Thứ Hai, 5 tháng 1, 2026

Vài suy nghĩ vụn về tâm hồn thời đại trong văn học nghệ thuật

Vài suy nghĩ vụn về tâm hồn
thời đại trong văn học nghệ thuật

Sự báo động của ngày hôm nay đòi hỏi mỗi nhà văn hay hoạt động nghệ thuật đức tính dũng cảm hơn. Phải tiếp tục hun đúc nó, giữ gìn phẩm chất có tính bản tính, không chỉ nhằ 31/12/2024 lúc 22:44
Sự báo động của ngày hôm nay đòi hỏi mỗi nhà văn hay hoạt động nghệ thuật đức tính dũng cảm hơ m tôn vinh các giá trị, phẩm chất quý giá đã có của quân đội, của dân tộc. Mà gìn giữ nó trong môi trường địa chính trị phức tạp hôm nay, trở thành vẫn bản hợp ca Ngợi ca Tổ quốc. Nó có lợi cho các thế hệ sau này, ý thức và trách nhiệm, cũng như tổ tiên ta lập các đền thờ các anh hùng dân tộc để sự Bất khuất của tộc Việt được coi như một thứ Đạo. Người Việt Thờ Phật, thờ Mẫu, thần đất và thần nước bên cạnh các vị anh hùng có công dựng nước và giữ nước.
Quân đội Nhân dân Việt Nam ta từ khi thành lập đến nay, 2024, tháng 12 này, đã tròn 80 năm. Đó là một quá trình dài, từ đội quân chỉ “tầm vông súng kíp, giáo mác, gậy gộc”; đến, không ngừng phát triển, xuyên qua thời gian, hôm qua và hôm nay, trưởng thành nên: Một quân đội nhân dân có nhiều binh chủng hiện đại, có năng lực làm chủ mọi tình huống trong sự nghiệp Quân đội nhân dân Việt Nam nhằm bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Suốt quá trình ấy, thật gian lao nhọc nhằn, ở điểm thoạt kì thuỷ vốn là Đội quân của Bác Hồ, con em của Nhân dân (thực chất đa số là con em nông dân), đã tạo nên những bao kì tích, được đánh giá là Đội quân hùng mạnh ở khu vực Đông Nam Á.
Đất nước mà một trong ba – bốn đại diện, vốn là Quân đội Bác Hồ, trong lịch sử phát triển hình thành, đã đánh bại được quân đội xâm lược đế quốc Pháp, đại diện cho Thực dân kiểu cũ. Rồi, bằng cuộc cách mạng thuộc phong trào xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở hơn nửa bán cầu, bản chất sâu cốt vẫn là từ đội quân Việt Minh chớp thời cơ nắm chính quyền, bảo vệ chính quyền, xây dựng cho được một xã hội văn minh, dân chủ “ai cũng có cơm ăn áo mặc, người già được chăm sóc, trẻ em được đến trường…”; đội quân ấy đi Nam: B dài, B ngắn, cùng nhân dân ba miền giải phóng miền Nam. Đội quân có lịch sử 80 năm ấy, đã tựa vào sức mạnh lớn lao của nhân dân, dân tộc, đuổi được quân đội Mỹ về nước, đánh tan quân lực Việt Nam Cộng hòa (VNCH), giành hai khái niệm quan trọng cho nước Việt Nam ta: Độc lập – Tự do. Tối quan trọng nữa, là tạo thành sức mạnh to lớn của dân tộc, vốn đã định hình  định tính bất biến trong lịch sử giữ và dựng nước, làm tròn vai trò dùng sức mạnh tổng hợp từ nhân dân mà “Thống nhất giang san, quy về một mối”.
Lịch sử phát triển hình thành đã diễn ra như thế! Lịch sử trong đó là thân phận dân tộc bao gồm là cả thân phận của con người mang tính cá thể, cá nhân, các thế hệ nối tiếp đã đồng hành cùng quân đội.
Cá nhân ai cũng vậy thôi. Tất cả chúng ta ngồi đây, từ cử toạ tới diễn giả, khi mỗi cá thể như tôi, trước mọi người, thì nhận thức đầu tiên của cậu bé Nguyễn Văn Thọ vốn nhỏ nhoi, nhưng nó đòi hỏi bình đẳng: mỗi sinh linh là một cá thể sống, hình thành có tính hết sức đơn côi với con đường phát triển hình thành ra một Nguyễn tôi bản ngã, vươn tới cũng bản ngã của nghệ thuật, nhân văn cũng chả thể đơn giản. Kể cả đến khi cậu bé Thọ – tôi, đứng vào hàng ngũ trong sự nghiệp vĩ đại của dân tộc; ban đầu hoàn toàn tự phát, bản năng, bản ngã của cá nhân có gốc tích từ một gia đình, một dòng giống, rộng hơn là tự Một Ngôi làng… Tận đến hôm nay, tôi được phép đứng bên bao người hơn tôi về nhiều mặt, trở thành có danh xưng một nhà văn, được trong hàng  ngũ, xếp vào đội ngũ, thì thực sự tự trưởng thành vượt bậc, để hôm nay, xin các quý vị, các bậc cao niên trong nghề, đã dấn thân đi trước; đa số đều xuất phát ở điểm bình dị và kiêu hùng như nhau mà tôi là kẻ hậu sinh, lần đầu được phép ở đây, được lên bầy tỏ…
Lời bầy tỏ đầu tiên, xin các quý vị nhận cho ở Nguyễn Văn Thọ, còn tên nôm na nữa là Thọ Muối,  nhời biết ơn sâu sắc, chân thành của một người được đứng trong đội ngũ của những người cầm bút, cầm cọ, cầm đàn, cầm máy và làm Film. Hãy nhận ở ngay đây, ngày hôm nay, nhời một đứa trẻ mãi là trẻ rằng, Tôi Xin Cảm Ơn!
Kính thưa các quý vị!
Tôi trở thành nhà văn đúng nghĩa bất đắc chí. Bởi cả cuộc sống đầy nợ nần với đất nước và con người mà cầm bút trở thành nhà văn. Xin kể rằng, năm 1965 giặc Mỹ thả bom quanh Hà Nội. Tôi học khá, ước mơ thành kĩ sư điện, hay sẽ làm lái tàu lửa đi khắp nơi trên Tổ quốc. Bom Mỹ ném xuống Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hoá v.v…. Mười sáu tuổi, vừa thi xong lớp 10, cha tôi bảo, con lên đường đi bộ đội đi! Người bảo: “Thân tráng sĩ xá chi da ngựa”. Tôi nghe lời cha lên đường, noi gương theo đám anh em học sinh miền Nam tập kết, viết đơn xin nhập ngũ. Hai năm ngoài Bắc tôi ở binh chủng cao xạ, Trung đoàn 220 bảo vệ Hà Nội. Những đứa trẻ đã trưởng thành, quyết lấy máu tô thắm non sông. Chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ, đánh thắng hai chiến dịch to lớn của giặc Mỹ trên bàu trời Hà Nội, Láng Hoà Lạc, Hải Phòng, Hải Dương.
Tôi nhớ, 1967, giặc Mỹ quyết đánh sập cầu Long Biên. Đại đội chúng tôi phục kích tại Văn Giang, đón lõng máy bay bay thấp từ cửa Ba Lạt bay vào. Ngày đó, đang đánh nhau giữa hai trận đánh nghe tin, cầu Long Biên sập hai nhịp rồi. Trời ơi, chúng tôi, anh em binh sĩ trong đại đội hầu hết là người Hà Nội lặng mình xa xót. Đơn vị 220, nơi tôi nhập ngũ từng có đại đội 12,7 ly trên đỉnh tháp cầu. Tôi từng học máy đo xa 1, 2 mét ở đó; Đại đội ấy có bao bạn tôi cùng là người Hà Nội; nhiều anh lãnh đạo ở quê ra bao năm xây dựng Hà Nội, rồi tái ngũ, nhập ngũ, cũng yêu Hà Nội như Người Hà Nội. Đấy bấy giờ, chúng tôi mặc nhiên để các anh tự coi mình đúng là Người Hà Nội, người tự Thăng Long thành.
Hai nhịp cầu đi toong hai tiểu đội, 12 mạng sống. Liên tục cả tuần chiến đấu ở Văn Giang, 1967, tụi tôi bắn cháy nhiều máy bay bảo vệ được trận địa tên lửa. Giặc, máy bay Mỹ, tìm cách đánh tiêu diệt lại anh em tụi tôi. Hai đợt 8 máy bay, hải quân và không quân, chúng dùng toàn bom bi. Bom bi không chỉ rợi vào trận địa. 8 phi cơ Mỹ, mỗi cái đeo 8 quả bom mẹ. Mỗi quả bom mẹ có từ 100 tới 150 quả bom bi con. Tất cả làng ấy và đơn vị hứng trọn trận “mưa bom bi ngập tưới vào cả ngôi làng, nơi đơn vị tôi ém núp vào làng nông dân Văn Giang. Đơn vị chúng tôi hy sinh hơn chục binh sĩ và sĩ quan; dân làng chết hơn 200. Tôi ban đêm được đi lấy nước uống cho A (tiểu đội), nhìn rõ một khung cảnh khủng khiếp. Còn dấu tích bao bom quả dứa, quả na chưa nổ, chúng đen xẫm hay vàng choé. Làng rất nhiều cây nhãn. Mùa xuân nhãn đơm hoa thơm dọc sông Hồng Hà. Cả những rặng xoan đứng buông hoa tím như làng tôi ở Thái Bình, nơi tôi sinh ra. Như ven sông Tô Lịch, đường từ đê Trần Khát Chân, đón bước chân tôi đi học rồi trưởng thành, hoa xoan rụng tím các con đường mòn ngoại thành Hà Nội.
Không! Tất cả thanh an của ba nơi trong ký ức vụng dại của tôi không còn. Khi ấy, mùi lá cây dập nát. Hoa quả thật lăn lóc trong đám hoa quả giả chưa kịp nổ. Làng khi ấy tan hoang, xác súc vật nhỏ và lớn, xác con người, họ là nông dân chất chồng bên nhau, để mùi máu xộc lên. Tất cả làm thành Ngày giỗ một ngày.
Đêm đó tôi nghe tiếng khóc ai oán vọng về mâm pháo. Tiếng Khóc hằn sâu tâm can, trí não để từ đó đi theo tôi mãi. Năm 1975, tôi lại nghe lại tiếng khóc ấy, khi bà con người Sài Gòn, các bà mẹ và các chị từ trong thành phố ra bới xác anh em binh sĩ VNCH tại rãnh thoát nước ven rừng cao su ở căn cứ Đồng Dù, nơi F – Sư đoàn 320 của chúng tôi đã vây và tiêu diệt, bảo đảm cho các mũi quân đoàn khác thọc sâu đánh chiếm Sài Gòn. Tôi chợt nhận ra ngay từ đêm ở căn cứ của Mỹ để lại cho binh sĩ Thiếu tướng VNCH Lý Tòng Bá Việt Nam hoá chiến tranh, thay mầu da xác chết. Người Mỹ muốn biến anh Lý Tòng Bá một giọt máu cao quý thành tên giết hắn và anh em hắn khi Lý muốn tự thú. Sự nhân quả là hậu quả của Tiếng khóc đêm hôm ấy.
Tôi nhận ra ngay lập tức âm thanh không thể phân biệt, xuyên qua thời gian và địa điểm. Sự thương tiếc đau khổ mà than khóc của các bà mẹ, người vợ, bạn bè và ruột thịt đâu đâu cũng giống nhau. Ai oán và bất hạnh! Tiếng Khóc tôi muốn quên đi sau chiến tranh, nhưng vẫn đeo đẳng tận khi tôi sang Đức, tận khi tôi gặp bao người khác màu da tha hương vì thế chiến Hai, vì Cuộc chiến Việt Nam mà người Mỹ thực dân mới tạo nên, thì ngay cả khi Thay màu da xác chết cũng tương tự như tiếng khóc ở Kosovo, ở châu Phi v.v… Các bà mẹ tuy có màu da tiếng nói khác nhau, nhưng Tiếng Khóc mà âm thanh ai oán của nó, dù gào lên hay tấm tức, râm dứt thậm chí khóc trong câm lặng! Ôi, nếu nhà văn nào chứng kiến cùng tôi nghe thấy, đều biết điều gì đã chợt biến mọi nơi bình yên phút chốc thành đoạ ngục! Mọi tâm hồn con người ta hoen ố, nhuộm máu – hạnh phúc thành bất hạnh.
Tôi viết Tiếng khóc, thiên truyện ngắn điểm khởi từ Văn Giang (1967), điểm lặp lại ở Sài Gòn (1975), điểm cuối cùng không thể dập tắt nó ở để tắt đi ở Đức 4-2008, và, quay lại nước nhà công bố. Vậy, cuộc hành quân gian nan 41 năm. Những kí ức ấy và nhiều điều khủng khiếp khác của chiến tranh trở thành một nỗi ám ảnh kinh hoàng, đã đè nặng trong tâm hồn tôi, thế hệ chúng tôi. Để một ngày những năm cuối thế kỉ trước và năm đầu của thế kỉ 21, tôi ngồi viết ra các câu chuyện kể về cuộc chiến. Câu chuyện của nhà văn, kể về cái địa ngục khủng khiếp mà bất kì con người nào có lương tri, có lòng trắc ẩn có lẽ đều không muốn, cá nhân gia đình mình hay cả dân tộc mình gặp lại, như sự trùng phùng dẳng dai của tôi trong cuộc mưu cầu kiếm sống hậu chiến…
Chúng tôi ở trong rừng 9 năm, đi B ngắn và B dài. Những chàng trai từ miền Bắc vào chiến trường ăn đói mặc rách, cha mẹ ở nhà mỗi người được lĩnh 5 đồng khi binh sĩ đi B. Sĩ quan thì được 10 Đồng. Số tiền ấy thay lương khi ở phiá Bắc. Chúng tôi trở về không tính đếm đến bao nhiêu năm ở rừng, ăn đói, không đủ cấp phát. Ở Tây nguyên, bao người trẻ ở miền Bắc chết vì đói, vì sốt rừng, vì bom đạn giặc. Hậu cần cung cấp không đủ mọi nhu cầu vật chất. Tôi là sĩ quan mà cha tôi ở Hà Nội chỉ lĩnh có 5  đồng. Vậy quân đội hay nhà nước còn nợ binh sĩ như chúng tôi nhiều tiền lắm, nếu tụi tôi đi đánh nhau vì đồng lương ấy. Trong chiến tranh nếu chi li tính toán từng khẩu phần đã nhận được cho từng binh sĩ và sĩ quan, số tiền hàng chục năm đi không hẹn ngày về ấy là con số không  nhỏ. Nhưng còn bao người đã chết, còn sống đâu để ở đâu mà đi đòi nợ. Người còn sống trở về nay lại là đội ngũ cầm bút. Người bình dân ai đi đòi nợ mẹ mình, thì mang danh xưng Nhà văn, càng không được phép đòi nợ mẹ của mình và chúng mình. Kính thưa, phải không các quý vị!?
Kể vậy để có dịp cùng nhau nhớ ra rằng, một Tâm hồn thời đại ấy, thế hệ tháng năm thời khắc ấy, chúng ta yêu sống biết bao nhiêu, hành xử thế nào, ra sao, cho sự có góp thêm một hạt cát hay một hạt muối cho cả một sự nghiệp lớn lao của cả dân tộc – của cả đất nước?
Là con cháu của các thế hệ trước, tôi trở thành Nhà văn, có thể nói là Nhà văn quân đội vì chính Tổ chức Quân đội đã đóng dấu son đầu tiên cho tôi ở cuộc thi truyện ngắn hai năm 2001-2003 đoạt giải Nhì (không có giải Nhất). Sự vinh danh ấy, để tôi – kẻ tiểu khí này càng phải biết ơn những tháng năm gian lao trong quân đội. Chính cuộc sống như địa ngục cũng kiêu hùng ấy, đã luyện rèn cho tôi một ý trí thép, như của để dành hành trang mang đi cho thực tế; Thực tế tôi dùng nó như một khối vàng nguyên, trong những giá trị tìm lại của Phẩm chất Người lính Việt của thời đại Bác hồ. Đó cũng chính là Tâm hồn con người thời đại con người ta đã sống, phải sống mà tác phẩm Vàng xưa thiên truyện ngắn viết sau cuộc chiến bao nhiêu năm, tôi nhọc nhằn gom góp về cho quê mẹ gửi về in ở Văn nghệ Quân đội, lúc tôi còn ở Đức kiếm sống, phận lang bạt kì hồ. Cho nên, từ thực tiễn chứ không còn là những  nhận thức mơ hồ, không trải nghiệm đầy đủ, hết sức sách vở, thậm chí được ghi chép kinh viện, trong các hệ thống trường quy, chợt trở nên cản trở một lối tiếp cận, nhận thức cận chân lý. Vậy thì từ suy luận có tính logich, biện chứng, tôi càng cho rằng, điều sau sự tối cần thiết nói trên, thì quy luật phát triển của các  thế hệ cầm bút nối tiếp nhau, dầu có phủ định, vẫn không thể không ngoài việc, sự tiến lên, dịch lý, vẫn cần sự xây, sự bồi đắp nó, tô vẽ cho rõ ngạch nguồn sự vật, phản ánh nó khách quan cũng quan trọng không kém sự Tối quan trọng kể trên khi đặt cá nhân vào dòng chảy của hệ thống. Hệ thống của một sắc tộc hay chảy ra biển lớn hoà nhập thành Hải Lưu vào cả biển cả thế giới văn minh – Văn học Nghệ thuật đương đại! Nó khi đó chính là của loài Người. Toàn bộ điều khái quát nói vậy, theo tôi, vừa là mục đích, vừa là có tính tương tác cho hiện tại và vị lai, các thế hệ con cháu sau này.
Quá vãng đã trôi qua lại bị thời gian vùi lấp. Lịch sử tạo ra các khoảng mờ mà vô tình với nhiều nguyên nhân, các giá trị bị lẫn lộn, cái thật giả đan xen, cái tốt, xấu đều bị bôi lem, nên tất cả nguy cơ trở thành Vô Tăm Tích. Sự vô tăm tích bị lên ngôi đẩy các học thuyết chân chính về Con Người Lý tưởng của Thời đại bị gậm nhấm ăn mòn hơn a xít. Đó chính là sự tha hoá về Tâm Hồn Thời đại, tâm hồn của Dân tộc Việt. Đã khi như thế sự xâm lăng văn hoá của các giá trị ngoại lai làm cho môi trường văn hoá ở phần nhận thức trở nên ảo hơn. Sự có tính đổi thay ấy, được nhường ngôi cho vài các giá trị khu biệt vốn ẩn tàng trong văn hoá bản năng vốn thiện căn, nhưng khi thả nổi không nhận thức để kiểm soát dễ sinh ra của cái tôi xa đoạ, cái tôi thực dụng, cái tôi đớn hèn. Khi trở thành bản ngã lớn lên, để bản năng còn nằm trong bản ngã, sẽ dám cả gan phủ định hoàn toàn cả cái tôi dân tộc (bản sắc văn hoá). Sự tử tế, tốt đẹp nhất của tộc Việt, những tập tính tốt, Vòng tròn giao thoa không đồng tâm, không tiêu diệt nhau, mà lực lượng yêu quái nào có muốn tiêu diệt cũng không được, vì tộc Việt có cái ngã tốt đẹp, cái đẹp- sự đùm bọc yêu thương nhau trong khó khăn, li loạn chả hạn – vốn luôn cất dấu, tiềm ẩn, tàng kho, như lửa ấm mùa đông trong dấm bếp tro trấu, trong từng gia đình, gia tộc, làng xóm Việt Nam.v.v…
Sự báo động của ngày hôm nay đòi hỏi mỗi nhà văn hay hoạt động nghệ thuật đức tính dũng cảm hơn. Phải tiếp tục hun đúc nó, giữ gìn phẩm chất có tính bản tính, không chỉ nhằm tôn vinh các giá trị, phẩm chất quý giá đã có của quân đội, của dân tộc. Mà gìn giữ nó trong môi trường địa chính trị phức tạp hôm nay, trở thành vẫn bản hợp ca Ngợi ca Tổ quốc. Nó có lợi cho các thế hệ sau này, ý thức và trách nhiệm, cũng như tổ tiên ta lập các đền thờ các anh hùng dân tộc để sự Bất khuất của tộc Việt được coi như một thứ Đạo. Người Việt Thờ Phật, thờ Mẫu, thần đất và thần nước bên cạnh các vị anh hùng có công dựng nước và giữ nước.
Trong các vị ngồi đây có nhiều người đã tham gia bốn cuộc chiến vừa qua. Có nhiều bác, các anh các chị đã sống một thời anh hùng. Rất nhiều các nghệ sĩ, nhà văn, nhà biên kịch ngòi đây cùng chúng ta đều là nhưng anh hùng vô danh một thời: Vô Danh Trận mạc. Tất cả thế hệ ấy đã tròn xong nhiệm vụ ở một gian đoạn khốc liệt nhất của đời họ.
Gần đây thế hệ ấy tan dần đi, mất hút trên bản đồ sống. Thế hệ làm ra biết bao câu chuyện về chiến tranh của Đội quân Bác Hồ nay vắng bóng. Đó là đương nhiên quy luật của đời sống thực tiễn. Vậy, ai sẽ kể về cuộc sống đã đi qua kiêu dũng như nói trên cho con cháu sau này? Mà phải dũng cảm chiếu đủ sáng mới thật thấy rõ ra tâm hồn thời đại ngày ấy. Cả sự trắc ẩn, xa xót, cả nỗi ưu tư trăn trở. Cần có sự dũng cảm nữa, không né tránh nói viết về các cá nhân lịch sử. Một số nhà văn nhà báo hiếm hoi còn lại đang làm việc ấy. Tác phẩm có trồi sụt khác nhau nhưng quả là họ vẫn nêu rõ truyền thống hết sức cách mạng của khối nhà, của một dòng chảy đồng hành cùng quân đội chính quy và du kích chiến. Tôi đánh giá nó rất lớn lao, cũng như một chiến công, nhưng đây vẫn chỉ là một thao tác đòi hỏi nhà văn dù xã hội có biến động ở chiều kích nào, vẫn kiên cường một bản lĩnh. Bản lĩnh với tài năng được mãi rũa, lao động thật là đáng quý, càng đáng chú ý.
Ví dụ tương đối điển hình như Tượng đài Bác cũng khá nhiều, nhưng tượng Bác xứng đáng là điêu khắc thì ít. Cái đẹp điêu khắc nghệ thuật để lại hậu thế không nhiều. Tượng Bác Hồ trấn giữ ở Kiên Giang, trên Đảo Phú Quốc là một tác phẩm điêu khắc rất ấn tượng và, đặc biệt có tầm giá trị chính trị lớn lao, lâu dài. Nó huy động vốn từ xã hội hoá. Dù xã hội hoá vẫn là tiền của nhân dân, của các nhà tài phiệt tư bản của giai đoạn này. Chứng kiến từ đầu thao tác dựng tượng, từ khi phác thảo, tới lúc hoàn chỉnh khuôn mẫu. Vậy mà tôi hết sức ám ảnh vì được chứng kiến trải nghiệm thực tế Bức tượng Bác, cụ Hồ Chí Minh cao lớn vĩ đại này. Thật vui mừng khi bức tượng được sự đồng thuận của nhân dân, của các yếu nhân thượng tầng kiến trúc, của cả các nhà phê bình nghệ thật khó tính trong nước và nước ngoài.
Những sự kiện mang tính sáng tạo văn học nghệ thuật như kể trên, là thực tiễn của diễn tiến văn học trong lịch sử phát triển văn học hiện đại nước nhà; nó hơn hẳn trăm ngàn lần nói suông về văn hoá bản sắc, nhất là khi có nhiều sự chuyện gắn liền cá nhân  với dân tộc bị lược qua. Lãnh tụ là Bác Hồ gắn bó với thân phận đất nước và quân đội không được phép qua mặt nhân dân mà lãng quên để không tạc thêm cho tỏ tường chân dung Một Nhân vật Vĩ đại, hơn ba bốn năm trăm năm nay nhiều chính khách, yếu nhân chính trị tài ba. Nhưng chỉ có Người làm điều thành công trong lòng dân tộc, cho một điều: Độc lập – Tự do – Hạnh phúc; Sự thu vén non sông gấm vóc nước Nam ta về một mối giềng khó ai phủ nhận.
Về câu chuyện trên tôi xin mách kinh nghiệm nho nhỏ của tôi là: Trên thế giới tôi rất khâm phục nhà văn Mỹ Stephen Edwin King. Ông ta theo đuổi một cách tiếp cận thế giới thuật vừa văn học vừa điện ảnh và kết quả là khá nhiều tác phẩm của ông trở nên nổi tiếng cho cả thế giới biết đến.
Trường hợp thứ hai, gần đây là nhà văn nữ người Anh, xuất phát từ tình yêu cho trẻ em bà liền thao tác xây dựng chuỗi những văn bản tưởng tượng các nhân vật trong cổ tích và cổ tích hiện đại. Thao tác của bà, từ một người không có sẵn danh xưng Nhà văn lập tức được các nhà điện ảnh Hollywood chú ý. Họ dựng thành phim dài tập. Phim trình chiếu khắp thế giới và ngoài giá trị Tiền mang lại cho bà, vô tình biến thao tác ấy thành thao tác nhà văn chuyên nghiệp. Nữ văn sĩ ấy có tên tuổi tác phẩm ai ai cũng biết và hâu quả của sự giao duyên là hàng loạt tác giả và nghệ sĩ thành đạt, thành công trong nghề nghiệp xuất hiện trong một sự kiện ban đầu của văn học là sự không chủ tâm chủ định của bà nhà văn người Anh ấy phái sinh thành lắm sự kiện danh bất hư truyền.
Ví dụ thứ ba là truyện tình của nữ sĩ Quỳnh Giao. Với bà xác định thái độ đẳng cấp sáng tác so với người chồng sau ông ta. Đó là một bi kịch của một tình yêu văn chương nghệ thuật khá điểm hình thế kỉ XX. Chồng luôn xác định tác phẩm tầm cao, coi vợ viết văn lá cải, hạng hai. Nhưng sách chồng không bán được vì không độc giả, còn Quỳnh Giao ngôn tình thì thành một hiện tượng ở Đài Bắc. Đến nỗi bà còn là ngoại giao nghệ thuật với bố Vợ Cũ lần I của tôi khi ông đứng đầu ngành nội thương hàng cao cấp snag công tác ở Đài Bắc nhưng năm 80 thế kỉ trước.
Nhà văn Nguyễn Trí Huân gần đây khá quan ngại về sự lấn lướt của truyền thông với văn hoá đọc. Ông nói với tôi rằng, ngày xưa bạn đọc đi tìm tác phẩm. Còn hôm nay nhà văn phải kiếm tìm bạn đọc. Ý tứ của nhà văn cụ thể hơn ở số trang cần viết để khỏi nản lòng bạn đọc. Một cuốn sách mỏng mảnh, rõ ràng đỡ ngại hơn cuốn sách nặng dày từ 5, 6 trăm trang. Bởi sự đọc cũng chính là lao động. Có lẽ phim ảnh cũng vậy (dù khi nó mang tính giải trí nhiều hơn các mục đích khác), thì khán giả thấy sự lao động tìm kiếm cái đẹp thụ động, nhẹ nhàng hơn khi người sáng tạo chủ động đi tìm kiếm cái đẹp (thụ động tận hưởng – bị động). Nhưng nếu tác phẩm viết hay, cuốn hút, mang được hai nội hàm lớn là hình thức và nội dung thời đại, thì thiết nghĩ, yếu tố phải chiều lòng bạn đọc không còn nhất thiết nữa. Sức thế nào thì làm thế đó. Cố dụng công mà sa vào giản lược hay dễ dãi, rời bỏ cái tôi – từng khuôn mặt riêng của mỗi tác nhân sáng tạo, tuỳ theo cảnh huống tình cảnh, các vấn đề của lịch sử câu chuyện đòi một độ dài khác nhau, cũng là hình thức khác nhau trong cách diễn đạt, thể hiện… Nhà văn – nhà thơ – người làm công tác nghệ thuật đúng là rất cần bạn đọc, nếu không, anh, chị, ông bà viết hay sáng tạo để làm gì?!
Con người ta sinh ra trên cõi đời này, bất luận anh sinh ra ở đâu, con cái nhà ai, sắc tộc nào, không thể sống và chết Vô Tăm Tích. Đối với một người bình thường, một “chiến sĩ” ở bất cứ vai trò nào, thì điều quan trọng là anh đang sống, ít nhiều phải để lại dấu tích trong lòng bè bạn, rộng hơn là cộng đồng nào đó. Những dấu tích tích cực và bài học cho những dấu tích tiêu cực. Tính hai mặt của các vấn đề trong thế giới luôn hỗn tạp này, sự cần cho vận động ở hiện tại hay nhìn về vị lai cần như vậy. Đối với người lính luôn có hai nghĩa vụ trên vai cả thời chiến và thời bình thì trách nhiệm công dân đòi hỏi sự phấn đấu cao hơn khi bình rồi mà vẫn cần chiến đấu với chính mình tạo ra mỗi con người với ý thức công dân, ý thức cộng đồng được thêm dấu vết tích cực cho cộng đồng và bạn bè. Nhưng là nhà văn thì tối quan trọng không chỉ dừng lại như vậy. Sự lao động quên mình làm sao để lại dấu vết trong lòng bạn đọc. Quá khứ như vậy, hiện thực như vậy và tương lai có lẽ vẫn sẽ như vậy. Như thế có kì vọng lắm không khi là Người Lính của Đội quân Bác Hồ. Nhà văn chiến sĩ của đội quân có những dấu ấn lịch sử đã nói trên
Kính thưa các quý vị,
Kính thưa các nhà văn và những nghệ sĩ nghệ thuật!
Thực ra mong muốn của tôi còn tham lam lắm. Được nói nói bấy nhiêu mà biết còn chưa đủ cho các ông bà, anh chị thấu hiểu sự vật vã của một nhà văn bé nhỏ để tới đây, một cánh rừng đại ngàn, tự tìm lối ra trong giấu nốt của các bàn chân đã đi qua rừng. Nhưng thực tế hiện tại cũng nói thật là tôi viết xong văn bản này, thể xác mệt mỏi vì trong người đang có sự khó ở hơn tháng. Sau hội nghị này phải lập tức giữ gìn kỉ luật với bác sĩ vào viện. Sự điều trị với một con người là luôn luôn cũng phải không ngơi nghỉ. Ấy cũng như nhìn vào bản thân mà xác định tâm hồn mình thế nào. Khuyết tật, sang chấn gì không? Nên xin phép chỉ tới đây là dừng. Vài vấn đề vụn của một sinh linh cũng kể tựa như khó nhọc viết ra MỘT TÂM HỒN CỦA CÁ NHÂN LÀ TÔI – NGUYỄN VĂN THỌ, cái nhà văn có tên nôm na như vậy.
Xin cảm ơn tất cả, đã lắng nghe lời tâm huyết lê thê này!.
Hà Nội, 31/12/2024
Nguyễn Văn Thọ
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Thơ Nguyễn Đình Minh: “Khi thi ca càng nén lại thì âm hưởng càng lan tỏa” Trong số những nhà thơ Hải Phòng đang trăn trở tự thay đổi thơ...