1. Mục đích của nhập định là trả
lại sự thống nhất của sự sống. Nhưng không trả lại sự thống nhất của một sự sống
từ sự ra đời của con người cá nhân, mà là một sự sống – homo aeternus- bị
đánh mất vì sự phản bội vật chất hóa.
Bởi vì khi con người cá nhân
sinh ra, không từ sự thống nhất của sự sống, mà từ sự tăm tối bao phủ của vật
chất, từ trạng thái hòa làm một với sự tăm tối của vật chất. Nhân loại phổ quát
vĩnh cửu thực hành sự thống nhất của sự sống ngay từ buổi ban đầu của thời
gian, chứ không phải con người cá nhân. Khi từ sự sống phổ quát này rơi xuống,
nhân loại bắt đầu mờ mịt dần.
Về câu hỏi, cái gì là đặc
tính của sự đứt đoạn, cái gì là cái bị đứt đoạn và đứt đoạn từ cái gì, truyền
thống cổ dạy như sau: con người đánh mất bản chất thật và nhận lấy cái Tôi vật
chất tự nhiên, nhầm lẫn và đồng nhất mình với cái Tôi này. Kết quả của sự đồng
nhất nhầm lẫn, là không sống trong cái Tôi thống nhất, phổ quát, mà sự sống bị
đứt đoạn thành nhiều cá nhân, trong thiên hình vạn trạng. Veda dùng hai từ sau
để phân biệt:
Thực thể người vĩnh cửu: Átman;
Con người cá nhân: Dzsiva.
Nguyên nhân của nhầm lẫn là
sự tỉnh táo bị thoái hóa, tinh thần trong sạch bị rối loạn, đấy là sự mê ngủ, đờ
đẫn, mê muội, một dạng điên rồ, một lòng tin bậy (abhimana)
Mục đích của sự nhập định là
làm tan abhimana trong con người, chấm dứt mê muội, đánh thức từ sự mê ngủ, chấm
dứt mọi rối loạn của tinh thần và nâng sự thức tỉnh của con người lên trạng
thái cội nguồn của nó.
Kẻ đã nhập định nhận thức:
cái Tôi cá nhân riêng của nó không là gì khác ngoài sự nhầm lẫn. Không có cái
Tôi cá nhân, nó chỉ tưởng như vậy, chỉ trong sự sống suy thoái. Chỉ duy nhất một
thực thể người tồn tại, vĩnh cửu, con người bất tử: átman. Đây là hiện thực.
Ngoài cái đó ra, chỉ là ảo ảnh. Toàn bộ tự nhiên vật chất, bằng tất cả sự vật của
nó, sự việc của nó, thực thể của nó, bằng các ngôi sao, bằng cây cỏ, súc vật,
lũ ma quỷ, các vị thần, bằng đời sống, sự ra đời, cái chết- tất cả đều là ảo ảnh.
Hiện thực duy nhất, bất biến, hiện hữu bất biến: linh hồn, Thần, átman.
Sự phân biệt của truyền thống
cổ, sự tách biệt của cái Tôi cá nhân và thực thể bất tử cũng không có
nghĩa rằng đây là hai nguyên tố thế giới độc lập. Cái Tôi cá nhân không
là nguyên tố thế giới, mà là maja, ảo ảnh, là niềm tin xằng bậy (abhimana)
- một sự tỉnh táo bị suy thoái của thực thể bất tử, là sự rối loạn điên rồ. Chỉ
có một sự sống mà thôi, một hiện hữu duy nhất. Truyền thống cổ, không chỉ Veda,
Kinh Dịch, không chỉ Heracleitos, Platon, không chỉ Kabbala, mà truyền thống Ai
cập, Iran, Tây tạng, Peru. Mexico cũng nói về advaita, advaitanghĩa là:
không phải hai mà chỉ một. Henpanta einai.
Như vậy khi người học trò đợi
nhập định hiểu ra sự thống nhất, nhận thức hiện thực, từ bỏ sự mê muội điên rồ,
không phải từ hai quay trở về sự thống nhất, mà nó nhìn ra, cái nó thấy là hai,
hai cái riêng một đằng là cái Tôi cá nhân nằm trong sự tỉnh táo bị suy thoái,
và một đằng là sinh linh bất tử, không phải hai, mà là một.
Ở đây không phải là một từ
nói về mức độ của một cái gì đó mới, chưa được kinh nghiệm và có thể đạt tới sự
sống. Thực ra không có gì xảy ra hết: ”Trong phần bình luận Sankara Vedanta,
người ta cho rằng sách thiêng nói về con đường dẫn đến sinh linh bất tử, và có
liên quan đến cái gì đó cao hơn. Đây là một quan niệm sai lầm. Không thể cập bến
đến với một sinh linh bất tử…nơi nào có con người, không thể đến nơi đó.” Không
cần đạt tới átman. Tại sao? Bởi átman chính là bản thân con người.
Không phải là bản chất thật sự của con người, bởi vì không có thật sự và không
thật sự.
Chỉ có một, và đấy là átman,
chỉ cần nhận thức ra mà thôi, nhưng quá trình nhận thức này không phải là một
cái gì diễn ra dưới một cái gì. Không có điều gì xảy ra, chỉ sinh linh bất tử
nhận ra sự đồng nhất với chính bản thân nó, thức tỉnh để nhận ra một hiện thực
duy nhất của chính nó. Nhập định là một thời gian và là một quá trình
trong đó”không xảy ra điều gì hết”, đây chính là nhận thức: ta là sinh linh bất
tử. Ta là átman, ta luôn luôn là átman, là kẻ mà ảo ảnh của nó là thế
gian và đời sống, là kẻ ta không sinh ra, không phải là ta trong thân xác con
người, là kẻ không có các giác quan, các xúc cảm, các tư tưởng, các hình ảnh,
các giấc mơ, là kẻ chỉ có một sự sống vĩnh hằng và không thay đổi.
Ta là” bông hoa sen nở trong
trái tim”. Ta là átman, kẻ: ”nhỏ hơn cả hạt gạo, nhỏ hơn cả hạt lúa mỳ,
linh hồn của ta, kẻ sống trong trái tim của ta, lớn hơn cả trái đất, lớn hơn thế
gian, cả bầu trời, lớn hơn cả toàn bộ các thế giới. Là kẻ nhận biết tất cả, hiểu
tất cả, cảm tất cả, thấu suốt, im lặng, vô tư, đấy là linh hồn của ta, kẻ ẩn
sâu trong trái tim ta, đấy là Átman, và ta sẽ là Átman, nếu ta từ biệt
nơi đây. Ai biết điều này, người ấy không bao giờ còn hoang mang nữa.”
2. Thiên khải (sruti) của truyền
thống, là sự dạy dỗ như một lời tuyên ngôn cho biết: thực ra không có gì xảy ra
hết khi nhập định, chỉ sự tỉnh táo bị suy thoái chợt rún động, và sự rún động
này xua đuổi mọi quấy rầy củaabhimana (niềm tin xằng bậy), và con người phục
hồi lại bản chất thật sự của nó, khi nó nhận ra átman và được chữa khỏi
căn bệnh ảo ảnh. Sự dạy dỗ này tuyệt đối, đáng tin cậy, là sabda
Szmriti (ký ức) bổ sung
cho lời dạy dỗ (sruti) tuyệt đối, đáng tin cậy này. Ký ức (szmriti) ngay từ đầu
chỉ được nhớ lại, không đáng tin cậy và không theo kiểu một lời tuyên ngôn, đấy
là asabda. Đây là sự dạy dỗ trong các truyền thống của các dân tộc khác
nhau có liên quan đến các hình ảnh, các huyền thoại, các ấn tượng, các tên gọi,
các thần linh, các ý kiến khác nhau.
Szmriti (ký ức)
là việc thực hành lời tuyên ngôn. Sự dạy dỗ và tri thức về nhập định, về
các bậc thang, các mức độ, các thực hành, về khổ hạnh, rất nhiều từ ngữ, hình ảnh,
cảm xúc, ấn tượng, tư tưởng chỉ như một sự thực hành, ngay từ đầu đã được nhắc
nhở tới, nhưng không đáng tin cậy. Các mức độ nhập định được phân biệt bởi các dân
tộc, các truyền thống, các trường học, bởi những người thày, các học trò. Tất cả
mọi nơi đều diễn ra như thế, nhưng đồng thời, lại không xảy ra cái gì hết. Con
người không thể đạt tới atman, bởi vì bản thân con người là atman. Ảo
ảnh, cái bên ngoài, hình tướng, con đường của sự nhận biết này chính là szmriti (ký
ức).
Mục đích của nhập định là trả
lại sự thống nhất của sự sống. Sự trả lại này xảy ra như sau, con người thức tỉnh
về chính bản chất riêng của mình và nhận ra, chỉ có một sự sống duy nhất tồn tại,
một hiện thực duy nhất, là bản thân nó, là sinh linh bất tử. Theo szmriti:
vực sâu nhất, sự ngủ quên hoàn toàn của tỉnh táo, sự thiếp đi trong tăm tối của
vật chất chính là hình ảnh mà con người ở trong đó trước khi linh hồn con người
ra đời.
Khi linh hồn bước vào thiên
nhiên, nghĩa là lúc nó vừa sinh ra, nó đã đặt những bước chân đầu tiên đi về
phía thức tỉnh. Trong sự lãng quên của vật chất, bên ngoài không-thời gian, bên
ngoài ánh sáng và khả năng, một cách vô thức, lãng quên, nó đứng ở giới hạn của
không-sự sống một cách vô hồn, trong trạng thái vô luật, như ma quỷ dạng khí,
những kẻ đã đánh mất tia lửa bất tử của chúng.
Khi linh hồn bước vào thiên
nhiên, nó nhận được theo thứ tự một loạt quà tặng của sự sống: nó có thể sắp xếp
theo thời gian để lấy lại sự sáng sủa của nó; nó có cả một không gian, các khả
năng không thể đếm xuể là động lực và kim chỉ nam của nó: khả năng của các giác
quan, các xúc cảm, của các tư tưởng, ý chí, của bản năng của ý thức. Không gian
và thời gian và cái Tôi là công cụ của linh hồn, vì chính bản thân chúng, để lấy
lại sự tỉnh táo bên trong, và linh hồn biết thực hiện sự rún động này khi giữa
chừng thực ra không có gì xảy ra hết.”
Sự sinh ra là bước đầu tiên
đi về phía sự thống nhất bị đánh mất, giống như cái chết là bước đi cuối cùng.
Đời sống, số phận con người, bản chất có ý nghĩa không gì bù đắp nổi của cái
Tôi, là tại đây, lúc này trong không-thời gian này, bằng cái Tôi này, trong
hình tướng thiên nhiên vật chất này, trong thể xác bằng các giác quan, các tài
năng, cần lấy lại sự tỉnh táo, cần quay trở về với sự thống nhất của sự sống, về
với hiện thực và với linh hồn bất tử. Đây là khả năng và cơ hội. Không còn dịp
khác.
Sự nhập định không là gì
khác ngoài việc làm sáng tỏ cho con người biết điều này. Sự nhập định vì thế không
phải là một kiến thức mang tính chất con người, thiên nhiên, trần thế, mà là sự
tỉnh thức mang tính chất siêu nhiên. Những ân sủng mở ra cho con người: không
gian, thời gian và cái Tôi. Điều thứ tư: tri thức về sự nhập định. Như vậy mọi
phương pháp, khả năng, công cụ đã được đặt vào tay con người, để nó lấy lại,
chiếm lĩnh lại vị trí cổ cội nguồn của nó. Và mở ra cho nó toàn bộ các khả
năng, mà kẻ mang những khả năng này là cái Tôi kinh nghiệm; Mở ra cho nó nơi thực
hành các khả năng: không gian; Mở ra quá trình thực hành và khả năng của thể hiện:
thời gian; Sau cùng là ý thức, mức độ, phương pháp, khuynh hướng, ý nghĩa và bản
chất của mục đích: sự dạy dỗ về nhập định – ân sủng thứ tư.
Nhập định là lời dạy dỗ nói
về ý nghĩa của cuộc đời, về mục đích của cuộc đời, về sự thực hành cái Tôi như
một công cụ, để con người biết trả lại sự thống nhất của sự sống, và biết quay
lại trạng thái cổ đã bị đánh mất, hay như Veda nói: biết nhận thức ra hiện thực
của bản chất bất tử của mình.
Truyền thống ngay từ đầu đã
biết hồi tưởng cho rằng, có hai cách trả lại sự thống nhất của sự sống: trong cộng
đồng hoặc một cách cá nhân. Người ta gọi nghi lễ trả lại sự thống nhất của sự sống
trong cộng đồng là sự hiến tế. Cứ như thể cách thức cá nhân thực hành sự trả lại
này không là sự hiến tế. Thực ra cũng là sự hiến tế, nhưng không mang tính chất
nghi lễ, mà chỉ trong nghĩa bóng của từ ngữ. Người ta không quen gọi các phương
pháp mang tính cá nhân, thiền định, khổ hạnh, các phương pháp luyện công, những
nỗ lực để đạt được sự tỉnh táo là hiến tế.
Trong bí cung của hiến tế: „
Chúng ta đạt tới ý nghĩa thực chất đời sống của tất cả chúng ta: chúng ta bước
vào sự thống nhất của sự sống, chúng ta trở thành các đặc tính của MỘT, lên tầng
sự sống siêu không-thời gian, bước vào trung tâm của mọi sức mạnh.” Baader nói,
con người vĩnh cửu, khi phạm luật của sự sống ngay từ buổi bình minh của thời
gian, đã tự làm vấy bẩn bản thân, và sự vấy bẩn này lan ra khắp cả thiên nhiên.
Bởi vậy con người đã mang toàn bộ thiên nhiên cùng mình lao xuống sự tăm tối.
Hiến tế chuẩn bị cho sự thu
nhận lại trạng thái đúng luật trong sự sống. Con người cùng toàn bộ sự sống
thiên nhiên chìm đắm trong máu của đất. Khi linh mục mở các huyết mạch của con
vật hiến tế để máu chảy ra, sự đổ máu này tác động trở lại với con người, bởi
vì linh hồn chìm ngập trong máu được giải thoát. Sự hiến tế là một hành động thần
bí, khi linh hồn con vật bị buộc vào sự đổ máu này bay lên, nâng linh hồn con
người buộc vào máu lên cùng nó. Linh hồn con người bị cầm giữ bởi máu có thể thức
tỉnh, và đấy là con đường hướng về phía sự sống. Sự hiến tế chuẩn bị cho sự phục
sinh. Trong thần bí này nhân loại cùng tham dự.
Sự quay trở lại, sự phục
sinh, trả lại trạng thái thống nhất của sự sống, sự hóa thân, chiêm đoán- các
cách gọi khác nhau cho duy nhất một sự kiện. Trong thời cổ, ngoài sự hiến tế,
còn có rất nhiều phương pháp quen thuộc khác chuẩn bị cho sự hóa thân, và phần
nào đấy đã được thực hiện. Những quá trình lớn trong đời sống cộng đồng của
nhân loại, các nghi thức, dharma, việc duy trì luật lệ thế gian, việc hoàn
tất các nghĩa vụ đẳng cấp, sự phục vụ, tất cả đều là các nỗ lực hóa thân.
Nhưng các hiện tượng
được thể hiện như các phong tục quen thuộc, như các quy tắc và nghi lễ cùng sự
nỗ lực thực hiện của trò chơi chung, các buổi tiệc tùng chung, các ngày lễ, các
bể tắm, hôn nhân, sự sinh ra và cái chết, tất cả đều chỉ chung về một hướng: giữa
mọi cội nguồn, nơi đây, tất cả đều là sự thần bí tồn tại; Và ý nghĩa của những
sự thần bí này là: trả lại sự thống nhất của sự sống. Tất cả (được gọi
là) phong tục, giống như sự hiến tế, bởi vậy rất tuyệt vời, rất phi vật chất,
chống lại vật chất, bởi vậy trang trọng và cao cả, bởi khi phong tục được thực
hiện, như trong sự hiến tế, là lúc các sức mạnh thần bí được giải phóng, những
sức mạnh này tách ra khỏi vật chất, và chuẩn bị trả lại sự thống nhất của sự sống.
Những sức mạnh thần bí được
giải phóng trong những bí ẩn, trong lời hát chung, trong trò chơi bóng của những
người Mexico. Đây cũng chính là nền tảng huyền bí của nhà hát. Hy lạp cổ thời
hellen gọi những sức mạnh huyền bí này là thélesma; Thélesma là một đời
sống đặc thù, Schuler nói. Bản thân từ này bắt nguồn từ từ telein,
mang ý nghĩa kết thúc và nhập định. Và: ”Cha của mọi sự vật trên thế gian là Thelesma”-
theo Hermes Trismegitos.
Sự hiến tế hay phong tục
mang ý nghĩa cao cả, và sự huyền bí, lời hát chung, trò chơi thần bí, khi giải
phóngthelesma và thực hiện nó, một cộng đồng đã nhập định một cách tập thể.
Trong những khoảnh khắc như vậy, sự thống nhất của sự sống xuất hiện trong đời
sống con người- một sự sống phổ quát, rạng ngời, tỉnh táo, là Horus, là Mặt Trời
có cánh, là Kecalkoatl, là con rắn Bút. Mặt Trời có cánh là hình ảnh tượng
trưng của mặt trời linh hồn, ánh sáng của linh hồn.Còn con rắn Bút là hình ảnh
tượng trưng của vật chất đã linh hồn hóa: bởi vì rắn là vật chất còn cánh và
bút có nghĩa là linh hồn.
Mọi sự hiến tế, mọi
phong tục và trò chơi thần bí đều làm dịu đi mối quan hệ với vật chất, và làm
tan ra mối liên quan với sự tăm tối. Như vậy sự huyền bí đã thực hiện điều này
bằng một phương pháp siêu việt và không thể hiểu nổi.
3. Con đường nhập định của cá
nhân là thiền định, khổ hạnh, sự phủ nhận bản thân, sự thực hiện các bổn phận,
sự duy trì luật- nhưng không bao giờ vì chính bản thân mình, mà luôn luôn tỉnh
táo, có ý thức, sáng sủa và vì sự duy nhất.
Dhjana xác định bốn cấp bậc:
Trước hết là sự phân biệt (vivéka)- hai là sự thiền định (vicsara) – ba là
sự tĩnh tại (priti)- bốn là ân sủng (sukha).
Ở mức độ đầu tiên con người
học cách phân biệt cái bản chất và cái phi bản chất. Tư tưởng trọng tâm ở đây
là sự phân biệt átman và dzsiva. Ở mức độ thứ hai con người học
cách quay đi với thế giới giác quan, bên ngoài. Ở mức độ thứ ba học cách đi
trên con đường bên trong; đây là mức độ phải vượt qua các ngưỡng nguy hiểm bên
trong. Ở mức độ thứ tư là làm quen với trạng thái cổ, với niềm cảm hứng ngất
ngây của sự sống mở không giới hạn, tự do, với niềm hạnh phúc mặc khải.
Hồi giáo mật tông (Sufism)
cũng dạy về bốn cấp độ. Đầu tiên là Hasta, nhân loại; ở cấp độ này con người
từ bỏ những ràng buộc cá nhân, giống loài, dân tộc, (cái gọi là) những ràng buộc
tập thể, và học để biết toàn bộ nhân loại là một và học cách hiến dâng bản thân
cho nhân loại duy nhất này. Học nâng mình từ tăm tối tập thể lên sự sáng sủa phổ
quát. Cấp độ thứ hai là Taregut, sự chiếm hữu quyền lực. Con người thu thập
những sức mạnh tinh thần và chiếm hữu được các sức mạnh tạo khả năng thực hành
những quyền lực cao hơn. Nó tạo ra luật pháp, cai trị nhà nước và ra lệnh. Cấp
độ thứ ba là Araff; đạt được những khả năng siêu nhiên. Các giới hạn thiên
nhiên không bao giờ còn là giới hạn đối với nó nữa. Nó tự do tiếp xúc với thế
giới bên kia và các Cha. Cấp độ thứ tư là Hagegut, sự thiêng liêng, là trạng
thái arhat; con người hiện thực hóa trong bản thân nó trạng thái cổ,
tinh thần bất tử và vĩnh cửu của con người.
Sách Agroucsada
Parikcsai dạy về ba bậc thang: đầu tiên là guru, người chỉ huy.
Đấy là nhà giáo, là kẻ cai trị nhà nước, là người thày dạy nhập định, là người
chỉ huy lớp người trẻ, cố vấn. Bậc thang thứ hai là nhà tiên tri, bói toán, đạo
sĩ, người có khả năng siêu nhiên. Thứ ba là người thày của toàn bộ các sức mạnh
trên thế gian, làSakti, là thần linh đã hóa thân. Đây là trạng thái trước sự biến
đổi mà Veda gọi là aisvarjam, sự ngự trị thế gian.
Pitago từng dạy dỗ về hai mức
độ. Mức độ thứ nhất nói về các đức hạnh đời sống hoạt động; đây là công truyền.
Mức độ thứ hai nói về các đức hạnh của đời sống tinh thần; Điều này chỉ những
người ở „vòng trong” được học, đây là bí truyền. Hierocles cho rằng nhập định
thật sự chỉ là vòng dạy dỗ thứ hai.
Cần phải biết về sự giúp đỡ
và lời khẩn cầu xin giúp đỡ của các thần linh: „Mi chớ bắt tay vào công việc,
chừng nào mi chưa cầu khẩn các thần linh hãy giúp đỡ công việc mi muốn bắt đầu.””
Nếu học được điều này, mi sẽ hiểu bí mật của con người và của các thần linh bất
tử” „Và điều này, rằng các công việc khác nhau to lớn và có ý nghĩa như thế
nào, cái gì là bản chất của chúng và cái gì buộc chúng lại với nhau; đúng như vậy
mi cũng sẽ hiểu, cái gì là quy luật của vũ trụ, là đặc tính của nó và cái gì là
một và giống nhau trong tất cả các sự vật- như vậy mi sẽ không bao giờ
tin vào cái không cần tin, và trên thế gian sẽ không còn gì mù mờ trước mi nữa.”
Sau đó đến sự dạy dỗ lớn về
số phận, về heimarmene. „Số phận là thứ làm đui mù con người và lấy mất
trí óc tỉnh táo của họ.” Nhập định không là gì khác ngoài lüszisz tesz heimarmenesz-
sự tháo bỏ những xiềng xích của số phận.
Cái gì là heimarmene?
là sự đông đảo nhiễu nhương của những cái Tôi, là các quyền lợi, các bản năng,
sự hỗn loạn, xung đột của các đam mê –Đây là sự rối loạn như bị rồ dại của
linh hồn người, khi đồng hóa, nhầm lẫn, nhìn những hình ảnh mộng trong sự mê muội
thành hiện thực, thèm muốn danh tiếng, của cải, sự thành công cho cái Tôi cá
nhân, tranh giành, đấu đá, săn lùng – và con người, như Pita go đã nói:” Lũ bất
hạnh! Chúng không thấy và không hiểu cái tốt ở ngay bên cạnh chúng! Ít kẻ biết
rằng từ sự bất hạnh của chúng cái gì được giải phóng! Chúng như những cục bột
vô duyên lăn đây-đó, và gặp đủ mọi khổ sở. Từ lúc chúng ra đời trở đi sự phiền
nhiễu định mệnh đuổi theo chúng khắp nơi, khiến chúng lên bờ xuống ruộng và chẳng
tài nào hiểu nổi tại sao”
Đấy là heimarmenesz. Đấy
là szamszara-luân hồi. Đấy là sự hỗn loạn xuất phát từ mọi nhiễu nhương
điên rồ, là xung đột không phương cứu chữa của cái Tôi mà sự tỉnh táo của nó đã
bị suy thoái trong mê muội. „ Hãy cẩn thận! – Pitago từng kêu lên – con người
có nguồn gốc Thượng đế.”
Con người không phải là cái
Tôi mê muội, là loài côn trùng nhốn nháo, nhiệm vụ của nó không phải đi thu thập
tích lũy danh tiếng, của cải, quyền lực, đam mê trong vòng luân hồi, trong heimarmenesz,
nó không phải lúc nào cũng vội vã, lao động cật lực, khổ sở. Bản chất thật sự của
con người mang tính chất thần, Thượng đế- bất động, không lay chuyển, bất tử,
vĩnh hằng. Hãy nhìn xem: sự yên bình của thiên nhiên, sự hài hòa của các vì
sao, sự tĩnh tại, trong sạch bên trong của linh hồn, của trật tự thế gian đều
nói lên rằng duy nhất chỉ có con người tạo ra sự hỗn loạn.
„Thiên nhiên thiêng liêng
bao phủ những bí ẩn được cất dấu – nó chỉ cho mi sự huyền bí của nó, và mi dễ
dàng làm được điều ta đã an bài.”
Pitago đã an bài cái gì vậy?
Chữa lành bệnh từ heimarmene. Sự thức tỉnh. Sự giải thoát khỏi những niềm
tin xằng bậy (abhimana), để con người biết: ta là átman, ta là hiện thực,
là sự hiện hữu duy nhất, là MỘT-là sự sống bất tử. Ngoài ta ra tất cả đều là ảo
ảnh. Ta nhìn thấy những hình ảnh mộng khủng khiếp này trong sự mê ngủ của ta. „
Và nếu linh hồn mi lành bệnh, mi được giải phóng khỏi mọi cái xấu và mọi sự hỗn
loạn-nhận thức tỉnh táo sẽ dẫn đường, thứ đi từ trên cao xuống, sẽ là sức mạnh
dẫn đường trong mi- và nếu như vậy, sau đời sống, mi sẽ cởi bỏ cái thân xác hữu
hạn của mi, mi sẽ đến với ánh sáng trong sạch, mi sẽ hóa thần, bất tử, vĩnh hằng,
và cái chết vĩnh viễn không bao giờ ngự trị trên đầu mi nữa.”
4. Như vậy sự dạy dỗ của Veda-
Sruti (thiên khải) dưới hình thức lời tuyên ngôn, ngay từ buổi ban đầu đã là nền
tảng của một truyền thống có khả năng hồi tưởng, không cần phải chứng minh. Tự
nó đã sáng rõ đến nỗi không cần phải so sánh nữa. Lấy một ví dụ là đủ: đấy là
ví dụ về sự dạy dỗ của Trang Tử về Đạo.
Veda đã dạy dỗ gì? Rằng cần
phải phân biệt giữa dzsiva và atman. Dzsiva là cái Tôi
cá nhân, là ảo ảnh; cònatman là sinh linh bất tử, là hiện thực. Dzsiva là
sự đa dạng, atman chỉ có Một. Cái đa dạng, thể hiện như sự vật sự việc,
không là sự thật mà chỉ là ảo ảnh.
„Các giới hạn không xuất
hiện từ linh hồn- Trang Tử nói –lời giải thích ý nghĩa thường xuyên và nghiêm
khắc của từ ngữ không có trong sự sống. Con người cá nhân đã tạo ra sự phân biệt.”
Bên phải và bên trái, bộ phận và toàn thể, bên ngoài và bên trong, tác dụng và
phản tác dụng chỉ tồn tại đối với cái Tôi cá nhân. „Từ quan điểm đa dạng và
phân biệt có những bộ phận khác nhau, như gan với mật, như các địa phương khác
nhau như Chu và Vũ; từ quan điểm phổ quát mọi sự vật và thực thể là Một” „Từ
quan điểm phi cái Tôi nhìn ra, tuyệt đối không có các sự vật. Các sự vật chỉ
nhìn thấy từ quan điểm của cái Tôi.”
Từ quan điểm của phi cái
Tôi, của cái Tôi tổng thể, cái Tôi phổ quát, không có phân biệt. Hai đối diện
nhau. Nhưng:”Trạng thái trong đó cái phi Tôi và cái Tôi không đối diện nhau, đấy
là điểm góc của sự sống.” „Những người cổ xưa đã đưa kiến thức của họ đến tận
điểm góc cuối cùng.” „ Trong thời hoàng kim con người ngồi lặng lẽ, và không biết
nên làm gì; họ đi, nhưng không biết đi đâu; họ có đầy thức ăn, họ hạnh phúc, họ
quạt mát da thịt và dạo chơi. Đấy được gọi là đời sống cho đến khi các thần
linh xuất hiện, mang đến cho họ các phong tục, lập ra quy tắc cho hành vi ứng xử,
tổ chức các luật lệ đạo đức, và bắt thế gian nhảy múa theo ý thần linh, để thần
linh an ủi các trái tim. Và từ lúc đó con người trở nên vội vã, cuống quýt, phá
vỡ các ngăn trở, tìm cách chiếm lĩnh tri thức, họ bắt đầu cãi vã, tranh luận lẫn
nhau, bắt đầu tìm kiếm lợi nhuận, cho đến chừng mọi cái không thể dừng lại được
nữa. Đây là tội lỗi của các thần linh.”
Chừng nào sự sống là một,
không cần đến quy tắc, luật lệ, sự tốt lành; không cần đến thần linh. Sức mạnh
của sự sống lớn đến nỗi con người chỉ dạo chơi mà vẫn có đầy thức ăn và hạnh
phúc. Nhưng khi các thần linh đến, mang theo cái tốt và luật lệ, đã mang sự
phân biệt đến. Thế là sự thống nhất chấm dứt.
Người ta chia sự sống ra
thành cái tốt và cái xấu, ra thành miền bắc và miền nam, phía đông và phía tây.
Cùng với các giới hạn thần linh mang đến cái Tôi, sự sở hữu, niềm đam mê, bản
năng, các dục vọng cá nhân, các mục đích, và lúc bấy giờ con người bắt đầu vội
vã, cuống quýt, bắt đầu nổi loạn vượt qua các giới hạn, chống lại các quy tắc,
thế là bắt đầu xuất hiện xung đột, chiến tranh, và nhiều quan điểm, thế giới
quan, nhiều chủng loại, nhiều tôn giáo, nhiều dân tộc, nhiều bộ tộc, nhiều giai
cấp mà các quyền lợi và khát vọng của chúng đều chống chọi lẫn nhau.
Sự thống nhất của sự sống
bị vỡ ra thành các mảnh.Đây tất cả đều là tội lỗi của các thần linh. Tội lỗi của
đạo đức. Tội lỗi của các giới hạn. Tội lỗi của các cái Tôi.„Các giới hạn không
xuất phát từ sự sống…Sự phân biệt do cái Tôi cá nhân tạo ra.” „Từ quan điểm của
sự đa dạng và phân biệt, mới có các bộ phận…từ quan điểm phổ quát mọi sự vật và
thực thể là MỘT.”và sự phổ quát chính là sự sống.
„ Có cần đạo đức cho kẻ cướp
không? Tại sao lại không! Thiếu đạo đức chúng không thể hành động được. Một
cách bản năng chúng biết người ta cất giấu cái gì ở đâu: tài năng của chúng ở đấy;
Cần phải đột nhập: sự dũng cảm ở đấy; Cần phải chạy trốn: nghĩa vụ ở đấy; Cần
phải biết thành công hay không: sự thông thái ở đấy; Cần phải chia chác:danh dự
ở đấy. Ai không có năm đức hạnh này đừng mơ làm kẻ cướp giỏi.”
Và: „Chừng nào thế hệ của
các thần linh còn chưa hết, chừng đó những kẻ cướp giỏi vẫn còn tiếp tục tồn tại”.
Thần linh và kẻ cướp bổ sung cho nhau; thần linh gọi kẻ cướp đến và kẻ cướp gọi
thần linh đến. Thông thường cùng trong đúng một cá nhân. Tại sao? Vì: hai đã tạo
ra các giới hạn, cả hai có đức hạnh, sự giỏi giang, sự phân biệt, sự ưu tú của
nó. Một trong hai đều không nằm trong MỘT, trong sự phổ quát, nơi không giới hạn,
không sự khác biệt, nơi tất cả là một.
„Trong sự sống, thực thể sống
hành động một cách vô tư và không có sự sợ hãi. Không quan tâm đến có quyền-không
có quyền, đẹp-xấu. Niềm vui của nó trên trái đất là mọi người đều được hưởng lợi.
Hòa bình của nó là mọi người đều tự do tiếp xúc. Nếu một kẻ ra đi, dân chúng
khóc thương như đứa trẻ mất mẹ.” Đây là thực thể sống trong sự thống nhất, kẻ đồng
nhất với sự phổ quát. „ Kẻ nào đồng nhất với sự phổ quát, kẻ đó không có cái
Tôi. Vì không có cái Tôi cá nhân của nó nên nó không coi sự sống như sở hữu.”
Không vạch ra các giới hạn, không tạo ra luật lệ, không tách biệt thành tốt xấu,
đúng và không đúng, bên phải và bên trái, không tách biệt thành cái Tôi, thành
các dân tộc, các ngôn ngữ, các vị trí địa lý, biên giới.”
Các giới hạn không xuất phát
từ sự sống…Sự phân biệt do cái Tôi cá nhân tạo ra.” „Từ quan điểm của sự đa dạng
và phân biệt mới có các bộ phận…từ quan điểm phổ quát mọi sự vật và thực thể là
MỘT.”
Và để con người trả lại sự
thống nhất cho sự sống, không cần làm gì hết. Không cần phải săn đuổi và khổ sở.
Khi sự thống nhất của sự sống được trả lại khi ” thực ra không có gì xảy ra hết”.
Hãy để mặc và tất cả tự nó đâu vào đấy.
Có một so sánh nhỏ về người
chăn ngựa: trách nhiệm của người chăn ngựa là tránh xa những công việc có hại.
Ngoài ra không cần làm gì hết. „Người nào muốn sửa chữa bản tính của mình bằng
sự học tập mang tính chất thế gian, để đạt tới trạng thái cổ, kẻ đó muốn điều
chỉnh các dục vọng của nó bằng tri thức thế gian, để nhìn cho rõ hơn, đấy là kẻ
điên rồ và lừa dối.” „Mi hãy thả mình ra để tinh thần của mi bay cao lên
quá thế giới giác quan; hãy tập hợp sức mạnh của mi đến nơi không tiếp xúc với
vật chất; hãy thả mọi sự vật ra con đường của chúng một cách tự do, và đừng chịu
đựng trong bản thân mi những tư tưởng của cái Tôi: mi sẽ thấy, trật tự của thế
gian được trả lại.”
5. Cái trạng thái, khi con người
trả lại sự thống nhất của sự sống trong bản thân nó, truyền thống Hindu gọi làszamádhi.
Szamádhi là mức độ và
trạng thái thiền định cao nhất, khi con người hoàn toàn tắt ý thức của mình,
đưa cho linh hồn một cơ hội để rời bỏ thế gian ảo ảnh và sự thức tỉnh của nó lộ
diện. Đây là sự hoàn thành trạng thái siêu nhiên, là Brahma-vidja, trải
qua sự thức tỉnh siêu việt nhất. Trong trạng thái này bản thân linh hồn thức tỉnh
ra sự thật về hiện thực của bản thân nó, rằng hiện thực chỉ có duy nhất một, là
sự bất tử và vĩnh hằng và vô tận.
„Việc nhận thức ra Atman không
có nghĩa là con người sẽ trở thành cái gì hoặc thành ai; không có nghĩa là đạt
đến bằng các việc, làm bằng sự cố gắng, bằng kỷ luật. Sự nhận thức này hoàn
toàn độc lập với cố gắng mang tính chất con người. Nó không thể là kết quả của
một cuộc nghiên cứu, không thể tác động đến nó bằng tri thức và những hành động
ân huệ. Đến bản thân công việc Viết cũng chỉ tạo sự giúp đỡ cho việc làm biến mất,
cùng lắm là làm chấm dứt sự chia cắt và mơ hồ xuất phát từ sự hỗn loạn điên rồ.”
Bản thân lời tuyên ngôn,
Veda cũng không thể trích dẫn hoàn toàn sự thức tỉnh trong sự thống nhất của sự
sống. Nhưng: không thể thiếu được, và như Trang tử nói: tránh xa các quá trình
ngăn trở. Bản thân linh hồn cần tự nhận thức, và trong sự huyền bí của Cần cũng
cần nhận ra một điều là: không có gì xảy ra, bởi vì khi con người thức tỉnh:
không xảy ra chuyện gì hết”
Trong Szamádhi, từ Hy lạp
gọi là mức độ cao nhất của eksztázis (niềm cảm hứng), được đặt tên là epopteia,
mà sau này trong thời hellenis người ta gọi là methé néphaliosz, là sự
ngây ngất của lửa khô, mà lửa khô theo Heracleitos là mức độ cao của sự tỉnh
táo trong linh hồn sống ở trái đất, khi con người biết đến hương vị an bình
vĩnh cửu, yên tĩnh mặt hồ, và niềm hạnh phúc vĩnh hằng của atman. Đây là
thiên khải. „Đây là hiện thực trong ý nghĩa tuyệt đối, là sự sống cao nhất,
vĩnh cửu, vượt qua mọi đổi thay, tràn đầy, viên mãn, bất biến, một sự sống theo
bản tính của nó tự nó sáng chói và rạng rỡ, thứ trong đó không có tốt và xấu,
không có tác động và phi tác động, không có quá khứ và tương lai, đây là trạng
thái phi vật chất, siêu nhiên: là sự giải thoát-là moksa
Sự sống được hiện thực hóa
không có thuộc tính (attribútum). Các sức mạnh của linh hồn thần thánh mang
tính siêu việt, nhưng những lời tuyên ngôn trong mối quan hệ với thiên nhiên lại
là các thần linh. Các thần linh này là Các Quyền Lực và Những Cái tên. Nhưng nếu
linh hồn đạt đến sự giải thoát, nó được nâng cao hơn các Quyền Lực và Những Cái
Tên. Trong các truyền thống cổ mức độ cao nhất của linh hồn không có tên.
Kinh Kabbala cho rằng Jehova –
bốn chữ cái Jod Hé Vau Hé- mang ý nghĩa toàn thể các đặc tính của Thượng đế,
nhưng ngay trong sự Thống nhất cũng có nghĩa là một sự sống tuyệt đối không thể
đặt tên, không thể nắm bắt. Theo truyền thống Hindu átman không có tên;
từ này: átman, là Thượng Đế cao nhất, người không còn là sức mạnh, Quyền Lực
và Tên Gọi: Brahman đã cho trạng thái cổ của linh hồn, của sự sống.
Đây là tính chất siêu nhiên không thể gọi tên, mà Dionüsziosz Areopagita từng
nói đến, và tác phẩm này đã đem đến cho thời trung cổ châu Âu một truyền thống
cổ của sự sống phổ quát, vô giá, không tài nào nắm bắt nổi.
Linh hồn trần thế đã hiện thực
hóa trong trạng thái szamadhi: arhat, kẻ ý thức rằng vẫn còn các sức
mạnh, các khả năng, các đặc tính, nhưng không bao giờ xuất hiện các cái Tôi của
nó nữa. Giờ đây chúng chỉ là các công cụ, như chính bản thân cái Tôi cũng thế. Arhat sống
trong sự thống nhất hoàn toàn của sự sống, trong kaivaljam. Đấy là sự giải
thoát, là sự hóa thân, là thiên khải, là linh hồn đã trở về nhà- buddha:
là sự thức tỉnh hoàn toàn.
Linh hồn đã tháo bỏ hoàn
toàn cái gì không phải là linh hồn, không phải là hiện thực, cái chỉ là maja, ảo
ảnh, tên gọi. Linh hồn được nâng lên từ các nhân tố quyết định, từ upádhi. Nó
đã đạt tới sự sống tràn đầy, trong sạch, rạng rỡ, đến theleszma, đến đời sống
cơ bản (rasza), nó đã đạt đến hạnh phúc, bởi sự sống nguyên mẫu chính là niềm hạnh
phúc.
6. Nếu con người trong đời một
lần đạt tới sự tỉnh táo cao nhất của linh hồn, và tan vào trạng thái ấy, nó sẽ
không bao giờ cần quay lại thiên nhiên vật chất nữa, và ấn tượng này đưa nó vượt
qua giới hạn đời sống. Đấy là trạng thái nirvikalpaszamádhi. Đây là
lúc con người đã đạt tới sự thức tỉnh và quay trở lại thiên nhiên vật chất, làarhat,
và không bao giờ còn là cái Tôi con người nữa, mà là con người cổ, là sự hiện
thực hóa trạng thái cội nguồn homo aeternus, sự hiện thực hóa trong ý
nghĩa phổ quát.
Con người này đã hoàn thành
Tác Phẩm Lớn, như truyền thống Hermes đã dạy. Nó tách khỏi Mẹ Mặt Đất, khỏi
Magna Mater và bước vào cuộc hôn nhân với sự Thông Thái, với Sophia, Trinh Nữ
Trời. Sophia là mẹ, người yêu, và là vợ, là con gái của linh hồn đã nhập
định. Tác phẩm lớn của nhập định đã hoàn thành. Nó đã đạt tới mức độ như Tabula
Smaragdina đã nói: „Cha nó là mặt trời, mẹ nó là mặt trăng, không khí mang nó
trong dạ con và mặt đất cho nó dinh dưỡng”., Trong nó thức tỉnh sự tỉnh táo âm
dương, cơ thể nó biến thành khí, hay nói đúng hơn thành tinh thần, thành száhuv,
và đất nuôi dưỡng nó: nó vẫn tạm thời sống ở mặt đất.
Nhưng đây là con người: ” Sức
mạnh của nó không suy suyển, nếu nó quay về với đất.” Có nghĩa là: nó có thể tự
do hành động, suy nghĩ, dạy dỗ, cai trị, lãnh đạo- sức mạnh của nó còn nguyên vẹn.
Nó không còn các hạn chế, các dục vọng, các thành kiến, các khát vọng cá nhân,
các bản năng dấu diếm. Cái tôi của nó không là gì khác ngoài như một công cụ để
thông qua đấy nó tiếp xúc với con người trong trong thiên nhiên vật chất.
Nó đã hiện thực hóa
dharmaka, và dạng hình sự sống thiên khải của nó là: sinh linh phổ quát (dharmadhátu),
sự Thông thái sáng ngời như gương (aksobhja), cái làm đẹp thế gian (ratnaszambhava),
tri thức sáng sủa (amitábha), và Quyền lực ngự trị trên các biến đổi (amoghasziddhi)
rạng ngời trong nó. Bởi vì kẻ nhập định không thực hiện chính bản thân nó, mà
thực hiện tính chất của sinh linh và sự sống hoàn hảo, bất tử và phổ quát. Nó
là con trai của Thượng đế: truyền tải những sức mạnh siêu nhiên.
Mục đích của tất cả mọi nhập
định là nâng con người lên sự thống nhất của sự sống, và trên con đường chiêm
đoán (divinácio) đạt tới mục đích, sau đó con người đã hóa thân, đã giải
thoát, đã trả lại sự thống nhất của sự sống, quay trở lại trần thế và ở đó nâng
nhân loại lên cao cùng với nó: Veda, Đạo, Hermes Trismegitos, Kabbala,
Zarathustra, Pitago và toàn bộ truyền thống cổ đã dạy dỗ như thế đó.
(Trích tiểu luận triết học: Scientia sacra)
HAMVAS BÉLA
Nguyễn Hồng Nhung dịch từ
nguyên bản tiếng Hung








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét