Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy

Con mắt tỉnh thức trong
tùy bút Phan Trang Hy

Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người.  Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Phan Trang Hy là một trong những tác giả văn xuôi của TP Đà Nẵng, đã xuất bản  một số tác phẩm như: “Người thầy dạy búp bê” (2009), “Người hay là những cơn mơ mạo danh” (2015), “Phóng sinh chữ nghĩa” (2018), “Phạm Duy và lời ca lắng đọng”(2021)…  Với ngòi bút giàu tính nhân văn, hầu hết, các tác phẩm này phản ánh đa chiều những lát cắt của đời sống xã hội và tình cảm con người.
Mới đây, càng bất ngờ hơn, tai buổi ra mắt tập sách mới Tùy bút “ Mắt đá, Mắt cỏ cây và Mắt thức” của Phan Trang Hy (Nxb Văn học, tháng 5/2026), cái tựa đề lập tức gợi nhớ đến họa sĩ Bửu Chỉ - người đã dấn thân vào cuộc đấu tranh trong phong trào sinh viên Huế (từ 1968) khi trả lời phỏng vấn trên một tờ báo Pháp: “vì sao tranh ông chỉ thấy những gương mặt người mà không thấy  chùa chiền hay giáo đường?”, ông nói: "Tôi không vẽ giáo đường, bởi vì trong con mắt con người đã có giáo đường".
Và như thế, ở Phan Trang Hy dù qua bất cứ đề tài nào,  mảng tản văn và tùy bút của ông luôn mang đậm cái tôi chiêm nghiệm, dung dị, đong đầy hơi thở Phật giáo thiền định và tình cảm quê hương sâu nặng. Bản chất là một nhà giáo, những trang tản văn của ông không lạm dụng kỹ thuật câu chữ phức tạp mà hướng tới sự mộc mạc để khơi gợi cảm xúc từ những điều bình dị nhất. Những nét đặc trưng nổi bật trong phong cách tản văn của ông đáng nhớ nhất là: Chất thiền và tư duy chiêm nghiệm triết lý. Cụ thể, tác giả thường xuyên hướng ngòi bút vào thế giới nội tâm để tìm kiếm sự an yên.
Qua các bài viết như Nhất chi mai - chất người muôn thuở, ông mượn các điển tích, thơ thiền hay triết lý nhân sinh của Phật giáo để tự soi rọi bản thân, chia sẻ nỗi đau trần thế và hướng con người tới sự bao dung, tu tập. Đề tài hoài niệm, gắn liền với thời gian và không gian kỷ niệm. Văn phong của ông đặc biệt giàu cảm xúc khi viết về các cột mốc thời gian đặc biệt như những ngày cuối năm, mùa Giáng Sinh hay khoảnh khắc đón Tết, luôn mở ra một khoảng không gian ấm áp, kết nối câu chuyện của quá khứ và hiện tại. Ông dành nhiều trang viết xúc động để ca ngợi tình yêu thương của người mẹ và các giá trị gia đình. Tiêu biểu có tùy bút Bao la tình mẹ hay Thảo thơm rằm tháng Bảy, nơi ông nhắc nhở người đọc về chữ hiếu, sự sẻ chia giữa con người với con người theo đúng truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người.  Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Thể hiện qua thái độ "bình tâm nhìn vạn vật". Tác giả không đứng ngoài để miêu tả cảnh vật một cách vô cảm, mà ông quan sát sự biến chuyển của cuộc đời với tâm thế chánh niệm. Một nhành mai nở, một kiếp người vô thường hay một góc phố rác đều được nhìn nhận bằng con mắt bình đẳng, không phán xét, thấu hiểu quy luật thành - trụ - hoại - không của nhà Phật. Đó là chất thiền trong tùy bút ông vậy.
Nâng đỡ cái nhìn triết lý đó bằng những hình tượng nghệ thuật lung linh, lãng mạn. Trong tùy bút Nhất chi mai - chất người muôn thuở, hoa mai không chỉ là một loài cây, mà là biểu tượng của cốt cách thanh cao, sự kiên cường sinh sôi giữa mùa đông giá rét. Chất trữ tình thấm đượm trong cách ông cảm nhận hương vị thời gian, màu sắc của ký ức, biến những triết lý khô khan thành những bức tranh ngôn từ đầy nhạc điệu. Đó là chất thơ trong tùy bút ông vậy.
Nằm ở dòng cảm xúc hoài niệm chảy trôi không ngừng. Văn xuôi của ông đầy rẫy những khoảng không gian hoài cổ: tiếng chuông nhà thờ đêm Giáng Sinh, mùi khói trầm ngày Tết, hay dáng hình lam lũ của người mẹ. Sự rung động tinh tế, nét buồn man mác trước sự trôi chảy của thời gian đã gieo vào lòng độc giả sự đồng cảm sâu sắc.  Ông đối diện với quá khứ và những mất mát bằng tinh thần buông bỏ và tự tại. Thay vì oán trách hay tuyệt vọng, ngòi bút của ông hướng về sự bao dung, xem nghịch cảnh là chất liệu để tu tập tâm thức. Nỗi đau trong văn ông luôn được xoa dịu bằng tình yêu thương vô điều kiện và niềm tin vào bản tính thiện lương của con người.
Bằng nhịp điệu văn xuôi chậm rãi và những khoảng lặng (nghệ thuật cấu trúc), Phan Trang Hy tạo ra một "không gian vô ngôn" trong cấu trúc tác phẩm. Các câu văn của Phan Trang Hy thường không dồn dập, kịch tính mà có xu hướng chậm rãi, mô phỏng nhịp thở của người thiền định. Ông biết cách tạo ra những khoảng lặng sau mỗi câu chuyện, bắt người đọc phải dừng lại để tự chiêm nghiệm, "nghe" thấy tiếng lòng của chính mình. Điều phối nhịp điệu chậm rãi đó bằng nhạc tính của ngôn từ. Cách ngắt nhịp uyển chuyển, sử dụng các từ láy nhẹ nhàng (như đau đáu, thảo thơm, ấm áp) tạo nên một giai điệu du dương riêng biệt. Sự kết hợp này biến văn xuôi của ông có xu hướng "thơ hóa", khiến người đọc cảm thấy như đang thưởng thức một bài thơ dài được viết dưới dạng văn xuôi.
Sự gặp gỡ lớn nhất giữa thơ và thiền trong văn Phan Trang Hy nằm ở sự tối giản. Ông không dùng những từ ngữ đao to búa lớn hay cấu trúc câu phức tạp để phô diễn kỹ thuật. Ngôn ngữ của ông quay về sự nguyên sơ, mộc mạc như lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân miền Trung nhưng lại hàm chứa dung lượng ý nghĩa rất lớn. Đó chính là tinh thần "Ý tại ngôn ngoại" (Ý ở ngoài lời) của thơ ca truyền thống và cũng là cốt lõi của thiền học - dùng cái hữu hạn của ngôn từ để gợi mở cái vô hạn của tâm tưởng.
19/6/2026
Trần Trung Sáng
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy

Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết...