Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

Ký ức day dứt trong "Đất hóa miền thương" của Ngô Minh Oanh

Ký ức day dứt trong "Đất hóa
miền thương" của Ngô Minh Oanh

Nhà giáo ưu tú Ngô Minh Oanh sinh năm1957, quê xã Cam Thuỷ, Lệ Thuỷ, Quảng Bình. Ông tốt nghiệp Khoa Sử, Trường Đại học Sư phạm Vinh và Khoa Triết, Trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh; bảo vệ Luận án Tiến sỹ Sử học tại Cộng hòa Liên bang Nga. Trải qua 40 năm là giảng viên Đại học Tây Nguyên và Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, ông còn làm khá nhiều thơ. Nhưng chỉ đến lúc nghỉ hưu (năm 2020), ông mới có điều kiện in sách và được kết nạp vào Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh.
Tác phẩm đầu tay của ông là tập thơ “Đêm nằm nghe ký ức”, ấn phẩm thứ hai có tựa đề “Đất hoá miền thương”, đều do NXB Hội Nhà văn ấn hành. Ở tập thơ này, ông khai thác mảng đề tài mang chứa nhiều kỷ niệm, về những vùng đất ông đã sống, học tập, nghiên cứu, công tác và trải nghiệm; trong nước cũng như nước ngoài, đất liền cũng như trên biển đảo. Với văn phong tự sự-trữ tình, năm mươi bài thơ trong tập sách là những không gian mà ông lặn ngụp trong cồn cào ký ức, những nghĩ suy, day dứt của một công dân, một người hoạt động văn hoá nghệ thuật có trách nhiệm.
Ra thăm Nhà tù Côn Đảo, nơi được coi là “địa ngục trần gian”; nơi lưu giữ chứng tích tội ác chiến tranh man rợ của kẻ thù và lòng yêu nước của các thế hệ. Trong đêm ở Nghĩa trang Hàng Dương, ông xúc động cảm nhận: Chỉ có ngày dường như không có đêm/Mặt trời dồn ánh sáng cho những ngọn đèn trên bia mộ/Ngàn mặt trời con đêm đêm không ngủ/Ánh mắt người đã khuất sáng lung linh//Chúng tôi nằm đây đâu có tham lam/Mọi người mang chi đến nhiều lễ vật/Hãy mang đi cho những người khuyết tật/Người già không con cháu cô đơn/Những đứa trẻ đói lòng đến lớp/Những phận đời lay lắt giữa trần gian… Kết thúc bài thơ ông gợi lên cho người đọc niềm tin tưởng: Người nằm xuống gieo niềm hy vọng/Cho người đang sống ước mơ (Ở nghĩa trang Hàng Dương).
Đến với đảo Lý Sơn, ông không thể nào vô cảm trước những người phụ nữ trên ruộng tỏi: Chị lặng ngồi giấu nước mắt rơi/Tỉ mẩn đào lên từ đất/Những tép tỏi cô đơn/Chắt chiu tinh túy đất trời/Vẫn chưa thấy người đi trở lại//Bao nhiêu người trai đội hùng binh Hoàng Sa/Bấy nhiêu người đàn bà ở lại/Tạc nên dáng vọng phu trên biển Tổ quốc mình (Người đàn bà Lý Sơn). Thăm Nhà trưng bày Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải, nơi lưu giữ gần như đầy đủ, hiện vật liên quan các cuộc hành trình của những hùng binh Hoàng Sa, ông nhìn mỗi chiếc thẻ tre như thấy cả một phận người, nhỏ nhoi trước biển: Mỗi chiếc thẻ tre là một cuộc đời/Những chàng trai mang trái tim biển cả/Mang dòng máu họ Phạm, họ Lê, họ Võ…/Dân làng gửi vào hy vọng tin yêu//Người lính đội Hoàng Sa tuổi còn rất trẻ/Hoà thanh xuân vào biển mẹ hiền hòa/Thẻ tre như tấm bia mộ trên biển cả/Lưu danh người hy sinh cho đất nước bình yên (Chiếc thẻ tre người lính đội Hoàng Sa).
Ai cũng biết việc tồn tại để bảo vệ bờ cõi, đối với đảo chìm phức tạp và gian nan nhiều hơn đảo nổi. Đến đảo chìm, ông có một liên hệ với bãi cọc Bạch Đằng: Đảo chìm ẩn sóng Trường Sa/Như cây cọc gỗ chưa xa Bạch Đằng//Đảo chìm ẩn dưới lời ru/Lòng yêu nước ẩn thiên thu thời bình//Đảo chìm chẳng phải nhiều lời/Chẳng xưng danh chẳng mong đời nhớ tên. Tôi rất thích câu thơ “Đảo chìm ẩn dưới lời ru” của ông và mỗi lần đọc lại, trong tôi mênh mang cảm xúc. Tới đây, ông có thêm phát hiện đầy hình tượng: Đảo chìm ẩn sóng ngàn niên/Nâng bao phần nổi đất thiêng nước mình (Đảo chìm ở Trường Sa). Khi ông trở lại thị xã du lịch thuộc thành phố Hải Phòng, người thơ muốn giao hoà cùng thiên nhiên với tâm thế tự tại: Về Đồ Sơn anh thả lòng với biển/Sóng miên man muôn thuở vỗ bờ… Nhưng kìa, sừng sững một tượng đài, điểm xuất phát của những con tàu không số, đã khiến ông chuyển nhanh mạch thơ: Bờ tham lam giang vòng tay ôm biển/Sao lòng anh chùng lại trước Đồ Sơn/Dịu dàng chi nhành rau muống biển/Xanh vô tư trước những lở bồi (Đồ Sơn).
Khi viết về người thân, về ông bà, cha mẹ… cũng là lúc ký ức đua nhau dồn về trong ông: Bà chạy giặc ra ngoài trảng cát/Giờ sinh cha cát lấp lánh mặt trời/Đồi mênh mông giặc làm sao ngăn được/Một mặt trời con trên cát sinh ra//Củ khoai lang bở nghẹn quê nghèo/Bàn tay cha biết bao lần xới cát/Bắt cát nở hoa, bắt đồi thôi khô khát/Rừng lên xanh không còn cát đè người//Cha dạy con luôn hướng về phía trước/Giã biệt cha con xin được đi lùi/Bởi quá vãng một thời thơ tủi/Bước chân nào không có bóng hình cha (Đưa cha về với cát). Một bài thơ viết cách nay 35 năm, mỗi khổ thơ cồn cào trong ông những liên tưởng về mẹ, về làng quê da diết đến cháy lòng: Khi nỗi cô đơn trào đến buốt lòng/Là lúc mẹ bên con gần gũi nhất/Hạnh phúc nhỏ những thiệt thòi mất mát/Con có bây giờ mẹ đã trải từ lâu//Nước mắt ngấn vòng mấp máy đôi môi/Móm mém nụ cười đón con từ cổng/Con lại sà vào lòng người như thuở còn bé bỏng/Bao toan tính giữa đời nào nghĩa lý gì đâu.
Trong bài này, còn có một khổ thơ khiến mắt tôi đỏ hoe: Gió Lào thổi bạc tóc tuổi son/Sấp ngửa mẹ đi về phía bão/Buồm đầy gió người nâu sòng vạt áo/Nâng đường con biển rộng sông dài. Thiên nhiên sớm lấy đi nét thanh tân của mẹ, đồng loã với những mất mát thiệt thòi, xô đẩy mẹ vào cơn bão cuộc đời. Ở đó, có những cánh buồm no gió lướt nhẹ, riêng mẹ, vạt nâu sòng vẫn nâng đường cho con bước đi, qua biển rộng sông dài, tới bến bờ tươi sáng: Đất hai huyện cò bay mỏi cánh/Chén khoai dằm mẹ vỗ lớn đời con (Mẹ). Với mỗi người, tình mẹ là mạch nguồn không thể nào vơi cạn. Với thi nhân, chẳng bao giờ gọi là đủ khi viết về đề tài này. Ngữ cảnh trong bài “Ám ảnh cánh cò”, chỉ mới đọc lên thôi, ta đã thấy mủi lòng: Thời gian dài vẹt mùa đông/Nỗi mùa giáp hạt long đong phận cò/Đã qua trăm mối tơ vò/Đỗi đường cơm áo âu lo nén dồn/Đặt con bên luống khoai non/Tứa tay mẹ bới mong con ấm lòng/Căng mình mẹ kéo gàu sòng/Ruộng khô nắng loá trắng đồng cò chao.
Với một đất nước vừa bước ra từ chiến tranh, mỗi tấc gang cỏ cây, sỏi đá, biển trời, mỗi thân phận, tuổi tên… còn gắn với biết bao nỗi đau hậu chiến. Vẫn còn đó biết bao chuyện chúng ta cần truyền cho hậu thế, cần soi lại trái tim: Lá vàng rơi âm điệu chẳng vu vơ/Hoá thân vào đất đai màu mỡ/Và thời gian chẳng phải là vô cớ/Cứ hồi sinh trong muôn vạn mầm cây/Chiến tranh ập vào đất nước mình đây/Lớp lớp người đã đi vào trận mạc/Nhẹ nhõm hy sinh trong trầm hùng câu hát/Gửi lại thời gian cột mốc những đứa con//Kể với cháu con bao chuyện vẫn không thừa/Những ngày qua dễ gì ta nói hết/Những cuộc đời hiến dâng ai người chưa biết/Hãy giở trang thời gian soi lại trái tim mình/Nếu mai ngày đất nước chẳng yên bình/Còn tiếng súng thù làm biên cương chảy máu/Thì bạn hỡi lớp cháu con người ngã xuống/Lại xốc súng lên đường vang điệp khúc thời gian (Điệp khúc thời gian).
Nói tới “Đất hoá miền thương”, không thể không nhắc tới những địa danh cuộc đời ông đã ít nhiều gắn bó. Có một nơi ông từng sống và học tập, từng no lòng nhờ củ khoai bùi Anh Sơn, cùng trái cà pháo Nghi Lộc muối giòn; từng uống bát nước chè xanh xứ Nghệ và tắm táp dòng Lam… Tất cả đã đi vào huyết quản, hun đúc trong ông lòng can đảm, cho ông biết ứng xử trước cuộc đời. Bài thơ là cách ông tri ân vùng đất, nơi đã sinh ra người con gái, trở thành bến đợi của đời ông: Xứ Nghệ rộng vòng tay đón/Tuổi đôi mươi tôi quẫy nước sông Lam/Sông sâu cho lòng can đảm/Nước dạy tôi mềm mại giữa cuộc đời//Xứ Nghệ cho tôi em bé nhỏ/Tình nghèo ta đi trọn đời nhau/Trót yêu anh em thành bến đợi/Anh mãi tìm hư ảo ở nơi nao (Xứ Nghệ).
Ở một bài thơ khác có giọng điệu sử thi nhưng chủ thể trữ tình đã được hình tượng hoá, trở thành bản tình ca với trăm ngàn nốt nhạc, giữa cơn mưa với đất đai, cây lá, tiếng chim… man mác giữa núi rừng cao nguyên: Như nàng tiên trong huyền thoại xòe tay/Gieo từ trời một màu xanh ngút ngát/Gieo từ không gian trăm ngàn nốt nhạc/Tiếng chim nở đầy gọi mùa sinh sôi//Gieo từ trong gian khó những mầm cây/Hạt giống nhỏ hẹn tầm vươn lớn/Mưa ve vuốt những chồi xanh mơn mởn/Phập phồng vỗ gọi đất bao dung. Ở khổ cuối, người thơ kết vỹ thanh đầy tươi vui, rạng rỡ, nâng bổng lên mối quan hệ giữa thiên nhiên với con người, với vùng đất bazan giàu hoa trái: Đêm mưa rừng hoa trái dậy mùa hương/Ngửa cổ đón giọt giọt trời tươi mát/Bazan ánh hồng cao nguyên bát ngát/Mưa với người thành duyên nợ của nhau (Mưa cao nguyên).
Sau những cơn mưa rừng, khung cảnh “Phố núi ban mai” phô lên bức tranh thuỷ mặc. Ở đó nổi bật lên hình ảnh: Em gái Êđê gùi nấm và măng/Sắc thổ cẩm rực hồng phố núi/Về phố chợ bước đi vồi vội/Quai gùi hằn khuôn ngực tròn căng//Phố núi ban mai huyền ảo làn sương/Như thể chỉ gặp trong cổ tích/Mặt trời lên nép bên triền dốc/Thủy mặc ai vẽ giữa rừng xanh. Một chi tiết ngỡ rất thường tình nhưng đòi hỏi người thơ phải khai thác tối đa ấn tượng thị giác, kết hợp với liên tưởng. Khuôn ngực em gái Êđê đẫy đà là thế, nổi bật dưới sắc màu thổ cẩm, bước đi vồi vội gùi hàng về phố chợ, thử hỏi, đôi quai gùi không làm cho khuôn ngực tròn căng thì mới là lạ!
Ông từng sống và gắn bó với Tây Nguyên, đâu còn xa lạ với thắng cảnh thơ mộng ấy, thế mà, có lần ông đã tự thú: Anh gạch nối ngày xưa và hiện tại/Gã quê mùa lữ thứ cứ lang thang/Ngây ngô đam si tìm quá vãng/Vụng dại trước Biển Hồ và lóng ngóng trước em. Đẹp nao lòng và khoác trên mình bao huyền thoại, Biển Hồ còn có tên là hồ Tơ Nưng, đó là những gì còn lại của miệng núi lửa từ thuở hồng hoang, mạch thơ ông như nham thạch tuôn trào, tan chảy giữa cao nguyên xanh biếc: Anh tìm trong quá khứ đã ngủ yên/Những chuyện tình buồn vui xứ sở//Biển Hồ nhé xin đừng như dấu lặng/Nhấn chìm nhau trong đơn điệu khúc tình/Em mạch nguồn thẳm sâu vô định/Vẫn đặn đầy sáng rõ khuôn trăng/Biển Hồ và em xuân vẫn còn ấm nắng/Cao nguyên xanh mạch đất dâng trào/Xin cứ mãi tình ta như nham thạch/Để triệu năm còn tan chảy vào nhau (Em, Biển Hồ và tôi).
Và đây, bài thơ ông chọn đặt tên cho cuốn sách. Chỉ mới nghe, ta đã nghiệm ra một chân lý tình cảm của tâm hồn, qua nghệ thuật tương phản của nhà thơ Chế Lan Viên: Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở/Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn (Tiếng hát con tàu): Chia xa nhé miền quê anh đã sống/Chiều anh đi cơn mưa bỗng vỡ òa/Chiếc ô nhỏ khoảng trời em che chở/Vẫn lạnh lòng vai áo giọt mưa sa//Chẳng hỏi tại ai, chẳng hỏi vì đâu/Anh tự nguyện xắn cao quần vác cuốc/Phạt cỏ vạt đồi ươm cây gánh nước/Niềm vui mùa màng tựa bác nông dân//Thôi cũng đành mơ ước cứ chia hai/Một nửa cho chân trời khát vọng/Cho tình yêu thuở học trò mơ mộng/Hạnh phúc xây trên đất ấm bazan/Anh có ngờ đâu một quãng đường dài/Đã máu thịt với miền quê Đăk Lăk/Mồ hôi ngấm vào từng thớ đất/Nợ ân tình đất hoá miền thương (Đất hoá miền thương).
Ở bài thơ “Ông già ăn xin chơi đàn ác-cooc” (3-1991), hình ảnh chiếc đàn phong cầm rất gần gũi với những ai từng sống ở Liên Xô trước ngày 26-12-1991. Qua đôi tay người chơi đàn là một “ông già ăn xin”, mỗi âm thanh làm ông xúc động. Điều xoáy vào suy nghĩ của độc giả, chính là chiếc kê-pi và những đồng xu lấp lánh: Với đôi tay và những phím đàn/Gọi về những giai điệu xa xăm/Tình yêu nỗi đau và hạnh phúc/Giục dã hành khúc những năm tháng hào hùng/Những đồng xu rơi vào chiếc kê-pi lấp lánh/Bao người dừng lại/Ai đó lạnh nhạt bỏ đi//Tiếng đàn ngân sưởi ấm không gian… Một chiều mùa đông Praha thủ đô Cộng hòa Séc, bước đi trên những con phố hàng trăm năm tuổi, cùng nhiều công trình kiến trúc lộng lẫy. Trong cảnh huống xa nhà, xa nước, người thơ cảm nhận thật yên bình, đầy tự tin trước hình ảnh những cặp tình nhân trao cho nhau những nụ hôn nồng thắm: Chiều nay tuyết phủ trắng thềm/Có bao đôi lứa đắm niềm yêu đương/Dồn bao trăm nhớ ngàn thương/Nụ hôn trao vội đọc đường chia xa//Tôi người lữ khách xa nhà/Chưa nguôi cơn sốt chưa qua nhọc nhằn/Nếp nhăn trên trán còn hằn/Nghe lòng dịu lại gian nan những ngày/Nụ hôn nốt nhạc tròn đầy/Ngân nga hẹn những sum vầy lứa đôi! (Những nụ hôn dọc đường phố Praha).
Tại Moskva thủ đô Liên bang Nga, trước Ngọn lửa Vĩnh cửu, nơi tưởng niệm những người đã hy sinh vì xứ sở bạch dương, trong chiến tranh chống phát xít Đức. Trong ông xuất hiện những rung chấn, hãy nghe ông bày tỏ: Dù gió dù mưa dù tuyết lạnh/Như ngàn đời tự lòng đất cháy lên//Nhiều thập kỷ trôi qua đất nước đã thanh bình/Ai ngờ đâu có một ngày gió đổi/Sự lãng quên đến từng nhà gõ cửa/Đồng đội về từ chiến trường máu lửa/Giờ có người dựng chiến lũy trong nhau! (Trước ngọn lửa vĩnh cửu). Rung chấn ở ông đồng điệu với bao người, khi ai đó, mới hôm qua còn chung chiến hào, thì hôm nay giữa họ đã thành hai nửa chiến tuyến. Phải chăng, Ngô Minh Oanh đã cảnh tỉnh sự lãng quên này đến tất cả chúng ta!
Ở tập sách này, tác giả đã rất tích cực làm mới tư duy và giọng điệu thơ. Ít thấy sự dễ dãi, thay vào đó, những cảm thức tinh tế có được nhờ sự cọ xát các ấn tượng nội, ngoại giới, mang đến cho người đọc sự thú vị bất ngờ: Rộng đến nhường kia biển vổ nhịp dịu êm/Nhưng đừng tưởng núi cao là khô khát/Treo bên trời hồ xanh sóng hát/Bình yên nghe dào dạt một Hồ Mây (Vũng Tàu điều giản dị). Hay như: Rồi từ trong sâu thẳm của thiên nhiên/Một chiếc lá vàng giữa trưa vắng vẻ/Chao chát rơi giữa làn sương nhè nhẹ/Vô tình chạm vào những dây đàn (Trưa ở Bửu Long).
Chúc cho hành trình sáng tạo của ông luôn thăng hoa và ngày càng được bạn đọc gần xa yêu mến.
18/5/2025
Nguyễn Tiến Nên
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cánh hoa chùm gửi XXXXXXX

Cánh hoa chùm gửi Chương 1 Những năm dài trôi qua, tôi là của mẹ, mẹ là của tôi, gian phòng này là của hai người. Thế mà bây giờ, chỉ mộ...