Tây
Nguyên trong “Mùa gió hát” xét
từ góc độ trường nghĩa
Hoàng Thanh Hương là người con gái dân tộc Mường quê gốc vùng Trung du Bắc bộ -
Phú Thọ - đã hòa nhập nhanh với vùng đất Tây Nguyên, một vùng đất có lịch sử
hình thành, phát triển lâu đời, đa dạng về văn hóa độc đáo của các dân tộc bản
địa. Hòa nhập vào dòng chảy của đời sống lẫn không gian văn hóa Tây Nguyên.
Sáng tác của Thanh Hương thể hiện sinh động tâm tư, tình cảm của con người Tây
Nguyên…
1.
Sự tồn tại của trường nghĩa Tây Nguyên trong Mùa gió hát của
Hoàng Thanh Hương
Khảo
sát tập thơ Mùa gió hát của tác giả Hoàng Thanh do Nhà xuất bản Văn
hóa dân tộc phát hành năm 2013 với 30 bài thơ, chúng tôi nhận thấy dấu ấn văn
hóa Tây Nguyên thể hiện rất rõ. Trong 30 bài thơ có 23 bài viết về đề tài Tây
Nguyên, có chứa các từ ngữ xuất hiện thành trường từ vựng ngữ nghĩa đề cập về mảnh
đất, con người Tây Nguyên với những nét văn hóa đặc trưng cho vùng đất đỏ
bazan. Còn những bài khác dù viết về đề tài thế sự, hay viết về hoài niệm quê
cũ,… thì ít nhiều từ ngữ chỉ về Tây Nguyên vẫn xuất hiện. Điều này nói lên
Hoàng Thanh Hương – một người phụ nữ tuy không sinh ra trên vùng nắng gió đại
ngàn nhưng lại rất gắn bó với mảnh đất, con người và văn hóa Tây Nguyên - đã để
lại dấu ấn Tây Nguyên qua lớp từ ngữ thơ ca. Bởi vậy bài viết này người viết chỉ
sơ lược tìm hiểu trường từ vựng ngữ nghĩa do lớp từ ngữ phản ánh văn hóa Tây
Nguyên trong Mùa gió hát của Hoàng Thanh Hương.
2.
Khái niệm về trường nghĩa (trường từ vựng ngữ nghĩa, trường từ vựng)
Trường
từ vựng ngữ nghĩa là một khái niệm trong từ vựng học. Theo Đỗ Hữu Châu: tính
hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống trong lòng từ
vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những
tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng. Mỗi tiểu hệ thống là một trường ngữ nghĩa.
Đó là một tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa (Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng
Việt). Và theo Nguyễn Như Ý:Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng
căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa. Vậy, các từ trong một trường
nghĩa luôn có quan hệ với nhau về ý nghĩa và quan hệ này là cơ sở để xác lập
trường đồng thời có tác dụng liên kết các từ vựng trong một trường từ vựng ngữ
nghĩa. Trường nghĩa có bốn nhóm: trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm,
trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng. Lớp từ tạo thành trường
trong Mùa gió hát của Hoàng Thanh Hương chủ yếu là trường biểu vật và
trường liên tưởng.
3.
Một số trường nghĩa về Tây Nguyên trong Mùa gió hát của Hoàng Thanh
Hương
a.
Thiên nhiên
-
Địa danh: Ia Pa, Plei Sơr, Chư H’Drung, Chư Mố, Chư Yang Sin, Đăk
Plo, Krông Nô, Krông Na, Đăk Pla, Ia Kdăm, Ia Tul, Ia M rơn, Pờ Tó, Chư Răng,
Sông Pa, Krông Pa, Plei Ku, Ia Mláh, Biển Hồ, T’ Nu êng, Ia Mrok,…
-
Cây: Kơ nia, xuyến chi, dã quỳ, lộc vừng, chăm noi, xấu hổ, pơ lang, cây
vông, nếp, gấc, dừa, lúa, ngô,…
-
Đặc điểm thời tiết: mùa mưa, mùa khô, mùa hạ, mùa xuân, chang chang, mù bụi
đỏ, ban mai, tháng ba, mưa thu, nắng vàng, bụi tung bay, sương giăng
-
Địa hình và tên gọi về vùng đất Tây Nguyên: đồi, núi, thung, sông, suối,
thác, hồ, rừng, đèo, dốc; cao nguyên, thảo nguyên, tây nguyên, phố núi cao, đại
ngàn,…
-
Đặc điểm của gió: gió xô, gió chạm lá, gió thổi, gió bốc bụi, gió rần rật,…
-
Con vật: Sói, dê, đàn trâu, bầy ong, voi, vượn, chim, hươu, nai, mang, côn
trùng,…
-
Đơn vị canh tác: rẫy, nương, ruộng, đồng bãi, đồng ruộng,..
b.
Đời sống
-
Yếu tố siêu nhiên và lễ hội: Yang, Mang lung, mùa ninh nơng, hội cầu mưa,
lễ mừng cơm mới, đêm pơ thi.
-
Đại từ xưng hô: a ma, a mí, ma, mí, cha, mẹ,, anh, chị, em,trai
gái,, lũ trẻ,…
-
Dụng cụ sinh hoạt: Chiêng, trống, tẩu, ché, gùi, đàn goong, vòng, chăn,…
-
Nơi sinh hoạt: nhà rông, nhà mồ, mái nhà, bậc thang gỗ già, cầu thang, bếp
lửa…
-
Sinh hoạt văn hóa: kể khan, ca hát, hát ru, xoang, nhảy múa, múa hát
-
Hoạt động: giã gạo, sàng, sẩy, cõng nước, gom củi, xếp bầu bí, gác thịt, đốt
lủa, gùi măng, vít cần, dệt vải, làm nương, vùi tro,…
-
Trang phục: khăn choàng thổ cẩm, yêng, váy, khăn len,…
-
Tên gọi đơn vị hành chính: plei, làng, bản, buôn.
4.
Giá trị biểu trưng của trường nghĩa Tây Nguyên trong Mùa gió hát của
Hoàng Thanh Hương
Đến
với Mùa gió hát, Hoàng Thanh Hương như dẫn độc giả vào hương cao nguyên đại
ngàn, vào đất đỏ bazan, vào với đất trời thênh thang, vào với nắng, với gió, với
trăng, vào với phố núi đầy sương, đến với một cao nguyên huyền thoại, với những
dặm dài hoa xuyến chi trắng lối hò hẹn, sắc vàng dã quỳ trước
ngõ một sớm mai,… Một Tây Nguyên hiện lên với hai mùa mưa, nắng rõ rệt, mỗi
mùa có những đặc trưng riêng.
Mùa
Khô đến khi gió bốc bụi ném vào không trung/ khi dã quỳ bung vàng khắp
thung đồi/ khi rét làm môi em căng tươi như trái chăm noi/ khi nắng vàng hơi mật
ong (Tình yêu bazan). Mùa khô Tây Nguyên được Hoàng Thanh Hương đặc tả bởi
cái nắng và cái gió. Nắng “nắng quay nắng quắt”, “rát bỏng tro tàn rừng chết”,
“lửa ngùn ngụt cháy”, “Nắng dàn lưng amí”, “Nắng phủ vai ama”, “mùa khô bỏng
chân cha…bỏng lồng ngự mẹ”,… Cái nắng ghê gớm làm gió “thốc”, “rần rật”, “bốc
lá mén vào không trung”, làm “khói bay”, “bụi bay”, làm “làng mù bụi đỏ”, biến
thiên nhiên thành “rừng chết”,… Nhưng rồi cơn mưa đầu mùa đến “ngấm vào bazan”,
“ngấn trong mùa quả chín”, vạn vật như bừng tỉnh “rừng xanh mênh mông”, “xanh
mơn ruộng gần xa”, “cánh đồng phù sa” “trĩu vàng bông lúa”, “mùa sông xanh ngắt
đôi bờ”. Mùa mưa Cao Nguyên có đặc trưng riêng “lê thê điệu slow trầm” rồi có
lúc lại “mưa bản tango thanh”,…Phố núi cao sương giăng đầy, phố núi đêm trăng
huyền ảo. Không chỉ đưa người đọc về với mùa mưa, mùa nắng Tây Nguyên, Hoàng
Thanh Hương còn gợi tả một Tây Nguyên hoang sơ với “rừng xanh”, “suối trong”,
“hồ ắp đầy sóng sánh”, “voi hí”, “vượn kêu”, “mang tác, sói tru, côn
trùng rả rích”… rồi một Tây Nguyên bị tán phá nặng nề “ hoang trơ núi đồi”, “rừng
chết” do “tiếng cưu buốt óc”, “ lửa ngùn ngụt cháy”... Qua một số ngữ liệu,
chúng tôi nhận thấy Hoàng Thanh Hương như hòa mình vào giữa đại ngàn, phiêu du
giữa núi rừng bao la, như muốn vượt qua sự ngột ngạt bon chen của đời sống.
Trong Mùa
gió hát, Hoàng Thanh Hương như say cùng với văn hóa Tây Nguyên, nền văn hóa được
hình thành trên cơ sở nền nông nghiệp nương rẫy: đàn bà Jrai sinh ra từ rừng/
trái tim như rễ Kơ nia/ như lòng sông lòng suối/ suốt đời yêu thương che chở
mái nhà/ chỉ quen rẫy nương/ chỉ quen bếp lửa (A mí). Nếp sống nương
rẫy duy trì các mối quan hệ xã hội cộng đồng, các sinh hoạt đời thường đơn sơ,
giản dị: Em cùng mí giã gạo sẩy sàng / Cùng chị cõng nước gom củi/Cùng bà
xếp bầu bí chật góc nhà / Cùng Ama gác thịt lên giá bếp…Chúng mình tràn thác đổ/
Bao la đại ngàn buông sóng nước (Tình yêu bazan),…
Những
đồ ăn, thức uống mang hơi thỏ, nhịp sống vùng cao “nhà sàn thơm hương cơm mới”,
“củ khoai”, “củ mì” vùi tro bên bếp lửa ấm lòng người, rượu cần ngon càng say
càng uống. Những con người Tây Nguyên phóng khoáng và man dại như những chàng
trai và những cô gái Di gan trên thảo nguyên xanh biếc: Anh ưỡn ngực chắn
gió/ Em cuốn lại yêng/ Chúng mình đốt lửa/ Hát ca và say ngấy/… Chúng mình tràn
thác đổ(Tình yêu bazan); Chị hú vang ba núi chín đồi/ Tiếng cười lan xa,
lan xa (Krông Pa ngày tôi mơ); những người phụ nữ Tây Nguyên hồn hậu
rất Tây Nguyên Đàn bà ngồi ôm con mé cửa/ Vú chấm cạp yêng/ Cưới với
tôi ngây ngô/ Bầu ngực cạn sữa (Làng biên giới). Đến với Tây nguyên là đến
với những con người mến khách, dành cho khách tất cả những gì ngon nhất, tốt đẹp
nhất: Chiếc chăn lành mí nhường tôi/ bắt ngô non mí nhừng tôi/ rượu cần ủ
đợi lễ cúng nhà rông/ ama bảo cứ uống đi mai làm ché khác,… (Buổi chiều &Nỗi
nhớ);Người già đón tôi vòng tay xiết chặt/ rượu cần vơi lại đầy/ vít cần một
hơi bốc lửa.
Nhắc
đến Tây Nguyên trong thơ Hoàng Thanh Hương là nhắc đến nghệ thuật văn hóa nhà
rông, đến văn hóa cồng chiêng, đến nhà mồ, nghệ thuật điêu khắc tượng gỗ, các
các lễ hội và các điệu xoang trong tiềng cồng chiêng trầm hùng mà sôi động của
người Tây Nguyên.
Hoàng
Thanh Hương đã tạo dựng một bức tranh nhà rông, cái không gian mà bất kì người
Tây Nguyên nào cũng “chẳng ai có thể rời bỏ”: mái nhà rông bao đời sững sững
cùng mưa gió/ như một ánh sao cho người lạc tìm về/ như một hẹn thề trăm năm
đôi lứa. Nó là một biểu tượng văn hóa gắn liền với cộng đồng buôn làng, là nơi
thần linh cư trú, là nơi diễn ra nhiều hoạt động liên quan đến thế giới tâm
linh, là nơi bàn bạc và tổ chức các việc liên quan đến cuộc sống của cộng đồng
các dân tộc Tây Nguyên. Người Tây Nguyên đã thể hiện tài hoa và khiếu thẩm mĩ,
cách thức sử dụng màu để làm nên những chiếc váy hóa (yêng), những chiếc khăn
thổ cẩm,…Cái tài hoa và khiểu thẩm mĩ ấy càng được thể hiện trong không gian
văn hóa nhà mồ: Tượng muôn hình xin gửi để hồn vui (Viết ở khu nhà mồ);những
tượng mồ hú gọi, nhảy múa (Kì diệu). Các câu thơ này tác giả đã gợi cho
người đọc liên tưởng đến nhiều tượng khác nhau được đặt trong khu vực nhà mồ
như tượng ngồi ôm mặt khóc, tượng đội mâm thức ăn dâng người chết, tượng đàn
ông đánh trống, tượng người cưỡi voi, … Trong đời sống tinh thần của người Tây
Nguyên, cồng chiêng rất phổ biến, sinh hoạt đánh chiêng rất điêu luyện và được
yêu thích, nhạc chiêng phát triển và đánh được cả các làn điệu dân ca. Trống được
phối hợp với chiêng để làm tăng thêm khả năng biểu hiện. Mùa gió hát,
Thanh Hương đã làm sống lại, khẳng định âm nhạc cồng chiêng là một giá trị nghệ
thuật tồn tại từ lâu trong đời sống xã hội, và nó là kết tinh hồn thiêng sông
núi qua biết bao thế hệ. Cồng chiêng là tiếng nói của con người, của thần linh: Tiếng
chiêng lan khắp núi đồi/ Thấm vào đáy ngực/ Tiếng chiêng gọi mùa xuân xanh biếc/
Gọi nụ cười nở rộng môi khô/ Hân hoan khổ đau tấu khúc/ Chia vào từng quãng đời
đức tin (Tiếng chiêng). Không chỉ vậy tiếng chiêng trong thơ Thanh Hương
còn gọi cả “lửa cháy thâu đêm”, “gọi rượu cần dậy men”, “gọi tình yêu” “mạch sống”
nối những “vòng xoang chảy mãi”. Những tiếng chiêng ấy thường gắn liền với
không gian lễ hội nên hay đi cùng với“những tiếng hú phấn khích, những bước
chân phấn khích”, “Những bước chân rầm rập/ Bụi tung bay/ Gấu váy rung rinh… Nhịp
nhịp những vòng tay tung tẩy” (Tiếng chiêng). Tiếng chiêng còn là âm thanh linh
thiêng chia tay giữa người sống và người chết trong các đám tang, trong lễ bỏ mả:
“…tiếng chiêng chập chờn cơn say/ Chập chờn chia tay giữa ma- người vĩnh viễn (Buổi
chiều & Nỗi nhớ); Đêm với lửa với chiêng ta uống/ Hồn cạn đi rồi vĩnh viễn tạ
từ (Viết ở khu nhà mồ)…Qua thơ Thanh Hương, chúng ta thấy rằng không gian văn
hóa cồng chiêng là không gian của núi rừng hoang dã, của buôn làng Tây Nguyên
bên những ngọn núi, rừng cây, dòng sông, dòng suối. Không gian ấy là không gian
mà thần linh và con người cùng chung sống. Tiếng chiêng ngân lên trầm hùng, sôi
động là mọi người đều bước vào vòng xoang với niềm hân hoan bất tận. Tiếng
chiêng ấy, Thanh Hương gọi “Tiếng chiêng… Ngân một đời”.
5.
Kết luận
Khảo
sát các tác phẩm trong tập Mùa gió hát của Hoàng Thanh Hương, chúng
ta bắt gặp nhiều từ ngữ xuất hiện thành trường ngữ nghĩa, trong đó có cả trường
ngữ nghĩa về thiên nhiên, đời sống, văn hóa Tây Nguyên và các trường nghĩa ấy
biểu trưng cho giá trị văn hóa vùng đại ngàn bao la đất đỏ bazan. Đây là
những từ ngữ cho chúng ta thấy rằng: Hoàng Thanh Hương là người con gái dân tộc
Mường quê gốc vùng Trung du Bắc bộ - Phú Thọ - đã hòa nhập nhanh với vùng đất
Tây Nguyên, một vùng đất có lịch sử hình thành, phát triển lâu đời, đa dạng về
văn hóa độc đáo của các dân tộc bản địa. Hòa nhập vào dòng chảy của đời sống lẫn
không gian văn hóa Tây Nguyên. Sáng tác của Thanh Hương thể hiện sinh động tâm
tư, tình cảm của con người Tây Nguyên. Thơ Hoàng Thanh Hương thể hiện bản sắc
dân tộc ngay tại bề sâu của tâm hồn con người, ở cách nghĩ, cách nói, lẫn khía
cạnh nhỏ nhưng ẩn tình, đó là tập tục cổ truyền bật ra trong lời nói thường
ngày
Mai Thị Vui





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét