Anh không dám chắc vì hình dáng của người
đàn bà ra sao thì anh đã quên mất rồi, chỉ biết rằng bức hình chụp trên 20 năm,
người đàn bà rất trẻ và giáo sư La Nghị là một thanh niên thật đẹp trai, giống
như Hạo Hạo bây giờ đấy. Tôi trầm ngâm không đáp, Trung Đan lại tiếp: - Ức My,
anh như tìm ra một ý niệm là có thể lúc xưa mẹ em là tình nhân của giáo sư La
Nghị, một mối tình sôi nổi với ông ấy, vì thế trước khi chết, người mới nghĩ đến
việc gởi em cho giáo sư nuôi dưỡng vì mẹ em biết chắc là giáo sư sẽ thương em.
- Đó chỉ là những điều anh tưởng tượng. Bản năng kháng cự khiến tôi chống đối -
vì anh không có điều gì chứng minh rằng người đàn bà ấy là mẹ em? Ngoài ra nếu
điều anh nghĩ là đúng, thì chắc chắn mẹ em sẽ không bao giờ gởi em cho giáo sư
La Nghị cả! - Tại sao? - Vì bản tính mẹ em rất cương nghị, bà sẽ không bao giờ
đem đứa con côi của mình nhờ vả người tình cũ. Nhất là, anh phải nhớ điều này,
mẹ em và bà Nghị là hai chị em bạn thân, nếu hai người yêu nhau thì nhất định
phải có sự bất hòa. Như thế làm sao người có thể cho tôi sống chung với bà Nghị?
Cũng như bà Nghị làm sao có thể đối đãi tôi thân thiện như thế? Trung Đan chậm
rãi nói: - Em tưởng bà Nghị thân thiện với em lắm à? - Tuy bà ấy không thích em
lắm, nhưng cũng chưa đến nỗi ác ý. - Thật không? Trung Đan gằn giọng - Vậy chớ
em không thấy, nhiều đêm bà ấy vào phòng em đó sao? Em không lạ lùng à? Em có
biết là trước khi em đến, bà ấy không hề đi ra ngoài vào đêm hôm như thế. - Vậy
anh thấy...Tôi cảm thấy không an lòng chút nào cả. - Anh thấy là không có việc
gì giản dị trong ngôi nhà này hết, kể cả sự hiện diện đột ngột của em. Tôi vội
cắt ngang:
- Em còn nhớ lần đầu tiên khi mới đến ở đây anh đã bảo em rồi
sẽ quen dần, điều đó chứng tỏ rằng đâu có gì bí mật ở đây đâu? - Đúng vậy, ngôi
nhà này lúc trước cỏ vẻ giản dị hơn nhưng từ ngày em đến đây thì sự việc bỗng
trở nên phức tạp. Trung Đan ngừng nói một chốc. - Anh vừa mới nghĩ ra một điều!
- Điều chi? - Đừng gấp! Hãy để anh phân tích, chứng minh một lúc! Bây giờ anh
chưa thể nói được, để anh nghĩ kỹ lại xem. Chàng bước đến cạnh bàn, mang chiếc
valise của tôi đã đóng lại đem bỏ vào trong hộc tủ, rồi lại mang đống quần áo
bày la liệt trên giường nhét vào đấy. Tôi nhỏm người lên hỏi: - Anh làm gì đấy?
- Xếp đồ đạc của em lại. Em khoan dọn đi, đợi anh làm sáng tỏ vấn đề đã. Trung
Đan cài tủ lại, xong quay sang tôi. - Em đừng lo lắng thế, được không Ức My? Tối
nay không có giờ dạy, anh mời em đi ăn cơm ở Vườn chơi trẻ em, ở đó có món thịt
nướng ngon lắm, sau đó chúng ta đi xem hát. Đi không em? Tôi chau mày thắc mắc:
- Trung Đan, anh đã khám phá ra điều gì? Chàng nắm lấy tay tôi: - Không có chuyện
gì cả, đừng nghĩ nữa em, càng nghĩ càng mệt óc. Người có tư tưởng càng giản dị
chính là người sung sướng nhất em ạ. Nắm tay nhau bước ra khỏi phòng, chúng tôi
xuống lầu. Một ngày dài bực dọc trôi qua, một buổi tối đẹp trời đang đến.
Chương 14
Một buổi chiều mây xám vần vũ trên không, mưa bụi bay lất phất.
Theo tin khí tượng trên báo cho biết, thì khí lạnh đang từ Hoa Bắc đổ xuống, áp
khí cao đang di chuyển về phiá đông nam. Cánh cửa kính ở phiá cửa sổ dù đã được
gài chặt, màn cửa đã phủ kín, nhưng cái lạnh vẫn len vào. Bếp lửa hồng được
thêm củi, ánh lửa tung tăng muốn đưa tôi vào mộng mơ. Với thời tiết như vầy, tốt
hơn hết là chui vào mền đọc tiểu thuyết, bên cạnh để thêm dĩa hạt dưa hay vài
miếng bò khô và nếu có cả người mình thích ngồi bên chuyện trò thì tuyệt nhất
trần đời. Quăng sách đi, thở dài, tôi đứng lên lấy bình trà trên chiếc ghế đặt
cạnh bên hỏa lò, bình nước chỉ còn vài giọt cặn. Ôm chiếc bình, tôi xuống nhà bếp
châm nước. Đây là một công việc mà tôi thích nhất sao với những sách vở khô
khan, chán phèo. Xuống lầu, định bước về phía nhà bếp, tôi thấy cánh cửa nhỏ
nơi phòng làm việc của giáo sư la Nghị như có một vẻ gì quyến rũ tôi. Cánh cửa
chỉ khép hờ, tôi tính toán. Hôm nay thứ 4, buổi chiều giáo sư La Nghị có giờ dạy,
ông ta không có ở nhà. Khởi Khởi nằm vùi trong phòng, bà Nghị thì khỏi phải
nói, Hạo Hạo đã đi từ lúc trưa, trước khi rời nhà hắn còn đánh vòng qua phòng
tôi hứa là sẽ giúp tôi tìm một chú mèo khác giống hệt Tiểu Ba (Tôi quên nói điều
này, là từ khi Tiểu Ba kinh hoảng nhảy ra cửa trốn đến nay, hắn được coi như đã
mất tích, việc này tôi đã tốn không biết bao nhiêu là nước mắt). Trung Đan chiều
nào cũng có giờ dạy cả. Vì thế, hình như không có ai đến thư phòng này, cửa
khép hờ, có lẽ giáo sư đã quên đóng lại khi đi. Lưỡng lự một lúc không cưỡng được
sự lôi cuốn của cánh cửa, tôi đặt bình trà lên bàn ăn và len lén bước tới. Thò
đầu vào trong thăm dò một lúc, đúng như dự đoán, suốt thư phòng trống không trừ
vẻ lạnh lẽo và ánh sáng nhợt nhạt, không có một bóng người nào trong ấy. Bước
vào, quay lại cài cửa. Đứng giữa nơi âm u lạnh lẽo như vầy tôi có một cảm giác
không yên tâm. Chung quanh là những chiếc tủ kính, bên dưới các ngăn tủ chứa đầy
những giấy tờ lộn xộn, có lẽ là bài thi của sinh viên những năm qua, cũng có thể
là những tài liệu nghiên cứu của giáo sư La Nghị. Chắc đã lâu rồi những ngăn
kéo này chưa được soạn lại, nghe thoang thoảng mùi mốc. Đi dọc theo hai bên tủ
kính, tôi bắt đầu quan sát những mẫu đá trưng bày trong tủ, bên dưới mỗi mẫu đều
có một mảnh giấy nhỏ kể tên và phân loại. Chậm rãi tôi đọc: - Thời đại nguyên cố,
Sa Thạch, Lạc Thạch, Thạch cao, Thạch anh. Kết tinh phiến viêm kỹ Vân mẫu Phiến
viêm, Thiên tượng viêm, Thạch anh viêm, Thạch mặc phiếm viên, Thạch cao việm...Phiến
Ma viêm kỷ, Phiến ma viêm, Như ánh viêm...
Ôi! Toàn là ba cái thứ đồ khô khan vô vị, trách chi Trung Đan
đã nuốt không trôi! Rồi chỉ một lúc sau là tôi mất hết mọi thích thú. Tôi bỏ
qua lục lạo các ngăn kéo. Bắt đầu từ ngăn kéo thứ nhất, nhẹ nhàng kéo ra, tiếng
ken két phá tan vẻ tĩnh mịch của căn phòng làm tôi hoảng hốt. Bản năng tạo cho
tôi cảm giác bất an, hình như có người đang nhìn trộm. Quay người nhìn bốn phiá
nhưng chỉ có sự lặng yên chết chóc của gian phòng và tiếng thở dồn dập của tôi.
Khom người xuống, nhìn vào ngăn kéo vừa mở toàn là những tài liệu cũ rích, từng
tập, từng tập được kẹp cứng, bên ngoài có ghi rõ. Cái gì mà nguyên cổ đại, thái
cổ đại, rồi cổ sinh đại, tân sinh đại. Tôi lật phớt qua, không thấy gì hay ho cả.
Đóng ngăn kéo trên lại, tôi mở cái thứ hai. Bên trong chứa đấy những tài liệu
và hình ảnh được sắp đặt ngăn nắp. Cũng là đồ vô vị, tôi lại đóng lại. Mở thêm
cái thứ ba, cũng thế. Cứ vậy tôi mở hết cái này đến cái khác theo thứ tự, càng
lúc càng thấy đồ đạc hỗn độn hơn. Sau cùng, tôi thấy một tập giấy bọc da vàng
đã cũ trên có đề “Hình ảnh linh tinh”. Tim tôi như đập nhanh, có phải trong này
có bức ảnh mà tôi muốn tìm hay không? Mở khóa niêm ra, tay run run mở, trút hết
tất cả hình ảnh trong ấy ra ngoài, tôi muốn xem từ tấm một thì một tiếng động
làm tôi giật mình. Ngẩng đầu lên, tôi điếng người buông rơi đống ảnh. Trước mặt
tôi, bà Nghị như từ dưới đất chui lên, sừng sững trước mặt. Tôi hoảng hốt không
hẳn vì sự xuất hiện đột ngột của bà ta mà còn vì thái độ và đôi mắt của bà. Bà
đứng thẳng người, bên ngoài khoác chiếc áo trắng không biết đến từ lúc nào, run
rẩy, không biết có phải vì lạnh hay vì một lý do nào khác, bà nhìn tôi với tia
mắt thật lạnh, thật kỳ quái, mà tôi không thể tả ra đây được. Đôi mắt ấy tương
phải với làn da trắng xanh, làm cho người nhìn có một cảm giác như gặp quỷ đội
mồ. Tôi rùng mình, bước lui về sau một bước, lắp bắp: - Bác...Bác...Nghị. Bà
nhìn xuyên thẳng người tôi, không tiến tới cũng không lùi, không nói, không động
đậy, giống như một xác chết dựng đứng. Tôi run rẩy, tôi sợ, vì nói thật, bà
không giống người sống nữa. Hàm răng tôi đánh lập cập, tôi giải thích: -
Bác...Bác...Nghị. Tôi không biết...bác đang...ở trong này nên...mới tự tiện bước
vô. Bà vẫn nhìn tôi. Thụt lùi về phiá cửa tôi nói: - Xin lỗi bác...
Bỗng nhiên tôi thấy sợ hãi, trong gian phòng đầy mùi mốc và
âm u, bà Nghị đã làm tôi sợ. Đôi mắt bà sâu hoắm như hai cái giếng sâu, như muốn
nuốt sống tôi. Vội xoay nắm cửa, tôi tiếp tục nói:
- Tôi mong rằng...chưa làm...phiền bác, tôi muốn trở lên lầu.
Tôi chưa kịp mở cánh cửa ra thì bà Nghị đã đến trước mặt, một bàn tay lạnh lẽo
chặn lên không để tôi mở cửa. Bàn tay thật lạnh và chỉ còn da bọc xương như bàn
tay của người chết, mắt lại đen đến dễ sợ! Tôi rùng mình biết là bà đang lên
cơn! Bà Nghị hôm nay và bà Nghị “Thố Ty Hoa” ấy hoàn toàn khác biệt! Hôm ấy bà
dịu dàng, tư tưởng sáng suốt, nhưng hôm nay chỉ giống như hình quỷ khắc trên gỗ.
Tôi run rẩy, lắp bắp: - Bác Nghị. Bác muốn gì thế? - Cô muốn gì? Bà hỏi ngược lại,
khiến tôi ngạc nhiên. Vậy bà ta đang tỉnh hay đang nổi cơn đây? Tôi trả lời giọng
vẫn còn run sợ: - Thưa bác, cháu không muốn gì cả, chỉ lật qua vậy thôi. Bàn
tay bà bắt đầu di động trên cánh tay tôi. Mặc dầu tôi mắc những hai lớp áo, tay
bà không thể chạm vào da thịt tôi nhưng tôi vẫn thấy nổi gai ốc. Rồi từ từ những
ngón tay ấy chạm nhẹ lên cổ tôi, những ngón tay lạnh, trơ xương như những chiếc
móng nhọn bấu nhẹ trên cổ. Tôi nuốt ực một cái, quay đầu lại nhìn. Đôi mắt bà
Nghị lờ đờ như người mất trí, bà ta lẩm bẩm: - Tôi không cố tình. Chị đừng nên
cho nó đến đây. Thật tàn nhẫn quá. Cô ở đây, cô ở đây để dò xét tôi đấy à? Tôi
không thể, không thể chịu đựng được nữa. Thật tàn nhẫn quá!...Tôi không cố tình
như thế. Tôi vươn cổ ra, thử đưa tay gỡ những chiếc móng nhọn, nhưng bà ta bấu
chặt quá! Đôi mắt bà mê loạn một cách dễ sợ! Hơi thở tôi nặng nề hơn, sự sợ hãi
như hớp hồn, tôi chống trả, kinh nghiệm dễ sợ của ngày đầu tiên lại đến. Tôi
hét lớn: - Buông tôi ra! Buông tôi ra! Những ngón tay của bà càng xiết chặt,
trong những lúc mê loạn thế này bà ta thật mạnh. Cổ họng tôi nghẹt dần, hơi thở
tôi thêm nặng nề, đầu như đom đóm nhảy múa trước mắt. Bản năng tự vệ làm tôi chống
trả mảnh liệt hơn. Hai tay tôi giữ lấy tay bà Nghị, hai tay bà xiết chặt hơn,
miệng lảm nhảm: - Có cô chúng tôi mất tất cả. Cô đừng đến đây. Tôi ghét cô! Tôi
ghét cô lắm! Tôi không thở được nữa, tay chân bủn rủn, mắt tôi trợn ngược, lỗ
tai lùng bùng. Mặt bà Nghị như lớn dần trước mặt, một khuôn mặt trông thật khiếp
đảm như mặt một xác chết, còn những ngón tay? Như dây leo quấn quanh cổ tôi! Thố
Ty Hoa! Đây có phải là dây leo Thố Ty Hoa mê loạn chưa? Nhưng tôi chưa muốn chết,
nhất là bị một người điên bóp cổ chết trong gian phòng tối đen này. Tôi chống cự
kịch liệt, người va mạnh vào cửa, tôi cố gắng la lớn để mong có người đến cứu,
nhưng những tiếng ú ớ không lọt ra được cửa. Chân tôi chạm vào ghế, tôi đạp mạnh.
“Ầm!“ Tiếng động chát chúa, làm bà Nghị bị chấn động buông lơi tay một chút, thừa
cơ hội tôi xô mạnh bà ra. Chúng tôi quần thảo nhau, hổn hển thở. Rồi tôi nghe
có tiếng chân người chạy đến, cửa tung ra. Lập tức, có người chạy lại chụp vào
người bà Nghị. Cổ tôi được giải thoát, tôi nhảy sang một bên hổn hển thở. Lúc
đó tôi mới thấy rõ người đến cứu tôi. Thật không ngờ người này là Gia Gia! Gia
Gia đang hùng hổ húc vào cổ bà Nghị, gương mặt ngây dại hàng ngày của bà đã biến
mất. Bà Nghị bỏ tay ra xong, Gia Gia vẫn không buông tha lại đánh bà Nghị ngã
xuống đất. Tôi ngạc nhiên mở to miệng, trong lúc bà còn định đánh thêm, tôi vội
vàng la lên: - Đừng làm thế! Gia Gia! Gia Gia ngừng lại, ngẩng đầu lên như ngạc
nhiên nhìn tôi. Gương mặt nhăn nheo kia trông thật ngớ ngẩn, chứng tỏ bà không
biết mình đang làm gì. Việc cứu tôi có lẽ hoàn toàn do bản năng của bà. Nhưng
tôi cảm động quá không biết làm sao cảm ơn. Nắm tay bà tôi vỗ về: - Cảm ơn Gia
Gia, thật cảm ơn Gia Gia! Bà vẫn đứng đó nhìn tôi, nhưng có lẽ vẻ thân thiện đã
làm cho bà sung sướng, nụ cười lại hiện trên mép một cách đơn thuần. Trông Gia
Gia cô đơn làm sao? Trong một phút xúc động tôi đến gần hôn lên má bà và nói:
- Mong rằng mọi người đều bình dị như Gia Gia để không còn việc
gì xảy ra nữa. Hành động của tôi đã làm cho Gia Gia ngạc nhiên đến nín thở. Trạng
thái kinh ngạc của bà làm tôi cảm động. Nước mắt tuôn tràn ra mi. Nếu ta biết rằng
trên đời này có người không vì lý do này hay lý do kia yêu mến ta, không đòi hỏi
một điều kiện nào để sùng bái ta, mặc dù kẻ ấy là một bà điên, thì tôi chắc ai
cũng sẽ cảm động như thế. Bà Nghị từ từ ngồi lên trong đám hình ảnh rơi bừa
bãi, bà mở to mắt nhìn tôi. Đúng lúc đó có người chạy đến. Mạc Bính đứng nơi cửa
trố mắt nhìn, Khởi Khởi chau mày không tin rằng những điều xảy ra trong phòng
là thật, cô ta hỏi: - Chuyện gì thế? Tôi mệt mỏi đáp: - Thôi, chị nên điện thoại
cho giáo sư để người trở về ngay lập tức, mẹ chị đang trở bệnh, chút xíu nữa đã
bóp cổ tôi chết rồi. Nói xong, tôi không muốn nghĩ đến bà Nghị nữa, vì đối với
tôi đây quả là một kinh nghiệm khiếp đảm. Nắm tay Gia Gia, tôi bước ra khỏi
phòng lòng tự hứa sẽ không bao giờ bước vào nơi đây. Tôi đi với Gia Gia, với một
tình cảm thân thuộc, về phòng bà. Đây là lần đầu tiên tôi vào phòng bà ở trong
dãy nhà nhỏ bên dưới. Đó là một căn phòng hẹp và tối, khung kính đã vỡ, mặc cho
gió buốt lùa vào làm cho gian phòng mang một vẻ băng giá thảm đạm. Đứng trước
gió, tôi hắt hơi hai cái. Bước lại gần giường, đưa tay sờ chăn nệm. Sao lại mỏng
dính như thế này? Nhìn Gia Gia tôi chau mày, lắc đầu nói: - Gia Gia ở đấy à? Bà
nhìn tôi cười ngờ nghệch. Trong một phút xúc động tôi chạy ngay về phòng lấy gối,
vải lót mỗi thứ một tấm, lại lấy thêm một cái chăn dầy đem đến cho Gia Gia. Trải
giường xong tôi quay người lại nhìn vẻ kinh ngạc của bà. - Thưa cô! Cô làm gì
thế? Bà nói. Tôi sung sướng thấy bà nói được một câu có đầu có đuôi như vậy, vỗ
nhẹ lên giường, tôi nói vắn tắt:
- Cho Gia Gia đó. Gia Gia bước lại ngồi lên giường, đưa tay
xoa xoa gối mềm xong lại nhìn tôi cười, nụ cười ngờ nghệch giữ mãi trên môi.
Tôi len lén bước ra khỏi phòng, tiếng ca từ phòng bà vọng ra vẫn bài ca muôn
thuở: Hoa phi hoa! Giọng hát uyển chuyển dễ thương. Tôi biết lòng bà cũng đang
hát đấy. Đem lại hạnh phúc đến cho người cũng là điều làm cho mình vui sướng!
Tôi nhảy hai bậc một lên lầu, bước về phòng, chuyện ban nãy hình như bị tiếng
hát của Gia Gia cuốn trôi đi mất. Đến phòng, mở cửa ra, quạt lửa lên, thêm hai
hòn than, xong tôi ngồi xuống bó gối nghĩ ngợi. Khẽ thở dài, nghĩ đến việc chỉ
còn chút nữa là tôi bị bà Nghị bóp cổ chết không khỏi hú hồn. Đưa tay nâng tách
trà, nước lạnh tanh chỉ còn những xác trà vụn. Tôi nhớ đến việc đi châm trà lúc
nãy, đã quên mất mà lại còn suýt chết! Nghĩ lại, tôi nhất định bà Nghị đã có mặt
trước ở trong phòng, khi nghe tiếng tôi bà ấy vội núp vào trong ngách nào đó, rồi
đợi đến lúc tôi lật tập ảnh, bà ấy mới ra mặt. Nhưng mà bà ta ở trong đó làm
gì? Sao lại trốn? Ngay lúc tôi bước vào phòng bà ấy đã phát bệnh rồi chăng? Tất
cả những việc làm của bà ấy có hoàn toàn là do bệnh sai khiến chăng? Tôi lắc đầu,
không tìm ra được giải đáp. Lấy chiếc đũa bếp khơi lửa, tay tôi vẫn còn run.
Lúc cúi người xuống, bỗng nhiên một cái gì trong túi áo rơi trên tro, nhặt lên
xem, thì ra là một tấm hình cũ, có lẽ lúc nãy khi trút hình ra đã có một tấm
tình cờ rơi vào túi áo mà tôi không biết. Đó là bức hình một đứa bé gái khoảng
6 tháng ngồi trên chiếc ghế mây tròn. Mặt sau ảnh có hàng chữ: “Tháng giêng năm
Dân Quốc thứ ba mười ba khi Khởi Khởi vừa được 6 tháng“. Nhìn kỹ cô bé, bức ảnh
đã quá cũ, khuôn mặt cô bé không rõ ràng nhưng vẫn còn trông rõ nét bụ bẫm. Lúc
nhỏ sổ sữa như thế này mà khi lớn lại yếu đến độ gió thổi muốn bay! Mười tám
năm trôi qua, cô bé ngày xưa đã trở nên thiếu nữ kiều diễm như hôm nay thì làm
sao tìm ra nét mường tượng được? Nhìn cô bé với chiếc mũi nhỏ nhắn, đôi mắt
linh hoạt, chiếc cằm mọng, nếu không có những lời chú thích ở mặt sau có lẽ tôi
không tài nào đoán ra Khởi Khởi. Nhưng nói thật, tôi thấy thích cô bé bụ bẫm
trong hình hơn là hình ảnh Khởi Khởi hôm nay, vì bức hình ấy mang đến người xem
sự thương yêu, thân thiện hơn là vẻ lạnh lùng hiện nay của Khởi Khởi. Xem chán,
đặt bức ảnh lên bàn, ngồi yên lặng bên hỏa lò, tôi nghe tiếng giáo sư La Nghị.
Bà Nghị có lẽ đã trở về phòng trong lúc tôi bận bịu với Gia Gia. Tôi nghe tiếng
gót giày hấp tấp nện trên hành lang đi về phiá phòng bà Nghị. Mười lăm phút
sau, tiếng giày ông lại bước ra rồi chạy vội xuống lầu. Tôi ngồi tựa vào ghế
suy nghĩ, không biết có nên hay không nên đem câu chuyện suýt bị nguy của tôi
ra kể cho giáo sư nghe. Ngay lúc chưa tìm ra quyết định, thì tiếng chân của
giáo sư đã chạy trở ngược lên lầu, ngừng trước cửa phòng tôi rồi “ầm”, cánh cửa
trước phòng bị xô tung ra, giáo sư La Nghị bước vào, sự giận dữ làm râu tóc ông
dựng ngược, đôi mắt tròn xoe nhìn thẳng tôi ông quát: - Ức My! Tôi giựt mình nhảy
nhỏm, chiếc đũa bếp rơi xuống. Đã lâu rồi, ông không còn đối xử với tôi hung bạo
như hôm nay. Ngạc nhiên, tôi quay đầu lên nhìn. Tiếng quát lớn của ông lại vang
lên: - Cô nói tôi nghe xem, cô làm như vậy là sao? Tôi ngờ ngợ: - Thưa giáo sư,
tại sao? - Cô giải thích ngay, Ức My. Cô đến phòng làm việc của tôi để làm gì
chứ? Tôi ngập ngừng: - Dạ. Tôi thấy cửa phòng mở, nên tò mò bước vào xem. Tròn
xoe mắt, tôi cố gắng tìm một lý do thích hợp tình để giải thích điều tôi làm đổ
tập ảnh - Dạ tại tôi hơi tò mò một chút...
Có lẽ lý do này không chính đáng lắm. Chiếc đầu của giáo sư bỗng
kề gần tôi, đôi mắt như tóe lửa: - Được, cô nói rõ cho tôi xem trong đó có gì lạ
đáng cho cô tò mò hả? Đôi tay ông chụp lấy cổ tay tôi kéo mạnh, suýt chút thì
tôi đã bị rơi vào hỏa lò. Trán tôi suýt chạm vào đầu ông, giáo sư La Nghị lại
hét to rung rinh cả tai làm tôi hoảng hốt: - Tôi cho cô biết, lúc nào tôi cũng
muốn cô được nên người, cho cô vào đại học để cuộc đời cô được sung sướng,
nhưng nếu cô không chịu ở yên muốn phá hoại cái gia đình này, thì đó là do cô
ép buộc tôi phải làm điều tôi không muốn. Thế thì, Ức My, trước khi để cô phá
tan cái nhà này, tôi chỉ còn cách mời cô đi khỏi là hơn! Tôi đứng thẳng người
lên, thử giựt tay ra, nhưng tay ông nắm chặt quá, khiến tay tôi không thể thoát
ra được. Nước mắt đọng quanh mi, tôi không còn tự chủ được nữa: - Thưa giáo sư,
vợ giáo sư suýt nữa đã bóp cổ tôi chết, bây giờ ông lại ức hiếp tôi. Được rồi,
giáo sư không cần đuổi, tôi sẽ đi! Tôi sẽ đi ngay! Đi ngay bây giờ! Giáo sư La
Nghị buông lơi tay tôi ra, ông liếc ngang tôi: - Ai bóp cổ em? - Vợ của ông chớ
ai! Nếu không có Gia Gia đến cứu có lẽ giờ này tôi đã chết mất rồi! Mấy người nếu
khó chịu không thích tôi thì tôi sẽ không ở đây nữa. Cả cái nhà họ La này chỉ
toàn là người điên! Nói thật với ông, tôi sợ ông, sợ tất cả những người trong
nhà này, kể cả ma quỷ. Được rồi, tôi sẽ đi. Ông không đuổi tôi cũng đi! Tôi đã
muốn đi từ lâu rồi! Tôi vừa la vừa hét một hơi. Giáo sư La Nghị yên lặng buông
tay tôi ra. Ông khoanh tay lại trầm tư. Tôi xoa cổ tay đã nổi vòng đỏ, thút
thít khóc, tôi lầm thầm không suy nghĩ: - Thật là dã man, một bà điên! Giáo sư
La Nghị chặn lại, giọng nói của ông ôn tồn hơn: - Đừng nói bậy, Ức My! Tôi thêm
một câu: - Đó là sự thật! - Thôi được rồi. Thái độ của giáo sư như đã hiểu biết.
- Bây giờ tôi không muốn nhắc đến chuyện đó nữa, nhưng từ rày về sau, em đừng lục
lạo trong phòng tôi nữa nhé. Ráng học đi, nếu em thi rớt đại học thì làm sao xứng
đáng với sự lo lắng của mẹ em. Học đi nhé, Ức My! Ông ta nói xong bước về phiá
cửa muốn đi, tôi hét lớn: - Giáo sư! Xin đợi một chút! Ông đứng lại quay đầu
sang, miễn cưỡng hỏi: - Còn chuyện gì nữa đó? Tôi cắn chặt răng, cứng cỏi: -
Thưa giáo sư, cảm ơn lòng tốt của giáo sư đã nuôi dưỡng và dạy dỗ tôi trong suốt
nửa năm nay. Nhưng lần này, tôi quyết định rời khỏi nơi này, vì mọi người đã
làm cho tôi chán ngấy, tôi không thể sống trong hoàn cảnh như thế. Nhờ vả người
không bằng nhờ chính mình. Tôi sẽ đi, dầu sao đi nữa, cũng xin gởi lời cảm ơn tất
cả. Giáo sư La Nghị trừng mắt như tóe lửa, ông giận dữ: - Nhà chúng tôi không
phải là cái phòng ngủ, cô thấy vui ở lại, không thích nữa thì bỏ đi, đâu có
chuyện dễ dàng như thế. Ngoài ra, chính mẹ cô đã gửi cô cho tôi thì trước khi
cô tốt nghiệp đại học, tôi có quyền cấm cô rời khỏi nhà này. Tôi cãi lại: - Đại
học có thể bỏ, nhục không thể nào chịu được. - Ai đã làm nhục cô? Giáo sư La
Nghị hét to, ông nhảy đến chụp lấy vai tôi lắc mạnh. Thái độ của ông làm tôi hoảng
hốt. - Cho cô biết, cô phải phân biệt đâu là phải, đâu là trái. Với cô, tôi
không biết đối phó ra sao cả. Cô vừa đến, thì bệnh của Nhã Trúc trở lại. Khởi
Khởi đau khổ, Hạo Hạo bất an, ngay cả Trung Đan cũng bị ảnh hưởng. Riêng tôi...
Ông Nghị bỗng ngưng lại, rồi nhỏ giọng lẩm bẩm cái gì trong mồm. Buông tôi ra,
ông đưa tay xoa mũi. - Thôi thì coi cô như là khắc tinh của nhà này vậy. Tôi đã
nhẫn nại quá sức, mà cô còn muốn bỏ đi, đừng có điên! Ở lại đây cho tôi! Nói
xong, ông bước ra cửa. Tôi không muốn kêu ông trở lại nữa vì những tiếng la hét
ồn ào của ông làm tôi rối óc. Khi đến cửa, ông còn quay lại nói lớn: - Ức My, nếu
em đi thật tôi mà bắt lại được tôi sẽ đập gãy xương đó nhé! Cửa phòng đóng sầm
điếc cả tai. Đưa tay lên ôm gọn đầu, trong óc tôi như có hàng vạn con ngựa đua
đang tung vó. Mắt chớp sao, tim đập mạnh. Suốt ngày trời bao nhiêu việc rối rắm
làm tôi muốn ngất xỉu. Ngồi yên trên ghế đầu óc tôi muốn vỡ tung? Đi? Không đi?
Đi hay không đi? Đi? Không đi? Những câu hỏi trên lẩn quẩn trong óc, tôi lại
càng do dự. Họ ưa thích tôi hay oán ghét tôi? Trời đã tối, Mạc Bính gõ cửa:
- Thưa cô, xuống dùng cơm! Tôi đáp: - Tôi không muốn ăn, tôi
không đói! Mạc Bính đi rồi, tôi vẫn ngồi đấy. Bỗng nhiên cánh cửa mở rộng,
Trung Đan bước vào dưới ánh sáng trăng. Chàng nhìn tôi dò hỏi: - Chuyện gì nữa
mà khi vừa đến nhà anh nghe Mạc Bính nói là bà Nghị lại trở bệnh. Tôi gật đầu.
Chàng nhìn tôi chau mày: - Em làm gì mà mặt mày tái mét thế? Bước đến gần nâng
cằm tôi lên chàng nói - Mắt em sao lại như thế này? Ức My, kể cho anh nghe xem
việc gì đã làm em lơ láo như vậy. Tôi lơ láo lạc loài chăng? Đúng vậy, vì nhà
tôi đâu? Ai sẽ dẫn tôi về đấy? Ngã vào lòng Trung Đan, vòng tay ôm chặt chàng,
chỉ có chàng là người thân tình và hiểu biết tôi duy nhất mà thôi. Tôi gọi:
- Anh Trung Đan! Ôi anh Trung Đan! Rồi tôi khóc lớn.
Chương 15
Không biết ai đã từng có cảm giác tự đánh mất chính mình
không? Chứ riêng tôi thì tôi đã có kinh nghiệm này. Không những chỉ đánh mất
chính mình mà còn đánh mất cả một quá khứ mười chín năm của một cô gái có tên Mẫn
Ức My. Thân thế, thể xác tất cả điều biến thành một dấu hỏi lớn. Tôi là người
không thích phân tích vấn đề, nhưng với Trung Đan thì lại khác. Khi đem mọi việc
kể lại một cách tỉ mỉ cho chàng nghe, và sau khi chàng suy nghĩ cặn kẽ thì tôi
như rơi vào trong đỉnh sa mù. Lửa được khơi lên, căn phòng ấm cúng vô cùng.
Trung Đan và tôi ngồi bên ánh lửa, đêm đã khuya, chàng cầm tay tôi thân ái, hai
vệt chân mày sậm và thẳng đang chau lại, hàng ngàn chú ngựa hoang đang vút qua
trong óc chàng. Một lúc sau chàng trầm ngâm nói: - Mong rằng rồi anh sẽ biết em
là ai! Tôi mơ màng: - Em là ai ư? Một đứa con gái khổ sở, côi cút, không nơi
nương tựa có tên là Mẫn Ức My, năm nay đúng 19 tuổi. Chàng lắc đầu: - Không giản
dị như thế, em không phải là một Mẫn Ức My đơn thuần như vậy. Chàng đưa tay lên
xoa cổ, suy nghĩ một lúc lại hỏi:
Thế em còn nhớ rõ mặt cha không? Tôi đáp: - Chẳng nhớ rõ lắm,
chỉ nghe nói cha học rất giỏi, bản chất nghệ sĩ nhưng yếu đuối, suốt năm bệnh
hoài, chỉ nằm dài trên giường đọc sách. - Thế em có giống cha không? Tôi chỉ
lên bức hình chụp cả gia đình hỏi: - Anh nhìn xem có giống không? Chàng lắc đầu:
- Anh không thấy giống lắm. Ức My, anh vừa tìm được một giả thuyết thật táo bạo.
- Thế nào? - Nhưng đây chỉ là giả thuyết thôi nhé. Vừa nói chàng vừa nhìn sâu
vào mắt tôi - Anh nói ra em đừng giựt mình, tuy không đúng lắm nhưng giải thích
được nhiều nghi vấn. - Thì anh nói xem! Chàng siết chặt tay tôi, nói từng chữ một:
- Giáo sư La Nghị chính là cha của em! Tôi nhảy thót la to:
- Đừng nói bậy! - Đừng xúc động. Hãy suy nghĩ cho kỹ em sẽ thấy
giả thuyết của anh không hoàn toàn vô lý. Này nhé, em nói tính của mẹ rất nóng
nảy, cứng rắn sao lại mang con đến gởi nhờ giáo sư La Nghị? Nếu không có một
quan hệ đặc biệt nào, thì làm sao bà ấy biết chắc là giáo sư sẽ nhận em? Đó là
điểm thứ nhất. Bà Nghị đối với em lúc nào cũng như thù nghịch, rất nhiều sự kiện
có thể chứng tỏ điều này. Em lại thường làm cho bệnh bà ấy tái phát, nguyên do
tại sao? Nhất định là bà Nghị biết rõ thân thế của em nên ngầm ghen ghét, không
những ghét em thôi, mà còn ghen ghét cả mẹ em nữa, đó là điểm thứ hai, Hạo Hạo
quỳ lụy để chinh phục em, giáo sư La Nghị cũng thương em, nếu lấy tình cha và
con, thì nhất định ông ấy phải cố gắng kết hợp em với Hạo Hạo mới đúng, thế tại
sao ông ta lại vô lý ngăn cấm và phản đối? Tại sao? Có phải em với Hạo Hạo là
anh em khác mẹ chăng? Đó là điểm thứ ba...
Tôi cắt ngang: - Đừng nói nữa, theo điều anh phân tích, mẹ
em, bạn thân của bà Nghị, lại dan díu với ông Nghị rồi sinh ra em. Còn người
trên hình chỉ là người cha danh nghĩa phải không? Tóm lại em chỉ là đứa con rơi
mà giáo sư La Nghị là người không có trách nhiệm...
Trung Đan xen vào: - Hoặc là, có thể mẹ em không muốn ông ấy
gánh trách nhiệm đó! Tôi yên lặng suy nghĩ, điều này rất hợp bản tính của mẹ.
Mang đứa con rơi lặng lẽ bỏ đi cho mãi đến khi thấy đời mình sắp kết thúc mới
giao hoàn lại cho cha nó. Tôi cắn chặt môi, rùng mình. Giải thuyết này sao gần
như sự thật vậy. Nhưng dầu sao tôi cũng không chấp nhận được. Đứng dậy lẩn quẩn
đi một vòng quanh phòng rồi đứng lại trước mặt Trung Đan, tôi nói: - Anh nói
chuyện vô căn cứ, tất cả đều không đúng. Anh muốn tiểu thuyết hóa đời em đấy à?
Trung Đan nhìn tôi: - Nhiều lúc anh thấy em rất thực tế, nhưng nhiều lúc anh thấy
em luôn trốn tránh sự thật! Mẹ cũng đã từng nói như vậy. Tôi nghĩ có lẽ tất cả
mọi người đều có bệnh đó cả, với những việc mình thấy không thể chấp nhận được,
tôi đều cố tình trốn lánh. Tôi nói miễn cưỡng:
- Anh Trung Đan, điều anh nói không có chứng cớ, đó chỉ là một
giả thuyết kia mà. - Đúng thế, Trung Đan đáp - Nhưng anh nghĩ rằng, nếu em chịu
để cho anh một thời gian, anh sẽ tìm ra chứng cớ ngay. Chàng trầm ngâm một lúc.
- Giáo sư La Nghị có một thói quen là đem tất cả những đồ đạc của ông dồn vào hộc
tủ. Trong ấy biết đâu chẳng có những chứng minh về thân thế của em? Có lẽ ông
và bà Nghị cả hai người đều không muốn em biết rõ sự thật về thân thế của mình,
anh muốn nói em là con ruột của ông Nghị. Thế thì hôm nay bà Nghị vào nơi đó có
phải lục lọi tất cả những chứng tích kia đem thủ tiêu hay chăng? Rồi không may
lại gặp em, nên bà ấy vội lánh mặt và theo dõi những hành động em làm...
Tôi không yên tâm: - Trung Đan, anh nhiễm tiểu thuyết trinh
thám quá nhiều, một lúc nữa anh sẽ cho là bà Nghị giả điên để dự mưu giết chết
em. - Tại sao lại không thể có chuyện đó! Trung Đan xác nhận ngay. Tôi hoảng hốt:
- Anh Trung Đan, anh đừng làm em sợ. Trung Đan đứng dậy, vòng tay ôm tôi vào
lòng, cằm chàng cọ lên tóc tôi, chàng nhẹ nhàng nói: - Hãy nghe đây Ức My, anh
không bao giờ muốn dọa em, anh chỉ muốn em hiểu và đề phòng mọi việc. Bà Nghị
thật sự có bất bình thường. Trước khi em đến đây bà ấy cũng đã mang bệnh rồi, bệnh
thật chớ không phải giả vờ. Nhưng kể từ ngày em đến đây, bà ấy càng lúc càng tỏ
ra lạ lùng. Hôm nay bà bỗng nhiên lại muốn xiết cổ em, điều ấy càng làm anh
nghi hoặc. Với người có thần kinh bất thường như vậy thật khó đề phòng. Ức My,
hãy nghe anh, cố tránh xa bà ấy, đồng thời trước khi đi ngủ em đừng quên cài cửa
lại. Anh thấy em thường hay quên lắm đấy! Cái đêm em và bà Nghị nói về Thố Ty
Hoa đó, anh đứng ngoài cửa nghe trộm được là nhờ tiếng dép của bà Nghị đi về
phiá phòng em, anh không an tâm, nên mới rón rén đi tới. Nói thật, lúc nào anh
cũng nghi ngại. Tôi vội bịt kín miệng chàng: - Đừng nói bậy anh! Anh không biết
anh muốn nói gì sao? Trung Đan buông tôi ra, chàng ngồi xuống ghế, thở dài: -
Anh biết anh đang nói gì. nhưng mong cho tất cả những điều đó chỉ là những chuyện
không tưởng. Tôi cũng ngồi xuống, đối diện với chàng qua ánh lửa, lơ đảng nhìn
ánh lửa bập bùng. Một miếng than sống lên khói, tôi vội lấy đũa bếp khều ra để
tránh khỏi cay mắt. Lưng tôi lành lạnh như có con sâu bò trên ấy, cảm giác thật
lạ lùng. Một lúc lâu cứ thế chúng tôi không nói gì thêm. Lấy đũa nguệch ngoạc
trên than tôi nói: - Thật tình em không muốn ở đây nữa, em muốn dọn đi và nghĩ
rằng mình đã lầm khi chọn nơi này để ở. - Có thật như vậy không? Giọng nói của
Trung Đan có vẻ thật đặc biệt, tôi vội ngẩng đầu lên thấy chàng đang ngấm nghiá
bức hình Khởi Khởi thuở nhỏ. Lấy tấm ảnh bỏ vào túi chàng nói:
- Nhờ em đến ở đây. Bằng không làm sao chúng ta quen biết
nhau. - Anh thích tấm ảnh này lắm à? Tôi hỏi, máu ghen dâng đầy bụng. Trung Đan
cười, vuốt nhẹ cằm tôi: - Đúng vậy. Em ghen vì thấy anh cất tấm ảnh này à? Đừng
lo, anh chỉ thích cô búp bê này, chiếc mũi nó xinh như mũi chim ục. Đoạn chàng
đứng dậy vỗ nhẹ lưng bàn tay tôi: - Thôi Ức My, đi ngủ đi. Nhớ cài kỹ cửa lại
em nhé. Trung Đan bước ra cửa phòng, xoay chốt cửa bước đi, bỗng chàng quay lại
hỏi:
- Ức My, đến tháng 7 năm nay em đã được 19 tuổi rồi phải
không? - Vâng! Chàng nhép môi:
- Anh chưa biết ngày sinh nhật của em nhằm ngày nào! - Hai
mươi mốt tây tháng 7. Chàng cười: - Anh sẽ nhớ. Tuổi em với Khởi Khởi xê xích gần
một năm đấy! Đến lúc đó anh sẽ tặng em một lố mèo con làm qua sinh nhật để đền
bù chú Tiểu Ba nhé? Tôi buồn buồn: - Địa vị của Tiểu Ba không con mèo nào khác
thế được. Nó có tội đâu mà họ lại không chấp nhận được con mèo tàn tật như thế?
Trung Đan cười: - Lỗi tại Khởi Khởi, nếu cô ta được như em thì đã không giận hờn,
phải không? Nhưng bản tính Khởi Khởi cũng tốt lắm, em đừng có vì chuyện nhỏ nhặt
như vậy mà để lòng. Tôi hểnh mũi: - Tại sao anh lại chịu khó bênh vực cô ta quá
vậy. Nụ cười chàng mở rộng: - Đừng chua ngoa như vậy. Bước về phiá hành lang,
chàng nói với - Nhưng cái ghen kia đối với em thật bổ ích, giúp em không còn đầm
đìa nước mắt nữa. Thôi ngủ đi! Anh bảo đảm với em là ngày mai, bao nhiêu bực
mình đêm nay sẽ đi mất cả, đừng lo nhé! Tôi đưa mắt nhìn bóng chàng khuất dần,
mặc dù ngày mai có thể gặp nhau, nhưng tôi vẫn thấy như mình vừa mất mát một
cái gì. Đóng cửa lại, gài thật chặt. Một lúc sau tôi nghe tiếng hát của Gia Gia
từ dưới lầu, nhưng không hiểu từ vườn hoa hay hướng nào vọng lên: Chẳng phải là
sương, chẳng phải hoa.
Nửa khuya em đến sáng em về. Đến như giấc mộng xuân không đợi.
Đi tựa mây trời, không định nơi. Giữa đêm đông mưa gió lạnh lùng như thế này,
tiếng hát nghe thê lương quá, lòng tôi thấy lạnh vô cùng. “Chẳng phải là sương,
chẳng phải hoa. Nửa khuya em đến, sáng em về” Thế là thế nào? Không ai có thể
biết được tâm trạng của Lý Bạch khi sáng tác câu thơ ấy, cũng như không ai hiểu
được ẩn ý của ông khi viết câu thơ trên. Không phải là hoa, không phải là
sương, mà lại có thể đến lúc đêm, ra đi lúc sáng? Vậy là gì? Một giấc mộng? một
đoạn tình? Một linh hồn hay ma quỷ Đầu óc tôi càng lúc càng lờ mờ, rối rắm. Buổi
sáng, tôi thức giấc trong cái lạnh tê người, hai chân cóng lại. Từ khi chia mền
gối cho Gia Gia chăn nệm không đủ sưởi ấm tôi. Thức dậy, đầu nặng, mũi nghẹt
chân chưa đụng đất thì tôi đã ách xì liền hai cái. Xuống lầu, giáo sư La Nghị
đang ngồi ở bàn dùng điểm tâm. Phần ăn tôi được dọn ra, vừa ngồi xuống thì ách
xì! ách xì! Tôi lại nhảy mũi, nước mắt, nước mũi theo nhau tuôn ra. Giáo sư La
Nghị bỏ tờ báo nhìn tôi: - Sao vậy? - Chắc bị cảm. - Tại sao không đóng kín cửa
sổ? - Không phải thế, tại mền không đủ ấm. - Mền không đủ ấm? Giáo sư chau mày
- Không thể có chuyện đó được, tôi đã ra lệnh là mền gối của em, Khởi Khởi và Hạo
Hạo như nhau kia mà. Thế sao em lại không nói sớm bộ muốn để đến lúc bệnh hay
chết cóng rồi mới nói sao? Tôi chăm chú nhìn ông. Người đàn ông râu tóc xồm xuề
như vậy lại là cha tôi sao? Mền gối sắm sửa giống hệt của Hạo Hạo và Khởi Khởi?
Ông đã chăm sóc cho tôi đặc biệt như vậy ư? Cúi đầu xuống cho một miếng cơm vào
miệng, tôi đáp: - Đúng ra thì mền gối đầy đủ cả, nhưng hôm qua tôi đã chia bớt
cho Gia Gia. - Cho Gia Gia à? Giọng ông đầy vẻ ngạc nhiên - Tại sao vậy? - Tôi
không muốn nhìn thấy bà ta bị chết lạnh, phòng bà như lỗ băng, cửa kính lại vỡ,
gió lùa vào đầy phòng. Tôi ngừng lại, lỗ mũi nhột nhạt như muốn ách xì, nhưng vẫn
không ách xì được. Mở rộng miệng, trừng mắt một lúc, cảm giác khó chịu mới bắt
đầu biến mất. - Tôi nghĩ là rất ít người chịu để ý đến cuộc sống của Gia Gia,
bà ta thì không biết gì cả. Thưa giáo sư, tôi không hiểu trong những mùa đông
trước bà đã sống ra sao? Ông Nghị vẫn nhìn tôi, ông nói: - Cô vẫn ưa xen vào
chuyện nhảm! Tôi cãi lại:
- Đó không phải là chuyện nhảm. Gia Gia cũng là người có thịt,
có da, có cuộc sống, có tình cảm. Với đời sống của con người, tại sao ta không
xem trọng? Giọng giáo sư lạnh lùng: - Bất cứ với cuộc sống nào, họ cũng phải tự
ý thức lấy. - Nhưng có những người, họ không thể tự gánh vác được, họ không có
khả năng, giáo sư làm sao có thể trách họ được? Như Gia Gia, không chỉ Gia Gia
thôi, ngay cả bác gái cũng thế, giống như...
Tôi ngừng lại không nói nên lời. Giọng giáo sư La Nghị tiếp:
- Giống như loại Thố Ty Hoa chăng? Thố Ty Hoa chỉ có thể tồn tại nhờ nơi những
loài thực vật khác. - Ơ! Tôi ngạc nhiên - Bác gái đã nói cho bác nghe à, tôi muốn
thí dụ...
- Một thí dụ hợp thời. Ai dạy em những tư tưởng kỳ quái như vậy
hở? Tôi ngơ ngác lắc đầu: - Tôi cũng không biết, có lẽ, trực giác cho như thế!
Ông Nghị không nói gì cả, cúi đầu xuống dùng hết phần ăn của ông. Tôi cũng cúi
xuống dùng cơm, vừa ăn vừa phải chống trả lại dòng nước mũi chèm nhèm. Suốt bữa
ăn tôi đã ách xì không biết bao lần, mỗi lần như vậy là ông phải nhìn tôi. Khi
đã ăn xong, ngẩng đầu lên, thì bắt gặp giáo sư đang tựa lưng vào ghế nhìn tôi
không chớp mắt. Tim đập mạnh, tôi hỏi:
- Thưa Giáo sư có biết nơi nào có cái tên là My Đàm không ạ?
Ông Nghị như bị chấn động, ông hỏi nhanh:
- Em nói gì? Tôi lập lại: - Giáo sư có biết nơi nào có cái
tên là My Đàm chăng? Giáo sư có đến đấy lần nào không? - My Đàm? Hàm răng ông
nghiến chặt, râu tóc ông rung rinh - Thế em nghe ai nói đến cái tên đó vậy. - Mẹ
tôi có viết trên bức họa. Tôi đáp. - Thế à. Tôi biết, đó là tên của một quận lỵ
nhỏ trong tỉnh Quý Châu, phong cảnh đẹp lắm! - Giáo sư có ở đấy không? - Có một
thời gian. Tôi nghi ngờ: - Thế khi mẹ tôi quen biết ông bà có phải cũng ở nơi
này chăng? Giáo sư La Nghị đứng thẳng lên, ném tờ bào lên bàn, vẻ mặt ông thật
khó chịu: - Cái gì? Ức My, em làm gì thế? Em muốn biết điều chi, muốn hạch hỏi
tôi hả? Đừng có làm tài khôn nhé! Nói xong, quay lưng về phiá cửa bước đi, bất
thình lình ông quay lại, giọng nói có vẻ giận: - Này Ức My, tôi nói em biết,
hãy để hết tâm trí vào việc học đừng có lo ba cái chuyện nhảm như thế. Giáo sư
La Nghị đi rồi, tôi vẫn ngồi tựa lưng vào ghế, đờ người ra nhìn chén bát trên
bàn. Giáo sư La Nghị là ai? Có phải là cha tôi chăng? Nghĩ lại, những điều dự
đoán của Trung Đan có vẻ gần sự thật. Thế thì, mẹ tôi đã sinh tôi ra trong một
hoàn cảnh không được danh dự lắm sao? “Mẫn” chỉ là một cái họ của một cái tên?
Có thật không? Trời ơi! Không thể như vậy được! Tôi phải tìm ra một lý do đánh
đổ lập luận đó. Mẹ tôi là một người đàn bà chánh trực, không thể có chuyện lăng
nhăng với người đàn ông đã có vợ như thế. Nhưng chuyện tình cảm làm sao giải
thích được? Tôi có bằng cớ nào mà bảo rằng mẹ tôi không hề làm chuyện đó chứ? Lắc
đầu thật mạnh, tôi không muốn nghĩ tiếp, nhưng lời Khởi Khởi như văng vẳng: -
Chị là ai mà bỗng nhiên chạy đến đây làm dảo lộn cả cuộc sống bình lặng của gia
đình này vậy. Bà Nghị cũng đã nói: - Em biết mẹ em là ai chăng? Nhất định là em
phải biết. Vâng, bây giờ tôi đã hiểu rõ. Thân thế tôi không giản dị như tôi đã
nghĩ, mà là cả một bí mật. Đứng giữa phòng ăn, tôi lẩm bẩm tự hỏi:
- Tôi là ai? Tôi là ai? Tôi là ai đây? - Cô ấy à? Có tiếng
nói từ cửa phòng vọng lại. - Tôi nghĩ, cô là sự kết hợp giữa yêu ma và tiên nữ.
Hạo Hạo đang đứng trước cửa phòng ăn, nhìn tôi cười. Khi thấy tôi ngẩng lên, mắt
hắn sáng rực: - Nghe nói hôm qua cô vừa thoát khỏi một trận khiếp đảm phải
không Ức My? - Khiếp đảm ư? Chẳng những khiếp đảm mà chút nữa tôi đã toi mạng.
- Nhưng chưa chết phải không? - Gã cười khì khì, bước về phiá tôi dò xét - Chỉ
có một chuyện nhỏ như vậy mà làm cô xanh xao như vầy à? Tôi ách xì một cái, rồi
tiếp theo cái nữa. Đưa tay chùi chiếc mũi không thông tôi nói: - Xanh xao như vầy
là tại tôi bị cảm và mất ngủ. - Mất ngủ à? Hắn thích thú - Thế có phải vì tôi
chăng? - Hứ! Hạo Hạo, anh không thể nói chuyện đứng đắn được sao? Lúc nào tôi
cũng chỉ thấy anh đùa bỡn. Ách xì thêm một cái, tôi tiếp. - Hôm qua anh về trễ
lắm à? - Sao lưu tâm đến tôi quá như vậy. Hạo Hạo hỏi ngược lại. - Hứ! Nói chuyện
với anh thật khó khăn. Hắn ngồi xuống bàn ăn, vẫn cười cười: - Đáng ra cô nên mừng
cho tôi. Tôi vừa tìm được bạn mới, lần này có lẽ sẽ hết lông bông. - Có thật
không? - Thế cô mong điều ấy giả à? Tôi không đáp, quay đầu đi ra. Hạo Hạo chạy
theo chận đường, nắm vai tôi, mặt nhìn mặt, ánh mắt hắn long lanh, cau có, hình
như gã đang giận. Tôi hỏi: - Anh muốn gì? Gã hầm hừ: - Ức My, thật tôi không biết
cô có ưu điểm nào, cô không đẹp, cũng không có vẻ từng trải lôi cuốn, bản tánh
cố chấp và cứng đầu, cô có gì đâu? Ức My, cô là ai? Cô không phải là đứa con
gái giản dị, mà là kết hợp của ma quỷ và thánh thần! Nhà họ La này mắc nợ gì của
cô? Cô định khuấy rối cả gia đình này sao? Tôi thắc mắc nhìn hắn. Hắn cũng nhìn
tôi rồi thở dài đẩy tôi ra, quay đầu đi miệng lẩm bẩm. - Mong rằng tôi đủ mạnh
để không bị cô lôi cuốn nữa. Tôi chau mày, gã lại đẩy tôi ra, cái đẩy quá mạnh
khiến tôi muốn chúi nhủi, thái độ thật hung hăng, thật dã man, gã hét lớn:
- Cô lại làm ra vẻ đau khổ, bộ cô tưởng La Hạo Hạo này si
tình lắm sao? Đừng nghĩ vậy mà lầm. Tôi chỉ đùa thế thôi. Thời này con gái nhiều
quá mà, ai tôi chẳng yêu được, cô kể số gì! Ức My! Cô đừng đóng kịch nữa đừng
có lo sợ cho tôi nữa cô nhé! Tôi lẳng lặng nhìn hắn một lúc, xong vịn vai nhẹ
nhàng hôn lên má hắn. Hành động của tôi càng khiến cho hắn giận dữ, Hạo Hạo đẩy
mạnh tôi ra như vừa chạm phải nọc độc, rồi đưa tay xoa mạnh nơi bị hôn, miệng
gã lẩm bẩm điều gì không rõ, y như giáo sư La Nghị. Tôi nói: - Anh Hạo, nếu điều
tôi lo sợ là sự thật, thì sức mạnh vô biên anh mong mỏi sẽ đến. - Cô nói gì thế?
Tôi lắc đầu, không đáp, bước khỏi phòng ăn, trở về phòng. Ngồi xuống ghế trước
bàn học, mũi tôi vẫn còn nghẹt, lửa đỏ trong hỏa lò làm tôi nhức óc. Tôi thấy
nhớ mẹ vô cùng, nhớ đến những ngày cùng sống với mẹ một mái nhà nhỏ hai mẹ con,
một đời sống đơn sơ lặng lẽ. Nghĩ lại, cách đây cũng không lâu, khi còn kề bên
mẹ, cái gì tôi cũng để cho mẹ quyết định, ngay cả việc thức giấc, chọn áo quần...Bây
giờ, giữa một hoàn cảnh hỗn tạp rối rắm...Mẹ ơi mẹ! Trước khi mẹ giao con cho
nhà họ La này mẹ có dự đoán được những điều con sẽ gặp chăng? Tối đến, Mạc Bính
ôm một chồng mền lông và chăn trải lên giường vào đặt tất cả lên giường, nói với
tôi:
- Ông chủ dặn cô tối nay ở nhà đừng đi đâu để ông gọi bác sĩ
đến xem bệnh. Tôi hơi kinh ngạc: - Cảm có chút xíu mà cần gì mời đến bác sĩ.
Trung Đan có mua thuốc rồi, tôi khỏe mạnh lắm đâu còn nhức đầu nữa đâu? Mạc
Bính trải giường cho tôi, khăn trải giường màu xanh nhạt xọc đen, mền ny lông nền
vàng hoa đỏ, tất cả đều mới toanh. Mạc Bính cười nói: - Chính ông chủ xuống phố
mua đấy! Tôi làm cho nhà này đã lâu, đây là lần đầu tiên tôi thấy ông chủ mua sắm.
Hồi nào tới giờ chỉ có chúng tôi đi chọn hàng mà thôi. Nó lại cười khoan dung.
- Ông chủ không biết giá, mua mắc hơn cả trăm bạc. Mạc Bính vưa nói vừa nhìn
tôi với tia mắt vừa lạ lùng vừa tò mò. Cả Mạc Bính cũng lạ lùng về thân thế và
địa vị của tôi trong nhà họ La này nữa sao? Tôi là ai? Chăn nệm đã phủ xong, Mạc
bính hỏi:
- Cô đem mền gối cho Gia Gia hết rồi à? - Vâng. Tôi đáp. -
Ông chủ đã gọi người cắt kính đến để thay kính khác lên cửa sổ Gia Gia. Từ ngày
cô đến ở đây, cuộc sống của Gia Gia có vẻ khá hơn, lúc trước không ai chú ý đến
bà ấy. Đi ra cửa, Mạc Bính đứng lại. - Người trong nhà họ La này ai cũng tốt,
chỉ có điều họ ít chịu chú ý đến cuộc sống của người khác mà chỉ lo cho chính họ
thôi. Đó là lời phê của tôi tớ đối với chủ, cũng có phần đúng như thế. Nhìn
theo Mạc Bính, tôi ngồi xuống mép giường, đưa tay sờ chiếc mền mới, mùi vải mới
thơm lạ. Lòng tôi man man, giáo sư La Nghị đích thân xuống phố mua sắm, ông đã
nhớ đến việc mua chăn nệm cho tôi nữa sao? Mua mắc một trăm đồng? Sao lại đến một
trăm đồng? Nhưng điều làm tôi cảm động hơn cả không phải là việc mua chăn nệm,
cũng không là việc ông mời bác sĩ đến khám bệnh cho tôi, mà là việc ông cho người
gắn cửa kính lại cho Gia Gia. Một chuyện nhỏ nhặt như vậy đủ chứng tỏ bên trong
cái bề ngoài thô bạo của ông, còn chứa đựng một quả tim nhân ái. Nhìn những hạt
mưa đọng trên mặt kính và bầu trời vần vũ ảm đạm, tôi lạ lùng cho cuộc đời, lạ
lùng cho những con người họ La này. Họ ra sao? Có thích tôi không? Hay oán
ghét? Họ yêu thương hay chán nản tôi? Tại sao họ có vẻ thích tôi vậy mà vẫn làm
khó dễ tôi đủ điều? Tại sao? Có phải chăng vì thân thế quá đặc biệt của tôi?
Nhìn ra cửa, tôi lẩm bẩm:
- Tôi là ai? Tôi là ai? Là ai? Suốt mấy hôm nay, tinh thần
tôi băn khoăn, bất an làm sao. Sáng rồi chiều, ngày hay đêm, lúc nào tôi cũng tự
hỏi: - Tôi là ai? Có lẽ dây thần kinh của tôi bắt đầu chùng. Kể từ hôm gặp nguy
ở thư phòng đến nay, tôi rất sợ bà Nghị. Mỗi lần gặp bà là mỗi lần tôi hoảng hốt.
Riêng bà Nghị thì không biết thế nào, chớ linh tính tôi lúc nào cũng cảm thấy
như bà ta đang trừng trừng theo dõi tôi. Cũng vì thế, tôi thường tưởng tượng là
bà ta lúc nào cũng tìm mọi cơ hội thuận tiện để giết chết tôi. Điều này càng
làm tôi phập phòng lo sợ. Trung Đan trong suốt mấy ngày qua có vẻ bận rộn lắm.
Anh thường vắng nhà không biết đi đâu. Những lúc ở nhà cũng ít vào phòng tôi,
trái lại chàng thường tìm cách chui rúc mãi trong thư phòng giáo sư La Nghị Tôi
đoán có lẽ chàng đang đi tìm tài liệu để chứng minh giả thuyết đã đưa ra hôm
trước. Nhưng nhìn khuôn mặt buồn bã, ảo não của chàng, tôi biết là chàng đã
hoài công. Giáo sư La Nghị cũng có vẻ biến đổi nhiều. Đôi mắt bị che khuất
trong đôi mày rậm kia không còn vẻ tự nhiên hàng ngày nữa, lúc nào cũng như
vương vấn một nghi ngờ. Nghi ngờ tôi? Trung Đan? Hạo Hạo? Hay Khởi Khởi? Nhiều
lúc tôi cũng thấy ông dùng thái độ đó luôn cho cả bà vợ ông, một thái độ phòng
bị. Còn Hạo Hạo, kể từ hôm nói chuyện với tôi trong phòng ăn cho đến nay, hình
như hắn đã trở về đường cũ, sớm đi tối về, suốt ngày không có mặt ở nhà. Nếu
không đi, thì không khiêu khích Trung Đan, lại đụng độ với giáo sư La Nghị. Có
một lần, tôi nghe hắn chê Khởi Khởi là người đẹp bằng sáp. Khởi Khởi? Thật sự
cũng giống lắm! Dạo này nàng càng ngày càng gầy, càng trắng xanh. Có lẽ vì gầy
nên chiếc mũi càng thấy cao và đôi mắt càng to hơn đúng như nét đẹp tây phương
thời cổ điển. Nhưng, lòng mắt đen nháy của nàng làm tôi không an tâm, có lẽ
nàng không biết điều này. Nhưng với tôi mỗi lần trông thấy nàng đăm đăm nhìn là
tôi có cảm giác như ánh mắt đó muốn giết tôi. Thật thế vì điều ấy có phần nào
hiệu quả, mỗi lần gặp ánh mắt đó lòng tôi như bị thương tổn. Nói thật, không
khí trong gia đình này đối với tôi càng lúc càng trở nên khó thở hơn. Sáng nay,
vừa thức dậy, ngoài sức tưởng tượng của tôi, ánh nắng đang ngập đầy khung cửa
kính. Đã lâu rồi lúc nào cũng chỉ thấy những đám mây màu chì vần vũ trên không,
hôm nay trông thấy ánh nắng mặt trời lòng tôi reo vui. Tôi sung sướng, vui vẻ lạ
lùng. Tôi là con người thích hoạt động mà cứ bị giam hãm trong nhà vì gió lạnh
trong suốt mấy ngày liền, thì làm sao chịu nổi? Tất cả xương cốt như muốn mốc
meo, nên ngay khi thấy Trung Đan bước vào là tôi vội nhảy xuống như chú sâu nhỏ
vừa thức giấc sau giấc ngủ dài mùa đông. Nắm lấy tay chàng tôi vui vẻ: - Hôm
nay cho em nghỉ một ngày nghe anh. Trời đẹp quá, chúng ta đi picnic đi! Trung
Đan đẩy tay tôi ra, chau mày như điều tôi vừa nói là một đề nghị không đúng
lúc. Chàng nhăn nhó: - Tại sao nghĩ đến việc đi chơi? Cô có biết chỉ còn vài
tháng nữa là đến ngày thi vào đại học rồi không? Như bị tạt nước lạnh vào mặt,
mất cả hứng thú, tôi trề môi: - Làm như siêng lắm vậy! Lâu lắm mới có một ngày
đẹp trời, đâu phải lúc nào trời cũng đẹp như hôm nay đâu? Chàng ngẩn lên nhìn
ra, hình như mặt trời không nung được lòng hứng thú, chàng thờ ơ đáp:
- Hôm nay đi không được, anh còn nhiều việc phải làm, cũng
như em còn phải làm hết các bài lo- ga- rit này! Tôi giận dỗi: - Hôm nay anh bận
việc gì nữa? Suốt ngày không bao giờ thấy anh ở nhà. - Sắp đến bãi trường mùa
đông rồi, công việc càng bận rộn hơn ngày thường chớ sao? Rồi mở sách ra để
trên bàn, chàng tiếp:
- Nào bây giờ bắt đầu học nhé! Chống tay lên mặt, tôi nhìn
quyển sách một cách vô vị. Tia nắng ban mai xuyên qua khung cửa sưởi ấm cả
phòng. Lo- ga- rit, chán ơi là chán! Ánh nắng nhảy muá trên bàn, trên sách, đẹp
và xinh biết chừng nào! Cầm bút chì lên tôi quậy nhầu trên vẽ, vẽ một đầu người
với mái tóc và râu ria rối bù, thêm đôi mắt. Ai vậy. Giáo sư La Nghị à? Một địa
chất gia? Ông ấy là gì của tôi? Bên cạnh ấy, tôi đề thêm hai câu thơ:
Mặt người đâu chẳng thấy.
Râu tóc đầy dung nhan. “Toạt!“ Bỗng nhiên quyển vở của tôi bị
Trung Đan giựt phăng đi. Nhìn bức hình chàng gắt: - Đây là quyển bài tập
lô-ga-rit của cô đấy à? - Anh khó tính quá, em không thích học. Chàng thở dài:
- Khó ư? Tất cả đó là tôi vì cô mà. Rồi nhìn vào bức họa chàng nói:
- Anh thấy em cũng có khiếu về hội họa lắm đấy, có lẽ em nên
học vẽ hơn là học văn. Trung Đan nhìn tôi một lúc rồi cúi xuống viết một hơi ba
bốn chục bài tập nhỏ đặt ngay ngắn trước mặt tôi:
- Làm hết bài tập này chúng ta sẽ đi chơi. Tôi la lên: - Bao
nhiêu bài làm đến tối không biết hết chưa nữa lạ. - Đúng thế. Chàng gật đầu -
Nhưng vẫn đủ thì giờ để chúng ta xem một phim. Bây giờ, em ở đây làm bài, anh
có việc phải đi. - Anh đi đâu? - Đi thăm một người bạn. Tôi hét to: - Anh không
thích đi với tôi, tối ngày chỉ nghĩ đến bạn không hà. - Ức My! Con người sống ở
đời, trách nhiệm bao giờ cũng quan trọng hơn sự vui chơi, chúng ta đã mất quá
nhiều thời giờ rồi, đừng nên để mất thêm nữa. Anh có việc cần phải lo, em đừng
trẻ con như thế. Tối nay anh có nhiều chuyện để nói với em. Tôi cố chấp:
- Không! Tôi không cần biết gì là trách nhiệm, tương lai,
công việc hết...Tôi chỉ cần biết thực tế. Hạo Hạo nói đúng, anh chỉ là thằng lý
thuyết suông. Muốn đi chơi với anh, anh lại không thiết gì đến cảnh đẹp. Lời
nói của tôi đã chọc giận chàng. Nghe đến tên Hạo Hạo mắt Trung Đan tóe lửa:
- Tôi nói cho cô biết, Ức My. Nếu tôi cũng có người cha giàu
như giáo sư La Nghị, không cần phải lo ăn, lo mặc, không cần phải lo kiếm nhà ở.
Nếu tôi có cả cái bản tính an phận của một ký sinh trùng, chỉ biết tự mãn với
gia tài của cha để lại, thì tôi sẽ sẵn sàng đưa cô đi chơi, làm bất cứ chuyện
gì cô thích, thỏa mãn tất cả đòi hỏi của cô. Nhưng tôi không phải là hạng người
như vậy, tôi không thể trở thành hạng người mà cô mong đợi đó. Nếu cô thích
cũng được, mà không thích cũng chả sao, tôi lúc nào cũng chỉ là tôi thôi. Nói
xong, chàng bước ra cửa, không quên nói với lại, nhẹ nhàng hơn: - Tối nay anh vẫn
mời em xem hát! Cánh cửa đóng ầm lại, tôi ngẩn người trên ghế, lòng mang nặng mặc
cảm bị tổn thương. Tia nắng lấp lánh trên khung kính, tất cả sự vui vẻ ban mai
bay mất cả. Trung Đan! Anh là con người như thế nào? Anh thật quá đáng, lời đề
nghị của tôi không đúng sao? Trách nhiệm! Trách nhiệm! Lúc nào cũng trách nhiệm.
Phải chăng trái tim anh chỉ chứa đựng có bấy nhiêu thôi? Tôi thở dồn dập, sự giận
dữ và bực tức làm tôi run rẩy. Tối nay anh mời em xem hát. Nói sao dễ quá thế?
Có phải việc mời xem hát của anh như là một việc làm để trả nợ không? Tôi không
thích xem hát! Tôi chỉ thấy hôm nay đẹp trời, muốn tâm sự với anh, chỉ có chút
như thế mà anh không thông cảm nổi thì nói chi đến chuyện hiểu lòng nhau. Tôi
thẩn thờ độ mười phút, rồi nhảy thoát ra cửa. Đến hành lang gặp Hạo Hạo đang sửa
soạn xuống dùng điểm tâm. Hắn nheo mắt với tôi, cười ấm áp như nắng ban mai. Hạo
Hạo nói:
- Chào cô My, nắng sớm cũng không làm cô hoạt động được à? -
Không lúc nào tôi lại chẳng hoạt động. Hắn ranh mãnh:
- Có thật không đấy? Muốn đi chơi không? Tim tôi đập mạnh,
chú ý nhìn đôi mắt như thúc giục của hắn, tôi hỏi:
Đi đâu? Tùy cô lựa chọn, miễn vui là được rồi. Thế nào? ó thể
bỏ ra một ngày đi chơi với tôi không? Từ sáng đến tối nhé. - Tới khuya cũng được!
Bỗng nhiên tôi lại thốt lên câu ấy, có phải chăng đó là một sự trả thù Trung
Đan từ tiềm thức? Hay tôi đã yêu Hạo Hạo? Hạo Hạo không đợi tôi nói thêm tiếng
nào, hắn nắm tay tôi, như chiếc đầu xe hỏa lao nhanh:
- Vậy thì ta đi ngay nhé! Chúng tôi sóng vai chạy bay xuống lầu.
Đúng là một ngày vui vẻ lạ lùng, nếu không có hình bóng của Trung Đan ám ảnh
thì thật là tuyệt. Buổi sáng, chúng tôi đón taxi chạy thẳng đến Dạ Liễu. Mùa
đông ở đây, ngoài những núi đá chất chồng lạnh lẽo còn có tiếng sóng biển rì
rào, chúng tôi đem thức ăn ra bày trên tảng đá lớn. Chung quanh yên lặng, không
một tiếng người, không một tiếng xe cộ hay tiếng ồn ào của nền văn minh cơ khi.
Yên lặng hưởng thụ sự yên tĩnh. Và Hạo Hạo pha trò, kể tôi nghe nhiều chuyện
vui khiến tôi cười muốn đau bụng. Một lần, khi tôi vừa dứt tiếng cười Hạo Hạo nắm
lấy tay tôi: - Ức My, sống với tôi như thế này có vui không? - Vui lắm chứ. -
Thế thì...
Tôi biết hắn muốn lập lại những điều cũ rích, nên thừa lúc hắn
chưa kịp nói ra, tôi vội tìm lời chận lại. Chỉ ra biển, tôi nói: - Anh nhìn
xem, có chiếc tàu kìa! Hắn nhìn theo tay tôi. Ở nơi xa xa ẩn hiện một cánh buồm.
Nhìn xong, hắn quay đầu lại: - Cô thích Trung Đan vì hắn là đứa mồ côi, một con
người đảm đang tự lập, phải không? Tôi ngẫm nghĩ:
- Cũng có thể đó là một nguyên do. Nhưng tình cảm là không thể
giải thích được, nhiều lúc tôi nghĩ rằng anh đáng yêu hơn, nhưng mà...
Tôi nhún vai không nói tiếp. Lúc ngồi gần Hạo Hạo, tôi thường
có tật bắt chước hắn, thí dụ như việc nhún vai vừa rồi. Tôi lại tiếp: - Cũng có
thể là tại bản tính của ta quá gần nhau, nên...
- Thôi được rồi, đừng nói nữa! Hạo Hạo cắt ngang, hắn so vai.
- Bây giờ tôi mới biết, cũng có lý lắm. Đặt tay lên tay tôi hắn cười nói - Thôi
từ đây ta đừng nhắc đến chuyện đó nữa nhé. Ức My, thật tình tôi rất mến cô.
Nhìn cánh buồm chập chờn trên sóng nước, hắn tiếp - Rồi một ngày nào đó tôi
cũng sẽ theo tàu ra khơi, tôi có nhiều khuyết điểm mà điểm yếu nhất là không có
tinh thần tranh đấu và chịu gian khổ. Tự biết mình, tôi sẽ cố gắng tập luyện để
một ngày nào đó có thể tự tạo cho mình một chỗ đứng trong đời. Quay lại tôi, Hạo
Hạo cười lớn. - Nãy giờ nói ba cái chuyện gì đâu trông có vẻ đứng đắn quá,
không giống như La Hạo Hạo lúc bình thường chút nào cả. Thôi Ức My, bây giờ cô
leo lên mỏm đá quái dị kia tôi chụp cho một cái ảnh nhé! Hạo Hạo cầm theo chiếc
máy hình Kodak. Tôi đứng lên và quên tất cả những thắc mắc, khó chịu vì chuyện
ban nãy. Chúng tôi đuổi bắt nhau từ hòn đá này sang hòn đá khác, rồi nhặt vỏ
sò,vỏ cua một cách trẻ con. Mãi đến lúc mặt trời sắp lặn mới ra về. Đến Cơ Long
thì đã đến giờ cơm, chúng tôi ở lại đây cùng cơm tối, Hạo Hạo nói:
- Cơ Long có rất nhiều thú vui, cô có thích tham dự không? -
Trừ những quán rượu đầy thủy thủ, còn thì cái gì tôi cũng đi được hết! Hạo Hạo
liếc xéo tôi, hắn cười khiêu khích: - Thế còn vũ trường? Tôi hơi do dự, hắn tiếp
ngay: - Thử buông thả một lần xem sao? Đâu phải dễ gì tìm được một ngày hạnh
phúc như thế này, phải biết hưởng, tận tưởng mọi sự vui vẻ. Cô hãy còn trẻ
nhưng sắp bị ràng buộc, còn chờ gì nữa? Vũ trường đâu phải là nơi xấu xa? Nó
đâu có ăn thịt cô đâu mà sợ, còn tôi đây nữa mà! Thế là, sau một ngày vui vẻ,
chúng tôi lại hưởng thêm một buổi tối cuồng loạn. Ánh đèm màu, bóng người, âm
nhạc.. Hạo Hạo ôm tôi quay cuồng, mắt tôi như ngàn cánh sao rơi. Hắn cười lớn,
tôi cũng cười theo như người say rượu. Đây là lần đầu tiên, tôi mới hưởng được
một đêm cuồng loạn như thế. Những tiết điệu quay cuồng khiến cho con người có cảm
giác chơi vơi, ánh đèn màu xoay quanh sàn nhảy tạo cho tôi một cảm giác say mụ.
Tiếng cười, tiếng hét, càng làm cho khung cảnh nhộn nhịp hơn. Chúng tôi quay cuồng
không biết trời đất gì cả. Đêm đã khuya, thật khuya. Trên đường không còn bóng
người, vài ánh sao cô độc nhấp nháy trên cao. Chúng tôi đi xe taxi chạy hết tốc
lực về Đài Bắc. Cuộc vui đã làm tôi mệt mỏi, ngồi trên xe tôi lim dim ngủ gật,
mãi đến lúc xe ngừng trước cửa nhà, tôi mới sực tỉnh, vươn vai lười biếng, giọng
ngáy ngủ tôi hỏi: - Tới nhà rồi sao? Nhanh quá vậy. - Thôi xuống xe đi. Hạo Hạo
nói. Tôi xuống xe tựa lưng vào cổng ngáp vặt. Hạo Hạo bấm chuông. Gió lạnh đêm
khuya làm tôi rùng mình, Hạo Hạo vội vàng cởi áo phủ lên vai tôi: - Ngủ gục
trên xe, rồi lại ra gió ngáp, chắc cô sắp bị cảm rồi đó. Tôi lại ngáp thêm vài
cái, rút đầu trong áo mỉm cười. Nếu không ai mở cửa, chắc tôi sẽ đứng đây ngủ mất!
Cửa mở, tôi lười biếng bước vào mà không ngờ rằng cơn bão táp đang chờ đón
mình. Một bàn tay bất thình lình chộp tay tôi lắc mạnh, chiếc áo khoác của Hạo
Hạo rơi xuống, cơn mê ngủ tan biến. Mở to mắt ra chạm ngay cái nhìn giận dữ của
giáo sư La Nghị, ông quát lớn:
- Ức My, em đi đâu với cái thằng hôi thối này mà giờ này mới
về hả? Tôi chưa kịp trả lời thì ông đã lắc mạnh tay hơn. - Nói nhanh! Chúng bây
đi đâu? Làm gì hở. Tôi đáp: - Dạ, chúng tôi đi chơi. Buổi sáng đi picnic ở Dạ
Liễu, tối lại ghé vũ trường...
Lời nói của tôi chưa kịp dứt thì giáo sư La Nghị đã thẳng tay
tát vào mặt tôi một cái. Ngay lúc đó tôi hoàn toàn tỉnh hẳn. Mở to mắt ra, tôi
chết lặng nhìn giáo sư Nghị, đôi mắt ông ta thật dễ sợ, vẫn giữa chặt tay tôi
ông nói:
- Nếu em đến đây để học đòi trụy lạc, thì hãy cút ngay đi! Mặc
em muốn lên hay không lên đại học, muốn tiến hay không tiến cũng mặc em! Hạo Hạo
ưỡn ngực ra: - Thưa ba đó là do lỗi con dẫn Ức My đi. Nếu ba muốn rầy ra gì thì
con đây này. Ức My vô tội. - Được! Được rồi! Ông Nghị quay sang Hạo Hạo - Nãy
giờ tôi muốn tìm anh đây, tôi phải dạy anh mới được, lại đây! Giáo sư La Nghị hất
mạnh tay tôi ra, khiến tôi mất thăng bằng lảo đảo. Đứng vững lại, tôi nghe trên
má tôi, nơi vừa bị giáo sư đánh rát bỏng. Sự nhục nhã và giận dữ đun sôi trong
lòng. Chưa lúc nào tôi thấy mình bị sỉ nhục như vậy. Mẹ tôi chưa hề đánh tôi một
cái mà bây giờ lão quái này ỷ việc nuôi tôi mà đánh tôi như thế. Lỗi tôi nào có
gì là nặng đâu mà phải ăn cả tát tai như vậy. Nước mắt lần ra má theo dòng tư
tưởng, tôi không thèm để ý đến những lời to tiếng giữa hai cha con Hạo Hạo nữa,
vừa khóc vừa chạy vào nhà, tôi đụng đầu Khởi Khởi ở thang lầu. Cô đang tì lưng
vào đầu cầu thang vênh mặt đắc ý lắm. Tôi nghĩ rằng nó đã nhìn thấy tôi bị ăn
tát. - Chị Ức My, đi chơi có vui lắm không chi? Khởi Khởi hỏi. Lời nói châm biếm
của nó như đổ dầu vào lửa. Mọi mạch máu như muốn vỡ tan trong lồng ngực tôi. Trừng
mắt nhìn nó, tôi không muốn suy nghĩ gì nữa, chỉ muốn tìm nó một cái gì để đập,
đập ngã cái vẻ lạnh lùng cao ngạo đó. Tôi chanh chua: - Chớ sao, đi chơi mà
không vui sao được? Tôi không cần phải ép hoa vào tập người ta, tôi cũng không
cần gọi người “Đừng quên tôi“ mà người ta cũng vẫn nghĩ đến tôi. Còn chị? Chị
chỉ là một loại hoa Đừng quên tôi trong vườn thế mà người ta vẫn hái, vẫn liệng
vào thùng rác! Gương mặt Khởi Khởi tái dần ra, môi cô ta run run không nói được.
Tôi thỏa mãn vì đã báo được thù. Khi sắp sửa bước lên cầu thang, thì tôi chết lặng.
Bà Nghị như bức tượng thạch cao đứng giữa nấc thang đó. Đôi mắt quái dị như muốn
nuốt trửng tôi. Bà ta từ từ bước tới, càng lúc càng đến gần. Sống lưng tôi ớn lạnh,
chân tay run rẩy. Chết rồi, bà ta lại đến! Tôi biết, bà đang lên cơn, đang muốn
đòi mạng tôi! Tôi càng lùi ra sau, bà ấy càng bước tới. Cho đến lúc lưng tôi chạm
vào tường không thể lùi được nữa, tựa vào vách, tôi ngước nhìn bà. Bà ta cũng dừng
lại trước mặt tôi, không đưa tay lên cổ tôi ngay mà nói: - Đến lúc nào cô mới
buông tha chúng tôi? Cô định đến khi nào cô mới đạt đến mục tiêu? Cô muốn gì,
tôi sẽ cho, được không? Tôi sẽ làm hài lòng cô. Bà Nghị vừa nói, rồi như điên
loạn, bàn tay bà từ từ đưa lên, tôi hoảng hốt, không đợi đến lúc bàn tay ấy chạm
vào cổ, tôi la lớn. Tiếng la của tôi hình như càng khích động bà. Bà nắm chặt
vai tôi, miệng lầu bầu nho nhỏ tôi không nghe rõ. Đồng thời những móng tay bắt
đầu bấu mạnh. Tôi chống trả, tôi la hét.. tiếng la của tôi vỡ tan. Giáo sư La
Nghị và Hạo Hạo chạy đến, Trung Đan cũng tới cầu thang. Lập tức, tôi được giải
thoát khỏi bàn tay bà Nghị. Thút thít khóc chạy bay lại Trung Đan, vì ngay
trong lúc nguy khốn, người đầu tiên tôi nghĩ đến là chàng. Cầm tay Trung Đan,
tôi thổn thức:
- Anh! Anh Trung Đan! Trung Đan dìu tôi về phòng, gương mặt
chàng thật nghiêm trang. Đứng đối diện tôi, chàng lạnh lùng nói: - Cô không cần
kể lể gì cả. Mọi việc xảy ra đêm nay tôi đã biết hết. Tôi há hốc miệng, nước mắt
đọng trên mi, không hiểu chàng muốn nói gì và tại sao chàng lại thờ ơ như vậy?
Trung Đan nói tiếp: - Tôi chỉ muốn nói với cô một câu sau cùng là chính mình phải
hiểu mình một chút rồi hãy đòi hỏi người khác hiểu mình. Nói xong, chàng quay đầu
bỏ đi. Tôi gọi lớn:
- Anh Trung Đan! Chàng đứng lại, nhẫn nhịn nói: - Cô còn muốn
gì nữa đây? Cô vui sướng, cô đùa giỡn suốt ngày, trở về nhà lại gây rắc rối, thế
bây giờ cô còn đòi gì nữa? Đi lại trước mặt tôi, chàng nâng cằm tôi lên. Đến tận
lúc này tôi mới nhìn thấy sắc giận trên mặt chàng, mắt tóe lửa, giọng nói chàng
lạnh lùng: - Tôi đã tưởng tượng cô quá đẹp, Ức My. Bây giờ thì tôi cho cô biết,
suốt mấy ngày qua tôi bận rộn vì tôi đi tìm nhà để cô khỏi phải tiếp tục nhờ vả
gia đình họ La này. Tôi đã chia lại của người bạn một căn phòng, định dọn dẹp
xong sẽ cho cô một ngạc nhiên lớn. Đó là việc thứ nhất. Việc thứ hai là tôi định
sẽ kiếm tiền cung cấp cho việc lên Đại Học của cô, tôi đã chạy đôn chạy đáo và
đã tìm ra được một việc làm phụ trội, đó là chân thiết kế viên cho hãng quảng
cáo, lương bổng hậu, họ hẹn tôi hôm nay đến thử việc, vì thế tôi không thể đưa
cô đi chơi. Tôi đã cố gắng, lẳng lặng làm việc không muốn cho cô biết vì thấy
việc chưa thành, vừa để tránh cho cô khỏi bận tâm, cũng như tránh làm cô thất vọng.
Tôi đã chu đáo vì cô như vậy, không ngờ cô lại đi với người khác. Chàng giận dữ
hơn:
- Ức My! Cô đã phụ cả tấm lòng thành của tôi! Tôi tuyệt vọng:
- Anh Trung Đan! - Như thế tôi cũng có thể bỏ qua đi. Nhưng
những lời cô vừa nói với Khởi Khởi lúc nãy thật vô giáo dục, thật hèn hạ, cô biết
không? Rồi chàng lắc đầu, như tôi là người bệnh đã hết thuốc chữa, và tiếp - Cô
đã làm tôi thất vọng. Tôi nghĩ rằng tôi đã lầm, tất cả những điều tôi nghĩ về
cô đều vô ích, vô nghĩa. Ức My, có lẽ tôi không thích hợp với cô vì tôi quá thực
tế. Tôi không biết đưa cô đi chơi, mà chỉ lo làm việc. Với cô, sự vui chơi có lẽ
thích thú hơn là việc làm. Như vậy Hạo Hạo hợp với cô hơn là tôi. Trung Đan
buông tôi ra, rồi bước nhanh ra khỏi phòng. “Ầm!“ Cánh cửa phòng đóng sầm lại,
làm gãy đổ tất cả sức chịu đựng của tôi. Ngã lên giường, vùi đầu trong gối òa
lên khóc, khóc thật lâu, thật lâu. Cho mãi đến lúc không thành tiếng nữa, nước
mắt không còn tuôn ra mới thôi. Nhìn ra cửa, những vì sao lạnh long lanh, gió
đông vi vu thổi. Trong một phút mơ hồ, tôi không còn biết hiện mình đang ở đâu
nữa. Ngồi lên, đưa tay ôm đầu. Sự đau thương tràn ngập trí óc. Tôi nghĩ lại những
chuyện vừa xảy ra, một sự thật phô bày trước mắt: gia đình này không còn là nơi
cho tôi nương tựa nữa. Giáo sư La Nghị hung bạo, bà Nghị thì lúc nào cũng muốn
giết chết tôi, Hạo Hạo đeo đuổi mãi, còn Khởi Khởi luôn ganh tị. Ngay cả Trung
Đan người độc nhất tôi yêu quí đã bỏ tôi rồi! Gia đình họ La? Tôi còn ở đây nữa
sao được? Tốt nhất là bỏ đi để trả lại tất cả vẻ yên tịnh êm ả cho mọi người.
Biết đâu lúc đó Trung Đan chẳng trở về với Khởi Khởi? Mọi người sẽ hạnh phúc.
Còn tôi, một đứa con côi cô độc, nên tỉnh dậy đi. Suốt nửa năm trời ở nhà họ La
coi như giấc mộng! Tôi đứng dậy, chậm rãi thu xếp quần áo. Đem tấm ảnh gia đình
xuống, nhìn bức ảnh mẹ, nước mắt tôi chan hòa, tôi nói không thành tiếng: - Mẹ
hãy tha lỗi cho con, con không thể nghe theo lời mẹ mà ở lại đây được nữa. Đặt
tấm ảnh vào valise tôi ngồi thừ một lúc, rồi đến bàn viết để lại mảnh giấy:
Thưa giáo sư. Tôi rất hối hận vì sự có mặt của mình đã làm
phiền nhiễu cả gia đình. Bây giờ tôi đã đi, từ đây gia đình họ La này sẽ được
trả về với sự yên tĩnh. Cám ơn ông rất nhiều xin gởi lời cám ơn luôn tất cả mọi
người đã đối xử tử tế với tôi. Ức My Tái bút: Xin ông vui lòng chăm sóc Gia
Gia, vì bà không thể tự chăm sóc lấy. Đó là một người đáng thương xin ông hãy tội
nghiệp bà. Tôi cũng viết một mảnh giấy khác gởi Trung Đan, miếng giấy này tôi
đã viết gần một giờ mới xong. Viết rồi xé, xé rồi viết lại, sau cùng chỉ được mấy
câu. Anh Trung Đan. Em ra đi mang theo tất cả niềm vui và đau khổ mà anh đã tặng
em. Mong rằng ngày sau này có gặp nhau, chúng ta sẽ không còn xa lạ nữa. Chúc
anh hạnh phúc. Ức My Tôi lấy thước dằn lên hai mảnh giấy. Trời đã gần sáng tôi
xách valise lên nhẹ bước ra khỏi phòng, cài cửa lại. Nhìn gian phòng mà suốt 9
tháng trời tôi đã ở trong ấy, tôi thì thầm - Vĩnh biệt! Vĩnh biệt! Qua hành
lang, qua phòng của bà Nghị, ông Nghị, Hạo Hạo, Khởi Khởi và cả phòng của Trung
Đan, mỗi lần bước qua khỏi một phòng là lòng tôi như thổn thức, như gào to -
Vĩnh biệt! Vĩnh biệt! Xuống thang lầu, qua khu nhà rộng thênh thang không một
bóng người, trong ánh sáng lờ mờ ban mai, tôi bắt đầu xa giấc mộng của tôi, xa
tình yêu của tôi, xa cả những tiếng cười và những giọt nước mắt! Đáp chuyến xe
lửa tốc hành đầu tiên tôi trở về Cao Hùng sau 9 tháng trời cách biệt. Trong ánh
nắng ban trưa, tay xách valise tôi đứng trước sân ga nhìn quanh. Cao Hùng!
Thành phố yêu dấu quen thuộc mà khi bắt đầu rời nơi đây thì cây Phượng Hoàng
nơi sân ga đang nở hoa đỏ ối, bây giờ cành lá xanh um đang run rẩy theo từng
cơn gió mùa đông. Cao Hùng! Cao Hùng! Thành phố vẫn thế không thay đổi, còn
tôi, lúc đi mang tâm trạng đau khổ thê lương, bây giờ trở về càng ngút ngàn đau
khổ. Chiếc xích lô ngừng trước cửa trường tiểu học, nơi tôi đã chung sống với mẹ
bao năm qua. Lũ trẻ nhỏ đùa giỡn trên sân, lớp học tôi bắt đầu học bài Quê
Hương tôi! Nơi tôi đã trưởng thành! Bà hiệu trưởng họ Lâm đâu? Có còn ở văn
phòng không? Dầu sao, tôi cũng cần phải đến đấy thử xem, có lẽ bà sẽ vô cùng ngạc
nhiên trước sự trở về này! Đứng trước văn phòng, tôi bị những người bạn cũ, những
đồng nghiệp của mẹ bao vây. Họ sung sướng, ngạc nhiên ôm tôi hỏi lăng xăng
không kịp cho tôi trả lời. - Trời Ức My! Chị mau lớn quá! - Ức My! Cô chẳng những
lớn mà còn đẹp nữa. - Sống ở Đài Bắc có vui không cô? - Sao lâu quá chị không gởi
thơ về? Quên hết bạn bè cũ rồi sao? - Ức My, chị về Cao Hùng chơi được mấy hôm
rồi đi nữa hở chị? Thôi thì bên này một câu, rồi bên kia một câu, tôi bị quay
tròn. một lúc sau, bóng bà hiệu trưởng Lâm chen vào, vừa nhìn thấy tôi, bà mừng
rỡ: - Ức My! Đặt valise xuống, tôi chồm người ôm bà. Vỗ về lưng tôi một cách
thân thiết như tình mẹ con, bà ríu rít: - Làm sao vậy Ức My, đi suốt cả năm trời,
lúc đầu tôi còn nhận vài ba bức thư của em, rồi sau đó thì bặt tăm luôn. Giáo
sư La Nghị chắc đối đãi với em tốt lắm hả? Đài Bắc vui không? Có chuẩn bị xong
việc thi vào Đại học chưa mà giờ này rảnh rỗi ghé Cao Hùng thăm chúng tôi vậy.
Nghe những lời thăm hỏi như thế, tôi không đè nén được nữa, những giọt nước mắt
mà tôi đã cố gắng nhẫn nhịn trên suốt quãng đường bây giờ được dịp tuôn trào
ra. Tôi khóc, khóc một cách sung sướng. Bà Lâm hoảng hốt không hiểu tại sao, vừa
vỗ về vừa hỏi: - Sao? sao vậy hở? Thôi đừng khóc nữa, có chuyện gì thì để từ từ
rồi nói. Ức My! Có chuyện gì vậy. Về nhà nhé. Nghỉ một lát rồi cho tôi biết sau
cũng được. Quẹt nước mắt trên má, tôi ngẩng đầu lên nhìn bà Lâm, thổn thức: -
Thưa bác, hôm nay con về đây con muốn ở đây luôn không về Đài Bắc nữa. Bác có
thể cho con ở nhờ không? - Ức My con nói gì lạ vậy. Lúc nào gia đình bác cũng mở
rộng vòng tay đón con về. Thôi bây giờ theo bác về nhà rửa mặt, ăn cơm trước
đã, còn chuyện khác để sau sẽ nói. Một tay nắm tay tôi, tay kia xách valise, bà
Lâm lôi nhanh tôi về nhà. Đến nhà rửa mặt, ăn thêm tô mì đặc biệt do bà nấu,
tôi đã lấy lại bình tĩnh. Những đứa con nhỏ của bà Lâm vây quanh tôi hỏi thăm rối
rít khiến bà phải la mới đẩy được chúng ra ngoài. Khép cổng lại, nắm tay tôi bà
lo lắng:
- Nào bây giờ, con cho bác biết có chuyện gì vậy. Có phải
giáo sư Nghị cư xử với con quá tệ bạc không? Tôi nhìn bà Lâm, biết nói gì đây?
Sống trong gia đình họ La suốt 9 tháng trời, tất cả những phức tạp tình cảm: hiểu
lầm, yêu, ganh ghét. Người và việc, tôi làm thế nào để thuật lại tất cả cho bà
biết? Ngoài ra, cuộc đời tôi vẫn còn là một bí mật, nó có thể ảnh hưởng đến
danh dự của mẹ làm sao tôi dám nói? Cứ thế ngồi một lúc lâu tôi không thốt ra
được một lời. Bà Lâm vỗ nhẹ lên vai tôi nói: - Thôi được rồi, con không muốn
nói ra thì tôi cũng đoán được phần nào! Bà thở dài:
- Có ai nông nổi như mẹ con đâu, nhè người bạn suốt mấy năm
trời không gặp lại đem con đi gửi. Đời bây giờ người ta thực tế lắm chớ đâu có
nặng tình bạn bè như xưa kia đâu? Lời bà Lâm như gãi sai chỗ ngứa, tôi lắc đầu
biện hộ cho giáo sư Nghị:
- Không, không phải vậy. Giáo sư Nghị là người rất tốt...Ông
đối đãi với tôi rất thật tình...
- Thế tại sao con lại trở về đây! Tôi nhớ đến chuyện hôm qua,
đến bà Nghị, đến những điều tôi bị sỉ nhục, đến Hạo Hạo, Khởi Khởi.Rồi nước mắt
tôi lại dâng lên mắt, úp mặt vào lòng tay tôi khóc to: - Xin bác đừng nói chuyện
đó nữa. - Được rồi, tôi sẽ không nhắc đến nữa. Bà Lâm ôn tồn nói - Để vài hôm
con tỉnh trí rồi nói cho tôi nghe cũng được. Bây giờ con cứ ở lại đây, nhà tôi
tuy chật, con tạm ở chung với hai đứa con gái tôi nhé. Mẹ con muốn con tiếp tục
lên đại học, thôi thì hãy cố gắng học đi để kịp ngày thi. Tôi đáp: - Con không
cần học nữa, con muốn tự lực cánh sinh, con có thể dạy trẻ nhỏ được. Bà hiệu
trưởng Lâm tiếp: - Theo tôi, con nên cố gắng hoàn thành ý nguyện của mẹ. Rồi giọng
bà trầm xuống - Bây giờ hãy ở đây đi, chuyện đó để từ từ tính sau. Thế là tôi
trở về chốn cũ. Sáng hôm sau, đạp trên cỏ còn ướt đẫm hơi sương tôi đến ngôi
nhà cũ nơi mà mẹ con tôi đã sống để tìm lại vết tích xưa. Đến trước cổng tôi đứng
chết lặng nhìn vào, ngôi nhà này đã đổi chủ mới, đó là một nam giáo viên độc
thân, ông ta đã sửa chữa lại ngôi nhà trông lạ hẳn đi. Khi trông thấy tôi, ông
ta đi ra nhìn như muốn làm quen, tôi hốt hoảng bỏ chạy. Rảo quanh sân trường,
hành lang, phòng học rồi vườn chơi, đâu đâu cũng như vương vấn hình bóng mẹ.
Chiều xuống, thu người bên góc vườn hoa nhìn ráng chiều, vầng thái dương bắt đầu
xuống núi, tôi lại thảng thốt kêu to: - Mẹ ơi! Mẹ! Mẹ ơi! Giờ mẹ ở đâu! Tại sao
ở bất cứ nơi nào cũng có những kỷ niệm của mẹ, mà dáng mẹ đâu sao chẳng thấy?
Nước mắt tôi lại tuôn rơi. Tôi len lén khóc, khóc cho sự cô đơn, cho cả một
tương lại của đứa con gái bơ vơ không nhà cửa. Những ngày dài trôi đi, rồi lần
lần tôi ý thức được một điều là hình bóng của mẹ lúc nào cũng như một thiên thần
ngự trị trong tôi. Xa gia đình họ La có phải chăng là để trốn tránh sự thật?
Tôi không bao giờ tin rằng mẹ tôi chửa hoang, vì người là một người đàn bà hoàn
toàn không bao giờ phạm lỗi. Ngày qua ngày tôi vẫn như kẻ mất hồn, suốt ngày
lang thang khắp nơi, sự đau khổ vì thương nhớ mẹ vừa giảm đi thì những hình ảnh
Trung Đan và giáo sư La Nghị lại hiện ra. Họ sẽ đến tìm tôi? Trung Đan có đau
khổ không? Hạo Hạo, Khởi Khởi và bà Nghị ra sao? Thế là tôi bắt đầu thấy nhớ họ,
không phải chỉ có họ thôi mà còn nhớ cả Gia Gia, Mạc Bính và chú mèo Tiểu Ba.
Tôi hình dung ra hình dáng ngôi nhà, vườn hoa, khu rừng có quỷ. Như kẻ mất hồn
tôi càng ngày càng xanh xao, nhìn vào kiếng không còn giống cô Ức My ngày nào nữa.
Ngày thì ăn không vô, tối lại ngủ không được, lúc nào cũng như lúc nào tôi yếu ớt
như một món đồ dễ vỡ không thể đụng đến. Nước mắt tôi lúc nào cũng đầy lòng mắt
chỉ cần khơi động nhẹ là trào xuống. Tôi bây giờ không giống như lúc 9 tháng
trước. Trung Đan có thể yêu Khởi Khởi được chăng? Khi đã mất tôi, cánh hoa lam
kia sẽ được người quý trọng? Giáo sư La Nghị đã mời chàng ở lại và đối đãi một
cách tử tế. Trung Đan lại dạy Khởi Khởi vẽ, tôi hy vọng Khởi Khởi và chàng yêu
nhau. Họ sẽ toại nguyện. Cứ thế đầu óc tôi tối ngày quay cuồng mãi bao nhiêu
chuyện đó đến nhức óc. Càng nghĩ lòng tôi càng đau, và tôi bỗng ý thức được rằng:
tôi đã yêu chàng. Trong những đêm không ngủ, thổn thức lòng tôi rên xiết -
Trung Đan! Trung Đan! Anh đừng yêu nó! Trung Đan! Đừng yêu nó nghe anh!
Chương 16
Những ngày mệt nhọc trôi đi, vết chân tôi đã dẫm nát khu vườn
hoa những vẫn không tìm thấy hình ảnh mình ngày xưa. Bây giờ tôi mới thấm thiá
những câu thơ của Lý Thanh Chiêu: Tầm tầm mật mật Lãnh lãnh thanh thanh Thê
thê, thảm thảm, kỳ kỳ ( Tìm kiếm, trông ngóng. Tâm hồn tôi đang lạnh lẽo cần được
sưởi ấm). Lần đầu tiên tôi biết được mùi vị của ái tình. Những cử chỉ, những
hành động như mất hồn của tôi không qua khỏi mắt bà Lâm. Một hôm trong lúc tôi
thẩn thờ nhìn thức ăn trên bàn bà cười hỏi: - Sao vậy con? Thức ăn không vừa miệng
hả? Tôi giật mình:
Dạ không phải thế! Rồi chụp nhanh chén cơm và ngay vào miệng,
ráng nuốt. Bàn tay bà Lâm đưa qua bàn nắn nhẹ tay tôi:
- Ức My, hãy cho bác biết tại sao con đau khổ, có chuyện gì vậy
con? Buông chén xuống, nước mắt tôi rơi ra, tôi chạy vội về phòng. Một ngày, rồi
một ngày, lần lần tôi tỉnh ngộ. Phải đối diện với thực tế, phải cố gắng can đảm
để sống! Buổi sáng thức dậy, tôi mang yếm vào nhà bếp phụ bà Lâm làm cơm sáng,
sau đó đến sân cho gà vịt ăn. Vo một nồi cơm, nhìn những chú gà đủ màu sắc chạy
lăng xăng đến mổ những hạt gạo nhỏ, lòng tôi ấm lại. Cuộc sống thật đáng vui, mặc
đầu suốt quãng đời tôi là một chuỗi ngày đau khổ, nhưng tôi vẫn yêu thương nó,
cho gà ăn xong tôi đến sân chơi của trường. Nơi đây, trong những chiếc lồng sắt
có nuôi mười mấy chú thỏ. Đối với tôi, chúng nó là bạn thiết. Mỗi ngày, tôi
mang một đống cải xanh và củ cải, lần lượt đút vào chuồng nhìn chúng giành giựt
nhau ăn. Tôi quỳ xuống đất, vuốt ve rồi thì thào với chúng cũng vui lắm. Trong
số thỏ này có một con trông thật cô độc, nó ở riêng rẽ một mình không đến ăn.
Tôi đến gần, sờ vào lưng nó thấy hâm hấp nóng. Bệnh rồi chăng? Thật tội nghiệp,
tôi ôm lên bước về nhà bà Lâm. Đối với thú vật, tôi có một phương thuốc thần diệu
mà tôi đã thử dùng nhiều lần cho nhiều con vật khác nhau mà vẫn thấy linh nghiệm,
bất kể bệnh gì khi cho chúng uống nữa gói thuốc con két là chúng đều khỏi ngay.
Bọc chú thỏ trong áo, tôi chậm rãi bước về nhà. Đến trước cổng, tôi nghe hai đứa
con nhỏ của bà Lâm bàn cãi nhau điều chi không rõ một đứa nói: - Chắc là tướng
cướp. - Không phải, đó là tên tù vượt ngục, có lẽ hắn đã mang tội giết người! -
Tao bảo không phải mà. Ông ta là tướng cướp này, hôm trước tao thấy trong phim
đấy! - Tao cũng coi phim vậy, tên tù vượt ngục cũng giống thế. - Tao nói là tướng
cướp đấy! - Tao nói là tên cướp vượt ngục! - Đánh cá không? 3 hòn bi đó! - Cá
liền, tao sợ hả? - Rồi, bây giờ vô hỏi mẹ. Dưới tia nắng sớm mùa đông, tôi đứng
nhìn lũ trẻ cãi nhau. Làm trẻ con sướng thật, không phải lo lắng, sầu khổ gì cả.
Chú thỏ nằm trong lòng tôi bỗng động đậy, tôi cúi xuống, vỗ về:
- Đừng gấp, chị sẽ đem thuốc cho em uống mà. Một bóng đen hiện
lên trên nền đất, càng lúc càng gần. Rồi tôi nhìn thấy đôi giày lấm bụi, tia mắt
tôi đưa lên từ từ: chiếc quần sậm màu, áo hở rộng cổ không thắt cà vạt, chiếc
hàm vuông, rồi mắt tôi chạm mắt chàng. Chúng tôi cứ thế nhìn nhau không nói một
lời nào. Thời gian lặng lẽ trôi qụa Đám mây cha khuất mặt trời bắt đầu trôi đi.
Chàng vẫn thế không có gì thay đổi ngoài khuôn mặt trắng xanh. - Ức My, em có
khỏe không? Tôi gật đầu, lí nhí không nói được. Trung Đan đưa tay, nhè nhẹ vuốt
chú thỏ trong lòng tôi:
- Nó sao vậy? - Bệnh rồi, có lẽ bị cảm. Bàn tay chàng chầm chậm
nắm lấy tay tôi xiết mạnh, giọng chàng run run:
- Ức My, rốt cuộc rồi anh cũng tìm thấy em. Tôi nhắm mắt lại,
nước mắt vờn quanh mi, không nói nên lời. Chàng ôm tôi, giọng đau khổ thống thiết:
- Ức My, sao em ngu như vậy. Em bỏ đi không cho anh biết, làm cả nhà bấn loạn
lên, em biết không? Bây giờ thì em đã bình thường rồi phải không? Anh đến đón
em. Đừng khóc nữa, nín đi đừng khóc. Tôi vẫn khóc, vì nếu không khóc thì tôi
không biết phải làm gì bây giờ. Trung Đan ôm tôi vỗ về, chàng đã làm khuấy động
tình cảm tôi. Tôi sung sướng khóc, khóc mãi đến một lúc lâu lòng mới cảm thấy
thư thả. Chàng nâng cằm tôi lên, lau nước mắt, như đang vỗ về một đứa bé. Sau
đó tôi nghe có tiếng vỗ tay của lũ trẻ con bà Lâm: - Ê tụi bây ơi! lại xem chị
My nè, con gái mà ôm con trai mà không biết mắc cở, lêu lêu! Xô Trung Đan ra,
nhìn chàng rồi lại nhìn lũ trẻ tôi phì cười theo. Có tiếng chân người bước đến
gần, đồng thời một bàn tay to lớn nắm lấy tôi. Ngẩng đầu lên, nhìn ra khuôn mặt
xồm xoàm đầy râu tóc của giáo sư La Nghị. Tiếng ông ồn ào:
- Ức My, sao em trốn học về đây chứ? Làm tôi tìm mãi không
ra. Lúc bình thường không để ý, chỉ biết em ở tại một trường tiểu học mà cũng
không biết địa chỉ ở đâu nữa. Lục hết cả một tỉnh Cao Hùng này mới tìm được em.
Được rồi, bây giờ ngoan ngoãn theo tôi về ngay. Tôi ngập ngừng:
- A. Tôi...Tôi...
Giáo sư La Nghị hét to: - Cô còn muốn gì nữa đây hở? Nếu có
giận hờn gì thì cứ cãi nhau hay chửi bới một lúc cho hả giận rồi thôi, chớ làm
gì mà em lại bỏ nhà đi? Đài Loan bây lớn, người thì đông, đất lại rộng, em còn
muốn tôi đến đâu tìm em nữa chứ? Sao khó khăn vậy. Em đi đâu thì không sao cả,
nhưng tội cho người nhà phải bấn loạn lên đi tìm. Trung Đan trách tôi sao đánh
em, thật ra tôi đâu có ngờ chỉ vì một cái tát tai mà em lại bỏ đi đâu? Gia Gia
nó lục lọi tứ tung xem em ở đâu, nó tưởng em núp trong hộc tủ, thế là nó quần lấy
các ngăn sách của tôi. Hạo Hạo cũng cự nự tôi. À, còn con mèo của cô nữa, không
biết làm sao mà nó chui vào trong tủ tôi làm ổ trong ấy, thôi xương cá tứ tung
trong đó. Thôi cô về ngay đi về dọn dẹp sạch sẽ cho tôi nhờ. Tôi sung sướng nhảy
nhỏm lên: - Tiểu Ba chưa đi mất sao giáo sư? - Đi mất? Đi đâu mà mất? Có mất
chăng là cô. Thôi đừng nói nhiều, sửa soạn nhanh lên để xem có kịp chuyến xe lửa
nào không. Tôi do dự, quay lại nhìn thấy bà hiệu trưởng Lâm đang mỉm cười, bà
bước đến cạnh, nắm tay tôi nói:
- Đi đi em, Ức My. Giáo sư Nghị đã nói hết cho bác nghe rồi.
Ráng học để thi đậu em nhé! Tôi vẫn do dự, giáo sư La Nghị muốn đưa tay nắm tôi
lôi đi, bỗng tay ông chạm vào chú thỏ, giựt mình ông hét to: - Trời ời, cái gì
nữa đây? Tôi nâng cao chú thỏ lên nói:
- Dạ chú thỏ ạ, nó đang bệnh đấy. Em có thể mang nó về nhà được
không giáo sư? - Ơ, ơ. Đôi mắt ông tròn xoe lại, ông ậm ừ - Thôi được, mang nó
đi luôn đi. Có lẽ rồi đây tôi phải mở luôn một cái sở thú để trong nhà cho em
chăm sóc luôn thể! Tôi sung sướng hét lớn. Bao nhiêu bực dọc phiền nhiễu trong
những ngày qua đã vỗ cánh bay đi. Trao chú thỏ cho Trung Đan, tôi nói:
- Ôm giùm tôi một chút nhé! Rồi tôi chạy bay vào nhà soạn quần
áo. Xách chiếc valise trên tay bước ra ngoài. Bà hiệu trưởng Lâm đến nói vài lời
từ biệt với tôi. Cười cười, giọng bà luyến tiếc:
- Lần sau con có đến đây, mong rằng không phải đến để trốn nữa
con nhé! Tôi nhìn bà chẳng nỡ rời. Giáo sư La Nghị bực dọc vì chờ đợi. Chúng
tôi bước ra cửa. Hai đứa con của bà Lâm đưa đẩy nhau trước mặt: - Mày lại hỏi
đi! - Mày hỏi đi! Giáo sư La Nghị hỏi tôi: - Chúng nó làm gì thế? Nhìn hàm râu
xồm xoàm của giáo sư, tôi chợt hiểu và cười lớn. Giáo sư Nghị chau mày:
- Em cười cái gì đấy? - Dạ em cười chúng nó. Tụi nó đố nhau
giáo sư là tướng cướp hay là tù vượt ngục. Mọi người cười ồ lên, gương mặt ông
rắn lại, miệng ông lẩm bẩm điều gì không rõ. Chúng tôi cứ thế vừa đi vừa cười
bước về phiá cổng. Hai giờ sau, tôi, Trung Đan và giáo sư Nghị ngồi yên trên
chuyến xe lửa trở về Đài Bắc. Chiếc xe vun vút lao đi, bỏ lại những đám rừng, đồng
cỏ, thôn trang và phố thị. Tôi và Trung Đan ngồi một bên, giáo sư La Nghị ngồi
đối diện, chú thỏ nhỏ được đặt trong lồng để dưới chân. Trên đường chúng tôi
yên lặng. Trung Đan thấp thỏm như có chuyện muốn nói nhưng vẫn không thốt ra lời.
Còn giáo sư Nghị thì ra chiều suy nghĩ, mắt nhìn cảnh vật bên ngoài trôi nhanh.
Càng gần đến nhà bao nhiêu lòng tôi càng hồi hộp, tôi đã ra đi rồi bây giờ quay
trở lại. Lúc đi, tôi chỉ muốn trốn lánh bao nhiêu chuyện mà bây giờ vẫn còn đó,
lần này trở về lại gặp lại, tình thế ra sao? Vấn đề vẫn chưa giải quyết được gì
cả. Tôi phải làm sao đây? Xe lửa đã vượt qua Đài Trung, Tân Trúc, trạm này tiếp
nối trạm khác, thành phố Đài Bắc càng cận kề. Bây giờ khung trời bên ngoài đã
đen sẫm, những ánh đèn chớp mờ xa xa càng lúc càng rõ. Nhìn những điểm sáng bên
kia đồng cỏ, tôi thắc mắc không hiểu nơi đó có người ở không? Họ sinh sống ra
sao? Có phải lúc nào cũng đau khổ rối rắm như cuộc sống của chính mình chăng?
Xe băng qua Trúc Bắc, Đào Viên, Trung Đan đổi thế ngồi, tôi quay sang nhìn,
thái độ chàng thật kỳ quặc. Sau cùng, chàng hắng giọng: - Thưa giáo sư. Giáo sư
La Nghị giựt mình quay lại nhìn dò hỏi. - Tôi có câu chuyện muốn bàn với giáo
sư ngay trong lúc xe chưa vào thành phố, xin giáo sư cho biết ý kiến. Liếc sang
tôi, chàng xiết chặt đôi tay tôi:
- Khi đến Đài Bắc, tôi muốn được tuyên bố lễ đính hôn với Ức
My, ngay sau đó tôi sẽ chịu trách nhiệm về cuộc sống của nàng, và sẽ tìm một
căn nhà riêng...
Giáo sư cướp lời, giọng nói ông có vẻ gay cấn:
- Anh nói thế là sao? - Tôi muốn nói, Trung Đan có vẻ quyết định
- Khi Ức My về đến Đài Bắc, nàng sẽ không về nhà giáo sư mà tôi sẽ mướn căn nhà
khác...
- Nói bậy! Anh lấy tư cách nào để lo cho Ức My như vậy. Giọng
nói của giáo sư có vẻ giận dữ Trung Đan xiết chặt tay tôi hơn anh nói: - Tôi là
vị hôn phu của nàng, tôi muốn được chăm sóc nàng. Thưa giáo sư, nàng ở nhà ông
thật bất tiện. - Tại sao bất tiện? Ai ăn thịt nó đâu? Trung Đan nói: - Ai làm
sao biết được. Nhưng ở nhà ông, nàng sẽ không vui được. Giáo sư đừng để nàng phải
buộc lòng đi lần nữa. - Tôi đâu có đuổi nó? Giáo sư La Nghị quát. - Nhưng hình
như người nào trong nhà họ La cũng muốn đuổi nàng đi cả. Trung Đan nhìn thẳng
vào giáo sư Nghị chàng nhấn mạnh từng chữ một. - Thưa giáo sư, Ức My là gì của
ông? Chậm rãi lấy tấm hình trong túi đưa ra trao cho giáo sư Nghị, Trung Đan tiếp:
- Tấm hình này là ai đây? Tôi liếc sang nhìn tấm hình, đó là
hình Khởi Khởi lúc còn bé. Tôi lạ lùng nhìn Trung Đan rồi lại nhìn giáo sư Nghị,
không biết chàng đang làm trò gì? Nhưng hình như ông Nghị đang tức giận, đôi mắt
tròn xoe, râu tóc ông dựng đứng lên, giựt lấy tấm hình, tay ông run rẩy. Một
lúc lâu ông mới ậm ự hỏi: - Trung Đan, anh tưởng anh có quyền tò mò bí mật gia
đình người khác à? - Không phải thế. Tôi chỉ muốn bảo vệ người tôi yêu, chỉ muốn
nàng không bị ám hại. - Ai ám hại nó. Trung Đan nhìn tôi: - Ai biết, nhưng có
thể là người biết rõ thân thế của nàng ganh ghét nàng. Thưa giáo sư, tôi nghĩ rằng
tốt nhất là ngài nên nói ra, thật ra nàng là ai? Đôi mắt giáo sư mở lớn, tôi tưởng
chừng như ông sẽ nhảy chồm về phiá Trung Đan. Nếu xe hỏa ngừng lại, không biết
hậu quả sẽ thế nào. Trung Đan chủ động cái nhìn. hai người nhìn nhau không nói
gì cả. Xe hỏa vẫn lao vút trong màn đêm bỏ lại phiá sau những tàn lửa bay bay.
Đến ga Vạn Huê ánh đèn sáng rực lên, Giáo sư Nghị nhẹ nhàng hỏi:
- Anh đã biết được gì? Trung Đan nhỏ giọng: - Không nhiều lắm.
Nhưng nếu giáo sư cứ giữ kín mãi thì không sáng suốt chút nào, có bí mật nào
không lộ ra đâu? Ức My cũng có quyền hiểu rõ đời của nàng chứ? Giáo sư La Nghị
lẩm bẩm điều chi trong miệng, Trung Đan lại tiếp:
- Nếu ngài thấy rằng Ức My cần phải ở lại nhà họ La, có lẽ
giáo sư đã có những lý do riêng của giáo sư. Nhưng nếu ở trong nhà ông Ức My chỉ
như là một kẻ ở đậu không hơn không kém, thì chi bằng ngài hãy để cho nàng được
sống một cuộc đời tự do, không bị sỉ nhục có hay hơn không. - Sỉ nhục? Ai sỉ nhục
nó chứ? - Chính Khởi Khởi. Cô ấy khinh thường Ức My, lý do lớn nhất là tưởng rằng
nàng chỉ là đứa con côi đến ăn nhờ ở đậu. Giáo sư Nghị giật mình. Tôi có cảm
giác như ông ta đang run rẩy. Xe hỏa ngừng lại ở sân ga Đài Bắc, tiếng máy khuếch
âm cho biết đã đến nơi rồi. Trung Đan đứng dậy, xách hành lý của tôi và lồng thỏ
bước về hướng cửa. Chàng hỏi giáo sư Nghị: - Thưa giáo sư, địa vị của Ức My và
Khởi Khởi có ngang nhau chăng? Ông Nghị bước xuống xe, đứng nơi sân ga ông nhìn
Trung Đan nói:
- Cũng không hoàn toàn ngang nhau. Tôi nhảy xuống xe đi qua
hai hàng lan can bước ra ngoài. Những chiếc xe xích lô, taxi tranh nhau đón
khách. Trung Đan nhìn giáo sư Nghị: - Bây giờ đi đâu? - Về nhà, chớ còn đi đâu
nữa. Ông Nghị giận dữ. - Về nhà ông à? Giáo sư Nghị ưỡn ngực ra, bàn tay ông
trên vai tôi run rẩy, ông nói: - Đúng vậy, về nhà tôi cũng là nhà của Ức My.
Trung Đan thở phào, chàng ngoắc tay gọi taxi. Chúng tôi chui vào, Trung Đan nói
với bác tài: - Đến đường Roosevelt! Rồi quay sang tôi - Em làm gì đó? Tôi đáp:
- Dạ, chú thỏ của em nó đang nóng ạ. Giáo sư Nghị hơi rung động, ông thở dài:
- Cũng lại là chú thỏ. Bản tính em giống hệt mẹ. Tôi hỏi một
câu mà đã lâu rồi lòng vẫn nghi vấn:
- Thế mẹ tôi là ai? Từng chữ, từng chữ một, giáo sư Nghị nhấn
mạnh: - Là vợ tôi!
Chương 17
Ánh trăng tuyệt đẹp ngoài khung cửa. Chúng tôi quây quần
trong phòng khách: Giáo sư La Nghị, Trung Đan, Hạo Hạo, Khởi Khởi và tôi. Chỉ
thiếu một mình bà Nghị, có lẽ bà đã ngủ rồi, vì khi tôi, Trung Đan và ông Nghị
về đến nhà đã hơn 10 giờ. Giáo sư Nghị lần lượt cho người gọi Hạo Hạo và Khởi
Khởi xuống và dặn đừng phá giấc ngủ của bà Nghị. Khi mọi người đã tụ họp đông đủ,
chúng tôi ngồi thành vòng tròn, chính giữa là hỏa lò cháy đỏ. Đêm đã khuya lắm
rồi, cửa kính đã đóng chặt, ánh trăng vờn đục khung mây, trong phòng đèn đã được
thắp sáng tỏa những tia sáng mờ ảo tạo nên cảnh âm u. Hỏa lò với những ánh lửa
bập bùng soi rõ từng nét mặt. Giáo sư La Nghị tựa người vào ghế, đôi mắt mơ
màng nhìn vào lửa, bắt đầu kể lại chuyện ngày xưa:
Năm ấy là năm Dân Quốc thứ 27. Vừa tốt nghiệp đại học xong,
tôi bắt đầu đi khảo cứu địa chất. Tôi đến vùng Quảng Tây, Quí Châu vừa du lịch,
vừa thu thập một số đá Chung Vũ và Thạch cao. Trời vừa sang thu, tôi cũng vừa tới
My Đàm, một thị trấn thuộc tỉnh Quí Châu, thì gặp Tú Lâm mẹ của Ức My. Giáo sư
La Nghị ngừng lại, nhìn tôi rồi quay sang nhìn Hạo Hạo, ông tiếp:
- Cũng là mẹ của Hạo Hạo. - Gì? Hạo Hạo hoảng hốt kêu lên.
Ông Nghị chận lại:
- Đừng nóng, để tôi kể tiếp. Rồi đưa tay lên xoa mũi, mắt ông
rơi vào cõi suy tự một lúc ông tiếp:
- Tôi quên nói là thuở xưa nhà tôi rất giàu có. Cha tôi là một
trong những thương gia nổi tiếng nhất tại Quế Lâm. Tôi lại là con một nên thụ
hưởng cả một sản nghiệp to tát của cha già. Ra trường xong, mang theo hai người
tớ để phục dịch, tôi đã đi đến những vùng lân cận vừa để du lịch, vừa để khảo
sát địa chất tại nơi đó. Thật ra nói là vậy chớ khảo sát địa chất chỉ là một
cái cớ nhỏ mà thôi. Đến My Đàm, lúc đầu tôi không định ở đó lâu, vì nơi đây chỉ
là một địa phương nghèo nàn đơn bạc. Nhưng ở đây tôi đã gặp Giang Tú Lâm. Tôi
còn nhớ, hôm ấy là một buổi chiều mặt trời vẫn còn nằm trên đỉnh núi, nhưng
ráng chiều đã phủ vây cả bầu trời với từng đàn hạc bay không mỏi cánh. Tôi gặp
Tú Lâm bên một tàng cây lớn. Tay cầm cọ, tay cầm giá vẽ, đường nét của nàng
không xuất sắc lắm, người cũng không đẹp lắm, những dáng điệu của nàng thật
thoáng đạt, thật dễ mến. Lúc ấy tôi còn rất hào hoa phong nhã nên tôi đã tìm cơ
hội để làm quen. Vẫn tưởng rằng đó chỉ là một trong muôn ngàn chuyện tình vớ vẫn
khác sẽ qua đi, nhưng không ngờ tôi không thể xa nàng được. Tú Lâm là con nhà
nghèo, trình độ học vấn chỉ đến tú tài, nhưng thật thà lương thiện. Lúc nào tôi
cũng cảm thấy nàng là một kho tàng phì nhiêu vô giá, đầy ưu điểm. Đến Quế Lâm,
sự giàu sang của gia đình tôi đã làm cho nàng lo sợ, tôi tớ trong nhà quá nhiều
khiến nàng luống cuống, nhất là sự cố ý coi thường nàng của cha mẹ tôi làm cho
nàng bao đêm phải tủi thân khóc thầm. Nhưng nàng quả là con người đầy tự tin.
Chỉ trong vòng một năm, sự nhẫn nại đã khắc phục bao nhiêu khó khăn và thu phục
cảm tình của kẻ ăn người ở trong nhà. Tôi chắc chắn là khó có ai tìm được người
vợ hoàn toàn như Tú Lâm. Ai ai cũng phải yêu thương nàng. Tú Lâm không bao giờ
ra vẻ ta đây là chủ nhân, nàng hòa đồng với tất cả mọi người. Vui vẻ, không ưu
tư, thích ca hát hay vui cười. Lúc nào tiếng cười của nàng cũng vang vang khắp
nhà ra đến khu vườn hoa rộng lớn. Chẳng bao lâu cuộc sống tù túng trong nhà làm
nàng mệt mỏi. Là người năng hoạt động nên Tú Lâm đã trồng hoa cỏ, nuôi cá
vàng...nhưng bao nhiêu đó vẫn chưa làm nàng thỏa mãn. Nàng là người rất nhân từ,
thế nên không rõ từ lúc nào nàng đã sinh ra tật nuôi thú. Mỗi lần ra phố trở về
là nàng mang theo nào là chó xà mâu, mèo ghẻ lở dơ dáy, loại nào nàng cũng
không từ, miễn là chúng tàn tật đáng thương. Tú Lâm đã không nề hà khó nhọc, tự
tay săn sóc thuốc men, tắm rửa, cho ăn...chỉ mong đến một ngày nào đó được nhìn
thấy chúng mập mạp khỏe mạnh hơn. Hành động này của nàng, lúc đầu tôi cũng thấy
thích, nhìn nàng sung sướng tôi cũng vui lấy. Nhưng rồi dần dần, cái cảnh chim
chó chạy bay đầy nhà như trong sở nuôi thú tàn tật làm tôi khó chịu. Mặc dù tôi
đã khuyên bảo nàng nhiều lần nhưng Tú Lâm vẫn không nghe, nàng còn cãi: - Anh
có thể đưa mắt nhìn một con vật bị bỏ rơi chăng? Anh không yêu cuộc sống của
loài vật à? Không có gì sung sướng cho bằng được nhìn thấy những con vật tàn tật
kia trở nên mạnh khỏe. Em thích nuôi chúng, anh nỡ nào bóp chết nguồn vui của
em sao? Thôi được! Tôi chỉ còn biết để cho nàng tiếp tục công việc đó. Kết quả,
Tú Lâm càng lúc càng thay đổi hơn. một hôm, nàng về quê thăm người bà con xa,
khi trở về nàng đã mang theo một đứa con gái khùng khùng điên điên không biết
nói - đó là Gia Gia. Nó ngớ ngẩn, ốm yếu, ghẻ lở. Tôi đã trách nàng sao làm mà
không suy nghĩ gì cả, mang chi những bực bội về nhà, thì nàng lại bảo: - Chúng
ta đâu sợ có thêm một miệng cơm. Ở nhà nó không ai ưa nó cả, nó sống khốn khổ
không bằng con chó của chúng ta nữa, anh không thấy nó đáng thương sao? Anh đừng
lo, và nó cũng không đến nỗi nào đâu, để em dạy nó trồng hoa, nuôi súc vật chắc
chắn nó sẽ làm được. Anh đừng lo, để nó cho em. Thế là Gia Gia được ở lại. Suốt
cả nửa năm trời nàng nhọc công dạy dỗ nó trồng hoa, nuôi súc vật. Tuy cực khổ
nhưng Tú Lâm vui sướng lắm. Thuở ấy bản nhạc Tú Lâm thích hát nhất là bản “Hoa
Phi Hoa” nàng đã mất cả năm trời dạy dỗ Gia Gia mới hát được. Đến nay bài hát
này là bản nhạc mà không bao giờ Gia Gia quên được. Khi Gia Gia biết hát xong,
Tú Lâm mừng rỡ như kẻ sung sướng nhất đời, nàng chạy đến bên tôi khoe khoang: -
Nó không phải là con khùng, anh có thấy không? Nhưng rồi khùng thì bao giờ cũng
khùng, Gia Gia hát xong bản nhạc đó thì không hát được một bản nào khác nữa. Suốt
ngày chỉ ca độc nhất một bản này. Tuy rằng vậy, nhưng về nghệ thuật trồng hoa
và nuôi thú vật thì nó rành lắm, có thể xem như là chiếc bóng của Tú Lâm. Việc
nàng yêu thương nó có lẽ nó cũng ý thức được, nên mỗi khi nhìn Tú Lâm tưới hoa,
nó cũng phụ một tay, ngay cả ý thích của nàng, Gia Gia hình như cũng biết. Thí
dụ Tú Lâm thích loài hoa vàng nhỏ, một loài hoa vô danh mọc khắp cánh đồng, thì
Gia Gia tối ngày leo mãi trên núi tìm kiếm về cho Tú Lâm, tôi nghĩ rằng đây
cũng là nguyên do tại sao Gia Gia thích Ức My, vì Ức My có nét giống mẹ, còn nó
thì vẫn không thể phân biệt được Tú Lâm với Ức My. Năm Dân Quốc thứ 29 Hạo Hạo
ra đời. Hạo Hạo đã đem lại cho nàng nỗi vui mững khôn xiết, khỏi phải nói thì
các người cũng biết tôi vui ra sao. Nhất là tôi nghĩ rằng khi đã bận bịu con nhỏ,
Tú Lâm sẽ không còn mang ba cái loài vật tàn tật kia về nữa, vì tình thương con
sẽ chiếm trọn lòng nàng. Nhưng tôi đã lầm, khi Hạo Hạo vừa được đầy tháng, thì
có người đến muốn nàng đưa con về thăm quê ngoại, thế là nàng bồng con đi. Ở
quê nhà khoảng hai tháng, nàng trở về nhà. Phiá sau chiếc kiệu của nàng còn
mang theo một chiếc kiệu khác, có lẽ vì sợ chói nắng nên được buông rèm kín.
Khi kiệu vào cổng, tất cả tôi tớ trong nhà đều ra đón nàng, tôi cũng đứng lẫn
trong ấy. Tú Lâm vừa bồng con bước ra nhìn thấy tôi nàng vui mững lắm. Nét mặt
đó bây giờ tôi vẫn còn nhớ rõ, nàng gọi lớn: - Anh Nghị! Tôi nhìn chiếc kiệu thứ
hai, thắc mắc: - Ai đó? - Em mang về cho anh một sự ngạc nhiên. - Cái gì thế? -
Anh hứa với em là anh không giận đi em mới nói. - Nhưng cái gì mới được chứ!
Nàng dẫn tôi đến cạnh chiếc kiệu thứ hai, vén rèm cửa sang một bên. Tôi thấy một
đứa con gái thật ốm yếu. Nói thật, lúc ấy tôi rất hoảng hốt vì nước da của cô
ta trắng xanh, thân thể chỉ còn da bọc xương, đôi mắt to và đen trơ tráo nhìn
tôi. Tôi lui về sau một bước, hét to: - Cái gì nữa đây hở? Tú Lâm nở một nụ cười
thật tươi, nàng nói: - Đó là người chớ gì nữa hở ông xã của tôi? Tôi hơi giận:
- Thì ai lại không biết đó là người, nhưng là người gì? Ánh mắt Tú Lâm tinh
quái nhìn tôi, nàng nói như trêu chọc:
- Người con gái chớ là người gì nữa. Tôi giận dữ: - Con gái?
Tôi không biết nó là con gái sao? Nhưng đem nó về đây làm gì, ai thế? Tú Lâm
hơi hờn dỗi vì thấy tôi giận, nàng nói:
- Cô em gái của tôi đó. - Em gái? Sao hồi đó tới giờ tôi
không nghe em nhắc đến? - Em, nhưng là em họ. Nó họ Giang, cha nó và cha em
cùng một đầu ông cố. - Xa đến thế cơ à? Tôi cố gắng nhẫn nhịn. - Thôi được, kể
như em gái của em đi, nhưng em mang nó về đây làm gì? - Nó đang bệnh. - Trời!
Tôi trố mắt, đã hiểu rõ việc nàng sắp làm - Nhưng bệnh gì chứ? - Bệnh phổi, đã
đến thời kỳ thứ hai, ngoài ra nó còn...
- Còn sao? - Thần kinh hơi suy nhược nên người nhà định đem gởi
vào nhà thương điên. Tôi giận quá không còn chịu nổi nữa, quát to: - Hết khùng
rồi bây giờ tới điên. Nhà này có phải là viện dưỡng bệnh đâu? Nhìn nét mặt khẩn
thiết và chân tình của Tú Lâm tôi càng giận. - Em mang nó đến đây làm gì? Bộ
đây là nhà thương điên hả? Tú Lâm nói: - Sao anh tàn nhẫn quá vậy. Thấy người
ta bệnh như thế mà còn muốn đưa vô nhà thương điên nữa, bộ muốn giết họ sao? Cứu
người là một việc tốt mà anh không thích. Thần kinh nó đâu đến nỗi nào, anh
không ưa thì để mặc em. Cũng lại câu nói đó, lúc nào cũng cứ thế mà lý luận.
Tôi thở dài, chỉ biết để nàng khuất phục. Ngoài ra không lẽ mang người ta tới
đây, rồi bây giờ lại đuổi về sao? Tôi chỉ còn biết chấp nhận: - Thôi được rồi,
em đã lỡ mang họ đến đây rồi, anh biết nói sao? Được rồi, để họ ở lại đây đi.
Tú Lâm sung sướng: - Anh Nghị, anh tốt quá, anh quả là người có trái tim vĩ đại
nhất đời. Và thế là người con gái kia đã bước vào gia đình tôi, đó chính là Nhã
Trúc. Giáo sư Nghị im bặt ngay, trong phòng yên lặng không một tiếng động nào
ngoài tiếng thở phập phồng của mọi người, tiếng tí tách của hỏa lò và tiếng gió
than van. Trên nền cửa kính, bóng cây lay động chập chờn. Xa xa những tiếng
chim đêm lạc giọng như gọi đàn, như kêu khóc vì mất bạn đồng hành! Nước mắt tôi
dâng lên trong lòng mắt. Tú Lâm! Người mẹ yêu quí nhất đời tôi, theo lời giáo
sư Nghị đó là một người đàn bà hiếm có, thương người và rộng rãi. Vâng! Đấy
chính thật là hình ảnh của mẹ tôi rồi.
Giáo sư Nghị lại ngước mắt lên âu yếm nhìn tôi: - Ức My, con
có còn nhớ những thí dụ về loài Thố Ty Hoa của con không? Tôi không đáp ông tiếp:
- Khi Nhã Trúc mới đến, nàng thật giống như loài Thố Ty Hoa,
yếu ớt gầy còm phải nương bám vào một loài thực vật khác mới có thể sống được.
Tú lâm bận rộn suốt ngày nhưng nàng vẫn vui vẻ lo săn sóc Nhã Trúc, lại mời cả
những vị y sĩ danh tiếng đến trị bệnh. Lo lắng cho nàng như cho một đứa em ruột.
Mùa xuân năm sau sức khỏe của Nhã Trúc hoàn toàn bình phục, má nàng đã phơn phớt
hồng. Nàng đẹp như đóa hoa sen hé nụ Nhã Trúc càng được Tú Lâm thương yêu, chăm
sóc hơn, nàng luôn miệng gọi Nhã Trúc là công chúa Bạch Tuyết, sắm thật nhiều
áo quần trắng tinh, cho sửa soạn phòng riêng của Nhã Trúc đẹp hẳn. Lúc nào nàng
cũng bảo chỉ có màu trắng là thích hợp với Nhã Trúc mà thôi. Thời gian cứ thế lặng
lẽ trôi qua, Nhã Trúc càng lúc càng đẹp, lúc ấy nàng đang ở tuổi đẹp nhất của
thời con gái - Đó là cái tuổi 19. Thần kinh của nàng sau một thời gian dài điều
trị hình như đã trở lại trạng thái bình thường, không có vẻ gì điên dại nữa.
Năm Dân Quốc thứ 32, chiến tranh lan tràn đến Quảng Tây. Tôi dắt díu gia đình
chạy loạn sang Trùng Khánh. Gia Gia và Nhã Trúc đều được dẫn theo. Năm đó, Tú
Lâm lại thụ thai, vợ chồng tôi quyết định dù là trai hay gái cũng đều đặt tên
Khởi Khởi. Cũng trong thời gian này, Nhã Trúc lại trở bệnh chúng tôi cho mời y
sĩ đến, nhưng vẫn không tìm ra bệnh, chỉ biết nàng ăn không ngon mà uống cũng
không được. Một ngày, rồi một ngày trôi qua nàng càng trở nên tiều tụy hơn. Điều
này khiến cho Tú Lâm luýnh quýnh, cho mời hết y sĩ này đến y sĩ khác những vẫn
hoài công. Nhã Trúc như một cánh hoa tàn, càng lúc càng héo hon, chúng tôi
không còn hy vọng gì nữa. Nói thật, lúc ấy, sống chung một thời gian dài cạnh
Nhã Trúc, tôi cũng bắt đầu nhen nhúm sự thương mến, vì người con gái đẹp nào mà
lại chẳng mang sức thu hút người khác? Nói gì Nhã Trúc còn có một ưu điểm khác
là vẻ yếu đuối của nàng rất dễ kích thích bản tính thích bảo vệ của phái nam.
Tôi thú nhận như vậy, nghĩa là tôi đã yêu Nhã Trúc. Do đó, nhìn thấy nàng càng
lúc càng héo mòn trên giường bệnh, tôi cũng quýnh quáng không thua gì Tú Lâm. Mặc
dầu được chúng tôi hết sức lo lắng cơm nước, Nhã Trúc vẫn không nuốt vô được một
hột, chúng tôi càng ngày càng hết hy vọng. một buổi tối khi tôi thay phiên Tú
Lâm trực bên giường bệnh của Nhã Trúc - lúc này vợ tôi đang có mang, nên tôi muốn
nàng được ngủ nhiều cho khỏe - thì giây phút tội lỗi kia đã đến. Lúc ấy tôi
đang ngồi cạnh giường nàng, Nhã Trúc bỗng mắt mở ra nhìn tôi, tất cả sự vật
trong vũ trụ như tiêu tan. Tôi không biết chuyện gì đã xảy đến, chỉ hiểu rằng
tôi đã yêu, đang yêu người con gái bé bỏng yếu đuối này. Tôi đã nắm tay nàng.
Nhã Trúc cười - Nụ cười mà cổ nhân thường bảo là nghiêng thành - nhìn tôi nàng
nhỏ nhẹ hỏi:
- Có phải em sắp chết không anh? Tôi đáp:
- Không! Em sắp lành bệnh rồi mà! Nhã Trúc thở dài:
- Nếu giây phút cuối cùng của đời em mà được anh yêu thì em
mãn nguyện biết bao! Anh có biết là em đã yêu anh không? Một câu nói như sóng vỡ
bờ. Nàng đã sắp chết tôi có nên dấu diếm là mình cũng đã yêu nàng? Thế là tôi
cúi xuống hôn nàng, nụ hôn của tôi như có một mãnh lực mang lại sinh khí cho đời
nàng. Thật là lạ lùng, nàng bỗng nhiên hết bệnh. Tú Lâm vui sướng lắm nhưng
lòng tôi thì buồn vui lẫn lộn. Vui vì thấy Nhã Trúc hết bệnh, nhưng hổ thẹn vì
thấy mình đã phụ lòng Tú Lâm.
Tôi đăm đăm nhìn giáo sư Nghị. Trong hỏa lò có một hòn than sống,
khói tung lên làm đỏ mắt tôi. Giáo sư Nghị lại tiếp: - Đứa con gái mới sinh ra
chiếm hết tâm hồn của Tú Lâm. Con bé thật khỏe thật đẹp mà chúng tôi đặt tên là
Khởi Khởi. Trong lúc Tú Lâm bận rộn vì con nhỏ thì tình cảm giữa tôi và Nhã
Trúc bước vào một giai đoạn mới. Điều này thật khó giải thích, có lẽ là do vẻ yếu
đuối, bệnh hoạn của nàng đã làm khơi dậy trong lòng tôi bản năng bảo vệ. Nhã
Trúc hoàn toàn khác Tú Lâm, nàng lúc nào cũng đòi hỏi sự che chở. Phải chăng
tình cảm tôi lúc ấy đã có sự pha trộn giữa tình yêu và sự thương hại? Dầu câu
chuyện này đã xảy ra cách đây 20 năm, hôm nay trước mặt các con của Tú Lâm và
Nhã Trúc, tôi vẫn thành thật mà nhận rằng đối với Tú Lâm tôi khâm phục nàng,
nhưng đối với Nhã Trúc thì tôi yêu nàng...
Thay đổi thế ngồi, tôi kín đáo ngắm Hạo Hạo và Khởi Khởi. Nét
mặt của Hạo Hạo băn khoăn, đôi chân mày hắn chau lại, gương mặt Khởi Khởi càng
lúc càng trắng bệch thêm. Giáo sư Nghị kể tiếp: - Như điều Ức My đã nói, Nhã
Trúc chỉ là một cây Thố Ty Hoa một khi rễ đã bám sâu vào cây Tòng là không thể
dứt ra được, trừ trường hợp ta muốn nó chết đi. Mối tình của Nhã Trúc đối với
tôi cũng thế, nó giống như những chiếc rễ đã bám sát vào thân, mặc dù biết đó
là tội lỗi, là lầm lẫn, không thể tha thứ được, nhưng vẫn không dứt được. Tình
yêu khi đã phát sinh thì không cách nào ngăn chặn được. Tôi biết thế, biết rằng
từ đây Nhã Trúc không thể nào rời xa tôi được nữa, trừ phi nàng chết đi. Còn
riêng tôi thì cũng thế, tôi không thể chống đối lại được sức quyến rũ trước sắc
dẹp và tình yêu của nàng, thế là tôi đã trở thành một người đàn ông phản bội.
Nhưng tội cho vợ tôi! Nàng vẫn ngây thơ trung hậu, không biết rằng nàng công
chúa Bạch Tuyết kia đã chiếm đoạt chồng của nàng! Thế rồi Nhã Trúc lại thụ
thai. Chuyện bí mật kia không thể dấu diếm được nữa. Khi Nhã Trúc mang thai thì
nàng bệnh nặng, y sĩ cho biết là nàng đã thụ thai 3 tháng, chuyện đã như thế
này tôi biaếng thở d´ng dấu uột. Tiếng than của ai đó? Phải chăng là oan hồn
người đã mất? Bóng cây l của Tú Lâm nhìn tôi lúc đó. Tôi nghĩ rằng bản tính của
Tú Lâm rất khoan dung quảng đại, sẽ tha thứ cho tôi và Nhã Trúc, nhưng không ngờ
khi nghe xong nàng nổi giận, nàng đi ngay vào phòng Nhã Trúc. - Tim cô đâu rồi
hở? Tim cô đâu mang ra cho tôi xem. Cô em gái yêu quí của tôi, để tôi xem cô
còn trái tím hay đã mất! Nhã Trúc chỉ biết khóc, nàng cứ khóc mãi. Tôi đứng giữa
cảnh này không biết phải đối phó ra sao? Thế nhưng tôi vẫn không quên nuôi hy vọng
là để cho Tú Lâm trút cả cơn giận dữ ra ngoài như thế này, nàng sẽ bớt đau khổ
đi và sẽ dễ tha thứ cho chúng tôi hơn. Buổi sáng hôm sau, chúng tôi khám phá ra
là Tú Lâm đã bỏ đi. Nàng để Hạo Hạo lại và bồng theo đứa con gái chưa đầy 5
tháng. Chúng tôi tìm thấy một mảnh giấy nhỏ. Tôi nuôi một con chó, nó còn biết
thân thiện quấn quít tôi, nuôi một con khùng nó còn nghĩ đến ân nghĩa. Thế mà lần
này tôi đã nuôi một con người không có trái tim và nó đã phản tôi. Trong suốt
cuộc đời này, tôi mong rằng sẽ không bao giờ nhìn lại khuôn mặt các người nữa.
Nếu có gặp lại chăng đó chẳng qua chỉ để đòi món nợ khó quên này mà thôi Ký tên
Tú Lâm Khi Tú Lâm bỏ đi rồi, chúng tôi đã đi tìm khắp nơi và nghe ngóng mãi vẫn
không ra. Giáo sư Nghị ngừng lại một lúc. Tất cả gian phòng yên lặng. Gió bên
ngoài thổi mạnh, ánh trăng sáng ngà. Bóng cây chập chờn trên kính và văng vẳng
đâu đây những tiếng thở dài não nuột. Tiếng than của ai đó? Phải chăng là oan hồn
người đã mất? Bóng cây lay động trong gió vi vu, tim tôi như se thắt. Quay nhìn
ông Nghị, ông đương trầm tư nhìn vào hỏa lò, ánh lửa như nung đỏ cả khuôn mặt
ông. Ông tiếp:
- Tôi biết bản tính Tú Lâm, một khi đã ra đi nàng sẽ không
bao giờ trở lại. Nhã Trúc từ khi va phải thảm kịch này, bệnh cũng bắt đầu tái
phát, thần kinh nàng rối loạn, lúc nào nàng cũng lập đi lập lại:
- Anh có thấy là em không có trái tim chăng? Em có thật là đứa
con gái đánh mất lương tâm chăng? Thật chăng? Tôi cho mời bác sĩ đến, nàng lần
lần phục hồi, nắm lấy áo tôi khóc: - Anh đừng bỏ em nhé anh, đừng bỏ em! Em
không hề cướp anh của chị ấy, chỉ tại lòng em quá yếu mềm. Tôi đã mất Tú Lâm
thì không thể nào tôi để cho Nhã Trúc bị mất luôn, nên tôi đã chìu chuộng, chăm
sóc Nhã Trúc thiệt tình. Chẳng bao lâu, nàng sinh hạ một gái. Để nhớ đứa con
gái mà tôi đã đánh mất, tôi đã đem cái tên Khởi Khởi kia đặt cho nó.
Ông quay nhìn Khởi Khởi:
- Đứa bé sau này chính là con. Rồi quay sang Trung Đan:
- Còn đứa bé trong hình là Ức My. Ngưng lại một lúc như để
cho qua cơn xúc động, ông Nghị tiếp: - Từ đó, bệnh của Nhã Trúc lúc lành lúc
phát, mỗi lần nhìn những vật dụng của Tú Lâm để lại nàng đều xúc động phát bệnh
lại. Vì thế, tôi đã cho người mang đi hết tất cả những loài vật mà Tú Lâm đã
nuôi, chỉ còn để lại Gia Gia, vì nó không thể tự sinh sống được, và tôi nghĩ nó
là công trình mà Tú Lâm đã để hết tâm trí dạy dỗ, nên tôi không thể nào đuổi nó
đi. Chúng tôi sống tại Trùng Khánh cho mãi đến năm Dâm Quốc thứ 38 thì sang Hồng
Kông. Tại đây, tôi cũng cho người dò la tin tức của Tú Lâm và được biết nàng đã
lập gia đình khác. Năm năm trước tôi dọn đến Đài Loan, mà mãi đến năm ngoái mới
nhận được thư của Tú Lâm nói con đã lớn và nàng sắp chết, mong tôi sẽ nuôi dưỡng
nó để nó tiếp tục học đến khi tốt nghiệp Đại Học. Nhận được thư, tôi vội cho
người đi dò la tin tức khắp nơi để tìm cho gặp Giang Tú Lâm. Chưa tìm được thì
con đã đến. Tôi thút thít khóc, lấy khăn tay chậm chậm nước mắt, nhưng nó trào
ra mãi không thôi. Tôi không còn biết nói gì nữa, trong màn lệ hình như tôi đã
thấy được khuôn mặt của người mẹ đáng thương của tôi hiện ra, bóng dáng đau buồn,
nghèo khổ của người trên giường bệnh. Trời ơi! Mẹ tôi sao khổ sở, nghèo nàn như
vậy. Đến cả giờ phút lâm chung sao người vẫn không chịu hở môi cho tôi biết cuộc
đời của tôi ra sao? Mẹ ơi! Mẹ! Giáo sư Nghị hạ thấp giọng xuống, ông nói tiếp:
- Những việc xảy ra sau đó, tôi không cần nói chắc các người
cũng đã hiểu được rồi. Hạo Hạo! Con không nhìn ra đứa em gái cùng cha cùng mẹ với
con sao? Chúng con đã có một người mẹ thật cao cả. Đó là lý do tại sao cha lúc
nào cũng phản đối, ngăn cấm tình yêu của con và Ức My, con đã hiểu chưa? Bản
tính của con lãng mạn hơn cả cha thuở xưa nữa nên cha phải đề phòng tội lỗi.
Riêng Nhã Trúc, nàng đã bị Ức My làm kinh hoảng, vì lúc nào nàng cũng tưởng rằng
con là người thay thế mẹ đến đòi nợ nàng. Nhưng, Ức My! Nàng sẽ không hại con
đâu, vì Nhã Trúc yếu ớt và hiền lành lắm. Suốt 20 năm nay, sự dày vò và cắn rứt
của lương tâm đã làm cho Nhã Trúc đau khổ khôn cùng. Nhìn thấy con, nàng vừa sợ
lại vừa thẹn, nên lúc nào cũng muốn thân thiện với con, nhưng cũng luôn đối
kháng con, cộng thêm chứng bệnh thần kinh luôn thay đổi, sợ con cướp lấy Trung
Đan của Khởi Khởi khiến nàng đã không biết làm cách nào để đối xử với con. Tôi
khóc không thành tiếng, không cần biết ai là giáo sư La Nghị, ai là bà Nghị nữa,
mà có thật bà ta xứng đáng là bà Nghị chăng? Tôi cũng không cần Hạo Hạo và Khởi
Khởi. Bây giờ tôi chỉ còn biết có mẹ tôi, người mẹ đáng thương biết chừng nào.
Trong suốt câu chuyện vừa qua tôi thấy người là kẻ bị hy sinh một cách tội nghiệp.
Mẹ tôi có tội gì đâu mà phải chịu đau khổ suốt cả cuộc đời? Có phải vì người đã
phạm lỗi cứu một người con gái bất hạnh chăng? Nghĩ đến cuộc sống nghèo khổ, nhịn
nhục và mái nhà lụp xụp mà mẹ con tôi phải sống trong suốt những năm dài, những
bữa cơm đạm bạc và chứng bệnh củe mẹ. Nếu không khổ sở nghèo túng thì mẹ tôi
làm sao chết sớm như thế? Thật là cả một sự bất công! Giáo sư Nghị lại tiếp: -
Hôm nay tôi đã kể rõ tất cả sự thật, tôi không cần biết các người nghĩ sao về
tôi, về Nhã Trúc, về Hạo Hạo và Khởi Khởi. Chỉ mong mỏi một điều là tôi đã bị mất
một người con gái trong những ngày qua, bây giờ nó đã về đây, thì nó không phải
là đứa ăn nhờ ở đậu mà là đứa con như tất cả nhưng đứa con khác của tôi trong
gia đình này. Nó phải có địa vị và thân thế bình đẳng với những đứa khác. Tôi
mong rằng Hạo Hạo sẽ nhìn lại đứa em gái của mày, cũng như Khởi Khởi nhìn lại
người chị của con...
Lời nói của giáo sư Nghị chưa dứt, thì Hạo Hạo đứng bật dậy
làm ngã chiếc ghế hắn vừa ngồi, rồi hắn cười lớn, nụ cười xúc động nghe thật bi
thương trong đêm vắng: - Ha Ha! Tại sao lại có một chuyện hoang đường như vậy xảy
ra chứ? Ức My là em ruột của tôi? Rồi người đàn bà không thân thích kia lại là
mẹ ruột của mình? Trời ơi! Ha! Ha! Ha! Ha! Thưa cha, thế giới này có phải là một
thế giới điên loạn rồi chăng, hở ba? Ha! Ha. Nước mắt tràn ra má Hạo Hạo. Lần đầu
tiên tôi nhìn thấy hắn khóc. Đá chiếc ghế qua một bên, hắn bước ra cửa đi mất.
Lời nói của Hạo Hạo đã làm tôi xúc động. Đứng lên nhìn giáo sư Nghị lệ tôi đầm
đìa, tôi hét lớn:
- Không! Không! Không! Tôi không muốn làm con của ông! Gia
đình này đã mang đến cho tôi những gì? Ông đã cho tôi những gì? Trong lúc mẹ
con tôi phải chịu sống một cuộc đời kham khổ, thì ông và người đàn bà kia ăn
sung mặc sướng. Thế gian này sao bất công quá? Các người là những kẻ có tội, phải
đền tội. Tôi không bao giờ muốn làm con của ông, không bao giờ! Giáo sư La Nghị
sửng sốt: - Ức My! - Ông đừng gọi tên tôi nữa, tôi muốn ra khỏi nhà này vĩnh viễn,
tôi hận ông, hận các người! Ông và người đàn bà kia, người đàn bà không có
lương tâm, một thứ Thố Ty Hoa không biết cảm xúc! Tôi vừa khóc vừa chạy ra cửa,
nhưng tôi đã chạy lộn cửa sang phòng ăn. Tiếng giáo sư Nghị phiá sau tôi đuổi
theo khiến đầu óc tôi rối loạn, ruột gan tôi tan nát. Tất cả chạy ra ngoài vườn
hoa, tôi không còn biết gì nữa. Phiá sau có tiếng người đuổi theo và tiếng gọi
tên tôi. Mặc kệ họ tôi cứ chạy, vừa chạy vừa khóc, nước mắt tả tơi. Tôi không
biết mình định chạy đi đâu, chỉ biết rằng khi nhìn thấy trước mặt là cây cối um
tùm, tôi mới biết mình đang chạy về phiá rừng cây. Gió vi vu như than thở, bóng
tối chập chờn như nhảy múa trước mặt. Tôi hoảng hốt chạy bừa vào, mặc cho cành
lá quất vào mặt. Bỗng nhiên, thân tôi như chạm phải một vật gì, khi tôi đụng nó
văng qua một bên. Tôi đứng lại, hổn hển thở. Dưới ánh trăng leo lét xuyên qua
cành, tôi thấy đôi giày vải trắng của người đàn bà. Tôi điếng người đứng sững lại.
Vật đó bỗng quay lại đụng vào người tôi - một đôi chân treo thõng, tôi hốt hoảng
nhìn lên, một tử thi của người đàn bà đong đưa trên cây Tòng. Sợ hãi, tôi hét
to lên, tiếng hét của tôi xé tan màn đêm u tịch, rồi tôi ngã xuống, không còn
biết gì nữa.
Chương Kết
Quân vi nữ oa thảo, thiếp tác Thố Ty Hoa. Khinh điều bất tự dẫn,
vi trục xuân phong tà. Bá trượng thác viễn tòng, triền cẩm thành nhất gia. Thụy
ngôn hội diện dịch. Các tại Thanh sơn dã. Nữ Oa phát khinh hương,Thố Ty Hoa đoạn
nhân trường. Chi chi tương chấp kết, diệp diệp thanh phiêu dương Tạm dịch:
Chàng là Nữ Oa Thảo, thiếp tựa Thố Ty Hoa Thân gây không tự dẫn, chỉ tại gió
xuân đưa, Cách xa nhau trăm trượng, kết nhau thành một nhà. Người chân mây kẻ
núi, gặp mặt đâu nào dễ Nữ Oa hương thơm ngát, Thố Ty cảnh đoạn trường, Cành
cành ta xiết chặt, lá lá cùng reo vang.
Một chiếc lá lìa cành rơi trên quyển Đường thi che khuất bài
thơ Cổ Ý của Lý Bạch mà tôi đang đọc. Cầm chiếc lá tôi ngẩng nhìn thân cây Tòng
cao vời vợi trên đầu với dây Thố Ty Hoa. Bây giờ là mùa hạ, những đóa Thố Ty
Hoa đang nở trắng rung rinh theo từng cơn gió nhẹ đưa. Nhìn cành Thố Ty rồi
thân Tòng, tôi có một so sánh lạ lùng, cành Thố Ty Hoa thì yếu ớt trong lúc
thân cây Tòng to lớn, vững chắc, sự cảm động làm tôi ngẩn ngơ. Một cành cây nhỏ
chạm vào mặt khiến tôi giật mình nhìn lại, thì ra Trung Đan đang đứng trước mặt
tôi từ lâu. Tôi hỏi: - Bức tranh anh vẽ xong chưa? Chàng cười nói: - Xong rồi.
Một bức vừa ý nhất! Tôi quay về phiá giá vẽ: - Có thật không đấy? Anh vẽ gì đó?
Chàng mang bức tranh lại cho tôi. Chàng vẽ cảnh một khu rừng với một cô gái
đang ngồi tư lự trên phiến đá, trên gối thiếu nữa có một quyển sách đang mở, tầm
mắt cô ta hướng về phiá những chùm hoa trắng trên cao. Trung Đan hỏi: - Anh chọn
cho bức họa này cái tên “Suy Tư” được không em? Tôi không đáp câu chàng hỏi, chỉ
nói: - Anh vẽ em đấy à? Trung Đan dẹp bức họa sang bên, chàng ngồi xuống nắm
tay tôi: - Em nghĩ gì thế? - Nghĩ về Thố Ty Hoa. - Em còn nhớ đến chuyện xưa
sao? Đã hơn nửa năm rồi, em cũng nên dẹp những hình ảnh kinh hoàng ấy vào ký ức
đi chứ? - Em phải nghĩ đến những chuyện ấy. - Thế em còn hận bà ta ư? Tôi hiểu
ý chàng muốn nói bà ta đây là ai, chàng muốn ám chỉ bà Nghị - không, không phải
thế, mà là muốn ám chỉ Nhã Trúc. - Bà ấy đã đem cái chết chuộc tội, người đã chết
rồi chúng ta cần phải tha thứ tất cả, quên hết tất cả phải không em? Trung Đan
tiếp. Tôi nói: - Tại sao bà lại chọn cây Tòng quấn đầy Thố Ty Hoa này để treo cổ?
Phải chăng bà ấy muốn đem Thố Ty Hoa để so sánh với thân phận chính mình? Em
còn nhớ lần nói chuyện với bà ấy về Thố Ty Hoa, bà ta nói nếu lúc mới sinh ra
đã là Thố Ty Hoa thì làm sao có thể cãi lại mệnh trời cho được? Đó chính là bi
thảm của đời Nhã Trúc. Thở thật dài, tôi tiếp: - Thật ra bà ta cũng không có lầm
lỗi gì lắm, chẳng qua trời trót sinh ra bà ta với một thân phận Thố Ty Hoa.
Trung Đan hôn tôi, chàng nói: - Em đã nghĩ đúng, tha thứ là một bản tánh tốt.
Em tôi đẹp quá! Tôi nói: - Có lẽ bà ấy đã có ý định treo cổ từ lâu rồi, vì sự
dày vò ray rứt của lương tâm này còn có thể quật ngã một người khỏe mạnh, nói
chi bà ấy đã yếu sức, có lẽ chuyện người treo cổ trong khu rừng này đã gợi ý bà
ta. Lúc trước em thường nhìn thấy bóng người, tiếng than khóc tỉ tê có lẽ đều
là của bà ấy phải không anh? - Anh cũng nghĩ thế. Tôi thở dài: - Một cành Thố
Ty Hoa! Lúc nãy trong khi em đọc bài Cổ Ý của Lý Bạch, em nảy ra một ý nghĩ so
sánh lạ lùng. Lúc trước, em thường đem Thố Ty Hoa để so sánh với bà Nghị, cây
Tòng để so sánh với giáo sư La Nghị, nhưng bây giờ em thấy cây Tòng đúng ra phải
là mẹ em, còn giáo sư Nghị là cây Nữ Oa Thảo. Nữ Oa Thảo và Thố Ty Hoa đã nhờ
thân cây Tòng làm mai mối để kết thành lương duyên. Họ đã nhờ mẹ em để trở nên
gia thất. Mẹ em là kẻ lẳng lặng hy sinh để mang hạnh phúc lại cho họ. Trung Đan
nói: - Một so sánh hợp thời, nhưng tại sao em mãi gọi giáo sư La Nghị là giáo
sư mà không là... - Em không quen miệng anh ạ. - Thử xem, Ức My. Ông ấy thương
em, vả lại. ông ta cũng...cô đơn hết sức. - Khởi Khởi đến kìa! Tôi làm lãng. Thật
vậy, Khởi Khởi đang vui vẻ chậm rãi bước về phiá chúng tôi, trên tay có một
phong thư. Suốt nửa năm nay, cô ta là người thay đổi nhiều nhất trong gia đình
họ La này. Như được sống lại từ sau cái chết của bà Nghị, những nét xuân của
nàng đã vươn lên để đối đầu với cuộc sống thực tế. Khởi Khởi không còn là một
cành Thố Ty Hoa mà nàng đang là một nhánh Kinh Thảo rắn chắc. Nhìn sự tranh đấu
cố gắng vương lên từ trong cơn mưa bão của Khởi Khởi, lòng tôi bỗng đâm ra kính
phục nàng. Chỉ nửa năm vừa qua, tôi mới thật sự là một người bạn, một người chị
của Khởi Khởi mặc dù bản tính của chúng tôi vẫn còn khác biệt nhưng chúng tôi cố
gắng, cố gắng để chìu chuộng nhau. Khởi Khởi đến gần gọi to: - Anh Trung Đan
ơi! Có thơ của anh cả gởi cho anh nè, mở ra xem nhanh đi. Trung Đan vừa mở thư
vừa cười. Tôi hấp tấp: - Sao? Anh ấy thế nào hở anh? Anh ấy viết gì đấy? - Để
anh đọc lớn nhé. Rồi chàng đọc: - Hãy báo cho Ức My biết, tôi đã lên tàu ra
khơi sống đời tự lập. Ở nước ngoài cái gì cũng đẹp cũng hay, nhưng lại thiếu
tình gia đình, thiếu cả những cãi vã lẩm cẩm khiến tôi buồn hết sức. Nơi nào
cũng tấp nập nhưng quá chật hẹp, muốn tìm một chiếc sân nhỏ để trượt băng cũng
không có, thành ra thấy nhớ chiếc sân ciment cũ và chiếc vườn hoa rộng của mình
ghê đi. Không biết ngày nào mới trở về được, có lẽ lúc ấy Ức My đang tập cho
chú Trung Đan con hay cô Ức My nhỏ trượt băng rồi không chừng. Có dạy thì dạy
cho hay nhé! Chứ đừng để giống mẹ chúng để té cho gãy chân đi. Buổi sáng tuần
trước, tôi tập chiên trứng, không ngờ tôi nhúng cả ngón tay vào mỡ chiên luôn.
Nhưng nhờ thịt người ăn không ngon bằng trứng, nên rốt cuộc tôi chỉ ăn hết trứng
chớ không ăn thêm ngón tay chiên. Tôi vừa làm quen được mấy cô gái, cô nào cũng
đẹp. Một cô tóc hoa, hai cô tóc vàng, bốn cô tóc đen. Kết luận: chỉ có tóc đen
là dễ thương, nhất là nếu người ấy là người xứ ta. Gần đây, người bạn gái thân
nhất của tôi là một cô gái Mỹ. Chúng tôi rất hợp ý nhau, tôi thường đưa nàng về
phòng tôi chơi. Có một hôm mưa gió lớn quá, nàng đành phải ngủ lại, chúng tôi
đã hưởng một đêm tuyệt vời. Nhưng xin lưu ý quý vị là nàng ngay ngày hôm nay vừa
đúng bốn tuổi ba tháng tròn. Khởi Khởi bây giờ ra sao? Nếu mà còn chưa chịu
giao thiệp với bạn trai, chắc phen này tôi sẽ phải dẫn chồng về cho nó quá. Còn
ba? Tôi mong rằng ông vẫn la hét như xưa, rất tiếc là việc ra đi của tôi đã làm
cho ông mất đi một đối tượng để la hét! Cho hỏi thăm luôn Gia Gia và cả lũ súc
vật của Ức My nữa nhé. Tôi và Khởi Khởi nghe xong đều bật cười, Trung Đan gấp
thư lại, chàng nói: - Chỉ cần đọc thư là biết được người ra sao. Lúc nào cũng vậy
chẳng thấy thay đổi gì hết. Tôi nói: - Nhưng anh ấy đã biết sống tự lập. - Ai tự
lập? Một tiếng hỏi. Tôi ngẩng đầu nhìn lên, thì ra là giáo sư La Nghị mái tóc bồng
với hàm râu rối, đôi mắt già thẫn thờ buồn bã, chỉ nửa năm mà ông như đã già đi
hơn 10 tuổi. Trung Đan đáp: - Thưa thơ của Hạo Hạo, giáo sư có muốn xem không?
Ông lắc đầu, mắt khẽ chớp, giọng xúc động: - Thôi được rồi. Nhưng nó có khỏe
không, có gặp tai nạn gì không? - Dạ anh ấy khỏe lắm, anh có hỏi thăm giáo sư nữa.
Đôi mắt ông Nghị chớp nhanh: - Có thật vậy không? - Thật, anh ấy bảo mong rằng
giáo sư sẽ sớm phục hồi bản tính la hét như xưa. - Hừ! Hàm râu ông hơi rung động,
giáo sư Nghị cúi đầu xuống, khóe mắt ông rưng rưng lệ, ông nhìn tôi nói: - Ức
My, tôi đã xem điểm giùm cho em. - Thế...Tôi kêu lên tim đập mạnh - Yếu lắm phải
không giáo sư? Chắc năm nay không hy vọng rồi. Giáo sư Nghị chậm rãi nói, hình
như ông đang hết sức cố gắng để ngăn bớt sự sung sướng của mình: - Em được ba
trăm sáu mươi tám điểm, không có hy vọng đậu hạng nhất, nhưng có lẽ đậu khoảng
hạng 3 hay hạng 4. Tôi sung sướng nhảy nhỏm lên hét to, quên hết tất cả dè dặt,
tôi chồm người về phiá trước ôm chầm giáo sư Nghị, mặt tôi chạm vào hàm râu rậm,
ngẩng ra xa một chút tôi nói: - Đến khi nào hàm râu đáng ghét này được cạo xén
đi hở giáo...Cha? Tiếng cha vừa thoát khỏi miệng, bao nhiêu băn khoăn thắc mắc
trong lòng tôi tan biến hết. Giáo sư Nghị - không phải. Cha tôi đang nhìn tôi,
râu ông rung rinh từng cơn, mắt ông mờ lệ, miệng ông lẩm bẩm điều chi không rõ,
một lúc lâu, một lúc thật lâu, chúng tôi đứng đó xúc động đến nỗi không nói gì
cả, nhưng tim tôi như tràn đầy một thứ tình thương nào đó. Sau cùng, tôi nói: -
Thưa cha con đã biết rồi. - Biết gì? - Biết cha, mẹ và Thố Ty Hoa. Cha là Nữ Oa
Thảo, mẹ là cây Tòng, còn bà ấy là Thố Ty Hoa. Mẹ thật vĩ đại, thật cao cả,
nhưng cha và bà ấy cũng không có lỗi lầm gì cả. Giáo sư Nghị mỉm nụ cười đau
thương, ông đưa bàn tay lên vuốt mái tóc tôi: - Con là đứa con hiền hậu. Tôi
cũng mỉm cười đầy nước mắt. Từ xa, tiếng hát của Gia Gia vang vọng theo gió: Chẳng
phải là hoa, chẳng phải sương, Nửa khuya em đến, sáng em về. Đến như giấc mộng
xuân không đợi, Đi tựa mây trời không định nơi. Đến như giấc mộng xuân không đợi,
đi tựa mây trời không định nơi? Ý muốn nói gì đây? Một mối tình? Một cuộc đời?
Giống như câu chuyện xảy ra giữa cha mẹ và Nhã Trúc chăng? Đó cũng là giấc mộng
đêm xuân, một cụm mây trời buổi sáng. Dầu sao đi nữa, chuyện cũng đã qua rồi. Mặc
dù cho hàng ngàn chuyện tình khác đang xảy ra trong thế gian này. Nhưng dù muốn
dù không, nó cũng chỉ là những giấc mộng ngày xuân, hay những đám mây trời buổi
sáng, rồi cũng sẽ trôi đi.
Quỳnh Dao
Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét