Tuệ Sỹ - Thơ và tư tưởng triết
học
I. Một bóng người
gầy
Ấy
là hai câu thơ đầu trong tập Giấc Mơ Trường Sơn đã tạo dựng hình ảnh cho một
Phương Trời Viễn Mộng.
Nói đến
thơ và nền Triết Học lưu xuất từ Tư Tưởng Phật học Tánh Không hay một Triết lý
phiêu bồng từ Đông sang Tây của thế tục đế, hầu như đã được tồn đọng trong con
người gầy guộc, nhỏ nhắn, dáng dấp phiêu diêu, lãng đãng như sương sớm, mây
chiều. Dáng dấp đó với đôi bàn tay nhẹ lướt trên phím đàn cùng những nốt trắng
đen, cung bậc cao thấp để tạo thành những âm thanh cao vút đến đỉnh núi chơi
vơi hay trầm lặng vọng về biển khơi muối mặn. Dáng dấp đó, cặm cụi bên ngọn đèn
khuya nơi cửa sổ, để nghe tiếng tàu đêm sình sịch lăn
vào thành phố, mà mơ cho một chuyến viễn du làm thân lãng tử, làm người khai
phá núi rừng, cho nương rẫy được tốt tươi từ vườn cà non đến luống khoai ngô
sắn, vun xới tạo thành sức sống mãnh liệt từ miền núi đồi hoang vu, man dã. Dáng dấp đó, đêm đêm thao thức dưới
mái chòi tranh lợp vụng để nghe tiếng côn trùng, dế mèn nỉ non dưới lòng đất
mới, mà mơ về một tương lai tươi sáng cho quê hương. Dáng dấp đó, một thời đã
hòa quyện với cỏ nội hoa ngàn, với bóng đêm soi đê nơi thôn dã để cùng hít thở
không khí xóm làng, của đồng lúa vàng, lũy tre xanh của người nông dân cần cù
hôm sớm, và cũng dáng dấp đó bên trong chắn song nhà tù đã ngồi làm thơ. Lời
thơ người tù. Tâm thức người tù. Khí khái của người tù đã hiện hữu qua hai tập
thơ Giấc Mơ Trường Sơn và Ngục Trung Mị Ngữ.
Dáng
người soi trên bờ đê, trong núi rừng Vạn Giả, bên làng Hiền Lương, rẫy vườn
nuôi sức sống cho người dân lao nhọc, dáng người đó là Thầy Tuệ Sỹ, là kẻ độc
hành kỳ đạo của phương trời viễn mộng thi ca, mà sáng nay, trước Thiền đường
dưới rặng bông sứ, trên đồi Trại Thủy, Nha Trang, Thầy thanh thản bách bộ như
đếm từng bước chân đi, trên lớp sỏi đá của ngọn đồi, tháng năm chuyên chở đời
sống của bao lớp học Tăng Phật Học viện Hải Đức. Từng thời gian, âm thanh thi
sắc kỳ hoạt, thản nhiên của Thầy, đưa chúng ta bước vào vườn thơ tâm thức.
II. Giấc Mơ Trường Sơn
Đá mòn
phơi nẻo tà dương
Nằm nghe nước lũ khóc chừng cuộc chơi
Ngàn năm vang một nỗi đời
Gió đưa cuộc lữ lên lời viễn phương
(Mộng Trường Sinh – Tuệ Sỹ)
Nằm nghe nước lũ khóc chừng cuộc chơi
Ngàn năm vang một nỗi đời
Gió đưa cuộc lữ lên lời viễn phương
(Mộng Trường Sinh – Tuệ Sỹ)
Đá
mòn là vết tích bào gọt của thời gian, dạn dày theo gió sương năm tháng, như
“nước chảy đá mòn”. Một sự kiên trì miên viễn, liên tục bất tận. Đá mòn đó được
phơi bày, hiển lộ chơ vơ, hiu hắt, phong sương. Xa xa nhìn tảng đá mòn phơi
thân dưới ánh tà dương, buổi chiều, hoàng hôn buông phủ, lại thấy cảnh đời hiển
sinh gần như vụt tắt, trả lại cho mặt đất chìm dần trong đêm tối. Người đi
trong cuộc lữ là tâm tư của Thầy trong núi rừng Soi Đê giữa khuya u tịch nằm
nghe tiếng nước thác ngàn đổ về đồng bằng, xuôi đi vạn dặm mà gào thét rầm rộ
qua bao vách ghềnh, vực sâu, trong đục của cuộc lưu đày hòa nhập vào đại dương
muôn trùng. Một cuộc viễn hành không dừng chân cát bụi. Một cuộc rong chơi vô
tận, chẳng hẹn hò, không bến đậu, không có thời gian để qua và không có không
gian để yên nghỉ. Người đi vào cuộc lữ như cánh chim trời mà Thầy đã tự ví mình
như cánh hải âu nghìn trùng bạt gió:
“Một ước
hẹn đã chôn vùi tang tóc
Cánh chim trời xa mãi giữa lòng sâu
Nghe một nỗi hao mòn trong thoáng chốc
Một mùa thu một vạn tiếng kêu gào”
(Tuệ Sỹ)
Cánh chim trời xa mãi giữa lòng sâu
Nghe một nỗi hao mòn trong thoáng chốc
Một mùa thu một vạn tiếng kêu gào”
(Tuệ Sỹ)
Trong
cuộc tồn sinh này có nhiều ước hẹn, ước nguyện, ước mong, nhưng tất cả những
nỗi niềm ước mơ đó dường như đã bị dập tắt trong Thầy,
đã chôn vùi trong đau thương tang tóc. Chúng
ta đã không biết Thầy đã có ước hẹn gì? Với ai? Trong trường hợp nào? Mà qua
lời thơ Cánh Chim Trời thì ước hẹn đó “đã chôn vùi tang tóc”, gây xúc động cho người đọc: “một ước
hẹn không thành”. Hãy
thử lập lại: “Một ước hẹn đã chôn vùi tang tóc, Cánh chim trời xa
mãi giữa lòng sâu”. Từ
đây gây cảm xúc cho người đọc là một ước hẹn lên đường dựng lại quê hương, mà
chí nguyện không thành? Hay ước hẹn làm người con dân của một quê hương không
được trọn vẹn trong sự thanh bình, tự do, hạnh phúc? Tất cả những tâm tư đó,
chí nguyện đó đã chôn vùi trong tang tóc của một kẻ sĩ nung chí quật cường? Hay
tấm lòng từ bi được trang trải đến những người dân cùng khốn nơi ven rừng hay
phố thị?
Những chữ
trong bài thơ: “... đã chôn vùi tang tóc... xa
mãi giữa lòng sâu... hao mòn trong thoáng chốc... một vạn tiếng kêu gào...”
Tất cả những hình ảnh và âm thanh tan vỡ, sụp đổ, tuyệt vọng trong khốn cùng.
Hầu hết
những bài thơ trong tập Giấc Mơ Trường Sơn của Thầy được sáng tác sau năm 75,
do đó, những từ ngữ, biểu tượng được dựng nên nhằm mang nhiều ý nghĩa, ẩn hiện,
hư thực cho một chặng đường lịch sử quê hương dân tộc lâm vào cảnh khốn cùng.
Và cũng từ tâm trạng của một sỹ phu thời đại, của một người con dân nước Việt,
chân tình của một bậc xuất gia thư thái đi trên con đường phụng hiến tâm nguyện
cứu đời mà Thầy đã viết nên những lời thơ tâm thành khí phách đó, nhưng không
thiếu phần xót xa, đoài đoạn như những lời thơ trên. Những lời thơ đã bật lên
tiếng “thở hơi dài”. Vì sao Thầy phải “thở hơi dài” có lẽ “giấc chiêm bao” của
Thầy đã không trọn, giấc chiêm bao đã bị cát bụi cuốn đi rồi. Giấc chiêm bao đó
có thể là Thầy mong đem khả năng, trí tuệ của mình mà dựng xây, bồi đắp cho một
quê hương dân tộc được thấm nhuần nền phong hóa thuần hậu của Tổ tiên mà suốt
dòng lịch sử, tiền nhân đã hy sinh xương máu để gìn giữ giang sơn gấm vóc được
phú cường, thịnh vượng? Và cũng có thể giấc chiêm bao là sự hy vọng phát huy
đạo Phật Việt, nền văn hóa giác ngộ cho tất cả mọi người, cho khắp nhân loại mà
Phật giáo Việt Nam là một biểu tượng cụ thể? Giấc chiêm bao bị cát bụi cuốn đi,
nên Thầy thở dài cho một vận nghiệp quê hương và Đạo pháp hôm nay?
Thế
nhưng, dẫu cho giấc chiêm bao bị cát bụi cuốn đi, nhưng, “bên cửa
sổ bên kia đồi sao mọc.” Người
đọc có thể hiểu bên cửa sổ, nhìn qua phía bên kia núi đồi chập chùng còn có một
điểm sáng. Điểm sáng trên quê hương, điểm sáng trong tâm thức mọi người. Điểm
sáng của sự hy vọng tương lại. Điểm sáng bừng dậy sau một ngày dài đen tối.
Sao mọc
cũng có nghĩa vì Sao Mai, biểu hiện ngày sắp sáng và đêm sẽ tàn. Dân tộc và Đạo
pháp Việt Nam trong kỳ vọng quang vinh bất diệt. Từ những tâm tư, trầm tịch,
những nỗi niềm chôn sâu vào sự hưng khởi cho lý tưởng thực dụng, siêu thoát,
nhưng khi nghĩ lại mình thì cát bụi đã đoanh vây, phủ kín. Từ những ý thức tận
cùng tư tưởng, từ những lý giải, tra vấn tự thân để viết nên tâm tư hoài niệm.
Nhớ về một ký ức xa xưa, hay ước mơ làm thân lãng tử vô định nơi chân trời, góc
biển, bên cội thông già hay đứng nắng giữa lòng sông.
Hoài niệm
là tưởng nhớ những gì đã qua, về những suy tư, tâm thức. Trong bài thơ Hoài
Niệm, Thầy dùng những từ ngữ nghe như buông thả, như bâng khuâng, như dật dờ
sương khói. Như hình bóng người hóa thân vào cát bụi, bằng đôi chân trần, bàn
tay khô.
Hoài niệm
để thấy được ý nghĩ của mình muốn làm cuộc lữ, muốn đi khắp bốn phương trời,
muốn rong chơi đây đó, bỏ lại sau lưng bụi đường thời gian phủ kín. Sự hóa thân
cho cuộc lưu đày sinh tử, hiện thành lục phàm, từ thánh mà hóa độ chúng sanh.
Có làm một cuộc lữ, một cuộc lên đường thì mới thấy được sự tàn phá hoại diệt
hay sinh thành vượt thoát.
Chúng ta
hãy nghe bài thơ Hoài Niệm như âm ba muôn trùng giữa lòng tử sinh:
“Một đêm
thôi mắt trầm sâu đáy biển
Hai bàn tay khói phủ tóc tơ xa
Miền đất đó trăng đã gầy vĩnh viễn
Từ vu vơ bên giấc ngủ mơ hồ
Một lần định như sao ngàn đã định
Lại một lần nông nổi vết sa cơ
Trời vẫn vậy vẫn mây chiều gió tỉnh
Vẫn một đời nghe kể chuyện không như
Vẫn sống chết với điêu tàn vờ vĩnh
Để mắt mù nhìn lại cõi không hư
Một lần ngại trước thông già cung kỉnh
Chẳng một lần lầm lỡ không ư?
Ngày mai nhé ta chờ mi một chuyến
Hai bàn tay khói phủ tóc tơ xa.”
Hai bàn tay khói phủ tóc tơ xa
Miền đất đó trăng đã gầy vĩnh viễn
Từ vu vơ bên giấc ngủ mơ hồ
Một lần định như sao ngàn đã định
Lại một lần nông nổi vết sa cơ
Trời vẫn vậy vẫn mây chiều gió tỉnh
Vẫn một đời nghe kể chuyện không như
Vẫn sống chết với điêu tàn vờ vĩnh
Để mắt mù nhìn lại cõi không hư
Một lần ngại trước thông già cung kỉnh
Chẳng một lần lầm lỡ không ư?
Ngày mai nhé ta chờ mi một chuyến
Hai bàn tay khói phủ tóc tơ xa.”
(Hoài Niệm –Tuệ Sỹ)
Chúng ta hãy lắng tâm thanh thản để nghe từng âm
điệu hiu hắt chứa chan niềm mẫn cảm tuyệt cùng của ý thức. “Mắt
trầm sâu đáy biển”, “Khói phủ tóc tơ xa”, “trăng đã gầy vĩnh viễn”, “giấc ngủ
mơ hồ”, “như sao ngàn đã định”, “nông nổi vết sa cơ”, “mây chiều gió tỉnh”,
“điêu tàn vờ vĩnh”.
Qua những lời thơ ấy, chúng ta thấy tâm tư Thầy đã hóa
hiện vào dòng luân hồi tử sinh, để có cái nhìn tổng thể một tức là tất cả, tất
cả tức là một. Tất cả những lời thơ ấy là thực tại của pháp giới, là vốn liếng
của chúng sanh, là chất liệu của sự sống và sự chết của thế tục đế, mà Bồ Tát
độ sinh không thể thiếu những gia tài của phàm tục.
Cũng đôi mắt đó, cũng hai bàn tay đó. Cũng tóc tơ đó và
cũng giấc ngủ đó, Thầy đã mang hành trang lên đường như câu: “Một lần
định như sao ngàn đã định”, “Ngày mai nhé ta chờ mi một chuyến”. Dấn
thân vào cuộc lữ tam giới để phụng sự hạnh nguyện cứu độ sinh linh vững chãi,
quyết tâm “sao ngàn đã định”, và một chuyến ra đi là “vĩnh
viễn con tàu”.
Đọc thơ Thầy Tuệ Sỹ, chúng ta thấy những lời thơ: “Đá
mòn, tà dương, nước lũ, viễn phương, cuộc lữ, tử sinh, đồng hoang, cát bụi,
sương mù, gió lốc, tóc trắng, phiêu lưu, viễn mộng, đọa đày, kiêu hùng, trùng
khơi, đồi hoang, khung trời hội cũ...” mà Thầy luôn đối diện với chính nó, với
vách tường ủ rũ, với ngược nước xuôi ngàn, với trăng tàn núi lạnh, với hạt muối
biển khơi... mà không là những chất liệu kiêu sa, hãnh tiến, không là gấm vóc
lụa là, một chất liệu bình dị thường nhật mà bao con người thường có trong cuộc
sống, từ cái ăn cái ở cho đến cái trang nghiêm tự thân. Thầy tự trang bị cho
mình những ánh nắng và bóng nước. Những chiều tà hay sao mai, những đá cuội,
bụi đường hay bên gốc thông già giữa sườn núi cao. Đó là hành trang của Thầy,
cho người vào cuộc lữ, cho phương trời viễn mộng.
Để thấy rõ hơn nữa những lời thơ khắc khoải ấy, trong
những năm tháng ở tù, lần thứ hai tại Sài Gòn 1978, qua bài Dạ Khúc:
Tiếng ai khóc trong đêm trường uất hận
Lời ai ru trào máu lệ bi thương
Hồn ai đó đôi tay gầy sờ soạng
Là hồn tôi tìm dấu cũ quê hương
Ai tóc trắng đìu hiu trên đỉnh tuyết
Bước chập chờn heo hút giữa màn sương
Viên đá cuội mấy ngàn năm cô quạnh
Hồn tôi đâu trong dấu tích hoang đường?
Lời ai ru trào máu lệ bi thương
Hồn ai đó đôi tay gầy sờ soạng
Là hồn tôi tìm dấu cũ quê hương
Ai tóc trắng đìu hiu trên đỉnh tuyết
Bước chập chờn heo hút giữa màn sương
Viên đá cuội mấy ngàn năm cô quạnh
Hồn tôi đâu trong dấu tích hoang đường?
Dạ khúc là khúc nhạc, khúc hát về đêm. Khúc ca của
ai đó? Hay là khúc dương cầm của Thầy được tấu lên trong chốn lao tù? Khúc
dương cầm không phiếm? Khúc vĩ cầm không cần? Khúc Tây ban cầm không dây? Khúc
nhạc không lời, chỉ là đôi tay Thầy gõ nhịp xuống tường rêu, trên vách tường
nhà tù của chế độ, để hòa quyện vào “tiếng ai khóc trong đêm trường uất hận” để đi vào“lời ai ru trào máu lệ bi thương”. Khúc nhạc thống thiết, tâm cảm
bi hoài để chia sẻ nỗi đau của nhân thế, của hồn ma bóng quế dật dờ, của đôi
tay xương xẩu, gầy guộc mà sờ soạng, trong đêm đen tìm nhau dìu dắt. Nhưng
chẳng ai xa lạ “trong đêm trường uất hận” chẳng ai “trào
máu lệ bi thương”, chẳng ai có “đôi tay gầy sờ soạng” mà tất cả chính là “hồn
tôi” đang đi “tìm dấu
cũ quê hương”. Vậy “dấu cũ
quê hương” theo
Thầy là dấu cũ gì? và dấu cũ ấy ở nơi đâu? Người nghe qua “dấu cũ quê hương” có
thể là con đường lịch sử hơn 4000 năm văn hiến. “Dấu cũ quê hương” là con đường
của bao anh hùng liệt nữ đã đi qua còn in rõ những dấu chân kỳ tích. Là con
đường của các bậc tiền hiền tổ đức đã đi để gây dựng cơ đồ, giang sơn gấm vóc
cho giống nòi Hùng Lạc Rồng Tiên. Dấu đi đó còn vang vọng theo hồn thiêng sông
núi, theo tiếng gọi của quê Cha, theo lời ru của đất Mẹ. Và “dấu cũ quê hương”
đó mãi mãi là di sản trân quý của dân tộc giống nòi. “Dấu cũ quê hương” trải
qua các triều đại thăng trầm, vinh nhục, thịnh suy, nhưng dấu cũ ấy, con đường
lịch sử ấy vẫn in đậm trên quê hương, là cái nôi nuôi lớn chủng tộc Đại Việt,
Đại Cồ Việt. Người đọc được nghe “viên đá cuội mấy nghìn năm cô quạnh, hồn tôi
đâu trong dấu tích hoang đường”.
Viên đá cuội có mấy nghìn năm tuổi thọ? Viên đá cuội anh
linh giống nòi, viên đá tự tồn, độc lập từ thuở sơ khai đã lênh đênh thăng trầm
cùng dòng sử Việt từ thủa dựng nước.
Qua các bài thơ tù trong tập Giấc Mơ Trường Sơn, với
những ý thơ, lời thơ mang nặng tình quê hương dân tộc, mang nặng tính tự tồn,
tự chủ mà tâm tư Thầy luôn cưu mang nặng trĩu vận mệnh của nước nhà, của khúc
quanh lịch sử. Một biến cố tan hoang, xé nát da thịt của quê hương:
“Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen huyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho đêm dài lịch sử
Dài con sông tràn máu lệ quê Cha
Màu đen huyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho đêm dài lịch sử
Dài con sông tràn máu lệ quê Cha
Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái Bình Dương
Người ở lại giữa lòng tay bạo chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương.”
Quên những người xuôi ngược Thái Bình Dương
Người ở lại giữa lòng tay bạo chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương.”
(Tôi Vẫn Đợi – Tuệ Sỹ)
Thầy như người con của quê hương bị giam hãm trong
ngục tù thời đại, nhưng cũng từ ngục tù đó Thầy vẫn đợi một đêm gió lặng sóng
êm. Một đêm tối trăng nhưng thanh bình an lạc để tự mình nhìn sâu vào con đường
lịch sử. Nhìn hun hút diệu vợi bằng đôi mắt đen huyền, bằng ánh mắt của tự ngàn
xưa, để thấy trên con đường dài lịch sử ấy như một dòng sông tràn máu lệ quê
Cha. Dòng sông lịch sử đó, từ đầu nguồn lịch sử cho đến hôm nay đã mang về bao
phù sa màu mỡ làm tươi tốt ruộng đồng, dân sinh thịnh vượng. Dòng sông lịch sử
chuyên chở bao máu xương, nước mắt của nhiều thế hệ tiền nhân, những người đã
hy sinh lót đường cho hàng hậu tấn tiến tới, cho hàng con cháu tiếp nối xây
dựng cơ đồ non sông. Và cũng trong tình tự sông núi quê hương, trong thân phận
người con dân nước Việt, tâm tư Thầy như không phút nào nguôi ngoai, phai lãng
cái nhớ, cái nghĩ, cái suy tư, ước vọng để tựu thành dòng sử mệnh quê hương, để
tựu thành dòng máu anh linh của dân tộc và để tựu thành cái hùng, dũng, trường
tồn tịnh lạc cho giá trị sống của dân mình. Do vậy, lời thơ và tâm thức Thầy
hòa quyện vào nhau không thể phân ly con người và quê hương. Bằng tình tự đó,
quê hương dân tộc là mình và mình là quê hương dân tộc:
“Tiếng trẻ khóc ngân vang lời vĩnh cửu
Từ nguyên sơ sông máu thắm đồng xanh
Tôi là cỏ trôi theo dòng thiên cổ
Nghe lời ru nhớ mãi buổi bình minh”
Từ nguyên sơ sông máu thắm đồng xanh
Tôi là cỏ trôi theo dòng thiên cổ
Nghe lời ru nhớ mãi buổi bình minh”
(Bình Minh – Tuệ Sỹ)
Tiếng trẻ khóc mà phải ngân vang lời vĩnh cửu, hay
là lời thề nguyền xây dựng quê hương? Tiếng trẻ khóc đó là dân tộc Việt Nam? Là
giống nòi Lạc Việt? Là tiếng nói đầu đời của con dân Hùng Vương? Từ tiếng khóc
đó vang dội về thủa nguyên sơ, buổi ban đầu vào thời lập quốc, từ thuở hồng
hoang Tổ tiên khai phóng đất nước đem máu xương mình tưới thắm ruộng đồng. Công
đức ấy ngàn năm còn vang vọng, còn tồn tại vĩnh cửu trong lòng người dân Nam.
Suốt một chiều dài lịch sử dân tộc, có lúc quanh co, khúc
khuỷu, có lúc bằng phẳng, thênh thang nhưng Tổ tiên mình, anh hùng của quê hương mình,
dân tộc yêu thương của mình đã tốn hao bao xương máu: có lúc chống giặc ngoại
xâm để giữ yên sơn hà xã tắc, có lúc phải canh tân đất nước để theo kịp nền văn
minh tiến bộ của loài người và cũng có lúc phải xây dựng nền hòa bình an lạc để
khai mở, bảo tồn nền văn hóa dân tộc trong ý thức chống ngoại xâm. Bằng giá trị kiêu hùng của “sông
máu thắm đồng xanh” thì
Thầy là ngọn “cỏ trôi theo dòng thiên cổ” mà ngẩng đầu cao để nghe lời ru
từ thủa bình minh.
Ví mình như ngọn cỏ, sống trên mảnh đất quê hương, cùng
nổi trôi theo vận nước dân tộc mà không tách lìa khi đất nước điêu linh.
Đọc thơ Thầy Tuệ Sỹ, ta thấy rạt rào tình tự dân tộc,
ngập tràn chí nguyện cho quê hương và luôn giữ gìn kỷ cương giềng mối của Tổ
tiên, làng nước, hầu như những bài thơ của Thầy đều thấp thoáng hình ảnh của
cánh đồng, ruộng lúa, của nương khoai, luống cải, của đồi núi biển khơi, của
sông tràn nước lũ và cát bụi mơ hồ khói sương tóc trắng.
Qua một số bài thơ tiêu biểu được trích dẫn trong tập
Giấc Mơ Trường Sơn của Thầy Tuệ Sỹ: chúng ta đã thấy được đôi phần nỗi niềm tâm
sự của Thầy, của người dân đang sống giữa lòng quê hương, băn khoăn về vận mệnh
đất nước.
III. Ngục trung mị ngữ
Tiếp theo Giấc Mơ Trường Sơn là Ngục Trung Mị Ngữ.
Thơ trong tập Ngục Trung Mị Ngữ là thơ chữ Nho được làm trong thời gian ở tù –
mang bản án tử hình – nghe nói khá nhiều, nhưng đến với người đọc chỉ khoảng
đôi mươi bài. Trong đôi mươi bài thơ chữ Nho ấy chúng ta thấy cái tâm hồn an
nhiên tự tại, thư thái xuất trần siêu thoát, trong khí khái của một người tù mà
không bị câu thúc giam hãm, qua bài Trách Lung:
“Trách lung do tự tại
Tản bộ nhược nhàn du
Tiếu thoại độc cảnh hưởng
Không tiêu vĩnh nhật sầu”
Tản bộ nhược nhàn du
Tiếu thoại độc cảnh hưởng
Không tiêu vĩnh nhật sầu”
Dịch:
Lồng chật vẫn tự tại
Qua lại như nhàn du
Nói cười chơi với bóng
Tiêu sái tù thiên thu
Qua lại như nhàn du
Nói cười chơi với bóng
Tiêu sái tù thiên thu
Đây là tâm lượng của người tu, thân tù mà tâm không tù.
Dù ở trong bốn vách lao lung mà vẫn an nhiên tự tại qua lại nhàn du, vẫn nói
cười với bóng hình của mình, được xem như người bạn cố tri luôn có mặt để nói,
để chia sẻ có nhau. Tâm
tư này dù có ở bất cứ nơi đâu cũng không bị duyên trần ràng buộc, không bị chi
phối bởi ngoại cảnh nhơn duyên, vì đã tự làm chủ bản thân mà không bị hệ lụy,
bị sự sai thù, chung biệt của thế gian, một khi tâm đã an thì ba cõi cũng được
an. Chúng ta hãy nghe tâm an nơi cõi Thiền qua bài thơ Biệt Cấm Phòng của Thầy:
Ngã cư không xứ nhất
trùng thiên
Ngã giới hư vô chân cá thiền
Vô vật vô nhơn vô thậm sự
Tọa quan thiên nữ tán hoa miên
Ngã giới hư vô chân cá thiền
Vô vật vô nhơn vô thậm sự
Tọa quan thiên nữ tán hoa miên
Dịch: Xà Lim
Ta ở tầng Trời không vô
biênNơi ấy tịch nhiên Thiền thật Thiền
Không vật không người không đa sự
Nhìn xem hoa vũ bởi Tiên thiên
Đọc qua những dòng thơ này, chúng ta không dám lạm bàn vì
rằng đem cái tâm phàm tục, hữu hạn của mình mà luận giải cái tâm vô tâm, cái
tướng phi tướng, thì làm sao dám bình luận, lý giải? Chỉ có điều là chúng ta
hãy lắng tâm chiêm nghiệm một tâm thức siêu thoát, tùy theo chỗ ở thường an lạc
của Thầy mà học mà tu, mà cầu mong thành đạt đôi phần như vậy. Và, chúng ta hãy
theo Thầy tiến thêm bước nữa để thấy lòng Thầy thanh thản như làn mây giữa bầu
trời vô tận, qua bài Tự Vấn:
Vấn dư hà cố tọa lao lung
Dư chỉ khinh yên bán ngục khung
Tâm cảnh tương trì kinh lữ mộng
Cố giao già tỏa diện hư ngung
Dư chỉ khinh yên bán ngục khung
Tâm cảnh tương trì kinh lữ mộng
Cố giao già tỏa diện hư ngung
Dịch: Hỏi Mình
Hỏi mình sao phải lao tù?
Song thưa cửa ngục có tù được mây?
Kiên trì cuộc lữ vàng bay
Lời xưa còn đó phút giây không sờn
Song thưa cửa ngục có tù được mây?
Kiên trì cuộc lữ vàng bay
Lời xưa còn đó phút giây không sờn
Rõ thật, tâm không ba ngàn thế giới đại đồng. Tâm
đã không thì ai giam giữ được? Mây đã nhẹ bềnh bồng trôi thì cửa ngục song thưa
nào nhốt được gì?
Thầy như áng mây trôi giữa bầu trời vô định!
IV. Những điệp khúc cho dương cầm
Qua hai tập thơ Giấc Mơ Trường Sơn và Ngục Trung
Mị Ngữ đã chứa đựng những tâm tình chất ngất, có đủ mọi hình ảnh, tâm tư, tri
thức hoặc vô thức, phân biệt hay vô phân biệt, được chuyển tải từ nơi đó. Giờ
chỉ là Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm:
Số
3.
Trên
dấu thăng
âm đàn trĩu nặng
Khóe môi in dấu hận nghìn trùng
Âm đàn đó
chìm sâu ảo vọng
Nhịp tim ngừng trống trải thời gian
Thời gian ngưng
mặt trời vết bỏng
vẫn thời gian
sợi khói buông chùng
Anh đi mãi
thềm rêu vơi mỏng
Bởi nắng mòn
cỏ dại ven sông
âm đàn trĩu nặng
Khóe môi in dấu hận nghìn trùng
Âm đàn đó
chìm sâu ảo vọng
Nhịp tim ngừng trống trải thời gian
Thời gian ngưng
mặt trời vết bỏng
vẫn thời gian
sợi khói buông chùng
Anh đi mãi
thềm rêu vơi mỏng
Bởi nắng mòn
cỏ dại ven sông
Số 8:
Công
Nương bỏ quên chút hờn trên dấu lặng
Chuỗi cadence ray rứt ngón tay
Ấn sâu xuống ưu phiền trên phím trắng
Nửa phím cung chỏi nhịp lưu đày
Chuỗi cadence ray rứt ngón tay
Ấn sâu xuống ưu phiền trên phím trắng
Nửa phím cung chỏi nhịp lưu đày
Số
13:
Ô
hay, giây đàn chợt đứt.
Bóng ma đêm như thật.
Cắn đầu tay giá băng.
Điệp khúc lắng trầm trong mắt.
Bóng ma đêm như thật.
Cắn đầu tay giá băng.
Điệp khúc lắng trầm trong mắt.
Rồi
phím đàn lơi lỏng;
Chùm âm thanh rời, ngón tay rát bỏng
Chợt nghe nguyệt quế thoáng hương
Điệp khúc chậm dần theo dấu lặng.
Chùm âm thanh rời, ngón tay rát bỏng
Chợt nghe nguyệt quế thoáng hương
Điệp khúc chậm dần theo dấu lặng.
Số
18:
Tiếng
xe đùa qua ngõ
Cành nguyệt quế rùng mình
Hương tan trên dấu lặng
Giai điệu tròn lung linh
Cành nguyệt quế rùng mình
Hương tan trên dấu lặng
Giai điệu tròn lung linh
Bầu trời thơ của Thầy đầy hương sắc, có đủ hình hài
dáng dấp chân thân, thoạt hiện, thoạt biến, người viết chẳng có thể dùng lời
diễn đạt, chỉ như bâng quơ đâu đó một vài cảm xúc hoang sơ, thô lậu để đóng góp
cho cái gọi là đọc thơ cho nghe giữa một giảng đường đông thính chúng. Chỉ đọc
không thôi, chúng ta đã thấy có một cái gì đó dị thường được ẩn kín trong thơ,
thì ta nào dám tỏ bày ngôn từ bình phẩm. Chúng ta hãy nghe triết gia Phạm Công
Thiện đọc thơ Tuệ Sỹ: “Nói rằng thơ Tuệ Sỹ hay hoặc không hay thì lố bịch.
Chỉ có thể nói rằng thơ Tuệ Sỹ đáng được chúng ta đọc đi đọc lại nhiều lần và
suy nghĩ lan man hoặc cảm nhận tùy hứng, Ít nhất có một người làm thơ đáng cho
ta đọc giữa “sống chết với điêu tàn vờ vĩnh” để cho chúng ta còn có được “một
buổi sáng nghe chim trời đổi giọng.” Đặc tính thứ ba và cuối cùng của thơ Tuệ
Sỹ chính là tiếng thơ đổi giọng của một loài chim đi từ cõi xa xưa của vô biên
tế kiếp trong lòng sâu thẳm của tính mệnh quê hương.”
Và nơi đây chúng ta cũng thử nghe lời nói của Bùi Giáng,
khi đọc thơ Thầy: “Tuệ Sỹ là một vị sư, ông viết văn quá nghiêm túc,
nhưng sở tri của ông về Phật Học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người
khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u...”
Và Bùi Giáng đã đi vào cõi thơ Tuệ Sỹ: “Mới đọc
bốn câu thôi – trong bài thơ Khung Trời Hội Cũ, tôi cũng đã cảm thấy lạnh buốt
linh hồn, tê cóng cả cõi dạ”
Rồi thi sĩ thảng thốt: “Tôi hoảng vía đề nghị: Đại sư nên gác bỏ viết sách đi
và làm thơ tiếp nhiều cho, nếu không thì nền thi ca Việt mất đi một thiên tài
quá lớn”
Đó là hai nhận xét của các bậc Triết gia, Thi sĩ của
chúng ta, qua phạm trù thi ca, ngôn ngữ, triết lý của Thầy Tuệ Sỹ.
IV. Đôi dòng tư tưởng triết học
Song hành với ý thơ lời nhạc, Thầy như một học giả hay
đúng hơn là nhà khảo cứu Tư tưởng Phật Học qua các công trình tư duy triết lý
Long Thọ và Biện Chứng Pháp, hay Cogito Bát Nhã – Dưới ánh sáng của hiện tượng
luận để từ đó đưa đến sự so sánh các vấn đề Triết Học Đông Tây Cogito trong
Triết Học Phật giáo, như là Thiền: Con đường thể nghiệm Cogito của Đức Phật.
Thầy đã dành nhiều thời giờ nghiên cứu Triết Học Tánh
Không hay dịch thuật Kinh Luật Tạng là yếu chỉ của sự tu tập, là kỷ cương giềng
mối, là mạng mạch của Tăng già để cho thế hệ tân học Tỳ Kheo đọc tụng. Ấy là
hoài bão của Thầy trên con đường phụng sự cho thế hệ kế thừa.
Thầy xây dựng tư tưởng của mình trên nền tảng Triết học
thực dụng và chính đó là tiêu đích để trao truyền cho nhiều thế hệ mai
sau. Tư tưởng thực dụng ấy, được thể hiện qua bài thơ Tiểu Khúc Phật Đản
của Thầy để thấy một Triết lý như thật. Một nhân sinh quan thực tại trong phạm
trù thế gian và làm sao vượt thoát cái thực tại thế gian để có được một nền
Triết học giác ngộ:
“Thời gian vỗ cánh ngang đầu
Sinh, già, bịnh, chết, tránh đâu vận cùng
Khổ đau là khối tình chung
Ai nâng cõi thế qua bùn tử sinh”
Sinh, già, bịnh, chết, tránh đâu vận cùng
Khổ đau là khối tình chung
Ai nâng cõi thế qua bùn tử sinh”
Thầy đã đóng góp cho nền văn học Việt Nam những
công trình khảo cứu, dịch thuật, thi văn, tư tưởng Triết học để khu vườn văn
hóa Việt Nam thêm nhiều hương sắc.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét