Tựa
Kinh Thi và Kinh Dịch như
đôi cánh của con chim nhạn mang chở định mệnh lịch sử của Trung Hoa bay lượn suốt
mấy mươi thế kỷ trên vòm trời Viễn Đông. Dịch trải rộng con đường cho những bước
đi lịch nghiệm trong cuộc tồn sinh; Thi là tâm nguyện khẩn thiết và trung thực
từ giữa chỗ sâu thẳm của tình người và lòng người, được mang ra để lịch nghiệm
cuộc Lữ mà Dịch đã phơi bày ra đó. Âm hưởng của Thi là tiếng vang của nhịp bước
trong cuộc Lữ.
Nhưng thảm họa lịch sử, vì
những tham vọng cuồng dại si ngốc của con người, càng lúc càng đổ dồn lên cuộc
Lữ. Thi đã đổi cách điệu trở thành những âm vang thống thiết của Ly tao kinh.
Cuộc Lữ trở thành cuộc đày ải; Thi cũng trở thành ẩn tình hoài vọng Quê Hương;
hoài vọng những phương trời viễn mộng của Quê Hương. Một lúc nào đó, Cuộc Lữ bị
vây phủ trong trận đồ mù mịt của tư tưởng, Thi là chứng tích sa đọa của một thời.
Buổi thịnh triều rầm một nhà Đường, Thi như một con thuyền biểu diễn tất cả tài
hoa của nó trên ba đào lịch sử, giữa một đại dương rập rình hiểm họa. Nó vẫn đủ
khả năng đưa người vào lục địa, hay lướt sóng đi về vô tận khơi vơi hoằng viễn.
Nhưng cũng có thể âm thầm xô ngã vô số người say sóng. Lý Bạch là một trong những
tay lái cự phách, và có thể là nhất. lãng đãng với tài hoa vừa lãng mạn vừa
kiêu hùng, nên quyến rũ và tạo ra một trường say sóng. Say trong một buổi tiệc,
lượm lặt những vật phế khí của trời đất, để thống ẩm cuồng ngôn. Gậy lục ngọc của
Lý Bạch được mượn để gõ lên đầu lịch sử, đẩy lịch sử đi vào mê cung bát trận đồ.
Chỗ hay không bù lại chỗ dở; cái được không thấm vào đâu với cái mật. Thi ca
khai diễn một trường hưởng thu cho những tay đầu cơ lịch sử có hạng.
Cái đó chỉ là dự tưởng về những
chuyện có thể có cho Thơ mà thôi, nên khỏi phải nói dài dòng.
Thơ vẫn là một cuộc lịch
nghiệm Riêng và Chung, của Thời đại và Lịch sử. Từ cuộc Riêng, Thơ nương theo
đôi cánh Thi và Dịch để đi về nơi Hoằng viễn, dẫn Lịch sử Uyên nguyên tụ hội với
Thời đại. Hình như những sự này tôi nghe được từ nơi thơ của Đông Pha, có nghe
lộn hay không, thì không biết. Nhưng cứ xin lấy chỗ nghe được đó ra để bố trí
cho quyển sách này.
TS.
Đó là tình thơ trong cuộc
thơ và cõi thơ; không quyết là của Đông Pha hay không là của Đông Pha. Nhưng
người chơi thơ, mở cuộc giao tình với cuộc thơ, ban đầu chỉ như đi tìm một cõi
mộng đơn sơ; rồi đột ngột, và sững sờ, cảm khái như một mối sầu cô lữ, thấy
mình lưu lạc ở một phương trời đọa đày viễn mộng
NHỮNG PHƯƠNG TRỜI VIỄN MỘNG
I
KHUYẾT NGUYỆT QUẢI SƠ ĐỒNG
缺 月 掛 疏 桐
Trong ta là núi là rừng
Là trăm tiếng hát đã dừng
trên môi
(THÂN PHẬN)
1.
Khuyết nguyệt; đó là mảnh
trăng non, là con trăng sơ huyền. Trăng của thời kỳ vừa chớm, và thơ cũng sẽ bắt
đầu từ một cõi mộng đơn sơ. Những cái u sầu hay hoan lạc trong mỗi cuộc giao
tình, phảng phất một ẩn ngữ cao kỳ. Ân tình cùng giao thoa trong tương ứng, nó
đơn giản như hai với hai là một. Rồi từ đó sẽ mở ra một phương trời đọa đày viễn
mộng. Cuộc tình tan rã, thì cuộc chơi đột ngột phơi bày trong tuế nguyệt. Bấy
giờ là mùa thu; và tóc trắng tung bay trong cõi mộng kiêu hùng. Mùa đó, nước lũ
ào ạt đổ xuống Trường giang; rầm rộ tràn qua những đống loạn thạch, lũ lượt
trôi phăng như mây ngàn bạt đỉnh, sóng kinh hoàng xẻ đôi hai bờ bến, dâng cao
như đống tuyết bay: Giang sơn như họa, Anh hùng hào kiệt một thời!
Thế thì, trong cõi thơ,
trăng cũng kiêu hùng như gió ngàn bạt đỉnh. Từ đó, nhìn lại con trăng như sợi
lông mày vắt ngang trên con mắt sầu mộng đăm chiêu; mảnh trăng non trơ vơ trên
ngọn ngô đồng thưa lá: thơ là ẩn ngữ hay không là ẩn ngữ? Vừa ẩn ngữ, vừa không
là ẩn ngữ: Trời viễn mộng đọa đày đi mấy thuở; Mộng kiêu hùng hay muối mặn
giữa mù khơi?
Thơ không là ẩn ngữ. Trong
cuộc giao tình vừa khởi sự, cuộc thơ cũng phơi bày lồ lộ những nét thanh kỳ tú
lệ; cũng lãng đãng như màn trăng trong những giọt sương lóng lánh; cũng tươi
như nụ hồng vừa chớm nở; cũng trong ngọc trắng ngà như băng tuyết; và cũng trơ
vơ như chiếc sao Hôm trong buổi hoàng hôn, tư lự như sao Mai giữa trời khuya ngất
tạnh. Vậy, những cái đó không là ẩn ước hay ẩn mật; mà chính là những tâm tình
được thổ lộ phơi trần, hoặc bằng lân la nay khóm trúc mai chồi lan; hoặc đột ngột
như gió dục mây Tần. Tâm tình đã thổ lộ, thì cuộc giao tình thắm thiết mở ra. Bấy
giờ mới là lúc:
Vén thanh sắc đổ mù khơi về
đối diện
Cuộc ân tình lơi lả vội chia
phôi
Trăng nằm xuống ruỗi dài hai
bến hẹn
Một dòng sông vồn vã động
chân trời
Từ tâm tình đến cuộc tình, từ
cuộc tình đến cuộc chơi, rồi từ cuộc chơi đến cuộc hẹn; thế là, đang lân la, bỗng
đột ngột phát hiện một phương trời viễn mộng, xa xôi. Trong cõi đó, lữ khách
bao giờ cũng thấy mình đang bươn bả ra đi, đi biền biệt, đi triền miên, tưởng
như không bao giờ có bến bờ để đổ lại; nhưng, đi và đi mất, trong từng khoảnh
khắc, cái đến và nơi đến, đã đến tự bao giờ. Cuộc tình chia phôi từ độc đó. Bên
này là những dòng tuế nguyệt cứ mãi trôi đi, và bên kia là một chân trời đồng vọng
không có đến. Bóng chiều rủ lên tàng đá bên đường, đọng trong mắt của người một
mối sầu cô lữ. Không vì ẩn ngữ, nhưng vì đã phơi bày tất cả ra đó, nên cuộc
tình và cuộc chơi hay cuộc lữ cuộn tròn trong ẩn ngữ thiên thu. Đó là một tình
tự hoang đường? Hoặc giả:
Đá mòn phơi nẻo tà dương
Nằm nghe nước lũ khóc chừng
cuộc chơi.......?
2.
Đó là tình thơ trong cuộc
thơ và cõi thơ; không quyết là của Đông Pha hay không là của Đông Pha. Nhưng
người chơi thơ, mở cuộc giao tình với cuộc thơ, ban đầu chỉ như đi tìm một cõi
mộng đơn sơ; rồi đột ngột, và sững sờ, cảm khái như một mối sầu cô lữ, thấy
mình lưu lạc ở một phương trời đọa đày viễn mộng
Bây giờ bắt đầu bằng con
trăng sơ huyền, mảnh trăng non treo trên ngọn ngô đồng thưa lá. Trăng trên đồi
xuân cỏ mượt, hay trăng trong mùa thu tóc trắng. Nói chung, là trăng trong cõi
mộng đơn sơ. Trong đó, tình thơ đồng vọng từ mùa xuân, từ lúc hoa bắt đầu rã những
cánh hồng xơ xác:
Hoa thốn tàn hồng thanh hạnh
tiểu
Yến tử phi thời
Lục thủy nhân gia nhiễu
Chi thượng liễu miên xuy hựu
thiểu
Thiên nhai hà xứ vô phương
thảo
|
花 褪 殘 紅 青 杏 小
燕 子 飛 時
綠 水 人 家 遶
枝 上 柳 綿 吹 又 少
天 涯 何 處 無 芳 草
|
Hoa đang rã những cánh hồng
xơ xác, và cây hạnh xanh gầy. Khi con én liệng, dòng nước biếc lượn quanh. Lớp
bụi phấn bông liễu trên cành, gió thổi rồi vơi dần. Ven trời hàng vạn nẻo, nơi
nào không là cỏ non?
Đồng vọng xuân mà cũng là đồng
vọng thu; đồi cỏ non và tóc trắng. Ân tình một nỗi mà chia hai. Tình thơ là
tình xuân, nhưng tình người đã quá xế muộn, của tuổi già, cái tuổi gần 60,
trong những ngày bị đày ải, lưu lạc nơi cảnh man dại Nam hoa.
Lúc đó, và năm đó, Giáp tuất
(1094), ông 59 tuổi, đang từ chức Đoan minh điện kiêm Thị độc học sĩ, ngoại nhiệm
ở Định Châu, bị giáng chức, đày đi Hải Nam. Đó là đoạn đường gian nan hiểm trở.
Trên đoạn đường đó, thơ ông vang lên những tiếng dội lạ lùng. Khổ đau cùng cực,
trộn lẫn với hào khí ngất trời; nhưng lại đượm những chân tình hoài vọng xa
xôi.
Đường đi xuống Hải Nam,
ngang qua Cống châu; sông Cống chảy qua 18 ghềnh thác đổ. Ngày mồng 7 tháng 8
(âm lịch) năm đó, bắt đầu vào Cống châu, và ngang qua một thác nước ào ạt, được
mệnh danh là thác Hoàng khủng. Cái tên đó cũng đủ thấy các thế tuôn trào của
nó. Trong cái kinh hoàng nơi khách địa đó, thơ ông vọng về cố quận khơi vơi.
Nơi quê ông, có phố chợ, được gọi là phố Hỉ hoan. Hỉ hoan và Hoàng khủng, tình
trong một mà cảnh tượng đôi bờ. Bên này là những nét kiêu hùng man dại của đất
khác; bên kia là tình nồng đượm của quê hương. Chỗ đó, ông gọi là "lao viễn
mộng", là đọa đày viễn mộng. Bốn chữ ấy, vừa kiêu sa vừa cô quạnh,
mùa thu và tóc trắng hiện ra những nét vừa khốc liệt vừa man mác. Bài thơ của
ông làm lúc đó
Thất thiên lý ngoại nhị
mao nhân
Thập bát than đầu nhất diệp
thân
Sơn ức Hỉ hoan lao viễn mộng
Địa danh Hoàng khủng khấp
cô thần
Trường phong tống khách
thiêm phàm phúc
Tích vũ phù chu giảm thạch
lân
Tiện hiệp dữ quan sung thủy
thủ
Thử sinh hà chỉ lược tri
tân
|
七 千 里 外 二 毛 人
十 八 灘 頭 一 葉 身
山 憶 喜 歡 勞 遠 夢
地 名 惶 恐 泣 孤 臣
長 風 送 客 添 帆 腹
積 水 浮 舟 減 石 鱗
便 恰 與 官 充 水 手
此 生 何 止 略 知 津
|
Hai thứ tóc, người đi ngoài
bảy nghìn dặm;
Một thân côi, thác đổ xuống
mười tám ghềnh.
Núi nhớ Hỉ hoan đọa đày viễn
mộng;
Đất tên Hoàng khủng lệ khóc
cô thần.
Gió ruỗi khách cánh buồm mở
rộng,
Mưa đầy sông thuyền nhẹ lênh
đênh.
Góp sức quan thử làm thủy thủ,
Đời trôi xuôi bờ bến là đâu?
Con đường đó còn mở rộng bát
ngát những hùng ca và bi ca. Thơ ông bấy giờ như cánh chim hồng lẻ loi bạt gió.
Ngày 3 tháng 10 năm đó, đến
Huệ châu, thuộc tỉnh Quảng đông ngày nay. Ông ở đây gần 4 năm, rồi bị đày xa xuống
nữa.
Tháng 11 năm đó (giáp tuất),
ông làm bài thơ đùa Triêu Vân. Ông tự viết lời dẫn cho bài thơ, nói:
"Đời bảo Lạc Thiên (bạch
Cư Dị) có bài từ Chúc lạc mã phóng theo điệu Dương liễu chi, khen con
ngựa lúc chủ già bịnh không nỡ bỏ. Nhưng tôi nằm mộng có làm mấy câu thơ:
Xuân tận nhứ phi lưu bất đắc
Tùy phong hảo khứ lạc thùy
gia
|
春 盡 絮 飛 留 不 得
隨 風 好 去 落 誰 家
|
"Thơ lạc Thiên cũng
nói:
Bịnh dữ lạc Thiên tương bạn
trụ
Xuân tùy Phàn tử nhất thời
qui
|
病 與 樂 天 相 伴 住
春 隨 樊 子 一 時 歸
|
"Nhà tôi có vài thị thiếp;
bốn, năm năm đã nối nhau bỏ đi; chỉ một mình Triêu Vân theo tôi đày sang Nam.
Nhân đọc thơ Lạc Thiên, làm bài thơ đùa đó. Triêu Vân họ Vương, người Tiền đường,
có con tên Cán, chưa đầy năm đã yểu"
Bài thơ đó:
Bất tợ dương chi biệt Lạc
Thiên
Hiệp như Thông Đức bạn
Linh Huyền
Ả nô Lạc Tú bất đồng lão
Thiên nữ Duy Ma tổng giải
Thiền
Kinh quyển dược lô tân hoạt
kế
Vũ xam ca phiến cựu nhân
duyên
Bất tác Vu dương vân vũ
tiên
|
不 似 楊 枝 別 樂 天
恰 如 通 德 伴 伶 玄
阿 奴 絡 秀 不 同 老
天 女 維 摩 總 解 禪
經 卷 藥 爐 新 活 計
舞 衫 歌 扇 舊 因 緣
丹 成 逐 我 三 山 去
不 作 巫 陽 雲 雨 仙
|
Gọi là đùa, mà kỳ thực là để
tạ cái chân tình thắm thiết của Triêu Vân hầu ông. Nàng cốt cách như thiên nữ,
dù không là sắc nước hương trời, nhưng cũng trang nhã thanh cao. Trước kia,
nàng chỉ biết ca hát và múa. Từ khi theo ông đi đày, nàng làm bếp; tợ như ngọc
nữ quạt lò thuốc luyện đan. Khi nào tiên đan luyện thành rồi, sẽ đuổi ông chơi
xa ngoài năm non bảy núi, không làm tiên nữ mây mưa trên đỉnh Vu dương nữa.
Một ngày nhàn hạ, ông ngồi với
Triêu Vân. Lá ngô đồng vừa bắt rơi vài ngọn, gió heo may vừa trổi, và sương thu
lạnh. Ông bảo Triêu Vân cầm cốc rượu làm phách đánh nhịp, hát bài từ của
ông, theo điệu Điệp luyến hoa:
Hoa thốn tàn hồng thanh hạnh
tiểu.
Yến tử phi thời,
Lục thủy nhân gia nhiễu.
Chi thượng liễu miên xuy hựu
thiểu.
Thiên nha hà xứ vô phương thảo
Tường lý thiên thu tường ngoại
đạo,
Tướng ngoại hành nhân,
Tường lý giai nhân tiếu.
Tiếu tiệm bất văn thanh tiệm
tiểu,
Đà tình khước bị vô tình
não.
Ca và Triêu Vân sụt sùi
khóc, nước mắt đẫm áo. Ông hỏi tại sao khóc. Nàng chỉ vào bài từ, chính là ở chỗ
Chi thượng liễu miên xuy hựu
thiểu.
Thiên nha hà xứ vô phương thảo
Trên cành liễu, bông liễu đã
kết trái, trên hạt của nó có những sợi lông như lông tơ của cái kén, gọi là liễu
miên, hay bụi bông liễu. Ngọn gió muộn của mùa thu thổi qua, bông liễu bay
đi; ngoài kia bông liễu tản mạn triền miên, tản mạn bay đi, ngoài kia ven trời
vạn nẻo, đâu không là cỏ non!
Nàng khóc là ở chỗ đó. Ông
cười lớn: Chính là chố ta ngậm ngùi mùa thu, mà nàng khóc với mùa xuân.
Mùa xuân và mùa thu, cùng
trong một tình thơ đó. Tình đạm bạc như bông liễu; và cũng tình đó, triền miên
như bụi bông liễu. Mịn như tơ trời và lây lất triền miên theo gió thổi; trên
cành liễu và ngoài kia mấy vạn ven trời diệu vợi. Càng đơn bạc, càng nồng nàn.
Tình vương vấn như sợi tơ trời,
triền miên và thắm thiết. Triền miên và triền miên, một thứ triền miên kỳ lạ.
Triền miên đó là cái bịn rịn, cái dây dưa, cái vương vấn, cái quyến luyến, của
bụi bông liễu như tơ trời. Lồ lộ trong cơn gió thanh xuân, mà e ấp trong một
tình thơ sầu vạn đại.
Cuộc giao tình dồn lại rồi
chia phôi:
Tường lý thu thiên tường
ngoại đạo
Tường ngoại hành nhân,
Tường lý giai nhân tiếu.
Tiếu tiệm bất văn thanh tiệm
tiểu
Đa tình khước bị vô tình
não
|
牆 裏 鞦 韆 牆 外 道
牆 外 行 人
牆 裏 佳 人 笑
笑 漸 不 聞 聲 漸 小
多 情 卻 被 無 情 惱
|
Bên trong tường là cái xích
đu và bên ngoài tường là con đường cái. Bên ngoài tường là lữ khác đi và bên
trong tường là người đẹp đang cười. Cười càng lúc càng nhỏ và tiếng cười càng
lúc càng ngậm ngùi. Cái đa tình đã thường bị cái vô tình làm ray rứt.
Tình thơ, và cuộc tình trong
thơ, thắt chạt rồi buông lơi; gió thổi cuộc tình ra ngoài một vạn phương trời
viễn mộng. Hùng ca hay bi ca? Mòn con mắt sầu đưa từ cổ độ:
Bụi thu mờ ai phủ với hai
tay
(Bùi Giáng)
Bụi thu mờ và bụi thu bay.
Trời thu cao ngất tạnh trong bụi thu mờ. Rừng thu rỗ biếc ố hồng vì bụi thu mờ.
Chiều mùa thu đổ xuống trong bụi thu mờ. Mờ và xa,
Em về rủ áo mù sa
Trút quần phong nhụy cho tà
huy bay
(Bùi Giáng)
Chẳng bao lâu, Triêu Vân bịnh
và mất. Nàng mất lúc tuổi mới 34, và ông đã 61 tuổi. Rồi từ đó, sầu cô quạnh
tung trời lên Bắc đẩu, dải Ngân hà tan tác bụi thu bay.
Từ đó trở đi, ông không bao
giờ còn nghe lại:
Hoa thốn tàn hồng thanh hạnh
tiểu....
Chi thượng liễu miên xuy hựu
thiểu
Thiên nhai hà xứ vô phương
thảo
Ông viết "Mộ chí
minh":
"Thị thiếp của Đông Pha
tiên sinh là Triêu Vân, tự Tử Hà, họ Vương thị; người Tiền đường. Thông minh và
thích việc nghĩa, thờ tiên sinh 23 năm, một mực trung và kỉnh. Năm Thiệu thánh
thứ 3 (1096), tháng 7, ngày nhâm thìn, mất ở Huệ châu, 34 tuổi. Tháng 8, ngày
canh thân, táng trên Phong hồ, phía đông nam chùa Thê hiều. Sinh con tên Độn,
chưa đầy năm đã yểu. Nàng thường theo tì khưu ni Nghĩa xung học Phật pháp, cũng
hiểu biết sơ qua đại ý. Lúc chết, tụng 4 câu kệ trong kinh Kim cương rồi tuyệt.
Bài minh rằng:
Phù đồ thị chiêm
Già lam thị y
Như nhữ túc tâm
Duy Phật chi quy
|
浮 屠 是 瞻
伽 藍 是 依
如 汝 宿 心
唯 佛 之 歸
|
(Hướng về đức Phật. Nương về
cửa chùa. Theo tâm nguyện đó. Nay Phật đón đi).
Ông làm bài thơ truy điệu,
và tự viết lời dẫn:
"Thiệu thánh nguyên
tiêu (1094), tháng 11, làm bài thơ đùa Triêu Vân. Năm Thiệu thánh thứ 3, tháng
7, ngày 5, Triêu Vân mất vì bịnh ở Huệ Châu, táng phía đông nam trong rừng
thông chùa Thê hiền, kề tháp Đại thánh. Tôi làm bài Minh khắc lên mộ nàng; nay
làm bài thơ học vận bài trước.
"Ban đầu, Triêu Vân
không biết chữ. Lớn tuổi, bỗng học viết; viết hơi có ngay ngắn. Lại thường theo
bà tì khưu ni Nghĩa Xung ở Tứ thượng học Phật pháp, cũng có biết sơ qua đại
nghĩa. Lúc chết, tụng 4 câu kệ trong kinh Kim cương rồi tuyệt"
Bài thơ:
Miên nhi bất tú khởi kỳ
thiên
Bất sử Đồng Ô dữ ngã huyền
Chú cảnh hận vô thiên tuế
dược
Tặng hành duy hữu Tiểu thừa
thiền
Thương tâm nhất niệm thường
tiền trái
Đàn chỉ tam sinh đoạn hậu
chuyên
Qui ngọa trúc căn vô viễn
cận
Dạ đăng cần lễ tháp trung
niên
|
苗而不秀豈其天
不使童烏與我玄
景恨無千歲藥駐
贈行唯有小乘禪
傷心一念償前債
彈指三生斷後緣
歸臥竹根無遠近
夜燈勤禮塔中仙
|
Nàng như đám mạ đã xanh chưa
kịp trổ đòng đòng. Đó là mệnh trời ư? Miêu nhi bất tú, hữu hỉ phù? Tú nhi
bất thật, hữu hỉ phù: mạ đã xanh chưa kịp trổ đòng đòng, có điều đó sao?
Lúa đã trổ đòng đòng nhưng lại chưa kịp kết hạt, có vậy sao? Đó là những lời Đức
Không Tử khóc Nha Hồi, một người đệ tử tài hoa nhưng yểu mệnh.
Hoặc giả, sao nàng không như
cậu Đồng Ô, chồi non chưa kịp trổ thành mạ xanh? Dục nhi bất miêu giả ngô
gia chi Đồng Ô hồ? Cửu linh nhi dữ ngã huyền văn hồ?
Triêu Vân mất tháng 7. Tháng
10 năm đó, hoa mai nở rộ nơi đất Huệ châu, ông làm bài từ theo điệu Tây giang
nguyệt , như âm thầm hoài vọng Triêu Vân. Nàng tiên nữ từ cõi Bồng lai đến.
Bài từ đó vịnh hoa mai như
sau:
Tây giang nguyệt
Ngọc cốt na sầu chương vụ
Băng cơ tự hữu tiên phong
Hải tiên thời khiển thám
phương tòng
Đảo quải lục y yêu phượng
Tố diện thường hiềm phấn
uyển
Tẩy trang bất thốn tàn hồng
Cao tình dĩ trục hiểu vân
không
Bất dữ lê hoa đồng mộng
|
西江月
玉骨那愁瘴霧
冰肌自有仙風
海仙時遣芳叢
倒掛綠依幺鳳
素面常嫌粉
洗妝不褪殘紅
高情已逐曉雲空
不與梨花同夢
|
Trong đó có cả hoa và chim.
Hoa mai và chim lục y yêu phượng; loại chim mỏ đỏ, lông xanh, mỗi khi đậu thì
treo ngược trên cành. Chúng là sứ giả của thần tiên trên đảo Bồng lai, ngoài
khơi Đông hải.
Huệ châu ở mãi vùng cực nam
Trung hoa; đất Lĩnh nam nhiều chướng khi. Hơi núi và sa mù nườm nượp trong những
tháng lạnh. Mùa đó, từ tháng 10, hoa mai đã nở. Nhưng cốt cách của mai là tuyết
ngọc nên không ngại ngùng sa mù và chướng khí ở đó; và da trắng như bằng giá,
hoa mai đã sẵn cái phong vận thần tiên. Là hoa mai, và cũng có thể là Triêu
Vân, cái đó chưa cần vội vã. Thơ không ngụ ý, người đọc thơ khỏi cần đi tìm ngụ
ý của thơ.
Hoa mai đất Lĩnh nam nở nụ
màu hồng. Nụ hồng và lá xanh, có giống như những con lục y yêu phượng? Hoa và
chim, có thể là một, có thể là hai; tùy cảm hứng của người đọc.
Nhưng bấy giờ là mùa mà các
thần tiên ngoài hải đảo sai sứ giả đi tìm các cụm cây non trong đất liền; cho
nên trên cành thấy treo ngược những con lục y yêu phượng:
Ngọc cốt na sầu chương vụ
Băng cơ tự hữu tiên phong
Hải tiên thời khiển thám
phương tòng
Đảo quải lục y yêu phượng
Cả bốn câu của bài từ tuyệt
không một lời nào để ngụ một ẩn tình nào đó. Cái đó tạm thời hãy cứ cho nằm đó.
Bây giờ nên đọc chơi những bài thơ vịnh hoa mai của ông. ba bài thơ làm dưới
đình Tùng phong, mùa mai nở rộ, đề ngày 26 tháng 11 năm giáp tuất, ông 59 tuổi.
trước Triêu Vân mất ba năm.
Bài thứ nhất.
Xuân phong lĩnh thượng
Hoài nam thôn
Tích niên mai hoa tằng đoạn
hồn
Khởi tri lưu lạc phục
tương kiến
Man phong Đản vũ sầu hoàng
hôn
Trường điều bán lạc lệ chi
phố
Ngọa thọ độc tú quang lang
viên
Khởi duy u quang lưu dạ sắc
Trực khủng lãnh diễm bài
đông ôn
Tùng phong đình hạ kinh cức
lý
Lưỡng chu ngọc nhụy minh
triêu thôn
Hải nam tiên vân kiều đọa
thế
Nguyệt hạ cảo y lai khấu
môn
Tửu tỉnh mộng giác khởi
nhiễu thọ
Diệu ý hữu tại chung vô
ngôn
Tiên sinh độc ẩm vật thán
tức
Hạnh hữu lạc nguyệt khuy
thanh tôn
|
春風嶺上懷南村
昔年梅花曾斷魂
豈知流落復相見
蠻風雨愁黃黃昏
長條半落荔枝浦
臥樹獨 秀光榔園
豈惟幽光留夜色
直恐冷豔排冬溫
松風亭下荊棘裏
兩株玉蕊明朝暾
海南仙雲嬌墮砌
月下縞衣來扣門
酒醒夢覺起繞樹
妙意有在終無言
先生獨飲勿嘆息
幸有落月窺清樽
|
Thôn Hoài nam gió ngàn bạt đỉnh
Từng năm xưa hồn rụng mai
vàng
Rồi lưu lạc ai ngờ là ước hẹn
Gió Mường mưa Mọi phủ chiều
hoang
Phố lệ chi cành dài nghiêng
đổ nửa
Vườn quang lang cây tú lệ nằm
không
Còn ngại lắm bởi màu đêm ủ
rũ
Và lạnh lùng xua chút ấm tàn
đông
Đình Tùng phong với rừng gai
dưới đó
Hai nàng mai ngà ngọc đón hừng
đông
Tiên mấy Hải nam yêu kiều xuống
độ
Choàng áo the gõ cửa dưới
màn trăng
Rượu tỉnh mơ tàn vòng cây tản
bộ
Ý tình tuyệt diệu lời ẩn
toàn không
Tiên sinh độ ẩm đừng than thở
Một mảnh trăng rơi đáy rượu
nồng
Bài thứ hai
La phù sơn hạ mai hoa thôn
Ngọc tuyết vi cốt băng vi
hồn
Phân phân sơ nghi nguyệt
quải thọ
Cạnh cạnh độc dữ Sâm hoàng
hôn
Tiên sinh sách cư giang hải
thượng
Tiễu như bịnh hạc thê
hoang viên
Thiên hương quốc diễm khẳng
tương cố
Tri ngã tửu thục thi thanh
ôn
Bồng lai cung trung hoa điểu
sứ
Lục y đảo quải phù tang
thôn
Bảo tòng khuy ngã phương
túy ngọa
Cố khiển trác mộc tiên xao
môn
Ma cô quá quân cấp sái tảo
Điểu năng ca vũ hoa năng
ngôn
Tửu tỉnh nhân tán sơn tịch
tịch
Duy hữu lạc nguyệt khuy
không tôn
|
羅浮山下梅花村
玉雪為骨冰為魂
紛紛初疑月掛樹
耿 耿 獨 與 參 黃 昏
先 生 索 居 江 海 上
悄 如 病 鶴 栖 荒 園
千 香 國 豔 肯 相 顧
蓬 萊 宮 中 花 鳥 使
綠 衣 倒 掛 扶 桑 暾
抱 叢 窺 我 方 醉 臥
故 遣 啄 木 先 敲 門
麻 姑 過 君 及
洒 掃
鳥 能 歌 舞 花 能 言
酒 醒 人 散 山 寂 寂
惟 有 落 月 窺 空 樽
|
Dưới núi La phù mai hoa thôn
Tuyết ngọc là xương băng là
hồn
Phơi phới ngỡ chừng trăng
gác ngọn
Trơ vơ như sao Hôm hoàng hôn
Rầu như hạc ốm đậu vườn
hoang
Hương trời sắc nước không buồn
ngó
Biết ta rượu mùi thơ ấm
trong
Trong cung Bồng lai hoa chim
làm sứ
Áo xanh treo ngược cây dâu hừng
đông
Ôm cây liếc ta đang say nằm
đó
Mổ cây gõ cửa nhắn đợi sẵn
sàng
Tiên bà qua đây hãy lo quét
tước
Chim hay ca múa hoa biết nói
năng
Rượu tỉnh người tan non vắng
vẻ
Hững hờ nhị rụng đáy ly
không
Bài ba, không trích ở đây.
Trong các bài thơ đó, hoa
mai khi lộ liễu, khi e dè; khi bát ngát, khi đìu hiu. Kỳ thực, ở đây là cả một
cuộc đời, xa và rộng; một trời thơ mở rộng vô ngần. Nhưng hoa mai đã lên nguồn
cảm hứng; vì cốt cách tuyết ngọc, vì phong vận thần tiên. Gương mai không cần
tô điểm phấn son; cánh rã mà nụ hồng còn thắm. Tình nơi hoa mai bốc lên cao vút
tận trời, đẹp như những đám mây trong nắng sớm:
Tố diện thường hiềm phấn uyển
Tẩy trang bất thốn tàn hồng
Cao tình dĩ trục hiểu vân
không
Bất dữ lê hoa đồng mộng
Tình hoa mai tráng lệ và huy
hoàng là như thế. Mà chân tình một thuở của Triêu Vân cũng là như thế. Tình
không là cõi mộng; không là những cánh hoa lê nườm nượp như mây trời trong mộng.
Cuộc tình chưa rã, thì cuộc tình như giấc mộng đăm chiêu. Khi cuộc tình bỏ đi,
mộng sẽ bốc thành mây trời trong nắng sớm. Tình và mộng; đến và đi như chưa từng
có. Duyên và nợ; có như chưa từng đến và đi. Nợ ân tình trong một thuở, đem cái
tấm lòng đày đọa truân chuyên ra để đền bù. Duyên tình mộng của nghìn năm,
trong thoáng chốc, trong một cái búng tay, đã trở thành không không trong vĩnh
cửu:
Thương tâm nhất niệm thường
tiền trái
Đàn chỉ tam sinh đoạn hậu
duyên
Duyên nàng là duyên của Phật.
Nàng đến, để làm thiên nữ tán hoa, rải hoa trời lên cõi thơ lồng lộng. Trước
Triêu Vân mất một năm, lúc đó ông đã 60 tuổi, làm tặng nàng bài Từ theo điệu
“Nê nhân kiều”:
Bạch phát thương
nhan
Chính thị Duy Ma cảnh giới
Không phương trượng tán
hoa hà ngại
Chu thần trợ điểm
Cánh kế hoàn sinh thái
|
白 髮 蒼 顏
正 是 維 摩 境 界
空 方 丈 散 花 何 礙
朱 唇 箸 點
更 髻 還 生 彩
|
Da mồi tóc trắng, chính là cảnh
giới của Duy Ma. Cảnh giới đó là cõi đối biện thượng thừa; cõi im lặng vô ngôn
bát ngát của cư sĩ Duy Ma Cật. Và cũng là cõi tịch mặc nhưng tráng lệ của thi
ca. Căn nhà của Duy Ma Cật là khoảng rộng vuông vức một trượng; và là một
phương trượng trống trải, nhưng đã chứa cả ba nghìn tòa sư tử; khách từ ba
nghìn thế giới tụ lại để nghe một lời không nói của Duy Ma.
Và thiên nữ tại đó đã rải
hoa trời tán thưởng một lời không nói; cũng tán thưởng luôn những lời có nói.
Thiên nữ đó là Triêu Vân? và cõi của một lời không nói đó là cõi thơ của ông?
Chu thần trợ điểm
Một nụ son, nụ của hoa mai
bé bỏng
Kết trên quấn tóc trở thành
diễm lệ…
Tình nợ và tình thơ, giao
nhau trong cõi tình mộng của những lời, hay của một lời, không nói.
Rồi tình nợ theo xác người
trở về với cát bụi; tình thơ theo cõi mộng bốc cao:
Cao tình dĩ trục hiểu vân
không.
Nàng gửi thân cát bụi nghìn
đời dưới gốc thông; ban đêm, hồn sẽ theo ánh đèn lên diện kiến với tiên trong
cõi Phật:
Qui ngọa trúc căn vô viễn cận.
Dạ đăng cần lễ tháp trung
tiên
Nghìn năm sau, mùa xuân, rồi
mùa thu, và một cánh én liệng mùa xuân ngang qua con nước mùi thu, và
Chi thượng liễu miên xuy hựu
thiểu
Thiên nha hà xứ vô phương thảo
Bông liễu cứ triền miên
vương vấn như tơ trời, lại bắt đầu từ một cõi mộng đơn sơ; rồi lân la nay khóm
trúc mai chồi lan, nửa chiều tà nửa nắng quái, lần hồi từ phố chợ đến đồng quê,
từ ân tình đầm ấm của quê hương đến phương trời đọa đày viễn mộng, để đến một
cõi có hoa trời, có thiên nữ, và “dạ đăng cần lễ tháp trung tiên” để xin nghe một
lời trong tịch mặc vô ngôn. Sơn cùng lộ tuyệt, thơ của ông ở đây ư? Có thể ở
đó, hoặc ở chỗ
“Chết từ sơ ngộ màu hoa trên
ngàn”
(Bùi Giáng)
3.
Thập niên sinh tử lưỡng
mang mang
Bất tư lương,
Tự nan vong.
Thiên lý cô phần
Vô xứ ngoại thê lương
Túng sử tương phùng ưng bất
thức,
Trần mãn diện
Mãn như sương.
Dạ lai u mộng hốt hoàn
hương
Tiểu hiên song
Chánh sơ trang.
Tương cố vô ngôn
Duy hữu lệ thiên hàng.
Liệu đắc niên niên trường
đoạn xứ,
Minh nguyệt dạ
Đoản tùng cương.
|
十 年 生 死 兩 茫 茫
不 思 量
似 難 忘
千 里 孤 墳
無 處 話 悽 涼
縱 使 相 逢 應 不 識
塵 滿 面
鬢 如 霜
夜 來 幽 夢 忽 還 鄉
小 軒 雙
正 梳 妝
相 顧 無 言
唯 有 淚 千 行
料 得 年 年 腸 斷 處
明 月 夜
短 松 岡
|
Mười năm trôi đi, hai ngã sống
và chết chia đôi biền biệt.
Dù không nghĩ tới,
Mà cũng không sao quên được.
Nấm mồ đơn chiếc xa xôi,
Lạnh lẽo nói làm sao cho xiết;
Dù có gặp nhau rồi cũng chẳng
nhận ra nhau:
Gương mặt đầy cát bụi,
Tóc mai đã bạt trắng như
sương.
Đêm qua trong giấc mộng triền
miên, chợ thấy trở về quê cũ.
Đứng tựa cánh cửa sổ.
Lúc đó bà đang gỡ tóc
Nhìn nhau không nói,
Chỉ có nước mắt tuôn trào.
Tưởng chừng năm năm đứt ruột,
Mỗi lúc đêm trăng sáng,
Trên đồi thông bóng ngả
Trên đây là bài Từ làm theo
điệu "Giang thành tử". Ông có ghi chú nhỏ: "Năm ất mão (1074),
tháng giêng, ngày 20, ban đêm, ghi lại giấc mộng" Năm đó ông 40 tuổi, làm
quan ở Mật châu; vợ chánh thất của ông, Vương thị, Thông Nghĩa Quận quân, mất
đã đúng 10 năm:
Thập niên sinh tử lưỡng mang
mang
Bà đối với ông, tình duyên
và tình nợ thì có; mà tình thơ thì không. Nhưng, bà mất 10 năm, mà tình nhớ
nhung của ông vẫn còn cay đắng. Rồi tình đó phát hiện thành lời thơ, thì cũng
là tình thơ vậy.
Bảy năm sau đó, khi xuôi
dòng Trường giang, dạo chơi Xích bích, vẫn thấy còn phảng phất một mối ngậm
ngùi hoài vọng:
Cố quốc thần du
Đa tình ưng tiếu ngã
Tảo sinh hoa phát
|
故 國神遊
多情應笑我
早生花髮
|
Hồn thả về chơi cố quận
Bạn tình chung có lẽ cười ta
Chưa chi đầu đã bạc
Bạn tình chung, hay khách đa
tình nơi cố quận là vong hồn bà Vương thị.
Nước Trường giang ào ạt đổ
xuống: "Đại giang đông khứ", bài Từ đó là cả một phong độ kiêu hùng
nơi ông
Đại giang đông khứ
Lãng đào tận
Thiên cổ phong lưu nhân vật
........
Loạn thạch băng vân
Kinh đào liệt ngạn
Quyển khởi thiên đôi tuyết
Giang sơn như họa
Nhất thời đa thiểu anh
hùng
|
大 江 東 去
浪 濤 盡
千 古 風 流 人 物
...........
亂 石 崩 雲
驚 濤 洌 岸
捲 起 千 堆 雪
江 山 如 畫
一 時 多 少 英 雄
|
Giữa cái kiêu hùng đó còn có
vấn vương một sợi tơ trời. Thì đó cũng là một cõi mộng đơn sơ, trong con mắt
hùng thị tất cả anh hùng vạn đại.
4.
Những tháng cuối năm canh
thân (1080), ông ngồi tù trong ngục Ngự sử. Miệng ông nó đày đọa thân ông. Ngồi
tù trên ba tháng, được thả ra; bị cách chức, cho làm Hoàng châu Đoàn luyện phó
sứ; đời Tống, đó là một chức hờ. Rồi bị an trí, tức là bị đày, ở Hoàng châu. Vừa
đến Hoàng châu, ông làm bài thơ tự trách:
自 笑 平 生 為 口 忙
老 來 事 業 轉 荒 唐
Tự tiêu bình sinh vị khẩu
mang
Lão lai sự nghiệp chuyển
hoang đường
Bình sinh vì cái miệng mà
mang họa; càng về già, sự nghiệp càng trở nên hoang đường.
Ông bị đày ở Hoàng châu từ đầu
năm ông vừa 45 tuổi cho đến hết năm 49 tuổi. Trong 5 năm trời đó, Hoàng châu
không khổ đày đọa như ở Huệ châu và Đam nhĩ (tức Hải nam) sau này. Nhưng cái cảnh
làm ruộng của ông cũng qua nhiều khổ nhọc. Ông tự bảo, bình sinh đi kiếm ăn bằng
cái nghiên mẻ; hận là đã không học nghề làm ruộng. Cũng trong thời gian đó, thơ
ông lại phiêu bồng bát ngát.
Khi vừa đến Hoàng châu, ông
ngụ cư tại chùa Định huệ trong một thời gian ngắn, chưa đầy một năm, thì dời
sang Lâm cao đình. Lúc ngụ tại chùa Định huệ, ông có bài thơ vịnh Hải đường, giữa
các thứ hoa rừng dại thô tục. Bài thơ đó quả tình là một cảm hứng trác việt (đọc
ở phần Những
phương trời lữ thứ). Cũng trong thời gian đó, ông làm bài Từ được trích ở
dưới đây, mà người ta đã bàn bạc phân vân về ngụ ý của ông. Bài Từ làm theo điệu
"Bốc toán tử". Đầu bài Từ, có ghi chú nhỏ của ông: "Làm khi ngụ
cư tại chùa Định huệ ở Hoàng châu". Bài Từ đó như sau:
Khuyết nguyệt quải sơ đồng,
Lậu đoạn nhân sơ tỉnh
Thùy kiến u nhân độc vãng
lai,
Phiêu diễn cô hồng ảnh
Kinh khởi khước hồi đầu
Hữu hận vô nhân tĩnh
Giản tận hàn chi bất khẳng
thê
Tịch mịch sa châu lãnh
|
缺 月 掛 疏 桐
漏 斷 人 初 靜
誰 見 幽 人 獨 往 來
飄 渺 孤 鴻 影
驚 起 卻 回 頭
有 恨 無 人 省
簡 盡 寒 枝 不 肯 栖
寂 寞 沙 洲 冷
|
Trăng sơ huyền treo trên ngọn
ngô đồng thưa lá.
Trời khuya, người bắt đầu
thưa vắng, chỉ nghe tiếng tí tách của đồng hồ
canh chừng giờ đêm
Chỉ thấy ẩn sĩ một mình đi
lui đi tới
Thấp thoáng như bóng chim hồng
lẻ loi
Giật mình quay đầu nhìn lại
Ngậm ngùi giữa lúc mọi người
đang say ngủ
Lần lựa hết những cành cây
trơ trọi, mà không chịu đậu,
Một mình bơ vơ trên cồn cát.
Dịch dài dòng luộm thuộm như
thế, để tìm thử có ngụ ý hay thác ý gì không. Bài Từ hoàn toàn vịnh con chim hồng.
Cánh chim hồng lẻ loi, lang bạt. Từ cành này đến cành cây khác, mà không bao giờ
chịu đậu lại. Xưa nay, chim hồng có lúc nào lại chịu đậu trên cành cây? Nó đứng
trơ vơ trên cồn cát:
Giản tận hàn chi bất khẳng
thê
Tịch mịch sa châu tĩnh
Nhưng câu chuyện xung quanh
bài Từ đã kể khác.
Tại Hoàng châu, có người con
gái của bà Vương thị. Nàng tên là Siêu Siêu, cũng khá có nhan sắc, 16 tuổi mà
không chịu lấy chồng. Đông Pha bị biếm trích ra ở Hoàng châu. Biết tin ông đến,
nàng mừng lắm. Ông ngụ tại chùa Định huệ. Đêm đêm nàng lén đến núp ngoài cửa sổ,
bồi hồi nghe ông ngâm thơ. Ông thường chong đèn đêm, đi qua đi lại ngâm thơ một
mình. Khi ông hay có người rình nghe ngoài cửa sổ, ông đẩy cửa sổ ra, nàng trèo
tường bỏ chạy. Ông đuổi theo, bảo: Sẽ gọi Vương lang đến làm sui gia.
Thế thì, lời trong thơ là
thác ý cho nàng Siêu Siêu. Nhưng bóng con chim hồng trong đó vẫn là bóng của
ông:
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
Đó thực là cõi phiêu bồng của
phương trời viễn mộng. tình thơ nồng đượm, nhưng tình duyên hay tình nợ thì
không không.
LÔ
SƠN CHÂN DIỆN MỤC
Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn
Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo
về
(T.S.)
1.
Lô sơn là một danh thắng kỳ
tuyệt. Núi non hùng vĩ, cảnh trí u trầm, mây trắng và sương mù quanh năm bao phủ,
từ bao nhiêu đời, nơi đó ẩn tích những cao nhân đắc đạo. Tìm đến đó, để nhìn thẳng
vào chân diện mục của Lô sơn, là đã quyết tâm đoạn tuyệt với những vương vấn,
buông lơi và thắt chặt, từ mấy vạn đời trước. Thấy chỗ đó, là thấy Tâm Thiền.
Nhưng Tâm Thiền thì tịch mặc không nói. Một khi đưa lưỡi dao lên cắt đứt mớ
tóc, đoạn tuyệt hồng trần, thì cõi thơ sẽ mất một ngọn sao trời rọi sáng, cho
khách tục tử đang còn cặm cụi làm thơ. Nhà thơ phát tâm đại nguyện thượng thừa
vác lên vai vô số khổ lụy đoạn trường. Đại nguyện đó sẽ làm sáng lên cái chân
lý Dị và Đồng. Dị biệt và Đồng nhất là những con đường chia rẽ phân đôi; nhưng
đạt tới công án hiểm hóc của tử sinh, thì đã xóa tan chân lý Dị Đồng. Đó là chỗ
ta và người, tình và cảnh, đều trở thành tịch mặc Không Không. Từ đó, nhà Thơ hẹn
với nhà Thiền, mở ra cánh cửa bắc, cất đầu nhìn lên 36 ngọn núi xanh kia.
Những lời dài dòng lôi thôi
trên đây quảng diễn từ những câu thơ này của ông:
Vị văn Lô nhạc đa chân ẩn
Cố tựu cao nhân đoạn túc phan Dĩ hỉ thiền tâm vô biệt ngữ Thương hiềm thế phát hữu thi ban Dị đồng mạc vấn nghi Tam ngữ Vật ngã chung đương phó Bát hoàn Đáo hậu dữ quân khai bắc hộ. Cử đầu tam thập lục thanh sơn |
為聞盧嶽多真隱
故 就 高人 斷 宿 攀
已喜禪無別語心
尚嫌沏髮有詩班
異同莫問疑三語
物我終當赴八還
到後與君開北戶
櫸頭三十六青山
|
(Nghe nói trên Lô sơn có nhiều
bậc chân ẩn. Vì vậy, tôi tìm đến cao nhân để xin cắt đứt những vấn nhiều đời
nhiều kiếp. Tôi đã vui với cái lẽ rằng Tâm Thiền thì không có ngôn ngữ gì khác
biệt với ngôn ngữ thường tình. Nhưng còn ngại rằng khi đã cạo tóc mà tình thơ vẫn
còn. Thôi thì, thiền đạo và thi ca là đồng hay là khác, cũng chớ nên nghi ngờ
mà tra hỏi. Hãy quên đi những sự phân biệt Ta và Người. Cuối cùng, tôi với anh
mở cánh cửa bắc, ngẩng đầu nhìn lên ba mươi sáu ngọn núi xanh.)
Nói như vậy, bằng lời lẽ như
vậy; người ta gọi là bộc bạch, là thổ lộ tâm tình. Ở đây cứ tạm nói chắc là
tình thơ và tình đạo, một cuộc giao tình để xẻ chiếc chiếu làm hai. Còn ẩn tình
nào sau đó, nó đã ẩn thì vĩnh viễn là nó ẩn, không thể cưỡng bức để kéo nó ra.
Chỉ thẳng không quanh co,
gãy gọn và khúc chiết, bài thơ có chương pháp như một bản tường trình. Những
người đang ruổi ngựa chạy như bay, đang đi giữa phố chợ ồn ào, vừa nghe một lần
là hiểu; và có thể diễn lại tràng giang đại hải, như một bài thuyết trình của một
nhà thạc học đúc kết mười năm trời nghiên cứu sách vở. Nhà thơ bất chợt đến
nghe, ôm bụng cười. Ông sẽ về Hàn lâm viện thảo chiếu đề nghị và quyết định bổ
nhiệm, rồi sau đó, trở lại Lô sơn, đẩy cánh cửa bắc, nhìn ra 36 ngọn thanh sơn.
Nhưng khi trở lại Hàn lâm viện, ông sẽ chứng kiến một cảnh tượng hãi hùng: tên
người được bổ nhiệm là Ông. Thì người bộc bạch là nhà thơ, người đi quảng diễn
là nhà thơ; nhà thơ và nhà thơ, bóng dáng nhà thơ trùng trùng điệp điệp, ẩn hiện
giữa mây trắng và sương mù như đỉnh núi Lô sơn. Vậy, đâu là chân diện mục của
Lô sơn?
Cái đó có thể là đề tài cho
Trang Tử và Huệ Thi bàn cãi về lẽ Đồng và Dị: "anh và con cá lội dưới ao
là Đồng hay Dị?" Họ bàn cãi nhau, từ thế hệ này đến thế hệ khác. Ông lại đứng
ra làm trọng tài; làm một đại quan của triều đình chứ không là một nhà thơ, vì
lời lẽ khúc chiết:
Mạc tương đồng dị giảo tri
thù . . . .
Nhược tín vạn thù qui nhất bản
Ngã kim tri nhữ nhữ tri ngư
Ông bảo họ đừng cãi nhau, chớ
so đo về lẽ Dị Đồng nữa. Vạn thù qui nhất bản, muôn vàn sai biệt cùng quy về một
gốc, cho nên, ông này biết ông kia, ông kia biết cá. Nếu Huệ Thi mà có thể hiểu
được Trang Tử, thì Trang Tử cũng có thể hiểu được rằng đàn cá đang lội nhởn nhơ
kia là đang vui đấy.
Nhưng kỳ cùng, ai dám bảo đó
không là thơ? Đó cũng là một công án hiểm hóc (của thiền sư Vô Trước trên Ngũ
đài sơn): Tiền tam tam hậu diệc tam tam, trước ba ba sau cũng ba ba,
là gì?
Nói trắng ra, người ta muốn
hỏi, chỗ sơn cùng lộ tuyệt nơi thơ của Ông là gì? Hay nói gọn lại, thơ Đông Pha
nói gì trong đó? Ông nói những tình cố quận, sầu tha hương, những mùa thu tóc
trắng, những thanh xuân và mộng tưởng; Ông nói những thứ vân vân đó ư? Thì quả
nhiên, thơ Ông chỉ nói vân vân như vậy. Nhưng khi nghe ra những khổ lụy kỳ cùng
trong đó, người ta tự hỏi, đồng vọng của một phương trời đọa đày viễn mộng nào
đây? Đọa đày tức viễn mộng; viễn mộng tức đọa đày. Cái đó nó phơi trần lộ liễu,
nên một người thô lỗ vội vàng cũng có thể nhận ra. Sau lớp mây trắng và sương
mù, là Lô sơn, ai lại không biết. Đã biết là như vậy; còn chân diện mục của Lô
sơn thì sao?
2.
Trong những ngày tháng bị
đày ải ở Hoàng châu; ngày thiếu cơm, chiều thiếu gạo; (ông làm ruộng), trời nắng
ruộng khô, lúa mọc không nổi; (ông kêu trời), trời mưa thì xối xả, nhà dột như
mảng bè trôi. Ông làm một bài thơ dài gởi cho bạn. Mấy câu đầu như sau:
Đông Pha tiên sinh vô nhất
tiền
Thập niên gia hỏa thiêu phàm duyên Hoàng kim khả thành hà khả tắc Chỉ hữu sương bính vô do huyền Long Khâu cư sĩ diệc khả liên Đàm Không thuyết Hữu dạ bất miên Hốt văn sư tử Hà đông hống Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên
. . . . .
|
東坡先生無一錢
十年家火燒凡緣
黃金可成河可塞
龍丘居士亦可憐
談空說有夜不眠
忽聞 獅子河東吼
拄杖落手心忙然
|
Đông Pha tiên sinh không một
tiền
Mười năm đèn lửa xin hai bên.
Hoàng kim làm được, sông lấp được;
Chỉ có tóc sương không chịu đen.
Long Khâu cư sĩ cũng vô duyên.
Bàn Không bàn Hữu thức suốt đêm.
Bỗng nghe sư tử Hà đông rống;
Hốt hoảng tâm thần rơi gậy thiền.
Mười năm đèn lửa xin hai bên.
Hoàng kim làm được, sông lấp được;
Chỉ có tóc sương không chịu đen.
Long Khâu cư sĩ cũng vô duyên.
Bàn Không bàn Hữu thức suốt đêm.
Bỗng nghe sư tử Hà đông rống;
Hốt hoảng tâm thần rơi gậy thiền.
Bài thơ làm gởi tặng Trần
Quí Thường. Có lẽ trong số những người bạn, Thường là người được ông mến chuộng
và kính phục nhất, về cốt cách cũng như về đời sống.
Trần Tháo tự Quí Thường, hiệu
Long Khâu cư sĩ; cũng được gọi là Phương Sơn Tử. Đọc bản tiểu sử của Quí Thường
do ông viết cũng có thể thấy sự mến phục của ông như thế nào. Bản tiểu sử được
viết:
"Phương Sơn Tử, người ẩn
cư trong khoảng Quang Hoàng. Thiếu thời, hâm mộ Chu Gia và Quách Giải. Bọn hào
hiệp trong làng xóm đều qui phụ theo. Hơi lớn, biết chiều lụy người, và đọc
sách; muốn lấy việc đó mà chen chân với đời. Nhưng rồi không gặp thời. Đến tuổi
xế, về ẩn lánh trong khoảng Quang Hoàng, nơi chỗ gọi là Kỳ đình. Ở nhà tranh,
ăn rau trái, không giao thiệp với người đời. Bỏ xe ngựa, vứt áo mão, đi bộ.
(.....)
"Tôi bị biếm trích ở
Hoàng châu, qua Kỳ đình, thì thấy. Mới kêu: ‘Hỡi ôi! Đó là cố nhân của tôi, Trần
Tháo Quí Thường đó. Sao lại ở đây?’ Phương Sơn Tử cũng kinh ngạc, hỏi tôi tại
sao đến đây. Tôi nói duyên cớ. Ông cúi đầu không đáp; rồi ngửa lên trời mà cười.
Gọi tôi ngủ lại nhà. Tường vách xơ xác, nhưng vợ con trông chừng có vẻ thỏa ý.
Tôi giật mình lấy làm kinh ngạc.
"Tự nghĩ, Phương Sơn Tử
khi thiếu thời, ưa rượu và thích kiếm, xài tiền như đất cát (....)
"Tôi nghe nói trong khoảng
Quang Hoàng có nhiều dị nhân, thường thường giả bộ ngây dại, dơ bẩn, khó gặp được.
Phương Sơn Tử cũng trong hạng đó ư?"
Trong cái được mến phục đã ẩn
hiện một phần cốt cách và cuộc đời của mình. Phần đó nằm ngoài ven trời viễn mộng.
Đông Pha tiên sinh và Long
Khâu cư sĩ, mỗi người ở mỗi ven trời, cùng nhìn nhau qua một cõi mộng, và cũng
mang những khổ lụy hình hài như nhau. Khổ lụy của hình hài, mà lại khôi hài.
Đông Pha tiên sinh có tài làm ra vàng, có thể lấp được sông, nhưng không thể
làm cho tóc của mình đừng bạc trắng. Long Khâu cư sĩ say sưa đạo lý thượng thừa,
nhưng không giữ nổi cây gậy của đạo đó trong tay, khi nghe tiếng sư tử Hà Đông
rống:
Hốt văn sư tử Hà Đông hống
Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên
Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên
Tâm mang nhiên, tâm sững sờ
ngơ ngác, là lúc sắp tỏ ngộ, sắp hoát nhiên đại ngộ. Thế thì, là chuyện đùa hay
chuyện thật, mà chân tướng của nó, của cõi mộng đó, ra sao? Chân diện mục của
Lô Sơn không dễ gì khám phá.
Bất thức Lô sơn chân diện mục
Chỉ duyên thân tại thử sơn trung
Chỉ duyên thân tại thử sơn trung
(Không biết được chân diện mục
của Lô sơn, tại vì mình đang ở trong đó, hay tại vì mình không ở trong đó?)
3.
Từ thượng cổ, Lô sơn đã quyến
rũ những người tiêu dao thế ngoại. Tương truyền, trong buổi giao thời giữa nhà
Thương và nhà Chu, trên một nghìn năm trước Tây lịch, có người tên Khuông Tục,
trốn đời, hay lánh đời, đến ẩn dưới núi, lập nhà tranh (lô) ở đó, và sau đắc đạo
tiên. Vì vậy, núi được gọi là Lô sơn, hoặc Khuông sơn.
![]() |
Đời Tam quốc, có đạo gia Đổng
Phụng chân nhân đến tu tiên và luyện đan tại đây. Bấy giờ Thái thú Giao chỉ là
Sĩ Nhiếp mất đã ba ngày; tiên ông cho một hoàn thuốc, cạy răng đổ vào miệng, đổ
nước vào, rồi nâng đầu lên cho thuốc chạy xuống cổ. Trong khoảng bữa cơm, nhan
sắc tươi lại như thường. Một nửa ngày, đứng dậy, đi lại được. Bốn ngày sau, nói
năng như bình thường. Đến đời Đường, có Từ Tri Chương làm bài ký cho miếu thờ của
Chân nhân. Đến thời Đông Pha, người ta vẫn còn đọc được bài ký đó.
Thời Đông Tấn, tăng Tuệ Viễn
cất am tu ở đó, nơi sườn núi bắc; phía dưới có khe Hổ khê, nơi Tuệ Viễn dừng
chân mỗi khi tiễn khách; và trọn đời thề không bước qua khe đó. Sư cùng mười
tám người bạn cùng ẩn cư tại chùa Đông lâm, đời sau kính trọng, gọi họ là
"Đông lâm thập bát hiền".
Trải qua nhiều đời, Lô sơn
càng quyến rũ, từ đạo gia, tăng lữ, công khanh, văn sĩ, thi sĩ, vân vân. Từ Tấn
cho đến Đường, Tống, đã có rất nhiều bài thơ lưu đề rất nổi tiếng, từ Tạ Linh Vận,
Bảo Chiêu cho đến Mạnh Hạo Nhiên, Lý Bạch, Hàn Dũ, Bạch Cư Dị, vân vân….
Ơû đây, xin trích một ít bài
để thưởng thức cảnh trí Lô sơn.
Thơ của Mạnh Hạo Nhiên, buổi
chiều thuyền đổ bến Tầm dương, vọng về Lô sơn:
Quải tịch kỷ thiên lý
Danh sơn đô vị phùng Bạc châu Tầm dương quách Thủy kiến Hương lô phong Thường độc Viễn Công truyện Vĩnh hoài trần ngoại tung Đông lâm tinh xá cận Nhật mộ đản văn chung |
挂席幾千里
名山都未逢
泊舟尋暘郭
始見香盧夆
嘗讀遠公傳
永懷塵外蹤
東林精舍近
日暮但聞鐘
|
Lang thang mấy vạn dặm;
Lô sơn vẫn tít mù.
Bến Tầm dương thuyền đỗ,
Chợt thấy đỉnh Hương lô.
Từng đọc truyện Tuệ Viễn;
Hoài mộ gót phiêu du.
Chùa Đông lâm gần đó;
Sớm tối nghe chuông đưa.
Lô sơn vẫn tít mù.
Bến Tầm dương thuyền đỗ,
Chợt thấy đỉnh Hương lô.
Từng đọc truyện Tuệ Viễn;
Hoài mộ gót phiêu du.
Chùa Đông lâm gần đó;
Sớm tối nghe chuông đưa.
Từ bến Tầm dương, nhìn lên
thấy một ngọn trong dãy Lô sơn, mây vần vũ như khói bốc từ lò hương, ngọn núi
đó gọi là Hương lô phong.
Lý Bạch có đến sáu bài thơ về
Lô sơn. Bài được truyền tụng rất nhiều là "Lô sơn dao", bài ca từ Lô
sơn: "Ta vốn là người cuồng nước Sở, cuồng ca cười Không Khâu. Tay cầm gậy
lục ngọc, sớm từ Hoàng hạc lâu… đi tìm khắp các núi non, vân vân…" Bài thơ
đó dài quá, không tiện trích ra ở đây.
Dãy Lô sơn núi non trùng
trùng, mây bay điệp điệp. Sông hồ in bóng Lô sơn như từng chấm nốt ruồi xanh
xanh trên mặt nước trong xanh kiều diễm. Những thác nước từ chóp đỉnh cao tuyệt
mù đổ xuống, như giải Ngân hà treo chênh vênh bên cầu Tam thạch. Từ giã sư tăng
chùa Đông lâm, Lý Bạch lưu đề bài thơ:
Đông lâm tống khách xứ
Nguyệt xuất bạch viên đề Tiếu biệt Lô sơn Viễn Hà phiền quá Hổ khê |
東林送客處
月出白猿啼
笑別 盧山遠
何煩過虎溪
|
Đường Đông lâm tiễn
khách
Vượn trắng gọi trăng ngàn
Chào Lô sơn ở lại
Lô sơn ba mặt là nước, một mặt
đất liền. Trước mặt, phía nam, là sông Trường giang đổ vào khúc Cửu giang. Phía
tây là bến Tầm dương, phía đông là bến Bành lãi. Núi có bảy ngọn lớn chập
chùng, chân núi chiếm một khoảng rộng chừng năm trăm dặm. Cảnh trí hùng vĩ được
ông ghi lại trong hai bài thơ, vịnh hai nơi: đình Thấu ngọc chùa Khai tiên và cầu
Tam giáp chùa Thê hiền. Đại khái như sau:
Đình Thấu ngọc, nói theo
nghĩa đen của nó là đình "đánh răng". Thác nước từ đỉnh cao chót vót
đổ xuống, mà Lý Bạch nói là trông giống như giải Ngân hà đổ xuống; thác đổ đến
phía đông chùa Khai tiên, chảy thành dòng suối; hai bên đá nhấp nhô như những
hàng răng ngọc, có lẽ vì thế mà gọi là Thấu ngọc đình:
Cao nham hạ xích nhật
Thâm cốc lai bi phong Phách khai thanh ngọc giáp Phi xuất lưỡng thanh long Loạn mạt tán như sương Tuyệt đàm dao thanh không Dư lưu hoạt vô thanh Khoái tả song thạch hồng vân vân… |
高嵒下赤日
深谷來悲風
擘開青玉峽
飛出兩白龍
亂沫散如霜
餘流滑無聲
快瀉雙石洪
|
Sườn cao tuôn nắng đỏ
Hang sâu động gió rầu
Chẻ đôi mõm thanh ngọc
Hai rồng bạc đổ ào
Bọt nước bay sương trắng
Đầm tuyết rung trời cao
Dòng suối tuôn lặng lẽ
Chảy xiết qua hang sâu….
Hang sâu động gió rầu
Chẻ đôi mõm thanh ngọc
Hai rồng bạc đổ ào
Bọt nước bay sương trắng
Đầm tuyết rung trời cao
Dòng suối tuôn lặng lẽ
Chảy xiết qua hang sâu….
Rồi đến cầu Tam giáp, phía
đông chùa Thê hiền. Những tảng đá qua hàng vạn năm thi đua kêu gào với những
dòng nước vỗ ầm như sấm sét. Cầu bắc ngang qua một khe nước sâu hun hút không
thấy đáy. Sóng cuốn những con cá trôi nổi bập bềnh; tiếng sóng kinh hoàng cho đến
vượn khỉ leo lên cây cũng rụng rời rớt xuống đất. Hơi lạnh thấm vào sương tủy của
núi. Cỏ và cây cứng, và gầy. Giữa lớp mây mù kéo qua các hốc trống, khua lên những
âm thanh như tiếng nhạc tấu lên từ những tiếng kim tiếng thạch. Chiếc cầu uốn
cong treo lơ lửng trên suối như mảnh trăng vòng cung…
Núi non bên trong rầm rộ với
những tiếng reo hò, gào thét như thác nước, của gió ào ạt và mây vần vũ. Nhưng ở
ngoài xa, chỉ thấy chập chùng một dãy núi, ẩn hiện mơ hồ giữa đám mây trắng và
sương mù. Thế thì, đâu là chân diện mục của Lô sơn?
4.
Trong thời kỳ bị biếm trích ở
Hoàng châu, ông mới có dịp lên dạo Lô sơn. Ông nói, khi mới đến Lô sơn, thấy cảnh
núi non thanh kỳ tú lệ, quả là điều mơ ước được thấy từ trước. Tăng và tục
trong núi thấy ông, ai cũng nói: "Tô Tử Chiêm đến rồi đó".
Ông tự cho là mình có duyên
rất đậm đà với Lô sơn. Trước ngày ông đến, ngài viện chủ Viên thông thiền viện
đã được báo mộng; cho đến chiều hôm sau thì ông lên. Sư nói: "Hôm qua nằm
mộng thấy bửu cái bay xuống, chỗ đó liền có lửa cháy sáng lên. Há không là điềm
báo tốt đẹp cho ngày hôm nay sao? " Ông cảm động, làm tặng ngài viện chủ một
bài thơ thất luật, có hai câu 5 và 6 như sau:
Tụ lý bửu thơ do vị xuất
Mộng trung phi cái dĩ tiên truyền |
袖裡蓍寶由未出
夢中飛蓋已先傳
|
Bửu thơ trong tay áo chưa
lôi ra, mà bửu cái từ trời đã bay xuống báo mộng trước.
Ông ghé lại đề thơ nơi sơn
phòng của Lý Thường, tại Bạch thạch tăng xá. Lý Thường, tự Công Trạch, vốn là bạn
của ông. Thường trước khi ra làm quan, đọc sách tại đây. sách vở chất chứa hàng
vạn quyển. Sau khi Thường ra làm quan, chỗ đó được dọn thành thư viện, lấy tên
là "Lý thị sơn phòng". Ông có viết bài ký cho sơn phòng này. Ông lưu
đề tại đây một bài thơ tứ tuyệt:
Ngẫu tầm lưu thủy thượng
thôi ngôi
Ngũ lão thương nhan nhất tiếu khai Nhược kiến Trích tiên phiền ký ngữ Khuông sơn đầu bạch tảo qui lai |
偶尋流水上崔嵬
五老蒼顏一笑開
若見謫仙煩記語
匡山頭白早歸來
|
Ông nói, ngẫu hứng lần theo
dòng suối mà lên đến chỗ cao chót vót đó. Ngọn Ngũ lão, như năm ông lão da mồi,
cùng nở nụ cười chào đón. Nếu có gặp Trích tiên Lý Bạch, nhớ nhắn hộ là bao giờ
đầu tóc bạc trắng hãy trở về Khuông sơn, tức Lô sơn. Ông nhắc đến Lý Bạch, có lẽ
gợi hứng từ bài thơ "Trông về ngọn Ngũ lão trên Lô sơn" của Lý Bạch với
lời hẹn trong hai câu thơ:
Cửu giang tú sắc khả lãm kết
Ngô tương thử địa tỏa vân tùng |
九江秀色可攬結
吾將此地鎖篔松
|
Lô sơn với dòng Cửu giang
thanh kỳ tú lệ, sẽ chọn nơi này để khóa cửa tùng cao vút tận mây.
Đến chùa Đông lâm, ông đề một
bài tứ tuyệt lên vách, và kể từ đó, Lô sơn trở thành một ẩn ngữ kỳ lạ cho thi
ca:
Hoành khan thành lãnh trắc
thành phong
Viễn cận cao đê các bất đồng Bất thức Lô sơn chân diện mục Chỉ duyên thân tại thử sơn trung |
橫看成嶺惻成峰
遠近膏低各不同
不識盧山真面目
只緣身在此山中
|
Lô sơn, được nhìn ngang, nó
như một dải núi dài; nhìn nghiêng, lại thấy nó là một ngọn núi cao. Nhìn thấy gần,
hay xa, thấy núi cao hay núi thấp. Lô sơn ẩn hiện thiên hình vạn trạng. Vậy
thì, chân diện mục của Lô sơn làm sao mà biết cho nổi? Cứ vào trong núi thì biết.
Một bài thơ khác, được truyền
tụng thịnh hành trong giới Thiền tông, nói là của ông. Nhưng không rõ ông làm
lúc nào. Trong các tập thi văn của ông, không thấy có. Bài thơ nói khá tinh tế
về đạo Thiền, cũng khó biết rõ chân diện mục như Lô sơn.
Lô sơn yên tỏa Triết giang
triều
Vị đáo sinh bình hận bất tiêu Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự Lô sơn yên tỏa Triết giang triều |
盧山湮鎖浙江潮
未到生平 恨不逍
到得還來無別事
盧山湮鎖浙江潮
|
Bài dịch thơ bằng tiếng Việt
hay nhất (không nhớ dịch giả):
Mù tỏa Lô sơn sóng Triết
giang.
Khi chưa đến đó hận muôn vàn.
Đến rồi về lại không gì lạ.
Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang.
Khi chưa đến đó hận muôn vàn.
Đến rồi về lại không gì lạ.
Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang.
"Dòng thiền Huệ Năng, đời
thứ 14, pháp tự của Đông Lâm Chiếu Giác Thường Tổng thiền sư: Nội hàn Tô Thức
cư sĩ.
"Nội hàn, Đông Pha cư
sĩ, Tô Thức, tự Tử Chiêm. Nhân ngủ đêm tại chùa Đông lâm (trên Lô sơn), cùng với
Chiếu Giác luận về đề tài "vô tình", rồi tỉnh ngộ. Sáng ra, làm bài kệ
trình sư:
Khe thanh tiện thị quảng
trường thiệt
Sơn sắc khởi phi thanh tịnh thân Dạ lai bát vạn tứ thiên kệ Tha nhật như hà cử tợ nhân |
溪聲便是廣長舌
山色豈非清淨身
夜來八萬四千偈
他日如何舉似人
|
Suối reo vẫn Pháp âm bất tuyệt
Màu non kia Chân thể Như lai
Đêm đó tám vạn bốn nghìn kệ
Ngày sau nói lại làm sao đây?
Màu non kia Chân thể Như lai
Đêm đó tám vạn bốn nghìn kệ
Ngày sau nói lại làm sao đây?
"Ít lâu sau, đến Kinh
nam. Nghe đồn thiền sư Ngọc Tuyền Thừa Hạo, biện luận sắc bén đụng không nổi.
Ông mới thay đổi y phục, trá hình tìm đến xin ra mắt. Hạo hỏi:
" - Tánh danh của tôn
quan?
"Ông đáp:
" - Tôi tên Cân; tức là
Cân hết thảy các cái Cân trưởng lão trong thiên hạ.
"Hạo hét lên một tiếng,
rồi hỏi:
" - Nặng bao nhiêu?
"Ông không đáp được. Rồi
từ đó khâm phục.
Về sau, qua Kim sơn; ở đó có
bức chân dung của ông. Ông đề giỡn vào đó:
Tâm tợ dĩ hôi chi mộc
Thân như bất hệ chi châu Vấn nhữ bình sinh hà nghiệp Hoàng châu Quỳnh châu Huệ châu |
心似已灰之木
身如不繫之舟
問汝平生何業
黃州惠州瓊州
|
Tâm như thanh củi tro tàn
Thân như thuyền lỏng theo
ngàn nước trôi
Hỏi ông công nghiệp một đời
Hoàng châu, Quỳnh, Huệ, những
ngày những năm.…"
Hoàng châu, Quỳnh châu, Huệ
châu, vân vân châu; những đoạn đường đày ải; những ngày tháng đoạn trường. Cuộc
đời ông như một con thuyền buông lỏng, thả trôi cho nước cuốn. Nhưng cuộc thơ của
ông thì sao: khổ lụy? Phiêu bồng? Đọa đày? Viễn mộng? Đâu là chân tướng, chân
thể, chân tâm? Chân diện mục của Lô sơn, không phải là dễ thấy.
Ông bị biếm trích ở Hoàng
châu, rồi sau qua Thường châu; 51 tuổi, được ân xá, chiếu hồi về triều. Cuộc đời
ông bây giờ sẽ bắt đầu một đoạn đường danh vọng gần mức tột cùng. Sau năm năm
trường đày ải, trên đường trở về triều, ngang qua Tiền đường, ông gặp Dương Kiệt.
Dương Kiệt, tự Thứ Công, hiệu Vô Vi cư sĩ, bấy giờ đang làm quan ở bộ Lễ, Kiệt
vâng mạng triều đình hộ tống vương tử Triều tiên, đạo hiệu Nghĩa Thiên tăng thống,
đi du lãm các danh thắng vùng đất Giang nam. Ông làm bài tiễn Dương Kiệt và tự
viết lời dẫn cho bài thơ:
"Vô Vi cư sĩ đã có lần
phụng sứ lên Thái sơn tuyệt đỉnh, được thấy mặt trời lúc gà bắt gáy nửa đêm. Lại
đã có lần hữu sự ngang qua Hoa sơn, ngày trùng cửu (ngày lễ hoa cúc, mồng 9-9),
uống rượu trên ngọn Liên hoa phong. Nay ông lại phụng chiếu cùng Tăng thống Cao
ly sang chơi Tiền đường. Tất cả đều là do vương sự mà lại được cái vui thế ngoại.
Quả là kỳ diệu, chưa từng có."
Lời dẫn hé cho thấy một góc
trời trong cõi thi ca của ông; một góc cạnh nào đó của Lô sơn chân diện mục. Cuộc
chơi trong cõi mộng của thi ca còn có phong độ phiêu bồng của những cuộc giao
tình phương ngoại; cuộc giao tình với ngoài kia những phương trời diệu vợi. Lô
sơn hùng vĩ, phiêu bồng, nhưng u ẩn. Lòng núi dấu kín những tâm sự nghìn năm
không nói; lòng núi ủ kín những cuộc đời trầm mặc; những thân thể khô gầy như hạc
như trúc, những tâm hồn nguội lạnh như tro tàn mùa đông. Núi âm thầm, cho gió
ngàn gào thét, cho mây trời vần vũ, và những dòng thác từ trên tuyệt đỉnh cao
mù đổ ào xuống. Lô sơn đồng vọng một cõi thi ca bát ngát. Cõi thi ca trùng
trùng điệp điệp những ẩn ngữ kỳ diệu. Khách phàm trần bươn bả, thuyền đỗ bến
Bành lãi hay Tầm Dương, chỉ thấy đó là một cõi đẹp của khói mờ sương phủ; chỉ
thấy đó là một bầu trời trong chiều tà rồi nắng quái, trong nắng quái rồi chiều
tà. Làm sao thấy và nghe những tình tự u trầm trong đó? Hoặc u trầm, hoặc cuồng
nộ, Lô sơn có thiên hình vạn trạng. Những chiếc nón hoàng quan của đạo sĩ, những
chiếc áo phá nạp của thiền tăng; đầu này vẳng tiếng Huỳnh đình, đầu kia dội tiếng
chuông triêu mộ. Những hình bóng và những âm hưởng đó, từ thế kỷ này đến thế kỷ
khác, bên dòng lịch sử trường mộng của nhân sinh đổ ầm xuống; có những cuộc thi
gan tuế nguyệt diễn ra trong lạnh lùng, cô tịch. Ngày và đêm, đày đọa hình hài
và tâm trí, đứng trơ vơ, kinh đảm hãi hùng, trên chiếc cầu độc mộc, bắc ngang
qua ghềnh sinh tử. Phương ngoại là cõi của ngày tháng phiêu bồng, có trăng
thanh gió mát, có nắng quái tà dương, có xuân lan thu cúc, có đủ tất cả mọi thứ
thanh nhàn, tiêu sái, phóng dật… mà người đời mong ước. Nhưng đó chỉ là Lô sơn
từ bến Tầm dương nhìn lại, hay từ bến Bành lãi trông sang. Xa hay gần, cao hay
thấp, Lô sơn đẹp trong thiên hình vạn trạng. Giữa lòng Lô sơn, ngày tháng u trầm
trôi qua trong một phương trời đọa đày viễn mộng. Phải chăng đây đã là nơi sơn
cùng thủy tận của một cõi thi ca bát ngát?
Từ khi bước ngang qua:
Một vùng cỏ mọc xanh rì
Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu
Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu
(Kiều)
Và từ đó đã bước ngay vào một
trường thiên lịch sử đọa đày, khổ lụy:
Mối tình đòi đoạn vò tơ
Giấc hương quan luống lần mơ canh dài
Song sa vò võ phương trời
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng
Giấc hương quan luống lần mơ canh dài
Song sa vò võ phương trời
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng
(Kiều)
Tình cố quận, tình tha
hương, trong những ngày lưu lạc, và chân trời phương ngoại cho những ngày tháng
tiêu dao, hồn thơ bay cao vút đến mấy vạn trời mây, vẫn còn đồng vọng Lô sơn; một
chiếc cầu độc mộc cheo leo, bắc ngang qua bên này và bên kia, hai bên bờ của một
cõi sống và chết, mà bên dưới là vực thẳm tuyệt mù, dội lên những ẩn ngữ kỳ lạ
của dòng lịch sử kinh hoàng, trôi ào ạt trong cái lặng lẽo vô thanh vô tức. Ẩnn
ngữ cùng tuyệt của thi ca đồng vọng từ đó, hay từ đâu? Lô sơn đẹp trong thiên
hình vạn trạng, và chân diện mục của Lô sơn ra sao?
Ông viết về Sâm Liêu Tử, một
người bạn trong mối giao tình thi ca, và trong cuộc giao tình phương ngoại:
"Đông Pha cư sĩ nói:
Thưa! Sâm Liêu Tử, có cái thân lạnh mà đạo giàu. Văn thì rành rõi mà nói năng
chậm chạp. Bên ngoài mềm nhũn mà bên trong cứng cỏi. Đối với người thì không
ganh đua mà đối với cái quấy của bạn bè thì hay châm chọc. Hình khô tâm tro lạnh
mà thích nói lời cảm khái với thời, thưởng ngoạn với vật, và không thể vong
tình. Đó là chỗ mà tôi gọi là Sâm Liêu Tử có năm điều không thể hiểu."
Xưa kia, Lý Bạch cũng có một
người bạn tên Sâm Liêu Tử. Đông Pha cũng có một ngưòi bạn như vậy. Sâm Liêu Tử
của Đông Pha là biệt hiệu của tăng Đạo Tiềm, một sư tăng tu ở Tiền đường. Đạo
Tiềm rất thích thơ.

Trước khi Đông pha đáo nhiệm Tiền đường hai người đã biết nhau, qua giấc mộng. Nên khi tới Tiền đường, Đông Pha liền đi tìm gặp ngay Đạo Tiềm, rồi viết Ứng mộng ký (?). Hai người qua lại và làm thơ với nhau. Thơ của họ được khắc nhiều nơi các vách đá trong vùng Giang Triết.

Trước khi Đông pha đáo nhiệm Tiền đường hai người đã biết nhau, qua giấc mộng. Nên khi tới Tiền đường, Đông Pha liền đi tìm gặp ngay Đạo Tiềm, rồi viết Ứng mộng ký (?). Hai người qua lại và làm thơ với nhau. Thơ của họ được khắc nhiều nơi các vách đá trong vùng Giang Triết.
Năm Nguyên hựu thứ 6 (1091),
từ Tiền đường, ông được lịnh gọi trở về triều, ông để lại bài từ, theo điệu
"Bát thanh cam châu", tặng Sâm Liêu Tử:
Hữu tình phong vạn lý quyển
triều lai,
Vô tình tống triều qui.
Vấn Tiền đường giang thượng,
Tây hưng phố khẩu
Kỷ độ tà huy.
Bất dụng tư lương kim cổ,
Phủ ngưỡng tích nhân phi,
Thùy tợ Đông Pha lão,
Bạch thủ vong ky.
Ký thủ Tây hồ tây bạn,
Chánh xuân sơn hảo xứ
Không thúy yên phi
Toán thi nhân tương đắc,
Như ngã dữ quân hi.
Ước tha niên đông hoàn hải
đạo,
Nguyện Tạ công nhã ý mạc
tương vi.
Tây châu lộ,
Bất ưng hồi thủ,
Vị ngã triêm y.
|
有情風萬里卷潮來,
無情送潮歸。 問錢塘江上, 西興浦口, 幾度斜暉? 不用思量今古, 俯仰昔人非。 誰似東坡老: 白首忘機。
記取西湖西畔,
正春山好處, 空翠煙霏。 算詩人相得, 如我與君稀。 約它年東還海道, 願謝公雅志莫相違。 西州路, 不應回首, 為我沾衣 |
Hữu tình thì ngọn gió từ một
vạn dặm cuộn sóng tới. Vô tình thì đưa con sóng trở về. Thử hỏi, trên sông Tiền
đường, và phố khẩu Tây hưng, qua mấy độ tà huy? Không kể gì kim hay cổ; cúi và
ngước, thấy người xưa đã khác. Xem chừng lão Đông Pha, đầu bạc dửng dưng đời.
Nhớ lấy cảnh bờ tây của Tây
hồ, sắc xuân lồng lộng, trời xanh thăm thẳm, khói mưa mù. Người thơ tương đắc,
như tôi với Ngài, phỏng được bao nhiêu? Hẹn sang năm, vượt bỏ dặm ngàn trở lại
đây, giữ mãi tấm lòng hoài vọng không bao giờ thôi. Đường Tây châu, đừng có
quay đầu, vì tôi mà đẫm áo.
Đó là cuộc giao tình tương đắc
của những người bạn thơ. Ngoài cuộc đó, còn là cuộc giao tình phương ngoại.
Phương ngoại du, là cuộc chơi của những mặt công hầu rám nắng, trong một thuở tạm
thời rửa mặt đi bàn chuyện Không hư, bàn cái Không và cái Hữu của tử sinh trường
mộng. Thì ở đó, một tấm lòng thơ đã mở ra bao trùm cả hai cõi. Lời thơ sẽ lai
láng cho tình thơ nồng nàn. Lời thơ sẽ điềm đạm cho trời thơ nghiêm nghị. Lời
thơ sẽ phiêu bồng cho trời thơ lãng đãng. Lời thơ sẽ ngậm ngùi cho trời thơ cô
tịch. Lời thơ sẽ cay đắng cho trời thơ đày đọa. Lời thơ vần vũ, và trời thơ
trùng trùng điệp điệp bao la. Làm sao để mở rộng tấm lòng của mình cho thành tấm
lòng của trời thơ lồng lộng, nhìn thẳng vào chân diện mục của Lô sơn, ba mươi
sáu ngọn núi xanh cao ngất?
Thơ ông tiễn Đạo Tiềm nói:
Thượng nhân học Khổ Không
Bách niệm dĩ hôi lãnh Kiếm đầu duy nhất quyết Tiều cốc vô tân dĩnh Hồ vi trục ngã bối Văn tự tranh ủy bính Tân thi như ngọc tiết Xuất ngữ tiện thanh kỉnh Thối Chi luận thảo thơ Vạn sự vị tường bính Ưu sầu bất bình khí Nhất ngụ bút sở sính Phả quái Phù đồ nhân Thị thân như khâu tỉnh Đồi nhiên ký đạm bạc Thùy dữ phát hào mãnh Tế tư nãi bất nhiên Chân xảo phi ảo ảnh Dục linh thi ngữ diệu Vô áp Không thả Tĩnh Tĩnh cố liễu quần động Không cố nạp vạn cảnh Duyệt thế tẩu nhân gian Quán thân ngọa vân lĩnh Hàm toan tạp chúng hảo Trung hữu chí vị vĩnh Thi Pháp bất tương phương Thử ngữ đương cánh thỉnh |
上人学苦空,
百念已灰冷。
剑头唯一吷,
焦谷无新颖。
胡为逐吾辈,
文字争蔚炳?
新诗如玉屑,
出语便清警。
退之论草书,
万事未尝屏。
忧愁不平气,
一寓笔所骋。
颇怪浮屠人,
视身如丘井。
颓然寄淡泊,
谁与发豪猛?
细思乃不然,
真巧非幻影。
欲令诗语妙,
无厌空且静。
静故了群动,
空故纳万境。
阅世走人间,
观身卧云岭。
成酸杂众好,
中有至味永。
诗法不相妨,
此语当更请。
|
Đó là một bài thơ, hay một
bài văn luận về phép làm thơ, gọi nó là thế nào cũng được. Lô sơn có thiên hình
vạn trạng, nhìn ngang hay nhìn dọc, tùy. Ông nói, đại khái như thế này:
Thượng nhân học về cái lẽ Khổ
Không; một trăm thứ niệm tưởng đã thành tro lạnh hết. Cũng tợ thể vung lưỡi kiếm
một cái là y như gió thổi chẻ hạt thóc lép, không còn chút bụi cám. Tại sao
ngài lại phải chạy theo bọn tôi, tranh đua cái vẻ rực rỡ của văn tự? Bài thơ bọn
tôi mới làm, nó đẹp như tán vụn viên ngọc lóng lánh; lời thơ vừa ra là đã trong
veo kỳ lạ. Hàn Thối Chi (Hàn Dũ), luận cách viết chữ thảo, mà chưa hề bỏ bê mọi
việc. Cái u sầu, cái khí bất bình, nội một nét bút là hàm tất cả.
Lạ thay, những người đi tu
Phật, coi thân này như là gò, như là giếng, chật hẹp và tù túng, nên chịu cảnh
đạm bạc trơ vơ, thì đi bộc bạch cái hào, cái mãnh với ai?
Tuy nhiên, suy nghĩ kỹ thì
không phải thế. Cái ảo diệu không phải là cái ảo ảnh. Muốn cho lời thơ tuyệt diệu,
thì phải là đừng gò ép, vừa Không và vừa Tĩnh. Tĩnh cho nên thâu tóm hết mọi vọng
động. Không cho nên bao hàm vạn cảnh. Ngắm nhìn sự đời, bôn ba giữa đời, mà thấy
mình như nằm trên chóp đỉnh mây cao. Đủ hết các thứ mặn nồng, chua chát; trong
đó có cái hương vị tuyệt vời.
Thơ và Pháp (Đạo) không chống
trái nhau, không hại nhau. Cái đó lại nhờ Thượng nhân hạ quyết.
Nhờ hạ quyết? Không nhờ,
cũng đã quyết. Người học Thiền, học từ cái khổ đau, hư ảo; học cho thân tâm ra
là thứ tro tàn nguội lạnh. Học như thế là học để mà đoạ đày. Sở đạt của sở học
đó, là buông thả, hóa thành cái Không và trở thành cái Tĩnh. Buông thả, thì
không câu chấp, không còn bị ràng buộc. Cũng tiêu dao như hồn thơ thoát sái và
lãng mạn. Tâm Tĩnh, thì trầm lặng như mặt nước không gợn sóng, phản chiếu trọn
vẹn ngoại cảnh. Tâm Không, thì Tâm rộng như mặt biển bao la, dung nạp tất cả
ngân hà tinh đẩu. Người học Thiền chịu đọa đày cho thân mình gầy, cho tâm mình
nguội, trong đó có cái diệu dụng phi thường của nó. Người làm thơ, cuộc đời bị
đày ải truân chuyên, trong đó cũng có cái ảo diệu của vị chua, vị mặn. Suốt đời
học Thiền; suốt đời vẫn đày đọa thân tâm; đày đọa trong cái Không và cái Tĩnh.
Đày đoạ đó, mà kỳ thực không là đày đọa. Cũng vậy, suốt đời làm thơ, thì suốt đời
khổ lụy lao đao; nhưng không là khổ lụy lao đao. Chỗ ảo diệu đó, chưa đạt đến
cõi thượng thừa của thi ca, làm sao hiểu nổi?
Nhưng, ai nói người học Thiền
phải chịu đày đọa thân tâm? Họ nhàn hạ, họ thong dong, họ tiêu sái; họ lãng
đãng như Lô sơn thấp thoáng giữa mây trắng và sương mù. Tuy nhiên như thế,
nhưng ai quyết rằng tâm hồn đó trầm mặc như nước hồ không dao động? Giữa lòng
Lô sơn, giải Ngân hà trên bầu trời cô tịch không ngừng đổ xuống ầm ầm như sấm
sét.
Thi sĩ và Thiền sư cùng lao
đao, và cùng tiêu sái, trong cùng một cõi trầm mặc phiêu bồng, vừa Không vừa
Tĩnh. Ngọc đường kim mã hay Giang bắc Giang nam; hay lão thần cô quạnh nơi
Hoàng châu, Huệ châu... , đày ải hay không đày ải, hồn thơ vẫn điềm đạm bao la
trong thơ huy hoàng bát ngát.
Thế thì, cái chỗ đọa đày viễn
mộng nghe chừng như là phải kinh hoàng táng đảm, nó làm cho đất liền cũng trở
thành sa mạc, với nóng cháy và với gió rét kinh hồn. Thế mà lại khác hẳn. Đó là
cái Không Không và Tĩnh Tĩnh, cõi của mây trời trên đỉnh núi. Khách phàm trần
chưa bước tới nổi, nên cứ tưởng là nơi khổ lụy tột cùng, hoặc huy hoàng tráng lệ.
Cả hai, vừa phải vừa không phải. Lô sơn có thiên hình vạn trạng. Cõi thơ có
trùng trùng ẩn ngữ.
Đạt tới cõi thượng thừa của
Thơ, như người học Thiền chứng chỗ Không tịch của Đạo; cái đó vừa khó vừa dễ. Học
Thiền ba mươi năm, ba mươi năm đày đọa thân tâm, mà không thành. Phẫn chí, bỏ
đi; bất chợt thấy một cánh hoa rơi, cõi Không tịch cũng hoát nhiên, đột ngột mở
ra. Chỗ ảo diệu đó, khó giảng cho thông. Cho nên, không thể nào lấy tay chỉ thẳng
vào cõi thơ, rồi bảo đây là chân diện mục của nó. Nói được một cách dễ dãi, hay
không dễ dãi, như thế chẳng khác nào đàn bà con nít cũng biết giảng chỗ ảo diệu
của Ngộ Thiền. Ông viết trong bài bạt của khắc kinh Lăng già như thế này:
"… Chỉ lấy theo chỗ giản
tiện; được một câu kinh, một bài kệ, tự cho là liễu chứng. Cho đến cả bọn đàn
bà, con nít, dong tay cười giỡn, đua nhau bàn bạc hương vị Thiền. Kẻ cao thì vì
danh, kẻ thấp thì vì lợi. Cái dư ba mạt lưu đó không đâu không chảy tới. mà cái
vi diệu của Phật Pháp đã mất rồi. Chẳng khác nào thầy lang quê mùa… (may mà chữa
lành bịnh nhẹ)…"
Đại khái, nơi cõi Thiền cũng
có cái khó phân biệt Chân và Ngụy. Cõi thơ há lại không? Nhưng chỉ thẳng vào chỗ
đó, không thể được. Nó không phải là chỗ dị đồng giữa con chó và con cọp, hay
giữa cọp thực và cọp giấy.
Quả nhiên, điều thấy rõ là
ông đã giảng giải thế nào là Thơ, và thế nào là Thiền. Và cũng thấy rõ là trong
đó có chỗ đồng và chỗ dị. Nhưng chỉ thẳng vào những chỗ đó, thiên nan vạn nan.
Có thể đọc lại bài thơ ông tặng
Đạo Tiềm, đã dẫn ở trên kia. Bài thơ:
Vị văn Lô nhạc đa chân ẩn
Cố tựu cao nhân đoạn túc phan
Dĩ hỉ Thiền Tâm vô biệt ngữ
Thượng hiềm thế phát hữu thi ban
Dị đồng mạc vấn nghi tam ngữ
Vật ngã chung đương phó bát hoàn
Đáo hậu dữ quân khai bắc hộ
Cử đầu tam thập lục thanh sơn.
Cố tựu cao nhân đoạn túc phan
Dĩ hỉ Thiền Tâm vô biệt ngữ
Thượng hiềm thế phát hữu thi ban
Dị đồng mạc vấn nghi tam ngữ
Vật ngã chung đương phó bát hoàn
Đáo hậu dữ quân khai bắc hộ
Cử đầu tam thập lục thanh sơn.
Tống Triết tông, năm đầu
niên hiệu nguyên hựu (1086), vương tử Cao li, Tăng thống Nghĩa Thiên, sang thăm
Trung Hoa, tìm hiểu Phật giáo Hoa Nghiêm tông. Vua sắc chỉ Đông kinh Giác
nghiêm Thành thiền sư ứng đối. Thành đề cử sư Tịnh Nguyên ở Tiền Đường, thay thế
mình. Vua mới lịnh cho Dương Kiệt hộ tống Nghĩa Thiên tăng thống đến Tiền đường.
Các tự viện làm lễ đón và đưa rất rầm rộ.
Khi Nghĩa Thiên mới đến Kinh
sư, vua sắc Lễ bộ Tô Thức tiếp đón. Rồi đến yết Viên chiếu. Bản thiền sư, thảo
luận về tông chỉ Phật Pháp. Sau đó, đến Kim Sơn. Ở đó, Phật Ấn ngồi mà đón và
nhận lễ cúng nạp. Dương Kiệt kinh ngạc hỏi. Phật Ấn đáp: Nghĩa Thiên là tăng nước
ngoài, nhưng luật của người xuất gia không phân biệt biên vức quốc gia, do đó,
không vì Nghĩa Thiên đến với tư cách một vương tử ngoại quốc, được triều đình
đãi như một thượng khách, mà sư phải theo cách tiếp đãi của triều đình. Triết
tông biết việc đó, rất khâm phục thái độ của Phật Ấn. Về sau, vua mang chiếc áo
nạp do Cao li tiến cống tặng cho Phật Ấn. Đông Pha viết bài nạp tán:
"TỰA:
"Trưởng lão Phật Ấn đại
sư Liễu Nguyên, dạo chơi Kinh sư. Thiên tử nghe danh sư, đem chiếc áo Ma nạp do
nước Cao lệ cống hiến ban cho sư.
"Khách có người thấy,
khen rằng: Hỡi ôi! Đẹp thay! Chưa từng thấy vậy. tôi và con tôi đã thử nắm vạt
nó trải ra, theo cái chéo nó trương lên mà tung ra; từ phía đông tận đất Ngung
di, phía tây tới Muội cốc, phía Nam Giao chỉ, phía bắc U đô, tất cả đều nằm trong
lỗ kim khe chỉ của tôi cả.
"Phật Ấn cười hô hố,
nói: Ăn thua gì! Cái ông nói còn quê mùa lắm. Tôi lấy con mắt Pháp mà nhìn nó,
thấy trong mỗi lỗ kim có vô lượng thế giới. Rồi trong mỗi thế giới đó, có bao
nhiêu chúng sinh, mà mỗi lỗ kim khe chỉ của mỗi chiếc áo chúng mặc đều là thế
giới. Cứ lần lượt như thế cho đến tám mươi lần, mà quang minh của Phật tôi đều
rọi tới, cùng với Thánh đức của Quân thượng tôi bao trùm như đem biển cả mà đổ
vào một lỗ chân lông, như để cõi đất mà lấp một lỗ kim. Thì những Ngung di, Muội
cốc, Giao chỉ, U đô, có gì đáng nói. Nên biết rằng, chiếc áo nạp đó không phải
lớn, không phải nhỏ, không phải vắn, không phải dài, không phải nặng không phải
nhẹ, không phải mỏng, không phải dày, không phải Sắc không phải Không. Hết thảy
thế gian chịu lạnh đến nứt da, rụng ngón mà áo nạp đó không lạnh; nóng đến độ
đá tan, vàng chảy mà áo nạp đó không nóng; năm thứ dơ bẩn lai láng của thế gian
không làm nó bợn; lửa kiếp tận hừng hực đốt rụi thế gian mà áo nạp đó không hoại.
Sao lại có tâm tư duy sinh ra nghĩa tưởng hèn kém?
Xếp lại mà cất
Thấy nạp không thấy sư
Mặc mà không xếp
Thấy sư không thấy nạp
Chỉ sư với nạp
Phi một phi hai
Chột mắt mà nhìn
Rận rệp rồng voi.…"
Thấy nạp không thấy sư
Mặc mà không xếp
Thấy sư không thấy nạp
Chỉ sư với nạp
Phi một phi hai
Chột mắt mà nhìn
Rận rệp rồng voi.…"
Phật Ấn Liễu Nguyên, hiệu
Giác Lão. Lúc Đông Pha bị biếm trích ở Hoàng châu, thì sư trụ ở chùa Qui tông,
Lô sơn. Hoàng châu và Qui tông đối ngạn, nên ông và sư thường hay qua lại giao
thiệp, trao đổi làm thơ, đi ngoạn cảnh.
Sau sư dời sang ở chùa Kim
sơn. Một hôm, ông đến thăm vào lúc sư đang giảng kinh cho tăng trong chùa. Họ đứng
hai hàng để nghe. Ông đến, sư nói: "Nơi đây không có giường ghế. Cư sĩ đến,
biết ngồi đâu bây giờ?" Ông bảo: "Vậy thì muợn đỡ tứ đại của Phật Ấn
làm giường ngồi." Nghĩa là, ông mượn cái thân tứ đại của Phật Ấn làm giường
ngồi. Phật Ấn nói: "Sơn tăng này có một câu hỏi, nếu thí chủ đáp được, sẽ
theo lời cho mượn thân tứ đại này làm giường ngồi. Nếu không, xin để lại sợi ngọc
đái làm vật trấn sơn môn." Ngọc đái là giải dây buộc ngang lưng của bậc
thượng lưu thời đó, được đem ra đánh cuộc, để làm bửu vật trấn giữ cửa chùa.
Ông liền cởi ngay giải dây đặt lên bàn. Sư hỏi: "Tứ đại giai không, ngũ uẩn
phi hữu. Cư sĩ muốn ngồi vào đâu? " Ông ngẫm nghĩ, chưa kịp trả lời, thì
sư đã gọi gấp thị giả mang sợi đái đi cất, để làm vật trấn sơn môn. Ông làm
ngay hai bài thơ tặng sư (trích một bài đọc chơi):
Bịnh cốt nan kham ngọc đái
vi
Độn căn nhưng lạc tiễn phong ki Dục giao khất thực ca cơ viện Cố dữ sơn vân cựu nạp y. |
病骨難堪玉帶圍,
鈍根仍落箭鋒機。
欲教乞食歌姬院,
故與雲山舊衲衣
|
Xương gầy giải ngọc buộc sao
vô?
Hồ đồ thấp trí chịu thua cơ.
Những mong kiếm chác trò con hát;
Nay để làm duyên với cửa chùa.
Hồ đồ thấp trí chịu thua cơ.
Những mong kiếm chác trò con hát;
Nay để làm duyên với cửa chùa.
Chuyện đó trở thành cái giai
thoại mà người ta truyền tụng là "Ngọc đái trấn sơn môn" rất thịnh
hành.
Năm ông 49 tuổi. Kể từ khi bị
biếm trích ra Hoàng châu đến bây giờ, là đã hơn bốn năm. Tháng 4 năm đó, Giáp
tý (1084), ông được lệnh phải dời sang ở Nhữ châu. Trên đường đi Nhữ châu, ông
gặp Tử Do ở Quân châu. Lúc này, Tử Do ở Quân châu; sư Vân Am ở chùa Động sơn;
Thông thiền sư, người đất Thục, ngụ tại chùa Thọ thánh. Tối đó, cả ba người
cùng thấy một giấc mộng giống nhau. Họ thấy đi đón Ngũ Tổ Sư Giới hòa thượng.
Sư Giới là một thiền sư đời thứ 9 của dòng thiền Huệ Năng. Cả ba cùng vỗ tay cười
lớn: "Thế gian quả có chuyện đồng mộng, lạ thay!" Ít lâu, thư của ông
đến báo tin là ông đã tới Phụng tân, sẽ gặp nhau trong sớm tối. Ba người cùng
ra ngoài 20 dặm chùa Kiến sơ thì gặp ông. Mỗi người lần lượt kể giấc mộng của
mình. Oâng mới nói: "Tôi hồi 7, 8 tuổi, có lần nằm mộng thấy mình làm
tăng, qua lại bên Thiểm hữu." Sư Vân Am cả kinh, nói: "Sư Giới là người
ở Thiểm hữu. Tuổi về già, bỏ chùa Ngũ tổ đến dạo ở Cao an, sau mất tại chùa Đại
ngu. Tính ngược lại, đã đúng 50 năm." Bấy giờ ông 49 tuổi. Vậy, đại khái,
đời trước ông là thiền sư Ngữ tổ Sư Giới. Nhưng nghe nói Sư Giới đã tỏ ngộ đạo
thiền, đã đắc đạo, sao thác sinh ra ông lại phải trải qua một kiếp lao đao đày ải
như thế?
Ông bị đày xuống Quảng đông,
rồi Hải nam, từ năm 59 tuổi , cho đến 66 tuổi thì được tha về.
Trong thời gian này, ông
quen thân với sư Trùng Biện. Ông viết dật sự của sư Trùng Biện, tức Nam Hoa trưởng
lão.
"Thiền sư Khế Tung thường
sân; người ta chưa từng thấy sư cười. Sư Hải Nguyệt Biện thường vui, người ta
chưa từng thấy sư giận. Tôi ở Tiền đường, chính mắt thấy hai vị đó đều ngồi kiết
già mà hóa (chết). Khế Tung đã trà tì (thiêu xác), mà lửa không hủy hoại. Thêm
củi cho lửa đỏ đến năm lần mới thôi. Hải Nguyệt đến khi táng mà gương mặt vẫn
tươi như còn sống, lại còn cười nụ.
"Thế mới biết, hai người
lấy cái sân và cái hỉ mà làm Phật sự vậy.
"Người đời coi thân
hình như vàng ngọc, không để cho gót chân dính bụi. Bậc Chí nhân thì ngược lại.
Tôi lấy đó mà biết rằng, hết thảy các Pháp đều do ái mà hoại; do xả mà thường.
Há không phải vậy sao?
‘Tôi từ Hải nam trở về, thì
Trùng Biện tịch đã lâu. Qua Nam hoa điếu. Hỏi chúng tăng ở đó về chỗ mộ tháp của
Sư. Họ bảo: "Thầy tôi xưa đã có làm thọ tháp, về phía đông Nam hoa vài dặm.
Có người không ưa thầy, nên táng ở mộ khác. Đã hơn bảy trăm ngày rồi. Nay Trưởng
lão Minh Công ra sức một mình, dời về thọ tháp. Thay quan, đổi áo, thấy trọn cả
thân thể vẫn như đang còn sống; áo vẫn tươi và thơm. Mọi người hỗ thẹn và kỉnh
phục."
"Đông Pha cư sĩ nói:
Trùng Biện coi thân là vật gì? Vứt nó vào rừng Thi đà để nuôi chim, nuôi quạ,
đâu có sự để ở thọ tháp cho an ổn. Vì là, Minh công là người biết rõ Trùng Biện,
nên đặc biệt muốn lấy sự họa phúc đồng dị mà thôi.
"Tôi mới đem trà, quả đến
cúng ở tháp sư, rồi viết lại sự việc đó để gởi cho thượng túc đệ tử của sư là
sư Khả Hưng. Nam hoa tháp chủ.
"Bấy giờ, niên hiệu
Nguyên phù thứ 3 (1100), tháng 12, ngày 19."
Độ nửa tháng sau, ông viết
bài "Nam hoa trưởng lão đề danh ký"
"Học giả lấy sự thành
Phật làm khó ư? Con nít vọc đất, vẽ cát mà giỡn thôi, cũng đủ thành Phật; lấy
đó mà cho là dễ ư?
"Những bậc đã được thọ
ký, đã đắc đạo, như các vị Bồ tát và các Đại đệ tử (của Phật Thích Ca) mà còn
không dám đi thăm bịnh (cư sĩ Duy-ma-cật); cái nghĩa đó là thế nào?
"Lúc đang mê loạn điên
đảo, trôi lăn trong biển khổ, mà vừa có một niệm Chân thành, thì vạn pháp đều
có đủ cả. Còn như, cần khổ dụng công, như đắp núi đã cao đến chín bậc, sau chỉ
vì một chút sai sẩy cỏn con mà một nghìn đời không phục lại nổi.
"Hỡi ôi, Đạo vốn là như
vậy đó!
"Nhưng riêng gì Phật
thôi ư? Thầy Tử Tư có nói: "Hạng phàm phu phụ không ra gì cũng có thể hành
(đạo) được; còn như chỗ tột cùng, thì dù là Thánh nhân cũng có chỗ chưa đủ sức."
Mạnh Tử thì cho rằng Đạo của Thánh nhân bắt đầu ở chỗ không làm việc trèo tường
khoét vách mà cái ác của việc trèo tường khoét vách đã hiện ở lời nói. Không
nói người chưa có ý muốn làm việc trèo tường khoét vách, thì dù có việc trèo tường
khoét vách cũng không muốn. Từ cái tâm mình không muốn làm mà đi cầu nó (đạo),
thì việc trèo tường khoét vách đã đủ để làm Thánh nhân rồi.
"Đáng nói mà không nói.
Không đáng nói mà lại nói: những điều như vậy, dù là Hiền nhân, Quân tử cũng
không thể tránh khỏi. Nhân từ cái lỗi không thể tránh mà tiến tới, dù là Hiền
nhân Quân tử cũng có lúc phải đi ăn trộm.
"Đó là hai Pháp ngược
nhau, nhưng lạm dụng lẫn nhau. Nho và Thích cũng như nhau ở chỗ đó.
"Nam Hoa trưởng lão
Minh Công, trước kia theo cái học của Tử Tư, Mạnh tử. Sau bỏ nhà theo Phật. Người
không biết, cho là trốn Nho theo Phật, chứ không biết Sư vẫn còn Nho.
"Chùa Nam hoa này, từ
Ngài Lục tổ Đại Giám (Huệ Năng) thị diệt, những người truyền Pháp đắc đạo đều
phân tán tứ phương, cho nên Nam hoa lâu nay là chùa Luật (tông).
"Đến đời Tống ta, trong
niên hiệu Thiên hi thứ 3 (1019) mới bắt đầu có chiếu cử Tri Độ thiền sư Phổ Toại
làm trụ trì. Cho đến sư Minh Công bây giờ, đã được 11 đời.
"Minh Công nói với Đông
Pha cư sĩ: "Tể quan hành pháp thế gian. Sa môn hành pháp xuất thế gian. Thế
gian tức xuất thế gian, như nhau không khác. Nay các tể quan truyền nhau đều có
đề danh ghi lên vách; chỉ riêng sa môn là không có. Vả lại, đạo tràng tôi ở
đây, sửa sang chỗ Phật Tổ thì được, nhưng sự truyền không nghiêm. Nhờ thầy viết
hộ tôi bài ký.
"Rồi luận Nho và Thích
không gặp nhau nhưng đồng nhau, lấy đó làm bài ký này.
"Năm đầu niên hiệu Kiến
trung tĩnh quốc (1101), tháng giêng, ngày mồng 1."
12
Trên đường về Kinh, Ông nằm
mộng thấy làm một bài thơ gởi cho Chu Hành Trung. Hôm sau thức dậy, còn nhớ rõ
cả. Và ông chép lại:
Thuấn bất tác lục khí
Thùy tri quí Dư Phiên Ai tai Sở cuồng sĩ Bảo Phác hào không sơn Tương Như khởi nghễ trụ Đầu bích tương dữ hoàn Hà như Trịnh Tử Sản Hữu lễ quốc tự nhàn Tuy vi Hàn Tuyên Tử Bỉ phu diệc hoài Hoàn. Chí kim bất tham bửu Lẫm nhiên siêu trần hoàn. |
舜 不 作 六 器
誰
知 貴 璵 蹯
哀 哉 楚
狂 士
抱 撲 號 空 山
相 如 起 睨 柱
頭 壁 相 與 還
何 如 鄭 子 產
有 澧 國 自 閑
雖 微 韓 宣 子
鄙 夫 亦 懷 還
至 今 不 貪 寶
凜 然 超 塵 寰
|
Ít hôm sau, ngày 28 tháng 7,
ông mất. Bài thơ làm trong mộng trên đây được người dời truyền tụng là tuyệt
bút của ông.
Nếu vua Thuấn không chế ra
sáu thứ dụng cụ, ai biết ngọc Phiên, ngọc Dư của bậc quân vương là quí ?
Cuồng sĩ nước Sở có viên ngọc
phác, nhưng trong đời không ai cho đó là ngọc, mà coi nó là đá cuội, nên thương
thay! ôm ngọc mà kêu gào với núi hoang.
Khi người ta nhận được ngọc
Bích là quí, thì Lạn Tương Như cầm nó trong tay, liếc nhìn cái trụ, quyết ý đầu
và ngọc sẽ cùng nát cả, thế mà hăm dọa được vua Tần, mang được trọn vẹn cả đầu
cổ và ngọc Bích trở về Triệu.
Trịnh Tử Sản hộ tống Trịnh
bá sang Tấn. Tấn hầu vì cớ có tang, không chịu tương kiến. Tử Sản cho phá sập
nhà cửa, tường vách của Tấn, cho là chỗ chật hẹp, không phải lễ đãi khách đối với
chư hầu như vậy. Làm dữ, thế mà quốc gia nhờ đó lại được yên ổn, vì là có lễ.
Nhưng có cần làm vậy ư?
Có gia bảo ngọc Hoàn như Hàn
Tuyên Tử, dù đến khi nghèo kiệt, bọn đầy tớ trong nhà cũng có ngọc mà đeo.
Cho đên bây giờ, ta vẫn chưa
hề tham đến những món quí, món báu. Cho nên, hiên ngang lẫm liệt đứng cao vọi
bên trên tất cả cõi đời.
Đó là những lời tuyệt bút?
Được truyền tụng là như thế. Và tuyệt bút của một người trong mộng. Trong cõi mộng,
tâm sự của khách tài hoa nó kiêu hùng trong phong độ lẫm liệt hiên ngang. Tài
hoa lãng mạn bát ngát như Lô sơn ẩn hiện giữa mây trắng và sương mù. Lẫm liệt
siêu trần hoàn cũng y thể như ngọn Lô sơn sừng sững giữa một cõi trời cô tịch.
Học thơ, và làm thơ, đạt đến
cõi thượng thừa lẫm liệt của trời thơ, đến chỗ tài hoa tuyệt đỉnh của trời thơ;
như viên ngọc quí giá vô tận. Đời không biết tới, người có nó cũng khổ lụy kêu
gào với ngọn núi hoang vắng cô liêu. Mà đời biết đến nó, thì cũng khổ lụy kỳ
cùng cho người có nó. Có, hay không có cái tài hoa tuyệt thế, cái lẫm liệt siêu
trần, của một viên ngọc quí, vẫn là những cái làm khổ lụy cuộc đời. Khổ lụy, và
triền miên khổ lụy, nó là thứ gì? Và tại sao lại có nó? chân diện mục của Lô
sơn được gói trọn vào trong một câu hỏi này ư? Nếu thế thì, Lô sơn trùng trùng
điệp điệp, không làm sao bước tới, cho thấy tường tận chân diện mục nó. Nhưng
người dù đã bước tới, tận vào chỗ sơn cùng lộ tuyệt của nó, cũng không làm sao
nói lại được một góc cạnh của cái thấy đó. Rồi từ đó, đột nhiên, trời Thơ trở
nên là một, hay là những phương trời đọa đày viễn mộng. Đọa đày cho đến kỳ
cùng, đọa đày cho thành kỳ diệu tuyệt mức.
"Lao viễn mộng", đọa
đày viễn mộng, của nhà thơ đó, một chân diện mục của Lô sơn mà khách trần tục lụy,
nghìn đời không sao hé thấy.
Cõi thơ mở ra, và khép lại
trong một cõi mộng không lời.
Từ bến Tầm dương, hay bến
Bành lãi nhìn lên, Lô sơn khói tỏa sương mù.
Chân diện mục của Lô sơn?
Chân diện mục của Lô sơn?
NHỮNG PHƯƠNG TRỜI LỮ THỨ
Thơ từ phế phủ ra
Lại làm sầu phế phủ
Nào chỉ có thế thôi ư? Thơ
phát ra từ những khổ lụy và những nguyện ước khơi vơi của cuộc tồn sinh; từ độ
đó, Thơ đi vào giữa những thảm họa hoành sinh của Lịch sử. Từ buổi bình mình,
Thơ vang vọng những lời tình tự thiết tha, từ tiếng chim thư cưu nơi cồn cát, đến
những đêm dài trăn trọc, trong nguyện ước lứa đôi. Cho tới lúc, Thơ là Ly tao,
là nỗi buồn cô quạnh của một lão thần nơi đất Trích, bên dòng sông Mịch la. Lịch
sử đã gây nên những trường khốc liệt, cuộn sòng Thơ trôi mãi, trôi không bao giờ
thấy lại được nguồn suối ban sơ; đừng nói chi đến việc trở về. Thơ bị đẩy trôi
theo tuế nguyệt. Mà Tuế nguyệt đã đi là đi mất. Thế là, từ những phương trời viễn
mộng ban sơ, Thơ dấn bước đi vào Cuộc Lữ, kỳ cùng trong những phương trời của
Cuộc Lữ. Nhưng Cuộc Lữ không bao giờ cùng tận. Vì tượng của cuộc Lữ là những ngọn
lửa bốc cháy trên đỉnh núi, cháy liên miên không hề gián đoạn. Núi vẫn đứng trơ
ra đó, mà lửa thì cứ mãi bốc thẳng và mất hút trong bầu trời cô tịch. Tại sao lại
phải từ cái có, muôn đời có đó, để đi vào cái không? Kiệt tận bình sinh, hay sống
trọn đời với tuổi đời, hay sống cho tận cùng cuộc sống, thì tất cả đời sống đó
đã không ngừng mang trọn tài hoa phong nhụy đổ vào khơi vơi, vào cõi miền hư tịch,
không hư, không hình tích, không bóng dáng và không lời. Cuộc Lữ nếu được đi
trong mực Trung Dung, thì cũng đi như mũi tên bắn thẳng tới phía trước, dù có bắn
được một con chim Trĩ, chim của biểu tưởng văn minh, của lịch sử hiền hòa;
nhưng mũi tên bắn đi không còn cách nào quay đầu trở lại. Nếu Cuộc Lữ được dẫn
tới chỗ kỳ cùng của Cuộc Lữ, đấy là lúc con chim trên rừng đã đốt tổ bay đi. Có
muốn về, cũng không còn tổ ấm bao dung của Quê Hương nguyên thủy nữa.
Thơ phát ra từ cuộc Lữ đọa
đày, rồi trở lại đọa đày cuộc Lữ. Cuộc Lữ là trường thể nghiệm Lịch sử tồn sinh
thảm họa của Thơ. Và Thơ mở rộng những phương trời Lữ Thứ. Quê Hương nguyên thủy
chỉ là những âm vang của Lịch sử, vang dội ngân dài trong những phương trời viễn
mộng. Cho nên, Đất của Thơ đất Trích, là những vùng đày ải; Đường của Thơ là
Quán Trọ, là những bước đường ngược gió. Mặn nồng nơi Đất Trích, lân la nơi
Quán Trọ, cuộc thể nghiệm dây dưa hằng triệu vấn vương, và cũng là cuộc thể
nghiệm cho khước từ tuyệt đối. Cho nên lời Thơ càng lúc càng trầm trọng, như
viên sỏi rơi vào lòng biển bao giờ cho tới đáy thì thôi. Biết bao giờ cho tới
đáy, để lấy đó làm Quê Hương hằng cửu? Bởi cách điệu trầm trọng như thế, nên
Thơ là phong vận tài hoa, đẹp như những cụm mây trời trong nắng sớm.
Từ đây trở xuống, Thơ của
ông sẽ được công bố cho thành một Cuộc Đi, đi trong những đoạn đường Lữ Thứ, đi
trong những phương trời Lữ Thứ. Bố trí cho Thơ lịch nghiệm trong cuộc Riêng, để
thể nghiệm trong cuộc Chung của Lịch sử. Trong cuộc Riêng, Tình Thơ sẽ cũng chỉ
là Tình Riêng. Một vài lời phụ chú, một ít chuyện bàn bạc của người soạn sách,
từ cuộc Riêng đó, nỗ lực giới hạn, trên những trang lịch sử của phong trần cổ lục,
để xem có thể dẫn tới được một cuộc Chung đồng vọng nào đó chăng?
I.
TRỜI QUÊ HƯƠNG KHÓI MÙ BAY
VIỄN MỘNG
(1061 -1071)
LỜI DẪN
1061-1071, trong khoảng 10
năm này, ông làm quan tại các chỗ: Kiểm phán tại Phượng tường, rồi Giám quan
cáo viện tại Sử quán ở Kinh đô, và sau đó xin ngoại nhiệm, được đổi ra Hàng
châu vào năm 1071. Những chi tiết về sự vụ làm quan của ông, ở đây chỉ lược đại
khái.
Bắt đầu với bài thơ Hoài
Cựu. Rồi chúng ta sẽ thấy, Đất Khách luôn luôn phảng phất bóng dáng Quê
Hương; trời của quê hương là vang vọng của lịch sử. Sầu cố quận hay tình tha
phương là những tiếng ngân dài của lịch sử. Đó là đoạn đầu của một cuộc lịch
nghiệm. Thơ được trích do bố trí dự định sẵn, thì những cách điệu khác nhau của
chúng chỉ là những sai dị trong bước đi mà thôi. Cái Tình ẩn và cái Tình hiện
trong mỗi bài thơ chỉ cùng chung một nỗi. Nỗi đó, tạm thời gói lại trong Trời
quê hương khói mù bay viễn mộng ở đây. Gọi là trời quê hương, là muốn nói
tới hoài vọng của người khách vừa bước ra đi, từ giã quê hương, cho đoạn đầu của
Lữ Thứ. Quê hương qua lớp khói mù, là muốn nói tới hoài vọng trẻ trung, vì quê
hương là nơi ngụ ẩn tình của lịch sử. Bay viễn mộng, là đoạn đường Lữ Thứ đã mở
ra rồi, nên cuộc lịch nghiệm thoáng hệin những nét đăm chiêu. Cũng có thể lưu ý
rằng, những chữ này chỉ dùng theo nghĩa Riêng của đoạn này, để tương xứng với một
cuộc Tình Riêng của Thơ
I.
Đồi mai ngơ ngác nụ cười
Cánh hồng là mộng của đời
lưu ly
Tồn sinh thấp thoáng nẻo về
Dấu trơ bãi tuyết ngoài tê
cánh đồng
Sư già tháp mới hồn không
Tường rêu đổ xuống đâu đồng
vọng Thơ
Gập ghềnh năm tháng hay chưa
Đường dài người mỏi gót lừa
kêu đau
Năm canh tý (1060), Ông làm
chủ bạc tại huyện Phước xương, tỉnh Hà nam. Năm trước, sau khi mãn tang mẹ, Ông
và Tử Do theo cha, Lão Tô, dong thuyền Nam du. Thơ văn của hai anh em được gói
thành "Nam hành tập". Đó là những bài thơ của tuổi trẻ; người ta nói
như vậy. Hồn thơ bộc phát tự nhiên, như cánh chim hồng đang ước hẹn với trời
cao. Trong con mắt của người đời, cái cảnh giang sơn thanh kỳ tú lệ đã tô điểm
cho phong cách tự phụ của thời niên thiếu:
Giang sơn dưỡng hào tuấn
Lễ số khốn anh hùng
Chấp bản nghinh quan trưởng
Xu trần bái hạ phong
Cốt cách đó chưa hiện rõ những
nét cuồng ngạo. Sóng Trường giang vẫn ào ạt mùa nước lũ trong từng năm một;
nhưng lịch sử vẫn mãi triền miên bất động trải dài thành hai bờ bến. Hồn thơ sẽ
đến để mở cánh cửa trời, và rồi sẽ khép lại thành một cõi của từ sinh trường mộng.
Lúc nào mở, và lúc nào đóng? Con chim trên rừng đốt tổ bay đi, cuộc Lữ không
tính được khoảng đầu và khoảng cuối.
Trên con đường của những
ngày tháng đầu tiên từ giã quê hương, thơ Ông đồng vọng tiếng hát này:
Đài thượng hữu khách ngâm
thu phong
Bi thanh tiêu tán phiêu nhập
cung
Đài biên du nữ lai thiết
thính
Dục học thanh đồng ý bất đồng
Quân bi cánh hà sự?. . . .
Trên gò cao, khách đứng hát
với ngọn gió mùa thu. Âm hưởng trầm buồn hững hờ bay vào khung cửa kín. Bên gò
có nàng du nữ đến nghe lén. Muốn học tiếng hát đó, nhưng chỉ có thể cùng âm
vang mà không thể cùng đồng vọng. Thế thì, ngài buồn chuyện gì nhỉ?
Gió thu rồi cũng sẽ tới lúc
thổi lên tóc trắng. Và cánh chim hồng rồi cũng sẽ để lại dấu vết trên bãi tuyết
trắng... Ngẫu nhiên:
HOÀI CỪU
Nhân sinh đáo xứ tri hà tợ
Ưng tợ phi hồng đạp tuyết
nê
Nê thượng ngẫu nhiên lưu
chỉ trảo
Hồng phi na phục kế đông
tây
Lão tăng dĩ tử thành thân
tháp
Hoại bích vô do kiến cựu đề
Vãng nhật kỳ khu hoàn ký
phủ
Lộ trường nhân khốn kiển
lô tê
|
懷舊
人生到處知何似
應似 飛 鴻踏雪泥
泥上偶然留指爪
鴻飛那計東西
老僧已死成新塔
壞壁無由見舊題
往日崎嶇還記否
路長人困蹇驢嘶
|
Bài thơ của Ông được trích ở
đây, nó là một tình tự trẻ trung; cái tình hoài cựu chưa đượm mùi sương gió.
Mãi về sau, thơ và từ của Ông vẫn còn âm hưởng đồng vọng của một cánh chim hồng,
lẻ loi và cao vút. Dù là tung cánh trong bình minh hay giữa nắng quái, nguồn
thơ đó càng lúc càng ngời sáng phong vận cuồng ngạo và phóng dật. Bắt được tiết
điệu của bài thơ, và thấy ra phong vận của nó, thì cái dòng thơ triền miên bất
tuyệt của Ông cũng được thấy ra từ đó.
Cuộc nhân sinh, rồi đây biết
nó sẽ như thế nào? Có lẽ, nên coi như một cánh chim hồng dẫm chân lên bãi tuyết.
Ngẫu nhiên mà trên bãi tuyết đó còn in nguyên vẹn những vết chân của cánh hồng.
Cánh hồng sẽ bay bổng mù khơi, còn kể gì đến những dấu chân kia.
Sư già vừa chết, ngôi tháp mới
cũng vừa được dựng lên. Tường rêu đã đổ xuống, không tìm đâu ra những bài thơ đề
trên đó nữa. Một ngày qua, đường đời gập ghềnh, có biết chưa? Đường thì dài,
người thì mỏi, con lừa khấp khiểng kêu đau.
2.
THẠCH TỊ THÀNH
Bình thời chiến quốc kim
hà tại
Mạch thượng chinh nhân tự
bất nhàn
Bắc khách sơ lai thí tân
hiểm
Thục nhân tùng thử tống
tàn sơn
Độc xuyên ám nguyệt mông
lung lý
Sầu độ bôn hà thương mang
gian
Tiệm nhập tây nam phong cảnh
biến
Đạo biên tu trúc thuỷ sàn
sàn
|
石鼻城
平时战国今无在,
陌上征夫自不闲。
北客初来试新险,
蜀人从此送残山。
独 穿暗月朦胧里,
愁渡奔河苍茫间。
渐入西南风景变,
道边修竹水潺潺
|
Thạch tị thành, không rõ địa
danh này. Hoặc giả là núi Thạch thành; phía đông nam, huyện Tín dương, tỉnh Hà
nam có một ngọn; phía tây huyện Nghi tân, tỉnh Tứ Xuyên, thấy một ngọn; đông bắc
huyện Thiệu hưng, tỉnh Triết giang, một ngọn. Trong thơ có nói Thục nhân, tức
người đất Thục, tỉnh Tứ xuyên ngày nay. Quê Ông, huyện My Sơn, cũng ở trong
vùng này. Thơ cũng nói Bắc khách, người khách từ phương bắc đến; tất nhiên
chỉ cho Ông. Có lẽ bấy giờ Ông từ Kinh đô về tại vùng này.
Năm tân sửu (1061), từ Hà
nam, Ông được triệu về Kinh, rồi được bổ làm Kiểm phán phủ Phượng tường, trong
hạt Tứ xuyên. Đến năm bính ngọ (1066), 5 năm sau đó, Lão Tô mất. Ông về quê
chôn cha. Vậy, bài thơ được làm trong khoảng thời gian này, từ 26 đến 31 tuổi.
Bấy giờ Ông còn trẻ, lời thơ
sảng hoạt mà thanh thiết. Đó cũng là bản sắc độc đáo trong tiết điệu thơ của
Ông. Hai câu 3-4, ngụ những ẩn tình nồng hậu, thắm thiết.
Thi tân hiểm, thưởng thức cảnh
lạ giữa những ngọn đá cheo leo; ứng với 4 chữ "Bắc khách sơ
lai" ở trước, và đối với 3 chữ "tống tàn sơn" ở câu dưới. Ứng và đối trong
một bút pháp tuyệt vời, nói được cái tình tự đậm đà của khách phương xa đến và
đi, cùng tấm lòng đón và đưa của những gì ở đó.
Tống tàn sơn, đưa tiễn ngọn
núi tàn, ngọn núi trơ vơ. Thơ Đỗ Phủ có những câu:
Thặng thủy thương giang phá
Tân sơn kiệt thạch khai
Nước lũ sông đầy vỡ
Non trơ đá chởm lên
Thặng thủy tàn sơn tả cảnh
núi non không tề chỉnh; núi thì thấp xuống, nước thì tràn ra, chẳng hạn
Dấu vết của một thời chiến
quốc không thấy đâu đây nữa; nhưng người rong ruổi trên con đường qua đó vẫn
còn phải bươn bả.
Khách phương bắc mới tới, đã
tìm đến thưởng thức các lạ giữa những ngọn đá cheo leo;
Và từ đó, người đất Thục ở
đó sẽ hằng ngày đưa tiễn những ngọn núi trơ vơ kia.
Khi thì một mình len lỏi qua
con trăng mờ trong cảnh mông lung. Khi thì ngậm ngùi vượt qua dòng sông chảy xiết
giữa nước xanh mênh mang.
Càng về phía tây nam, phong
cảnh càng thay đổi dần.
Ở đó, hai bên đường có những
hàng tre thẳng tắp và những con nước dật dờ.
3.
Đá mòn phơi nẻo tà dương
Nằm nghe nước lũ khóc chừng
Cuộc Chơi
Nghìn năm vang một nỗi đời
Gió đưa cuộc Lữ lên lời Viễn
phương
Đan sa rã mộng Phi thường
Đào tiên trụi lá bên đường Từ
Sinh
Đồng hoang Mục tử Chung tình
Đăm chiêu dư ảnh nóc đình Hạc
khô
Tâm tình Hoài vọng của Lữ
khách y nhiên là tâm nguyện chí thành được khơi dậy từ những bước đường ngược
gió. Con đường của Lịch sử, của dòng sông trôi xuôi, và trôi ào ạt như nước lũ,
cuốn trôi tất cả những giấc mộng bình sinh. Đó là lịch sử của tử sinh trường mộng.
Trong cõi mộng đó, trên bước đường ngược gió của Lữ khách đó, nắng hiu hắt trổi
màu trầm tư tịch mặc giữa những tàn lụi, hoang phế, và băng hoại; là sự chung cục
của tất cả trong sự hủy diệt nồng nàn. Hơi thở mòn mỏi tiêu pha; Người đã lãng
phí trọn vẹn tinh thể của Người, để cho Thiên nhiên bày tỏ ân tình trơ trọi,
như viên sỏi bên đường lây lất với nắng và với gió. Nắng lên cùng với dấu hiệu
của hao mòn và sụp đổ. Gió lên cùng với những ước nguyện thiên thu phảng phất
ra ngoài khung trời Hoằng viễn và Tịch nhiên. Mộng Phi thuờng được ký thác
trong đan sa, trong dấu hiệu của trường sinh bất tử; nhưng đường Sinh tử đi
trong cõi Hoằng viễn Tịch nhiên, ấy thế mà không bao giờ dừng bước cho Lữ khách
một lần ngụ cư ở đó. Sống và chết vẫn như một nỗi đời hư huyễn, vẫn rầm rộ như
một cuộc chơi. Giữa khoảng đồng rộng, đồng trống, đồng không mông quạnh, Mục tử
đăm chiêu tư lự những chuyện đường đời và Lịch sử qua bóng dáng con Hạc gầy; rồi
tự hỏi: đâu là cõi Mộng Thiên Thu?
Năm đó, tân sửu (1061), ông
26 tuổi, làm kiểm phán tại phủ Phượng tường. Trong bài ký viết cho "Phượng
tường bát quan thi", những bài thơ về tám chỗ Ông đến thăm viếng tại phủ
Phượng tường, Ông, viết: "Phượng tường nằm nơi chỗ giao tiếp của đất
Tần và Yhục; các bậc sĩ đại phu, sớm chiều thường qua lại đó". Và đoạn trước
của bài ký, Ông viết: "Đấy là buồn cho đời, cảm khái cho tục, và tự thương
mình đã không thấy được người xưa mà lại muốn một lần xem thấy những di tích của
họ." Cái ý đó, được thấy hiện rõ nơi bài thơ dưới đây:
LÂU QUÁN
Môn tiền cổ kiệt ngọa tà
dương
Duyệt thế như lưu sự khả
thương
Bạch truật thùy triêu trù
táo hương
Văn đạo thần tiên diệc
tương quá
|
摟 觀
門 前 古 碣 臥 斜 陽
閲 世如流事可傷
長有幽人悲晉惠
強修遺廟學秦皇
丹砂久窖井水赤
白朮 誰 燒 廚 灶香
聞道神仙亦相過
只疑田叟是庚 桑
|
Lâu quán, gác của đạo
sĩ, tại phủ Phượng tường. Ông tự viết lời dẫn: "Tần Thủy Hàng lập miếu Lão
tử phía nam của quán. Tấn Huệ đế mới sửa lại quán này"
Ngọa tà dương; "Môn tiền
cổ kiệt ngọa tà dương", trước cửa quán, hòn đá chởm nằm trơ trong nắng chiều.
Có thể cùng bắt gặp một cảm hứng như vậy trong một bài từ của Ông,
làm theo điệu từ "Hoán khê sa" (Toàn mạt hồng trang khán sứ
quân), câu kết như vầy:
Đạo phùng túy tẩu ngọa tà
dương
Giữa đường, người ta gặp ông
cụ say năm trơ giữa nắng chiều. Có lẽ đó là cảnh khi ông bị đày ra ở Hải Nam.
Lúc đó đã già lắm rồi. Một già, một trẻ, cùng một quãng đời chìm nổi, cách xa
nhau, mà vẫn cùng một tiết điệu, một cảm hứng, một phong vận tài hoa kỳ lạ, giữa
những mòn mỏi tiêu dao của tuế nguyệt:
Đá mòn phơi nẻo tà dương.
Nằm nghe nước lũ khóc chừng
cuộc chơi
Trước cửa quán, hòn đá chởm
nằm trơ trong nắng chiều.
Ngắm sự đời, như nước chảy,
trôi đi và đi mất, thấy mà đau.
Cho đến nay vẫn còn có người
không thiết sự đời -- tức Ông -- ngậm ngùi cho Tấn Huệ đế -- mộng trường sinh
hóa thành bất đắc kỳ tử. Cũng có người vẫn còn bắt chước Tần Thủy Hoàng, gượng
sửa lại cái miếu hoang.
Đan sa ngày đó luyện thuật
trường sinh, nay không dùng nữa, chìm dưới giếng, làm đỏ cả nước giếng.
Bạch truật ngày đó, nay thấy
có người lấy làm nhang đốt trong bếp.
Nghe đâu thần tiên cũng thường
có giao thiệp với người đời. Vậy có lẽ cụ già cày ruộng kia chắc là lão
tiên Canh Tang Sở.
4.
VI TUYẾT HOÀI TỬ DO
(I)
Dĩ tác tiêu điều tuế mộ
tâm
Đoản nhật tống hàn châm xử
cấp
Sầu trường biệt hậu năng
tiêu tửu
Bạch phát thu lai dĩ thượng
trâm
Hốt tứ thặng truyền vấn
tây sâm
(2)
Vị thành báo quốc tàm thơ
kiếm
Khởi bất hoài qui úy hữu bằng
Quan xá độ thu kinh tuế
vãn
Tự lậu kiến tuyết dữ thùy
đăng
Xa mã xao môn định bất ưng
|
微雪怀子由
(1)
岐阳九月天微雪,
已作萧条岁暮心。
短日送寒砧杵急,
冷官无事屋庐深。
愁肠别后能消酒,
白发秋来已上簪。
近买貂裘堪出塞,
忽思乘传问西琛。
(2)
江上同舟诗满箧,
郑西分马涕垂膺。
未成报国惭书剑,
岂不怀归畏友朋。
官舍度秋惊岁晚,
寺楼见雪与谁登。
遥知读《易》东窗下,
车马敲门定不应。
|
Bây giờ là năm nhâm dần
(1060), Ông 27 tuổi, làm một chức quan nhỏ tại phủ Phượng Tường. Chức quan Ông
nhỏ, mà tài Ông cao, chí Ông lớn. Cho nên, người đời nói, trong hai bài thơ
này, tình tự Ông ẩn hiện những uẩn khúc, cũng khá kỳ lạ. Đó là tâm sự của tuổi
già với cái tuổi 27, thấy trong bài 1, các câu: từ 2-5; nhưng vẫn là phong vận
trẻ trung, thấy được nơi bài 1 trong câu 6. Bài 2 mới thật sự tỏ rõ cái cao
ngao và thị tài của tuổi trẻ.
Tháng 11 năm trước, Ông chia
tay Tử Do ở Trịnh Châu (thuộc tỉnh Hà Nam) để đi Phượng Tường; lúc chia tai
ngoài cửa Tây, ngồi trên ngựa, Ông làm thơ gởi lại Tử Do, với 4 câu cuối:
Hàn đặng tương đối ký trù
tích
Dạ vũ hà thời thinh tiêu sắt
Quân tri thử ý bất khả vong
Thận vật khổ ái cao quan chức.
Đại khái, hai anh em cùng
đang ngồi dưới ngọn đèn mờ nhạt mà tính nhẩm, biết bao giờ cùng ngồi nghe mưa
đêm tiêu sắt? và Ông dặn em đừng bao giờ quen ý đó, nên đừng bươn bả đuổi theo
chức quan cao.
Tháng 9, tại huyện Kỳ Dương,
trời đổ tuyết nhẹ;
Cũng đủ làm cho tâm tình
trong cảnh năm già trở nên vẻ xơ xác.
Ngày vắng, tiếng chày xua đuổi
cái lạnh nghe như vội vã.
Viên quan nhỏ, không việc
gì, ngồi trong nhà tranh hun hút
Gan ruột sầu héo có thể làm
tiêu tan được rượu,
Tóc trắng, mùa thu tới, đã
thấy như cài trâm.
Vừa mới bán chiếc áo lạnh
lông điêu, nên không dám đi chơi xa.
Bỗng nghĩ đến việc ruỗi xe
đi tìm cái lạnh.
Năm xưa, hai anh em cùng
dong thuyền, xách theo những túi thơ đầy
Năm ngoái, chia tay nhau rẽ
ngựa ngoài cửa tây Trịnh Châu, nước mắt ướt đẫm ngực.
Chưa làm nên sự nghiệp với đời
nên thẹn cùng sách và kiếm.
Há không mong trở về; nhưng
về lúc này hẳn là ngại với bạn bè.
Nhà quan qua mùa thu, kinh sợ
cho năm đã quá xế
Trên nóc chùa đã đầy tuyết,
nhưng không biết rủ ai cùng lên đó.
Tưởng chừng em hẳn ngồi đọc
kinh Dịch bên cửa sổ mái tây.
Lúc đó, dù xe ngựa có đến gõ
cửa, hẳn là không đáp lại.
5.
Cuối năm Nhâm Dần, bấy giờ
Ông đang công tác tại Kỳ Dương; lúc mọi người đang sửa soạn ngày tết, nhớ nhà,
Ông làm ba bài thơ gửi Tử Do: Quĩ tuế, Biệt tuế và Thủ tuế. Đây
trích một bài. Phong tuc ở đất Tây Thục, quê của ông, cuối năm người ta tặng đồ
ăn cho nhau gọi là “quĩ tuế”; mang rượu và thức ăn tặng nhau thì gọi là “biệt
tuế”; kể từ đêm trừ tịch cho đến rạng ngày nguyên đán mà không ngủ, gọi là “thủ
tuế”, thức đêm để canh chừng một năm cũ rắp qua và một năm mới sắp đến.
Thủ pháp già dặn và lời thơ
điềm đạm, tạo cho thành một khí vị rất cổ kính. Cái đó không những phản ảnh một
nỗi nhớ, hoài vọng quê hương, mà còn phản ảnh cái ray rứt kỳ lạ của ngày tháng
trôi đi biền biệt. Cảnh đưa đón cuối năm, coi cũng có vẻ tấp nập, nhưng không
che dấu nổi cái lạnh nhạt: nhà quan thì vắng bóng những người bạn cũ, mà làng
xóm thì nhộn nhịp chờ đón những ngày mới sẽ đến. Tình dù có, cũng bằng không. mấy
câu thơ cuối trong bài “Quĩ tuế”
Quan cư cố nhân thiểu
Lý hạng giai tiết quá
Diệc dục cử hương phong
Độc xướng vô nhân họa
Nhà quan người thưa bóng
Quê cũ tình dẫu đượm
Tình riêng nói với ai
Năm cũ sắp qua đi qua, như một
con rắn đang chui vào lỗ, làm sao bắt nó lại? Nắm lấy đuôi, cũng bằng vô dụng.
ngày tháng trôi đi như con rắn trườn đi; cái hoài vọng ở đó quả khắc nghiệt và
độc hại.
BIỆT TUẾ
Cố nhân thích thiên lý
Lâm biệt phượng trì trì
Nhân hành do khả phục
Tuế hành na khả truy
Văn tuế an sở chi
Viễn tại thiên nhất nha
Dĩ trục đông lưu thủy
Phó hải qui vô thì
Đông lân tửu sơ thục
Tây xá trệ diệc phì
Thả vị nhất nhật hoan
Ủy thử cùng niên bi
Vật sai cựu tuế biệt
Hành dữ tân niên từ
Khứ khứ vật hồi cố
Hoàn quân lão dữ suy
|
别岁
故人适千里,
临别尚迟迟。
人行犹可复,
岁行那可追。
问岁安所之,
远在天一涯。
已逐东流水,
赴海归无时。
东邻酒初熟,
西舍彘亦肥。
且为一日欢,
慰此穷年悲。
勿嗟旧岁别,
行与新岁辞。
去去勿回顾,
还君老与衰。
|
Cố nhân lên đường đi xa
Lúc chia tay vẫn còn bịn rịn
Người đi còn mong có ngày trở
lại;
Năm tháng ra đi, làm sao đuổi
theo kịp?
Hỏi thử, “năm” đi đâu?
Đi xa đến một ven trời nào?
Hay đã theo dòng nước chảy
xuôi về đông,
Đổ vào biển và không bao giờ
trở lại?
Xóm đông, rượu vừa chín;
Nhà mé tây, lợn nái cũng vừa
mập thêm ra
Hãy cứ vui cho hết trọn một
ngày
Để bù lại trọn một năm đầy sầu
héo.
Đừng quên giã từ một năm cũ,
Và hãy để cho năm cũ giã từ
năm mới.
Bảo nó hãy đi đi,
Đừng có quay đầu lại.
Gởi trả lại nó tuổi già và sức
yếu kém.
6.
|
Điểu thảo viên hô trú bế
môn
Bạch hạc lai thời phỏng tử
tôn
Sơn cận sóc phong xuy tích
tuyết
Thiên hàn lạc nhật đạm cô
thôn
Đạo nhân ưng quái du nhân
chúng
Cấp tận giai tiền tỉnh thủy
hồn
|
摟 觀
鳥 噪 猿 呼 晝 閉 門 ,
寂 寥 誰 識 古 皇 尊 。
青 牛 久 已 辭 轅 軛 ,
白 鶴 時 來 訪 子 孫 。
山 近 朔 風 吹 積 雪 ,
天 寒 落 日 淡 孤 村 。
道 人 應 怪 遊 人 眾 ,
汲 盡 階 前 井 水 渾 。
|
Ông tự dẫn: “Từ Thanh Bình
trấn, chơi tại các nơi: Lâu quán, Ngũ quận, Đại tần, Diên sinh, Tiên du. Vừa đi
vừa về hết 4 ngày, làm được 11 bài thơ gửi xá đệ Tử Do”
Khí vị của thơ là hoài cổ,
phảng phất âm hưởng thời Đường; đặc biệt là nơi hai câu 5-6.
Chim gào vượn hú; ban ngày vẫn
đóng cửa.
Đìu hiu vắng vẻ, ai biết
ngài Cổ hoàng tôn đi đâu?
Con trâu xanh của ngài, từ
lâu đã cởi bỏ cái ách, cái gọng;
Và bây giờ, con hạc trắng
bay đến hỏi thăm con cháu.
Núi gần đó, gió bấc thổi
tung những đống tuyết.
Trời lạnh, mặt trời ngã bóng
nhạt trên xóm vắng.
Có lẽ đạo nhân lấy làm lạ,
sao du khách đông thế!
Họ uống sạch hết cả một giếng
nước phía trước sân.
7.
|
Hải sơn vô sự tác cầm công
Bất đãi truyền kinh ý dĩ
không
|
授 經臺
剑舞有神通草聖,
海山無事化琴工
此台一览秦川小
不待傳 經 意已空
|
Những ngọn cỏ với dáng dấp
cao kỳ như Thánh, khi đong đưa, trông như những ngọn thần kiếm đang vũ lộng.
Núi và sông, nhàn rỗi vô sự,
tự nhiên trở thành những tay thợ đàn.
Không phải đợi nghe được lời
kinh, mà ý đã là không.
8.
THIỀN THƯỢNG TIỂU THI
Oa minh thanh thảo bạc
Thiền tháo thùy dương phố
Ngô hành diệc ngẫu nhiên
Cập thử tân quá vũ
|
船 上小 詩
蛙 鳴 青 草 泊 ,
蟬 噪 垂 楊 浦 。
吾 行 亦 偶 然 ,
及 此 新 過 雨 。
|
Ếch kêu bên thanh thảo
Ve khóc bãi thùy dương
Ta đi cùng ngẫu nhĩ
Đến đó mưa qua đường.
[1] TẤN
HUỆ Tấn Huệ đế, làm vua từ 290 -300, bị đầu độc mà chết. Sửa miếu lão Tử,
là cốt ý muốn tìm học phép trường sinh. Rồi trường sinh và bất đắc kỳ tử: nghìn
năm vẫn một nỗi đời
[2] TẦN
HOÀNG Tần Thủy Hoàng, mộ phép trường sinh của Đạo gia. Nghe đồi ngoài khơi Đông
hải có đảo Bồnt Lai của tiên, có thuốc trường sinh; cho đóng thuyền và sai bọn
An Kỳ Sinh đi kiếm. Nhưng họ đi không về. Và cơ nghiệp đế vương của Tần Thủy
hoàng cũng không lâu.
[4] CANH
TANG. Canh Tang Sở, được nói đến trong thiên “Canh Tang Sở”. Nam hoa kinh của
Trang Tử; ông là đệ tử đắc đạo của Lão Tử
[5] KỲ
DƯƠNG, tên huyện ở phía đông huyện Phượng Tường. Ngày 20 tháng 9 năm Nhâm Dần,
trời đổ tuyết nhẹ. Ông nhớ Tử Do, làm thơ
[6] ỐC
LÔ THÂM, nhà tranh hun hút. Kỷ Hiểu Lam phê: ba chữ đó (tuyền thần). Ở đây bóng
dáng Ông ẩn hiện trong cái không khí u trầm, phảng phất tâm trạng mùa thu
tóc trắng. trời lạnh, tiếng chày nghe như rộn rã, gấp rút, xua đuổi cái lạnh đi
xa.
[7] ĐIÊU
CỪU, Áo lạnh làm bằng lông con điêu. Tử điểu Thiều Chữu: Điêu là một loài chuột
to như con rái cá, đuôi to lông rậm dài hơn một tấc, sắc vàng và đen,
sinh ở xứ rét, da nó làm áo mặc rất ấm, nên rất quí báu.
[10] ĐÔNG
SONG ĐỘC DỊCH: ngồi đọc kinh Dịch ở cánh cửa sổ dưới mái đông. Chỗ đó tỏ ý chờ
đợi, và đọc Dịch tỏ chí lớn. Ở đây chỉ việc đang hoài bão chí lớn (Quản Ninh và
Hoa Hâm cùng ngồi đọc sách. Xe ngựa đi ngang trước cửa, Hoa Hâm bỏ sách chạy ra
xem. Từ đó Quản Ninh xẻ chiếu, dứt tình bạn vĩnh viễn)
[12] Cổ
hoàng tôn, chỉ Lão Tử (của Đạo gia). Ba chữ này làm cho cả bài thơ có tiết điệu
và phong vận tiêu sái riêng của Ông.
[13] Thanh
ngưu, con trâu xanh. Tương truyền Lão Tử cưỡi con trâu xanh ra quan ngoại, sau
khi viết để lại bộ “Đạo đức kinh” rồi đi mất.
[14] THỌ
KINH ĐÀI, đài trao kinh. Ông tự chú: “Đó là một ngọn núi trong dãy Nam sơn chứ
không phải là một cái đài được dựng lên”
[15] Thảo
thánh, Thánh cỏ hay cỏ thánh; mô tả những ngọn cỏ đong đưa theo gió một cách
tuyệt diệu. Nhưng cũng chính từ cái Thảo thánh này làm cho bài thơ trầm
trọng ra.


















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét