Truyện Kiều là di sản văn
hóa quý báu của dân tộc. Xưa nay, Nguyễn Du và Truyện Kiều vẫn là một đề tài để
cảm tác và phê bình, bàn luận của giới văn nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu, học giả
có tiếng.Riêng về thi ca, nhiều nhà thơ hiện đại như Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu,
Tế Hanh,... đều có tiếng nói cảm nhận, chia sẻ. Chế Lan Viên là một người trong
số đó, qua thơ và văn đã từng nói nhiều nhất và nói hay nhất về thi hào và kiệt
tác Truyện Kiều.
Truyện Kiều là di sản
văn hóa quý báu của dân tộc. Xưa nay, Nguyễn Du và Truyện Kiều vẫn là
một đề tài để cảm tác và phê bình, bàn luận của giới văn nghệ sĩ, các nhà
nghiên cứu, học giả có tiếng.
Riêng về thi ca, nhiều nhà
thơ hiện đại như Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh,... đều có tiếng nói cảm
nhận, chia sẻ. Chế Lan Viên là một người trong số đó, qua thơ và văn đã từng
nói nhiều nhất và nói hay nhất về thi hào và kiệt tác Truyện Kiều.
1- Trước hết, Chế Lan Viên
là người gần như một đời viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều
Nói gần như một đời, không
phải là quá lời, vì trừ những năm tiền chiến, thì hầu như toàn bộ cuộc đời sáng
tác mới từ khởi đầu cho đến trước lúc ra đi, nhà thơ coi Nguyễn Du và Truyện
Kiều như một nguồn cảm hứng mới cả về đời và thơ.
Thật vậy, xưa kia, Tháp
Chàm, Vương quốc Chiêm và thế giới âm hồn từng là một ám ảnh ghê gớm thời Điêu
tàn.Ngày nay, mả Đạm Tiên, sông Tiền Đường và Ngọn tháp thi ca Nguyễn Du cứ
quanh quẩn trong cảm hứng thơ như là một sự ám ảnh mới.
Điều này gợi nên nhiều cung
bậc cảm xúc: có chia sẻ buồn vui, có khai mở hào hứng, và nhất là gợi những suy
nghiệm về đời và thơ.
Nguyễn Du và Kiều, có
thể ví như một mảng sinh quyền về thơ và cho thơ với Chế Lan Viên.
Nhà thơ cảm nhận hiện tượng văn chương ấy với một cảm quan lịch sử - văn hóa.
Hơn thế, ông còn suy nghiệm tác phẩm như một nhà triết học, giao cảm với thi
hào với tư cách tri âm – tri kỷ về tư tưởng và nghệ thuật.
Ngay từ rất sớm, trước cả Tố
Hữu, từ thời Ánh sáng và phù sa, đã có bóng dáng Kim, Kiều trên trang
viết của Chế Lan Viên. Qua mùa bệnh đầu đời, sự hồi phục cơ thể và tâm hồn là một
sự phấn khích mới: “Tôi đứng dưới nhành vui còn bỡ ngỡ/ Như em Kiều e
lệ nép vào hoa/ Như ánh sáng tưng bừng đôi mắt nhỏ/ Đón chàng Kim trong hạnh
phúc chan hòa” (Nhật ký một người chữa bệnh). Bài thơ được làm vào khoảng
năm 1955. Cho tới mùa bệnh cuối đời vẫn là những băn khoăn, bức xúc, buồn sầu
và cả nỗi đau nhân tình thế thái:
Lệ
ta nhỏ trên Kiều ba trăm năm sau
Ích
cho Nguyễn ba trăm năm trước
Ông
vui thấy ta còn biết khóc
Giữa cuộc đời chưa hết bể
dâu
Lệ
hồi âm – Di cảo thơ I (1988)
Chuyến xe sau không còn anh
nữa
Xe
vẫn chạy nghìn đời chỉ vắng anh thôi
Nguyễn
Trãi, Nguyễn Du... từng đi chuyến trước
Những chuyến xe không có khứ
hồi
Chuyến
xe - Di cảo thơ II (11/1988)
Vậy là, trong đời, Chế Lan
Viên viết những dòng thơ sớm sủa nhất về Nguyễn Du. Cần nói thêm: Nguyễn
Du hay lòng một người Anh là tiểu luận đặc sắc viết ngày 5/10/1958 (Chế
Lan Viên – Toàn tập, Tập III – Văn học, 2009).
Cũng chính Chế Lan Viên là
người viết những vần thơ muộn màng nhất trong đời về Nguyễn Du, về Kiều. Nhà
thơ nghĩ về mình, về dân tộc mình với những suy tưởng triết lý cuối đời: “Dân
tộc trầm luân trong sóng Tiền Đường”. Có buồn đau, nhưng vẫn vui :
“Phải vui mà đương đầu/ Và phải hóa thì mới đương đầu nổi/ Trở thành Ta cật
vọt hơn mình”. Đó chính là: “Dân tộc Thiền tông” (Định nghĩa dân
tộc, Di cảo thơ III, 1987). Vẫn là những tâm tư lớn của một nhà thơ – nhà
tư tưởng lớn!
Người viết thử làm một thống
kê về những bài viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều của Chế Lan Viên. Tuyển
tập Chế Lan Viên (I, 1985) và Toàn tập (2002): 13 bài, Di cảo
thơ I: 7 bài, Di cảo thơ II: 14 bài, Di cảo thơ III: 6
bài. Tổng cộng: 40 bài.
Đó là một con số kỷ lục
đưa nhà văn lên hàng kỷ lục gia.
Trong đó, vào những dịp kỷ
niệm, năm chẵn: 7 bài. Riêng mùa bệnh 1987 – 1988, qua 3 tập Di cảo thơ: 16
bài.
Có những bài mang nhan đề trực
tiếp: Đọc Kiều, Gửi Kiều cho em năm đánh Mỹ, Kỷ niệm Nguyễn Du, Đọc
Kiều (3),Đọc Kiều một ngày kia, Kỷ niệm Nguyễn Du (2). Và nhiều bài
gián tiếp về Nguyễn Du và Kiều, đặc biệt qua Di cảo thơ (3
tập).
Những suy nghĩ hợp lại một hệ
thống ý kiến với ý đồ nghệ thuật của nhà thơ trong cả một quá trình hơn 30 năm
của đời thơ nằm trong cuộc đời mới cách mạng. Đề tài chỉ là cái cớ để nói về một
chủ đề trực tiếp hoặc gián tiếp.
Những con số đơn thuần nêu
trên đã là những bình luận thật sâu sắc, thấm đẫm tư tưởng và tình cảm của nhà
thơ – nhà văn hóa – nhà tư tưởng Chế Lan Viên.
Nhà thơ viết và nghĩ về Nguyễn
Du và Truyện Kiều. Đó cũng là viết và nghĩ về đời, về thơ,
về nghệ thuật qua Nguyễn Du và Truyện Kiều.
2- Chế Lan Viên là người
nghĩ nhiều nhất về Nguyễn Du và Truyện Kiều
Trước hết là nghĩ về đối
tượng tác giả và tác phẩm. Đó là vô số cảm xúc suy tư của bản thân ,
và cũng là sự lắng nghe suy nghiệm qua phong phú dư luận xã hội về Nguyễn Du và Truyện
Kiều.
Dễ thấy nổi lên hàng đầu là sự
chia sẻ đồng cảm sâu sắc của một nhà thơ tri âm với người xưa. Chủ yếu là
sự chia sẻ về tâm trạng và qua đó là tư tưởng, nghệ thuật.
Truyện Kiều là tất cả nỗi
lòng Nguyễn Du. Qua đó, chủ yếu là tiếng kêu đứt ruột “đoạn trường tân
thanh” của con người thời đại ấy. Một tiếng kêu thương trực tiếp cho cuộc
đời, thân phận ba chìm bảy nổi của Kiều, đồng thời là nỗi đau cho một phận người
trong xã hội: “Đau đớn thay phận đàn bà”. Tiếng kêu ấy là niềm thương
cảm lớn cho một thân phận cụ thể tài hoa bạc mệnh. Truyện Kiều thời
xưa, cũng là nỗi đau của Nguyễn Du một thời.
Nguyễn
Du, vết thương lòng ta phí máu
Các
Anh xưa – Hái theo mùa
Tuy nhiên, trên cả số phận
cá nhân là thân phận kiếp người. Thi hào đã thể hiện một nỗi đau nhân sinh: “Những
điều trông thấy mà đau đớn lòng”.
Nguyễn Du tố cáo xã hội, đồng
thời để nói lên nỗi đau mang tính lịch sử - cụ thể của nhà thơ. Ông đã khóc, và
mong những giọt Lệ hồi âm (Di cảo thơ I) của những người mai sau: “Nhỏ
một giọt sương ngời bên khóe mắt/ Cái Nguyễn chờ chỉ là giọt lệ hồi âm”. Ông
hy vọng con người ngày nay “còn biết khóc”.
Chế Lan Viên thay mặt cho lớp
thi nhân hôm nay, cũng là đại diện cho chúng sinh “hậu thế”: “Khóc cùng Tố
Như” (Tố Hữu): “Lệ ta nhỏ trên Kiều ba trăm năm sau”.
Cảm thương để mà tôn
vinh là chỗ đến của những câu thơ.
Trước hết, Chế Lan Viên tôn
vinh một kiệt tác cổ điển đã trở thành giá trị văn hóa như niềm tự hào của
lịch sử. Ca ngợi ngày hôm nay mà không quên ngày hôm qua, hiện tại bắt nguồn từ
truyền thống:
Nguyễn
Du viết Kiều đất nước hóa thành văn
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
Ta đã yêu Việt Nam đẹp, Việt
Nam thơ,
bát
ngát câu Kiều, bờ tre, mái rạ,...
Thời
sự hè 72, bình luận
Yêu nước ngày nay là bảo vệ
đất nước nghìn năm văn hiến là gìn giữ văn hóa như di sản của cha ông cùng với
hạnh phúc hiện thực: “Một câu Kiều cho tới một cành hoa/ Đều là của nhân
dân không để mất” (Con mắt Bạch Đằng – con mắt Đống Đa).
Và Nguyễn Du, bậc danh nhân
văn hóa thế giới, đã từ lâu được Chế Lan Viên nhiều lần xếp ngang hàng với những
thiên tài văn nghệ sĩ trong lịch sử nhân loại. Xâu kim nêu động tác
“xâu cây kim” nghệ thuật của Mozart, Lý Bạch, Rimbaud, Holderlin và Nguyễn Du với
sự tán thưởng, hết sức khâm phục.
Toàn là cách xâu cuả những
thánh thần!
“Cái cây đại thụ âu sầu ấy”
– Cái cây truyền kiếp – “Villon cưa, Nguyễn Trãi cưa, Nguyễn Du
cưa không ngã”. Rồi cả Chúa Jesus, Thích Ca,... Chỉ đến Mác và chúng ta
ngày nay, mới xóa bỏ được “cái gốc siêu hình cây cao bóng cả” để tìm ngày
vui Giữa Tết trồng cây của cuộc đời mới: “Biến cái rụng rơi
thành sự vun trồng... Dệt cây ta vào với tấm vui đời”.
Đó cũng là tâm trạng của Tố
Hữu với Nguyễn Du: “Hỡi người xưa của ta nay/ Khúc vui xin được so dây
cùng Người”(Kính gửi cụ Nguyễn Du, ). Chế Lan Viên như nói lên cái khát vọng hạnh
phúc, tình yêu con người của Nguyễn Du được hiện thực hoá hôm nay: “Thuở
vui buồn Kiều sống giữa lòng dân/ Xưa cánh võng ru hời đêm lạnh giá/ Nay cỏ
non xanh mãi tận chân trời” (Gửi Kiều cho em năm đánh Mỹ).
Nhà thơ lớn hôm nay như đồng
cảm với thi hào xưa: “Trong đắng cay, ta phải thấy trước ngọt ngào”. Cái
có hậu, cái kết thúc đoàn viên của Kiều chính là niềm lạc quan trên cái
buồn nhân thế. Chế Lan Viên đã nâng Nguyễn Du lên tầm một nhà tư tưởng lớn.
Thi hào với con mắt Chế Lan
Viên là một nhà nhân vật lớn của nhân loại. Truyện Kiều nói chuyện
người sống trong xã hội bạc ác, Văn chiêu hồn kể chuyện của người
chết cần được hóa giải nỗi buồn đau, bất hạnh, oan khiên, là chuyện của con người
nhân loại. Nhưng, ngay cả Kiều cũng đã mang thân phận kiếp người: “Và câu
Kiều đau thì nhân loại cũng đau theo” (Kỷ niệm Nguyễn Du (2), Di
cảo thơ III).
Nhà thơ có sự tôn vinh giá
trị Truyện Kiều theo cách riêng. Đó là sự tìm thấy hồn xưa dân tộc,
nhưng cũng là cuộc nhận ra mình trong thanh bình “hôm nay”. Đó còn là “sức
phóng xạ hết lượng tử” “Một ngày kia” ra cả tương lai với con người
trong “ ngày mai” giông bão:
Trong câu Kiều xưa, ta tìm
ra Nguyễn Du mà tìm cả chính mình
(Đọc
Kiều, một ngày kia – Di cảo thơ II)
Tóm lại, đó là sự định vị
tác phẩm trong trường kỳ lịch sử, trong nhân sinh cuộc đời cả về tư tưởng và
nghệ thuật, mà trước hết là giá trị tư tưởng.
Theo khuynh hướng tư
duy, Chế Lan Viên nhìn nhận Nguyễn Du và Truyện Kiều trên cả chính
luận, triết luận và thi luận(nghĩ về thơ, về nghề thơ, về nhà thơ).
Lấy xưa để nói nay, Chế Lan
Viên chính luận qua gợi hình ảnh xã hội miền Nam trong chế độ thực
dân mới của Mỹ chỉ bằng một thoáng bút: “Tan rã cả thế giới đôla bán và
mua tất cả... Thì phải bán mình trăm cô Kiều, nghìn vạn cô Vân/ Hiên Lãm Thúy
thành lầu xanh đĩ thõa” (Thơ bổ sung). Thêm một tiếng nói tố cáo
mạnh mẽ cho Những bài thơ đánh giặc thời đánh Mỹ.
Tuy nhiên, nổi bật bao trùm
là nỗi cảm thương và trân trọng dân tộc khi Đọc Kiều hôm
nay: “Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc/ Sắc tài sao mà lại lắm
truân chuyên... Bỗng quý cô Kiều như đời dân tộc/ Chữ kiên trinh vượt trăm sóng
Tiền Đường”.Chính vì thế mà Chế Lan Viên thấy Nguyễn Du như hiện diện cùng dân
tộc trong cuộc chiến đấu hào hùng trong thời đại.
Nhà thơ hiện đại hóa tác phẩm
và tác giả trong cảm giác kỳ lạ như Nguyễn Du mới viết ngày hôm qua: “Nguyễn
Du, Anh hiện đại biết bao nhiêu!”. Đó là bởi vì con người hôm nay vẫn yêu,
ghét như thi hào từng yêu, ghét. Nhất là giấc mơ công lý, khát vọng giải thoát
con người của Nguyễn Du như đang được biến thành hiện thực với lý tưởng
chiến đấu Không có gì quý hơn độc lập tự do của con người mới
trong thời đại.
Giá trị nhân văn ngời sáng của Truyện
Kiều như một nguồn sức mạnh tiếp sức cho con người hôm nay. Anh binh nhất,
binh nhì “lại ngâm Kiều sau một trận giao tranh”. Và một bà mẹ anh
hùng nữa: “Đêm thắng giặc Bảo Ninh, mẹ Suốt ngâm Kiều”.Nhà thơ kết luận bằng
câu thơ rực cháy: “Câu thơ Nguyễn cũng góp phần đánh Mỹ” (Gửi Kiều
cho em năm đánh Mỹ).
Tư tưởng Nguyễn Du xưa, đó
là tư tưởng vượt thời đại. Đây cũng chính là suy tưởng tập trung, sâu sắc nhất
của nhà văn hóa – tư tưởng Chế Lan Viên.
Theo hướng triết luận, Chế
Lan Viên còn có những suy nghiệm sâu xa theo đề tài Nguyễn Du và Truyện Kiều.
Đó là những suy nghĩ về được – mất, biến hoá và bất tử, hiện hữu và phù
du, hữu hạn và vô hạn... qua những bài trong các tập Di cảo thơ (Ly
biệt ngày nay, Các anh, Vết thương, Nghìn lẻ (2), Chuyến xe, Sông Tiền
Đường,...):
Sông Tiền Đường, ai chẳng đi
bên
Tên dẫu khác, vẫn là dòng thời
gian ấy
Đọc
Kiều (3)
Ta
cảm ơn Du
Nghĩ
xem giữa bốn bể, muôn trùng, mây bay, nước xiết,...
Mà
ngẫm lại cuộc đời
Quá
đỗi phù du
Kiều
Đây là những suy tư trong
hoàn cảnh đặc biệt của nhà thơ – trong mùa bệnh với những thử thách nghiệt ngã
nhất vào cuối đời. Nhà văn thanh thản chấp nhận sự ra đi không tránh khỏi với
những đoản khúc Tứ thế chi ca. Chính vì vậy, triết lý về mình, về người
- ở đây là thi hào, là những điều được trải nghiệm, mang tính chân thật hiếm có
như thông điệp minh triết gửi lại cho đời: “Bây giờ đọc Kiều ta cảm ơn ai?
Nên rồi Du phải cảm ơn đời/ Ta cảm ơn Du” (Kiều). Những lời cảm ơn tung ra
mênh mông “giữa bốn bề, muôn trùng, mây bay, nước xiết,...”
Đã hơn một lần, Chế Lan Viên
nói về cái “phù du” – cái phù du mà tồn tại mãi với thời gian như sự
nghiệp bất hủ của những thiên tài thi ca.
Triết luận nhìn chung là về
nhân sinh, về nhân tình thế thái.
Qua phần thi luận,
vẩn có màu sắc triết lý (bàn về bản chất thơ, quy luật vận động thơ), còn có một
điều được nhấn mạnh, đó là giá trị, chức năng chân thật chính đáng của
thi ca và nhân cách đích thực và cao đẹp của nhà thơ.
Thi luận vẫn là mạch Nghĩ
về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ... bất tận của Chế Lan Viên. Những năm cuối
đời, nhà thơ có những chiêm nghiệm sâu sắc thông qua Di cảo thơ và
thêm sắc màu triết luận về thơ, cho thơ.
Riêng Phần II – Nghĩ về
thơ và nghĩ ngoài thơ (Di cảo thơ III) đã có tới đúng 100 bài đề cập tới nhiều
vấn đề, nhiều phương diện trong lý luận văn học và sáng tác thơ.
Chế Lan Viên lại bàn về vấn
đề bạn đọc và thơ: (Thơ về thơ, Người làng, Đọc Kiều một ngày kia), về giá trị
thơ và vai trò nhà thơ (Mất giá, Con nhặng xanh,...), về phong cách thơ, tức
cá tính sáng tạo (Phong cách thơ, Có kịp không,...).
Làm thơ với Chế Lan Viên, đó
là cả một sự chuyên nghiệp.
Nhà thơ từng viết rất nhiều
chuyện nghề như những trải nghiệm của bản thân và luôn nhiệt tình
trao đổi, hướng dẫn với bạn nghề, nhất là với các nhà thơ trẻ. Cuối đời, qua đề
tài Nguyễn Du và Truyện Kiều, nhà thơ như trút hết tâm sự và suy nghiệm
của mình để hoàn thành cuốn điển pháp về thơ. Hơn thế, với Chế Lan Viên,
thơ còn là một nghiệp. Phần Thi luận cuối đời được xây dựng
với tất cả tâm huyết và tài năng của một thi nhân – triết nhân và một đạo
đức cao đẹp.
Trên cơ sở phê phán loại thơ
“kiểu hàng hóa” – chạy theo cơ chế thị trường để đến nỗi Mất giá, nhà
thơ đặc biệt nhấn mạnh vấn đề cần thiết là phải chạy đua về chất lượng (Kỷ niệm
Nguyễn Du, Có kịp không, Thơ,...). Một hồn thơ tuyệt đẹp, một nhân cách thơ cao
cả, một chức phận nghệ sĩ cao quý là mơ ước phấn đấu cật lực một đời của mỗi
nhà thơ (Thơ về thơ (1),Các Anh, Đọc Kiều một ngày kia, Cầm giả ca, Nghìn
lẻ (2), Chuyến xe...).
Qua cảm nhận và đánh giá một
cách đầy đủ, chính xác và toàn diện về tư tưởng, nghệ thuật của Nguyễn Du và kiệt
tácTruyện Kiều của Chế Lan Viên, bạn đọc ngày nay càng tự hào về danh nhân
văn hóa và di sản văn hóa bất hủ của dân tộc, nhất là vào những dịp kỷ niệm
Nguyễn Du. Đó cũng là sự tôn vinh và tự hào về dân tộc thi thư văn hiến Việt
Nam.
Từ đó, thêm một lần chúng ta
biết ơn, trân trọng và quý mến nhà thơ lớn Chế Lan Viên đã có những suy
tư sâu sắc với giá trị vượt trội. Đồng thời, ta thấy được nhân cách lớn của nhà
thơ, nhà văn hóa – tư tưởng tương xứng với đại thi hào.
Không cần đợi đến các dịp kỷ
niệm, người đọc có lương tri và tâm huyết – nhất là các nhà văn, nhà thơ cần
luôn đọc và đọc kỹ Nguyễn Du. Để thêm thấy mình, thấy cha ông mình, hiểu nhân
dân mình, gắn bó thêm với “những gì thương yêu” của dân tộc. Điều
quan trọng là, chúng ta phải biết đưa di sản văn hóa quý giá ấy vào hành trang
thiết yếu trên bước đường đời.
Chế Lan Viên từng nhắn gửi: “Cha
ông còn có thể góp lửa vào chất đẩy sức đốt của ta trong cuộc hành
trình... Thời đại xã hội chủ nghĩa rồi đây, thời đại Hồ Chí Minh rồi đây, thời
đại thủy chung nhân nghĩa rồi đây, Tố Như ơi, cần gì phải “tam bách dư niên hậu”?”. (Từ
gác Khuê Văn đến quán Trung Tân, Chế Lan Viên toàn tập, tập IV, Văn học, 2009).
CHÚ THÍCH
(*) PGS – TS Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đoàn Trọng Huy (2007), Chế
Lan Viên – Tinh hoa văn thơ thế kỷ XX, Giáo dục.
[2] Mai Quốc Liên (2014), Nguyễn
Du trong lòng các nhà thơ hiện đại, honvietquochoc.com.vn ( theo Hồn
Việt số 77)
[3] Nhiều tác giả (2000), Chế
Lan Viên – Về tác gia và tác phẩm, Giáo dục.
Đoàn Trọng Huy






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét