Tô Đông Pha - Những phương trời viễn mộng 2
IV. TRỜI TRĂNG SAO IN MỘNG
TRIỆU SÔNG HỒ (1086-1093)
II.
LỜI DẪN
Trời mùa Thu, là trời cho nỗi
sầu Riêng Biệt của Thơ. Trời Thu thuờng quạnh ráo, nen cao vọi không cùng. Càng
cao, càng trong, càng tĩnh lặng trong điệu buồn thiên cổ. Cũng ở chỗ đó mà trời
Thu đẹp với cốt các diễm lệ kiêu kỳ. Diễm lệ kiêu kỳ như Nàng Tây Tử.
Tuy nhiên, trời Thu cũng thường
có mưa gió, cũng có mùa nước lũ. Vậy thì, buồn tĩnh lặng của vòm trời nhưng
cũng là nỗi buồn xôn xao của mặt đất. Tây Hồ và Tây Tử, hoặc xôn xao với mưa
gió và xiêm y; hay tư lự khi quạnh ráo hay lột hết trang phục , nét thanh tân
tú lệ vẫn là cốt cách tài hoa:
Dục bả Tây Hồ tỉ Tây Tử
Đạm trang nùng diễm tổng
tương nghi
Trong ngọn gió thu, bàng bạc
có những cuộc giao tình. Tình của Thiên nhiên bủa rộng bao la và tình của những
tao nhân tri ngộ. Ở đây Lịch sử hoá thân nơi mùa thu và tóc trắng. Cuộc lịch
nghiệm nghe ra những thống thiết nguyên sơ.
I.
Mắt người mang cả quê hương
Lòng ta mang cả đoạn trường
tháng năm
(HOÀI KHANH)
Năm Hi ninh thứ 5, nhâm tý
(1072), Ông 37 tuổi, bấy giờ ra giữ chức thông phán tại Hàng châu. Trước đó,
năm ất tỵ (1065), Ông được triệu về kinh sư, làm việc tại sử quán. Cho đến năm
36 tuổi, tân hợi (1071), lúc đang giữ chức Giám quan cáo viện; nhân việc Vương
An Thạch muốn sửa đổi thể lệ thi cử, Thần tông đưa ra cho Lưỡng chế và Tam quán
nghị sự. ông dâng lên Thần tông ba điểm, khiến đảng Vương An Thạch bất mãn, nên
tìm cớ vu tấu những lỗi lầm của Ông. Ông không một lời biện hộ, xin đi ngoại
nhiệm để tránh. Do đó được cử đi làm thông phán tại Hàng châu. Lúc mới đến được
hàng châu, Ông làm hai bài thơ tuyệt cú gửi Tử Do, lời co 1 đôi chút than trách
pha lẫn vẻ tràolộng. Đại để như 2 câu:
Thánh triều khoan đại hứa
toàn thân
Suy bịnh tồi đồi tự ý nhân
Ông nói đến bịnh hoạn của
mình và làm như có vẻ sợ thiên hạ
Những bài thơ Ông làm kể từ
năm 36 tuổi về sau, phong vận không thay đổi, nhưng tình tự hình như đã
biến cách rất nhiều. Rồi ta sẽ thấy, càng già dặn phong trần, tình quê hương của
Ông càng thắm thiết. Thơ Ông như là những đồng vọng từ phương trời diệu vợi vủa
quê hương. Đó là một thứ tình cảm hoài vọng thoạt trông có vẻ dung dị, bình thường,
nhưng cảng đọc thơ Ông, càng thấy cái tình đó mở ra một trời thơ bát ngát
Văn Trưởng lão, một nhà sư đồng
hương với Ông, hình như là hiện thân cụ thể của một cõi nào đó trong thơ Ông.
Cho nên, những bài thơ Ông làm tặng nhà sư này đều từ một cảm hứng tự nhiên và
rất bình thường, nhưng cũng từ đó, thơ bỗng chuyển thành âm hưởng kỳ lạ, vọng tới
một khát vọng u trầm nào đó. Cõi thơ có thể là nơi trường mộng của đêm dài sinh
tử, mà cũng chính ở đó là cõi Hư Không tịch mặc, với một màu xanh thẳm nhưng xa
xôi không cùng tận.
Ba bài thơ trích ở dưới đây,
Ông làm rải rác trong các thời gian khác nhau. Đọc chung một lần, sẽ thấy cốt
cách của Ông, và đó là cốt cách cho suốt cả thời gian Ông làm thông phán tại
Hàng châu.
Bài thứ nhất, sau khi đến
Hàng châu một năm, trên đường đi Nhuận châu, Ông ghé thăm. Sáu năm sau, Ông đến
thăm lần nữa, bấy giờ Văn trưởng lão bịnh. Mười năm sau, từ Hàn lâm học sĩ, Ông
ra làm thái thú Hàng Châu, bấy giờ Văn đã tịch
BÀI THỨ NHẤT
秀州報本禪院
鄉僧文長老方丈
HƯƠNG TĂNG VĂN TRƯỞNG LÃO
PHƯƠNG TRƯỢNG
Vạn lý gia sơn nhất
mộng trung
Sư dĩ vong ngôn chân hữu đạo
Ngã trừ sưu cú bách vô
công
|
萬里家山一夢中,
吳音漸已變兒童。
每逢蜀叟談終日,
便覺峨眉翠掃空。
師已忘言真有道,
我除搜句百無功。
明年採藥天台去,
更欲題詩滿浙東。
|
Quê hương diệu vợi tưởng chừng
như trong một giấc mộng.
Bấy giờ, giọng của ta đã dần
dần bập bẹ như giọng trẻ nít
Nhưng mỗi lần gặp cụ Thục
thì vẫn còn bàn bạc suốc cả một ngày.
Rồi bỗng thấy ra ngọn núi
Nga Mi xanh mướt quét bầu trời
Sư đã quên lời, quả tình là
sư đã có Đạo
Tôi thì ngoài việc tìm câu nối
chữ, hoàn toàn vô công.
Sang năm sẽ vào núi Thiên
thai hái thuốc để cầu Đạo
Những vẫn còn muốn đề thơ đầy
cả Triết đông
BÀI HAI:
DẠ CHÍ VĨNH LẠC VĂN TRƯỞNG
LÃO VIỆN
|
Lai đả tam canh nguyệt hạ
môn
Thử thân vị tử đắc trùng
luân
Lão phi hoài thổ tình
tương đắc
Bịnh bất khai đường đạo
ích tôn
Duy hữu cô thê cựu thời hạc
Cử đầu kiến khách tợ trường
ngôn
|
愁聞巴叟臥荒村,
來打三更月下門。
往事過年如昨日,
此身未死得重論。
老非懷土情相得,
病不開堂道益尊。
惟有孤棲舊時鶴,
舉頭見客似長言。
|
Ban đêm, Ông đến Vĩnh
Lạc, thăm Văn trưởng lão. Bấy giờ trưởng lão ngọa bịnh không tiếp khách. Ông
làm thơ tặng. Từ và ý của bài thơ cũng bình thường. Nhưng nếu đã đọc lại bài
thơ Ông tặng Văn trưởng lão ở trên, và sẽ đọc một bài khác sau này nữa, ta sẽ thấy
nơi Ông, tình thơ và tình quê hương là hai mối tình khắng khít. Tình quê hương
thì thấp thoáng như những bóng hình trong mộng. Tình thơ thì hiu hắt như đồng vọng
không lời của hư không.
Chừng đêm, hay cụ Ba thục ngọa
bịnh nơi xóm vắng;
Canh ba đến gõ cửa dưới
trăng
Chuyện qua năm trước, trông
như vừa hôm qua;
May nhờ cái thân này chưa chết
nên được cùng ngài chuyện trò nữa.
Cụ tuổi già mà không phải là
hạng bo bo (khép kín miệnt) cho nên tình lại càng tương đắc;
Nhưng lúc này cụ bịnh, không
khai đường, không tiếp khách hay giảng đạo, thì cái đạo của cụ lại càng thêm
cao. (Ông muốn nói, đến thăm, dù không được tiếp chuyện mà vẫn không có ý
trách).
Chỉ có con hạc tự năm nào vẫn
đứng lẻ loi ở đó.
Ngẩng đầu nhìn khách vẻ như
đã nói rất nhiều.
BÀI BA:
過 永 樂 文 長 老 已 卒
QUÁ VĨNH LẠC VĂN TRƯỞNG LÃO
DĨ TỐT
Sơ kinh hạc sấu bất khả thức
Tuyền giác vân qui vô xứ tầm
Tam quá môn gian lão bịnh
tử
Nhất đàn chỉ khoảnh khứ
lai kim
Tồn vong quân kiến hồn vô
lệ
|
初 驚 鶴 瘦 不 可 識
旋 覺 雲 歸 無 處 尋
三 過 門 間 老 病 死 一 彈 指 頃 去 來 今
存 亡 慣 見 渾 無 淚
鄉 井 難 忘 尚 有 心
欲 向 錢 塘 訪 圓 澤
葛 洪 川 畔 待 秋 深
|
Ban đầu, sửng sốt vì cánh hạc
đã hao gầy mà không hay.
Nhưng vừa tỉnh cơn sửng sốt,
thì cụm mây trời đã bay về nơi không vết tích.
Người đời có ba cửa ải: già,
bịnh và chế (mà ngài đã đi qua hết cả ba).
Cuộc đời thoảng trong một
cái búng tay là đủ cả cái đã qua, cái đang đó và cái sẽ đến (bây giờ ngài trong
một thoáng đó mà đã là thiên thu)
Nhưng cái tình hương lý khó
nguôi được trong lòng.
Tôi muốn đến Tiền đường hỏi
thăm Viên Trạch.
Tiên Cát Hồng đứng bên bờ suối
đợi cái thu già.
2.
湖上飲
HỒ THƯỢNG ẨM
(I)
Triêu hi nghinh khách diễm
trùng cương
Vãn vũ lưu nhân nhập túy
hương
Thử ú tự giai quân bất hội
|
朝曦迎客艷重岡
晚 雨留人入醉鄉
此意自佳君不會
一杯當屬水仙
|
(II)
Thủy quang liễm diễm tình
phương hảo
Sơn sắc không mông vũ diệc
kỳ
Đạm trang nùng mạt tổng
tương nghi.
|
水光瀲灩晴方好
山色空濛雨亦奇
欲把西湖比西子
淡妝濃抹總相宜
|
Nguyên đề: “Ẩm Hồ thượng
sơ tình hậu vũ nhị thủ”. Uống rượu trên tây hồ, vừa tạnh sau cơn mưa, 2 bài.
Bút pháp trong bài vô cùng độc
đáo, nên thường được truyền tụng. Khi trời mưa, hồ được bao phủ trong lớp bụi mờ
như nàng Tây Thi khoác lên mình lớp áo lụa mỏng. Lúc trời tạnh ráo, cảnh hồ lộ
liễu như nàng Tây Thi đẹp với vẻ trong ngọc trăng ngà. Có thể thấy cái tài hoa
lãng mạn của Ông trong lối thơ ngoạn cảnh như bài này.
(Bài I)
Nắng mai đón khách rải vẻ
tươi thắm trên những sườn núi chập chùng
Buổi chiều, cơn mưa cầm chân
khách, rồi đưa khách vào làng say
Tình ý đó bộc lộ một cách nồng
nàn mà tự nhiên cho những người ngoạn cảnh.
Vậy hãy nâng một chén mời
ngài Thủy tiên vương.
(Bài II)
Mặt nước sáng lóng lánh, mưa
vừa tạnh trông càng đẹp
Sắc núi quạnh ráo, mưa lại
càng làm cho trông lạ ra.
Có thể đem Tây hồ mà sánh với
nàng Tây Tử
Dù trang điểm sơ sài, hay rửa
sạch hết phấn son, cả hai đều diễm lệ
3
DU TÂY BỒ ĐỀ TỰ
Lộ chuyển sơn yêu vị túc
di
Thủy thanh thạch sấu tiện
năng ký
Bạch vân tự chiếm đông tây
lãnh
Minh nguyệt thùy phân thượng
hạ trì
Hắc tất hoàng lương sơ thục
hậu
Chu cam lục quất bán kiềm
thì
Nhân sinh thử lạc tu thiên
phó
Mạc khiến nhi lang thủ thứ
tri
|
遊西菩寺
路转山腰足未移
水清石瘦便能奇
白雲自占东西嶺
明月谁分上下池
黑黍黄粟初熟候
朱柑绿橘半甜時
人生此樂须天付
莫遣兒曹取次知
|
Kỷ Hiểu Lam, nhà bình thơ
Đông Pha khá nổi tiếng, nói, nội một bài này đã đủ mở ra thì phái Kiếm nam.
Kiếm nam là đất Tứ xuyên,
phong thổ đó đã lôi cuốn được tay thi bá một thời: Tống Lục Du. Rồi tên đó trở
thành tập sách bất hủ của Lục Du.
Niên hiệu Hi ninh thứ 7
(1074), theo lời chú của ông, ngày 27 tháng 8, ông cùng Mao Quan Bảo và Úy
Phương Quân Vũ đi chơi ở Minh Trí viện trên núi Tây bồ; tương truyền thơ đề khắc
vào đá nay vẫn còn (?). Chùa Tây bồ (đề) cách huyện Tiềm (?) 25 dặm.
Bài thơ tả những phong thổ
và nhân tình. Cảnh trí thơ mộng với những con đường uốn lượn quanh co qua eo
núi, với những dòng nước trong, những tảng đá gầy ngộ nghĩnh, những cánh đồng nức
mùi lúa chín, những khu vườn đầy cam quít. Không cần ngụ tình mà tình vẫn đẹp,
đó cũng là chỗ độc đáo trong lối thơ ngoạn cảnh của Ông.
Dịch nghĩa. _ Đường đã chuyển
quanh eo núi mà chân chưa dời bước.
Mây trắng chiếm trọn một giải
từ ngọn núi đông sang tây.
Trăng sáng, như chia ao ra
làm trên và dưới.
Lúa hắc thử, thóc hoàng
lương vừa đến độ chín
Cam đỏ quít xanh đang nửa
mùa ngọt
Cái vui đó của cuộc nhân
sinh phải nói là của trời cho.
Đừng để lại cho con cháu coi
thường điều ấy. (Có lẽ ông ngụ ý chê tân pháp của Vương An Thạch; cái thanh bình
giả tạo của người không sao hơn nổi cái vui có sẵn của trời cho)
4.
Những bài thơ cảm hứng từ nhạc,
ít khi được phô diễn trực tiếp. Âm thanh phát ra từ cung bậc của nhạc, vượt ra
ngoài sự rung động bình thường; nó rung từ một chiều sâu bất tận. Do đó, tiếng
nhạc khi kích động dòng cảm hứng của thơ, không còn là những tiếng có thể nghe
bằng lỗ tai. Các thi sĩ Trung Hoa cũng thường làm các bài thơ gợi hứng từ nhạc,
mà được truyền tụng nhiều nhất có lẽ là bài “Cầm sắt” của Lý Thương Ẩn, với các
câu độc đáo:
Trang Chu hiểu mộng mê hồ điệp
Vọng đế xuân tâm thác đỗ
quyên
Thương hải nguyệt minh châu
hữu lệ
Lam điền nhật noãn ngọc sinh
yên.
Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Ấy là hồ điệp hay là Trang
sinh
Khúc đâu êm ái xuân tình
Ấy hồn Thục đế hay mình Đỗ
quyên
Trong sao châu dọ duềnh
quyên
Ấm sao hạt ngọc Lam điền mới
đông
Một bài khác của Lý Hạ với
những âm hưởng kỳ dị: Nghe Lý Bằng đàn Không hầu. Đàn này là một loại nhạc khí
được chế từ đời Hán, có gốc ở rợ Hồ; hình gãy và dài, có 23 dây. Lý Bằng là tay
đàn trong đám nhạc công của Đường Huyền Tôn. Những câu tiêu biểu trong bài thơ
này của Lý Hạ:
Côn sơn ngọc toái, phượng
hoàng khiếu
Phù dung khấp lộ, hương lan
tiếu
Thập nhị môn tiền dung lãnh
quang
Nhị thập tam ty động Tử
hoàng
Nữ Oa luyện thạch bổ thiên xứ
Thạch phá thiên kinh đậu thu
vũ
(…..)
Lộ cước tà phi thấp hàn thố
Tiếng đàn như tiếng ngọc rạn
vỡ trên Côn sơn, quê hương của các loại ngọc. Tiếng đàn như tiếng phượng hoàng
réo rắt. Long lanh như phù dung khóc sương sớm. Như hương lan vừa hé nụ. Mười
hai cổng thành Trường an như đẫm ánh sáng mờ lạnh lẽo. Hai mươi ba sợi tơ đàn
ngân tiếng vang dội đến chín cung trời. Chỗ Nữ Oa luyện đá vá trời, tiếng đàn
nghe đá vỡ, trời rung, tuôn mưa thu xuống…. Tiếng đàn như sương mù lảng vảng dưới
chân; như sương mù đẫm ướt vầng trăng lạnh.
Nhạc mà nghe đến chỗ đó là
đã đến mức thượng thừa. Nhưng vì lời thơ không nói thẳng vào lời nhạc được, mà
luôn luôn phải thác lời vào những cái không phải là nhạc, cho nên, dễ trở thành
sáo.
Một bài thơ khác của ông, gợi
hứng từ cuộc nghe đàn tranh tại chùa Cam lộ, cũng chỉ phô diễn gián tiếp cảm hứng
về nhạc:
Giang phi xuất thính vụ vũ sầu
Bạch lãng phiên không động
phù ngọc
Hoán thủ ngô gia song phượng
tào
Khiển tác Tam giáp cô viên
hào
Ở đây, tiếng nhạc lên khơi
vơi cho bầu trời như thu mình trong lớp bụi mưa mù. Từng tiếng nhạc bềnh bồng
như từng hạt ngọc lóng lánh trên lớp sóng. Đôi cánh phượng múa, và con vượn lẻ
loi kêu gào giữa sườn núi vắng.
Chỗ tận cùng của nhạc là những
đồng vọng không lời, mà lời thơ lại cảm hứng từ đồng vọng đó; nghe đã khó mà
nghe qua lời thơ lại càng khó.
Bài thơ của ông được trích
dưới đây cũng nằm trong chỗ khó này. Nó chỉ nói cái cảnh chung quanh chỗ tấu nhạc,
mà không nói thẳng tiếng nhạc. Nhưng nghe được từ chỗ đó, thì thấy tình tự tài
hoa của ông. Dĩ nhiên, không thể bàn cho thấu đáo nổi. Trừ phi muốn nói lai rai
mà chơi.
THÍNH HIỀN SƯ CẦM
Đại huyền xuân ôn hòa thả
bình
Tiểu huyền liêm chiết lượng
dĩ thanh
Bình sinh vị thức cung dữ
giốc
Đản văn ngưu minh ảnh
trung
Trĩ đang mộc môn tiền bác
trác
Thùy khấu môn sơn tăng vị
nhàn
Quân vật sân
Qui gia thả mịch thiên hộc
thủy
Tịnh tẩy tùng lai tranh địch
nhĩ
|
聽賢師琴
大 絃 春 溫 和 且 平
小 絃 廉 折 亮 以 清
平 生 未 識 宮 與 角
但 聞 牛 鳴 盎 中
雉 登 木 門 前 剝啄
誰 叩 門 山 僧 未 閑
君 勿 嗔
歸 家 且 覓 千 斛 水
淨 洗 從 前 箏 笛 耳
|
Sư Hiền là ai thì không rõ,
nhưng tài chơi đàn của sư có lẽ khá tuyệt vời. Nghe sư đàn, ông có cảm tưởng những
tiếng nhạc được nghe trước đây chỉ như tiếng trâu rống trong ảng sành hay tiếng
chim sẻ mổ cánh cửa gỗ; rửa sach cái lỗ tai đó, cũng phải mất hết hằng nghìn
thùng nước.
Giây lớn tỏa hơi ấm mùa
xuân, vừa thong thả vừa nhịp nhàng.
Giây nhỏ nghe thanh thót,
gãy gọn, mà trong sáng
Bình sinh, tôi chưa biết cung
và giốc là gì
Chỉ nghe tiếng trâu rống
trong ảng sành
Hoặc con chim sẻ đậu trước cửa
gỗ, mổ và rỉa
Rồi có ai đến gõ cửa, thầy
không còn rảnh nữa
Ngài đừng giận!
Về nhà, hãy kiếm một nghìn
thùng nước,
Rửa sạch cái lỗ tai vướng những
tiếng tranh tiếng sáo trước kia.
5.
HỌA TỬ DO TỐNG XUÂN
子由送椿
Mộng lý thanh xuân khả đắc
truy
Dục tương thi cú bạn dư
huy
Tửu lan bịnh khách duy tư
thụy
Mật thục hoàng phong diệc
lại phi
Thược dược anh đào cu tảo
địa
Bính ti thiền sắp tưỡng
vong ki
Bằng quân tá thủ pháp giới
quán
Nhất tẩy nhân gian vạn sự
phi
|
夢裏青春可得追
欲將詩句絆餘暉
酒闌病客惟思睡
蜜熟黃蜂亦懶飛
芍葯櫻桃俱掃地
鬢絲禪榻兩忘機
憑君借取 法界觀
一洗人間萬事非
|
Bài họa thơ Tống xuân của Tử
Do
Bấy giờ là cuối mùa xuân năm
ất mão (1075), Ông 40 tuổi, đã đổi sang làm quan ở Mật chây. Bài trích là một
trong bốn bài họa gởi cho Tử Do. Ông với Tử Do, ngoài tình anh em, còn có mối
giao tình thi tứ rất đậm đà, nên những bài thơ qua lại mang nỗi ngậm ngùi khôn
tả.
Trong thời này, Ông phải ra
đi một cách bất đắc dĩ, để tránh tai họa; ẩn tình đó còn thấy rõ ở bài khác: vị
ưng hồi thủ yểm lung tù, chưa dám quay đầu, vì còn sợ tù đày giam hãm.
Suốt tám năm đi thông thú
các nơi: Hàng châu, Mật châu, rồi Từ châu, thơ Ông phần nhiều bị gò bó, rất ít
bài có phong vận tài hoa cố hữu. Những bài thơ làm để thù tạc thì không đáng kể.
Chúng vẫn hay về âm vận thanh tao, bút pháp điêu luyện, nhưng vẫn chỉ là thù tạc.
Những bài khác, thường vương cái sầu héo, hiu hắt, của một người lữ khách bất đắc
dĩ:
Thanh xuân thấp thoáng mộng
dài
Muốn đem thi tứ dệt lời tà
huy
Tuổi thanh xuân chỉ còn tìm
thấy thấp thoáng trong giấc mộng.
Nên chỉ muốn mượn câu thơ kết
dệt cái ánh tà huy còn sót lại của một đời người.
Rượu đã tàn, người mệt mỏi,
chỉ tưởng đến giấc ngủ cho xong.
Mật đã chín, mà con ong vàng
lại biếng bay.
Thược dược và anh đào rải đầy
mặt đất.
Mái tóc bạc trắng và chiếc
giường thiền, cả hai cùng lỡ cả.
Chi bằng mượn môn Pháp giới
quán của nhà Phật,
Để một lần rửa sách hết vạn
sự trong nhân gian, tất cả là không cả.
8.
Năm đinh tị (1077), Ông 44
tuổi, từ Mật châu đổi sang Hà trung phủ, rồi đến tháng 4 năm đó lại đổi sang Từ
châu. Trước khi đi, ông làm bài thơ lưu biệt này:
LƯU BIỆT THÍCH CA VIỆN
Xuân phong tiểu việc khước
lai thì
Bích gian duy kiến sứ quân
thi
Ưng vấn sứ quân hà xứ khứ
Bằng hoa thuyết dữ xuân
phong tri
Niên niên tuế tuế hà cùng
dĩ
Hoa tợ kim niên nhân lão hỉ
Khứ niên Thôi Hộ khước
trùng lai
Tiền độ Lưu Lang tại thiên
lý
|
留別釋迦院
春 風 小 院 卻 來 時
壁 間 惟 見 使 君 詩
應 問 使 君 何 處 去
憑 花 說 與 春 風 知
年 年 歲 歲 何 窮 已
花 似 今 年 人 老 喜
去 年 崔 護 若 重 來
前 度 劉 郎 在 千 里
|
Nếu ngọn gió mùa xuân đi tới
nơi chùa nhỏ,
Hẳn là chỉ thấy bài thơ của
sứ quân đề trên vắc.
Có lẽ sẽ hỏi sứ quân đi đâu
Nhờ hoa nói cho ngọn gió biết
Năm này rồi năm khác, bao giờ
cùng tận nổi;
Nhưng hoa vẫn còn như là hoa
năm nay,
Mà người thì đã cằn cỗi ra rồi.
Nếu chàng Thôi Hộ năm xưa có
trở lại lần nữa,
Thì chàng Lưu đã đi ngoài xa
diệu vợi
Từ đầu đến cuối, ông hoàn
toàn mượn ý cổ nhân. Nhưng vẫn giữ được bản sắc. So hai câu 5 và 6 của ông với
hai câu Lưu Hi Di đời Đường:
Niên niên tuế tuế hoa tương
tợ
Trong hai câu của Lưu Hi Di,
những điệp ngữ muốn bắt theo cái nhịp vận hành, đi và đến rồi đi của tuế nguyệt,
cùng cái đi mất của tuổi người. Nhưng lời còn pha nhiều vẻ tục.
Ông cũng dùng các điệp ngữ
đó, nhưng cốt cách của chúng, cứ so lại sẽ thấy. Đem tài hoa mà trộn vào tục,
thì cái tục trở thành thanh tao kỳ lạ!
9
ĐỘC MẠNH GIAO THI
(I)
Dạ độc Mạnh Giao thi
Tế tự như ngưu mao
Hàn đăng chiếu hôn hoa
Giai xứ nhất thời tao
Thủy thanh thạch tạc tạc
Thoan kích bất thọ cao
Sơ như thực tiểu ngư
Sở đắc bất thường lao
Cánh nhật trì không ngao
Yếu đương đấu Tăng thanh
Vị túc đường Hàn hào
Nhân sinh như triêu lộ
Nhật dạ hỏa tiêu cao
Hà khổ tương lưỡng nhĩ
Thính thử hàn trùng hào
Bất như thả trí chi
Ẩm ngã ngọc sắc giao.
(II)
Ngã tắng Mạnh Giao thi
Phục tác Mạnh Giao ngữ
Cơ trường tự minh hoán
Không bích chuyển cơ thử
Thì tùng phế phủ xuất
Xuất triếp sầu phế phủ
Hữu như Hoàng hà ngư
Xuất cao dĩ tự chử
Bỉ lý phả cận cổ
Đào cung xạ áp bãi
Bất ưu đạp thuyền phiên
Ngô cơ sương tuyết bạch
Xích cước hoán bạch trữ
Giá dữ đạp lãng nhi
Bất thức li biệt khổ
Ca quân giang hồ khúc
Cảm ngã trường cơ lữ
|
夜讀 孟 郊 詩
細字 如 牛 毛
寒燈 照 昏 花
佳處一時 遭
孤 芳 擢 荒 穢
苦 語 餘 詩 騷
水 清 石 鑿 鑿
湍 激 不 受 篙
初 如 食 小 魚
所 得 不 償 勞
又 似 煮 彭 蚎
竟 日 持 空 螯
要 當 鬥 僧 清
未 足 當 韓 豪
人 生 如 朝 露
日 夜 火 消 膏
何 苦 將 兩 耳
聽 此 寒 蟲 號
不 如 且 置 之
飲 我 玉 色 醪
(II)
我 憎 孟 郊 詩
復 作 孟 郊 語
飢 腸 自 鳴 喚
空 壁 轉 飢 鼠
詩 從 肺 腑 出
出 輒 愁 肺 腑
有 如 黃 河 魚
出 膏 以 自 煮
尚 愛 銅 斗 歌
鄙 俚 頗 近 古
桃 弓 射 鴨 罷
獨 速 短 蓑 舞
不 憂 踏 船 翻
踏 浪 不 踏 土
吳 姬 霜 雪 白
赤 腳 浣 白 紵
嫁 與 踏 浪 兒
不 識 離 別 苦
歌 君 江 湖 曲
感 我 長 羈 旅 。
|
Mạnh Giao, tự Đông Dã
(751-814), người Lạc dương, ẩn cư Tung sơn, gần 50 tuổi mới đến Trường An thi
tiến sĩ. Năm Trinh nguyên 12 (795), đậu tiến sĩ; năm sau được tuyển ra làm
Phiêu dương úy. Tính cô độc đơn bạc; thơ thì khúc mắc, khắc khổ, bài nào cũng
trầm buồn cùng độ; chúng như ẩn khuất một tâm sự nào đó mà lời không nói hết.
Hàn Dũ rất thích thơ ông, kết bạn rất thân thiết. Mất năm 64 tuổi.
Hai bài trích ở trên, Đông
Pha làm theo lối thơ khúc mắc của Mạnh Giao, gọi là thể thơ Đông dã. Kỷ Hiểu
Lam phê rằng, thể đó, dù Hàn Dũ và Phàn Tông Sư đời Đường rất thích, nhưng chưa
chắc đã làm nổi. Những Đông Pha cậy cái hùng tài quán triệt của mình nên không
ngại.
Lối thơ này không cần giàu
âm vận như các bài luật thi. Hai bài của Đông Pha rất giàu hình ảnh, mà hình ảnh
nào cũng độc đáo, được gói trong các tiết nhịp khúc mắc, rất trầm buồn. Buồn một
cách cô đơn kỳ lạ.
(I)
Đêm đọc thơ Mạnh Giao
Chữ nhỏ như lông trâu
Đèn nhạt rọi hoa tối
Cái hay lại gặp nhau
Khơi vơi giủ cấu bợn
Khúc mắc thơ héo sầu
Nước trong đá vằng vặc
Bọt xoáy không chịu sào
Mới như ăn cá nhỏ
Cái được chẳng thấm đâu
Lại như bắt còng nấu
Trọn ngày ôm cua sao?
Có thể đọ Tăng thanh
Chưa thể đọ Hàn hào
Đời người như sương sớm
Sáng tối lửa cạn dầu
Sao khổ hai tai vễnh
Nghe sâu lạnh lẽo kêu?
Chi bằng bỏ quách đi
(II)
Ta ghét thơ Mạnh Giao
Lại làm thể Đông dã
Bụng đói sôi sục reo
Chuột đói lần vách đá
Thơ từ phế phủ ra
Lại gây sầu phế phủ
Tựa như cá Hoàng hà
Phun dầu tự nấu nó
Còn ham đồng đấu ca
Quê kệch mường tượng cổ
Cung đào bắn con vịt
Lênh đênh múa áo lá
Không sợ đạp lệch thuyền
Đạp sóng chê đất thó
Vợ tớ sương tuyết trắng
Chân trần giặt vải lụa
Làm vợ gã rong chơi
Không màng li biệt khổ
Hát khúc chàng giang hồ
Rầu ta mãi cô lữ
10
|
Đạo nhân hung trung thủy
kính thanh
Vạn tượng khởi diệt vô đào
hình
Độc y cổ tự chủng thu cúc
Yến bạn tao nhân xan lạc
anh
Nhân gian để xứ hữu nam bắc
Phân phân hồng nhạn hà tằng
minh
Bế môn tọa huyệt nhất thiền
sáp
Đầu thượng tuế nguyệt
không tranh vanh
Kim nhật ngẫu xuất vị cầu
pháp
Dục dữ tuệ kiếm gia long
hình
Vân nam tân ma sơn thủy xuất
Sương tì bất tiển nhi đồng
kinh
Công hầu dục thức bất khả
đắc
Cố tri ỷ thị vô khuynh
thành
Thu phong xuy mộng quá
Hoài thủy
Tưởng kiến quật dữu thùy
không đình
Cố nhân các tại thiên nhất
giác
Tương vọng lạc lạc như thần
tinh
Bành thành lão thú hà túc
cố
Táo lâm tang dã tương yêu
nghinh
Thiên sơn bất đạn hoang điếm
viễn
Lưỡng cước dục sấn như nhu
khinh
Đa sinh ỷ ngữ ma bất tận
Thượng hữu uyển chuyển thi
nhân tình
Viên ngâm hạc lệ bản vô ý
Bất tri hạ hữu hành nhân
hành
Không giai dạ vũ tự thanh
tuyệt
Thùy sử yểm ức đề cô quỳnh
Ngã dục tiên sơn chuyết
dao thảo
Khuynh khuông tọa thán hà
thời doanh
Bạc thơ tiên phố tận điền ủy
Chử minh thiêu lật nghi
tiêu chinh
Khất thủ ma ni chiếu trược
thủy
Cọng khan lạc nguyệt kim bồn
doanh
|
次韻僧潛見贈
道 人 胸 中 水 鏡 清
萬 象 起 滅 無 逃 形
獨 依 古 寺 種 秋 菊
要 伴 騷 人 餐 落 英
人 問 底 處 有 南 北
紛 紛 鴻 雁 何 曾 冥
閉 門 坐 穴 一 禪 榻
頭 上 歲 月 空 崢 嶸
今 年 偶 出 為 求 法
欲 與 慧 劍 加 礱 硎
雲 衲 新 磨 山 水 出
霜 髭 不 剪 兒 童 驚
公 侯 欲 識 不 可 得
故 知 倚 市 無 傾 城
秋 風 吹 夢 過 淮 水
想 見 橘 柚 垂 空 庭
故 人 各 在 天 一 角
相 望 落 落 如 晨 星
彭 城 老 守 何 足 顧
棗 林 桑 野 相 邀 迎
千 山 不 憚 荒 店 遠
兩 腳 欲 趁 飛 猱 輕
多 生 綺 語 磨 不 盡
尚 有 宛 轉 詩 人 情
猿 吟 鶴 唳 本 無 意
不 知 下 有 行 人 行
空 階 夜 雨 自 清 絕
誰 使 掩 抑 啼 孤 惸
我 欲 仙 山 掇 瑤 草
傾 筐 坐 歎 何 時 盈
簿 書 鞭 扑 晝 填 委
煮 茗 燒 栗 宜 宵 征
乞 取 摩 尼 照 濁 水
共 看 落 月 金 盆 傾
|
Bài này vốn là một bài họa,
do thơ của Đào Tiềm tặng Ông. Nói là họa, nhưng bút pháp và chương pháp của thơ
rất ung dung. Đó là chỗ điêu luyện của người làm thơ. Cốt cách và đời sống của
Đạo TIềm được tả trong những nét rất linh hoạt. Ngay ở hai câu đầu, lời thơ và
tứ thơ đã đi ngay vào chỗ độc đáo bằng biết nhịp và hình ảnh sống động. Thỉnh
thoảng trong thơ đột nhiên nổi lên với những hình ảnh rất đẹp được gói trong lời
và tứ kỳ diệu. Đại để các câu:
Bế môn tọa huyệt nhất thiền
sáp
Đầu thượng tuế nguyệt không
tranh vanh
Khép cửa hang sâu một giường
thiền
Trên đầu năm tháng trôi
chênh vênh
Năm tháng là tuổi già, là
mùa thu và tóc trắng, là những hoài vọng xa xôi của nhà thơ. Hoài vọng đó là
hình ảnh hiu hắt khép kín cửa trong hang sâu giữa núi rừng xa vắng, và thầm lặng
trôi qua trên đầu nhà sư cô quạnh. Cho nên, tấm lòng của sư như một mặt nước
trong ngần, bao nhiêu chìm nổi thiên hình vạn trạng của cõi đời hiện rõ lên
trong đó.
Rồi khi sư thả bộ rong chơi,
màu áo còn pha màu sương khói của núi rừng. Sư mang cái tình đạo đó kết duyên với
tình thơ của khách thơ, như ngọn gió mùa thu thổi những phương trời viễn mộng đến
làng thơ, thì tình thơ bỗng ngọt ngào như cam quít đang mùa chín đỏ; một thứ ngọt
ngào trầm lặng:
Thu phong xuy mộng quá Hoài
thủy
Tưởng kiến quật dữu thùy
không đình
Gió thu đưa mộng qua Hoài thủy
Này cam nọ quít rũ sân buồn
Khách làng thơ lại muốn bỏ
qua những ngày bươn bả, để cùng sư, trong những đêm dài xa xôi, đốt củi nấu
trà, ngồi xem bóng trăng nghiêng xuống đáy cốc. Tình thơ sống động, nhưng xa
xôi và đơn bạc.
Tấm lòng nhà đạo như nước phẳng;
Rọi bóng chìm nổi của cõi đời.
Chùa xưa lẻ bóng trồng thu
cúc
Bạn với làng thơ thưởng chút
tài
Cõi nhân gian có chia đường
nam nẻo bắc
Mà cánh hồng cánh nhạn vẫn
đơn độc lẻ loi
Trên đầu năm tháng trôi
chênh vênh
Nay hứng dậy tìm duyên cùng
khách tục
Muốn đem kiếm tuệ miệt mài
thêm
Áo mây vừa khoác vương màu
non nước
Râu sương không cạo trẻ thấy
mà kinh
Công hầu muốn quen, quen chẳng
được
Mới biết nơi chợ không kẻ
khuynh thành
Gió thu thổi mộng qua Hoài
Thủy
Tưởng thấy cam quít rũ sân
buồn
Bè bạn mỗi người riêng một
cõi,
Trông nhau lác đác như sao
mai
Người bận việc quan thôi khỏi
nói
Rừng táo nương dâu mong đợi
nhau
Đường xa quán lẻ không đáng
ngại,
Gót vượn nhẹ nhàng bước như
bay.
Lời đẹp mấy đời còn dệt mãi,
Tình thơ uyển chuyển còn
nhau đây,
Vượn gào hạc réo thế là thế,
Nào biết người đi qua dưới
này
Thềm vắng, mưa đêm, buồn da
diết,
Nghẹn ngào cô quạnh khóc ai
đây?
Tôi muốn núi tiên bứt cỏ
dao,
Nghiêng giỏ ngồi than, đầy
được sao?
Chép sách, đánh roi, đã làm
hết,
Nấu trà đốt củi hẹn đêm nào.
Xin hạt ma ni soi nước đục,
Cùng đợi đáy cốc trăng lao
xao.
[1] TÚ
CHÂU, một dãy đất chạy dài từ huyện Gia Hưng tỉnh Triết Giang đến huyện Tùng
Giang tỉnh Giang Tô
[2] NGÔ
ÂM, hay THANH GIANG, điệu nhạc Thanh thương khúc, thịnh hành tại các vùng Giang
Nam, đất Ngô, qua các điệu dân dao. Đến đời Đường, điệu ca biến đổi về sau ít
truyền tụng.
Ngô âm cũng chỉ cho giọng
nói vùng đất Ngô trung nằm ở đông bộ tỉnh Giang tô và tây bộ tỉnh Triết giang.
Ngô âm ở đây có nghĩa bình
thường: giọng nói của TỚ; lối nói thông thường của người đất Thục.
[4] NGA
MI, núi Nga Mi, hai ngọn đối nhau như hai nét lông mày. Nhà Phật gọi là núi
Quang Minh. Đạo gia gọi là Hư linh động thiên; hoặc Linh Lăng thái điện thiên.
Núi ở phía Tây nam huyện Nga mi tỉnh Tứ Xuyên. Tại tây bắc huyện giáp tỉnh Hà
Nam cũng thấy một ngọn mà ông cho là giống với Nga Mi ở quê ông nên đặt tên là
Tiểu Nga Mi, trên đó có đền thờ Tam Tô (ba cha con Ông)
[5] THIÊN
THAI, ngọn núi phía bắc huyện Thiên thai tỉnh Triết Giang. Tương truyền, đời
Hán có Lưu Thần và Nguyễn Triệu vào núi hái thuốc mà gặp tiên.
[10] VÃNG
SỰ: hai câu 3 và 4, có lẽ ông muốn nhắc đến chuyện năm tân hợi, xích mích đảng
Vương An Thạch, suýt vong mạng. Nay đi tìm lại người cố cựu, thấy lại
tình quê hương vẫn đậm đà. Nhưng tình đó không nói thành lời được. Chỉ có “ Con
Oanh học nói trên cành mỉa mai” thôi ư?
[12] VIÊN
TRẠCH, tăng đời Đường; bạn là Lý Thiện Nguyện ba lần chứng kiến sự tái sinh của
sư. Lần chót, do hẹn gặp nhau tại chùa Thiên Trúc, vào đêm trăng thu, Thiện
Nguyên y hẹn, vừa đến cổng chùa, bỗng thấy một mục đồng ngồi trên lưng trâu ca:
Tam sinh thạch tượng cựu
linh hồn
Thưởng nguyệt ngâm phong bất
yếu luân
Tàm quĩ tình nhân viễn tương
phỏng
Thử thân tuy dị tánh thường
tồn
[13] CÁT
HỒNG, người đời Tấn, tự xưng Tiểu Cát tiên ông; thích phép đạo dưỡng của
thần tiên; nghe đồn Giao chỉ có nhiều đan sa, dẫn con cháu đến núi La phù luyện
đan, khi đan thành thì thi thể đã rã. Ở đây ngụ ý người không sao thoát khỏi
cái chết.
[15] TÂY
HỒ, có tám nơi tất cả, mà trong bài này chỉ cho Tây hồ thành tây huyện Hàng
châu tỉnh Triết giang. Hồ này còn có những tên khác: hồ TIỀN ĐƯỜNG, hồ MINH
THÁNH, hồ KIM NGƯU. Nhân câu thơ của Ông: “Dục bả “Tây hồ tỉ Tây Tử”, nên cũng
được gọi là hồ Tây Tử. Ba mặt là núi vây quanh; nam và bắc có hai ngọn núi cao
đối nhau, trong hồ có các con đê Tô, Bạch, chia nước hồ ra làm HỒ TRONG và HỒ
NGOÀI và HỒ SAU. Bốn mùa phong vật tốt tươi, với 10 cảnh trí nên thơ và nổi
danh.
Thơ Hàn Dũ:
Dị chất kỵ xử quần
Cô phương nan ký lâm
(chất riêng không cùng bọn.
Cao vọi khó ở rừng)
Thơ Chu Hy:
Long đông điêu bách hủy
Giang hải lệ cô phương
(Trời lạnh cây cỏ úa. Sông
biển một mình trôi.)
Đồng đấu ẩm giang tửu
Thủ phách đồng đấu ca
(Đấu đồng uống rượu sông,
tay vỗ đấu đồng ca)
Cước đạp tiểu thuyền đầu
Độc tốc vô quyển sa
(Gót đạp đầu thuyền nhỏ,
lênh đênh không bến cỏ.)
Nùng thị đạp lãng nhi
Mỗi đạp thanh lãng du
Tiếu y hương cống lang
Đạp thổ xưng phong lưu.
(Ta là người sóng xanh, cưỡi
sóng mà rong chơi. Cười y gã hương cống, dẫm đất gọi phong lưu.)
[23] TĂNG
TIỀM: Tăng Đạo Tiềm ở Tiền Đường, hiệu Sam Liêu Tử, trơ vơ như sao
Hôm hoàng hôn, là bạn thơ rất thân với Đông Pha.
III. TRỜI ÓNG Ả BẠC TƯỜNG
RÊU LỮ THỨ
(1080-1085)
LỜI DẪN
Trên đoạn đường Lữ Thứ, lịch
sử bỗng đổ dồn lên Đất Trích. Đó là vùng đất hoành hành của mưa rừng gió núi, của
Thiên Nhiên tàn bạo. Tạo hóa thì hung hăng, mà tạo vật thì bé bỏng. Giữa
những đêm giông bão dị thường, giữa lúc đèn mờ khuya khoắt, con chuột đói mò ra
đi kiếm ăn. Hoặc trong đám hoa rừng cỏ dại, chướng khí sơn lam, nhánh hải đường
với nụ son bé bỏng cũng mang cốt cách thanh cao ra mà chen chúc.
Cuộc lịch nghiệm nơi vùng đất
Trích tàn bạo với nỗ lực phấn đấu kỳ cùng, trước thảm họa của Tử sinh trường mộng,
ở đây cũng đã sẵn sàng vạch sẵn lối gai rừng để nghe đồng vọng của Lô sơn chân
diện mục. Trong khi đó, thảm họa lịch sử theo nước lũ Trường Giang đổ vào
Xích Bích. Thế thì, tại chỗ này, Lịch sử đã mang tài hoa của nó tụ về trong
tinh thể Đông Pha. Và từ đó, Đông Pha cư sĩ bước ngay vào dòng Lịch sử Chung của
một dân tộc, làm cha già tóc trắng cho Một dân tộc.
Những bàithơ sau đây, không
có những bài về Lô sơn hay đồng Lô sơn, hay mang âm hưởng ẩn hiện nào đó của Lô
sơn chân diện mục, cũng không có những bài xuôi giòng Đại giang Đông khứ, trên
mặt sông Xích bích. Hai chỗ đó là tinh thể và cách điệu tài hoa của ông. Một đằng
là Lô sơn ẩn hiện giữa mây trắng sương mù ôm ấp những khát vọng sâu thẳm nhất của
con người. Một đằng là nước lũ của một giang sơn như họa cuộn anh hùng hào kiệt
một thời theo thảm hoạc lịch sử đổ dồn vào biển rộng mù khơi. Nhưng đấy là những
tinh thể kết tụ trong phương trời viễn mộng. Nếu nơi đây chúng ta nghe được tận
cùng những phấn đấu gian khổ của tồn sinh, những phẫn nộ và những ngậm ngùi cay
đắng của tồn sinh, thì phương trời viễn mộng kia tức khắc sẽ mở ra.
I
Năm 1078, tháng 7, đổi sang
Hồ châu, ông dâng biểu tạ về triều. Bị sàm tấu, phải ngồi tù. Án từ không nhất
quyết. Thần tông mến tài, miễn tội tử. Lại nhờ em ông, Tử Do xin đổi chức quan
chuộc tội cho ông. Tháng 12 năm đó ông ra khỏi ngục.
Khi ở trong ngục, ông làm 2
bài thơ, nhờ cai ngục gởi cho Tử Do. Thơ tự trách và có vẻ tuyệt vọng, vì ông
tưởng là không thoát khỏi án tử hình.
Đại khái:
Thị xứ thanh sơn khả mai cốt
Tha niên dạ vũ độc thương thần
Dữ quan thế thế vi huynh đệ
Hựu kết lai sinh vị liễu
nhân
Nơi này non xanh có thể chôn
xương được. Sang năm mưa đêm chỉ riêng hồn mình lạnh lẽo. Ước nguyện cùng nhau
(ông và Tử Do) đời đời làm anh em; lại kết duyên nợ đời vĩnh viễn của văn
chương.
Ông được tha, giáng chức làm
đoàn luyện phó sứ, bị đày đi quản thúc ở Hoàng châu.
Tháng giêng năm canh thân
1079, ông lên đường. Tử Do từ Nam đô đến gặp ông tại Trần, ở lại cùng ông ba
ngày, rồi chia tau. Ông làm bài thơ chia tay. Đại khái:
Biệt lai vị nhất niên
Lạc tận kiêu khí phù
Mới cách nhau chưa đầy một
năm, cái kiêu khí đã tan hết. và ông tự trách;
Chí ngôn tuy cửu phục
Phóng tâm bất tự thâu
Đã học lời của Thánh Hiền từ
bao lâu nằm lòng rồi, nhưng vẫn phóng tâm bừa bãi, gây tai vạ.
Ngày 18 tháng giêng năm đó,
trên đường đi ngang Thai châu gặp tuyết, ông làm 2 bài thơ cho Tử Do, lại nói:
Vãn tuế ích khả tu
Phạm tuyết phương nam bôn
Càng già lại càng thêm thẹn;
đội tuyết mà phải chạy sang nam!
Ngang Tân tức, gặp người đồng
hương lập nghiệp ở đó, ông tặng bài thơ thất ngôn cổ thi:
Trần ai ngã diệc thất thâu
thân
Thử hành tắng đắng vưu khả bỉ
Ông nói, mình cũng sa chân
vào chốn trần ai, lưu lạc tha phương; nhưng cái đi đó gian nan quá tệ.
Các nơi đi ngang qua, ông vẫn
làm thơ, vẫn ngoạn cảnh; nhưng lời thơ đượm nỗi buồn phiền u ẩn. Khi chơi chùa
Tịnh cư, nơi này trước kia Trí Khải gặp Huệ Tư đại sư mà đắc đạo, rồi về núi
Thiên Thai trụ trì, lập ra Phật giáo Thiên Thai tông; ông làm thơ có những câu:
Bất ngộ tục duyên tại
Thất thân đạp nguy cơ
Chưa tỏ ngộ đạo lý, tục
duyên còn nặng; để cho sa chân vào bước nguy cơ.
Và những câu khác:
Khể thủ lưỡng túc tôn
Cử đầu song thế huy
Linh sơn hội vị tán
Bát bộ do quang huy
Cúi đầu lạy đức Như Lai; cất
đầu dậy lau đôi hàng lệ. Tưởng như trên hội Linh Sơn ngày nào như lai giảng
kinh Pháp hoa nói đạo lý thượng thừa, bây giờ vẫn còn đó, tám bộ chúng vẫn rực
rỡ
Lời thơ tuy không cao ngạo
mà đảm lược hùng tâm vẫn còn. Cõi thơ của ông vì vậy mà mênh mông heo hút; lời
thơ của ông là cả giọng chí thành. Sầu khổ thì có, mà sầu hận thô lỗ thì không.
Đó là một điểm nhỏ trong cái phong vận tao nhã và cao kỳ và bao la của ông.
Rồi đến Hoàng Châu, ngủ đêm
tại chùa Thiền trí. Cảnh chùa hoang lương. Hình ảnh trong thơ hiện ra một màu
hiu hắt. Một ngọn đèn tàn leo lét trên bàn Phật; một con chuột đói bò ra kiếm
ăn,; mưa đêm đổ xuống hàng tre; và một bài thơ cổ sót lại trong trí nhớ. Khách
phong trần lưu lạc gặp cảnh thơ đó có thể rũ sạch được những oan tình u ẩn
nghìn đời.
Phật đăng tiệm ám cơ thử xuất
Sơn vũ hốt lai tu trúc minh
Tri thị hà nhân cựu thi cú
Dĩ ưng tri ngã thử thời
tình.
Ông tự viết lời dẫn : “: Lúc
thiếu niên, có lần tôi đi ngang qua một thôn viện, thấy trên vách có thơ:
Dạ lương nghi hữu vũ
Viện tĩnh tợ vô tăng
Đêm lạnh chừng mưa gió
Chùa vắng như không sư.
“Không biết thơ của ai. Ban
đêm, ngủ lại chùa Thiền Trí, Hoàng Châu. Sư trong chùa đều vắng hết. Nửa đêm trời
mưa. Ngẫu nhiên nhớ bài thơ đó, nên làm một bài tuyệt cú.”
Bấy giờ ông vừa ở tù ra, bị
đày tới Hoàng Châu. Lời thơ có vẻ mông lung, cay đắng.
Ngày 1, tháng 2, tới Hoàng
Châu. Gia đình Ông ở cả tại Nam Đô, chỉ một mình Tử Mại, con trai lớn của Ông,
đến với Ông. Khi mới đến Hoàng Châu, ông làm bài thơ dưới đây:
Tự tiếu bình sinh vị khẩu
mang
Lão lai sự nghiệp chuyển
hoang đường
Trường giang nhiễu quách tri
ngư mĩ
Hảo trúc liên sơn giác duẫn
hương
Trục khách bất phương viên
ngoạI trí
Thi nhân lệ tác thủy tào
lang
Chỉ tâm vô bổ ti hào sự
Thượng phi quan gia áp tửu
nang
Cười ta bình sinh miệng nói
nhăng
Già rồi sự nghiệp càng hoang
đường
Tre rậm đầy non thơm mùi
măng
Khách lang bạt khỏi phiền
viên ngoại
Lệ nhà thơ ghi sổ tang bồng
Chỉ thẹn không nên chuyện gì
hết
Uổng thay dốc túi rượu nhà
quan
(Ông tự chú cho câu chót:
Quan kiểm hiệu có lệ nếu ai làm được nhiều việc thì thưởng một bình rượu khi về.
Ở đây, ý muốn nói, Ông tới là bận rộn người ta phải tốn công ghi danh vào
sổ bạ)
2.
HẢI ĐƯỜNG
Giang thành địa chướng phồn
thảo mộc
Chỉ hữu danh hoa khổ ưu độc
yển nhiên nhất tiếu trúc
ly gian
Đào lý mạn sơn tổng thô tục
Dã tri tạo vật hữu thâm ý
Cố khiển giai nhân tại
không cốc
Tự nhiên phú quí xuất
thiên tư
Bất đãi kim bàn tiến hoa ốc
Chu thần đắc tửu vựng sinh
kiểm
Thúy tụ quyển sa hồng ánh
nhục
Lâm thâm vụ án hiểu quang
trì
Nhật noãn phong khinh xuân
thụy túc
Vũ trung hữu lệ diệc thê
thương
Nguyệt hạ vô nhân cánh
thanh thục
Tiên sinh bão thực vô nhất
sự
Tán bộ tiêu dao tự môn
phúc
Bất vấn nhân gia dữ tăng
xá
Trụ trượng xao môn khán tu
trúc
Hốt phùng tuyệt diễm chiếu
suy hủ
Thán tức vô tín khải bịnh
mục
lậu bang hà xứ đắc thử hoa
Vô nãi hiếu sự đi Tây Thục
Thốn căn thiến lý bất dị
đáo
Hàm tử phi lai định hồng hộc
Thiên nha lưu lạc cu khả
niệm
Vị ẩm nhất tôn ca thử khúc
Minh triêu tửu tĩnh quá độc
lai
Tuyết lạc phân phân na nhẫn
xúc
|
海棠
江城地瘴蕃草木
只有名花苦幽独
嫣然一笑竹篱间
桃李满山总粗俗
也知造物有深意
故遣佳人在空谷
自然富贵出天姿
不待金盘荐华屋
朱唇得酒晕生脸
翠袖卷纱红映肉
林深雾暗晓光迟
日暖风轻春睡足
雨中有泪亦凄怆
月下无人更清淑
先生食饱无一事
散步逍遥自扪腹
不问人家与僧舍
拄杖敲门看修竹
忽逢绝艳照衰朽
叹息无言揩病目
陋邦何处得此花
无乃好事移西蜀
寸根千里不易到
衔子飞来定鸿鹄
天涯流落俱可念
为饮一樽歌此曲
明朝酒醒还独来
雪落纷纷哪忍触
|
Ông cư ngụ tại chùa Định Huệ.
Phía đông chùa, hoa tạp đầy núi, giữa đó chen một cây hải đường. Thổ nhân không
biết là quí. Nhân đó, làm bài thơ vịnh hải đường.
Thơ ngụ ẩn tình. Cốt cách
trang nhã của hải đường gây nên nơi ông một cảm hứng tuyệt diệu. Lối thơ này,
thường dễ trở thành một đề tài sáo, giả tạo và khoa trương. Kiểu cách của nó là
sao cho đạt đến mức nói riêng vật mà tình ẩn, nói tiêng tình mà vật hiện. Nhưng
còn phải đợi bàn tay tài hoa phổ vào mới thành tuyệt diệu. Vật trở thành cao
quí trong tình ẩn, và người cũng trở thành tao nhã nơi vật hiện.. Cái đó là do
phong tư tú lệ của tao nhân; tay phàm tùc khó mà vươn tới mức. Nó hệ ở chỗ
tương ứng của thanh khí lẽ hằng. Cho nên, tiết nhịp của bài thơ không cần sôi nổi
lãng mạn mà nguồn cảm hứng rung động sâu xa như là bất tận. Chỗ đó, Kỷ Hiểu Lam
phê rằng: “Hoàn toàn nói về hải đường, nhưng tự ngụ ý phong tư tú lệ của mình.
Bắt đầu hứng khởi thì thâm trầm vi nhiệm. Nửa chừng thì nở rộ tươi sáng. Lối
thơ đó nếu không thực sự là Đông Pha thì không ai làm nổi. Đông Pha nếu không hứng
khởi trong một lúc, vị tất đã làm nổi”
Đất giang thành nhiều chướng
khí nên nhiều cây cỏ hoang dại.
Chỉ có một loại danh hoa, cây
hải đường, mọc chen lấn giữa đó, nằm lẻ loi buồn tẻ.
Một khi nó nhởn nhơ hé nụ
nơi hàng dậu,
Thì tất cả đào, lý khắp một
vùng núi này thảy là thô tục
Thế nên mới biết tạo vật có
thâm ý,
Nên khiến cho loài hoa quý
đó lánh mình nơi hang hốc vắng vẻ.
Cái cốt cách cao sang của nó
vốn là trời cho tự nhiên vậy,
Không phải đợi có mâm vàng
dâng vào cửa nhà sang cả mới thành quí.
Nụ hồng tươi như say men rượu
ửng lên đôi má,
Tàn lá như cánh tay áo màu
xanh thẳm vén lên giải lụa để lộ thịt da ánh hồng.
Sa mù phủ mờ cả khu rừng dày
chằng chịt nên nắng mai lên trễ,
Mặt trời ấm, gió nhẹ, giấc
ngủ mùa xuân rất thoải mái.
Lúc mưa, trong cơn mưa những
giọt nước đọng long lanh trông cũng khá sầu muộn;
Tiên sinh ăn một bữa no,
không một việc làm,
Ông thả bước tiêu dao, tự sờ
tay vào bụng của mình.
Không cần hỏi đó là nhà của
người tục hay của sư tăng.
Chống gậy đến gõ cửa xem hàng
tre đứng thẳng
Bỗng gặp một vẻ tuyệt diễm bừng
lên giữa hàng giậu đổ nát.
Ông than thở không nói một lời,
nhướng con mắt mờ kém lên:
Đất quê này sao lại có thứ
hoa này?
Há không phải do người hiếu
sự mang nó từ đất Tây thục đến?
Nhưng tấc rễ ngắn của nó
không dễ gì mang đi xa xôi như vậy nổi.
Có lẽ chim hồng hay chim hộc
ngậm hạt của nó mang đến đây.
Cũng đáng ngậm ngùi cho nó
lưu lạc tận ven trời xa xôi này;
Nên vì thay nó mà uống một
chén và ca một khúc ca đó.
Sáng hôm sau, tỉnh rượu lại,
đến đây một mình,
Thấy tuyết bay phơi phới, tưởng
chừng như không nỡ đụng đến nó.
3.
Bấy giờ khoảng cuối tháng 2
hay đầu tháng 3 gì đó. Ông đến Hoàng châu trên dưới đã một tháng. Sau cơn mưa tạnh,
ông thả bộ đến dưới đình Tứ vọng, bên trên hồ cá, rồi từ gò đông phía trước
chùa càn Minh trở về, làm hai bài thơ luật năm chữ. Mùa hải đường đã qua, đang
đợi mùa mai năm tới. Cảnh chiều, tiếng ếch nhái sau cơn mưa, tiếng chim trong nắng
ngả về chiều, bóng người vắng vẻ. Cũng là một nỗi niềm tâm sự nào đó của tuổi
ông.
(I)
Vũ quá phù bình hợp
Oa thanh mãn tứ lân
Hải đường chân nhất mộng
Mai tử dục thường tân
Trụ tượng nhân khiêu thái
Thu thiên bất kiến nhân
Ân cần mộc thược dược
Độc tự điện dư xuân
(II)
Cao đình cửu dĩ phế
Hạ hữu chủng ngư đường.
Mộ sắc thiên sơn nhập
Xuân phong bách thảo hương
Thị kiều nhân tịch tịch
Cổ tự trúc thương thương
Quán hạc hà lai xứ
Hào minh mãn tịch dương
|
雨 過 浮 萍 合
蛙 聲 滿 四 鄰
海 棠 真 一 夢
梅 子 欲 嘗 新
拄 杖 閑 挑 菜
鞦 韆 不 見 人
殷 勤 木 芍 藥
獨 自 殿 餘 春
高亭久已廢
下有種魚塘
暮色千山入
春風百草香
市橋人寂寂
古寺竹蒼蒼
鸛鶴來何處
號鳴滿夕陽
|
Mưa qua bèo kết tụ
Ếch kêu dậy xóm làng
Hải đườngqua cơn mộng
Còn đợi mùa mai sang
gậy thọc chơi rau cỏ
Người không, vắng bóng tường
Chăm chỉ cây thược dược
Một mình riêmg một xuân
Đình cao phế mấy độ
Phía dưới có ngư đường
Bóng chiều chen bóng núi
Gió thoảng bay ngàn hương
Cầu chợ người thưa thớt
Chùa xưa tre xanh xanh
Cò vạc từ đâu đến
Kêu réo dậy tà dương
4.
Ngụ tại chùa Định Huệ được 3
tháng; tháng 5, ông dời sang Lâm cao đình (phía nam huyện Hoàng cương tỉnh Hồ bắc,
bắc ngạn sông trường giang. Cũng gọi là lâm cao quán)
Tử Do lược ký: Từ đình nhìn
ra, nam bắc chừng trăm dặm, ban ngày ghe thuyền lui tới phía trước, ban đêm
nghe tiếng như ngư long kêu gào ở phía dưới; phía tây trông thấy các ngọn núi
huyện Vũ dương; gò đống nhấp nhô, cây cối hàng hàng, khói bốc cuồn cuộn, rải
rác nhà ngư phủ, tiều phu, đếm được đầu ngón tay.
Ông đến Lâm cao đình, dựng
nhà ở, đặt tên là nhà Tuyết, vì làm trong mùa đại tuyết; đọc Chiến quốc sách,
và làm bài thơ dưới đây:
Ngã sinh thiên địa gian
Nhất nghị ký đại má
Khu khu dục hữu hành
Bất cứu phong luân tả.
Tuy vận tẩu nhân nghĩa
Vị miễn vi hàng ngạ
Kiếm mễ hữu nguy xuy
Châm chiên vô ổn tọa
Khởi vô giai sơn thủy
Tá nhãn phong vũ quá
Qui điền bất đãi lão
Dũng quyết phàm kỷ cá
Hạnh tư phế khí dư
Bì mã giải yên đà
Toàn gia cổ giang dịch
Tuyệt cảnh thiên vi phá
Cơ bần tương thừa trừ
Vị kiến khả điếu hạ
Đạm nhiên vô ưu lạc
Khổ ngữ bất thành ta
|
我生天地間,
一蟻寄大磨。
區區欲右行,
不救風輪左。
雖云走仁義,
未免違寒餓。
劍米有危炊,
針氈無穩坐。
豈無佳山水,
借眼風雨過。
歸田不待老,
永訣凡幾個。
幸玆廢棄餘,
疲馬解鞍馱。
全家占江驛,
絕境天為破。
飢貧相乘除,
未見可弔賀。
澹然無憂樂,
苦語不成些
|
Ta sinh trong trời đất
Như kiến bò cối đá
Nhắm hữu khu khu đi
Không kể gió xoay tả
Nói chạy theo nhân nghĩa
Chưa khỏi chuyện cơm áo.
Áo như kim chích ngồi không
yên
Há không non nước đẹp
Ghé mắt mưa gió qua
Về ruộng nõ đợi già
Sức lực còn đôi chút
May nhờ đất phế thải
Ngựa cùng thảo yên cương
Lấy bến sông làm nhà
Trời dọn cho tuyệt cảnh
Đói rách thừa trừ nhau
Khỏi chia buồn chia vui
Vừa vừa không cực sướng
Nói chi đến chuyện khổ
5.
Buổi sáng, đến Ba hà khẩu
đón Tử Do:
Khứ niên ngự sử phủ
Cử động xúc tứ bích
U u bách xích tỉnh
Ngưỡng thiên vô nhất tịch
Cách tường văn ca hô
Tự hận kế chi thất
Lưu thi bất nhẫn tả
Khổ lệ tí chỉ bút
Dư sinh phục hà hạnh
Vinh sự hữu kim nhật
Giang lưu kính diện tĩnh
Yên vũ khinh mạc mạc
Cô chu như phù ế
Điểm phá thiên khoảnh bích
Văn quân tại Từ hồ
Dục kiến cách chỉ xích
Triêu lai hảo phong sắc
Kỳ vĩ tây bắc trịch
Hành đương trung lưu kiến
Tiếu nhãn thanh quang dật
Thử bang nghi khả lão
Tu trúc đái tuyền thạch
Dục mãi Kha thị lâm
Tư mưu đãi quân tất
|
去年御史府
举动触四壁。
幽幽百尺井,
仰天無一席。
隔墙聞歌呼,
自恨計之失。
留詩不忍寫,
苦淚渍紙筆。
餘生復何幸,
榮事有今日
江流鏡面淨,
煙雨輕冪冪。
孤舟如鳧黳,
點破千頃碧。
聞君在磁湖,
欲見隔咫尺。
朝來好風色,
旗腳西北擲。
行當中流見,
笑眼清光溢。
此邦疑可老,
修竹帶泉石。
欲買柯氏林,
玆謀待君必
|
Mấy câu đầu, ông tả lại cảnh
ngồi tù tại phủ ngự sử năm ngoái. Phần giữa nói tâm trạng của ông khi đi đón Tử
Do, vào buổi sáng, tại Ba hà khẩu. Cuối cùng, ông nói với Tử Do về tình trạng
sinh sống thường nhật, và cùng những dụ tính ngày sau. Ông có cảm giác như vĩnh
viễn lưu đày tại đất Hoàng Châu đó.
Năm ngoái phủ ngự sử
Tay chân chạm vách tường
Hun hút trăm thước giếng
Trông trời không chiếu manh
Nghe ca hô cách vách
Hận mình tính hỏng trơn
Thư lưu không nỡ viết
Lệ khổ đẫm giấy bút
Còn sống thế là may
Mới có niềm vui này
Sông trôi mặt nước phẳng
Mưa nhẹ khói mù bay
Thuyền lẻ như cò vạc
Chấm phá biếc trời mây
Nghe chú tại Từ hồ
Muốn gặp trong gang tấc
Buổi sáng phong cảnh tốt
nhắm Tây bắc phất cờ
cười hai mắt sáng chói
Đất này thôi dưỡng già
Hàng tre ôm đá suối
Muốn mua rừng họ Kha
Đợi chú lo mới nổi
6.
ĐÔNG PHA BẤT THỦ 東坡八首
I
Phế lỗi vô nhân cố
Đồi viên mãn bồng cao
Thùy năng quyên trợ lực
Tuế vãn bất thường lao
độc hữu cô lữ nhân
thiên cùng vô sở đào
đoan lai thập ngõa lịch
tuế hạn thổ bất cao
kỳ khu thảo cức trung
Dục quát nhất thốn mao
Vị nhiên thích lỗi thán
Ngã lẫm hà thời cao
II
Hoang điền tuy lãng mãng
Cao tì các hữu thích
Hạ thấp chủng canh thuật
Đông nguyên thì táo lật
Giang nam hữu Thục sĩ
Tang quả dĩ hứa khất
Hảo trúc bất nam tài
Đản khủng tiên hoành dật
Nhưng tu bốc giai xứ
Qui dĩ an ngã thất
Gia đồng thiêu khô thảo
Tẩu báo ám tỉnh xuất
Nhất bão vị cảm kỳ
Biều ẩm dĩ khả tất
III
Tự tích hữu vi tuyền
Lai tùng viễn lĩnh bối
Xuyên thành quá tụ lạc
Lưu ác tráng bồng ngải
Khứ vi Kha thị pha
Thập mẫu ngư hà hội
Tuế hạn tuyền dĩ kiệt
Khô bình niêm phá khối
Tạc dạ nam sơn vân
Vũ đáo nhất lê ngoại
Huyễn nhiên tầm cố độc
Tri ngã lý hoang hội
Nê cần hữu túc căn
Nhất thốn ta độc tại
Tuyết nha hà thời động
Xuân cưu hành khả quái
IV
Chủng đạo thanh minh tiền
Lạc sự ngã năng sổ
Mao khong ám xuân trạch
Châm thủy văn hảo ngữ
Phân ương cập sơ hạ
Tiệm hỉ phong diệp cử
Nguyệt minh khán lộ thượng
Nhất nhất châu thùy lũ
Thu lai sương huệ trọng
Điên đảo tương xanh trụ
Đản văn huề lũng gian
Trách mãnh như phong vũ
Tân xuân tiện nhập tắng
Ngọc diệp chiếu không lữ
Ngã cửu thực quan thương
Hồng hủ đẳng nê thổ
Hành đương tri thử vị
Khẩu phúc ngữ dĩ hứa
V
Lương nông tích địa lực
Hạnh thử thập niên hoang
Tang giá vị cập thành
Nhất mạch thứ khả vọng
Đầu chủng vị dũ nguyệt
Phúc khối dĩ thương thương
Nông phu cáo ngã ngôn
Vật sử miêu diệp xương
Quân dục phú binh nhĩ
Yếu tu túng ngưu dương
Tái bái tạ khổ ngôn
Đắc bảo bất cảm vong
VI
Chủng tảo kỳ khả bác
Chủng tùng kỳ khả đoạn
Sự tại thập niên ngoại
Ngô kế diệc dĩ khác
Thập niên hà thúc đạo
Thiên tải như phong bạc
Cựu văn Lý Hành nô
Thử sách nghi khả học
Ngã hữu đồng xá lang
Quan cư tại Tiềm nhạc
Di ngã tam thốn cam
Chiếu tòa quang trác lạc
Bách tài thảng khả trí
Đương xuân cập băng ác
Tưởng kiến trúc ly gian
Thanh hoàng chiếu ốc giác
VIII
Phan tử cựu bất điệu
Cô tửu Giang Nam thôn
Quách sinh bản tương chủng
Mại dược Tây thị viên
Cổ sinh diệc hiếu sự
Khủng thị áp nha tôn
Gia hữu thập mẫu trúc
Vô thời dung khấu môn
Ngã cùng giao cựu tuyệt
Tam tử độc kiến tồn
Tùng ngã ư Đông Pha
Lao hưởng đồng nhất xan
Khả liên Đỗ Thập di
Sự dữ Chu Nguyễn luân
Ngô Sư Bốc Tử Hạ
Tứ hải giai đệ côn.
VIII
Mã sinh bản cùng sĩ
Tùng ngã nhị thập niên
Nhật dạ vọng ngã quí
Cậu phận mãi sơn tiền
Ngã kim phản lụy quân
Tá canh chuyết tư điền
Quát mao qui bối thượng
Hà thời đắc thành chiên
Khả liên Mã sinh si
Chỉ kim khoa ngã hiền
Chúng tiếu chung bất hối
Thí nhất đương hoạch thiên
|
廢壘無人顧,
頹垣滿篷篙。
誰能捐筋力,
歲晚不償勞。
獨有孤旅人
天窮無所逃
端來拾瓦礫
歲旱土不膏
崎嶇草棘中
欲刮一寸毛
喟焉釋耒嘆
我廩何時高
荒田雖浪莽
高庳各有適
下隰種秔稌
東原蒔棗栗
江南有蜀士
桑果已許乞
好竹不難栽
但恐鞭橫逸
仍須卜佳處
規以安我室
家僮燒枯草
走報暗井出
一飽未敢期
瓢飲已可必
自昔有微泉
來從遠嶺背
穿城過聚落
流惡壯蓬艾
去為柯氏陂
十畝魚蝦會
歲旱泉已竭
枯萍粘破塊
昨夜南山雲
雨到一犁外
泫然尋故瀆
知我理荒薈
泥芹有宿根
一寸嗟獨在
雪芽何時動
春鳩行可膾
種稻清明前
樂事我能數
毛空暗春澤
針水間好語
分秧及夏初
漸喜風葉舉
月明看露上
一一珠垂縷
秋來霜穗重
顛倒相撐拄
但聞畦隴間
蚱蜢如風雨
新春便入甑
玉粒照筐筥
我久食官仓
红腐等泥土
行當知此味
口腹語已許
良農惜地力
幸此十年荒
桑柘未及成
一麦庶可望
投种未逾月
覆塊已苍苍
農父告我言
勿使苗葉昌
君欲富饼饵
要须纵牛羊
再拜谢苦言
得饱不敢忘
种枣期可剥
种松期可斫
事在十年外
吾計亦已悫
十年何足道
千载如風雹
舊聞李衡奴
此策疑可學
我有同舍郎
官居在灊岳
遗我三寸甘
照座光卓荦
百栽倘可致
當及春冰渥
想見竹篱間
青黄照屋角
潘子久不調
沽酒江南村
郭生本将種
賣葯西市垣
古生亦好事
恐是押牙孫
家有十畝竹
無時客叩門
我穷交舊絕
三子獨見存
従我菸東坡
劳饷同一餐
可憐杜拾遗
事與朱阮掄
吾師卜子夏
四海皆弟昆
馬生本窮士
従我二十年
日夜望我貴
求分買山钱
我今反累君
借耕輟兹田
刮毛龜背上
何時得成氈
可憐馬生癡
至今夸我賢
眾笑终不悔
施一當獲千
|
Đông Pha, khoảng đất phía
đông Hoàng Châu. Ông về làm ruộng ở đó, tự hiệu Đông Pha cư sĩ. Tám bài thơ làm
tại đây, tả cảnh sinh hoạt thường nhật của Ông.
Ông tự viết lời dẫn cho cả
tám bài thơ:
“Tôi đến Hoàng Châu được hai
năm, càng ngày càng túng quẫn. Người bạn cũ Mã Chính Khanh, cám cảnh tôi
thiếu ăn, nên lo hộ trong quân cho tôi được vài mươi mẫu đất trồng trọt, để tôi
ở đó cày cuốc. Đất bỏ hoang từ lâu, gai, tranh, gạch ngói, các thứ chen chúc
nhau tràn lan. Mà năm lại gặp đại hạn, việc khai khẩn quá mệt nhọc, gân sức rã
rời hết, buông cày đứng than thở. Mới làm các bài thơ đó. Tư an ủi sự siêng
năng của mình sẽ được đền bù năm sau, do đó quên cả mệt nhọc”
Tám bài thơ thuật sự, nên
chương pháp như một bài tản văn. Lời thơ và tình tự, chất phác và nồng nàn. Ở
đây có thể thưởng thức tài làm thơ lão luyện của ông. Và cũng có thể nghe được
đâu là tâm tình dịu ngọt của một nhà thơ. Ông nói tới những công lao cực nhọc của
người làm ruộng, những lo lắng khi trời hạn hán. Rồi tới cái vui và tình làng
xóm giao hảo. Tại đó, ông có ba ngườ bạn nông dân thân thiết, bác Phan, bác
Quách và bác Cổ. Thú đồng quê cực nhọc mà tựa như nhàn. Hai câu kết trong bài
(I) là hứng thơ như mạch ngầm chảy suốt qua cả tám bài:
Vị nhiên thích lỗi thán
Ngã lẫm hà thời cao
Buông cây đứng than thở
Kho lúa bao giờ đầy?
Ông đã ghi lại ý tưởng đó
trong lời dẫn. Buông cây đứng than thở, đứng bùi ngùi thở dài…. Thở dài cho kho
lúa đầy cao, và cũng thở dài cho trời thơ và cõi mộng xa xôi.
(I)
Ruông đất bỏ hoang, không ai
đoái tưởng tới. Vườn tược đổ nát, lau lách mọc đầy. Ai mà ra gân sức cho nổi; rồi
vãn một năm không bù lại công khó.
Chỉ có người bị lưu đày cô
quạnh, góc bể chân trời không chỗ trốn, mới hăm hở đến dọn gạch, dọn ngói. Năm
hạn, đất không dẻo. Giữa đám gai lởm chởm, chừng như muốn bứt từng sợi
lông. Rồi bùi ngùi buông cày đứng than thở, biết bao giờ cho đụn lúa đầy cao?
(II)
Ruộng hoang dù cỏ dại mọc đầy,
nhưng cũng cất được căn nhà thấp. Chỗ trũng thấp thì trồng lúa canh, lúa thuật;
đất bằng ở mé đông trồng rau thì là, trồng táo, trồng dẻ.
Đất Giang nam bấy giờ có kẻ
quê ở đất Thục (tức là ông) đã yên phận trồng dâu trồng trái. Tre tốt trồng
không khó, nhưng sợ người ta chặt làm roi (Gieo cái tài sản của mình cho tốt,
tâm mình cho thẳng như tre, tránh sao khỏi đời nó bẻ làm roi)
Nay đã chọn được chỗ ở tốt,
việc nhà đã thu xếp ngăn nắp rồi. Sắp trẻ đốt cỏ khô, chạy tới báo tin có mạch
nước ngầm. Nhưng một bữa no, không mong gì hơn nữa; uống nước trong cũng đã đủ
lắm.
(III)
Chỗ này trước kia có con suối
nhỏ, từ sau dãy núi xa xôi chảy đến, len lỏi qua thị thành, qua các làng mạc,
cuốn đi những thứ hại, làm tươi tốt lau sậy. Rồi chảy qua bờ ruộng nhà họ Kha,
cả mười mẫu đầy những tôm và cá. Đến năm nay, trời hạn, suối cũng cạn; bèo khô
dính bám vào những mảng đất lở.
Đêm hôm qua, mây kéo trên
núi nam, mưa dâng chừng ngập lưỡi cày, mênh mông chảy theo con lạch cũ; mới biết
ta đã dọn sạch hết cỏ dại. Rau cần, mọc chen dưới bùn, còn lại chút rễ, vắn chừng
một tấc. Chồi trắng như tuyết bao giờ động, để đến mùa xuân, bắt chim cưu mà ăn
thịt thái (Ông tự chú: Người đất Thục quí chồi non rau cần, xắt nó trộn với thịt
thái chim cưu mà ăn)
(IV)
Trồng lúa trước thanh minh,
có thể tính được nỗi vui sướng của mình. Trời mưa bay như lông bay, phủ mờ ao hồ
mùa xuân; nghe những tiếng hớn hở nói lúa đã chích nước (ông tự chú: Người Thục
gọi mưa bay là mưa lông. Lúa khi vừa trổ, nông phu bảo nhau là lúa sẽ
chích nước.)
Rải mạ đợi mùa hè, mừng dấn
thấy gió đã lay ngọn. Trăng sáng rọi trên sương, như từng hạt ngọc kết vạt
áo rũ. Mùa thu, sương nặng trên bông lúa; cọng lúa nghiêng ngửa giữ nhau đứng vững.
Nghe trên các bờ ruộng, cào cào kêu như mưa như gió (Ông tự chú: tại đất Thục,
vào mùa lúa chín, cào cào bay từng đàn giữa ruộng; dáng như sâu lúa, nhưng
không làm hại lúa.)
Xuân mới, chợt đi vào trong
chậu; hạt ngọc lấp lánh trong thúng mủng. Từ lâu, ta ăn gạo thóc quan, trái hồng
thúi coi như đất bùn. Đâu biết được mùi vị này, đã chịu vừa miệng vừa bụng
ta lắm rồi.
(V)
Nhà nông giỏi thì biết tiếc
sức của đất. Đất này nhớ mười năm bỏ hoang, dâu đỏ dâu đen chưa đến lúc lớn, có
thể mong được một mùa lúa mạch. Gieo giống chưa đầy tháng, đã thấy xanh mượt
trên các gò đất. Nông phu bảo ta rằng, đừng để lá mạ lên hết mức; nếu anh muốn
giàu bánh trái, nên thả trâu dê ra. Lại bái tạ lời thiết tha đó. Được no cơm, sẽ
không dám quên.
(VI)
Trồng cây táo chờ đến mùa
bóc vỏ; trồng cây thông cũng chờ đến mùa đốn được. Đó là việc mười năm sau;
nhưng việc tính toán của mình coi như đã tốt đẹp. Mười năm có là bao? Một nghìn
năm thì cũng như gió rào, mưa đá. Xưa kia, có nghe chuyện người tớ của Lý Hành.
Cái cách đó có lẽ học được.
Tôi có người bà con, làm
quan ở Tiềm Nhạc, tặng cho cây cam chừng ba tấc; rọi chỗ ngồi sáng chói. Trồng
nó hàng trăm lần mới được. Gặp lúc mùa xuân, tuyết bám đầy, tưởng chừng như nơi
hàng dậu, màu xanh màu vàng rũ bên góc nhà.
(VII)
Bác Phan từ lâu không đến rủ
đi mua rượu xóm Giang nam. Bác Quách đang sửa soạn gieo giống, bán thuốc ở chợ
Tây. Bác Cổ lại khá bày vẽ, chắc là bắt con cháu nhín răng. Nhà có mười mẫu
tre, không hề có người đến đập cửa. Ta còn ở bước đường cùng, bạn ngày xưa
không còn ai. Chỉ còn thấy có ba bác đó, theo ta ở Đông pha, cùng làm lụng mệt
nhọc rồi cùng chung bữa. Khá thương Đỗ Thập Di (Đỗ Phủ). Việc gì mà bàn với Chu
Nguyễn? Thầy ta là Bốc Tử hạ, bốn biển đều là anh em.
(VIII)
Bác Mã vốn một gã nghèo
cùng, theo ta hai mươi năm; ngày đêm coi trọng ta, xin góp tiền mua núi! Ta nay
làm lụy đến bác. Nhờ bác cho cày ruộng đó. Nhưng nhổ lông trên lưng con rùa,
bao giò dệt thành chiếc mũ dạ cho nổI? Đáng thương bác mã dạI dột, đến nay cứ
tâng bốc ta là hay. Người ta cười cho mà không hối, cứ như cho một lấy lại
nghìn!
7.
Mùa đông chí, cháu ông, An
Tiết đến thăm. Ông ra Hoàng châu đến bây giờ đã gần hai năm. Tình cố quận, tình
tha hương, cả hai đền mặn mà. Tuổi ông lúc đó gần tròn 46, mà đầu đã bạc. Mùa
thu, tóc trắng, đâu đâu cũng đồng vọng âm hưởng tịch liêu. Một già một trẻ, nơi
đồi núi xa xăm, sự đời như sóng nước Trường Giang; tháng 9 đã bắt đầu mùa nước
lũ; cuối đông, sương mù kéo dày trùng điệp. Cái nồng nàn, thắm thiết của hồn
thơ, biết đâu là cùng tận? Con chuột đói lần ra trong những đêm vắng. Tạo vật vốn
dĩ vô tình, nhưng tuế nguyệt la đà, mây trời chìm nổi; thì trên những triền núi
cheo leo, có khi cũng có thể nghe được tiếng đồng vọng mơ hồ của đêm dài heo
hút. Đồng vọng đó cũng có thể thấy ở chỗ “năm tháng cheo leo”, hay năm tháng
trơ vơ.
Nắng buổi chiều trợt dốc dài trên sườn núi, ruỗi dài giữa cô quạnh mông lung. Cái đó như là tâm sự được ký thác bên kia bờ viễn mộng; tâm sự riêng biệt của năm tháng, hay của cánh chim hồng, bay ngang qua dòng thác thời gian đổ xuống ào ạt?
Nắng buổi chiều trợt dốc dài trên sườn núi, ruỗi dài giữa cô quạnh mông lung. Cái đó như là tâm sự được ký thác bên kia bờ viễn mộng; tâm sự riêng biệt của năm tháng, hay của cánh chim hồng, bay ngang qua dòng thác thời gian đổ xuống ào ạt?
I
Nam lai bất giác tuế tranh
vanh
Tọa bát hàn hôi thính vũ
thanh
Già nhãn văn thơ nguyên bất
độc
Bạn nhân đặng hỏa diệc đa
tình
Ta dư lạo đạo vô qui nhật
Linh nhữ ta đà dĩ bán sanh
Miễn sử Hàn công bi thế sự
II
Tâm suy diện cải sấu tranh
vanh
Tương kiến duy ưng thức cựu
thanh
Vĩnh dạ tư gia tại hà xư
Tàn niên tri nhữ viễn lai
tình
Úy nhân mặc tọa thành si độn
Vấn cựu kinh hô bán tử
sanh
Mộng đoạn tửu thinh thu vũ
tuyệt
Tiếu khan cơ thử thượng
đăng khanh
|
南来不觉岁峥嵘
坐拨寒灰听雨聲
遮眼文书元不讀
伴人燈火亦多情
嗟余潦倒無歸日
今汝跎已半生。
免使韩公悲世事
白頭遑對短燈檠
心衰面改瘦峥嵘
相見惟應識舊聲
永夜思家在何處
残年知汝遠来情。
畏人默坐成痴钝
問舊驚呼半死生
梦断酒醒山雨絕
笑看饑鼠上橙檠。
|
(I)
Từ sang nam, bỗng chốc năm
đã chầy heo hút,
Giữa đêm dài ngồi khơi tro lạnh
nghe mưa rơi
Tay che mắt, thơ văn nguyên
chẳng đọc,
Bên bóng đèn ánh lửa ấm tình
người
Ta lận đận mấy năm trường
lưu lạc,
Cháu bon chen bươn bả nửa đời
rồi.
Thế sự đó ông Hàn xưa khỏi
khóc,
Đèn vắn chân tóc trắng vẫn
chưa thay.
(II)
Tâm suy mặt đổi gầy hốc hác,
Gặp nhau qua giọng cũ mà
thôi
Quê hương xa đồng vọng đêm
dài
Cháu lặn lội sưởi tình năm
tháng lại
Ngồi lặng tiếng bởi sợ người
nên ngây dại,
Bạn bè xưa sống chết nghĩ mà
kinh
Rượu tỉnh mơ tàn mưa đã dứt
Cười xem chuột đói leo chân
đèn
8
I
Cơ nhân hốt mộng phạn tắng
dật
Mộng trung nhất bão bách
ưu thất
Chỉ tri mộng phạn bản lai
không
Vị ngộ chân cơ thị hà vật
Ngã sinh vô điền thực phá
nghiễn
Nhĩ lai nghiển khô ma bất
xuất
Khứ niên thái tuế không tại
dậu
Bàng xá hồ tương bất dụng
khất
Kim niên hạn tuế phục như
thử
Tuế vãn hà dĩ kiềm ngô đột
Thanh thiên đãng đãng hô bất
văn
Huống dục khê thủ hào nê
Phật
Úng trung tích dịch vưu khả
tiếu
Kỳ kỳ mạch mạch hà đẳng trật
Âm dương hữu thì vũ hữu số
Dân thị thiên dân thiên tự
tuất
Ngã tuy cùng khổ bất như
nhân
Yếu diệc tự thị dân chi nhất
Hình dung tuy thị táng gia
cẩu
Vị khẳng nhị nhĩ tranh đầu
cốt
Đảo quán lạc trách tạ bằng
hữu
Độc dữ văn lôi cọng khuê tất.
Cố nhân sân ngã bất khai
môn
Quân thị ngã môn thùy khẳng
khuất
Khả liên minh nguyệt như
bát thủy
Dạ bán thanh quang phiên
ngã thất
Phong tùng nam lai phi vũ
hầu
Thả vị bì nhân tẩy chưng uất
Khiên thường nhất họa
khoái tai dao
Vị hạ cơ hàn niệm minh nhật
|
飢 人 忽 夢 飯 甑 溢 ,
夢 中 一 飽 百 憂 失 。
只 知 夢 飽 本 來 空 ,
未 悟 真 飢 定 何 物 。
我 生 無 田 食 破 硯 ,
爾 來 硯 枯 磨 不 出 。
去 年 太 歲 空 在 酉 ,
傍 舍 壺 漿 不 容 乞 。
今 年 旱 勢 復 如 此 ,
歲 晚 何 以 黔 吾 突 。
青 天 蕩 蕩 呼 不 聞 ,
況 欲 稽 首 號 泥 佛 。
甕 中 蜥 蜴 尤 可 笑 ,
跂 跂 脈 脈 何 等 秩 。
陰 陽 有 時 雨 有 數 ,
民 是 天 民 天 自 卹 。
我 雖 窮 苦 不 如 人 ,
要 亦 自 是 民 之 一 。
形 容 可 似 喪 家 狗 ,
未 肯 聑 耳 爭 投 骨 。
倒 冠 落 幘 謝 朋 友 ,
獨 與 蚊 雷 共 圭 蓽 。
故 人 嗔 我 不 開 門 ,
君 視 我 門 誰 肯 屈 。
可 憐 明 月 如 潑 水 ,
夜 半 清 光 翻 我 室 。
風 從 南 來 非 雨 候 ,
且 為 疲 人 洗 蒸 鬱 。
褰 裳 一 和 快 哉 謠 ,
未 暇 飢 寒 念 明 日 。
|
II
Khứ niên đông pha thập ngỏa
lịch
Tự chủng hoàng tang tam
bách xích
Kim niên ngải thảo cái tuyết
đường
Nhật chích phong xuy diện
như mặc
Bình sinh lại đọa kim thủy
hối
Lão đại cần nông thiên sở
trực
Phái nhiên lệ tứ tam xích
vũ
Tạo hóa vô tâm hoảng nan
trắc
Tứ phương thượng hạ đồng
nhất vân
Cam chú bất vi long sở
cách
Bồng cao hạ thấp nghinh hiểu
lỗi
Đăng hỏa tân lương thôi dạ
chức
Lão phu tác bãi đắc cam tẩm
Ngọa thính tường đông nhân
hưởng kịch
Bôn lưu vị dĩ khanh cốc
bình
Chiết vi khô hà tứ phiêu nịch
Hủ nho thô lệ chi bách
niên
Lực canh bất thọ chúng mục
liên
Pha pha lậu thủy bất nại hạn
Nhân lực vị chí cầu thiên
toàn
Hội đương tác đường kính
thiên bộ
Hoành đoạn tây bắc già sơn
tuyền
Tứ lân tương suất trợ cử xử
Nhân nhân tri ngã nang vô
tiền
Minh niên cọng khan quyết
cừ vũ
Cơ bão tại ngã ninh quan
thiên
Thùy năng bạn ngã điền
gian ẩm
Túy đảo duy hưu chi đầu
chuyên
|
去 年 東 坡 拾 瓦 礫 ,
自 種 黃 桑 三 百 尺 。
今 年 刈 草 蓋 雪 堂 ,
日 炙 風 吹 面 如 墨 。
平 生 懶 惰 今 始 悔 ,
老 大 勸 農 天 所 直 。
沛 然 例 賜 三 尺 雨 ,
造 物 無 心 怳 難 測 。
四 方 上 下 同 一 雲 ,
甘 霪 不 為 龍 所 隔 。
蓬 蒿 下 濕 迎 曉 耒 ,
燈 火 新 涼 催 夜 織 。
老 夫 作 罷 得 甘 寢 ,
臥 聽 牆 東 人 響 屐 。
奔 流 未 已 坑 谷 平 ,
折 葦 枯 荷 恣 漂 溺 。
腐 儒 麤 糲 支 百 年 ,
力 耕 不 受 眾 目 憐 。
破 陂 漏 水 不 耐 旱 ,
人 力 未 至 求 天 全 。
會 當 作 塘 徑 千 步 ,
橫 斷 西 北 遮 山 泉 。
四 鄰 相 率 助 舉 杵 ,
人 人 知 我 囊 無 錢 。
明 年 共 看 決 渠 雨 ,
飢 飽 在 我 寧 關 天 。
誰 能 伴 我 田 間 飲 ,
醉 倒 惟 有 支 頭 磚 。
|
III
Thiên công hiệu lệnh tái bất
xuất
Thập nhật sầu lâm tính vi
nhất
Quân gia hữu điền thủy mạo
điện
NBgã gia vô điền ưu nhập
thất
Bất như Tây châu Dương đạo
sĩ
Vạn lý tùy thân duy lưỡng
tất
Duyên lưu bất ố tố diệc
giai
Nhất diệp biển chu nhiệm
phong đột
Sơn khung mạch khúc đô bất
dụng
Nê hành lộ túc chung vô tật
Dạ lai cơ trường như chuyển
lôi
Lữ sầu phi tửu bất khả
khai
Dương sinh tự ngôn thức âm
luật
Động tiêu nhập thủ thanh
thả ai
Bất tu cánh đãi thu tỉnh
sáp
Kiến nhân bạch cốt phương
hàm bôi
|
天公号令再不出,
十日愁霖併為一。
君家有田水冒田,
我家無田憂入室。
不如西州杨道士,
萬里随身惟两膝。
沿流不恶惡斥亦佳,
一葉扁舟任風突。
山芎麦麴都不用,
泥行露宿终無疾。
夜來飢腸如轉雷,
旅愁非酒不可開。
杨生自言識音律,
洞蕭入手清且哀。
不须更待秋井塌,
见人白骨方衔杯。
|
Ba bài họa thơ của Không Nghị
Phủ. Thơ họa vần, nhưng cốt cách không phải là họa. Không chỉ tài tình, mà còn
tài hoa nữa. Giọng khinh bạc, thì cao vòi vọi. Giọng cay đắng, thì cay cùng cực.
Giọng nồng nàn, giọng giận dữ. Trong một cảm tình,
Đó há không là những phương trời viễn mộng, trong cùng một lúc, bỗng đột ngột hiện về? Ban đầu ông nói sử tình nắng hạn và cảnh khó của ông. Rồi bất chợt lời thơ như phẫn nộ, có thể thấy những chỗ ông gằn giọng, Cuối cùng là giọng thơ trở nên điềm đạm, và đến lúc chấm dựt thì ngậm ngùi: rượu nồng cho tình người nồng nàn trong một cõi nhân sinh, và xương trắng lạnh lùng với đất cho lịch sử trở thành những lời vĩnh tịch
Đó há không là những phương trời viễn mộng, trong cùng một lúc, bỗng đột ngột hiện về? Ban đầu ông nói sử tình nắng hạn và cảnh khó của ông. Rồi bất chợt lời thơ như phẫn nộ, có thể thấy những chỗ ông gằn giọng, Cuối cùng là giọng thơ trở nên điềm đạm, và đến lúc chấm dựt thì ngậm ngùi: rượu nồng cho tình người nồng nàn trong một cõi nhân sinh, và xương trắng lạnh lùng với đất cho lịch sử trở thành những lời vĩnh tịch
Nắng hạn cùng cực, mưa gió
cùng cực; mọi cái hiện ra trong sự cùng cực sôi động. Lời thơ có phẫn nộ, có
phóng dật, mang tất cả phong vận tài hoa sôi động, nhưng phảng phất một cõi trầm
lặng tịch liêu; một viên đá nhỏ nằm giữa ngã ba đường, trong cảnh tượng náo nhiệt.
Hồn thơ tỏa ra từ đó, bao trùm cả một cõi thơ bát ngát. Đá cuội say sưa nghiêng
ngửa, và xương trắng lạnh lùng không nói: đâu là trời thơ? Đó là dấu lặng trong
một bản đại hòa tấu. Không nên nghe một cách khinh suất.
Dịch nghĩa
(Các bài này vạn nhất đừng cố dịch
theo vần điệu. Người đọc dù không biết một tí chữ Hán. Trời thơ sẽ đến bất ngờ.
Mai sau xương trắng cửa mình nín lặng dưới lòng đất, nhưng đá cuội bên đường sẽ
nghe ra hế, và gật đầu trong sự tình giao ứng.)
I
Người đói bỗng nằm mộng thấy
bát cơm đầy;
Một bữa no trong cơn mộng mà
một trăm nỗi ưu phiền tiêu tất cả
Chỉ biết rằng cái no trong mộng
bản lai là không.
Chứ chưa tỏ ngộ được cái đói
thực sự là cái gì.
Tôi sinh ra không có ruộng,
kiếm ăn bằng nghiên mực mẻ;
Từ lâu nghiên mực đã khô,
mài không ra
Năm ngoái sao Thái tuế nằm
trơ tại dậu,
Nhà bên cạnh, một lọ tương
cũng không chịu xin.
Mà năm nay, cái thế hạn lại
như vậy.
Cuối năm, lấy gì nấu cho đen
ống khói nhà tôi?
Trời xanh vòi vọi, kêu không
thấu.
Còn lại muốn cúi đầu réo Phật
đất nữa ư?
Con thằn lằn trong vò lại
đáng nực cười
Bò tới bò lui lịch kịch, chẳng
ra đầu đuôi gì cả.
Âm dương có thời, mưa gió có
số
Dân là dân của trời, trời phải
thương;
Tôi tuy cùng khổ, chẳng hơn
được ai,
Nhưng cũng là một người
trong đám dân đó.
Hình dung tuy như con chó
nhà ma,
Nhưng chưa chịu vểnh tai
dành cái mẩu xương vứt ra đó.
Bứt giải, lột mũ, tạ bạn bè,
Một mình cùng với lũ ruồi,
chúng kêu vo vo như sấm, bu lại trên đám hành.
Bạn bè giận tôi không mở cửa
Nhưng ngài thử coi, ai khứng
nghiêng mình trước cửa nhà tôi?
Chỉ thương tình trăng ngây
thơ tuôn ánh sáng như nước xối,
Nửa đêm đổ ánh sáng mát lọt
vào nhà ta,
Gió từ nam thổi tới, chưa phải
là lúc có mưa
Nhưng cũng vì cái người mệt
mỏi mà rửa sách những nực nội ấm ức trong lòng
Vén tay áo đáp lại bằng một
bài dao: rằng sướng thay!
Nhưng chưa một thoáng, lại
nghĩ tới chuyện đói no ngày mai.
II
Năm ngoái, dọn gạch ngói tại
đông pha,
Tự trồng dâu trong ba trăm
thước đất.
Năm này cắt cỏ lợp nhà tuyết
Nắng rám, gió thổi, mặt đen
như mực.
Bình sinh biếng nhác, nay mới
hối.
Già nua mà chăm chỉ làm ruộng,
nên trời thương,
Chiếu lệ đổ mưa rầm rầm, cao
ba thước.
Tạo hóa vô tâm, mù mờ khó lường
nổi.
Mây cả một vùng, khắp bốn
phía, từ trên đến dưới;
Đổ mưa dầm không ngớt, không
cho rồng nghỉ ngơi.
Sớm mai, lau sậy dưới đất
trùng đã đón lưỡi cày.
Đèn lửa sáng tươi trở lại,
thúc giục người ta dệt vải ban đêm.
Lão phu làm ruộng xong được
một giấc ngon;
Nằm nghe bên tường đông có
người khua tiếng guốc.
Nước chảy chưa bao lâu, hầm
hố đầy cả.
Lau gãy, sen héo, mặc tình
chìm nổi.
Hủ nho giã gạo thô tưởng chừng
một trăm năm chưa chắc xong;
Ra sức cày, mà cày không nổi,
con mắt mọi người trông thấy mà thương.
Bờ ruộng vỡ, nước chảy tràn
vào, bất kể trời hạn.
Sức người chưa ra hết sực, lại
phải cầu trời làm trọn cho, mới mong!
Lại phải đào ao, dài một
nghìn bộ,
Nằm ngang cắt đôi tây bắc, cản
suối trên đổ xuống.
Hàng xóm kéo nhau đến giúp
tay, nhắc hộ cái chày!
Ai ai cũng biết túi tôi
không mống tiền.
Sang năm rồi coi, mưa sẽ làm
vỡ con kênh đó!
Đói no tại ta, mắc chi đến
trời?
Ai có thể ngồi uống rượu với
ta giữa ruộng?
Đó là viên sỏi đầu ngã ba,
nó đã say nghiêng ngửa.
IV
Ông trời không ban hiệu lệnh
mưa nữa.
Mưa một lần suốt luôn mười
hôm, dầm dề ủ dột.
Nhà bác có ruộng, nước tuôn
ngập ruộng
Nhà tôi không ruộng lại lo
nước tràn lên thềm.
Chẳng bằng như Tây Châu
Dương đạo sĩ,
Đi hàng vạn dăm, chỉ theo
mình hai cái đầu gối.
Xuôi dòng không ghét, ngược
dòng cũng tốt
Một mảng thuyền, mặc tình
trôi.
Cỏ thuốc rừng, rượu bếp tẻ,
đều không cần.
Lội bùn, ngủ sương, không vội
vã;
Nhưng đêm đến, bụng đói, kêu
như sấm
Thì cái sầu cô lữ, không rượu,
làm sao nguôi?
Lão Dương tự cho giỏi âm luật,
Đưa sáo vào tay, tiếng nghe
trong mà buồn.
Khỏi đợi giếng mùa thu vỡ nước
Thấy người xương trắng mới
ngậm chén.
[1] Đoản
đăng khanh, chân đèn vắng, trong m ột b ài th ơ c ủa H àn Dũ . Đại khái: chân
đèn dài, tám thước, chỉ để mà dài; chân đèn vắn, hai thước, vừa tiện lại vừa
sáng, Anh học trò lúc 20 tuổi, giã nhà đi lập danh phận. Đêm đêm chong đèn ngồi
đọc sách trước cây đèn chân vắn. Rồi sau giàu sang, chong đèn chân dài cho đẹp
nhà đẹp cửa. Cây đèn chân vắn bị bỏ rơi, nằm buồn câm nín tại một góc tường
Bóng đèn khuya, con chuột
đói, và nỗi buồn lữ thứ
LỜI DẪN
Trăng thanh cấm trên kia
vùng sa mạc
Trời Vũ lâm in mộng triệu
sông hồ
Đó là bầu trời đồng vọng,
trong tương ứng. Thơ chen chúc giữa những gió và nhưng bụi của kinh thành, của
ngọc đường kim mã, nên cái đồng vọng nghe ra những tiếng nghẹn ngào. Thăng hay
trầm trong cuộc sống, cái đó không làm ra Thơ, không tạo dựng nổi cõi thơ.
Không phải đi từ cực đỉnh công hầu xuống đến tận chỗ đọa đày cùng quẫn áo cơm
mà trời Thơ có thể mở rộng. Thơ là cánh nạn lạc bầy đi tìm kiếm quê hương khắp
suốt sơn cùng thủy tận, mà quê hương vẫn đồng vọng trong cách điệu không lời,
không chốn.
Thì người lịch nghiệm tồn sinh trên đôi cánh mỏng của Thơ, đến đâu chẳng là đất Trích. Gió bấc lạnh kinh hồn thổi vèo sương tuyết lên cùng sa mạc của đất Trích, cho nên trời trăng sao kia vẫn in mộng triệu sông hồ. Nhưng, trăng sao trên đó, và sông hồ dưới này, hai cõi miền xa xôi hoằng viễn. Mộng triệu đó mới thành ra là Viễn mộng. Bầu trời đó mới trở nên Trời Viễn mộng đọa đày cuộc Lữ. Rồi kỳ cùng của cuộc Lữ sẽ là đâu?
Thì người lịch nghiệm tồn sinh trên đôi cánh mỏng của Thơ, đến đâu chẳng là đất Trích. Gió bấc lạnh kinh hồn thổi vèo sương tuyết lên cùng sa mạc của đất Trích, cho nên trời trăng sao kia vẫn in mộng triệu sông hồ. Nhưng, trăng sao trên đó, và sông hồ dưới này, hai cõi miền xa xôi hoằng viễn. Mộng triệu đó mới thành ra là Viễn mộng. Bầu trời đó mới trở nên Trời Viễn mộng đọa đày cuộc Lữ. Rồi kỳ cùng của cuộc Lữ sẽ là đâu?
I
(I)
Trúc ngoại đào hoa tam lưỡng
chi
Xuân giang thủy noãn áp
tiên tri
Lâu cao mãn địa lô nha đoản
Chính thị hà đồn dục thượng
thì
|
竹外桃花三两枝,
春江水暖鸭先知
萎蒿满地芦芽短
正是河豚欲上时
|
(II)
Lưỡng lưỡng qui hồng dục
phá quần
Y y hoàn tợ bắc qui nhân
Diêu tri sóc mạc đa phong
tuyết
Cánh đãi Giang nam bán
nguyệt xuân
|
兩兩歸鴻欲破群,
依依還似北歸人。
遙知朔漠多風雪,
更待江南半月春
|
Mùa xuân, ở Huệ sùng, buổi
chiều trên sông. Bấy giờ là vào năm bính dần (1086), ông đã trở về kinh, sau
năm năm bị biếm trích. Tâm sự vẫn như cánh nhạn lạc bầy, giữa đất kinh kỳ của
sa mạc bắc phương, đầy sương tuyết.
I
Ngoài khóm trúc đào hoa mấy
nhánh
Nước mùa xuân nắng ấm vịt
hay rồi
Lau lách um tùm, chồi vi lô
vừa lú
Cá lòng sông lên đớp bóng ăn
mồi
II
Đường lên bắc mấy cánh hồng
lẻ bọn
Bay dật dờ như người trở gót
lưu li
Trời sa mạc tưởng chừng
sương tuyết nặng
Đợi con trăng nửa mảnh ở nam
về.
2.
Bấy giờ là năm bính dần
(1086), năm đầu của triều vua Triết tông, nguyên hựu thứ nhất. Ông 51 tuổi, được
vận thất phẩm phục, vào hầu triều, giữ chắc Trung thư xá nhân, rồi được dời
sang Hàn lâm viện phụ trách soạn Chế Cáo cho vua
Ngày 29 tháng 11 năm đó, bàn
chuyện cũ với Đặng Thánh Cầu. Cầu là Hàn lâm viện thừa chỉ, trước kia làm Vũ
xương lệnh, thường chơi Hà khê, Tây sơn. Lúc Đông Pha bị biếm trích ở Hoàng
châu, đối ngạn với Vũ Xương, cũng từng chơi mấy chỗ đó. Thánh Cầu có làm bài
mình khắc tại vách đá ở Vũ Xương; nhân đó, Ông làm bài thơ để cho người
khắc cạnh bài minh của Cầu. Ông nói những ngày tháng ngao du ở Vũ Xương, trng
thời kỳ bị biếm trích. Đây là những câu cuối của bài thơ đó:
Sơn nhân trướng không viên hạc
oán
Giang hồ thủy sinh hồng nhạn
lai
Thỉnh công tác thi ký phụ
lão
Vãng hoà vạn hác tùng phong
ai
Người thợ săn bủa lưới giăng
trời làm cho vượn, hạc sinh oán. Sông hồ đầy nước, cánh hồng cánh nhạn bay đến.
Bài thơ làm khắc bên vách đá để ngày tháng cùng kêu với gió thông và các hốc
núi.
Làm xong bài thơ đo, mà tình
tự còn dài, cảm hứng tưởng còn đồng vọng xa xôi. Ông làm thêm một bài nữa, lấy
vận của bài trước. Đó là bài được trích ở đây.
Chu nhan phát quá như xuân
phôi
Hung trung lê táo sơ vị
tài
Đan sa vị dị tảo bạch phát
Xích tùng khước dục tham
Hoàng mai
Hàn khê bản tự Viễn công
xã
bạch liên thúy trúc y thôi
ngôi
Đương thời thạch tuyền chiếu
kim tượng
Thần quang dạ phát như Ngũ
đài
Ẩm tuyền giám diện chân đắc
ý
Tọa khan vạn vật giai phù
ai
Dục thâu mộ cảnh phản điền
lý
Viễn tố giang thủy cùng ly
đôi
Hoàn triều khởi độc tu lão
bịnh
Tự thán tài tận khuynh
không lôi
Chư công cừ cừ nhược hạ ốc
Thôn thổ phong nguyệt
thanh ngung ôi
Ngã như phế tỉnh cửu bất
thực
Cổ trứu khuyết lạc sinh âm
đài
Số thi vãng phục tương cảm
phát
Cấp tân trừ cựu hàn quang
khai
Diêu tri nhị nguyệt xuân
giang khoát
Vân lãng đảo quyển vân
phong tồi
Thạch trung vô thanh thủy
diệc tĩnh
Vân hà giải chuyển không
sơn lôi
Dục tựu chư công bình thử
ngữ
Yếu thức ưu hỉ hà tùng lai
Nguyện cầu Nam tông nhất
điếu thủy
Vãng dữ Khuất Giả tiên dư
ai
|
朱 顏 發 過 如 春 醅 ,
胸 中 梨 棗 初 未 栽 。
丹 砂 未 易 掃 白 髮 ,
赤 松 卻 欲 參 黃 梅 。
寒 溪 本 自 遠 公 社 ,
白 蓮 翠 竹 依 崔 嵬 。
當 時 石 泉 照 金 像 ,
神 光 夜 發 如 五 臺 。
飲 泉 鑑 面 得 真 意 ,
坐 視 萬 物 皆 浮 埃 。
欲 收 暮 景 返 田 里 ,
遠 泝 江 水 窮 離 堆 。
還 朝 豈 獨 羞 老 病 ,
自 歎 才 盡 傾 空 罍 。
諸 公 渠 渠 若 夏 屋 ,
吞 吐 風 月 清 隅 隈 。
我 如 廢 井 久 不 食 ,
古 甃 缺 落 生 陰 苔 。
數 詩 往 復 相 感 發 ,
汲 新 除 舊 寒 光 開 。
遙 知 二 月 春 江 闊 ,
雪 浪 倒 卷 雲 峰 摧 。
石 中 無 聲 水 亦 靜 ,
云 何 解 轉 空 山 雷 。
欲 就 諸 公 評 此 語 ,
要 識 憂 喜 何 從 來 。
願 求 南 宗 一 勺 水 ,
往 與 屈 、 賈 湔 餘 哀 。
|
Xích Tùng Tử là lão tiên ông
đã dạy đạo cho Trương Lương, cái đạo công thành thân thoái của Lão Tử. Hoàng
Mai là Ngũ tổ Hoằng Nhẫn trao diệu lý Thiền tông cho Huệ Năng.
Tuệ Viễn, từ đời Tấn, đã ẩn mình thế ngoại trên Lô Sơn, trọn đời không bước qua khỏi Hổ khê; cùng với 18 người bạn, Đông lâm thập bát hiền, lập Bạch Liên xã tu Phật ở đó. Ngũ đài sơn là ngọn núi mà Bồ tát Văn Thù thường lai vãng, có khi hiện thân làm mục đồng hát nghêu ngao. Đó cũng là nhưng phương trời viễn mộng vang dội mãi trong thơ của ông.
Tuệ Viễn, từ đời Tấn, đã ẩn mình thế ngoại trên Lô Sơn, trọn đời không bước qua khỏi Hổ khê; cùng với 18 người bạn, Đông lâm thập bát hiền, lập Bạch Liên xã tu Phật ở đó. Ngũ đài sơn là ngọn núi mà Bồ tát Văn Thù thường lai vãng, có khi hiện thân làm mục đồng hát nghêu ngao. Đó cũng là nhưng phương trời viễn mộng vang dội mãi trong thơ của ông.
Nét thanh xuân nở rộ như rượu
nồng trinh nguyên chưa lọc,
Mà rừng táo ẩn dật đã chưa
gieo trồng trong bụng
Đan sa cũng chưa dễ gì quét
sạch tóc bạc.
Kiếm xích tùng rồi lại muốn
hỏi đạo với Hoàng Mai
Dòng suối lạnh vẫn chỉ riêng
nơi bạn bè của Tuệ Viễn
Sen trắng, tre xanh, vẫn còn
cao xa diệu vợi.
Lúc bấy giờ suối đá chiếu tượng
vàng,
Ban đêm thần quang rực rỡ
trên Ngũ đài
Uống nước suối, soi mặt, mà
thấy được chân ý,
Ngồi coi vạn vật đều như bụi
mờ
Những dọn cảnh trời chiều trở
về ruộng rẫy
Rong xa cùng sông nước, đi
suốt cùng rặng núi Ly đôi (ở bên dòng Trường giang tại tỉnh Tứ xuyên)
Nay trở về triều, đâu chỉ thẹn
vì tuổi già và yếu kém,
Mà sầu khô vì tài đã hết, đã
dốc cạn chén không;
Các bạn phơi phới như căn
nhà rộng
Còn tôi như giếng bỏ lâu
không dùng
Thành giếng gãy đổ, rêu mờ
phủ kín.
Vài câu thơ qua lại gợi nhớ
mà thôi.
Uống cái mới, trừ cái cũ,
ánh sáng lạnh lẽo mở ra vắng vẻ.
Trời tháng hai, ngoài kia
con nước mùa xuân lai láng,
Sóng cuồn cuộn đổ rầm như
gió tuôn ào ạt
Đá im hơi dòng nước lặng như
tờ,
Làm sao nghe được tiếng sấm
dậy trên rừng hoang?
Muốn gặp các bác bình việc
đó,
Để biết cái vui buồn từ đâu
mà lại,
Chỉ mong một giọt nước đạo
Thiền đốn ngộ,
Cùng Khuất Nguyên, Giả Nghị,
rửa sạch mọi u sầu.
Ông tự chú: Thơ Vị Ứng Vật:
Thủy tánh bản vân tĩnh
Thạch trung cố vô thinh
Như hà lưỡng tương kích
Lôi chuyển không sơn kinh.
Tánh nước nói là tĩnh
Trong đá vốn không tiếng
Sao khi chúng chạm nhau
Sấm dậy vang núi vắng?
3
Vân hải tương vọng ký thử
thân
Na nhân viễn thích cánh
thiêm cân
Bất từ dịch kỵ lăng phong
tuyết
Yếu sử thiên kiêu thức phụng
lân
Sa mạc hồi khan Thanh cấm
nguyệt
Hồ sơn ứng mộng Vũ lâm
xuân
Thiên vu nhược vấn quân
gia thế
Mạc đạo trung triều đệ nhất
nhân.
|
云海相望寄此身,
那因远适更沾巾。
不辞驿骑凌风雪,
要使天骄识凤麟。
沙漠回看清禁月,
湖山应梦武林春。
单于若问君家世,
莫道中朝第一人
|
Từ Tống Triết tông, nguyên hựu
thứ 4, năm kỷ ty. (1089), ông xin ra ngoại nhiệm; cốt ý tránh tai vạ. Bấy giờ
ông lĩnh chức Long đồ các học sĩ ra coi Hàng châu. Vì ông trực ngôn, gây
nhiều oán hận nơi các quan lại đương triều, càng ngày càng nhiều.
Kể từ lúc ông trở về triều,
năm nguyên hựu thứ nhất, cho đến năm đó, trải qua bốn năm; ông giữ chức Trung
thư xá nhân, rồi Hàn lâm viện học sĩ, Hàn lâm viện thị độc. Trong những
năm này, thơ ông phần lớn là những bài thù tạc, đối ứng. Chúng chen chúc với
khói bụi kinh thành. Cho nên khi trở lại Hoàng châu, ông dâng biểu về triều, có
nói: “Giang sơn cố quốc, đến cũng như đi; phụ lão, di dân, cùng với thần chăm hỏi
nhau…”. Đấy là lúc sau 15 năm trở lại Hàng châu. Rối lúc viếng lại Tây hồ, ông
tưởng chừng như gặp lại cái gì đó thao thiết nhất của mình trong quá khứ:
Hoàn tùng cựu xã đắc tâm ấn
Tợ tỉnh tiền sinh mịch thủ
thơ.
Khi ông lãnh chức Long đồ
các học sĩ ra coi Hàng châu, Tử Do thay ông giữ chức Hàn lâm viện Thị độc tại
triều. Năm đó, kỷ tỵ (1089). Tử Do đi sứ Khiết đan. Năm trước, ông được cử đi,
nhưng xin từ.
Bấy giờ ông đang ở tại Hàng
châu, nên thơ nói: “Vũ lâm…”, đó là ngọn núi ở Hàng châu. Và Tử Do cũng đang
làm Hàn lâm viện thị độc tại triều, nên thơ nói: “… Thanh cấm…” Thanh cấm, tức
câm cung ở nội triều, nơi làm việc của các quan Hàn. Thoạt tiên, thơ go85i hứng
tự tình giữa ông và Tử Do, nên lời htơ bộc trực và đậm đà. Nhưng rồi trời thơ
đó bỗng mở ra cánh cửa hoằng viễn. Trăng trên miền sa mạc bắc phương cùng hiện
về trong cõi mộng trên các sông hồ của nam hoa. Đó là cách điệu thanh thiết, và
tráng lệ của thơ. Hai câu 5 và 6 thật tuyệt diệu.
Người từ biển đông trông
sang;
Người từ mây bắc ngó lại.
Đường xa xôi và tình đẫm mấy
lần khăn.
Vượt gió tuyết qua mấy trùng
quán trọ,
Cho giặc trời trông rõ mặt phượng
lân.
Trăng Thanh cấm trên kia
vùng sa mạc,
Trời Vũ lâm in mộng triệu
sông hồ.
Thiền vu nếu hỏi gia thế
chú,
Đừng nói trong triều Đệ nhất
nhân
LỊCH NGHIỆM KỲ CÙNG CUỘC LỮ
(……)
Đài Thành một thuở Thi Thơ
Xe Vàng còn mộng quanh tà áo
Thu
Tóc Mai về, sương Ngô điểm
mái
Thân tàn như cỏ dại bờ đê
Đăm đăm từ giã Kinh Kỳ
Lao đao thần tử miền quê lạc
loài
1.
Tống Huy Tông, Thiệu thánh
nguyên niên, giáp tuất (1094), Ông 59 tuổi, bị đày xuống Huệ Châu
Năm trước, Ông đang giữ chức
Đoan minh điện học sĩ kiêm Hàn lâm viện thị độc. Huy Tông vừa lên ngôi mà mầm họa
lớn đã chớm nở tại triều đình. Lại thêm một lần muốn tránh tai vạ không lường,
Ông xin ra làm thái thú Định Châu. Nhưng đến năm sau, bị giáng chức, phải đổi
đi Anh châu; đi chưa đến nơi, bị cách chức tuốt luốt, đày xuống Huệ châu.
Bước ra đi, với người tiễn
khách, thơ ông gửi Sâm Liêu Tử:
Mạc Ngôn Tây Thục vạn lý
Thả đáo Nam hoa nhất du
Phù bịnh giang biên tống
khách
Trượng noa phố khẩu hồi đầu
Đường Tây Thục đã là hiểm trở
Miền Nam hoa một chuyến càng
ghê
Người gượng bịnh bên dòng tiễn
khách
Gậy cầm tay phố khẩu ngóng về.
Ai đã từng đọc bài thơ “Đường
vào đất Thục” của Lý Bạch, phải biết cái hiểm trở kinh người nó mang những sắc
diện hãi hùng như thế nào. Thì đường đi Nam hoa của ông, thử một lần mới biết;
với đường vào đất thục, mối kinh tâm động phách cũng ra ngoài tưởng tượng. Cuộc
tiễn chân, ẩn chứa bi hùng trong nỗi trầm tư lữ thứ.
Tháng 6 năm đó, thuyền ông đỗ
bến Kim lăng, gặp giông tố, lời thơ ông vọng về mấy người bạn xa xôi:
Kim nhật giang đầu thiên sắc
ác
Pháo xa vân khởi phong dục
tác
Độc vọng Chung sơn hoán Bảo
công
Lam gian bạch tháp như cô hạc
Bảo công cốt lãnh hoán bất
văn….
Sắc trời như sụp xuống đầu
sông. Xe bay mây trổi gió đùng đùng. Chỉ còn nước vọng về Chung sơn mà réo gọi
Bảo công. Giữa rừng, nơi tháp trắng lẻ loi như cánh hạc; Bảo công xương lạnh,
réo không nghe.
Rồi ngang qua Lô sơn, trời
mây bỗng cuộn cuộn, như long lở núi. Ông kêu gọi thần linh yểm trợ:
Ngũ lão sỗ tùng tuyết
Song khê lạc thiên đàm
Tuy vân mặc đảo ứng
Cố hữu di văn tàm
Ngọn Ngũ lão, đã có lần chào
đón ông trong phong vận tài tử, và những con suối từ cao đổ xuống trước kia
chúng kiêu hùng cho tài hoa thưởng ngoạn. Bây giờ, trông xa xa, Lô sơn bỗng là
những biến tượng đọa đày. Chân diện mục đã một lần như vén mở, nhưng vén mở rồi
khép lại từ nào, mà trong bước đường Lữ thứ bây giờ, trời Lô sơn trở thành khổ
luỵ nhân sinh đổ ào ào xuống.
Lại cái màu xanh biếc kia nữa.
Màu xanh biếc của ngọn Nga mi, màu xanh trong phương trời đồng vọng quê hương
thuở xưa. Trong những ngày đó, ngọn Nga Mi xanh biếc giữa bầu trời là tình tự đầm
ấm của quê hương. Nhưng bây giờ, màu đó chợt một lần thoáng qua giấc mộng cũng
đủ gây ra vô số đoạn trường:
Thanh khê điện chuyển thất
vân tung
Mộng lý do kinh thúy tảo
không
Suối trong sấm sét dậy, sụp
đỉnh mây ngàn. Trong giấc mộng, mà còn kinh màu biếc giữa trời.
Cho đến tháng tám, ngày mồng
7, ông vào Cống châu, ngang qua thác Hoàng khủng. Thì nơi đây, thơ đột ngột hiện
lên những lời của viễn mộng:
Thất thiên lý ngoại nhị mao
nhân
Thập bát than đầu nhất diệp
thân
Sơn ức Hỉ hoan lao viễn mộng
Địa danh Hoàng khủng khấp cô
thần
2.
Trên đường đi tới Huệ châu,
ông gặp chùa Thiên trúc, ghé lại thăm, gặp bút tích của Lão Tô, ông làm thơ và
tự viết lời dẫn:
“Tôi năm 12 tuổi, tiên quân
từ Kiềng châu về nói với tôi rằng: Gần thành, trong núi có chùa Thiên
trúc, có bài thơ Bạch lạc Thiên tự tay viết:
Nhất sơn môn tác lưỡng sơn
môn
Lưỡng tử nguyên tùng nhất tự
phân
Đông giạn thủy lưu tây giạn
thủy
Nam sơn vân khởi bắc sơn vân
Tiền đài hoa phát hậu đài kiến
thượng giới chung thanh hạ
giới văn
Diêu tưởng ngô sư hành đạo xứ
Thiên hương quế tử lạc phân
phân
“Bút thế kỳ dật, dấu vết như
mới, nay đã 47 năm rồi.
“Tôi đến hỏi thăm, thì thơ
đã mất, chỉ còn tấm đá khắc mà thôi. Ngậm ngùi nước mắt chảy, nên làm bài thơ
đó”
Bài thơ ông như thế này:
Hương Sơn cư sĩ lưu di
tích
Thiên trúc thiền tăng hữu
cố gia
Không vịnh liên châu ngâm
điệp bích
Dĩ vong phi điểu thất kinh
xà
Lâm thâm dã quế hàn vô tử
Vũ ấp sơn khương bịnh hữu
hoa
Tứ thập niên tiền chân nhất
mộng
Thiên nhai lưu lạc thế
hoành tà
|
香山居士留遺跡
天竺禪師有故家
空詠連珠吟疊璧,
已亡飛鳥失驚蛇。
林深野桂寒無子,
雨浥山薑病有花。
四十七年真一夢,
天涯流落淚橫斜
|
Hương sơn cư sĩ lưu di tích
Thiên trúc thiền sư có của
nhà
Chuỗi hạt lần không, mòn
vách đá
Chim ngàn biền biệt rắn chuồn
xa
Mùa lạnh rừng sâu còn quế dại
Người đau mưa núi đượm gừng
tra
Bốn bảy năm rồi như mộng ảo
Ven trời đổ lệ đọa đày
xa
Thơ như thế là đồng vọng của
cõi đời trầm mặc. Nhưng tình thơ nồng đượm khôn cùng, cho nên những tiếng thì
thầm của lịch sử tồn sinh ngân vang khúc đoạn trường khổ lụy. Rừng núi thâm u,
tiếng lần chuỗi của thiền sư trong nỗi đời trầm lặng cô liêu mà cũng trở thành
những tiếng vang dậy, thì cánh chim đang ngơ ngác cũng giật mình sửng sốt bay
đi, và con rắn đang cuộn tròn trong hốc đá cũng hoảng sợ chuồn mất. Tiếng đó là
tiếng gì mà nghe nó kì dị như thế, nếu không là âm hưởng trầm trọng của thảm họa
hoành sinh tràn đầy trong cuộc Lữ, cuộc Lữ của tồn sinh mộng ảo?
3.
Từ Quảng Châu ra đi, còn
cách Huệ Châu đất trích khoảng một trăm cây số nữa. Trên đường đi ngang qua La
phù sơn. Trước thời nhà Đường, đất này trực thuộc Giao chỉ. Đời Đông Tấn, có
Cát Hồng, tự xưng là Tiểu Cát Tiên ông, và tự hiệu là Bảo Phác Tử, nghe đồn
Giao Chỉ có nhiều đan sa, nên dẫn gia đình đến đây để luyện đan. Ông ấy ngụ và
chết luôn tại La Phù Sơn này, chưa nếm được tiên đan trường sanh bất tử. Theo lời
chú của ông, thơ Lưu Mộng Đắc có kể, tại La phù, nửa đêm có thể thấy mặt trời,
và ông cho là chuyện lạ. Núi có hai lầu đá, chùa Diên Tường ở lầu nam, động Chu
Minh ở phía sau Xung hư quán, được coi là động trời thứ bảy của cõi Bồng lai.
Sau quán Xung hư có đàn Triều đẩu, tức đàn ngắm sao, của Chu Minh chân nhân. Gần đàn, ông lượm được 6 con rồng bằng đồng và một con cá cũng bằng đồng. Trong núi có thiết kiều, tức cầu sắt, và thạch trụ; ông nói, ít ai đi tới những chỗ đó. Tuốt trong núi sâu, có khe suối, có con cọp câm đi tuần sơn thường lai vãng đó.
Sau quán Xung hư có đàn Triều đẩu, tức đàn ngắm sao, của Chu Minh chân nhân. Gần đàn, ông lượm được 6 con rồng bằng đồng và một con cá cũng bằng đồng. Trong núi có thiết kiều, tức cầu sắt, và thạch trụ; ông nói, ít ai đi tới những chỗ đó. Tuốt trong núi sâu, có khe suối, có con cọp câm đi tuần sơn thường lai vãng đó.
Tại đây, ông làm thơ:
Nhân gian hữu thử bạch ngọc
kinh
La phù kiến nhật kê nhất
minh
Nam lâu vị tất Tề nhật
quán
Uất nghi tự dục triều Chu
minh
Đông Pha chi sư Bảo Phác
lão
Châu Khế tảo dĩ giao tiền
sinh
Ngọc đường kim mã cửu lưu
lạc
Thốn điền xích trạch kim
qui canh
Đạo Hoa diệc thường đạm nhất
tảo
Khế Hư chính dục cưu tam
bành
Thiết Kiều thạch trụ liên
không hoành
Trượng lê dục sấn phi nhu
khinh
Vân khê dạ phùng ám hổ phục
Đẩu đàn trú xuất đồng long
nanh
Tiểu nhi thiếu niên kỳ hữu
chi
Trung tiêu khởi tọa tồn Huỳnh
đình
Cận giả hí tác Lăng vân
phú
Bút thế phảng phất Ly tao
kinh
Phụ thơ tùng ngã cái qui
khứ
Quần tiên chánh thảo tận
cung minh
Nhữ ưng nô lệ Thái Thiếu
Hà
Ngã diệc quí mạnh Sơn Huyền
Khanh
Hoàn tu lược báo Lão Đồng
Thúc
Doanh lương vạn lý tầm Sơ
Bình
|
人间有此白玉京,
羅浮見日雞一鸣。
南楼未必齎日觀,
鬱儀自欲朝朱明。
東坡之師抱朴老,
真契蚤已交前生
玉堂金馬久流落,
寸田尺宅今歸耕。
道華亦嘗啖一棗,
契虚正欲仇三彭。
铁橋石柱連空横,
杖藜欲趁飛猱輕。
雲溪夜逢暗虎伏,
斗壇晝出铜龍獰。
小兒少年有奇志,
中宵起坐存黄庭。
近者戏作凌蕓賦,
筆勢髣艴籬騷經。
負蓍從我盍歸去,
群仙正草新宫铭。
汝應奴隸蔡少霞,
我亦季孟山玄卿。
還須略報老同叔,
赢糧萬里尋初平
|
Bài thơ kèm theo một số chú
thích của chính ông. Ở đây, hãy ghi lại một ít chú thích đó:
Đạo Hoa: Đời Đường, đạo
sĩ ở Vĩnh Lạc, tên Hầu Đạo Hoa, uống vụng thuốc tiên của Đặng Thiên Sư rồi trốn
đi. Ở Vĩnh Lạc có thứ táo không hạc; chỉ một mình Đạo Hoa có chứ không ai có.
Tôi (lời ông) ở Kỳ Hạ có lần ăn được một quả
Khế Hư: Tăng đời Đường.
Khế Hư, gặp người dẫn chơi phủ tiên ở Trí Sơn; Chân nhân hỏi: “Ông tuyệt hết
tam bành trong lòng chưa?”. Khế Hư không đáp được.
Tân cung minh: (lời chú này
của riêng người soạn sách): Quần tiên mỗi khi dụng xong cung điện, cần phải có
một bài minh, để ghi khắc. Chuyện nhà thơ Lý Hạ: Lý Hạ chết yểu (26 tuổi); nửa
đêm về báo mộng cho mẹ, nói thượng giới vừa dựng xong một cung điện, thiếu người
viết bài minh, nên Ngọc đế sai người xuống trần triệu Lý Hạ lên
Thái Thiếu Hà (lời chú của
ông): Đời Đường, có người nằm mộng thấy viết bài thấy viết bài Tân cung minh,
nói: Tử Dương Chân nhân Sơ Huyền Khanh, đại lược:
Lương thường Tây lộc
Nguyên trạch Đông tiết
Tân cung hoằng hoằng
Sùng hiên nghiệt nghiệt
Lại có Thái Thiếu Hà mộng
người sai viết bia, đại lược: “Công tích thừa ngư xa, kim lý thụy vân, xúc
không ngưỡng đồ, ỷ lạc luân khôn”. Dưới hết đề: ngũ vân thư các Thái Thiếu Hà
thư.
Đồng Thúc: ông tự chú: Tử Do
còn có tự là Đồng Thúc.
Nhân gian sao có kinh bạch
ngọc
Phù sơn canh ba thấy mặt trời
lầu nam chưa chắc quán Tề nhật
(cao bằng mặt trời)
Khúm núm như muốn chầy Chu
minh
Thầy Đông Pha là lão Bảo
Phác
Chân Khế là bạn giao du đời
trước
Nhà vàng của ngọc lưu lạc từ
xưa
Tấc vườn Đạo Hoa đã từng thưởng
thức
Tam bành Khế Hư ruột vẫn đeo
mang
Cầu sắt trụ đá kéo bắc ngang
không
Lê cao nghều nghệu muốn leo
như khỉ
Đêm gặp cọp rình nơi suối
Vân Khê
Ngày bắt nanh rồng trước đàn
Triều đẩu
Trẻ con nhỏ tuổi có chi lạ
Nửa đêm dậy đọc kinh Huỳnh
đình
Vừa rồi làm chơi bài Lăng
vân phú
Bút thế từa tựa Ly tao kinh
Cắp sách theo ta về nhà gấp
Quần tiên đang thảo Tân cung
minh
Mi làm đày tớ Thái Thiếu Hà
Ta cũng xấp xỉ Sơn Huyền
Khanh
Lại đến tin sơ chú Đồng
Thúc
Chứa lương vạn dặm tìm Sơ
Bình
4.
Ngày 2 tháng 10 năm đó, giáp
tuất (1094) ông đến Huệ Châu. Cảnh vật trông quen thuộc như từng đã thấy một lần
đâu đó, trong mộng. Đến đây thì Tô Vũ cũng sẽ nguyện suốt đời chăn dê, không
mong trở về Bắc mạc nữa. Và Quảng Ninh cũng sẽ vĩnh viễn ẩn thân nơi cõi Liêu
đông, không bao giờ trở vào lục địa chen chân với đời.
Phảng phất tằng du khởi mộng
trung
Hân nhiên kê khuyển thức tân
phong
Lại dân kinh quái tọa hà sự
Phụ lão tương huể nghinh thử
ông
Tô Vũ khởi tri hoàn Mạc bắc
Quản Ninh tự dục lão Liêu
đông
Lĩnh nam vân hộ giai xuân sắc
Hội hữu u nhân khách ngụ
công
Phảng phất từng quen há mộng
ư?
Chó gào ríu rít đến chào ta
Lại dân lạ hỏi chuyện gì thế?
Phụ lão dìu nhau đón lão già
Tô Vũ nào mong về Bắc mạc
Quản Ninh từ nguyện cõi Liêu
xa
Lĩnh nam đây rượu vui ngày
tháng
Đất trích nhà quan đợi tuổi
già.
Cuộc Lữ từ đây cứ cho đi vào
cõi mộng không lời. Khách Lữ thứ chọn đất trích làm quê hương. Những gì còn đồng
vọng, là những tiếng đồng vọng ngoài kia, của mây phương trời viễn mộng.
5.
Bây giờ đã thấy lại cảnh
trăng non, và cây ngô đồng thưa lá. Cõi thơ không nằm nguyên ở đó nữa. Chúng vẫn
phơi trần ra đó, chịu đựng tuyết sương băng giá của ngày tháng phiêu du, nhưng
âm vang của chúng đồng vọng ở ngoài kia, ngoài những ven trời vạn dặm; ngoài đó
là những cánh chim hồng, lẻ loi, và bay bổng giữa mấy triệu phương trời lồng lộng.
Từ cõi mộng đơn sơ, đến cái cõi của đọa đày viễn mộng, có hố thẳm tuyệt mù,
chơi vơi không đáy. Bên này và bên kia, được nối liền bằng một chiếc cầu độc mộc
cheo leo. Làm sao để đi qua, và đi lại, bằng hai chân nặng trĩu của hạng phàm
phu tực tử? Một cuộc lữ hành như thế, phải trải qua biết bao là gian khổ, dù
nơi đi và chỗ đến chỉ cách nhau trong một móng tâm. Đọa đày viễn mộng là ở chỗ
đó ư? Nhưng so lại là đọa đày viễn mộng? Phải chăng tiếng đó chỉ mới vang dội,
từ khi một lão đại thần, lôi thôi thê tử, khúm núm dắt nhau chịu đày ải đi về
những vùng cùng cực của Nam hoa, hay đi vào tận chốn sơn cùng lộ tuyệt của một
đời sống chết? Bơ vơ nơi khách địa, thì tình cố quận và tình tha hương, cả hai
đều thắm thiết. Nhưng cố quận thì đâu không là cố quận, và tha hương thì nơi
nào lại chẳng phải là tha hương. Đứng bên này mà vọng đến bên kia, con mắt cứ mỏi
mòn trông đợi. Thế là lao tâm khổ tứ, là quằn quại hình hài. Nơi ngọc đường kim
mã, mộng bình sinh đã cực đỉnh tang bồng. Nói năng thì như gươm Tần xẻ tóc, và
rũ hai tay xuống thì lịch sử trào ra. Đẩy một vạn người bước tới, kéo một vạn
người bước lui. Lên núi thì núi rừng cũng biến thành biển lửa. Đưa con mắt hùng
thị bốn phương trời, bỗng thấy nước lũ Trường Giang đổ xuống:
Giang sơn như họa
Một thời hào kiệt anh hùng
Ngọc đường kim mã bỗng vang
lên những tiếng gào thét đoạn trường. Chim hồng giật mình tung cách bay cao. Biết
nơi nào là cố quận, nơi nào là tha hương, để chim hồng đậu lại:
Trạch tận hàn chi bất khẳng
thê
Tịch mịch sa châu lãnh
Đường ra đi, qua trăng ngàn,
qua gió bãi, mây vần vũ, núi non sụp xuống, nắng chiều đỏ như máu. Đau khổ,
kinh hoàng, nên kêu réo, nên ngậm ngùi, và uất hận.
Sơn ức Hỉ hoan lao viễn mộng
Địa danh Hoàng khủng khấp cô
thần.
Đất khách là mười tám cái ghềnh
thác kinh hoàng đổ xuống. Nhưng đất đó đọa đày thân xác mà không đọa đày viễn mộng.
Quê hương với ân tình thắm thiết kia mới thực là đọa đày viễn mộng:
Núi nhớ Hỉ hoan đọa đày viễn
mộng
Đất tên Hoàng khủng lệ khóc
cô thần
Trên đường vào Nam, ngang
qua chùa Nam hoa, ông ghé lại chùa và làm thơ:
Ngã bản tu hành nhân
Tam thế tích tinh luyện
Trung gian nhất niệm thất
Thọ thử bách niên khiển
Khu y lễ Chân Tướng
Cảm động lệ vũ tản
Tá sư tích đoan tuyền
Tẩy ngã ỷ ngữ nghiễn
Ta vốn người tu hành
Ba đời dày tu luyện
Nửa chừng một niệm hư
Trăm năm đày đọa khiến
Xốc áo lễ Chân Tướng
Cảm động lệ mưa tuôn
Ngọn suối đầu gậy sư
Xin rửa nghiên ỷ ngữ
Ông nói mượn dòng suối trên
đầu gậy Thiền của sư, để rửa sạch cái nghiên mực ỷ ngữ, nói láo hay nói thêu dệt,
của ông. Nhưng, ông ỷ ngữ như thế nào? Ông làm thơ, lời thơ ông thanh cao thần
thánh. Ông làm quan thì lời quan của ông bộc trực thanh liêm. Đó là những lời
nói đẹp đẽ; vì đẹp nên là ỷ ngữ ư? Có thể như thế, và chắc chắn không là như thế.
Nhưng, ông làm quan thì lời quan nó đày đọa đời quan của ông. Ông làm thơ thì lời
thơ nó đày đọa trời thơ của ông. Lời thơ của ông thì những là… Hỉ hoan lao
viễn mộng. Lời quan của ông thì những là… Hoàng khủng khấp cô thần. Cả hai
cùng đày đọa thân và tâm của ông. Nếu rửa sạch những thứ đó đi, chắc gì đã
không là một cõi đọa đày khác nữa:
Dĩ hỉ thiền tâm vô biệt ngữ
Thượng hiềm thế phát hữu thi
ban
Tâm thiền không lời, cái đó
ông hâm mộ rồi. Nó cũng trong phương trời viễn mộng của ông. Nhưng Đạo Thơ có lời,
cũng là phương trời viễn mộng của ông. Không phải ông bị đày đọa vì bị ray rứt
giữa hai đường. Cái đó dành cho tục tử, chứ không hề có nơi cốt cách cao kỳ tuyệt
diệu như ông. Nhưng cả hai cái đó, thắt chặt rồi buông lơi, như một cuộc giao
tình đến để rồi đi; cả hai đưa nhau, đẩy nhau, đưa đẩy mãi lên mấy từng trời
cao diệu, trên những phương trời viễn mộng; đưa đẩy nhau cho đến cùng tuyệt càn
khôn, trong bất động, trong vô ngôn; trong phương trời đọa đày viễn mộng. Thế
thì, cái chỗ đọa đày viễn mộng đó cũng đơn sơ như cõi mộng ban đầu; ban đầu từ
một gương mặt trong ngọc trắng ngà không son phấn, rã cánh hồng mà nụ vẫn còn
tươi, cho tình lên cao vút với mây trời trong nắng sớm:
Tố diện thường hiềm phấn uyển
Tẩy trang bất thốn tàn hồng
Cao tình dĩ trục hiểu vân
không
Bất dữ lê hoa đồng mộng
Sau hết, và như là bắt đầu,
thấy lại nó đơn sơ như mảnh trăng non và như cây ngô đồng thưa lá.
Cõi thơ, có đến và có đi,
nhưng không hề có dấu vết. Một cánh chim nhạn, một cánh chim hồng ngoài ven trời
vạn dặm.
Tuệ Sỹ























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét