Thứ Năm, 8 tháng 1, 2026

Sự thay đổi tư duy lý luận văn học thời kỳ đổi mới nhìn từ vấn đề chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa

Sự thay đổi tư duy lý luận văn học
thời kỳ đổi mới nhìn từ vấn đề chủ nghĩa
hiện thực xã hội chủ nghĩa

Năm mươi năm – một chặng đường phát triển trong bầu khí quyển cởi mở, dân chủ, “Sự thay đổi tư duy lý luận văn học thời kỳ đổi mới nhìn từ vấn đề chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” cho chúng ta suy ngẫm nhiều bài học kinh nghiệm để tiếp tục nâng cao chất lượng sáng tác và phê bình văn học trong thời kỳ hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới.
Sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, nhiều vấn đề lý luận văn học nghệ thuật mang tính then chốt (Văn học và chính trị; Văn học và hiện thực; Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa; Tính dân tộc và tính hiện đại trong văn học nghệ thuật) đã đặc biệt thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu lý luận và các văn nghệ sĩ cả nước. Tinh thần biện giải, phê phán, tự phản tỉnh của các nhà khoa học đã giúp các vấn đề lý luận trên mở rộng biên độ nội hàm khái niệm, vượt qua giới hạn của những phương diện không còn phù hợp thời đại lịch sử mới, khẳng định cái mới, tiến bộ. Thành tựu đáng kể này của lý luận văn học Việt Nam đã có những tác động tích cực không nhỏ đến thực tiễn đời sống văn học nước nhà kể từ sau đổi mới đến nay.
Trong những vấn đề trên, việc đổi mới nhận thức về lý luận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam có thể coi là một trong những bước chuyển biến nhận thức quan trọng nhất của tư duy lý luận thời đổi mới, bởi từ nền tảng này lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới đã tạo ra cho chính mình những cơ hội bình đẳng để đối thoại với lý luận hiện đại thế giới, mở ra một không gian mới để đời sống văn học nghệ thuật Việt Nam phát triển hướng đến tầm cao mới trong thời đại mới. Năm mươi năm – một chặng đường phát triển trong bầu khí quyển cởi mở, dân chủ, “Sự thay đổi tư duy lý luận văn học thời kỳ đổi mới nhìn từ vấn đề chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” cho chúng ta suy ngẫm nhiều bài học kinh nghiệm để tiếp tục nâng cao chất lượng sáng tác và phê bình văn học trong thời kỳ hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới.
1. Mở đầu
Sau 1986,  trong dòng chảy đổi mới chung của văn học dân tộc, sự vận động tư duy theo xu hướng tiến bộ, tôn trọng giá trị nhân văn đã khiến nhiều vấn đề lý luận quan trọng hoặc được khẳng định những giá trị vốn có, hoặc được mở rộng, bổ sung những  giá trị mới, hoặc được đánh giá đúng vai trò lịch sử mà nó đã hoàn tất. Đổi mới lý luận chính là hiện đại hóa lý luận trên tinh thần nhận thức lại, phát triển, bổ sung và hoàn thiện nhiều vấn đề cho phù hợp với thời đại. Tìm hiểu sự vận động tư duy xung quanh một số vấn đề lý luận cơ bản thời kỳ đổi mới, chúng tôi thấy bốn vấn đề: Văn học và chính trị; Văn học và hiện thực; Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa; Tính dân tộc và tính hiện đại trong văn học nghệ thuật đã đặc biệt thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu lý luận và văn nghệ sĩ cả nước. Tinh thần biện giải, phê phán, tự phản tỉnh của các nhà khoa học đã giúp các vấn đề lý luận trên mở rộng biên độ nội hàm khái niệm, vượt thoát giới hạn vì không còn phù hợp giai đoạn lịch sử mới, khẳng định cái mới, tiến bộ. Thành tựu đáng kể này của lý luận văn học đã có những tác động tích cực không nhỏ đến thực tiễn đời sống văn học nước nhà kể từ sau đổi mới đến nay.
Trong những vấn đề trên, việc đổi mới nhận thức về lý luận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam có thể coi là một trong những bước chuyển biến quan trọng nhất của tư duy lý luận thời đổi mới, bởi từ nền tảng này lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới đã tạo ra cho chính mình những cơ hội bình đẳng để đối thoại với lý luận hiện đại thế giới, thực sự mở ra một không gian mới để văn học nghệ thuật phát triển hướng đến tầm cao mới trong xu hướng hội nhập thế giới. Luận giải quá trình tiếp thu và vận động đổi mới tư duy xung quanh vấn đề lý luận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam là để tiếp tục góp phần khẳng định thành tựu của Văn học  nói chung và lý luận văn học nói riêng trong thời kỳ đổi mới.
2. Nội dung
2.1. Tiếp thu lý luận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam trước 1986.
Thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa xuất hiện ở nước Nga Xô – viết từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX. Chỉ hai năm sau khi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa được chính thức ghi vào Điều lệ Hội Nhà văn Liên Xô (1934) thì nó đã được giới thiệu ở Việt Nam. Tiếp đó, Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) của Trường Chinh đã chính thức hóa chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa thàn phương pháp sáng tác cho văn nghệ cách mạng. Trong các tài liệu Chủ nghĩa Marx và vấn đề văn hóa Việt Nam (1948) của Trường Chinh, Văn học khái luận (1944) của Đặng Thai Mai, Vấn đề văn nghệ (1973) của Tố Hữu, Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa (1958) của Hồng Chương đều coi tả thực xã hội chủ nghĩa là một phương pháp tối ưu, một phương pháp có tính bắt buộc đối với nền văn nghệ mới Việt Nam.  Trải qua các giai đoạn cách mạng Dân chủ cũng như cách mạng Xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đánh giá chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là phương pháp sáng tác tốt nhất. Định hướng đường lối văn hóa văn nghệ lấy chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa làm gốc thường xuyên chiếm vị trí quan trọng trong các Báo cáo, Nghị quyết của Đảng, đại hội của giới văn học nghệ thuật, lời phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong đại hội văn nghệ hoặc gặp gỡ các văn nghệ sĩ.
Như một hệ quả tất yếu của đường lối cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, lý luận phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa đã được chấp nhận và tiếp thu, vận dụng ở Việt Nam khá thuận lợi. Ngày 1 tháng 12 năm 1962, tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III, trong bài nói chuyện với văn nghệ sĩ, Trường Chinh đã nhấn mạnh yêu cầu của Đảng đối với văn nghệ sĩ: “Nắm vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, phấn đấu cho có thêm nhiều tác phẩm phản ánh chân thật cuộc sống mới và con người mới” (3). Sở dĩ phải “nắm vững” bởi vì lý luận lúc này quan niệm: “Hiện thực xã hội chủ nghĩa là một phương pháp sáng tác văn nghệ tốt nhất” (4),  là bước phát triển cao hơn của hiện thực phê phán, một bước phát triển về chất trong tiến trình lịch sử văn học nhân loại.
Vào những năm 70, 80 của thế kỷ XX, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa tiếp tục được khẳng định ở nước ta. Thời kỳ này quan hệ học thuật quốc tế cũng được mở mang hơn trước, nhất là việc tiếp xúc và ảnh hưởng với những thành tựu hiện đại của lý luận văn học Xô – viết. Có nhiều bài viết giới thiệu về lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước khác như: Cách mạng tháng Mười và sự phát triển của lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa của Lê Sơn (Văn học số 5/1977); Một số tư liệu mới về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa của Hoàng Xuân Nhị (Nghiên cứu Nghệ thuật số 4/1978); Sự đóng góp của các hội nghị quốc tế về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa của Khái Vinh (Văn học số 3/1983); Vấn đề thống nhất và đa dạng của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa từ góc độ loại hình học của Phan Trọng Thưởng (Văn học số 5/1984); Những cuộc trao đổi gần đây ở Liên Xô về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa (Văn nghệ số 1090/1984) và Tiếp tục tranh luận ở Liên Xô về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa (Văn nghệ 16 tháng 3 năm 1985) của Phương Lựu,…
Nhìn chung việc nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ này được đẩy lên một bước mới để đáp ứng lại những yêu cầu và khả năng nhận thức mới.
Loạt bài viết Lý luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trên thế giới hiện nay của Nguyễn Đức Nam và Đỗ Xuân Hà (Nghiên cứu Nghệ thuật số 4/1980, số 2/1980, số 5/1981, số 3/1982) đã bổ sung nhiều nhận thức mới, nhiều ngộ nhận dai dẳng được điều chỉnh lại, chẳng hạn như cho rằng trước đây thường quan niệm chủ nghĩa hiện thực phê phán là tiền đề trực tiếp của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là không toàn diện. Tiếp đó, trong chuyên khảo Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay (Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1987), Đỗ Xuân Hà đã kiến giải hết sức cụ thể các vấn đề xoay quanh chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học đương thời ở Liên Xô.
Ngoài ra cần kể đến chương trình giảng dạy ở bậc Đại học giai đoạn này vẫn chú trọng đến truyền bá lý thuyết về phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa.  Chương: Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa do Lê Đình Kỵ viết trong Cơ sở lý luận văn học, tập III (Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1983); Mục: Phương pháp sáng tác của nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa trong cuốn Mỹ học Marx – Lenin của Đỗ Văn Khang (Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985); Mục năm: Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, thuộc chương ba: Các phương pháp sáng tác quan trọng trong lịch sử văn học trong Lý luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên (Nxb. Giáo dục, Hà Nội,1990, tái bản lần thứ 3); Chương XXX: Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong Lý luận văn học do Phương Lựu chủ biên (Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1997, tái bản lần thứ nhất). Nội dung các tài liệu trên nhìn chung đều thống nhất quan điểm: “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là một vũ khí sắc bén của công cuộc cách mạng của giai cấp vô sản” (5) và tính đảng là khái niệm hạt nhân của hệ thống hiện thực xã hội chủ nghĩa. Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa được coi là sự tiếp nối của phương pháp hiện thực phê phán, “chỗ dừng lại của phương pháp sáng tác hiện thực phê phán lại là nơi bắt đầu của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa”(6)
Như vậy, sự tiếp nhận phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một tất yếu lịch sử. Tồn tại xuyên suốt hơn nửa thế kỷ (kể từ khi Hải Triều gọi là “phương pháp tả thực xã hội” (1937) cho đến khi Nguyễn Văn Linh – Tổng bí thư của Đảng Cộng sản trong bài nói chuyện với văn nghệ sĩ tháng 10.1987 khẳng định: “Phải đứng vững trong trường phái tả chân xã hội chủ nghĩa”, phương diện nguyên lý tính đảng và tính nhân dân, tính kế thừa và phát triển, tính chân thật của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa đã được đề cao. Nó luôn luôn được coi là phương pháp tối ưu, phù hợp nhất của nền văn học cách mạng vô sản. Quan điểm nghệ thuật phục vụ đời sống xã hội đã trở thành quan điểm chủ đạo trong đời sống văn nghệ Việt Nam. Các thế hệ nhà văn đều sẵn sàng nhận mình là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng, nhất trí coi văn học là một thứ vũ khí cách mạng để phục vụ nhiệm vụ chính trị. Các nhà nghiên cứu lý luận Việt Nam trước 1986 luôn bảo vệ trung thành những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, trong thực tế, quá trình vận động tư duy xung quanh vấn đề lý luận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa không phải lúc nào cũng diễn ra một cách trơn tru, thuận lợi. Các nhà nghiên cứu lý luận văn học Liên Xô – nơi quê hương của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, đã đưa ra nhiều kiến giải khác nhau, thậm chí đã có những cuộc tranh luận kéo dài. Đáng lưu ý hơn cả là cuộc tranh luận sôi nổi diễn ra vào những năm 70 xung quanh quan niệm của G.M.Markov về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa như là một hệ thống thẩm mỹ mở. Mặc dù có nhiều ý kiến bất đồng, đề nghị G.M.Markov hãy làm sáng tỏ thêm khái niệm “mở” của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa; nó “mở” đối với cái gì và tới mức độ nào? Nó “mở” có giới hạn hay không? Nếu có giới hạn thì cái gì sẽ xác định giới hạn đó?… nhưng quan niệm của G.M.Markov vẫn được xem là một thành tựu của lý luận văn học Xô-viết.
Bước sang những năm 80 ở nước ta đã có biểu hiện đối thoại lại với lý luận văn học Xô-viết. Triển khai vấn đề xoay quanh lý thuyết “hệ thống mở” của Viện sĩ G.M.Markov, Hoàng Ngọc Hiến có công trình Văn học Xô-viết những năm gần đây (1985), Phương Lựu cũng đã công bố hàng loạt bài nghiên cứu mang tính chất đối thoại lại với lý thuyết “hệ thống mở”: Cần phát triển nguyên lý tính đảng trong chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa (1987), Vì sao chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa phải không ngừng đổi mới? (1988), Đối thoại chung quanh hệ thống mở (1988), Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đang đổi mới từ nội dung đến thi pháp (1998)…
Cùng với nhiều đổi thay của thời đại, trong cơn lốc của những biến động chính trị xã hội vào những năm cuối cùng của nước Liên Xô (1988 – 1990), phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa một lần nữa tiếp tục là một đề tài tranh luận thu hút sự quan tâm của nhiều văn nghệ sĩ không những ở Liên Xô mà còn lan sang các nước khác thuộc hệ thống phe xã hội chủ nghĩa. Rất nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau của các nhà nghiên cứu và giới văn nghệ sĩ Xô-viết được bộc lộ. Không hoàn toàn phủ nhận văn học Xô-viết với nhiều thành tựu thực tế đã đạt, nhưng các ý kiến đều thống nhất quan điểm: lý luận về phương pháp này cần xem xét lại. Các vấn đề được quan tâm bàn luận nhiều hơn cả là: có nhiều phương pháp sáng tác khác nhau trong nền văn học đương đại chứ không phải chỉ có phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, vấn đề tính lạc quan, tính đảng cộng sản cần được hiểu theo một cách mới, phải được nghiên cứu thêm. Thuật ngữ hiện thực xã hội chủ nghĩa phải được hiểu một cách cân bằng, hài hòa cả hai vế “xã hội chủ nghĩa” và “hiện thực chủ nghĩa” không nên nhấn mạnh vế đầu mà coi nhẹ vế sau, khái niệm hiện thực xã hội chủ nghĩa bị hiểu chung chung, sáo mòn,…
Như vậy, sau thời kỳ “hoàng kim”, đến thời điểm này, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa thực sự được đặt trong cái nhìn phản biện khoa học, mặc dù còn nhiều khác nhau trong quan điểm nhận định nhưng không nhà nghiên cứu nào không phủ nhận nhược điểm của lý thuyết phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tinh thần học thuật của các nhà nghiên cứu và giới văn nghệ sĩ Liên Xô cuối những năm 80 của thế kỷ XX đã tác động mạnh mẽ đến cuộc cách mạng tư duy lý luận của các nhà nghiên cứu và các văn nghệ sĩ Việt Nam. Từ đây khái niệm phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa được giới lý luận nước ta xới lật, nhìn nhận lại trên một tinh thần khách quan khoa học toàn diện, đầy đủ hơn.
2.2. Những nhận thức mới xung quanh khái niệm phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa sau 1986
Thật ra ở Việt Nam, ngay sau mốc lịch sử 1975, hiện thực cuộc sống nảy sinh nhiều nhân tố mới đã tạo nên một sức ép đối với lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa. Khoảng thời gian mười năm (1975 – 1985) được coi là giai đoạn “trở dạ” đầy đau đớn, văn học nước ta có những chuyển động rất phong phú và phức tạp. Đã xuất hiện trên văn đàn những tác giả cùng tác phẩm viết khác trước, tức là mở rộng biên độ phản ánh để có thể bao quát và chuyển tải những vấn đề bức xúc thời hậu chiến. Có thể nhận thấy rõ điều này qua sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Dương Thu Hương, Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp,… Chính khuôn mặt đa dạng, phong phú của đời sống sáng tác khiến tính chất giáo điều, đóng băng của lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa dần dần bộc lộ. Lý thuyết về hiện thực xã hội chủ nghĩa đã tỏ ra không bao nổi thực tế phát triển của văn học. Không ai khác chính những người cầm bút với vốn trải nghiệm dạn dày từ sống và viết là những người đầu tiên nhận thấy giới hạn này. Tuy vậy, phải đến thời điểm nhu cầu đổi mới đã bùng phát trên phạm vi toàn bộ hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, cộng thêm sự ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào “cải tổ” văn học ở Liên Xô, các nhà nghiên cứu lý luận, các văn nghệ sĩ Việt Nam mới cảm nhận rõ ý thức hệ vô sản đã bước vào giai đoạn khủng hoảng, lý luận về phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa còn tồn tại nhiều điều cần phải xem xét, nghiên cứu lại.
Những nhà nghiên cứu sớm đưa ra ý kiến xung quanh vấn đề này là Hoàng Ngọc Hiến, Từ Sơn, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Lã Nguyên, Lê Chí Dũng, Nguyễn Kim Đính, Đỗ Xuân Hà, Nguyễn Văn Hạnh, Phương Lựu, Hoài Lam, Nguyễn Nghĩa Trọng, Đỗ Văn Khang, Hà Xuân Trường, Nguyễn Minh Tấn, Đặng Việt Bích, Lưu Liên, Phong Lê,… tiếp đó là Nguyễn Bá Thành, Nguyễn Văn Dân,… Tinh thần xem xét lại vấn đề lý luận phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa nhìn chung đã được giới lý luận nước ta đặt trong một cái nhìn định hướng nghiên cứu khoa học, khách quan, công bằng. Vừa mạnh dạn chỉ rõ những phương diện hạn chế, sai lầm để loại bỏ, vừa trăn trở tìm tòi, phát hiện, bổ sung những nhận thức mới, hy vọng kế thừa, phát huy những gì hợp lý của phương pháp này.
2.3. Vấn đề tên gọi: Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa
Khác với các vấn đề lý luận khác, vấn đề phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa được tranh luận ngay từ cái tên. Thời kỳ đầu đổi mới đã xuất hiện ý kiến phản bác lại cách gọi: phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Trong Hội thảo Những vấn đề thời sự của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa tại Viện văn học (1989), ý kiến của Hoàng Ngọc Hiến cho rằng hiện thực xã hội chủ nghĩa không phải là một khái niệm mỹ học đích thực, nó chỉ là một “ngọn cờ”, hoặc một cương lĩnh tập hợp văn sĩ. Ông không thừa nhận hiện thực xã hội chủ nghĩa là một phương pháp sáng tác, bởi vì nếu nhìn nhận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là một phương pháp sáng tác thì phải nhìn nhận có một phương pháp chung cho mọi ngành nghệ thuật, cho mọi thể loại, mọi nghệ sĩ rất khác nhau: “Nếu quả như có một phương pháp sáng tác chung cho hàng ngàn nghệ sĩ và hàng vạn tác phẩm thì thật là khủng khiếp. Điều khủng khiếp hơn là có một thời hàng triệu người tin rằng có một phương pháp sáng tác chung và bao trùm như vậy” (7). Các nhà nghiên cứu khác như Đỗ Xuân Hà, Nguyễn Bá Thành, Phương Lựu, Nguyễn Văn Dân,… đều nhận ra điều bất ổn trong cách gọi tên: Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa – đó là một thuật ngữ mơ hồ “một vấn đề còn rất nhiều vấn đề, mà chủ yếu là vì nội hàm của khái niệm đã được giải thích một cách rất tùy tiện theo thiện cảm của các nhà lý luận mácxit qua các thời kỳ đối với chủ nghĩa xã hội và văn học xã hội chủ nghĩa” (8).
Phải chăng cũng bắt đầu từ việc nhận ra sự bất hợp lý ngay từ cách gọi tên nên giai đoạn đổi mới đã xuất hiện những cách dùng từ, hoặc những ý kiến đưa ra gợi ý về việc cần đổi cách gọi thuật ngữ phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa: “Chủ nghĩa tả chân” (Nguyễn Văn Linh); “Chủ nghĩa hậu hiện thực xã hội chủ nghĩa”, “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa mới”, “Chủ nghĩa chân thực dân bản” (Phương Lựu)… Song, có lẽ đúng như Trương Đăng Dung đã bày tỏ quan điểm: “Vấn đề cần bàn không phải là thuật ngữ hiện thực xã hội chủ nghĩa hoặc chung quanh việc hình thành thuật ngữ đó, hay các chi tiết liên quan. Điều cơ bản là chúng ta hãy nhìn vào thực trạng của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, không chỉ trong phạm vi một nền văn học mà ở nhiều nền văn học” (9) và chỉ có như vậy mới có thể so sánh, rút ra những kết luận khách quan, khoa học nhất về vấn đề lý luận này.
2.4. Những giới hạn xung quanh nội hàm khái niệm
Quá trình vận động nhận thức về vấn đề phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới không phải là một quá trình liền mạch mà có lúc đứt gãy, chững lại. Tuy vậy, đội ngũ các nhà nghiên kế tiếp nhau tiếp tục dòng mạch tư duy được khơi dậy từ cuối những năm 80 đã lặng lẽ bền bỉ, nghiêm túc đi sâu vào học thuật với cái nhìn khoa học khách quan, xem xét lại thực trạng nền văn học nước nhà qua mấy chục năm với một tinh thần cầu thị, tâm huyết trăn trở tìm tòi, đóng góp ý kiến để chỉ rõ những giới hạn của bản thân hệ thống lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng của nó tới đời sống văn học Việt Nam và khắc phục những nhận thức giản đơn, ấu trĩ xung quanh khái niệm này.
Khảo sát các giáo trình giảng dạy ở Đại học được xuất bản và tái xuất bản vào thời gian sau 1986 (Lý luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1996, tái bản lần thứ ba; Lý luận văn học do Phương Lựu chủ biên, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1997, tái bản lần thứ nhất; Lý luận văn học, tập 3, Tiến trình văn học, do Phương Lựu chủ biên, Nxb. ĐH Sư Phạm, Hà Nội, 2006) chúng tôi nhận thấy các giáo trình này đều vẫn chú trọng đến mục: chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Những nguyên tắc sáng tác của phương pháp này vẫn được các giáo trình quán triệt đầy đủ và nhất quán. Tuy nhiên, đã xuất hiện thêm những ý kiến nhìn nhận về sự lạc hậu và những mặt hạn chế xung quanh vấn đề lý luận này.
Trong giáo trình  Lý luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên, phần do Đỗ Văn Khang biên soạn đã viết: “Sự lạc hậu về lý luận biểu hiện ở chỗ một thời gian dài người ta đã đồng nhất phương pháp sáng tác với một số nguyên tắc cứng nhắc. Văn học là tối kỵ khuôn mẫu, thế mà gần năm chục năm qua, người ta đã tóm lược phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa vào nguyên lý: “Phản ánh hiện thực trong xu thế phát triển cách mạng của nó (…) Một thời gian dài, người ta cứ nghĩ rằng nói đến chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là nói đến sự phản ánh những “xung động thẩm mỹ thuận chiều” và bài trừ sự phản ánh những “xung động thẩm mỹ nghịch chiều”. Tất cả những quan niệm đơn giản và sai lầm về lý luận đã hạn chế khả năng của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” (10).
Như vậy, quan điểm này cho rằng nguyên nhân khiến chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa không thể phát huy hết khả năng là bởi người vận dụng đã lạc hậu, hạn chế, chật chội trong cách hiểu và tiếp nhận lý thuyết phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, còn bản chất đích thực của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa không có gì sai, không có gì lạc hậu.
Giáo trình Lý luận văn học, tập 3, Tiến trình văn học do Phương Lựu chủ biên đã dành hẳn một mục Những mặt hạn chế (trang 271) để bàn về hạn chế của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Giáo trình viết: “Hiện thực xã hội chủ nghĩa mà then chốt là cái định nghĩa trong Điều lệ Hội Nhà văn Liên xô (1934) là phiến diện không khái quát được hết ngay đối với phẩm chất thẩm mỹ của thơ văn cách mạng. Nói nó gò bó cứng nhắc là vậy” (11)
Quan điểm khác nhau của hai giáo trình trên cho thấy tư duy về vấn đề lý luận nhạy cảm bậc nhất này ở nước ta đã có sự tiến triển rõ rệt. Nếu ban đầu Đỗ Văn Khang cho rằng hạn chế của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa nằm ở cái bên ngoài, ở nguyên nhân khách quan thì đến Phương Lựu đã mạnh dạn chỉ rõ nguyên nhân hạn chế của phương pháp này nằm ngay trong chính bản thân khái niệm.
Đến cuối những năm 90 khi giới thiệu công trình nghiên cứu Nhìn lại nửa thế kỷ lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (1936 – 1986), (Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1999) tác giả Phương Lựu một lần nữa lại khẳng định: “Trong định nghĩa gốc ở Điều lệ Hội Nhà văn Liên xô (1934), có khẳng định chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa vừa là phương pháp sáng tác, vừa là phương pháp phê bình, rõ ràng là không đúng” (12)
Trong 150 thuật ngữ văn học, (Nxb ĐH Quốc gia, Hà Nội, 2004), Lại Nguyên Ân viết: “Lần đầu tiên một số nguyên tắc về khuynh hướng nghệ thuật được đề lên như những chuẩn mực mang tính pháp quy, được coi là độc tôn trong toàn bộ đời sống của các nền văn học dân tộc (…). Với chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, các nền văn học dân tộc trở nên chính trị hóa rõ rệt, nội dung văn học được ưu tiên cho việc diễn đạt đường lối chính trị của Đảng Cộng sản cầm quyền” (13).
Những ý kiến trên cho thấy tư duy lý luận đổi mới đã nhận ra hạn chế cơ bản nhất của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa đó là một thứ chủ nghĩa vốn đã tiềm ẩn trong bản thân nó sự đơn giản hóa, gò ép đối với sự phát triển bình thường của một nền văn học nghệ thuật. Nó khiến văn học trở thành “công cụ” phục vụ cho chính trị một cách dung tục.
Việc nghiên cứu vấn đề phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa còn được đặt trong nghiên cứu tổng thể về hội nhập và giao lưu của văn học Việt Nam với thế giới. Trong công trình Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học (Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2006), tác giả Nguyễn Bá Thành đã dành mục II.2. của chương II với nhan đề Hội nhập và giao lưu với thế giới theo quan điểm macxit và tinh thần xã hội chủ nghĩa (Giai đoạn 1945 – 1985) để bàn về Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa – một cuộc hội nhập theo ý thức hệ. Nguyễn Bá Thành đã hệ thống và phân tích khá kỹ lưỡng quá trình du nhập chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa vào Việt Nam. Tác giả viết: “Vào Việt Nam theo con đường của ý thức hệ, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa không chỉ phụ thuộc vào sự vận hành của bản thân văn học mà còn phụ thuộc vào sự vận hành của ý thức hệ” (14). Và chính vì lẽ đó nên khi “nhập cảng” vào Việt Nam, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã phụ thuộc một cách trực tiếp vào sự thăng trầm của một ý thức hệ, một chính thể: ý thức hệ tư tưởng vô sản, tư tưởng Max – Lenin và chính thể quốc gia.
Khẳng định quá trình du nhập khái niệm phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa vào Việt Nam là “một cuộc hội nhập theo ý thức hệ” (15) có nghĩa là nhà nghiên cứu đã không đồng tình với quan niệm tồn tại dai dẳng trong nghiên cứu lý luận phê bình trước đây coi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là kết quả của quá trình phát triển cao của chủ nghĩa hiện thực phê phán. Nguyễn Bá Thành đã khơi sâu vấn đề mà vào thời điểm đầu những năm 80 của thế kỷ XX, một số nhà nghiên cứu  như Nguyễn Xuân Nam, Đỗ Xuân Hà đã bước đầu nhận thấy: quan niệm cho rằng chủ nghĩa hiện thực phê phán là tiền đề trực tiếp của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là không toàn diện. Và vào cuối những năm 80, Trương Đăng Dung cũng đã phủ định: “Tôi không đồng ý với ý kiến cho rằng chủ nghĩa hiện thực tư sản thế kỷ XIX suy vong để nhường chỗ cho chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Sự tiếp nối hay dứt bỏ các giá trị tinh thần không diễn ra đơn giản như vậy…” (16).
Tiếp đó, Nguyễn Văn Dân trong bài viết với nhan đề Nhìn lại chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa (2009) (17) cho rằng sở dĩ có quan niệm này là vì người ta đã bị ám ảnh bởi hai chữ “hiện thực” trong hai thuật ngữ, theo ông muốn xác định được bản chất của một chủ nghĩa trong văn học nghệ thuật ta phải căn cứ vào cương lĩnh và mục tiêu của nó, vào các nguyên tắc hành động và tiêu chuẩn thẩm mỹ của nó. Trong trường hợp của chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, chúng có những điểm khác nhau rất cơ bản. Cái khác nhau đầu tiên là trong khi chủ nghĩa hiện thực phê phán coi trọng nguyên tắc phê phán thì chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa coi trọng nguyên tắc khẳng định và xây dựng. Với một phép so sánh cụ thể một số đặc điểm giữa chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cổ điển Pháp, ông kết luận: “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa giống với chủ nghĩa cổ điển Pháp thế kỷ XVIII hơn” (18).
Sở dĩ ông so sánh để đi đến kết luận như vậy bởi vì chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở giai đoạn phát triển cao (khi giai cấp vô sản đã nắm được chính quyền) và chủ nghĩa cổ điển Pháp đều chịu sự chi phối của tính quan phương. Từ đó có thể thấy chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa hiện thực phê phán “có tên gọi gần giống nhau nhưng thực chất chúng chỉ là hai người hàng xóm gần nhà xa ngõ” (19). Chủ nghĩa hiện thực phê phán và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa thuộc chủ nghĩa hiện thực, chúng đã xuất hiện trong sự vận động của tiến trình văn học và đều có những vai trò nhất định trong sự phát triển của văn học. Trong khi đó “người gần gũi nhất với chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa lại chính là chủ nghĩa cổ điển thế kỷ XVII, thông qua khía cạnh chính trị hóa văn học ở cấp nhà nước của cả hai” (20). Tác giả tiếp tục đặt vấn đề: Chính trị hóa văn học ở cấp nhà nước sẽ có tác động gì đối với văn học? Ông đã chỉ ra hai mặt đối lập như sau: “Ưu điểm của việc chính trị hóa văn học ở cấp nhà nước là nó có khả năng phát huy tác dụng xã hội của văn học ở mức tối đa và có hiệu quả thiết thực trong những giai đoạn lịch sử nhất định của một dân tộc. Tuy nhiên nó lại có nhược điểm là nếu bị đẩy lên thành nguyên tắc tuyệt đối thì nó sẽ dẫn đến bệnh công thức, sơ lược, và làm cho văn học nghèo đi” (21).
Ý kiến trên cho thấy khi đặt lại vấn đề chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa các nhà nghiên cứu lý luận đổi mới không phủ nhận việc chính trị hóa văn học khi nó mang tính “hợp lý lịch sử”, đồng thời cũng đúc kết bài học: nếu việc chính trị hóa văn học trở thành công thức, nguyên tắc giáo điều thì sẽ là một vật cản lớn đối với con đường phát triển của văn học nghệ thuật.
Như vậy, đồng quan điểm với Trương Đăng Dung và Nguyễn Bá Thành, Nguyễn Văn Dân cũng khẳng định chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa không phải là kết quả của quá trình phát triển cao của chủ nghĩa hiện thực phê phán như trước nay nhiều người thường quan niệm. Việc các nhà nghiên cứu xem xét và lý giải lại tường tận hơn lịch sử du nhập chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa vào Việt Nam là cơ sở để nhận thức thấu đáo hơn những hạn chế của khái niệm này.
Năm 2008 xuất hiện một số nghiên cứu có tính chất vừa “chốt” lại số phận của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, vừa khơi mở, đề xuất những hướng suy nghĩ để tiến tới việc hình thành một khái niệm khác có sức khái quát hơn đã được công bố. Đó là hai bài viết Chung quanh vấn đề phương pháp sáng tác hiện nay (22) của Phương Lựu và Vấn đề hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam sau nửa thế kỷ nhìn lại (23) của Phong Lê.
Trong Chung quanh vấn đề phương pháp sáng tác hiện nay, tiếp tục mổ xẻ “tế bào gốc” là định nghĩa về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, Phương Lựu đã khái quát những “sai lầm” của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa thành năm điểm liên đới không thể tách rời nhau nhưng theo trình tự từ vĩ mô đến vi mô như sau:
1- Nhập nhằng giữa nghệ thuật và tuyên truyền giáo dục;
2- Cào bằng giữa văn học với các bộ môn nghệ thuật khác;
3- Cào bằng giữa sáng tác và nghiên cứu phê bình;
4- Cào bằng giữa các thể loại văn học;
5- Phương thức, biện pháp nghệ thuật độc tôn, nhất loạt hóa. (24).
Thiết nghĩ từ “nhập nhằng” và “cào bằng” mà tác giả Phương Lựu sử dụng ở bài viết có dụng ý phê phán sự mập mờ, tối nghĩa trong các luận điểm của định nghĩa về khái niệm chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Chính vì  không phân định rành mạch đâu là nghệ thuật, đâu là tuyên truyền nên dẫn đến ở Việt Nam nhận thức coi văn học nghệ thuật là công cụ, là vũ khí tuyên truyền cho các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước một cách trực diện, mang tính thời vụ và thô thiển. Sự đánh đồng, thiếu rạch ròi giữa hai loại phương pháp sáng tác và nghiên cứu dẫn đến ngộ nhận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa không những là phương pháp sáng tác tốt nhất mà còn là “một phương pháp phê bình tốt nhất”.
Như vậy, một định nghĩa vốn mang tính chất “kinh điển” với những nguyên tắc tư tưởng – thẩm mỹ từng được coi là “khuôn vàng, thước ngọc” đến đây thực sự đã “mất thiêng” bởi nó bộc lộ rõ những sai lầm không hề nhỏ, chính hạn chế của nó đã trở thành lực cản trên con đường phát triển của văn học nghệ thuật.
Cũng trong bài viết này, Phương Lựu nhấn mạnh: “Thật ra, trừ một vài phong cách cá biệt, còn nói chung, phê bình phải là khoa học. Vậy thì làm gì có một phương pháp chung cho cả khoa học và nghệ thuật” (25). Hệ thống những ý kiến tiếp nối nhau của Phương Lựu chung quanh định nghĩa về phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa trong suốt quá trình đổi mới, chúng ta thấy sự vận động tư duy về vấn đề này của nhà nghiên cứu luôn nhất quán và ngày càng đào sâu, xới lật vấn đề trên tinh thần bám sát đời sống thực tiễn sáng tác. Nhận thức mới của ông cho thấy cái định nghĩa vốn có về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa quả là có nhiều điểm không thể dung nạp, câu chữ không rõ ràng, dễ gây hiểu lầm, không mang tính chuẩn xác của một thuật ngữ khoa học.
Nếu Phương Lựu chỉ ra một cách rạch ròi những “sai lầm” của nội hàm khái niệm phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa thì Phong Lê trong bài Vấn đề hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam sau nửa thế kỷ – nhìn lại (26) đã phê phán những thiển cận, đơn giản, máy móc trong nhận thức và vận dụng lý thuyết để rồi tạo nên một khoảng trống lớn trong nền văn học mới sau 1945 cho đến thập niên cuối thế kỷ XX.
Suốt mấy chục năm trước đổi mới, trong thực tiễn sáng tác văn học, các văn nghệ sĩ Việt Nam đã tuân thủ yêu cầu: “Nắm vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa” (27) để sáng tác và phê bình. Chính vì phải “nắm vững” (tức là người cầm bút phải quán triệt các nguyên tắc miêu tả cái mới của đời sống là chủ yếu, con người mới phải là nhân vật trung tâm để khẳng định và ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc qua hai cuộc kháng chiến, chủ đề tư tưởng phải sáng rõ, việc phản ánh các biến cố của cộng đồng được chú trọng, các biến cố đời tư bị xem như vặt vãnh, tầm thường), cho nên sự thật về những mất mát, đau thương, những khát vọng riêng tư, những nỗi lo âu, trăn trở về thế thái nhân tình,… dường như mờ nhạt, nếu không nói là vắng bóng trong những trang viết của các thế hệ nhà văn giai đoạn này. Thực ra, trong xu thế phát triển của hiện thực, cuộc sống không thể lúc nào cũng theo một chiều đi lên và các kết thúc đều tốt đẹp, sáng sủa. Những bất hạnh, đổ vỡ, bi kịch,… có thể xảy ra và xảy ra bất cứ lúc nào. Thế nhưng một thời gian quá dài chúng ta đã quá say sưa chủ quan trước một thực tế, mặc dù có thành tựu, nhưng cũng không ít sai lầm, thất bại, nhiều cái tốt nhưng không ít cái xấu đã nảy sinh. Phong Lê đã chỉ rõ căn bệnh ấu trĩ trong lối tư duy về phương pháp sáng tác: “Do quan niệm chật chội, cứng nhắc về nó ta đã biến nó thành một giáo điều, ta muốn văn học là hiện thực hơn thì nó càng xa hiện thực; và vi phạm ngay cả quy luật của bản thân nghệ thuật, ta muốn nó là chân thật, là thuyết phục và hấp dẫn thì nó lại trở nên sơ lược và giả tạo” (28).
Tính Đảng (thường được coi là linh hồn của các nguyên tắc sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa) bị hiểu theo sự quy hẹp, máy móc nên sự phê phán của xã hội đối với một số tác phẩm đề cập đến mặt trái, các mặt bi kịch và bế tắc của cuộc sống nhiều khi khá nặng nề, thậm chí quy chụp, bất công, oan uổng. Lối phê bình văn học nghệ thuật lấy tiêu chí chính trị làm chuẩn đã làm lu mờ giá trị nghệ thuật chân chính của tác phẩm, nhà văn tâm huyết, tài năng có khi bỗng nhiên trở thành kẻ có tội với cộng đồng. Nhấn mạnh nguyên tắc “sự phát triển cách mạng của hiện thực”, mặc dù Đảng luôn luôn quán triệt, nhắc nhở tinh thần phải tôn trọng quyền suy nghĩ tự chủ và sáng tạo của nhà văn, phải “chân thật” trong miêu tả hiện thực,… nhưng trong thực tế sự chỉ đạo của các cấp cùng với hoạt động của giới phê bình đã khiến văn học bị kiểm soát khá nặng nề: “Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa như thế không chỉ là một phương pháp thuần túy văn nghệ, mà về một phương diện nào đó, nó là một nguyên tắc tư duy có tính bắt buộc, một yêu cầu tư tưởng của Đảng Cộng sản đối với văn nghệ sĩ, một hệ thống các tiêu chí để theo dõi, kiểm soát tư tưởng đối với tác phẩm của các nhà văn” (29).
Nó đã trở thành một cái “vòng kim cô” gò bó, kìm hãm sức sáng tạo của người cầm bút. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản nhất khiến nền văn học nước nhà trở nên nghèo nàn và đơn điệu.
Đổi mới tư duy, nhận thức đầy đủ hơn về những giới hạn trong nội hàm định nghĩa khái niệm phương pháp sáng tác xã hội chủ nghĩa, các nhà nghiên cứu lý luận đi đến những ý kiến đề xuất mới, Hà Xuân Trường cho rằng: “Tính Đảng là định hướng chính trị, định hướng tư tưởng của một trào lưu, của một nền văn học. Không nên mở rộng quá nội dung của phạm trù này đến mức coi nó như tất cả, quyết định tất cả, làm cho sáng tạo trở nên xơ cứng… Những khái niệm như “tính Đảng”, những cụm từ “văn nghệ phục vụ chính trị” “văn nghệ phục vụ công nông binh” bản thân nó không có gì sai”, nhưng tất cả đều mang tính lịch sử cụ thể, áp dụng tràn lan, coi nó như là những nguyên tắc bất biến, những giáo lý đặt vào đâu cũng đúng là sai lầm (…) không nhất thiết nêu tính Đảng như một đặc điểm của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa” (30).
Tinh thần trên cũng thống nhất với ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu khác như Phương Lựu, Phong Lê, Nguyễn Văn Dân, Nguyễn Bá Thành,…
Ngay từ đầu thời kỳ đổi mới giới lý luận đã băn khoăn: Hiện thực xã hội chủ nghĩa là phương pháp sáng tác tốt nhất hay phương pháp sáng tác duy nhất? Trong quá trình chỉ ra những sai lầm, hạn chế của chính bản thân hệ thống lý thuyết chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và những cản trở của nó đối với sự phát triển của văn học, đến nay lý luận đổi mới cũng như thực tiễn đời sống văn học đã chứng tỏ phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa không phải là phương pháp sáng tác tốt nhất như trước đây người ta vẫn thường quan niệm và nó lại càng không phải là phương pháp sáng tác duy nhất. Một phương pháp sáng tác không mang tính khu biệt và không được xác định rõ ràng về nội hàm thì không thể tốt nhất. “Bản thân chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã tự phủ định, tự phá vỡ, hoặc tràn đầy ra ngoài nó, nếu không phải là tự đối lập với nó, bằng chứng là càng ngày, định nghĩa về nó càng mơ hồ” (31),  nó đã, đang và tiếp tục mờ nhạt dần trong sáng tác của các thế hệ nhà văn sau từ 1975 trở đi, điều này chứng tỏ nó đã không còn ở ngôi vị là phương pháp độc tôn như trước. Trên thực tế, mấy chục năm qua, vấn đề phương pháp sáng tác này hầu như đã ra khỏi lĩnh vực nghiên cứu và phê bình văn học. Ngày nay thay vì bàn về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa người ta bàn nhiều đến các xu hướng sáng tác mới như hiện đại, hậu hiện đại – những xu hướng đã, đang và sẽ được khẳng định trong đời sống văn học Việt Nam đương đại.
Khi bàn về phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa nói riêng và phương pháp sáng tác trong văn học nghệ thuật nói chung, ở Việt Nam “có ý kiến cho rằng khái niệm phương pháp sáng tác là do giới lý luận Xô – viết bày đặt ra để làm bệ đỡ cho chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Bây giờ ta không sử dụng nó nữa, sao còn tiếc cái bệ đỡ ấy làm gì, cứ vứt luôn để khỏi phải tìm tòi một phương pháp sáng tác nào khác nữa!” (32).  Lập luận trên coi phương pháp sáng tác mới chỉ được đề xuất từ năm 1932 trong cuộc thảo luận về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô. Bàn về quan niệm này, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng không thỏa đáng, Phương Lựu viết: “Không phải như vậy, thuật ngữ “phương pháp sáng tác” đã xuất hiện trước đó hàng thế kỷ” (33). Ông dẫn chứng rằng trong cuộc tọa đàm với Eckheman ngày 21 tháng 3 năm 1830, Goethe – đại văn hào cổ điển Đức đã: “Sử dụng mà sử dụng nhất quán với một tần số cao thuật ngữ “phương pháp sáng tác rồi” (34). Nguyễn Bá Thành cũng cho rằng: “Nếu phương pháp được hiểu theo một nghĩa rất rộng thì chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa mới có thể được coi là một phương pháp sáng tác. Phương pháp đó mang tính cách mạng và tính toàn cầu…phương pháp đó đã được các nhà văn nghệ Việt Nam tiếp thu, vận dụng có hiệu quả và sáng tạo nên nền văn học cách mạng hiện đại” (35). Nêu lên những ý kiến trên để thấy, lý luận đổi mới đã không phủ định khái niệm phương pháp sáng tác và phương pháp sáng hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tuy cho đến nay, việc xác định hệ thống tiêu chí và những yếu tố làm nên tổ chức bên trong của phương pháp sáng tác chưa hẳn đã nhất quán, với tư cách là một phạm trù mỹ học tính xác định về lý thuyết của khái niệm phương pháp còn chưa hoàn toàn định hình, nhưng trong thực tế có một số kiểu dạng phương pháp chung đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử văn học nhân loại: chủ nghĩa cổ điển. chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện thực phê phán và phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa thuộc chủ nghĩa hiện thực. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trên thực tế đã xuất hiện, đã tồn tại và cũng đã ghi dấu ấn sâu đậm trong tiến trình văn học thế giới cũng như ở Việt Nam. Nhưng nó đã đặt dấu chấm hết khi thế giới bước vào thiên niên kỷ mới bởi tính hợp lý lịch sử của nó đã trở nên lạc hậu với thời đại hội nhập toàn cầu, một “thế giới phẳng” đang mở ra những quan hệ bình đẳng, nhân văn và dân chủ thực sự.
Quan sát tiến trình đổi mới lý luận văn học thời kỳ đổi mới, chúng tôi nhận thấy cuộc tranh luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam rõ ràng đã đụng chạm vào một vấn đề nhạy cảm, không dễ bàn. Ở thời kỳ đầu đổi mới, tuy có sự trợ giúp của lý luận Liên Xô thời “cải tổ” nhưng giới lý luận giữ thái độ hoặc lưng chừng, hoặc xuất phát từ thực tế sáng tác để phủ định, hoặc bảo vệ, khẳng định. Tuy nhiên giai đoạn sau, dẫu có lúc gián đoạn nhưng đi sâu vào học thuật, với tinh thần cởi mở, ở nhiều cấp độ xem xét khác nhau, có đối thoại, bổ sung, đào sâu thêm, các nhà lý luận Việt Nam đã từng bước bình tĩnh, tự tin nghiên cứu và đi đến những kết luận cơ bản về số phận của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nhà nghiên cứu Phương Lựu cho rằng không thể coi sự an bài của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là bước lùi “mà trái lại đã tiềm ẩn khả năng của một bước tiến” (36). Bởi vì, sự tiến triển không chỉ là thêm được những điều mới mẻ, đúng đắn, mà còn theo nghĩa lựa chọn loại bỏ những sai sót cũ, những gì tuy đúng đắn, phù hợp với điều kiện cũ nhưng trở nên lỗi thời, không phát huy được vai trò trong môi trường xã hội mới. Quan điểm này cho thấy tư duy lý luận đổi mới đã coi vấn đề hiện thực xã hội chủ nghĩa vừa là thành tựu vừa là một hiện tượng để lật ngược vấn đề, khám phá ra những giá trị mới, chân lý mới. Nguyên tắc quá tôn thờ cái ổn định đến đây thực sự nhường chỗ cho tinh thần phản biện mạnh mẽ, rốt ráo hơn để xây dựng một cái nhìn khác cho phù hợp với điều kiện khách quan của lịch sử. “Nhân loại đã trải qua nhiều hình thái ý thức xã hội, mỗi hình thái ý thức xã hội thay thế hình thái ý thức xã hội trước nó đều mang những tiến bộ mới nhưng đó là sự tiến bộ có tính kế thừa, và đó cũng là quy luật. Từ đây, có thể thấy trong chiều sâu của sự vận động phát triển văn hóa nói chung và văn học (trong đó có lý luận văn học) nói riêng luôn ẩn chứa sự kế thừa mang tính biện chứng. Khái niệm phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng bình đẳng như bao khái niệm khác, ở trong nó bao hàm cả mặt khả thủ và những mặt không khả thủ đối với đời sống văn học. Chính vì lẽ đó, khi đã thực hiện xong nhiệm vụ lịch sử, theo quy luật, tự nó dần dần nhường lại “vũ đài” cho những khái niệm khác phù hợp hơn để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày một khác trước của xã hội hiện đại” (37).
Tài liệu tham khảo:
(1). Phương Lựu (2006), Tuyển tập, Tập III, Lý luận văn học Mác-Lênin, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.365 – 471
(2). Trần Đình Sử (2005),Tuyển tập, Tập 2, Những công trình lý luận và phê bình văn học, (Nguyễn Đăng Điệp tuyển chọn và giới thiệu), Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr. 684
(3), (4), (27). Hồ Chí Minh, Lê Duẩn,… (1976),Về văn hóa văn nghệ, (tái bản lần thứ tư) NxbVăn hóa, Hà Nội,  tr.274, 186, 49
(5). Phương Lựu (Chủ biên) (1997), Lý luận văn học (tái bản lần thứ nhất), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr.600
(6), (10). Hà Minh Đức (Chủ biên) (1996), Lý luận văn học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr.284, 296
(7), (9), (16). (19), (20), (21),  Nhiều tác giả (1989), “Hội thảo những vấn đề thời sự của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”, (Ngọc Thiện, Phong Lan lược thuật), Tạp chí Văn học, (3), tr.8-29.
(8) Nguyễn Bá Thành (2006), Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội, tr.468
(11), (33), (34). Phương Lựu (2006), Lý luận văn học, Tập 3, Tiến trình văn học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr.280, 76
(12). Phương Lựu (2006), Tuyển tập, Tập III, Lý luận văn học Mác-Lênin, Nxb Giáo dục, Hà Nội,  tr.368
(13). Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội tr.92, 93
(14), (15), (29), (35). Nguyễn Bá Thành (2006), Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội,  tr.459, 445, 462, 457
(17), (18). Nguyễn Văn Dân (2008), Nhìn lại chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, http://www.vannghequandoi.com.vn/index
(22), (24), (25), (36).  Phương Lựu (2009), Vì một nền lý luận văn học dân tộc-hiện đại, Nxb. Văn học, Hà Nội, tr.96 – 112
(23), (26), (28).  Phong Lê (2008), “Vấn đề hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam sau nửa thế kỷ- nhìn lại”, Văn nghệ Quân đội, (685), tr.95-100.
(30). Hà Xuân Trường (1998), Không có một thời như thế, NxbVăn học và Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Hà Nội, tr.103,104
(31). Đặng Anh Đào (1990), “Về thái độ chấp nhận (hoặc phủ nhận) chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở phương Tây”, Tạp chí Văn học,(2), tr. 56-62
(32). Trương Đăng Dung (2009), “Từ văn bản đến tác phẩm văn học và giá trị thẩm mỹ”, Tạp chí Văn học nước ngoài, (6), tr.96
(37). Cao Hồng (2011), Một chặng đường đổi mới lý luận văn học Việt Nam (1986 – 2011), Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, tr. 138.
27/12/2023
Cao Thị Hồng
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Han Kang & Bản chất của người Bối cảnh của tiểu thuyết là phong trào biểu tình ở Gwangju năm 1980, chống chế độ độc tài Chun Doo-hwa...