Tạp ghi
1. Sáng nào cũng vậy, nếu trời không mưa, không gió lớn thì tôi
vẫn đạp xe đều đặn theo đường biển khoảng 3, 4 cây số và đến ngồi bên ghế đá
ven đường, sát biển để thư giãn. Sau đó lại đạp về thong thả. Mùa này trời có
phần dịu nóng, mây xám vẫn đục, nhiều lúc có mưa bụi mỏng, thấy thú vị. Thôi kệ
đời, ta dại ta tìm nơi vắng vẻ vậy.
Thế nhưng không hiểu sao con đường này xe cộ càng ngày càng
đông, chạy nườm nượp, thoăn thoắt chóng mặt. Đường hai làn, buổi sáng đạp rất sớm,
còn vắng, thưa người, thưa xe cộ. Nhưng khi đạp về, gặp lúc giờ đi làm, sinh hoạt
bắt đầu thì ôi thôi nhìn thấy chóng mặt - như làn sóng nhấp nhô xe cộ. Khổ nhất
là khi vượt qua bên kia để đi về. Mặc dù có đường kẻ trắng quy định cho người
qua đường nhưng hình như mấy người điều khiển xe họ đâu có quan tâm. Họ như cơn
say máu tốc độ. Còn nhớ có năm qua Thái Lan một chuyến, điều ghi nhận mà tôi vẫn
nhớ mãi, khi ấy tôi và một bạn trẻ rủ nhau đi bách bộ chốc lát và chúng tôi
băng qua đường. Trông thấy chiếc xe 4 chỗ ngồi trờ tới, hai chúng tôi dừng lại,
chờ cho xe đi qua rồi mình sẽ qua đường. Nhưng xe dừng lại và người lái xe thò
đầu ra ngoài, đưa tay ra dấu chờ bọn tôi qua.
- U chao ơi! thật là lịch sự.
Điều này tôi chưa bao giờ tìm gặp ở bên nước mình. Có lần tôi
chở bà xã đi Honda qua đường, chuẩn bị quẹo trái, tôi có đèn tín hiệu nhưng
chưa yên tâm, tôi đưa tay, ra dấu để chắc ăn. Nhưng thật bất ngờ (lại bất ngờ),
chiếc xe vút qua mặt tôi mà tay tôi lại bị bàn tay của kẻ qua mặt đánh một cái
bép. May mà tôi lái vững, nếu không là té nhào rồi!
Và tối nào tôi cũng đi bộ, băng qua đường đi cùng với bà xã,
tôi chưa bao giờ thấy làn sóng xe chậm lại khi vượt qua đường quy định cho người
ta đi bộ, nghĩa là phải chờ cho hết xe hơi và khi đó mới dè chừng, đi tránh,
lách để băng qua! Các bạn thấy đó như thế bảo làm sao tai nạn xe tại nước ta
không khổng lồ về người thương vong. Nói chung là tôi không thấy được ở người
điều khiển xe, có cái gọi là “văn hoá: của người lái xe!
Mặt khác có một điều nữa mà tôi ghi nhận là ở Thái Lan, đi
trong thành phố, tôi không nghe tiếng còi xe, tuyệt nhiên hoàn toàn không có.
Thì ra họ lái xe có kỷ luật, có văn hoá thì tiếng còi trở nên vô dụng! Như vậy
là môi trường không bị ô nhiễm bởi tiếng động.
Trở lại chuyện đi xe đạp buổi sáng của tôi, hôm vừa rồi, như
trong bài viết “Bất chợt mùa thu” thấy xe cộ đi dữ quá, thôi khi về tôi đạp xe
men theo lối đi trên vĩa hè. Vĩa hè rất rộng (đường mới mở sau nầy, chạy dọc
theo Khu đô thị Đa Phước của Vũ Nhôm, bị đóng băng) tôi thấy thật nhẹ nhàng vì
chẳng có người đi, một mình tôi thong dong, vừa đi vừa ngắm hoa vàng cây xanh,
có thể làm thơ được, thấy dễ chịu vô cùng!
Sáng hôm kia, khi đạp xe tới nơi, ngồi nghỉ trên ghế dá, tôi
thấy bên kia một đám đông người xen lẫn nhiều cảnh sát công an áo vàng nhưng
tôi cũng không buồn qua xem, hỏi chuyện. Chờ chốc có người qua đây mình hỏi
thôi. Quả y như rứa. Một người đàn ông bước qua tôi hỏi chuyện. Ông ta cho biết
là xe Honda đi nhanh quá, tông một người đi bộ qua đường, chết ngay đơ! U chao
dễ sợ!
Sáng mai lại, tôi ngồi nghỉ trên ghế đá, thì ra nạn nhân là
người ở trước mặt, căn nhà mặt tiền hai tầng,có quán cà phê, có cái băng rôn
giăng trước rạp, tôi đọc được, thì ra nạn nhân là một ông già đã 90 tuổi và
hàng dưới có ghi chú: Cựu Đại tá - Huy hiệu đảng: 69 năm! Như vậy là ôn ni vô dảng
năm 21 tuổi và vào lính cấp bực sau cùng là đại tá. Nói chuyện với một người mà
tôi hỏi thăm. Ông ta nói:
- Cũng thọ quá rồi nhưng ra đi bằng tai nạn như rứa thì cũng
tội. Chắc là K. Mars – Lénine muốn gọi ổng về họp, trao đổi chuyện chi đó mới đột
ngột rứa!
Tôi mỉm cười:
- Gọi đi họp để điều chỉnh “Luận cương” cho phù hợp với tình
hình mới!
- Anh nói đúng đó. Ừ mà bây chừ người ta ít nói “chết” hay
“qua đời” mà họ dùng từ “đi họp” anh tề! May không thôi chút nữa là tau đi họp
rồi!
Tôi đứng dậy đạp xe đi về, con đường lề lót gạch với những cụm
hoa vàng nở rộ, những hàng cây xanh trải dài theo vòng quay bánh xe của tôi.
7 giờ 15 phút sáng rồi!
2
Lúc ni, đi Huế tôi thường chọn loại xe mà người ta gọi là xe
“ké”. Chỉ cần cho họ biết tên, chỗ ở, ngày giờ đi, nếu OK người ta sẽ lái xe đến
tận nhà đón mình và đưa đến tận nơi. Trong các chuyến đi tôi rút tỉa một vài điều
thú vị. Ấy là đi loại xe nầy, được cơ hội ngắm cảnh Huế trong nội vi thành phố
mà một thời mình từng lui tới nhưng đã lâu bây giờ quên hết. Mặc khác đi loại
xe này khỏi phải chen chúc nhau, ngồi bó rọ mỗi khi xe chở quá đông người do dọc
đường xe đón khách, trái lại đi xe “ké”, loại xe 7 chỗ hoặc 4 chỗ ngồi. chỉ vừa
đúng người hoặc có thể ít hơn. Xe có máy lạnh, thả người trên ghế nệm, buông lỏng
tâm trí, dễ chịu.
Chuyến về Huế vừa rồi khi đến nơi cũng như khi đi vào lại Đà
Nẵng, do đón, đưa khách tận nơi, tôi được cơ hội ngắm thoả thích cảnh đẹp thành
phố, nào Phường Đúc – làng nghề đúc đồng – Đường Bùi Thị Xuân, song song, dọc
theo có sông Hương thơ mộng và cổ kính. Thật thích thú khi gặp những ngôi nhà cổ
3 căn hai chái, mái ngói âm dương sà xuống thấp cùng với sân vườn bóng cây mát
dịu. Rồi xe lại đưa khách qua Kim Long, tu viện, dòng các Soeur kín cổng cao tường,
xe quẹo vô đường Nguyễn Hoàng, men theo lối đi nhỏ, có con sông nhỏ chạy dọc
theo đường, toả bóng rặng tre trầm mặc.Trên con đường nhỏ với những ngôi nhà vườn,
con kênh xanh xanh, lá vàng rơi rụng trên cỏ trên nước. Một vài người ngồi dưới
bóng cây thả cần câu cá. Tôi nói: ah! tôi nhớ rồi đường này tôi đã đi mấy lần
theo nhóm bạn ăn gà kiếng ở quán Buị Tre. Người lái xe nói đúng rồi đó bác!
Khi đưa tôi về chỗ ở, đường Chi Lăng, anh lái xe nói: Con thấy
bác nói chuyện vui, nhắc lại chuyện lịch sử một thời, con thích nghe nên đưa
bác về sau cùng, vừa để bác ngắm cảnh thoả thích vừa được nghe chuyện! Ha thằng
này xạo, nó đi theo lộ trình thuận lợi cho nó, mình ở phố là điểm sau cùng, rứa
mà miệng dẻo.
Mấy ngày ở Huế lu bu nhiều việc, cũng tìm đến quán bún ở góc
cua từ cầu Gia Hội xuống đường Trịnh Công Sơn để ăn sáng, thấy xe sắp hàng san
sát biết là quán đây rồi, bước vô, gọi bún, đúng như một em học trò giới thiệu,
bún ngon thiệt, ngoài ra còn có một chén cơm để khách có thể ăn với bún nếu
thích. Khi kêu trả tiền tôi cứ tưởng mình nghe lầm, răng mà rẻ rứa!
Chuyến trở vào, lại được ngắm những nơi chốn mới. Xe đi theo
đường Huỳnh Thúc Kháng trực chỉ về Bao Vinh, qua cầu Bao Vinh quẹo trái theo đường
Tăng Bạt Hổ rồi đi tiếp vô mang Cá. Những con đường, những ngôi nhà ẩn núp sau
vườn cây. xe băng qua những cây cầu cổ gọi là cống, xa xa dòng nước lững lờ, và
sen, sen đã nhô cao, lá sen che kín mặt hồ và kìa những bức thành cổ ẩn sâu
trong lùm cây. Ông khách ngồi ghế đầu nói: Nhìn mấy cây cầu cổ này thấy thật u
hoài. Anh lái xe nói: Cầu ni xe ngựa đi chứ mô phải xe hơi như chừ!
Rồi xe lại đi đón khách tiếp theo đường Nguyễn Trãi, Yết
Kiêu, ra quốc lộ quẹo về, qua Kim Long, xong quay về qua Cầu Bạch Hổ, quẹo Phường
Đúc, …
Trong chuyến trở vào, cầm cái điện thoại ngồi trong xe tôi chụp
qua cửa kiếng vài tấm ảnh, thấy vui vui!
3
Mấy ngày đầu năm, buổi sáng tôi đạp xe đạp theo đường biển
Thanh Bình dọc lên Thanh Khê ra tới cầu Phú Lộc. Tiết Xuân đầu mùa dễ chịu, cảnh
đón tết còn phảng phát, những chậu bông cúc trước nhà, những cây mai chậu để
trước nhà hàng, tiệm ăn chưng tết còn đó, tự nhiên cảm thấy lòng man mác nỗi nhớ
nhà, nhớ Huế. Đường còn vắng người. Trên các vĩa hề, những quán cà phê đông
khách…
Nhưng điều đập vào mắt tôi là lá bàng rụng. Phải, đường trồng
toàn cây bàng và giờ đây đạp xe mỗi sáng tôi thích quan sát những chiếc lá bàng
khô nằm rãi rác, rất nhiều trên vĩa hè. Tôi nghe tiếng lá rơi liệng xuống mặt
đường và tiếng sột soạt của những chị công nhân vệ sinh đang quét lá vàng để hốt
cho lên mấy thùng rác, chờ xe đến lấy.
Ừ! mùa này lá bàng rụng đầy trên vĩa hè và qua một đêm, sáng
ra lá bàng phủ kín.
Ôi! một thời tâm hồn tôi xúc động, đọc phần mở đầu trước khi
vào chuyện « Đôi bạn ». Nhà văn Nhất Linh của chúng ta đã tả cảnh hai chị em ngồi
co ro trong đêm lạnh, cầu mong cho gió lên để lá bàng rụng, hai chị em nhặt được
nhiều. Đã 60 năm trôi qua, đọc lại, sao tôi vẫn chạnh lòng.
Nhặt lá bàng:
“…ở ngoài, có lẽ gió thổi mạnh hơn vì tôi nghe tiếng lá bàng
rụng trên đường mau hơn.
- Gió lên…gió nữa lên.
Tiếng nói của một đứa bé và tiếng cười ròn tiếp theo luôn làm
tôi ngạc nhiên. Tôi viết nốt một đoạn rồi chạy ra cửa sổ nhìn xuống, nhưng
không nom rõ, chỉ thấy bóng chấn song và bóng người tôi in trên đường nhựa.
Tôi vội tắt đèn trong phòng đi.
Trên đường khô ráo, tôi ngạc nhiên không thấy chiếc lá rụng
nào. Tôi vẫn biết có những người đi nhặt lá khô đem về bán lấy tiền; họ chờ đợi
rồi hôm nào lá đã chín lại có gió to, họ đem rổ, đem thúng, lũ bảy, lũ ba chia
nhau các phố tới tấp quét lượm. Ban ngày tôi đã nhiều lần được ngắm cảnh tượng
đó. Nhưng tôi không ngờ đâu, đêm khuya lạnh, họ ngồi ở ngoài gió để chờ nhặt từng
cánh lá một. Tôi cũng đứng lặng yên ở cửa sổ đợi cơn gió đến.
Lại có tiếng lúc nãy nói.
- Ngồi sau cây này khuất gió đỡ lạnh.
Một tiếng khác trả lời:
- Lạnh chả tại gió, làm gì có gió lúc này.
- Khi nào có gió thì lạnh ghê.
- Truyện! không có gió thì lá đã không rụng…
Yên lặng một lúc lâu, rồi có tiếng tức bực:
- Mãi không có gió.
Ở phía sau một góc bàng, một cái bóng chạy ra.
Tôi nhìn kĩ mới biết đó là một đứa bé, vào trạc mười tuổi; đầu
nó chít một cái khăn đỏ phủ kín hai bên má, áo nó rách để hở cả hai vai. Một ít
lá rụng ở cuối phố. Đứa bé chạy vội lại. Một con bé, ở sau gốc bàng khác cũng
chạy ra, rồi hai chị em – tôi đoán là hai chị em – chạy lăng quăng đuổi những
chiếc lá bàng gió thổi lăn trên đường.
Một cơn gió mạnh nổi lên. Lá rụng ào ào, một lát đã đầy đường.
- Mau lên chị ơi…Nhặt cả hai tay chị ạ.
- Tao bảo mày đem chổi đi, mày lại bỏ quên.
Thằng nỡm. Tao đã biết trước là đêm nay có gió to. Mày chẳng
nghe tao bao giờ… thằng nỡm.
Tôi mỉm cười vì sao chị lại không mang chổi đi.
Tôi mỉm cười vì thấy con bé mắng một cách thông thạo lắm; lúc
mắng nó lại tỏ ra vẻ người lớn đã biết mắng em, dạy em rồi. Đứa bé không để ý đến
lời chị nó, vừa nhặt vừa reo:
- Gió lên…lạy giời gió nữa lên.
Chúng vẫn nhặt không ngừng tay, lá vẫn rụng không ngớt: nhiều
khi vì màu áo lẫn với màu đường, tôi không nom rõ ngươi, chỉ thấy hai cái bóng
đen lăng quăng. Chúng chạy vụt ra xe rội lại quay vòng trở lại, có khi đương chạy
về một phía, bỗng nhiên đứng dừng: Một đám lá rơi lỏa tỏa trên người chúng khiến
chúng ngừng bối rối không biết quay nhặt phía nào.
- Lạnh quá.
- Chạy mau lên cho ấm… thằng nỡm.
Thấy chị mắng em luôn mồm là thằng nỡm, tôi mỉm cười đoán có
lẽ tên đứa bé là Nỡm chăng, tôi tự nhiên cũng thấy vui vui với chúng và mặc dầu
trời rét, tôi cũng như chúng mong gió thổi thật mạnh. Mỗi lần cơn gió tới làm rụng
lá, là mỗi lần tôi hồi hộp và sung sướng một cách thành thực.
Nhưng chỉ gió được một lúc rồi tạnh hẳn. Thỉnh thoảng chỉ còn
thưa thớt một hai chiếc lá rơi. Lá trên đường chúng nhặt đã hết.
- Em được tám bó.
- Tao được năm bó. Tại mày tranh lấy hết của tao, thằng ranh
con.
Tôi lại mỉm cười vui vẻ vì thằng nỡm đã đổi ra thằng ranh
con.
Rồi chúng lại về ngồi lại chõ cũ, mỗi đứa một gốc bàng, cho
“khuất gió” khuất những cơn gió làm cho chúng rét run mà chúng vẫn mong nổi
lên..
Tôi quay trở vào, bật đèn rồi lại ngồi vào bàn giấy viết,
trong lòng tự nhiên thấy đỡ chán nản. Ở ngoài, thỉnh thoảng lại có tiếng đứa
bé:
- Gió lên … lạy giời gió lên…
4
Huế - buổi sáng vào Thành Nội thăm thầy cũ.
Những con đường Thành Nội vẫn đẹp trầm lặng, u tịch. Đường
Đoàn Thị Điểm đến nhà thầy được gọi là đường phượng bay. Tôi không thấy phượng
bay chỉ thấy màu xanh của hàng cây rợp bóng dịu êm và thỉnh thoảng những chiếc
lá lìa cành, sà xuống rơi trên mặt đường. Đinh Công Tráng - đường đến nhà thầy
thật dễ thương. Trước mặt có một quán cà phê – u tịch trầm lặng.
Thành nội cố hữu vẫn vậy, không cơi nới, và trong vẻ u tịch của
đường sá, hàng cây, mái ngói tôi tìm thấy sự trầm lắng thanh tịnh như một thái
độ chấp nhận với sự kiêu hãnh của nó. Vào nhà thầy, chờ một lúc mới gặp được thầy
vì thầy bận đi đâu đó chưa về. Hai thầy trò nói chuyện, vẫn là những mãng cây
nhà lá vườn - văn chương triết lý, nhắc lại một thời kỳ dạy triết học tại nhà
trường. Ngậm ngùi nhớ lại thời đại học, được học với các giáo sư giảng dạy Lê
Tôn Nghiêm, Nguyễn Đăng Thục, Trần Văn Toàn, Nguyễn Văn Trung, Lâm Ngọc Huỳnh,
Linh mục Nguyễn Ngọc Lan, Thượng toạ Thích Mãn Giác, cụ Giản Chi Nguyễn Hữu
Văn, Linh mục Nguyễn Tiến Huynh, Thầy Nguyễn Đình Hoan, cô Trần Thị Như Quê, …
Nói chuyện với thầy hồi lâu, rất vui thầy nhắc tới anh Hiền với
thái độ ngưỡng mộ vì tính cách và sự dứt khoát trong mỗi lần đi chấm thi tú tài
2 bộ môn triết, khi họp để thống nhất ba rem bảng điểm.
Còn tôi lại nhớ thầy với hình ảnh ngày xưa cách đây 54 năm,
thầy trẻ trung, là thanh niên 26, 27 tuổi, trong lớp học, thầy tựa góc bàn học
sinh, nói chuyện về triết học - phân tích khái niệm hiện hữu, vấn đề sinh mệnh
con người với câu nói dứt khoát: “sống là thỏa hiệp với cái chết”, cứ mỗi ngày
qua là ta bước lần tới cái huyệt chôn mình!
54, 55 năm trôi qua, giờ đây thầy 82, trò đã 72 tuổi. Một thầy,
một trò ngồi trao đổi vài mẫu chuyện, vài kỷ niệm. Hai thầy trò nói về truyền
thống của Socrate, người thầy đồng thời cũng là người bạn. Trong tương quan đó,
vai trò của ông thầy là giúp đỡ tha nhân, giúp đỡ học trò tìm lại chân lý đã bị
lãng quên. Thầy nhắc lại một câu nói: Tôi chỉ biết một điều, ấy là tôi không biết
gì cả! đó cũng là thái độ của nhà hiền triết. Một thái độ khiêm tốn và là động
cơ cho sự tìm hiểu tiếp theo. Bởi vì bản chất của triết học là hành trình, tìm
kiếm trong vô tận. Triết học đặt vấn đề, khoa học trả lời nhưng trong mỗi câu
trả lời lại phát sinh ra câu hỏi mới, cứ thế câu hỏi mãi mãi phát sinh!
Mời thầy đi uống cà phê, thầy nói mình không có thói quen cà
phê nữa, bỏ lâu rồi. Thú vui của thầy bây giờ là săn sóc vườn cây vừa giải
khuây vừa kiếm thêm tiền!
Từ giả thầy ra về với một niềm vui. Thầy khỏe mạnh và tự tin.
Ng. Miên gọi điện, tôi nói, tui đang đến nhà ông Tôn Thất Q.
Bằng đây, đến đó ra quán cà phê sẽ gọi Miên nghe! Miên đồng ý.
Đường Lê Huân hiện ra với kỷ niệm còn nóng hổi, mới ngày nào
cha vẫn hay chở tôi vô ngoại, đi trên đương này, những bức tường của hoàng
thành vẫn theo dõi hai cha con! Những thảm cỏ xanh ngày xưa bây giờ cũng thế,
không thay đổi – xanh mướt, dịu dàng. Tính ra đã trên 60 năm rồi. Nhớ ngôi nhà
của dì Sâm ở đường Nguyễn Trãi, gần Cửa Sập. Nhớ hai cây khế ngọt mà mỗi lần vô
kỵ ôn ngoại ở đường Yết Kiêu là thế nào cũng men theo bờ hồ bên trái dọc theo
Nguyễn Trãi đi bộ lên nhà dì để hái cho bằng được. Ôi kinh khủng thời gian. Những
người thân yêu của tôi bây giờ còn ai?
Đường Nguyễn Thiện Thuật - nhà Tôn Thất Q. Bằng đã hiện ra.
Tôi quẹo trái và thẳng đến số nhà đã cho. Hai bên đường, những ngôi nhà cổ, 3
căn, mái ngói sà xuống thấp với sân vườn rộng, những cây trồng thẳng lối, sắc
màu của hoa lá nhìn đẹp, lãng mạn như tranh vẽ. Đến đúng nhà, đã thấy Bằng chờ
trước cổng. Cả hai nở nụ cười chào vui.
U chao nơi chốn của Bằng thơ mộng với vẻ trầm lắng yên tỉnh.
Ngôi nhà chính 3 căn, mái hiên đưa ra thấp, chung quanh bao quát vẻ bạt ngàn của
cây lá. Tôi nói: Cậu ở đây một mình? Bà xã, con cái đâu? Con ở Sài Gòn hết.
Mình với bà xã thôi. Tôi nói, yên tỉnh nhưng mà buồn. Ừ mà có khi nào yên tỉnh
lại vui. Cả hai kéo nhau ra góc đường Nguyễn Thiện Thuật uống cà phê. Tôi gọi
điện thoại cho Ng. Miên chỉ chỗ. Chốc sau M đến. 3 đứa ngồi nói chuyện ngày
xưa. Bằng kể chuyện ngày tháng học Luật, không khí sôi nổi của những lần sinh
viên chơi trò dân chủ, ra ứng cử ban đại diện, rồi có màn tố cáo gian lận, vui
thiệt, bầu lại. Nhân chuyện nầy, Bằng nhắc lại những nhân vật làm mình chợt nhớ:
Nguyễn An Chuyên, Nguyễn Duy Cân, Vọng, …một thời tranh đấu trâu đánh!
Đã gần 11 giờ mà tưởng như còn sớm bởi Thành nội cây xanh nhiều,
những tàng cây cao che bóng mát như mái nhà, ngỡ như chưa trưa, trời mát dịu …
M và tôi từ giã B ra về, M tiễn tôi một đoạn đường đến Mai
Thúc Loan. M nhắc tôi sửa lại một vài chỗ bị nhầm trong bài viết của tôi: Nguyễn
Bỉnh Khiêm lại nhầm là Ông Ích Khiêm, Hoàng thành lại ghi là Tử Cấm Thành. Ừ để
tau sửa. Đó là triệu chứng của tuổi già rồi mi hí!
Tôi đi theo đường Mai Thúc Loan ra cửa Đông Ba quẹo phải ra
Ngã Giữa về cầu Gia Hội đến Phương Lan.
Những con đường của Huế...! Kỷ niệm trong suốt đến ngậm ngùi.
Nguyễn Lương Tuấn
Theo http://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét