Đời sống thẩm mỹ của
người Việt thời kỳ Hùng Vương 1
1. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với tư cách là sản phẩm tinh túy nhất của tạo hóa, con người luôn mong muốn hoàn thiện bản thân mình để đạt tới chân - thiện - mỹ. Cái chân, cái thiện, cái mỹ là tổ hợp giá trị cao quý mà loài người thời đại nào cũng mơ ước, là đích đến cuối cùng của cuộc đời mỗi con người. Trong tổ hợp giá trị ấy, cái mỹ có vai trò riêng biệt và là một phần máu thịt của đời sống xã hội. Vì vậy, khi nghiên cứu xã hội loài người không thể không nghiên cứu để hiểu thấu cái phần máu thịt của nó - đó là đời sống thẩm mỹ. Ở "thời nguyên thủy chưa có mỹ học nhưng đã có đời sống thẩm mỹ" [73, tr.5]. “Những con người thuộc thời đại công xã nguyên thủy cũng đã từng có khả năng thể nghiệm nhiều loại cảm xúc thẩm mỹ” [191, tr.96]. Đối với Việt Nam, từ thời tiền sử, sơ sử, đời sống thẩm mỹ của người Việt đã được hình thành và có những biểu hiện phong phú. Người Việt sớm đạt tới trình độ tư duy thẩm mỹ với những sắc thái đặc trưng. Vấn đề của chúng ta hôm nay là làm thế nào để những giá trị thẩm mỹ ấy luôn "sống" trong xã hội hiện đại, góp phần định hướng, giáo dục các thế hệ người Việt Nam ý thức về tổ tiên, giống nòi, về đặc trưng thẩm mỹ của dân tộc mình. Nhất là khi, mục đích và lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa xã hội, của Đảng cộng sản Việt Nam là xây dựng và phát triển con người toàn diện, hài hòa các mặt Đức, Trí, Thể, Mỹ,... Nghiên cứu đời sống thẩm mỹ nói chung, đời sống thẩm mỹ của người Việt trong lịch sử nói riêng là nền tảng để thực hiện mục đích cao đẹp đó. Thực tiễn Việt Nam hôm nay đang chứng kiến những bi kịch về đời sống tinh thần. Sự khủng hoảng về thẩm mỹ đang biểu hiện rõ bi kịch của sự lệch lạc, xuống cấp giá trị thẩm mỹ. Nhiều hiện tượng âm nhạc, trang phục,… trái ngược với thuần phong mỹ tục và giá trị thẩm mỹ truyền thống dân tộc, lại được một bộ phận dân cư coi là đẹp. Những hiện tượng đơn giản, thô kệch, thậm chí dung tục trong thưởng thức nghệ thuật dẫn đến hậu quả một bộ phận không nhỏ lớp trẻ “què quặt, khiếm khuyết” về thẩm mỹ chân chính. Sự bắt chước, đua đòi, chạy theo thị hiếu phương Tây trong sáng tạo, thưởng ngoạn tinh thần dẫn đến những thị hiếu lai căng, xa rời, làm méo mó các giá trị văn hóa truyền thống. Khi bị đứt gãy về các giá trị thẩm mỹ đó, người ta trở thành những “kẻ học đòi mù quáng”, thiếu các chuẩn thẩm mỹ mới, phù hợp với căn tính dân tộc mình. Điều đó càng khẳng định, các giá trị văn hóa truyền thống là bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa của xã hội hiện đại. Nó cần thấm sâu vào tâm hồn con người Việt Nam, là chất keo gắn bó con người với con người, là cái cốt lõi góp phần tạo nên bản sắc Việt Nam, trở thành tinh hoa văn hóa của cả dân tộc. Việc nghiên cứu đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương, rút ra ý nghĩa của nó với đời sống thẩm mỹ hiện nay là việc làm cần thiết, mang ý nghĩa thời sự cấp bách cả về lý luận và thực tiễn, tạo sự kết nối giữa truyền thống với hiện đại. Cũng cần nhận thức rõ: “Khi làm sáng tỏ bất kỳ một hiện thực lịch sử nào, việc đầu tiên là phải quan sát sự kiện cơ bản đó với toàn bộ ý nghĩa và phạm vi của nó, và phải dành cho nó một vị trí xứng đáng” [102, tr.40]. Trong lịch sử Việt Nam, thời kỳ Hùng Vương là một thời kỳ lịch sử như thế - "một thời đại lịch sử xa xăm của dân tộc nhưng lại là một thời đại mở đầu lịch sử dân tộc được tất cả mọi người chú ý theo dõi" [139, tr.7]. Từ cuối những năm 60 của thế kỷ XX, thời đại Hùng Vương đã trở thành đề tài nghiên cứu và thảo luận của giới sử học và nhiều ngành khoa học. "Nghiên cứu thời đại Hùng Vương là một thời đại có nhiều vấn đề liên quan đến nhiều ngành khoa học. Không một bộ môn khoa học nào có thể độc lập giải quyết được những vấn đề tồn tại thuộc thời đại đó. Mỗi một bộ môn khoa học đều góp phần của mình vào công tác nghiên cứu thời đại Hùng Vương" [139, tr.39]. Bằng sự hợp tác khoa học và bằng phương pháp nghiên cứu liên ngành, cho đến nay, giới khoa học trong và ngoài nước đã cơ bản thống nhất nhận định: Thời đại Hùng Vương là một thời đại có thật trong lịch sử dân tộc Việt Nam với thời gian tồn tại khoảng 2.000 năm trước Công nguyên. Từ hơn nửa thế kỷ qua, mọi mặt đời sống của người Việt thời kỳ Hùng Vương, gồm đời sống vật chất và đời sống tinh thần đã được giới nghiên cứu khoa học quan tâm, nghiên cứu và đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, có thể do nhiều nguyên nhân, đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương dường như chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng. Cho đến nay, chúng ta chưa có một công trình chuyên khảo về vấn đề này. Việc đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu, làm rõ các vấn đề thẩm mỹ thời kỳ Hùng Vương là việc làm hết sức ý nghĩa. Nghiên cứu, nhận thức đúng về đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương còn khẳng định thuyết phục hơn nữa rằng người Việt Nam từ xa xưa đã có đời sống tinh thần phong phú, góp phần làm sâu sắc thêm nền văn hóa Việt Nam trong lịch sử hàng nghìn năm, để từ đó định hướng giá trị thẩm mỹ đúng đắn cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Đồng thời đóng góp cho công tác nghiên cứu, giảng dạy liên quan tới thẩm mỹ và tư duy thẩm mỹ dân tộc ở Việt Nam hiện nay. Với tinh thần trên, nghiên cứu sinh lựa chọn chủ đề Đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương làm đề tài luận án tiến sĩ triết học của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu, khái quát những biểu hiện chủ yếu của đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương, từ đó khái quát những đặc điểm, bước đầu rút ra ý nghĩa của đời sống thẩm mỹ thời kỳ này đối với đời sống thẩm mỹ Việt Nam hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục đích trên, luận án sẽ giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau: + Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài; chỉ rõ những kết quả chính đã thực hiện, xác định những nội dung luận án tiếp tục nghiên cứu. + Khái quát về thời kỳ Hùng Vương, đặc điểm người Việt thời kỳ này; làm rõ khái niệm, các bộ phận cấu thành đời sống thẩm mỹ; phân tích các tiền đề, điều kiện hình thành đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương. + Phân tích, khái quát những biểu hiện chủ yếu của đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương thông qua các bộ phận khách thể thẩm mỹ, chủ thể thẩm mỹ và sản phẩm của sự tương tác giữa khách thể thẩm mỹ và chủ thể thẩm mỹ thời kỳ này. + Bước đầu rút ra đặc điểm, ý nghĩa và một số hạn chế của đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương. 3.2. Phạm vi nghiên cứu + Về thời gian: Thời kỳ Hùng Vương được sử sách (Lịch sử Việt Nam) xác định là từ khoảng 2000 - 1500 năm TCN đến khoảng thế kỷ I. Về cơ bản nghiên cứu sinh tập trung hơn cả vào giai đoạn văn hóa Đông Sơn với niên đại khoảng 800-700 năm TCN cho đến khoảng thế kỷ I khi phân tích các biểu hiện của đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ này. Người Việt thời kỳ Hùng Vương được luận án khai thác trong tư liệu lịch sử Việt Nam, khảo cổ học, văn học, dân tộc học,... về thời kỳ này là người Lạc Việt và Âu Việt trong Bách Việt. + Về không gian: Cương vực của nước Văn Lang, bao gồm toàn bộ vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, tính từ Đèo Ngang trở ra của nước Việt Nam hiện tại. + Về nội dung nghiên cứu: Luận án phân tích biểu hiện của đời sống thẩm mỹ qua các bộ phận khách thể thẩm mỹ, chủ thể thẩm mỹ và sản phẩm của sự tương tác giữa chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ thời kỳ Hùng Vương. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận + Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng cộng sản Việt Nam về đời sống thẩm mỹ, các điều kiện hình thành, phát triển yếu tố thẩm mỹ của người Việt Nam trong lịch sử cũng như các quan điểm xây dựng, phát triển con người Việt Nam hiện nay. + Luận án kế thừa những kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước liên quan đến nội dung đề tài. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận của việc thực hiện luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đây là công cụ tiếp cận, giải quyết các vấn đề của luận án, giúp cho việc nhìn nhận vấn đề khách quan, toàn diện; thấy được tính lịch sử cụ thể, tính đặc thù, tính phổ biến, tính quy luật của sự hình thành, vận động, phát triển đời sống thẩm mỹ cũng như những điều kiện, tiền đề cho sự hình thành đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương. Đồng thời có những đánh giá khách quan, khoa học về lĩnh vực này. Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: lịch sử - logic; phân tích - tổng hợp, khái quát hóa, khai thác tư liệu; phương pháp quy nạp - diễn dịch; phương pháp thống kê, so sánh; phương pháp chứng thực lịch sử, phương pháp lịch đại... để thực hiện mục đích và nhiệm vụ đã đặt ra. 5. Đóng góp mới của luận án Luận án trình bày có hệ thống về đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương, chứng minh đời sống thẩm mỹ thời kỳ này đã hình thành và có những biểu hiện phong phú đưa đến sự hình thành, phát triển văn hóa Việt Nam trong lịch sử dân tộc. Kết quả nghiên cứu của luận án đóng góp vào mảng lý luận về vấn đề nghiên cứu tư tưởng thẩm mỹ người Việt dưới góc độ triết học (cụ thể là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử) theo đúng quan điểm của Đảng ta. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận Luận án làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về đời sống thẩm mỹ và đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương dưới lập trường quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Phân tích và khái quát những biểu hiện chủ yếu của đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương; từ đó bước đầu rút ra đặc điểm, ý nghĩa và một số hạn chế của đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ này. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu, học tập, giảng dạy về đời sống thẩm mỹ của người Việt tại các học viện, các trường đại học, cao đẳng hiện nay. Đồng thời là tài liệu tham khảo cho bạn đọc quan tâm tới lĩnh vực này. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của nghiên cứu sinh liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương với 10 tiết. Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1. Những nghiên cứu về đời sống thẩm mỹ
Trước tiên phải nói tới bộ Nguyên lý mỹ học Mác - Lênin của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, xuất bản năm 1960 tại Mátscơva gồm 4 phần đã được Nhà xuất bản Sự thật - Hà Nội lần lượt cho xuất bản từng phần: phần I (1961), phần II (1962), phần III, IV (1963). Bộ sách trình bày một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản của mỹ học Mác - Lênin và cho thấy sự gắn chặt với cuộc sống, với thực tiễn kiến thiết chủ nghĩa cộng sản, với thực tiễn nghệ thuật là “đặc điểm trọng đại nhất và là đặc sắc chủ yếu của mỹ học Mác - Lênin” [189, tr.5]. Các tác giả khẳng định: "trong lúc khái quát hóa những kết quả của việc phân tích thẩm mỹ, thế là đã bước vào lãnh vực của lý luận mỹ học" [189, tr.35], nói cách khác mỹ học là khoa học nghiên cứu những vấn đề của đời sống thẩm mỹ. Bộ sách đã có những phân tích về các bộ phận của đời sống thẩm mỹ như nghệ thuật; về các hiện tượng (phạm trù) thẩm mỹ như cái đẹp, cái bi kịch, cái hài kịch. Tuy chưa đưa ra khái niệm cụ thể và làm rõ các vấn đề theo cấu trúc của đời sống thẩm mỹ nhưng bộ sách là nền tảng vững chắc cho việc nghiên cứu lý luận về đời sống thẩm mỹ nói chung và Đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương nói riêng ở góc nhìn của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Cuốn sách Mỹ học là gì? của K.Kivisky do Huy Hùng và Y Minh dịch, được Nhà xuất bản Văn hóa - Nghệ thuật xuất bản năm 1963 đã trình bày về những vấn đề của đời sống thẩm mỹ như: "vấn đề mối quan hệ của nghệ thuật đối với hiện thực là trung tâm của những vấn đề mỹ học" [68, tr.22], vấn đề cái đẹp, vấn đề lý tưởng thẩm mỹ, mối liên hệ giữa "lý tưởng thẩm mỹ với thế giới quan của nghệ sĩ và ý nghĩa của nó đối với các mặt khác nhau của hoạt động sáng tác" [68, tr.25], vấn đề hình tượng nghệ thuật, quá trình sáng tác. Cuốn sách cũng khẳng định: “Những nhân tố của sự tác động thẩm mỹ vượt xa giới hạn của nghệ thuật. Về mặt thẩm mỹ, chúng ta đã nêu lên các hiện tượng trong thiên nhiên, trong sản xuất và trong sinh hoạt có hiệu quả” [68, tr.31]. Tuy không trình bày một cách có hệ thống về đời sống thẩm mỹ nhưng cuốn sách đã cung cấp cho chúng ta những kiến thức cơ bản về chủ thể thẩm mỹ, khách thể thẩm mỹ và sản phẩm của sự tương tác giữa chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ. Cuốn Những nguyên lý mỹ học Mác - Lênin: Giáo trình giảng dạy trường lý luận và nghiệp vụ - Bộ văn hóa, E. G. Iacovlep, 1964 trình bày về đối tượng và nhiệm vụ của mỹ học Mác - Lênin; bản chất của nhận thức thẩm mỹ; lịch sử của học thuyết mỹ học; những phạm trù mỹ học cơ bản; nghệ thuật và xã hội; hình tượng nghệ thuật, nội dung và hình thức trong nghệ thuật, sáng tác nghệ thuật, các loại hình nghệ thuật; phê phán nghệ thuật và mỹ học tư sản hiện đại; chủ nghĩa hiện thực và xã hội chủ nghĩa. Về cơ bản, cuốn sách làm rõ các phạm trù mỹ học cũng như một số vấn đề của khách thể thẩm mỹ, chủ thể thẩm mỹ và nghệ thuật. Tuy chưa triển khai phân tích đời sống thẩm mỹ theo hệ thống nhưng cuốn sách đã chứa đựng nhiều nội dung mà các nhà nghiên cứu sau này ở Việt Nam tiếp tục phát triển tạo những cơ sở để nghiên cứu sinh kế thừa. Cuốn sách Những phạm trù mỹ học cơ bản của Iu. B. Borep do Hoàng Xuân Nhị dịch, được Trường Đại học Tổng hợp xuất bản năm 1974 đã trình bày về các phạm trù trong mỹ học trước chủ nghĩa Mác và những phạm trù mỹ học Mác - Lênin. Cuốn sách tập trung sâu vào các phạm trù của mỹ học Mác - Lênin: cái thẩm mỹ, cái đẹp, cái cao thượng, cái bi kịch và cái hài kịch. Đây chính là những bộ phận hợp thành khách thể thẩm mỹ trong đời sống thẩm mỹ. Tác giả cuốn sách đã đưa ra quan điểm về cái thẩm mỹ: "Về bản chất của chúng, cái đẹp, cái cao thượng, cái bi kịch, cái hài kịch, cái có kịch tính và những phẩm chất tương tự khác của hiện thực, đều có quan hệ bà con với nhau. Cái thẩm mỹ là cái chung vốn nằm trong các phẩm chất đó" [66, tr.208]. Đặc biệt, "cái thẩm mỹ trong nghệ thuật là sự thống nhất giữa tư tưởng, lý tưởng và chất liệu của cuộc sống, là sự thống nhất giữa cái duy nhất và cái chung, giữa khách quan và chủ quan" [66, tr.230]. Cuốn sách đã giải quyết tốt mặt khách thể của đời sống thẩm mỹ và là tài liệu quan trọng cho nghiên cứu sinh tham khảo khi viết phần lý luận về đời sống thẩm mỹ. Cuốn Nguyên lý Mỹ học Mác - Lênin của tác giả Iu. A. Lukin và V. C. Xcachersiccop, do Hoài Lam dịch, Nhà xuất bản Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội, 1984 đã phân tích khá sâu sắc về bộ phận chủ thể thẩm mỹ của đời sống thẩm mỹ như nhận thức thẩm mỹ về hiện thực và hoạt động thẩm mỹ của con người; vị trí, vai trò, bản chất xã hội, các loại hình nghệ thuật; giáo dục thẩm mỹ cho những người xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Cuốn sách khẳng định: "Mỹ học nghiên cứu những biểu hiện khác nhau của thẩm mỹ (cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng,... trong hiện thực và trong nghệ thuật, những môi trường biểu hiện của thẩm mỹ và những đặc điểm hoạt động thẩm mỹ của con người trong thực tiễn sản xuất - vật chất và hoạt động xã hội, những tính quy luật của sáng tạo nghệ thuật, tác phong trong sinh hoạt" [67, tr.19]. Những biểu hiện khác nhau của thẩm mỹ trong hiện thực, những đặc điểm hoạt động thẩm mỹ của con người trong thực tiễn sản xuất - vật chất và hoạt động xã hội chính là khía cạnh của đời sống, cụ thể hơn là của đời sống thẩm mỹ. Những nội dung trong cuốn sách cung cấp cho nghiên cứu sinh những kiến thức chuyên sâu về chủ thể thẩm mỹ của đời sống thẩm mỹ. Cuốn Mỹ học - cơ bản và nâng cao do M.F Opxiannhicop chủ biên, được Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin xuất bản năm 2001 là công trình có nhiều nội dung đi sâu vào văn hóa thẩm mỹ. Cuốn sách gồm V phần: Phần I - Mỹ học với tính cách là một khoa học; Phần II - Đặc trưng của nghệ thuật; Phần III - Các loại hình nghệ thuật; Phần IV - Bản chất xã hội của nghệ thuật; Phần V - Văn hóa thẩm mỹ của xã hội chủ nghĩa. Trong đó ở chương I (Đối tượng và nhiệm vụ của mỹ học Mác - Lênin) và chương III (Cái thẩm mỹ) của phần I tuy chưa xác lập được khái niệm đời sống thẩm mỹ nhưng đã trình bày khá sâu sắc về bản chất của cái thẩm mỹ, làm cơ sở lý luận cho nhận thức về cái thẩm mỹ và đời sống thẩm mỹ. Bên cạnh những công trình nghiên cứu, bàn thảo về các nội dung của đời sống thẩm mỹ, còn có những công trình dành các mục cụ thể để phân tích phạm trù cái thẩm mỹ, giá trị thẩm mỹ, văn hóa thẩm mỹ. Đó là những công trình của nhiều tác giả nước ngoài như tuyển chọn Về văn học và nghệ thuật, C. Mác và Ph. Ăngghen, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1958; Từ mỹ học đến các loại hình nghệ thuật, Denis Diderot, Nxb Tri thức, 2015; Mỹ học, Denis Huisman, Nxb Thế giới, 2003,... Mặc dù các tác giả nêu trên không trực tiếp và đi sâu vào phạm trù đời sống thẩm mỹ, bản chất của cái thẩm mỹ, song những tư tưởng lớn của các nhà kinh điển đã xứng là nền tảng lý luận chung nhất cho việc xác định về cái thẩm mỹ. Ở Việt Nam, trên cơ sở mỹ học Mác - Lênin, đã có một số tác giả chuyên nghiên cứu mỹ học như Đỗ Văn Khang, Đỗ Huy, Nguyễn Văn Huyên, Vũ Khiêu, Vũ Minh Tâm, Lê Ngọc Trà, Như Thiết,… Là một nhà nghiên cứu văn học, triết học, nghệ thuật học, mỹ học, tác giả Đỗ Văn Khang đã xuất bản nhiều công trình mỹ học: cuốn Lịch sử mỹ học, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1983; Mỹ học Mác - Lênin (viết cùng Đỗ Huy), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1985; Mỹ học đại cương, Nxb Giáo dục, 1996, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội tái bản có bổ sung năm 2002 và 2008; Mỹ học Mác - Lênin cao cấp, Nxb Đại học Sư phạm, 2004 và gần đây nhất là Giáo trình Mỹ học Mác - Lênin; Giáo trình Mỹ học cơ sở, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2011;... Trong loạt công trình của mình, tác giả khẳng định đối tượng của mỹ học là đời sống thẩm mỹ: "Đối tượng mỹ học là toàn bộ những quy luật cơ bản và phổ biến nhất của đời sống thẩm mỹ (khách thể thẩm mỹ, chủ thể thẩm mỹ và nghệ thuật). Trong đó cái đẹp là phạm trù cơ bản và trung tâm, hình tượng là tiếng nói đặc trưng, nghệ thuật là đỉnh cao của những thành tựu sáng tạo thẩm mỹ, lý tưởng thẩm mỹ là điểm tựa của sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật" [71, tr.8]. Mặc dù đã có những phân tích tương đối rõ nét về vai trò, tác dụng, các dạng biểu hiện của đời sống thẩm mỹ và là nhà nghiên cứu sử dụng rất nhiều lần thuật ngữ "đời sống thẩm mỹ" nhưng Đỗ Văn Khang chưa đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về thuật ngữ này ngoài việc khẳng định "đặc điểm riêng của đời sống thẩm mỹ là sự sáng tạo theo quy luật của cái đẹp" [75, tr.5]. Theo ông, con người có đời sống vật chất và đời sống tinh thần, trong đời sống tinh thần có đời sống thẩm mỹ. "Đời sống thẩm mỹ (bao gồm ba bộ phận: khách thể thẩm mỹ, chủ thể thẩm mỹ và nghệ thuật) trong đó cái đẹp là phạm trù cơ bản và trung tâm" [75, tr.13]. Đồng thời, ông chỉ ra ba dạng biểu hiện của đời sống thẩm mỹ là: dạng cảm xúc - tình cảm của đời sống thẩm mỹ, văn hóa thẩm mỹ và những quan điểm thẩm mỹ. Tác giả Đỗ Huy là nhà nghiên cứu có nhiều công trình tập trung về mỹ học, trong đó có vấn đề thẩm mỹ và phạm trù thẩm mỹ. Các công trình chủ yếu của ông như: Mỹ học với tư cách là một khoa học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; Mỹ học - khoa học về các quan hệ thẩm mỹ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001; Đạo đức học, mỹ học và đời sống văn học nghệ thuật, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002;… Trong cuốn Mỹ học - khoa học về các quan hệ thẩm mỹ, ông khẳng định: “Mỹ học là một khoa học hợp thành các khoa học triết học. Đối tượng chủ yếu của nó là các dạng biểu hiện của cái thẩm mỹ trong toàn bộ hoạt động của đời sống con người” [56, tr.9] và có những phân tích tương đối thỏa đáng các vấn đề về quan hệ thẩm mỹ. Hay trong cuốn Giáo trình đại cương về những khuynh hướng cơ bản trong lịch sử mỹ học, Nxb Chính trị quốc gia, 2011, cùng với việc phân tích lịch sử hình thành và phát triển của mỹ học, các khuynh hướng trong quá trình đó và tư tưởng mỹ học mácxit Việt Nam đương đại, ông tiếp tục khẳng định đối tượng của mỹ học là "các quan hệ và hoạt động thẩm mỹ của con người đối với hiện thực cuộc sống và đã có lịch sử phát triển từ mấy ngàn năm trước" [58, tr.5]. "Mỹ học được coi là khoa học nghiên cứu các quan hệ thẩm mỹ giữa con người và hiện thực, trong đó cái đẹp là trung tâm, hình tượng là khâu cơ bản và nghệ thuật là biểu hiện tập trung nhất. Có nghĩa là, mỹ học nghiên cứu cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hài trong cuộc sống, trong tâm hồn và trong nghệ thuật" [58, tr.36]. Với ông, con người có vô số mối quan hệ, trong đó có quan hệ thẩm mỹ - là mối quan hệ giữa chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ. Quan hệ thẩm mỹ là khái niệm hẹp hơn, nó nằm trong đời sống thẩm mỹ. Ở một số luận điểm, ông cũng có sử dụng thuật ngữ đời sống thẩm mỹ, chẳng hạn như: “Trong đời sống thẩm mỹ hiện nay ở nước ta có sự đan xen giữa các quan hệ thẩm mỹ tiên tiến và quan hệ thẩm mỹ lạc hậu” [56, tr.44]. Những công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Huy thực sự là những tài liệu ý nghĩa đối với việc thực hiện luận án của nghiên cứu sinh. Tác giả Nguyễn Văn Huyên với tư cách là người nghiên cứu mỹ học cũng đã có những cống hiến đối với sự phát triển của khoa học này ở Việt Nam. Trong các nghiên cứu đó đã có nhiều cách luận giải sâu sắc về thẩm mỹ. Nói tới ông, chúng ta phải kể tới hai cuốn sách: Cuốn Giáo trình Mỹ học Mác - Lênin do Nguyễn Văn Huyên, Đỗ Huy, Nguyễn Ngọc Long cùng biên soạn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000 và cuốn Giáo trình Mỹ học đại cương do Nguyễn Văn Huyên chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004. Trong đó, ông nêu rõ quan điểm: "Mỹ học là khoa học triết học nghiên cứu sự vận động của các quan hệ thẩm mỹ trong hiện thực, trong tâm hồn và trong nghệ thuật. Quan hệ thẩm mỹ là phạm trù nền tảng của mỹ học. Cái đẹp là phạm trù trung tâm, hình tượng là đặc trưng cơ bản, nghệ thuật là biểu hiện tập trung nhất của mỹ học” [62, tr.65]. Cùng chiều hướng như nhà nghiên cứu Đỗ Huy, Nguyễn Văn Huyên cũng coi đối tượng của mỹ học là quan hệ thẩm mỹ. Tuy nhiên, ông đã sử dụng và quan tâm tới khái niệm đời sống thẩm mỹ nhiều hơn, linh hoạt hơn. Trong một số khẳng định của ông đã có điều đó, như: “Tuyệt đối hóa mặt cảm tính trong đánh giá thẩm mỹ, sẽ dẫn tới những sai lầm, phủ nhận những giá trị thẩm mỹ khách quan, đích thực trong đời sống thẩm mỹ” [62, tr.80]; “Cái đẹp giữ vị trí trung tâm trong đời sống thẩm mỹ, vì vậy nó là phạm trù cơ bản của mỹ học” [62, tr.108]. Theo Nguyễn Văn Huyên, đời sống thẩm mỹ là mối quan hệ gồm ba mặt hợp thành: “mặt đối tượng trong quan hệ thẩm mỹ (đó là những cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả tồn tại khắp nơi trong đời sống xã hội); mặt chủ thể trong quan hệ thẩm mỹ (đó là các hoạt động của chủ thể thẩm mỹ, bao gồm các hoạt động về nhu cầu thẩm mỹ; về thị hiếu thẩm mỹ; về lý tưởng thẩm mỹ của con người - xã hội); mặt nghệ thuật trong quan hệ thẩm mỹ (đó là các hoạt động hưởng thụ nghệ thuật, đánh giá nghệ thuật, sáng tạo nghệ thuật bao gồm các đặc trưng của nghệ thuật, bản chất xã hội của nghệ thuật và chức năng nghệ thuật)” [60, tr.32-33]. Ngoài các công trình trên, có thể kể đến một số công trình khác như: Cuốn Mỹ học đại cương của tác giả Thế Hùng cũng bàn về các vấn đề cơ bản của mỹ học như bản chất của mỹ học, khách thể thẩm mỹ, chủ thể thẩm mỹ,... Trong đó, ông khẳng định: "Con người tồn tại giữa một đời sống thẩm mỹ, giữa không gian bao la và thời gian vô tận. Đời sống thẩm mỹ tồn tại dưới hai dạng: đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Đời sống vật chất là những giá trị thẩm mỹ tồn tại dưới dạng vật thể, đồ vật (Tangible) có thể nhìn thấy, sờ thấy. Đời sống tinh thần là những giá trị thẩm mỹ phi vật thể (Intangible), chỉ có thể nghe thấy, cảm thấy. Nhưng, dẫu có tồn tại dưới dạng vật chất hay tinh thần, vật thể hay phi vật thể, các giá trị thẩm mỹ đều phải hướng tới Chân - Thiện - Mỹ. Một giá trị thẩm mỹ, một tác phẩm nghệ thuật sẽ không có lý do để tồn tại nếu không phản ánh chân thực, chân xác cuộc sống" [50, tr.12-13]. Tuy chưa đưa ra một quan điểm rõ ràng, đầy đủ về đời sống thẩm mỹ nhưng tác giả đứng trên lập trường mỹ học "là khoa học nghiên cứu các mối quan hệ thẩm mỹ, các hiện tượng thẩm mỹ trong không gian thẩm mỹ của con người. Mỹ học nghiên cứu các quy luật chung nhất của sự hình thành, phát triển và biểu hiện cái thẩm mỹ trong đời sống con người" [50, tr.12]. Cuốn Mỹ học của Bộ môn Mỹ học - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội xuất bản năm 1995 khẳng định: "Đời sống thẩm mỹ - đối tượng nghiên cứu của mỹ học hình thành trên cơ sở tổng hòa các quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực, hay nói cách khác, từ quá trình con người đồng hóa thẩm mỹ đối với thế giới xung quanh. Trong quá trình này, họ vừa là khách thể hóa, đối tượng hóa năng lực thẩm mỹ của mình, vật chất hóa năng lực ấy trong các vật phẩm và hoạt động sáng tạo vật phẩm, vừa chủ thể hóa các sự vật, hiện tượng được coi là đối tượng thẩm mỹ" [11, tr.29]. Theo quan điểm của Bộ môn Mỹ học - Đại học Văn hóa Hà Nội thì đời sống thẩm mỹ gồm các hiện tượng thẩm mỹ trong cuộc sống và sự phản ánh chúng trong nghệ thuật. Cuốn Cái đẹp - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, của tác giả Nguyễn Thu Nghĩa, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2016 đã dựa trên cơ sở trình bày, phân tích những đóng góp quan trọng và những thành quả của C. Mác và Ph. Ăngghen về các tư tưởng sáng tạo theo quy luật của cái đẹp; sự vận động lịch sử cũng như các đặc trưng, các loại hình chủ yếu của cái đẹp trong thực tiễn xã hội Việt Nam (từ truyền thống đến hiện đại). Cuốn sách đã tập trung vào yếu tố trọng tâm của đời sống thẩm mỹ - đó chính là cái đẹp - một phạm trù phản ánh khách thể thẩm mỹ. Trong thời gian gần đây những công trình mỹ học mới ra đời không nhiều, chủ yếu là tái bản, bổ sung những ấn phẩm đã xuất bản trước đó. Tuy nhiên, cuốn sách Tương tác mở trong mỹ học Việt Nam đương đại của tác giả Đỗ Thị Minh Thảo được xuất bản năm 2017 là một điểm nhấn. Cuốn sách có xu hướng tái cấu trúc hai đường hướng mỹ học đời sống thẩm mỹ và quan hệ thẩm mỹ. “Đây là đường hướng mỹ học tổng thể thẩm mỹ với đặc điểm xây dựng nguyên lý tính tổng thể theo quan điểm của chủ nghĩa Mác và Hồ Chí Minh (...) nhằm định hướng các giá trị tổng thể của đời sống xã hội" [158, tr.3-4]. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra quan điểm về đời sống thẩm mỹ và quan hệ thẩm mỹ. Những quan điểm của tác giả Đỗ Thị Minh Thảo trong cuốn sách này đã tạo cơ sở quan trọng cho hướng nghiên cứu của luận án, trong đó có khẳng định: “Trong cấu trúc đời sống thẩm mỹ: khách thể thẩm mỹ (bàn đến các đối tượng cái đẹp khách quan) - chủ thể thẩm mỹ (bàn đến thế giới chủ thể sáng tạo và thưởng ngoạn cái đẹp chủ quan) - Nghệ thuật (bàn đến tính thống nhất khách quan và chủ quan của cái đẹp nghệ thuật)” [158, tr.130]. Nhìn chung, tất cả các công trình nêu trên đều trình bày khá rõ những vấn đề cơ bản của đời sống thẩm mỹ, đều cho thấy đời sống thẩm mỹ bao gồm khách thể thẩm mỹ, chủ thể thẩm mỹ và sản phẩm của sự tương tác giữa chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ với đỉnh cao là nghệ thuật. Tuy nhiên, hầu hết các công trình chỉ trình bày các bộ phận của đời sống thẩm mỹ mà chưa có một công trình chuyên sâu nào đưa ra quan niệm về đời sống thẩm mỹ, nhất là về đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương. Cái nút để đạt được mục đích của luận án là những vấn đề lý luận nền tảng về đời sống thẩm mỹ, từ đó mới có thể đi vào phân tích đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương. Các công trình nói trên đã cung cấp những chất liệu quan trọng để tác giả luận án hệ thống hóa các vấn đề lý luận về đời sống thẩm mỹ ở chương 2. 1.1.2. Những nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương và người Việt thời kỳ Hùng Vương * Tình hình nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương Thời kỳ Hùng Vương đã được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu với nhiều ngành khoa học khác nhau trải qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc. Đầu tiên phải nói tới các sử gia phong kiến phương Bắc xưa, họ đã có những ghi chép về thời kỳ Hùng Vương. Nhưng sự ghi chép đó có phần sai lạc, thiếu chính xác do ở quá xa đất nước ta, ghi chép theo sự kể lại của những quan lại thống trị miền Lĩnh Nam (các sử gia như Tư Mã Thiên, Ban Cố, Lịch Đạo Nguyên, Tư Mã Quang,...) hoặc ghi chép có đôi điểm chính xác vì họ đã từng ở vùng Lĩnh Nam, có thấy phần nào tình hình vùng đất Giao Chỉ song lại thiếu khách quan do mang sẵn lập trường, quan điểm của giai cấp thống trị xâm lược (những người như Tăng Cổn, Thẩm Hoài Viễn, Chu Khứ Phi). "Họ phủ nhận sự độc lập phát triển của dân tộc ta, do đó, họ không ghi chép thời Hùng Vương - An Dương Vương theo đúng sự thật lịch sử" [139, tr.14]. Còn dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, vua chúa và nhân dân ta đã rất quan tâm nghiên cứu, tham khảo sách xưa, thu thập các di vật thời kỳ Hùng Vương (đặc biệt là giai đoạn Đông Sơn) như trống đồng, chuông đồng. "Người đầu tiên đưa thời Hùng Vương và những mẩu chuyện thời Hùng Vương vào sách là nhà sử học Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháp (đời Trần). Sách của Trần Thế Pháp, sau đó được Vũ Quỳnh, Kiều Phú san nhuận và bổ sung" [139, tr.15]. Ở các triều đại sau, các sử gia phong kiến như Ngô Sĩ Liên, Lê Quý Đôn, Đặng Xuân Bảng, Nguyễn Thông, Phan Huy Chú,... cũng đã nghiên cứu về thời kỳ này. Một số tác phẩm thời kỳ phong kiến đã đề cập tới thời kỳ Hùng Vương dưới dạng truyền thuyết, lịch sử hay địa lý như: Việt Nam thế chí (2 quyển) của Hồ Tông Thốc ghi chép sự việc từ thời Hùng Vương đến nhà Triệu; Việt Sử lược biên soạn năm 1377 chưa rõ tác giả, có người cho rằng của Sử Hi Nhan; Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên; Lĩnh nam chích quái của Trần Thế Pháp biên soạn vào cuối thế kỷ XIV thời Trần; Dư địa chí của Nguyễn Trãi; Việt sử thông giám của Vũ Quỳnh, gồm 26 quyển, 2 kỷ, biên soạn thời Hậu Lê; Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú biên soạn trong 10 năm (1809 - 1819) dưới thời Nguyễn gồm 49 quyển;... Đáng chú ý là cuốn Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên biên soạn năm 1479 thời Lê Thánh Tông, về sau có sự bổ sung của Lê Truy, Phạm Công Trứ, Lê Hy (từ các quyển 12 đến quyển 19) được in năm 1697. Cuốn sách chép các sự kiện lớn trong lịch sử Việt Nam từ thời Kinh Dương Vương và các vua Hùng (kỷ họ Hồng Bàng) cho đến triều đại nhà Hậu Lê với những lời bình chú, nhận xét tương đối khách quan của Ngô Sĩ Liên cũng như của các bậc tiền nhân (Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên). Đây là bộ quốc sử, ghi chép lịch sử Việt Nam nên thời kỳ Hùng Vương được đề cập đến dưới phương diện sự kiện. Mặc dù, Ngô Sĩ Liên "đã dựa vào các sách cũ thận trọng đưa thời Hùng Vương vào bộ sử Việt Nam đầu tiên" [139, tr.16] nhưng ông chỉ chép vào phần Ngoại kỷ nghĩa là còn hồ nghi tính chân xác của sử liệu, chưa coi đó là chính sử. Ngoài việc tham khảo trích dẫn các sách xưa, không còn cách nào khác để chứng minh sự tồn tại của thời kỳ Hùng Vương nên các sử gia phong kiến "một mặt công nhận sự tồn tại của thời Hùng Vương, một mặt khác lại tỏ ý nghi ngờ"" [139, tr.16]. Mối băn khoăn nghi ngờ đó đã kéo dài ngót nghìn năm vì ở thời phong kiến "chưa có một cuộc khai quật khảo cổ nào và cũng chưa có một công trình khảo tả, nghiên cứu khảo cổ thời đại kim khí nào" [139, tr.7], tức là thiếu các cứ liệu khoa học đáng tin cậy. Đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ này cũng chưa được đề cập tới. Công cuộc khảo cổ thời đại kim khí, trong đó có thời kỳ Hùng Vương, thực sự được mở đầu với sự xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam. Trong giai đoạn đầu, những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, một số sĩ quan, quan lại Pháp, dưới danh nghĩa "học giả", "nhà nghiên cứu", "nhà thám hiểm" (như D'Argence và Demange) tiến hành thu lượm, mua bán một số hiện vật văn hóa Đông Sơn ở miền núi và đồng bằng lưu vực sông Hồng. Chính quyền thực dân đã thành lập phái đoàn khảo cổ Đông Dương năm 1898, sau đổi thành Trường Viễn Đông Bác cổ của Pháp năm 1900, trong đó có Viện Bảo tàng trưng bày các hiện vật khảo cổ và lịch sử mà họ thu lượm, mua được. Việc thành lập Trường Viễn Đông Bác cổ ở Hà Nội đánh dấu sự quan tâm của chính quyền thực dân đối với công tác khảo cổ ở Việt Nam. Trong mấy chục năm tồn tại, trường là cơ quan chính, nếu không nói là duy nhất, tiến hành việc tìm kiếm, thăm dò, khai quật, nghiên cứu văn hóa Đông Sơn. Năm 1903, trường đã lấy được chiếc trống đồng Ngọc Lũ ở chùa Long Đọi Sơn, Hà Nam. Những hiện vật như rìu, giáo, dao găm, trống đồng, tấm che ngực,... đã được D'Argence và Demange bán lại cho trường và một số Viện Bảo tàng ở Pháp. Đây là bộ sưu tập hiện vật văn hóa Đông Sơn lớn nhất, phong phú nhất, lần đầu tiên được biết đến. Song không có được một báo cáo khảo tả chi tiết, thẩm định giá trị mà chỉ được giới thiệu lẻ tẻ trên một số tập san của trường. Suốt hơn nửa thế kỷ tìm kiếm, với các học giả nước ngoài đã tham gia nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương trong lịch sử nước ta như H. Parmentier (học giả người Pháp), F.Heger (học giả người Đức), Pajot (Pagiô) - nhà khảo cổ học người Pháp, Victor Goloubew (Goolubép) - học giả Pháp gốc Nga chuyên nghiên cứu về lịch sử nghệ thuật, Heine. Geldern (H. Ghenđec) - nhà khảo cổ học người Áo, Olov. Janse (O. Yanxe) - nhà khảo cổ học Thụy Điển, Aurousseau (học giả Pháp), Karlgren (học giả Thụy Điển), Van Stein Callenfels (học giả Hà Lan), T. Kobayashi (học giả Nhật Bản), Trịnh Sư Hứa (học giả Trung Quốc),... mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng các học giả này đã phát hiện được một nền văn hóa Đông Sơn độc đáo, phong phú trên đất nước ta, tập trung chủ yếu trên lưu vực Sông Hồng, Sông Mã. Họ đã từ di tích Đông Sơn và cả trống đồng phát hiện lẻ tẻ, xác nhận một nền văn hóa Đông Sơn, phác họa bộ mặt văn hóa Đông Sơn, tuy còn mờ nhạt, rời rạc, thậm chí có những đường nét lệch lạc, như Victor Goloubew, Olov. Janse đã tách rời nền văn hóa Đông Sơn ra khỏi thời kỳ Hùng Vương và cổ sử Việt Nam nói chung. Mặc dù "có những phương pháp nghiên cứu tiến bộ hơn so với các sử gia phong kiến, có những bộ môn hỗ trợ cho sử học như khảo cổ học, nhân chủng học, ngôn ngữ học, dân tộc học, địa lý học,..." [139, tr.17] nhưng do trình độ hạn chế của khảo cổ học những năm trước Đại chiến Thế giới lần thứ hai (1939-1945) cùng mục đích xâm lược và tư tưởng học thuật chủ đạo là "thuyết thiên di", thuyết ngoại lai, vị chủng, "chủ nghĩa truyền bá", "trung tâm Phương Tây"... nên các nhà sử học phương Tây không đi sâu nghiên cứu toàn diện thời kỳ Hùng Vương cũng như lịch sử cổ đại nước ta mà chỉ tập trung vào việc xác định niên đại, sự tồn tại, nguồn gốc văn hóa và minh giải hoa văn trên cơ sở các lễ nghi, tín ngưỡng. Vì vậy, cũng không có những nghiên cứu về các khía cạnh thẩm mỹ thời kỳ này. Người Việt Nam nghiên cứu lịch sử thời kỳ Hùng Vương tiêu biểu có Trần Trọng Kim với cuốn Việt Nam sử lược, xuất bản lần đầu năm 1920. Tác giả cho rằng truyện Hồng Bàng không chắc là truyện xác thực, từ đời Kinh Dương Vương đến đời Hùng Vương thứ 18 cả thảy 20 ông vua mà từ năm 2879 đến năm 258 TCN thì vừa 2622 năm, tức mỗi ông trị vì được non 150 năm, thực tế khó có nhiều người sống lâu như vậy. Ngoài Trần Trọng Kim, còn có một số bài viết về thời kỳ Hùng Vương đăng trên các tạp chí Tri Tân, Thanh Nghị, Kỷ yếu của Hội Khai trí tiến đức của một số học giả Việt Nam, “nhưng do trình độ khoa học và tình hình nghiên cứu lúc bấy giờ, cho nên cũng không có cách nào hơn là dựa vào sử sách cũ, bàn cãi lặt vặt quanh việc ghi chép đúng sai về mặt văn tự của người xưa" [139, tr.19]. Như vậy, ở thời Pháp thuộc, thời kỳ Hùng Vương chưa được nhận thức đúng đắn, dù là các sử gia trong nước hay nước ngoài. Bởi vậy, vấn đề đời sống thẩm mỹ thời kỳ này cũng chưa được quan tâm nghiên cứu. Cách mạng Tháng 8-1945 thành công, đưa dần công cuộc nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương vào một giai đoạn mới, đặc biệt từ 1954 đến nay. Với việc ra đời Đội Khảo cổ thuộc Vụ Bảo tồn Bảo tàng và xây dựng Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam trên cơ sở Viện Bảo tàng L. Finot của Pháp để lại, đồng thời hình thành dần bộ môn khảo cổ trong Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, công cuộc tìm tòi, nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương mới thực sự được chú trọng, đi đúng hướng, nhất là từ 1975. Các nhà nghiên cứu bước đầu hệ thống lại tư liệu cũng như các quan điểm học thuật về thời đại này. Tuy chưa có thêm tư liệu mới nhưng các nhà nghiên cứu của chúng ta đã phê phán các quan điểm sai trái của các học giả nước ngoài, nhận thức được tầm quan trọng của thời kỳ Hùng Vương trong tiến trình lịch sử dân tộc. Trong các công trình đó, thời kỳ này đã giữ một vị trí xứng đáng. Từ 1968 đến nay, công cuộc nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương nở rộ mạnh mẽ với các tác phẩm: Thẻ ngọc An Dương của Trần Văn Giáp, Tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa số 53, năm 1957 (đặc san về thẻ ngọc An Dương); Cổ sử Việt Nam (Lịch sử cổ đại Việt Nam) của Đào Duy Anh, Tập san Đại học (Văn khoa) (chuyên san), Hà Nội, 1957 gồm 4 tập trình bày về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, vấn đề Âu Lạc và nước Âu Lạc, văn hóa đồ đồng và trống đồng Lạc Việt, giai đoạn quá độ sang chế độ phong kiến. Với các tác phẩm này, "việc nghiên cứu nước Âu Lạc, vấn đề An Dương Vương, Loa Thành đã được đề cập trên cơ sở tư liệu phong phú gấp bội, bao gồm tư liệu thư tịch, khảo cổ học và dân tộc học" [139, tr.22]. Dựa vào những tài liệu mới phát hiện, những ý kiến đóng góp trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử về lịch sử cổ đại trong giai đoạn này, bài Xã hội nước Văn Lang và xã hội nước Âu Lạc, Văn Tân, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 20, 1960 đã soi sáng một số điểm thời kỳ Hùng Vương. Tác giả bước đầu khẳng định “sự tồn tại của nước Văn Lang và Âu Lạc, nêu rõ sự quan hệ hữu cơ giữa xã hội Văn Lang và xã hội Âu Lạc, đi sâu tìm hiểu chế độ chính trị, kinh tế, xã hội nước Văn Lang và Âu Lạc, nêu ý kiến sự phân chia giai cấp xuất hiện ở thời Hùng Vương" [139, tr.24]. Từ 1966-1968, đáng chú ý có cuốn Những vấn đề về thời đại Hùng Vương với những bài viết được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử năm 1967 như: Vài suy nghĩ về việc tìm hiểu thời đại Hồng Bàng, Nguyễn Linh, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 100; Hoàng Thị Châu: Tìm hiểu từ "phụ đạo" trong truyền thuyết Hùng Vương, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 102; Lê Văn Lan - Phạm Văn Kỉnh: Di tích khảo cổ trên đất Phong Châu và địa bàn gốc của các vua Hùng, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 107; Nguyễn Linh - Hoàng Hưng: Vấn đề Hùng Vương và khảo cổ học, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 108. Tiếp sau đó, hàng loạt các bài viết về thời kỳ Hùng Vương được ra đời: Về sự tồn tại nước Văn Lang, Nguyễn Linh, Nghiên cứu lịch sử, số 112, 1968; Tìm hiểu một số vấn đề về thời kỳ Hùng Vương, Phạm Văn Kỉnh, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, 1969 (Cuốn sách trình bày về một số vấn đề về thời kỳ Hùng Vương: truyền thuyết, khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học với việc nghiên cứu thời Hùng Vương. Những vấn đề chủ yếu về nước Văn Lang và thời kỳ Hùng Vương); Các giai đoạn phát triển văn hóa thời Hùng Vương, Khảo cổ học, số 9-10, 1971;... Qua nghiên cứu của tác giả, từ sau cách mạng tháng 8/1945, các kết quả nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương cơ bản theo hai hướng: Thứ nhất, hướng nghiên cứu của sử học (lịch sử), đặt thời kỳ Hùng Vương trong toàn bộ tiến trình lịch sử dân tộc. Theo hướng này, thời kỳ Hùng Vương được đề cập một cách khái quát, sơ lược. Những tác phẩm tiêu biểu như: Cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời, Đào Duy Anh, Nxb Văn hóa thông tin, 1964 nghiên cứu địa lý học lịch sử Việt Nam, từ đó giúp ta hiểu thêm được về phương diện địa lý những sự kiện quan trọng của thông sử Việt Nam, trong đó có thời kỳ Hùng Vương. "Chủ yếu là nghiên cứu phần địa lý hành chính để nhận định cương vực của nhà nước và vị trí các khu vực hành chính trải qua các đời, rồi đến quá trình mở mang lãnh thổ" [4, tr.14]. Đồng thời "nghiên cứu khía cạnh địa lý của những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm quan trọng trong thời phong kiến, tức là sự nghiệp bảo toàn đất nước trải qua các đời" [4, tr.14]. Ngoài ra, còn một số tác phẩm khác của Đào Duy Anh như Lịch sử cổ đại Việt Nam 4 tập (1957), Việt Nam văn hóa sử cương (1938), Vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam (1957), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX,… Cuốn Hành trình về thời đại Hùng Vương dựng nước, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2000, Lê Văn Hảo đã giới thiệu công trình khoa học nghiên cứu về lịch sử Việt Nam từ thời đại Hùng Vương dựng nước, khôi phục lại thiên nhiên, phong tục tập quán, hội hè, tín ngưỡng, truyền thống anh hùng,... của người Việt cổ thời dựng nước. Cuốn Đại cương lịch sử Việt Nam (toàn tập) từ thời nguyên thủy đến năm 2000 (Trương Hữu Quýnh - Đinh Xuân Lâm - Lê Mậu Hãn (chủ biên), Nxb Giáo dục, năm 2008) đã trình bày đầy đủ, khoa học về lịch sử Việt Nam qua các thời đại với 3 phần: Lịch sử Việt Nam từ thời nguyên thủy đến 1858; Lịch sử Việt Nam 1858-1945; Lịch sử Việt Nam 1945-2000. Trong đó, thời kỳ Hùng Vương được đề cập đến ở chương 2 của phần 1 với các nội dung về niên đại và địa bàn cư trú; sự chuyển biến về kinh tế - xã hội; sự ra đời của nước Văn Lang; cuộc kháng chiến chống xâm lược Tần và sự hình thành nhà nước Âu Lạc; tình hình kinh tế - xã hội và nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc; cuộc xâm lược của nhà Triệu. Các tác giả đã khai thác nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc thông qua đời sống vật chất, đời sống tinh thần, cụ thể hơn nữa là trang phục, đồ dùng, tín ngưỡng,... đã phản ánh trình độ phát triển, đầu óc thẩm mỹ, bản sắc văn hóa của người Việt cổ. Tuy nhiên, những nội dung đó được phân tích rất khái quát, ngắn gọn, chưa chuyên sâu, sắc nét. Đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ này chưa được đề cập và tìm hiểu công phu. Cuốn Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên), Nxb Giáo dục, 2008 gồm hai phần: Lịch sử Việt Nam cổ - trung đại (từ nguồn gốc đến năm 1858) và Lịch sử Việt Nam cận - hiện đại (từ 1858 đến nay). Thời kỳ Hùng Vương được đề cập tới trong chương 1 của cuốn sách. Tại mục II của chương 1, các tác giả khái quát ba nội dung: những chuyển biến kinh tế - xã hội, sự hình thành Nhà nước đầu tiên - Nhà nước Văn Lang, nền văn minh Việt cổ - Văn minh Sông Hồng, nước Âu Lạc đời An Dương Vương. Theo đó, đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ này chưa được đề cập đến một cách chính diện, sâu sắc. Cuốn Nền văn minh Việt cổ của tác giả Hoàng Tuấn, Nxb Văn học, 2013, gồm 3 phần: phần 1. Nền văn minh lịch toán dự báo, phần 2. Khả năng dự báo theo lịch can chi, phần 3. Các vận hạn đời người - các đại hạn và tiểu hạn. Đáng lưu ý nhất là nội dung của phần 1 đã trình bày về nguồn gốc dân Bách Việt, những nét lớn của nền văn minh Việt cổ với đặc trưng là nền văn minh lịch toán;... Đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương hầu như không được đề cập tới. Thứ hai, hướng nghiên cứu chuyên sâu về thời kỳ Hùng Vương, chủ yếu dưới phương diện khảo cổ học. Đây là những căn cứ khoa học cho việc thực hiện luận án. Đầu tiên phải kể tới hai công trình tập thể: Bốn tập kỷ yếu Hùng Vương dựng nước (Nxb KHXH, tập 1-1970, tập 2-1972, tập 3-1973, tập 4-1974) do Viện khảo cổ học chủ trì và Thời đại Hùng Vương của Viện Sử học. Đây là hai công trình có ý nghĩa khoa học to lớn đối với việc nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung. Cuốn Kỷ yếu Hùng Vương dựng nước gồm "những công trình nghiên cứu đã đạt được thành tựu nhất định, phản ánh sự nhất trí của giới khoa học lịch sử về thời đại Hùng Vương" [139, tr.27] như tóm tắt về niên đại và quá trình diễn biến văn hóa thời kỳ này, sự cống hiến của các ngành khoa học ngoài khảo cổ học về Hùng Vương, phác họa một số mặt của đời sống thời kỳ Hùng Vương. Các công trình này khẳng định nguồn gốc bản địa của văn hóa Đông Sơn cùng địa vực phân bố của văn hóa Đông Sơn “là Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, bước đầu hình dung được các bước phát triển văn hóa Tiền Đông Sơn trên lưu vực Sông Mã, Sông Hồng tiến đến hình thành văn hóa Đông Sơn chung" [149, tr.16]. Trên cơ sở văn hóa Đông Sơn, các công trình khẳng định sự tồn tại của một nền văn hóa phong phú, độc đáo, phát triển cao, đạt đến trình độ hình thành một nhà nước sơ khai mà truyền thuyết gọi là nước Văn Lang của các vua Hùng. Cuốn Thời đại Hùng Vương văn hóa - kinh tế - chính trị - xã hội, Văn Tân - Nguyễn Linh - Lê Văn Lan - Nguyễn Đổng Chi - Hoàng Hưng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1973 phần nào "vẽ ra một bức tranh gọn gàng, đầy đủ, có tính chất phổ thông về thời đại Hùng Vương" [139, tr.7] trên các phương diện bờ cõi, tên nước, dân cư, trạng thái kinh tế, thể chế xã hội và chính trị, đời sống văn hóa. Dù mang tên 5 tác giả trên nhưng "nó là kết quả công lao nghiên cứu của giới sử học và giới khảo cổ học nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ mười năm nay" (1960 đến 1970) [139, tr.6]. Cuốn Khảo cổ học Việt Nam tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Văn Tấn chủ biên, 1999 đã vẽ lại bức tranh nhiều màu sắc về thời đại kim khí Việt Nam. Cuốn sách khẳng định: "trình độ văn minh của người Đông Sơn còn được xét về các mặt văn hóa vật chất và tinh thần, nhận thức cái đẹp và hiểu biết thế giới xung quanh" [150, tr.282]. "Nhận thức về âm dương, tuần hoàn, vận động, phồn thực, đối lập, đối xứng... của thế giới vật chất đều đã đạt đến mức cơ sở" [150, tr.283]. Những kết luận này có ý nghĩa to lớn, tạo nền tảng đối với việc nghiên cứu đời sống thẩm mỹ thời kỳ Hùng Vương. Đặc biệt, tháng 9-2019, sau 50 năm diễn ra cuộc hội thảo Hùng Vương dựng nước (những năm 1968-1971), cuộc hội thảo Quốc gia với tiêu đề Thời đại Hùng Vương trong tiến trình lịch sử Việt Nam được tổ chức bởi sự phối hợp giữa Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hội khoa học lịch sử Việt Nam và Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. Các bài tham luận của hội thảo “đề cập đến tất cả các vấn đề, từ những vấn đề cơ bản và cốt lõi cho đến những biến đổi trong lịch sử, từ nguồn gốc, thực trạng cho đến việc đánh giá giá trị và vấn đề phát huy giá trị di sản văn hóa của thời đại Hùng Vương trong thời đại ngày nay” [94, tr.5]. Đây là “một cuộc hội thảo lớn về thời đại Hùng Vương, để tập hợp, đánh giá những kết quả nghiên cứu mới trong 50 năm qua, tính từ sau những cuộc hội thảo quan trọng kể trên” [94, tr.3]. Cuốn kỷ yếu hội thảo là nguồn tài liệu tin cậy để nghiên cứu sinh có thêm những kiến thức mới về thời kỳ Hùng Vương qua tư liệu thư tịch cổ và văn hóa dân gian, qua khảo cổ học, cổ nhân học, địa lý học; đặc biệt là vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di sản lịch sử - văn hóa thời kỳ Hùng Vương trong giai đoạn hiện nay. Hội thảo cũng phần nào cho thấy hướng nghiên cứu của luận án có nhiều tiềm năng và cả những thách thức không nhỏ. Nghiên cứu sinh phải nỗ lực rất nhiều bởi vấn đề đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương còn ít được tiếp cận chuyên sâu.Ngoài ra, phải kể đến những công trình dừng lại khai thác một giai đoạn hoặc một khía cạnh, một lĩnh vực thuộc thời kỳ Hùng Vương của các cá nhân như: Cuốn Di chỉ khảo cổ học Phùng Nguyên, Hoàng Xuân Chinh - Nguyễn Ngọc Bích, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, chủ yếu trình bày những di vật, di tích cùng những diễn biến của các lớp đất quan sát được qua ba lần khai quật, đồng thời "phản ánh ý kiến của các nhà nghiên cứu đối với di chỉ khảo cổ học nổi tiếng này" [13, tr.11]. Cuốn sách khẳng định: "Trên cơ sở kinh tế nông nghiệp phát triển, đời sống cư dân Phùng Nguyên được nâng cao dần, cái đẹp trở thành một nhu cầu không thể thiếu được đối với họ. Người Phùng Nguyên không chỉ lo cái ăn cái mặc, mà còn chú ý làm cho cuộc sống thêm phong phú, thêm đẹp" [13, tr.160]. Đây là những khẳng định vô cùng có giá trị, tạo cơ sở cho việc nghiên cứu đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương, quan trọng hơn cả là nó khẳng định yếu tố thẩm mỹ bắt nguồn từ cơ sở kinh tế theo đúng tinh thần chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Cuốn kỷ yếu Hội thảo khoa học 40 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Phùng Nguyên mang tên Tìm hiểu văn hóa Phùng Nguyên do Viện khảo cổ học và Sở văn hóa thông tin - thể thao Phú Thọ phối hợp, được xuất bản năm 2001 đã “công bố toàn bộ các tham luận khoa học tham dự Hội nghị về văn hóa Phùng Nguyên” [193, tr.5] - giai đoạn văn hóa quan trọng mở đầu cho thời kỳ Hùng Vương. Đáng chú ý, trong bài phát biểu của giáo sư Hà Văn Tấn có lời khẳng định: “người Phùng Nguyên đã tạo nên nhiều đồ án trang trí theo các kiểu đối xứng khác nhau, biểu hiện một tư duy thẩm mỹ cao, một óc tưởng tượng dồi dào” [193, tr.14]. Cuốn sách là nguồn tư liệu đáng tin cậy đối với luận án. Cuốn Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam - Hà Văn Tấn (chủ biên) là công trình có tính chất tổng hợp về văn hóa Đông Sơn - cơ sở khảo cổ học. Cuốn sách gồm XI chương, trình bày rõ ràng về: lịch sử phát hiện và nghiên cứu; các di tích, di vật, nguồn gốc văn hóa Đông Sơn; môi trường sống, con người, cấu trúc xã hội Đông Sơn; các loại hình địa phương và các giai đoạn phát triển của văn hóa Đông Sơn; văn hóa vật chất, đời sống tinh thần của người Đông Sơn; văn hóa Đông Sơn và mối quan hệ trong khu vực. Đọc cuốn sách, chúng ta như thấy một bức tranh tương đối toàn diện và sâu sắc về giai đoạn văn hóa Đông Sơn trong lịch sử dân tộc để từ đó đi đến một khẳng định chắc chắn rằng: “Đông Sơn đã mất nhưng Đông Sơn đang còn” [149, tr.429]. Công trình này tạo ấn tượng lớn đối với nghiên cứu sinh và là cơ sở khoa học đáng tin cậy để phân tích, đánh giá đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương. Cuốn Việt Nam thời cổ xưa, Bùi Thiết, Nxb Thanh niên, 2000 viết về lịch sử Việt Nam từ thời nguyên thủy đến thế kỷ đầu Công nguyên. Trong cuốn sách, tác giả đã có phần phân tích nghệ thuật và thẩm mỹ của cư dân Việt cổ thời các vua Hùng thể hiện trên những loại hình chủ yếu như mỹ thuật (mỹ thuật thực dụng, hội họa, chạm khắc, tạo tượng), múa, âm nhạc, trống đồng. Tác giả khẳng định: “Khả năng sáng tạo nghệ thuật và trình độ thẩm mỹ mà cư dân Việt cổ thời các Vua Hùng đã đạt đến, được coi như là một thành tựu độc đáo của văn hóa - văn minh Việt cổ, ngày càng được phát hiện và nhận thức đầy đủ hơn” [162, tr.259]. Điều đó rất có ý nghĩa đối với nghiên cứu sinh trong quá trình thực hiện luận án. Cuốn Văn hóa Đông Sơn - Văn minh Việt cổ, Chử Văn Tần, Nxb Khoa học Xã hội, 2003. Cuốn sách “tập hợp một số bài nghiên cứu chính được viết riêng hoặc chung trong suốt 30 năm hành trình tìm về cội nguồn dân tộc" [157, tr.9] của tác giả. Trong đó có một số bài viết có giá trị lớn đối với luận án như: Suy nghĩ về tính đa dạng của văn minh thời các vua Hùng; Về niên đại các di tích Hùng Vương; Xã hội thời Hùng Vương; Phân hóa xã hội thời Hùng Vương;... Tuy những khía cạnh thẩm mỹ thời kỳ Hùng Vương không được đề cập tới nhưng kiến thức mà cuốn sách mang lại, đặc biệt là mảng kiến thức về đặc điểm sinh hoạt, lối sống, tính cách,… của người Việt thời kỳ Hùng Vương là nguồn tư liệu quý đối với nghiên cứu sinh. Cuốn Văn minh Lạc Việt, Nguyễn Duy Hinh, Nxb Văn hóa - Thông tin, 2004, “chú trọng nghiên cứu văn hóa Việt Nam trước khi tiếp xúc với văn hóa Hán qua chính quyền đô hộ và qua con đường giao lưu văn hóa, cố gắng xác định vốn văn hóa trước Hán của dân tộc ta, coi đó là bản sắc, bản lĩnh, cơ sở, động lực tồn tại của dân tộc Việt Nam” [42, tr.8] với 2 chương chính: I. Người Lạc Việt trong thư tịch cổ Trung Quốc; II. Văn minh Lạc Việt. Nguyễn Duy Hinh đã có những nhận định quan trọng như: “Người Phùng Nguyên đã thỏa mãn được nhu cầu Ăn, đầu tư vào nhu cầu Đẹp một cách mạnh mẽ và hiệu quả hơn trong văn hóa Hòa Bình. Nhu cầu Đẹp đã phổ biến trong Đẹp cho bản thân Con Người và Đẹp cho cuộc sống xung quanh mình thể hiện qua trình độ thẩm mỹ cao của hoa văn đồ gốm” [42, tr.273]; “Trình độ thẩm mỹ qua hoa văn trang trí đã tinh tế” [42, tr.275]. Từ khi thời đại đồng thau bắt đầu với văn hóa Phùng Nguyên đến khi văn hóa Gò Mun kết thúc, “đời sống vật chất phong phú ổn định chủ động hơn, con người không còn chỉ dốc toàn bộ tâm trí sức lực thời gian vào tìm kiếm miếng ăn mà đã có điều kiện (trí tuệ, thời gian, lao động) nghĩ đến cái Đẹp, nghĩ đến cái Thiêng huyền bí” [42, tr.284-285];... Cuốn Tìm hiểu thời đại Hùng Vương, Lưu Hùng Chương, Nxb Lao Động, 2005, tìm hiểu về thời đại Hùng Vương dựng nước qua một số lễ hội, trong sử sách Trung Quốc và Việt Nam, qua trống đồng Đông Sơn, dấu vết tiếng Việt qua thời đại Hùng Vương;... Cuốn Đi tìm dấu tích Kinh đô Văn Lang, Nguyễn Anh Tuấn, Sở Văn hóa thông tin tỉnh Phú Thọ, xuất bản 2007, “tập hợp các bài nghiên cứu, giới thiệu về nền văn hóa tiền - sơ sử trên vùng đất Tổ cội nguồn” [177, tr.6]. Qua đây tác giả đi sâu khai thác, đưa ra các luận cứ khoa học góp phần làm sáng tỏ dấu tích Kinh đô Văn Lang và thời kỳ Hùng Vương trên vùng đất Phú Thọ “để chứng minh và khẳng định các Vua Hùng dựng nước Văn Lang, đóng đô tại Bạch Hạc - Phong Châu là một giá trị đặc biệt về văn hóa - văn minh của người Việt cổ” [177, tr.6]. Cuốn sách không trực tiếp bàn về đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương nhưng cũng là nguồn tư liệu cung cấp các thông tin để nghiên cứu sinh giải quyết vấn đề luận án đặt ra. Tóm lại, thời kỳ Hùng Vương được quan tâm nghiên cứu rộng rãi. Tuy nhiên do đặc thù, nhiệm vụ của từng ngành khoa học nên đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ này chưa được nghiên cứu chuyên sâu. Những công trình được khai thác dưới góc độ khảo cổ học, sử học là những căn cứ khoa học để nghiên cứu sinh thực hiện hướng nghiên cứu của mình. * Tình hình nghiên cứu về người Việt thời kỳ Hùng Vương Bài viết Về khái niệm “dân tộc” (nation) của Mác và Ăngghen và sự hình thành dân tộc Việt, Hà Văn Tấn, tạp chí Dân tộc học, số 2-1980 đã vận dụng quan điểm của Mác và Ăngghen về vấn đề dân tộc để khẳng định sự hình thành của dân tộc Việt. Nếu dựa vào khái niệm dân tộc của Mác và Ăngghen để nghiên cứu sự hình thành dân tộc trong lịch sử Việt Nam, dân tộc Việt đã hình thành trong thời kỳ Hùng Vương. “Theo nhiều nhà nghiên cứu, trong thời kỳ này, chế độ bộ lạc đã tan rã và nhà nước đã xuất hiện. Thời kỳ nhà nước nảy sinh có thể tương ứng với giai đoạn văn hóa Đông Sơn. Theo tôi nghĩ, đó cũng là lúc dân tộc Việt ra đời” [148, tr.16]. “Nhận định rằng dân tộc ta đã hình thành vào thời kỳ Hùng Vương là phù hợp với thực tế lịch sử Việt Nam, mà cũng phù hợp với quan điểm của Mác và Ăngghen về dân tộc” [148, tr.22]. Tuy không đi sâu phân tích đặc trưng tính cách người Việt thời kỳ Hùng Vương và chính Hà Văn Tấn trong quá trình nghiên cứu đã có những thay đổi nhận thức của mình về vấn đề dân tộc Việt nhưng bài viết đã đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác và thực tế lịch sử dân tộc để khẳng định nguồn gốc dân tộc ta. Điều đó đã góp phần tạo căn cứ cho hướng nghiên cứu của luận án. Cuốn Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam, Viện Dân tộc học, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 1983 đã giới thiệu khái quát các thành phần dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam với quá trình hình thành và kết cấu thành phần dân tộc, những nét chính về lịch sử, kinh tế, văn hóa xã hội của mỗi dân tộc, trong đó có dân tộc Việt (Kinh). Các đặc điểm của người Việt thời kỳ Hùng Vương không được đề cập sâu trong công trình này. Cuốn Nguồn gốc và sự phát triển của kiến trúc - biểu tượng và ngôn ngữ Đông Sơn, Tạ Đức, Hội dân tộc học Việt Nam, 1999 đã trình bày về các biểu tượng kiến trúc cổ truyền Việt Nam - Đông Nam Á, nguồn gốc và sự phát triển của các biểu tượng lớn trong văn hóa và kiến trúc Đông Sơn, sự phát triển của các từ chỉ người trong ngôn ngữ Việt Nam Đông Nam Á. Cuốn sách không đi sâu nghiên cứu đặc điểm cụ thể của người Việt thời kỳ Hùng Vương mà chỉ mới tìm hiểu về kiến trúc - biểu tượng và ngôn ngữ Đông Sơn - một giai đoạn của thời kỳ Hùng Vương mà thôi. Cuốn Người Việt vùng Đồng bằng Bắc Bộ, Diệp Đình Hoa, Nxb Khoa học xã hội, 2000 viết về Người Việt cổ chiếm lĩnh đồng bằng bắc bộ; Cuộc sống tín ngưỡng và tâm linh, môi trường nhân văn, văn hóa dân gian của người Việt ở đồng bằng bắc bộ; Văn hóa ứng xử và văn hóa cơ cấu. Cuốn sách không tập trung vào vấn đề người Việt thời kỳ Hùng Vương nhưng lại là tư liệu tham khảo quý cho quá trình thực hiện luận án. Cuốn Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, Đặng Nghiêm Vạn, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2003 nói về quá trình hình thành cộng đồng quốc gia - dân tộc, cộng đồng tộc người nói chung và Việt Nam nói riêng; đặc điểm của cộng đồng dân tộc Việt Nam, giới thiệu các tộc người ở Việt Nam theo phân bố, theo dòng ngôn ngữ; trong đó có người Việt (Kinh). Cũng giống như cuốn sách Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam, công trình này chỉ dừng lại ở việc giới thiệu tộc người Kinh cùng những đặc điểm của tộc người này chứ không đi cụ thể vào vấn đề đặc điểm của người Việt thời kỳ Hùng Vương. Cuốn Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam, Nguyễn Văn Huy (chủ biên), Nxb Giáo dục, 2005 đã giới thiệu các tên gọi, địa bàn cư trú và xuất xứ, dân số, ngôn ngữ, khái quát lịch sử, hoạt động kinh tế chính, quan hệ xã hội, phong tục tập quán, ăn, mặc, cưới xin, sinh đẻ, ma chay, thờ cúng, lễ tết,... của các dân tộc Việt Nam, trong đó có người Kinh (Việt). Tuy nhiên mới chỉ dừng lại khai thác dưới góc độ dân tộc học về người Việt nói chung mà không nghiên cứu cụ thể người Việt thời kỳ Hùng Vương. Cuốn Văn hóa Việt Nam đa tộc người, Đặng Nghiêm Vạn, Nxb Giáo dục, 2007 trình bày những khái niệm về quốc gia dân tộc và các tộc người, tiến trình và diễn biến của nó trên phạm vi toàn cầu qua từng thời kỳ lịch sử. Đồng thời trình bày nguồn gốc, quá trình hình thành và đặc điểm của các quốc gia dân tộc Việt Nam và các tộc người cấu thành. Cuốn sách mặc dù giới thiệu chung về quốc gia dân tộc Việt Nam và 54 tộc người anh em nhưng cũng là nguồn tư liệu không thể bỏ qua trong quá trình thực hiện luận án. Cuốn Con người huyền thoại thời Hùng Vương, Lê Quốc Hùng, Nxb Văn hóa dân tộc, 2007 kể về những con người huyền thoại thời kỳ Hùng Vương như: người giết thuồng luồng ở Kẻ Nung, cụ voi chiến của vua Hùng Huy, chàng thuồng luồng cộc ở đồng lũng, sự tích đền Nhà Bà và Gành Lời,... Cuốn sách dừng lại ở những con người trong thần thoại, truyền thuyết thời kỳ Hùng Vương nhưng cũng cho nghiên cứu sinh thêm những tư liệu trong quá trình nghiên cứu về người Việt thời kỳ Hùng Vương - những con người hiện thực không phải chỉ là trong huyền thoại. Cuốn Nguồn gốc người Việt - người Mường, Tạ Đức, Nxb Tri Thức, 2013 đề cập tới chủ đề chính là nguồn gốc của hai nền văn hóa Đá Mới Phùng Nguyên và Đồng Thau Đông Sơn, sự hình thành của các nước Xích Quỷ, Việt Thường, Văn Lang, Âu Lạc, Nam Việt (những nước được coi là của tổ tiên người Việt), từ đó làm sáng tỏ nguồn gốc người Việt - người Mường, hai tộc người vốn khác nhau từ gần 4000 năm qua. Cuốn sách gồm 17 chương, 31 phụ lục, giúp độc giả hiểu biết sâu sắc, toàn diện hơn về lịch sử người Việt và người Mường, về văn hóa Việt và văn hóa Mường trong mối liên hệ cội nguồn với lịch sử của nhiều tộc người, nhiều nền văn hóa ở Việt Nam, Đông Á, Đông Nam Á. Mặc dù quan tâm sâu vào vấn đề nguồn gốc người Việt - người Mường nhưng cuốn sách cũng tạo một hướng tiếp cận mới cho nhiều độc giả và nghiên cứu sinh tham khảo. Ngoài ra còn một số công trình luận án, bài viết liên quan tới người Việt thời kỳ Hùng Vương. Cụ thể như: Luận án Đặc điểm nhân chủng cư dân văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam, Nguyễn Lân Cường, Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Lịch sử, 1993 đã tập hợp, nghiên cứu những di cốt người cổ của văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam từ trước tới nay; tìm hiểu đặc điểm nhân chủng của chủ nhân nền văn hóa Đông Sơn: loại hình Indonesien, loại hình Đông Nam Á; tìm hiểu nguồn gốc và thành phần chủng tộc của cư dân Việt Nam trong thời đại kim khí. Bài viết "Vấn đề người Indonesien và loại hình Indonesien trong thời đại nguyên thủy Việt Nam", Hà Văn Tấn, Thông báo khoa học, tập I, Sử học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1962 đã phân tích 3 vấn đề lớn: I. Vị trí của vấn đề "Người Indonesien" trong việc giải quyết vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam; II. Việc phân loại người Indonesien và ý đồ của học giả phương Tây; III. Nghiên cứu vấn đề chủng tộc của loại hình Indonesien thời đại nguyên thủy ở Việt Nam. Bài viết "Văn hóa Phùng Nguyên và nguồn gốc dân tộc Việt Nam", Hà Văn Tấn, Dân tộc học số 1, trang 32-35, 1975 đã nghiên cứu về văn hóa Phùng Nguyên, trên cơ sở đó đưa ra những kiến giải về nguồn gốc, chủ nhân của nền văn hóa này cũng như của dân tộc Việt Nam. Hà Văn Tấn khẳng định: “Không hiểu vì sao khi nghĩ về quá trình hình thành dân tộc Việt, tôi vẫn liên tưởng đến sự ngưng tụ của các dòng kim loại, và vì vậy, tôi không thể không coi các bộ lạc Phùng Nguyên như cái mầm đầu tiên của một quá trình kết tinh, quá trình hình thành tinh thể Việt long lánh trên bờ Thái Bình Dương” [147, tr.35]. Các công trình trên tuy không chuyên sâu nghiên cứu về người Việt thời kỳ Hùng Vương ở khía cạnh đặc trưng tinh thần, tính cách nhưng đã tạo cơ sở cho nghiên cứu sinh viết về vấn đề này ở chương 2. 1.1.3. Những nghiên cứu về đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương Cuốn Lược sử Mỹ thuật Việt Nam, Nguyễn Phi Hoanh, Nxb KHXH, 1970, là một cố gắng bước đầu hệ thống hóa mặt sinh hoạt mỹ thuật của dân tộc ta từ xưa đến nay, trong đó có thời kỳ Hùng Vương. Tương tự như vậy, cuốn Mỹ thuật của người Việt, Nguyễn Quân - Phan Cẩm Thượng, Nxb Mỹ thuật, 1989 cũng khai thác về khía cạnh mỹ thuật của dân tộc ta. Cuốn sách “được trình bày theo trục thời gian gồm các phần Sơ khai, “Bắc thuộc”, và Phong kiến sơ kỳ, trung kỳ, hậu kỳ. Mỗi phần tách ra thành các mục kiến trúc, điêu khắc, đồ họa, mỹ thuật ứng dụng… tùy theo thực tế mỹ thuật mỗi thời” [123, tr.5]. Trong đó, các tác giả có đề cập tới mỹ thuật thời tiền sử (thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng) và đi đến khẳng định: “nghệ thuật Đông Sơn bắt rễ từ nghệ thuật nguyên thủy Việt Nam, tiếp tục “sống” trong thời kỳ Bắc thuộc và còn có ảnh hưởng có tính mạch chìm, cội rễ tới nghệ thuật các thế kỷ sau này của thời phong kiến độc lập” [123, tr.47]. Tuy nhiên, cả hai cuốn sách chỉ khai thác ở khía cạnh mỹ thuật, và mỹ thuật thời kỳ Hùng Vương chỉ được đề cập với tư cách là một giai đoạn trong lịch sử dân tộc. Một số tác phẩm của tác giả Hà Văn Tấn có liên quan tới vấn đề thẩm mỹ, đặc biệt là luận văn: Người Phùng Nguyên và đối xứng, tạp chí Khảo cổ học, số 3-4 năm 1969 (sau này được in trong cuốn Theo dấu các văn hóa cổ, được Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2003). Hà Văn Tấn đã phân tích rất sâu về vấn đề đối xứng trong văn hóa Phùng Nguyên. Từ đó đi đến khẳng định tư duy mỹ học cũng như tư duy khoa học của người Phùng Nguyên. “Đối với người Phùng Nguyên, cái đối xứng quả là một yếu tố của cái đẹp” ”[152, tr.566]. Tổ tiên nghìn xưa của chúng ta cảm thấy như vậy và giờ đây, đứng trước những đường nét của người xưa, chúng ta vẫn nhận thấy điều đó. Những đồ án có đối xứng gương thường gây một cảm giác tĩnh, vững chắc, nghiêm trang, còn những đồ án có đối xứng trục thì trái lại, gây một cảm giác động, rộn ràng, linh hoạt. Trong nhiều bố cục, người Phùng Nguyên đã kết hợp tài tình cả hai kiểu đối xứng, làm cho đồ án vững chắc mà không chết, linh hoạt mà không giảm phần trang trọng. Ở tập 3 (xuất bản năm 1973) và tập 4 (xuất bản năm 1974) của kỷ yếu Hùng Vương dựng nước, một số nhà khoa học đã trình bày những nghiên cứu của mình về đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương như: Lê Văn Lan - Trịnh Minh Hiên, Đời sống vật chất và tinh thần thời Hùng Vương, Sđd, tập 3, tr.228-253; Lê Văn Lan, Trang phục thời Hùng Vương, Sđd, tập 3, tr.254-266; Trần Mạnh Phú, Nghệ thuật tạo hình Đông Sơn - Bản chất, diễn biến và ảnh hưởng, Sđd, tập 3, tr.286-293; Lê Văn Lan - Văn Trọng, Đời sống vật chất và tinh thần thời Hùng Vương, Sđd, tập 4, tr.303- 314; Trần Mạnh Phú, Những bước phát triển của nghệ thuật tạo hình thời Hùng Vương, Sđd, tập 4, tr.323-331; Nguyễn Hữu Thu - Lê Văn Lan, Bàn về âm nhạc thời kỳ Hùng Vương, Sđd, tập 4, tr.339-347;… Các bài viết trên đề cập đến từng khía cạnh của đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương. Đây là những tài liệu quan trọng cho việc tổng hợp, hệ thống thành công trình chuyên sâu về đời sống thẩm mỹ thời kỳ này. Cuốn Một số vấn đề lý luận về lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nguyễn Tài Thư - Nguyễn Khánh Toàn - Hà Văn Tấn, Viện Triết học, 1984 đã trình bày về đối tượng, phạm vi của lịch sử tư tưởng, đặc thù của tư tưởng dân tộc, các vấn đề về phân kỳ lịch sử tư tưởng, vai trò của tư tưởng dân gian, các tư tưởng Nho - Phật - Lão,... triết học Mác - Lênin và tư tưởng Việt Nam. Nhưng trong đó, tư tưởng thẩm mỹ vẫn chưa được đề cập rõ ràng, đặc biệt là thẩm mỹ thời kỳ Hùng Vương. Công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập 1, Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, 1993 đã đề cập đến toàn bộ lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thời tiền, sơ sử cho tới thời kỳ các cuộc chiến tranh nông dân và sự sụp đổ của các chính quyền đàng trong, đàng ngoài thế kỷ XVII - XVIII. Đời sống của người Việt thời kỳ Hùng Vương được các tác giả đề cập đến ở chương III: Tư tưởng của cư dân buổi đầu dựng nước, chủ yếu là qua việc nghiên cứu văn hóa Đông Sơn. Cuốn sách khẳng định: “chúng ta có đủ lý do để phân tích trình độ tư duy của cư dân Tiền Đông Sơn qua những sản phẩm của họ cũng như qua các hình tượng nghệ thuật của họ. Những hình tượng nghệ thuật này vừa biểu hiện tư duy mỹ học vừa biểu hiện tư duy khoa học” [170, tr.53]. Cuốn sách giúp chúng ta nhận biết được "phần nào tư duy khoa học cũng như tư duy mỹ học của con người thời kỳ này" [170, tr.58]. Tuy nhiên, vấn đề đời sống thẩm mỹ thời kỳ Hùng Vương vẫn chưa được trình bày, phân tích có hệ thống. Bài viết Sự hình thành bản sắc văn hóa ở người Việt cổ của Hà Văn Tấn và Chử Văn Tần in trong cuốn Văn hóa Việt Nam xã hội và con người, Vũ Khiêu (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, 2000 đã phân tích tương đối rõ nét về khái niệm “người Việt cổ” và bản sắc văn hóa Việt cổ. Bài viết nhận định: “Điểm lại toàn bộ đồ vật mà người Phùng Nguyên - Đông Sơn tạo ra chỉ xét riêng về hình dáng và màu sắc chúng ta cũng nhận ra cái độc đáo thấm đậm một cảm xúc thẩm mỹ chung là cái dịu nhẹ, mềm mại, trầm đọng và sâu lắng” [78, tr.132]; “Nhìn chung nhịp nhàng cân xứng và hiền hòa là mẫu số chung của mô hình thẩm mỹ Đông Sơn” [78, tr.133]. Đây là những nhận định hết sức quan trọng hỗ trợ nghiên cứu sinh khi đưa ra những đánh giá về đặc điểm của đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương.Cuốn Trang sức của người Việt cổ, Trịnh Sinh - Nguyễn Văn Huyên, Văn hóa dân tộc, 2001, nghiên cứu vẻ đẹp của đồ trang sức người Việt cổ từ đất, đá, tre, gỗ đến vàng bạc, ngọc ngà,..., tìm hiểu thẩm mỹ và bản sắc văn hóa Việt Nam từ ngàn xưa của người Việt. Mặc dù chỉ khai thác khía cạnh thẩm mỹ trên đồ trang sức của người Việt cổ nhưng cuốn sách góp phần không nhỏ cho quá trình hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh. Trong cuốn Đạo đức học - Mỹ học và đời sống văn hóa nghệ thuật của tác giả Đỗ Huy, Nxb Khoa học Xã hội xuất bản năm 2002 có các bài viết Nguồn gốc các quan hệ thẩm mỹ trong truyền thống văn hóa của dân tộc ta qua một vài hiện vật khảo cổ, Quá trình hình thành và phát triển của các quan hệ thẩm mỹ trong văn hóa Việt Nam,… liên quan tới Đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương. Các bài viết này cho nghiên cứu sinh nhiều định hướng quan trọng khi phân tích, đánh giá đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương. Cuốn Cổ vật Phú Thọ của tác giả Nguyễn Anh Tuấn và Trịnh Sinh, Nxb Văn hóa thông tin xuất bản năm 2005 đã cung cấp các tư liệu cổ vật thời kỳ Hùng Vương tại Phú Thọ đang được trưng bày và lưu giữ trong kho của Bảo tàng Phú Thọ, Bảo tàng Đền Hùng, một số lưu ở các Bảo tàng Trung ương, Viện Khảo cổ học và các sưu tập cổ vật tư nhân ở thành phố Việt Trì. Cuốn sách là nguồn tư liệu quý góp phần phản ánh đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương trên phương diện khai thác các di vật khảo cổ học. Cuốn Truyền thuyết Hùng Vương, Nguyễn Khắc Xương (sưu tầm), Nxb Văn hóa dân tộc - Hội văn học nghệ thuật Phú Thọ, Hà Nội, 2008 đã tập hợp các câu truyện truyền thuyết về thời kỳ Hùng Vương được lưu truyền trong dân gian. Mặc dù chưa có những phân tích, đánh giá các khía cạnh thẩm mỹ thời kỳ Hùng Vương nhưng cuốn sách là nguồn tư liệu tham khảo cho nghiên cứu sinh khi phân tích đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương ở mảng truyện kể dân gian. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Tư duy thẩm mỹ người Việt từ buổi sơ khai đến đầu thế kỷ X, năm 2009 của tác giả Đỗ Thị Minh Thảo là một công trình có liên hệ mật thiết với hướng nghiên cứu của luận án. Đề tài góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành tư duy thẩm mỹ của người Việt cổ qua quá trình lao động sản xuất, chế tác công cụ, trong buổi đầu dựng nước, giữ nước và chống Bắc thuộc. Đồng thời làm nổi bật những đặc điểm chính của tư duy thẩm mỹ Việt Nam trong giai đoạn này. Những kết quả nghiên cứu của đề tài thực sự là tư liệu tham khảo quan trọng đối với nghiên cứu sinh khi phân tích biểu hiện và chỉ ra những đặc điểm của đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương. Trong cuốn Lịch sử triết học phương Đông, Doãn Chính (chủ biên), 2015 ở phần Nội dung tư tưởng triết lý của người Việt thời kỳ dựng nước, các tác giả có đề cập tới tư duy thẩm mỹ của người Việt cổ thời kỳ này nhưng hết sức ngắn gọn và mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các khía cạnh của tư duy thẩm mỹ dưới góc độ nghệ thuật như nghệ thuật tạo hình trên các sản phẩm thực dụng, nghệ thuật tạo hình trên trống đồng, nghệ thuật vẽ hình và tạo tượng. Từ đó, các tác giả khẳng định: "thời dựng nước trong mọi lãnh vực từ vẽ tranh, chạm khắc, tạo tượng và mỹ nghệ đều thể hiện rõ nét tư duy thẩm mỹ phong phú của người Việt cổ, tất cả đều bắt nguồn từ cuộc sống thực tiễn của con người và trở lại hòa lẫn trong cuộc sống đó" [14, tr.676]. Những phân tích, đánh giá về tư duy thẩm mỹ của người Việt cổ trong nghệ thuật thời kỳ dựng nước mà cuốn sách này trình bày là một trong những tư liệu vô cùng quý giá cho nghiên cứu sinh tham khảo. Cuốn Khái lược lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Nguyễn Tài Đông (chủ biên), Nxb Đại học sư phạm, năm 2015 trình bày khái lược về tư tưởng triết học Việt Nam tương ứng với các giai đoạn lịch sử: từ thế kỷ VII TCN đến năm 938; thế kỷ XXV; thế kỷ XVI-XVIII; thế kỷ XIX; nửa đầu thế kỷ XX. Cuốn sách có đề cập tới tư tưởng thời kỳ văn hóa Đông Sơn nhưng chủ yếu là qua thần thoại và truyền thuyết. Các tác giả của cuốn sách khẳng định: Văn hóa Đông Sơn là thời kỳ của tiến bộ luyện kim đồng chuyển sang vật liệu sắt (khoảng 1000 năm TCN đến thế kỷ I, II SCN), của nhà nước Việt sơ khai, của sự tự nhận thức của dân bản địa về đời sống vật chất và tinh thần của mình. “Lúc này chữ viết chưa có, nhưng ta có thể thông qua các công cụ chế tác, qua thần thoại và truyền thuyết để tìm hiểu về thế giới quan và nhân sinh quan của người Việt lúc bấy giờ" [28, tr.12]. Theo đó, ba nội dung tư tưởng thời kỳ văn hóa Đông Sơn đã được trình bày. Đó là: ý tưởng về cội nguồn của người Âu Lạc và quan hệ giữa tộc người này với các tộc người khác xung quanh, ý tưởng về nguồn gốc sức mạnh của cộng đồng, ước mơ về các khả năng siêu phàm trong cuộc sống phàm tục. Tuy tư tưởng thẩm mỹ không được đề cập trực diện nhưng cuốn sách rất có ý nghĩa đối với luận án của nghiên cứu sinh. Tập 1 của bộ sách Triết học Việt Nam của Nguyễn Hùng Hậu được Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật xuất bản năm 2017 viết về Triết học Việt Nam truyền thống đã phác họa vài nét về kinh tế, xã hội và thế giới quan của người Việt thời tiền sử. Qua đó, tác giả nhận định: "Nhìn chung, tư tưởng triết học Việt Nam thời tiền, sơ sử còn khá đơn giản, mộc mạc, chất phác và hiện nay hầu như vẫn còn là một mảnh đất trống mà chưa có ai dũng cảm đi vào khai phá" [40, tr.73]. Vấn đề đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương cũng chưa được đi sâu đúng như nhận định của tác giả. Cuốn Cẩm nang biểu tượng đặc trưng văn hóa Hùng Vương, Trịnh Thế Truyền (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, năm 2019 đã “hệ thống hóa những biểu tượng đặc trưng văn hóa Hùng Vương” [208, tr.5] với các nhóm biểu tượng chính là: biểu tượng thiên văn - vũ trụ - quyền lực; biểu tượng những người anh hùng dân tộc; biểu tượng nghi lễ, tín ngưỡng, sinh hoạt dân gian; biểu tượng những con vật; biểu tượng đời sống sản xuất của cải vật chất; biểu tượng những con số. Cuốn sách đã góp phần cho thấy để trở thành biểu tượng - “ngôn ngữ của cái bất khả tri” [208, tr.10], “nằm ở vị trí trung tâm và là trái tim của cuộc sống giàu tưởng tượng” [208, tr.9] thì những hình ảnh, hình tượng phải có tính thẩm mỹ nhất định, phải là một phần của đời sống thẩm mỹ. Ở thời kỳ văn hóa Hùng Vương cũng vậy. Những biểu tượng mà cuốn sách chỉ ra cũng mang những ý nghĩa thẩm mỹ nhất định, phản ánh về đời sống thẩm mỹ thời kỳ này. Có thể thấy, các nhà nghiên cứu đã có những quan tâm nhất định đối với đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương. Tuy nhiên, các công trình còn tản mạn, chưa có hệ thống, mới chỉ dừng lại ở những khía cạnh, những mặt cụ thể của đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương. Đây quả thực là mảnh đất trống, đòi hỏi sự nghiên cứu nghiêm túc, chuyên sâu hơn. 1.2. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN 1.2.1. Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu
Trải qua các thời kỳ lịch sử, việc nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương đã được quan tâm ở những mức độ, tính chất và mục đích nhất định. Qua tìm hiểu tình hình nghiên cứu đề tài, nghiên cứu sinh nhận thấy: Về nội dung, các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết các vấn đề: - Niên đại, nguồn gốc, lãnh thổ, đời sống vật chất, đời sống tinh thần... của cư dân thời kỳ Hùng Vương (với những cứ liệu cụ thể, chính xác của khảo cổ học); Vai trò, vị trí của thời kỳ Hùng Vương trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc. - Trình bày một số vấn đề về nhân chủng, dân tộc, đặc tính,… của người Việt thời kỳ Hùng Vương. - Trình bày các vấn đề của mỹ học nói chung, mỹ học Mác - Lênin nói riêng và một số nét khái quát về tư duy thẩm mỹ dân tộc, trong đó có tư duy thẩm mỹ thời kỳ dựng nước; trình bày một số vấn đề lý luận về đời sống thẩm mỹ, chủ yếu là các yếu tố của các bộ phận chủ thể thẩm mỹ, khách thể thẩm mỹ và nghệ thuật. - Trình bày, mô tả những mặt, những khía cạnh cụ thể của đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương. Đồng thời có những đánh giá bước đầu về đời sống thẩm mỹ thời kỳ này. - Các công trình, bài viết trên đã góp phần thực hiện đúng quan điểm của Đảng, Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, trong đó có thời kỳ Hùng Vương. Mỗi công trình từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, với những đối tượng nghiên cứu điển hình, chịu những điều kiện, hoàn cảnh tác động khác nhau đều có những đóng góp nhất định cả về lý luận và thực tiễn cho việc khẳng định giá trị lịch sử của thời kỳ dựng nước của dân tộc. Tuy nhiên đó là những nghiên cứu từng mặt của đời sống thẩm mỹ, chưa có một công trình chuyên khảo dày dặn về vấn đề này. Về đối tượng nghiên cứu, các công trình mới chỉ đề cập đến các đối tượng là đời sống vật chất, đời sống tinh thần, các hiện vật cụ thể thời kỳ Hùng Vương,... Trong tất cả các đề tài đó chưa đề tài nào đi vào nghiên cứu chuyên sâu để làm rõ đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương. Nhìn tổng quát, các công trình trên đã có những đóng góp ở những mức độ và những phương diện khác nhau trong việc làm rõ đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương. Tuy nhiên, đây là một vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Tuy đã có nhiều người tham gia bàn luận song việc tìm hiểu để làm rõ khía cạnh đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương vẫn chưa được nghiên cứu có hệ thống. 1.2.2. Vấn đề đặt ra đối với luận án Khi tiếp tục tham gia nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương, về cơ bản tác giả luận án trân trọng, tiếp thu những thành quả nghiên cứu có giá trị của những nhà khoa học đi trước; đồng thời tham gia giải quyết những mảng trống của một đề tài rất cần thiết nhưng khó và chưa được nghiên cứu nhiều. Tác giả tiếp tục đi vào tìm hiểu các khía cạnh sau: - Khái quát, phân tích những điều kiện, tiền đề dẫn đến sự hình thành đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương như yếu tố tự nhiên, yếu tố kinh tế, yếu tố xã hội, yếu tố tư tưởng,... - Khái quát những đặc trưng tính cách, tâm tư tình cảm của người Việt thời kỳ Hùng Vương. - Nghiên cứu khái niệm, nguồn gốc, đặc trưng, kết cấu và vai trò của đời sống thẩm mỹ đối với đời sống xã hội. - Chỉ ra và phân tích những biểu hiện chủ yếu của đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương dưới cách tiếp cận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. - Chỉ ra những đặc điểm, đánh giá ý nghĩa của đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương đối với đời sống thẩm mỹ Việt Nam hiện nay và một số hạn chế của đời sống thẩm mỹ thời kỳ này. Tóm lại, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt về đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương dù là dưới góc độ văn hóa học, lịch sử, mỹ học, dân tộc học, nghệ thuật học,... Dưới góc độ triết học, nếu có thì các công trình mới chỉ dừng lại ở những đánh giá, nhận xét khái quát, ngắn gọn, mang tính chất tổng kết lại những gì đã phân tích trong các công trình về triết học phương Đông, tư tưởng triết học Việt Nam. Phần lớn các nhà nghiên cứu đều có những đánh giá cao tư duy nói chung và tư duy thẩm mỹ người Việt thời kỳ này. Chúng ta cần có những nghiên cứu toàn diện, sâu sắc hơn để khơi gợi và phát huy các giá trị còn lại tới ngày nay mà người Việt thời kỳ Hùng Vương đã tạo lập. Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, nghiên cứu sinh đã hoàn thành các nội dung sau: Thứ nhất, đã tổng quan được tình hình nghiên cứu về đời sống thẩm mỹ. Có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập, giải quyết các vấn đề thẩm mỹ. Tuy nhiên, các vấn đề lý luận về đời sống thẩm mỹ chưa được trình bày đầy đủ thành một công trình chuyên biệt mà mới chỉ làm rõ được các bộ phận trong đời sống thẩm mỹ. Thứ hai, đã tổng quan được tình hình nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương và người Việt thời kỳ Hùng Vương. Dưới góc độ sử học, khảo cổ học, thời kỳ Hùng Vương được tập trung nghiên cứu tương đối đầy đủ, toàn diện. Đây là nền tảng quan trọng cho quá trình thực hiện luận án. Vấn đề người Việt thời kỳ Hùng Vương đã được nghiên cứu trên phương diện nhân học, dân tộc học, văn hóa, văn học,… và đạt được một số thành tựu nhất định. Song vấn đề đặc trưng của đời sống tinh thần, tính cách người Việt thời kỳ Hùng Vương mới chỉ được đề cập tản mạn. Thứ ba, đã tổng quan được tình hình nghiên cứu về đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương. Từ đó cho thấy, đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ này đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến nhưng chỉ dừng lại ở những phương diện, những mặt, những khía cạnh cụ thể của đời sống thẩm mỹ mà thôi. Phần lớn là mô tả đời sống thẩm mỹ thông qua nghệ thuật. Thứ tư, trên cơ sở các nghiên cứu đi trước, nghiên cứu sinh đã đưa ra những đánh giá về tình hình nghiên cứu. Điểm đạt được lớn nhất của các công trình nghiên cứu đi trước liên quan tới luận án đó là các công trình này đã trình bày được một số khía cạnh cụ thể của đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương. Tuy nhiên, lại chưa trình bày một cách có hệ thống cũng như phân tích, luận giải sâu sắc đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương. Thứ năm, trong chương 1 cũng chỉ rõ luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu các nội dung như điều kiện, tiền đề hình thành đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương; đặc trưng của người Việt thời kỳ Hùng Vương; một số nội dung lý luận về đời sống thẩm mỹ; những biểu hiện chủ yếu của đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương; bước đầu khái quát đặc điểm, đánh giá ý nghĩa và một số hạn chế của đời sống thẩm mỹ người Việt thời kỳ Hùng Vương. Việc nghiên cứu đề tài này không chỉ cho chúng ta biết được đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương, mà còn cho thấy được đặc điểm, ý nghĩa và một số hạn chế của đời sống thẩm mỹ thời kỳ này. Đây là một việc làm hết sức cần thiết để góp phần khẳng định, giữ gìn và phát huy tư tưởng dân tộc, trong đó có tư duy thẩm mỹ, nghĩa là nó được thấm nhuần, được phát triển bền vững qua các thế hệ, có tác động tích cực đến cuộc sống của mỗi người và sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc Việt Nam. Với việc làm này, luận án sẽ có ý nghĩa nhất định đối với việc nghiên cứu về thời kỳ dựng nước đầu tiên của dân tộc cũng như đối với triết học, mỹ học nước ta.Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỜI SỐNG THẨM MỸ CỦA NGƯỜI VIỆT THỜI KỲ HÙNG VƯƠNG 2.1. LÝ LUẬN VỀ ĐỜI SỐNG THẨM MỸ VÀ VỀ THỜI KỲ HÙNG VƯƠNG 2.1.1. Lý luận về đời sống thẩm mỹ Đời sống vật chất và đời sống tinh thần là hai bộ phận cấu thành đời sống xã hội. Trong đó, đời sống tinh thần bao gồm toàn bộ những hoạt động nội tâm của con người nói chung (ý nghĩ, tình cảm, tư tưởng,…); những giá trị, sản phẩm, hiện tượng, những quan hệ tinh thần,… phản ánh đời sống vật chất xã hội trong những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. Tùy từng lĩnh vực cụ thể khác nhau mà đời sống tinh thần được chia thành các bộ phận khác nhau như đời sống tôn giáo, đời sống đạo đức, đời sống pháp luật, đời sống thẩm mỹ... Trong các bộ phận nói trên, đời sống thẩm mỹ đã làm giàu có thêm cho đời sống tinh thần. Khái niệm này xuất phát từ quan điểm thực tiễn, được xây dựng và nghiên cứu mạnh ở các nước xã hội chủ nghĩa và Liên Xô vào những năm 50 - 60 của thế kỷ XX. Đến những năm 70, khái niệm này được đưa vào một số giáo trình và sách về mỹ học ở Việt Nam. 2.1.1.1. Khái niệm và cấu trúc của đời sống thẩm mỹ
* Khái niệm
Đời sống “là hoạt động của con người về một lĩnh vực nào đó nói chung” [207, tr.670], còn thẩm mỹ “là khả năng cảm thụ và hiểu biết về cái đẹp” [207, tr.1540] của con người. Mác viết: “đời sống là gì nếu không phải là hoạt động?” [105, tr.134]. "Nói đến đời sống là nói đến sự sinh thành và phát triển" [75, tr.5]. Vậy, đời sống thẩm mỹ là tổng thể những hoạt động tinh tế, sinh động thể hiện sự vận động, phát triển của khả năng sáng tạo, cảm thụ, hiểu biết về cái đẹp và các khía cạnh thẩm mỹ khác trong tự nhiên, xã hội, tư duy con người ở các xã hội nhất định, trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Đời sống thẩm mỹ hết sức phong phú, không thể hiện trong một lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội mà trong mọi hoạt động xã hội của con người. Nó tham gia cấu tạo nên môi trường văn hóa của con người và là một bộ phận của đời sống tinh thần. Cần có sự phân biệt giữa đời sống thẩm mỹ và một số khái niệm như cái thẩm mỹ, hoạt động thẩm mỹ, ý thức thẩm mỹ,… Cái thẩm mỹ là một khái niệm chung chỉ tính thẩm mỹ của hiện thực, của đời sống. Đó là những thực thể thẩm mỹ hình thành, phát triển trong quá trình con người đồng hóa thế giới về mặt thẩm mỹ. Chẳng hạn như cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả đều là những thuộc tính cùng loại thể hiện các hiện tượng thẩm mỹ khách quan, nói cách khác điểm chung của cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả chính là tính thẩm mỹ (cái thẩm mỹ), đây cũng là điểm khác nhau về bản chất giữa các phạm trù này với các thuộc tính khác của hiện thực như đạo đức, khoa học (chân lý),… Cái thẩm mỹ mang tính khách quan, không đặt nền tảng trên sự thỏa mãn những động cơ về kinh tế, sự mưu cầu những lợi ích vật chất trực tiếp của con người. Nó là một giá trị trong đời sống xã hội, mà cái đẹp là giá trị tinh túy nhất. Còn đời sống thẩm mỹ là “toàn diện các mặt thẩm mỹ của đời sống” [60, tr.31], là những biểu hiện khác nhau của cái thẩm mỹ (cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng,...) trong hiện thực và trong nghệ thuật, những môi trường biểu hiện của thẩm mỹ, những đặc điểm hoạt động thẩm mỹ của con người trong thực tiễn sản xuất - vật chất và hoạt động xã hội, những tính quy luật của sáng tạo nghệ thuật, tác phong sinh hoạt. Từ trong đời sống thẩm mỹ sẽ hình thành nên cái thẩm mỹ. Cùng với đó, nếu hoạt động thẩm mỹ chỉ tất cả những gì “phản ánh và biểu hiện những quan hệ thẩm mỹ đối với hiện thực” [188, tr.35], là các hoạt động của nhà sáng tạo làm ra các giá trị thẩm mỹ (Nhà sáng tạo không chỉ là các nhà văn, nhà thơ, nhà điêu khắc,… mà cả những con người bình thường đang hàng ngày hàng giờ tạo ra những vẻ đẹp thường ngày cho cuộc sống của chúng ta) thì đời sống thẩm mỹ là hệ thống chỉnh thể sinh động các hoạt động thẩm mỹ ấy. Nếu đời sống thẩm mỹ bao hàm cả chủ thể thẩm mỹ, khách thể thẩm mỹ, và đỉnh cao của mối quan hệ này là nghệ thuật thì ý thức thẩm mỹ là phạm trù thể hiện chủ thể thẩm mỹ một cách bao quát nhất, là một bộ phận của ý thức xã hội, là sự nhận thức và thái độ thẩm mỹ của con người, phản ánh quan hệ thẩm mỹ giữa con người và hiện thực. Đời sống thẩm mỹ “là một bộ phận tất yếu, hữu cơ của đời sống xã hội. Những vấn đề bản chất của đời sống thẩm mỹ chỉ được làm sáng tỏ khi đặt nó trong mối tương quan với đời sống xã hội" [11, tr.6]. Chỉ có điều "đặc điểm riêng của đời sống thẩm mỹ là sự sáng tạo theo quy luật của cái đẹp" [75, tr.5]. Giữa đời sống thẩm mỹ với khoa học mỹ học, với đời sống xã hội và các khía cạnh cụ thể khác của cuộc sống con người có mối quan hệ biện chứng. "Đời sống thẩm mỹ thẩm thấu vào trong tất cả các chiều của đời sống" [71, tr.15] và rồi chính đời sống lại là cái nôi cho các cung bậc thẩm mỹ thăng hoa. * Cấu trúc Căn cứ vào mối quan hệ con người - hiện thực, khi xem xét theo trục dọc, đời sống thẩm mỹ bao gồm: các hiện tượng thẩm mỹ trong cuộc sống và sự phản ánh chúng trong nghệ thuật. Nghiên cứu sinh khảo sát theo trục ngang, bao gồm chủ thể thẩm mỹ, khách thể thẩm mỹ, sản phẩm của sự tương tác giữa chủ thể và khách thể thẩm mỹ như cái thẩm mỹ đạo đức, các sản phẩm thủ công, mà tập trung nhất, toàn vẹn nhất là sản phẩm nghệ thuật: Một là, chủ thể thẩm mỹ là chủ thể xã hội có khả năng hưởng thụ, sáng tạo, đánh giá thẩm mỹ. Các phạm trù biểu hiện chủ thể thẩm mỹ gồm: Ý thức thẩm mỹ là một bộ phận của ý thức xã hội được biểu hiện dưới hình thức trực tiếp, cảm tính. Đây là khái niệm thể hiện chủ thể thẩm mỹ bao quát nhất, được cấu thành bởi những phạm trù thẩm mỹ khác vốn là những thành tố quan trọng phụ thuộc và làm nên nó như cảm xúc thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ,… Cảm xúc thẩm mỹ là trạng thái rung động trực tiếp của con người trước các hiện tượng thẩm mỹ khách quan quan tự nhiên, trong đời sống và trong nghệ thuật, đó có thể là cảm giác sảng khoái trước cái đẹp, sửng sốt trước cái cao cả, đau xót trước cái bi, khinh bỉ trước cái hài, ghê tởm trước cái thấp hèn và buồn rầu trước cái xấu,… Đây là phạm trù biểu hiện chủ thể thẩm mỹ đầu tiên trước đối tượng thẩm mỹ. Thị hiếu thẩm mỹ là các sở thích tương đối ổn định của cá nhân hay cộng đồng về phương diện thẩm mỹ. Nó thật sự có ý nghĩa trong việc xây dựng đời sống thẩm mỹ. Quan điểm thẩm mỹ là sự khái quát nhu cầu thẩm mỹ của xã hội và hoạt động thẩm mỹ của con người. Đó là những nguyên tắc tiếp cận các hiện tượng và quá trình thẩm mỹ ngoài đời sống và trong nghệ thuật, quan điểm thẩm mỹ chỉ đạo mọi hoạt động thẩm mỹ. Lý tưởng thẩm mỹ là hình ảnh mẫu mực cảm quan về sự hoàn thiện hoàn mỹ của cuộc sống và con người, nói lên hình ảnh đẹp cần phải hướng tới của con người và cuộc sống nên nó là hình thức biểu hiện cao nhất của ý thức thẩm mỹ. Để có chủ thể thẩm mỹ tích cực, phải làm xuất hiện ở chủ thể đó một nhu cầu thẩm mỹ lành mạnh, một thị hiếu thẩm mỹ tốt và một lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp. Con người được coi là một chủ thể thẩm mỹ khi tham gia tích cực vào các hoạt động sáng tạo, đánh giá, hưởng thụ, sản xuất, tiêu dùng thẩm mỹ các sản phẩm mang giá trị thẩm mỹ có tính xã hội. Hoạt động này là hoạt động kết hợp cao nhất các năng lực, khả năng và trình độ thẩm mỹ của chủ thể với bản chất đối tượng thẩm mỹ và được khẳng định bởi hình thức xã hội hóa. Đây là bộ phận năng động của đời sống thẩm mỹ. Hai là, khách thể thẩm mỹ là tất cả các hiện tượng thẩm mỹ khách quan bên ngoài con người được con người khái quát thông qua các phạm trù như: cái đẹp, cái cao cả, cái xấu, cái bi, cái hài, cái thấp hèn,…; được ý thức con người phản ánh và là đối tượng của nhận thức. Căn cứ vào việc xét xem phạm trù thẩm mỹ ấy có phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của sự sống, của lịch sử và của xã hội hay không mà chia các phạm trù thẩm mỹ thành phạm trù thẩm mỹ cơ bản và phạm trù thẩm mỹ không cơ bản; phạm trù thẩm mỹ tích cực và phạm trù thẩm mỹ tiêu cực. Các phạm trù thẩm mỹ cơ bản là cái đẹp, cái xấu, cái cao cả, cái thấp hèn, cái bi, cái hài, cái hùng; các phạm trù thẩm mỹ không cơ bản là cái xinh, cái duyên, cái cao thượng,… Các phạm trù thẩm mỹ tích cực là cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hùng còn cái xấu, cái thấp hèn, cái hài là các phạm trù thẩm mỹ tiêu cực. Tất nhiên, giữa các phạm trù này cũng có sự gắn bó và chuyển hóa qua lại một cách tinh tế và sâu sắc. Khách thể thẩm mỹ và đối tượng thẩm mỹ khác nhau ở chỗ: khách thể thẩm mỹ là toàn bộ hiện tượng thẩm mỹ khách quan được con người nhận thức còn đối tượng thẩm mỹ là một bộ phận, một mặt nào đó của thế giới khách quan đang được chủ thể chú tâm tìm hiểu. Khách thể là vô cùng, vô tận; còn đối tượng là khách thể đã được xác định trong một mối liên hệ cụ thể. Cái thẩm mỹ là khái niệm bao quát toàn bộ khách thể thẩm mỹ. Phạm trù này bao trùm lên các phạm trù thẩm mỹ cụ thể, gồm cả phạm trù thẩm mỹ cơ bản và phạm trù thẩm mỹ không cơ bản, phạm trù thẩm mỹ tích cực và phạm trù thẩm mỹ tiêu cực.Cái đẹp là phạm trù trung tâm, gắn bó toàn diện với cuộc sống, với môi trường, phương thức và nhân cách sống, phản ánh giá trị thẩm mỹ tích cực ở các sự vật, hiện tượng mang lại khoái cảm vô tư, trong sáng cho con người. Cái xấu, cái bi, cái hài, cái cao cả đều tồn tại xung quanh cái đẹp. Cái đẹp và các dạng phái sinh (cái mỹ lệ, kiều diễm, duyên dáng, xinh xắn) bao chứa các quan hệ chân - thiện - ích, xuất phát từ thực tiễn, tồn tại dưới dạng hình tượng vẹn toàn, cân xứng hoặc không cân xứng, hài hòa cụ thể hoặc hài hòa trừu tượng,… “Những hình thái “phổ cập” đơn giản nhất của cái đẹp là: màu sắc, ánh sáng, hình thức, sự đối xứng, nhịp điệu, sự thống nhất trong cái đa dạng, sự hòa hợp, sự thống nhất giữa toàn bộ và các bộ phận” [66, tr.246]. Nói tới biểu hiện của cái đẹp tức là nói đến các sự vật, hiện tượng được đánh giá là đẹp, các vẻ đẹp cụ thể. Có ba lĩnh vực biểu hiện của cái đẹp là trong tự nhiên, trong xã hội và trong nghệ thuật. Vẻ đẹp đích thực tồn tại trong cuộc đời trần tục, được cô đọng, kết tinh ở cái đẹp trong nghệ thuật. Cái đẹp tác động tích cực đến mọi hoạt động sống như điều hòa với các quan hệ đạo đức, pháp luật, chính trị,…; làm phong phú đời sống tâm hồn, tình cảm con người, giúp con người khoan khoái, thích thú, say mê, giải tỏa mọi sự cô đơn; phát triển hòa hợp giữa nhân cách cá nhân và cộng đồng, khắc phục sự ích kỷ; mở ra các khả năng sáng tạo nhiều chiều, nhiều lớp; ngăn chặn cái phản thẩm mỹ;… Chủ nghĩa Mác thấy được biện chứng khách quan - chủ quan trong cái đẹp. Cái đẹp khách quan là cái có khả năng mang cái đẹp, thuộc tính thực tại trong chính bản thân chúng, gợi nên ở chúng ta một thái độ thẩm mỹ tích cực. Cái đẹp khách quan hay tính khách quan của cái đẹp là tuyệt đối, những hình thức cụ thể của nó là tương đối. “Cái đẹp trong hiện thực tồn tại ngoài ý thức của chúng ta, độc lập đối với chủ thể. Thiên nhiên là đẹp, không phải vì chúng ta “tưởng” rằng có cái đẹp ở trong nó mà chính vì bản thân nó vốn có những đặc tính mang ý nghĩa thẩm mỹ đối với chúng ta” [191, tr.104]. Còn những quan niệm chủ quan về cái đẹp được quy định trước tiên do những nguyên nhân lịch sử, xã hội nhất định. Nó là tương đối vì mang tính giai cấp, vì cảm xúc thẩm mỹ của chúng ta về cái đẹp đều phát triển theo quá trình lịch sử, bị hạn chế về mặt lịch sử. Trong cuộc sống xã hội, những gì đang nảy sinh, trưởng thành, tiến bộ, cách mạng đều là đẹp. Cái cao cả và các dạng phái sinh (cái cao thượng, cái trác tuyệt, cái tuyệt vời, cái tuyệt diệu, hùng vĩ) phản ánh cái đẹp to lớn, hoành tráng, hùng vĩ, mạnh mẽ, đầy tiềm năng, cái đẹp trên mức bình thường của tự nhiên trong các quan hệ thực tiễn của con người và cái đẹp mạnh mẽ, sôi nổi, rực rỡ, khẩn trương, gây nên những xúc động hào hứng, khâm phục, say sưa của xã hội. “Bản chất thẩm mỹ của cái cao cả chính là phẩm chất thẩm mỹ của các hiện tượng, các quá trình lịch sử có quy mô đồ sộ, các hình tượng nghệ thuật hoành tráng, biểu hiện sức mạnh bản chất của con người trong lao động, trong chiến đấu, mở ra những khát vọng mới để con người không ngừng hoàn thiện bản thân mình và cuộc sống quanh mình” [60, tr.107]. Cái cao cả biểu hiện cả trong tự nhiên và xã hội. Cái cao cả khác cái đẹp cả về đối tượng và chủ thể thẩm mỹ. Đối tượng thẩm mỹ của cái cao cả thường là những sự vật, hiện tượng, quá trình khách quan có tính khác thường, có khi chúng mang tầm vóc to lớn như biển động dữ dội trong giông bão, chiến công lẫy lừng giành và giữ nền độc lập dân tộc, có khi lại có tính hào hùng, kỳ vĩ, có khi lại ẩn chứa vẻ tao nhã, siêu việt, sự thanh cao,… Cái bi là “cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng, cái mới, cái muốn vươn tới cái mới mang nội dung xã hội tích cực trong đấu tranh với cái xấu, cái tiêu cực đã bị thất bại tạm thời, bị tiêu vong, bị hy sinh, tạo nên sự đồng cảm thẩm mỹ, có ý nghĩa bất tử trong chủ thể xã hội tiên tiến” [60, tr.150], nói cách khác cái bi là cái đẹp bị thất bại tạm thời, tạo ra sự đồng cảm và kích thích con người vươn lên. Còn cái hài là một dạng thẩm mỹ đặc biệt, nó dựa vào cái đẹp hay nhân danh cái đẹp, trốn vào cái đẹp để tồn tại chứ không phải là cái đẹp toàn vẹn hay cái xấu đê tiện. “Đó là những cái đáng cười, cái gây cười, cái tạo ra nội dung của tiếng cười. Tiếng cười là hệ quả xã hội gắn với cái gây cười theo các thước đo mà cá nhân được giáo dục, được nhận biết” [56, tr.202]. Cái xấu là phạm trù thẩm mỹ sóng đôi đối lập với cái đẹp, bằng việc đảo ngược toàn bộ thuộc tính của cái đẹp. Mọi hiện tượng, các quá trình càng xấu thì càng xa lạ với cái đẹp. Ba là, sản phẩm của sự tương tác giữa chủ thể thẩm mỹ và đối tượng thẩm mỹ như cái thẩm mỹ đạo đức, các sản phẩm thủ công. Biểu hiện ở những sản phẩm của đời sống vật chất, đời sống tinh thần mà tập trung nhất, toàn vẹn nhất là sản phẩm nghệ thuật - sản phẩm đặc biệt của đời sống thẩm mỹ bao gồm hưởng thụ nghệ thuật, đánh giá nghệ thuật và sáng tạo nghệ thuật. Ba bộ phận này quan hệ biện chứng với nhau và quan hệ chặt chẽ với các mặt, các khâu cơ bản của mỗi nền văn hóa, mỗi dân tộc. Không có khách thể thẩm mỹ thì không có hoạt động ý thức thẩm mỹ. Mối quan hệ khách thể - chủ thể thẩm mỹ tạo ra các quá trình nhận thức, thẩm định, thưởng thức, đánh giá, sáng tạo thẩm mỹ. Nghệ thuật biểu hiện tập trung nhất mối quan hệ này. Bằng phương thức quán triệt thế giới thông qua hình tượng, nghệ thuật lưu giữ, sáng tạo các giá trị thẩm mỹ đáp ứng nhu cầu tình cảm của nhiều tầng lớp trong xã hội khác nhau. Văn hóa thẩm mỹ, đời sống thẩm mỹ là tổng thể hoạt động của các quan hệ thẩm mỹ, “đều phụ thuộc vào sự hoạt động của chủ thể thẩm mỹ, đối tượng thẩm mỹ và sáng tạo nghệ thuật” [56, tr.83]. Các quan niệm thẩm mỹ chỉ có thể tác động tới cái thẩm mỹ khách quan thông qua hoạt động thực tiễn. Tùy sự mở rộng của thực tiễn xã hội mà phạm vi các hiện tượng được đánh giá về mặt thẩm mỹ cũng mở rộng. "Đời sống thẩm mỹ hình thành trong quá trình vận động của bản thân thực tại con người. Nó có tính tự sinh và tự ý thức, thậm chí nó còn có thể tồn tại ở những dạng thức khác nhau ngay trong tự nhiên" [75, tr.120]. Nó “thâm nhập vào tất cả các lãnh vực hoạt động của con người, không trừ một lãnh vực nào; nó “nhuốm mầu sắc” của nó vào bất cứ hành vi nào của con người, gắn bó hết sức mật thiết với tất cả mọi mặt của cuộc sống tinh thần và vật chất của con người” [191, tr.110]. Xuất phát từ cấu trúc đời sống thẩm mỹ, nghiên cứu sinh trình bày đời sống thẩm mỹ của người Việt thời kỳ Hùng Vương theo các nội dung thuộc khách thể thẩm mỹ, chủ thể thẩm mỹ và sản phẩm của sự tương tác giữa hai bộ phận này (đỉnh cao là nghệ thuật) trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người Việt cổ. 2.1.1.2. Bản chất và đặc trưng của đời sống thẩm mỹ
* Bản chất
Đời sống thẩm mỹ trước hết là hoạt động quan sát, lắng nghe, miêu tả, hình dung, gắn với các cơ quan thị giác, thính giác. Tai nghe các âm thanh, phục hồi lại sự phong phú của âm thanh, mắt nhìn cái đẹp của hình thức và miêu tả lại cái đẹp đó. Hoạt động miêu tả ghi dấu các nét đặc trưng của đối tượng, làm thỏa mãn một nhu cầu thưởng ngoạn mà không thủ tiêu đối tượng, gắn với màu sắc, hình khối, nội tâm con người. Miêu tả vừa mang ý nghĩa làm chủ đối tượng vừa mang ý nghĩa sáng tạo khi tách rời các quan hệ vụ lợi. Cùng với đó, đời sống thẩm mỹ mang bản chất xã hội. Cái đẹp, xấu, cao cả, thấp hèn, nhu cầu, cảm xúc, thị hiếu, lý tưởng thẩm mỹ,… đều do thực tiễn xã hội quyết định, là sản phẩm lịch sử của mỗi quan hệ xã hội nhất định. Nó vận động, chuyển biến cùng sự biến đổi của văn hóa xã hội (có gìn giữ sự ổn định của các giá trị xã hội), phản ánh các điều kiện lịch sử xã hội sản sinh ra nó, lưu giữ các giá trị ấy tạo thành truyền thống thẩm mỹ của dân tộc, giai cấp, thời đại. "Đời sống thẩm mỹ tự thân nó mang tính nhân dân, tính dân tộc, tính thời đại. Hơn thế, nó mang tính giai cấp sâu sắc" [75, tr.11]. Nó là tổng thể các thuộc tính của vật chất và các giá trị trong quan hệ xã hội của con người. Hình thức giá trị khác nhau thì hình thức đánh giá, chiều cạnh, góc độ cũng khác nhau; gắn liền với tính khách quan của sự đánh giá. Một người đẹp, sự vật đẹp, tác phẩm đẹp được quyết định bởi các quan hệ đánh giá. Trong điều kiện lịch sử này thì mang giá trị thẩm mỹ này, trong điều kiện khác lại có giá trị thẩm mỹ khác hoặc phi thẩm mỹ. Cái này thuộc về đời sống thẩm mỹ, cái kia không thuộc về đời sống thẩm mỹ, cái này là đẹp, cái kia là xấu phụ thuộc vào các thước đo, nguyên tắc khác nhau, các đặc điểm của quan hệ đối tượng - chủ thể. Yếu tố thẩm mỹ cá nhân phải phù hợp với giá trị, chuẩn mực, xu hướng chung của xã hội; góp phần xây dựng, điều chỉnh, hoàn thiện, đảm bảo tính thẩm mỹ cho toàn xã hội. * Đặc trưng Đặc trưng thứ nhất của đời sống thẩm mỹ là hoạt động thẩm mỹ sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Đó là các quy luật: Quy luật hài hòa, điều hòa vạn vật (hài hòa trong các quan hệ thẩm mỹ của con người: mặt khách quan - chủ quan, con người - giới tự nhiên, con người - con người trong đời sống xã hội, chủ thể thưởng ngoạn - tác phẩm nghệ thuật; điều hòa giữa các cấu trúc nội tại: lý trí - ý chí - tình cảm; hình thức - nội dung, tương đối - tuyệt đối, bản chất - hiện tượng, cá nhân - xã hội, ý thức - vô thức, lý trí và một tổng thể tình cảm…). Quy luật tổng thể thẩm mỹ của các dạng thức hoạt động của con người, đó là sự toàn vẹn, toàn thể, tính chỉnh thể, tổng hợp, cái tổng hòa, sự hòa hợp, cái hoàn mỹ,… chi phối các hoạt động thẩm mỹ của con người trong đời sống. Nói như Mác “cái tổng thể… là một tổng thể được tư duy, là một sản phẩm của bộ óc đang tư duy, bộ óc này quán triệt được thế giới… theo một phương thức riêng của nghệ thuật” [103, tr.878]. Cái đẹp tổng thể không chỉ nói lên “cái đẹp là gì?” (khái quát thuộc tính, cái chung, ý niệm chung) mà còn trả lời “cái gì là đẹp?” (vật thể/ con người đẹp, cái đẹp cụ thể, một thực thể, một sự vật cụ thể). Quy luật nhào nặn vật chất theo thước đo của con người. Quy luật lao động chế tác, hoàn thiện công cụ của nhân loại. Quy luật sáng tạo phổ biến của toàn nhân loại, sáng tạo nên lịch sử xã hội loài người, văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật, triết học,… Quy luật sáng tạo bên trong mỗi con người, tiềm năng của mỗi cá nhân. Quy luật mở mang các giác quan và cả các cơ quan bên trong con người (bao gồm cả các năng lực thực tiễn chủ quan, các lực lượng bản chất của con người, trong đó có cả ý chí, tình yêu, tâm lý, cái đẹp,…) thông qua quá trình lao động thực tiễn khách quan bởi lịch sử của toàn nhân loại chẳng qua chỉ là lịch sử của sự đào luyện năm giác quan. Quy luật thống nhất các cấu trúc nội tại để tạo ra tính chỉnh thể chân - thiện - mỹ, vẻ đẹp - văn hóa - con người trong xã hội, trong cá nhân. Quy luật đấu tranh giữa các mặt đối lập để đi đến sự thống nhất chỉnh thể của cấu trúc hoàn mỹ xã hội và cá nhân. Quy luật của đấu tranh xã hội, của các cuộc cách mạng xã hội nhằm phát triển, giải phóng con người, xã hội loài người, giải phóng cái đẹp, đem lại hạnh phúc cho con người, tiến bộ cho xã hội. Đặc trưng thứ hai của đời sống thẩm mỹ là tính tình cảm, xúc cảm. Đó là xúc cảm thẩm mỹ chứ không dừng lại ở xúc cảm tâm lý. Cùng cơ sở tâm lý là nhu cầu nhưng nhu cầu của xúc cảm thông thường luôn hướng đến đối tượng, còn nhu cầu của xúc cảm thẩm mỹ phải thoát ra khỏi các nhu cầu vật chất, vô tư, không mang tính vụ lợi, hướng tới sự thụ cảm nội tâm, thưởng ngoạn, đánh giá. Con người thích vẻ đẹp của thế giới, rèn luyện cảm giác của mình với tư cách là một chủ thể thẩm mỹ, thưởng thức, đánh giá vẻ đẹp do nó tạo ra với một niềm đam mê vô tận. “Chính nhờ thế mà chủ thể trở thành chủ thể thẩm mỹ. Các cảm xúc của con người quay lại phục vụ thực tiễn của con người. Các cảm xúc đó làm cho con người khao khát vươn lên hoàn thiện mình, tự hào về cuộc sống của mình” [56, tr.63]. Mác viết: “Cái đói là cái đói, nhưng cái đói được thỏa mãn bằng thịt nấu và ăn với dao, dĩa lại khác với cái đói dùng bàn tay, móng và răng để nuốt chửng thịt sống” [100, tr.283]. Để tình yêu trở thành thẩm mỹ, để miếng ăn trở thành thẩm mỹ, để “một dân tộc được phát triển tự do hơn về mặt tinh thần, thì không được dừng lại trong một trạng thái nhu cầu nhục thể của mình” [99, tr.28]. Đây là yếu tố đặc trưng khiến đời sống thẩm mỹ khác với các loại hình đời sống khác như đời sống đạo đức, đời sống kinh tế, thực dụng,… và các lĩnh vực khác như sinh học, vật lý,… Đặc trưng thứ ba của đời sống thẩm mỹ là tính toàn vẹn, hình tượng, sinh động. Khoa học giữ lại cuộc sống trong các định đề, công thức, quy luật bằng lý trí, tư duy lý luận; tôn giáo, tín ngưỡng phản ánh hư ảo thế giới, nhận thức cuộc sống bằng biểu tượng; đạo đức dùng luân lý để thể hiện, định hướng cuộc sống; pháp luật ổn định cuộc sống bằng các văn bản quy phạm pháp luật;… còn đời sống thẩm mỹ nhận thức bằng hình ảnh, hình tượng toàn vẹn, không chia cắt. Nó “tồn tại dưới một dáng vẻ sinh động về cơ cấu, về mầu sắc, về âm thanh” [56, tr.68]. Cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng,… không tồn tại dưới dạng công thức. Trong hóa học, nước tồn tại dưới dạng H2O nhưng trong triết học, mỹ học lại khác. “Đây là nước của mùa thu trong xanh, kia là hạt sương lung linh của mùa xuân trên đóa hải đường, nọ là nước mắt của những người yêu nhau lâu ngày gặp mặt” [56, tr.68]. Nó tác động đến xúc cảm của con người bằng hình dáng. Thiếu tính toàn vẹn, sinh động giữa con người và hiện thực, không thể trở thành thẩm mỹ. Nó tồn tại như chính cuộc sống, giản dị, sinh động, sâu lắng. Các hiện tượng toàn vẹn sinh động chứa đựng trong đó rất nhiều tầng, lớp, làm cho đời sống thẩm mỹ đa dạng, phong phú. Ở đâu có tính hoàn chỉnh, hình tượng gắn với các xúc cảm thì ở đó có đời sống thẩm mỹ. “Cái thật, cái tốt, cái có ích phải gắn liền với các hình tượng sinh động mới là cái mỹ” [56, tr.144]. 2.1.1.3. Vai trò của đời sống thẩm mỹ trong đời sống xã hội Đời sống thẩm mỹ giữ vai trò là một trong những yếu tố cấu thành nên đời sống tinh thần nói riêng và đời sống xã hội nói chung. Thiếu nó, xã hội loài người không bao giờ là một chỉnh thể đầy đủ. Không có đời sống thẩm mỹ, con người chỉ giống như những cỗ máy cơ học khép mình trong guồng máy liên tục của lao động. Đời sống thẩm mỹ trực tiếp thúc đẩy tâm lý, tình cảm, làm tăng năng suất lao động đồng thời tham gia nâng cao chất lượng thành quả lao động - sản phẩm con người làm ra. Nó làm giàu có cho đời sống tinh thần của con người. Đồng thời, cũng là một thước đo giống loài, là tiêu chuẩn để phân biệt con người với con vật, là sự khẳng định mình như một sức mạnh bản chất của con người. Đối với mỗi cá nhân, đời sống thẩm mỹ giúp con người có những nhận thức tinh tế, phong phú, nhân văn hơn, làm tâm hồn ta trong sáng, lạc quan, cuộc sống nhẹ nhàng và có ý nghĩa hơn. "Đời sống thẩm mỹ (đặc biệt là nghệ thuật) có nhiệm vụ chống lại sự đơn điệu và trả lại sự phong phú bên trong tâm hồn con người" [75, tr.12], hướng con người tới cái đẹp, trong sáng, thánh thiện. Biết yêu và trân trọng cái đẹp, ghét bỏ cái xấu, thương xót cái bi kịch của đời người, có con mắt thẩm mỹ cá tính, chân chính cũng có nghĩa con người sẽ biết làm đẹp cho mình, làm đẹp cho đời, thêm yêu, trân trọng cuộc sống để "sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình". Đời sống thẩm mỹ cũng kích thích tính sáng tạo ở con người bởi muốn đạt tới cái đẹp, con người phải dựa trên cơ sở tạo ra được những cái mới, những cái chẳng bao giờ giống nhau trọn vẹn, cái làm nên nét đẹp của cá tính, độc đáo. Chính bởi tính sáng tạo này, con người có khả năng dự báo được tương lai. Bằng linh cảm, sự nhạy cảm, tâm hồn tinh tế với đời, con người với tư cách cá nhân nói riêng, nhóm, tổ chức nói chung có thể đoán trước được những tình huống có thể xảy ra, dự thảo kế hoạch, đưa ra chủ trương, cách thức hành động phù hợp để đạt được mục đích. Cuộc sống xã hội là một bức tranh muôn màu trong đó đời sống thẩm mỹ giữ vai trò phối màu, đường nét, hình khối cho bức tranh đó. Dù ở khía cạnh nào, đời sống thẩm mỹ luôn giữ vị trí quan trọng đối với mỗi con người và toàn xã hội. 2.1.2. Khái quát về thời kỳ Hùng Vương Trong lịch sử dân tộc ta, thời Hồng Bàng gồm hai giai đoạn: giai đoạn Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân (giai đoạn đá mới) và giai đoạn 18 Vua Hùng (giai đoạn đồng thau). Thời kỳ Hùng Vương “bắt đầu từ nền văn hóa mà ta có thể gọi là văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa sơ kỳ thời đại đồng thau” [184, tr.44] cho đến “khoảng thế kỷ thứ I, hẳn với cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và cuộc đàn áp năm 43 của quân đội viễn chinh Đông Hán" [187, tr.31]. Tập thể nghiên cứu lịch sử thời kỳ Hùng Vương đã có ý niệm chung: “văn hóa Hùng Vương đã phát triển qua 4 giai đoạn lớn: giai đoạn Phùng Nguyên - Giai đoạn Đồng Đậu - Giai đoạn Gò Mun - Giai đoạn Đông Sơn” [187, tr.33], trong lưu vực sông Hồng, ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Các giai đoạn này là cơ sở khảo cổ học của thời kỳ Hùng Vương, phát triển nối tiếp nhau, ngày càng cao trên cơ sở kế thừa thành quả giai đoạn trước, phản ánh quá trình dựng nước, giữ nước đầu tiên của dân tộc ta. Đã xuất hiện cách mệnh danh khác nhau: thời đại Hùng Vương, thời kỳ Hùng Vương, giai đoạn Hùng Vương, thời kỳ Hùng Vương - An Dương Vương, thời kỳ Hùng Vương và An Dương Vương… “Một số nhà nghiên cứu đã chọn lấy một cách mệnh danh khá chung chung là “thời Hùng Vương”, với chữ “thời” thật là “cơ động”” [187, tr.55] về giai đoạn từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn. Nghiên cứu sinh sử dụng khái niệm “thời kỳ Hùng Vương” để mệnh danh cho bước phát triển quan trọng này so với các tên gọi thời kỳ tiền Hùng Vương và thời kỳ hậu Hùng Vương, mệnh danh một cách ước lệ cho các bước phát triển trước và sau của nó, gắn bó hữu cơ trong một chỉnh thể. Chỉnh thể đó là một thời đại - thời Hồng Bàng với sự tan rã xã hội nguyên thủy và sự xuất hiện xã hội có giai cấp đầu tiên, “là sự hình thành và tập hợp những mầm mống của dân tộc, là sự phát hiện và khẳng định con đường vượt qua những thử thách quyết liệt, là sự xây dựng vẻ cao đẹp của nền văn minh đầu tiên mang tính dân tộc của chúng ta ở miền Đông Nam Á” [187, tr.62]. Về cương vực nước Văn Lang: Từ khoảng đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, ở vùng hợp lưu của các con sông Hồng, sông Lô, sông Thao, sông Đà đã có một nhóm người sinh sống mà dấu vết để lại là văn hóa Phùng Nguyên - bộ lạc gốc của Hùng Vương. “Phạm vi phân bố của văn hóa Phùng Nguyên là địa bàn của bộ Văn Lang, bao gồm vùng Vĩnh Phú, một phần Hà Tây, Hà Nội, một phần Hà Bắc” [187, tr.115]; Vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa là vùng phân bố chủ yếu của di chỉ, di tích văn hóa Đông Sơn. Ở thời cực thịnh, phía Bắc vươn lên tới những miền giáp ranh với bộ phận phía nam Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam (Trung Quốc); phía Nam tới dãy Hoành Sơn; phía Tây bao gồm cả vùng Tây Bắc hiện nay dọc xuống miền tây đồng bằng Thanh - Nghệ - Tĩnh, và Quảng Bình hiện nay; phía đông giáp biển Đông (bao gồm những hải đảo). Đó là lãnh thổ Văn Lang của các vua Hùng. “Còn cương vực rộng lớn bao gồm từ hồ Động Đình, Ba Thục đến nước Hồ Tôn (hay Chiêm Thành) được ghi chép trong thư tịch và truyền thuyết, phải chăng là khu vực tụ cư của người Bách Việt nói chung dễ phân biệt với địa bàn sinh tụ của tộc Hán ở phía Bắc” [187, tr.115]. Để có cái nhìn bao quát về diễn biến thời kỳ Hùng Vương, nghiên cứu sinh trình bày một số nét cơ bản về các giai đoạn văn hóa (văn hóa khảo cổ - một tập hợp di tích đồng tính chất, phân bố trên một khu vực nhất định, tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định) thời kỳ này thông qua bảng thông tin dưới đây, trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến văn hóa Đông Sơn:
|
|
Văn hóa Phùng Nguyên |
Văn hóa Đồng Đậu |
Văn hóa Gò Mun |
Văn hóa Đông Sơn |
|
Tên gọi |
mang tên địa điểm khảo cổ Phùng Nguyên, nằm ven sông
Thao, thuộc làng Phùng Nguyên, xã Kinh Kệ - Lâm Thao - Phú Thọ, được khai quật
3 lần: năm 1959 với diện tích 150m2, năm 1961 với diện tích 3.700m2, năm 1968
với diện tích 100m2. |
đặt theo tên khu di chỉ khảo cổ ở gò Đậu, thôn Đông
(khu di tích Đồng Đậu) ở thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, được
khai quật lần đầu vào tháng 2/1962. Đến nay đã được khai quật 6 lần. |
lấy tên địa điểm khảo cổ Gò Mun - xã Tứ Xã - Lâm Thao
- Phú Thọ, được khai quật 2 lần: năm 1961 với diện tích 400m2 và năm 1965 với
diện tích 460m2. |
lấy tên di chỉ Đông Sơn (làng Đông Sơn - thành phố
Thanh Hóa) - một điểm khảo cổ nổi tiếng thế giới được phát hiện sớm nhất
trong nhóm di tích Đông Sơn năm 1924. |
|
Niên đại |
Khoảng 2000 - 1500 năm TCN (Nửa đầu thiên niên kỷ II
TCN). |
Khoảng 1500-1400 năm TCN đến khoảng
1200-1100TCN (Nửa sau thiên niên kỷ II TCN). |
Khoảng 1200-1100 năm TCN đến khoảng 800-700 TCN
(Nửa đầu thiên niên kỷ I TCN). |
Khoảng 800-700 năm TCN - thế kỷ I với sự thất bại của
cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 43. Gồm 3 giai đoạn chính: Giai đoạn Đông
Sơn sớm (chuyển tiếp từ các văn hóa Tiền Đông Sơn lên Đông Sơn), diễn ra sớm
nhất ở loại hình sông Hồng, sau đó ở loại hình sông Mã. Giai đoạn này có sự kết
hợp cái cũ và cái mới. Giai đoạn Đông Sơn phát triển (điển hình) là thời kỳ
các đặc trưng cơ bản của văn hóa Đông Sơn được định hình, phát triển, khoảng
cuối thế kỷ IV - đầu thế kỷ III TCN. Giai đoạn Đông Sơn muộn từ thế kỷ II TCN
đến thế kỷ I. |
|
Thời đại |
thuộc sơ kỳ thời đại đồng thau. "Đây là giai đoạn
xưa nhất trong quá trình phát triển văn hóa thời kỳ Hùng Vương” [187,
tr.35]. |
thuộc trung kỳ thời đại đồng thau. |
hậu kỳ thời đại đồng thau. |
giai đoạn chuyển tiếp từ sự phát triển rực rỡ của đồ
đồng sang sơ kỳ đồ sắt. |
|
Đồ đá và nghề chế tác đá |
Giai đoạn phát triển sớm (cuối thời đá mới chuyển qua
sơ kỳ thời đại đồng thau): Hầu hết công cụ sản xuất bằng đá là rìu tứ diện cỡ
nhỏ, dài 2-5cm, bôn hình thang, chữ nhật, những loại đục, dao, mũi tên; các
vòng trang sức đường kính bé, mỏng, nhiều hình dạng; mặt cắt chỉ có hình
vuông, chữ nhật, tam giác; vũ khí bằng đá rất ít; đầu mũi tên, mũi lao, qua
chưa xuất hiện; đồ trang sức bằng đá (vòng khuyên, nhẫn); mũi khoan, bàn mài,
nồi, vò, bình, bát, loại chậu giống hình lẵng hoa, chân chạc, dọi xe sợi, đạn
tròn, tượng động vật (gà, bò,…). Giai đoạn phát triển muộn (sơ kỳ thời đại đồng
thau): vũ khí bằng đá, đầu mũi tên, mũi lao, qua, đục đá ra đời; vòng trang sức
thuộc cỡ lớn, nhiều gờ nổi ở mặt vòng. Kỹ thuật chế tác đá (ghè đẽo, cưa,
khoan, tiện, mài, đánh bóng đồ đá) đạt trình độ cao nhất (thành tựu nổi bật):
mài một phiến đá dài cưa thành hàng loạt chiếc rìu nhỏ xinh (không sản xuất từng
cái) tạo những mặt nhẵn bóng có thể soi được; khoan khéo léo một hạt chuỗi
dài 7- 8cm, tạo lỗ nhỏ bên trong để xâu dây, khoan những phiến đá mỏng mài sẵn,
lấy lõi thành vòng đeo tay… |
Ngoài những kiểu loại hiện vật thường thấy ở giai đoạn
Phùng Nguyên, có một số dạng hình hiện vật mới, thể hiện tập trung nhất trên
đồ trang sức. Đó là các loại vòng tay cỡ lớn, nặng, được trau chuốt khá tinh
vi; là loại hoa tai có 4 núm, những hạt chuỗi hình gối quạ được làm rất công
phu, tỉ mỉ. |
Kỹ thuật chế tác đồ đá (cưa, mài, khoan) vẫn còn
nhưng bắt đầu đi xuống. Ít gặp kỹ thuật mài vòng trong trang sức thành những
gờ nổi. Không tìm thấy những vòng trang sức mài đẹp và nhiều hình dáng như đồ
trang sức trong văn hóa Phùng Nguyên. Rìu đá là công cụ sản xuất chủ yếu vẫn
chiếm đa số. Vai trò của đồ đá giảm đi. Những loại rìu, bôn, đục, vòng tay, khuyên,
nhẫn, nhỏ nhắn, xinh xắn, nhẵn bóng của giai đoạn Phùng Nguyên, Đồng Đậu hầu
như không thấy, chỉ còn các loại rìu đá, bôn đá làm có phần cẩu thả, trên mặt
rìa thường vẫn còn lại những vết sẹo đá hoặc kích thước thường là cỡ trung
bình. Đồ trang sức bằng đá cũng ít đi, xuất hiện loại khuyên tai có dạng hình
vành khăn dẹt mỏng, được mài vát ở một rìa cạnh. |
Vai trò, tác dụng của đồ đá giảm đi rất nhiều. Đồ đá
giai đoạn Đông Sơn sớm mang đặc trưng văn hóa Gò Mun ở vùng sông Hồng, của
giai đoạn văn hóa Quỳ Chử ở vùng sông Mã. Giai đoạn Đông Sơn muộn, có đồ
trang sức bằng đá thạch anh, đá quý nhiều màu, đá thủy tinh. |
|
Đồ gốm và nghề làm gốm |
Nguyên liệu: đất sét pha cát mịn, nhỏ lẫn bã thực vật (thân thảo). Kỹ thuật bàn xoay, độ nung từ 600 - 7000 C. Hiện vật: Đồ đựng, đồ nấu có số lượng nhiều nhất: nồi, vò, bình, bát, chậu giống hình lẵng hoa, chân chạc, dọi xe sợi, đạn tròn, tượng động vật - gà, bò. Đặc điểm: Giai đoạn 1: thường có đáy tròn, độ nung thấp, mỏng; Giai đoạn 2: Đồ gốm có chân đế phổ biến. Gốm thô, thành gốm mỏng, mặt ngoài tráng một lớp men trắng phủ nhẵn khi bóng láng, màu chưa ổn định (vàng, đỏ, hồng sẫm, hồng nhạt, nâu). Độ dày các phần (miệng, thân, đáy) rất đều. Đồ gốm xương mỏng nhẹ, dạng hình thon cao cân đối, độ nung thấp, dễ vỡ. |
Nguyên liệu: xương rắn hơn trước pha nhiều cát mịn. Kỹ thuật bàn xoay thành thạo, độ nung cao hơn. Đặc điểm: gốm với xương tương đối dày, nặng, dạng hình bớt cao, chiều ngang dần lớn cùng với những đường gãy góc ở cổ, thân tương đối rõ ràng, phù hợp với các dải hoa văn khung nhạc quanh thân gốm miệng loe xiên, cổ ngắn, bụng nở rộng, chân đế thấp và thẳng. |
Nguyên liệu: đất sét pha hạt cát to, xương pha đá nghiền nhỏ. Kỹ thuật bàn xoay, độ nung từ 800 - 9000 C. Hiện vật: vò, bình cổ cao, chậu, âu, bát, đĩa, cốc, chân giò. Đặc điểm: thành dày đều, chắc chắn, liên kết chặt chẽ, không xốp hoặc có lỗ hổng, phổ biến là có chân đế. Mặt ngoài không nhẵn bóng. Màu xanh xám mốc. Miệng loe ngang, gẫy gập ra phía ngoài, mặt trên trang trí hoa văn; góc giữa miệng và thân thường nhọn, chân đế thấp dần, đáy bằng, hình dáng thanh thoát. |
Nguyên liệu gốm có pha cát. Kỹ thuật bàn xoay, độ nung không cao. Còn có gốm thô nặn tay hoặc đổ khuôn. Giai đoạn sớm, số lượng đồ gốm giảm nhưng thể hiện rõ nhất sự kết hợp giữa cũ và mới, kế thừa nhiều nét hình dáng, kỹ thuật Gò Mun. Hoa văn Phùng Nguyên phục hồi và thêm các hoa văn vẽ chim cá. Một số miệng gốm kiểu Gò Mun, miệng loe gẫy, trang trí hoa văn bên trong miệng, nhưng màu sắc và chất liệu lại mang dáng dấp gốm Đường Cổ: màu trắng mốc pha cát mịn; một số miệng gốm mang kiểu dáng trung gian, miệng loe không gãy góc, thành miệng lõm, không trang trí hoa văn bên trong, đôi khi có mảng trang trí hoa văn khắc vạch kiểu Gò Mun. Những đồ gốm giai đoạn Đông Sơn sớm vùng sông Mã có màu phớt hồng, trắng hồng, một màu trung gian giữa màu bạc xám của giai đoạn Quỳ Chử và màu đỏ tươi của giai đoạn điển hình. Giai đoạn muộn gốm thường để trơn, hoặc có văn thừng, văn chải ở thân đơn điệu, dáng thấp bé, miệng loe khum hình lòng máng, màu hồng nhạt, trắng mốc, màu đỏ cháy, xám đen, có lớp men phủ. Biểu hiện xu hướng thực dụng rõ rệt. |
|
Đồ đồng và Nghề chế tác đồng |
Giai đoạn 1: chưa tìm thấy vết tích đồng. Giai
đoạn 2: tìm thấy vết tích đồng nhưng thường không có hình dáng rõ rệt; hầu
hết là xỉ và gỉ, chưa thấy những hiện vật đồng thau nguyên vẹn. Nghề luyện
kim và đúc đồng không còn quá xa lạ với người thời Phùng Nguyên dù hiểu biết
của họ về nghề này còn hạn chế. |
Ngoài các di vật giống giai đoạn Phùng Nguyên, còn có những khuôn
đúc các loại rìu, mũi tên bằng đất nung, bằng đá, các công cụ, dụng cụ, vũ
khí bằng đồng với hình dáng tương đối ổn định, chất lượng khá cao. Đó là những
loại rìu hình chữ nhật, giáo hình búp đa, dao phạng, bàn chải (dũa), mũi nhọn
(mũi phóng), dao khắc, mũi tên, lưỡi câu, kim và dây nhỏ; trong đó, các loại
mũi nhọn, mũi tên, lưỡi câu là loại phổ biến nhất, số lượng nhiều nhất. Kỹ
thuật đúc luyện kim đồng phát triển hơn trước, số lượng đồ đồng nhiều hơn, loại
hình phong phú hơn. Những đồ đồng thau lần đầu tiên được dùng vào săn bắn
(mũi tên, mũi lao, mũi nhọn,…), bắt cá (lưỡi câu) |
Đồ đồng khá nhiều. Ngoài mũi tên, mũi nhọn, mũi giáo
có họng tra cán, lưỡi câu, dây, kim đồng, bàn chải, có các loại lưỡi
hái, lưỡi rìu hình xéo. Công cụ bằng đồng thau được đưa vào sản xuất nông
nghiệp. Phần lớn công cụ, vũ khí bằng đồng đều có hình dáng khá hoàn chỉnh
(rìu, lưỡi câu, đục, lưỡi hái, mũi lao, mũi tên, giáo,…); thường là cỡ nhỏ, đồ
trang sức bằng đồng hãy còn ít, vũ khí bằng đồng chưa xuất hiện nhiều. Người
ta bắt đầu dùng đồng thau uốn thành những vòng đeo tay đơn giản. |
Ở giai đoạn sớm: Đồ đồng chưa nhiều. Loại rìu xéo
chưa có, chỉ tìm thấy những mũi rìu gãy. Những chiếc giáo có họng, có
hình búp đa ra đời nhưng số lượng rất ít. Đồ đồng Gò Mun, Quỳ Chử vẫn được sử
dụng. Giai đoạn điển hình, đồ đồng, nghề đúc luyện đồng phát triển đỉnh cao.
Bộ đồ đồng điển hình của văn hóa Đông Sơn ra đời: rìu xéo, rìu chiến (hình
bàn chân, hình hia,…), rìu xòe cân, rìu chữ nhật; đục bẹt, đục một, đục vũm,
nạo, bàn chải, dao găm; giáo (hình búp đa, lá mía, hình thoi có lỗ hoặc không
có lỗ ở hai bên sống); lưỡi cày hình cánh bướm, trái tim, tam giác; cuốc,
mai, thuổng; mũi lao, mũi tên ba cạnh; tấm che ngực, búa; thố, thạp, thùng,
bình, lọ; đồ trang sức; tượng người, thú; trống, chuông. Kỹ nghệ chế luyện đồng
đạt trình độ hoàn thiện. Hợp kim đồng - thiếc - chì được sử dụng hiệu quả cho
từng loại di vật. Với một tỷ lệ chì cao tạo nên đặc trưng của đồ đồng Đông
Sơn. Trống đồng loại 1, thạp đồng tập trung cao độ trình độ luyện kim, văn
hóa - xã hội thời này. Đồ đồng được chôn theo người chết. Giai đoạn muộn, xuất
hiện nhiều đồ đồng minh khí, có những hợp kim đồng nhiều thành phần: đồng -
chì - sắt, đồng - thiếc - chì - sắt, đồng - thiếc - chì - sắt - kẽm. Một
nguyên nhân của hiện tượng này là sử dụng nguyên liệu tái sinh bên cạnh
nguyên liệu lấy từ quặng. |
|
Nghề đúc, rèn sắt và nghề chế tạo thủy tinh |
Chưa xuất hiện |
Chưa xuất hiện |
Chưa xuất hiện |
Ở giai đoạn điển hình, kỹ nghệ chế luyện sắt ra
đời. Những hiện vật sắt (các loại cuốc mai, búa, giáo, đục, dao,…), dấu vết
luyện sắt ở di chỉ cư trú như Vinh Quang, Gò Chiền Vậy. Giai đoạn muộn, số lượng
đồ sắt nhiều hơn. Đồ trang sức bằng thủy tinh có vòng tay, khuyên tai, hạt
chuỗi. |
|
Các loại hình trang trí chính |
Loại trang trí thành từng dải với những kết cấu phức
tạp trên nền chấm nhỏ lăn tăn có quét bột trắng; loại văn trang trí thành từng
dải do những tổ hợp các kết cấu hình tam giác, chữ S nằm đứng nối tiếp, liên
tục; loại văn hình tròn, hình mặt nguyệt, văn tam giác,… Đồ gốm có lối trang
trí đặc biệt: Giai đoạn 1: chủ yếu là rạch đơn giản: chấm giải, hoa văn rạch
những đường song song thành đường xoáy ốc, các đường thẳng song song cắt chéo
nhau thành hình tam giác, hoa văn chấm tròn, in dây thừng mịn; Giai đoạn 2:
các loại hoa văn làn sóng đơn giản, làn sóng uốn lượn, biến dạng phức tạp bện,
đan vào nhau giống hình số 8, hình chữ S, chữ C, mỏ neo, hình thoi, tam
giác,…; những đường xiên song song tạo thành những hình tam giác ngược chiều
nhau trong văn hóa Phùng Nguyên không phổ biến. Những hoa văn này thường tạo
bằng phương pháp rạch. |
Những hoa văn như những dải dài có nền bằng những chấm
nhỏ li ti, hình tam giác, chữ S nối tiếp liên tục vẽ bằng những nét gạch đơn
thời Phùng Nguyên hầu như không còn. Những hoa văn mới vẽ bằng bút khắc vạch
lớp (nhiều đường song song) như làn sóng, hình sâu đo nối tiếp, dây thừng bện,
chữ S nằm uốn lượn, nối tiếp hoặc lồng vào nhau; hình xoáy ốc, tam giác, chữ
nhật, hình thoi, rải quạt,… chiếm địa vị chủ đạo trong phong cách hoa văn gốm
Đồng Đậu. Thợ gốm không dùng đơn điệu một kiểu loại mà phối hợp nhiều kiểu
hoa văn tôn thêm sự phong phú của các đồ án hoa văn. Hoa văn gốm Đồng
Đậu cho thấy phong cách phóng khoáng, uyển chuyển, gần với sóng nước mà không
phải một sự cân đối chặt chẽ như hoa văn gốm Phùng Nguyên |
Hoa văn hình học là điển hình cho phong cách trang
trí Gò Mun. Hầu hết miệng đồ gốm thường trang trí hoa văn hình học, hình tam
giác, hình thoi, hình bình hành, hình chữ nhật, đường thẳng, đường xiên, vòng
tròn, hình chữ S, hình thú vật như cá, chim. Một số hoa văn chấm tròn trong
văn hóa Phùng Nguyên vẫn tiếp tục phát triển trong văn hóa Gò Mun nhưng hoa
văn chấm tròn trong văn hóa Phùng Nguyên thường tạo thành từng mảng, từng vòm
ở thân, còn hoa văn chấm tròn ở văn hóa Gò Mun thường trang trí ở miệng đồ gốm
và viền hai bên, còn chính giữa là những hoa văn hình học khác. |
Đến giai đoạn Đông Sơn sớm, “hoàn toàn không còn
phong cách trang trí vạch nhóm bên trong miệng của gốm Quỳ Chử, lối trang trí
này được thể hiện ở vai bình của giai đoạn này” [149, tr.281]. Những thể loại
hoa văn trang trí tinh vi, cầu kỳ trên gốm của các giai đoạn trước dùng tô điểm
cho đồng thau. Trên đồ đồng người ta còn trang trí nhiều loại đồ án hoa văn
khắc chìm rất tinh vi. Ngoài những đồ án hình học phỏng theo những hoa văn
trang trí trên đồ gốm giai đoạn Gò Mun, còn nhiều hình tượng sinh động về các
cảnh sinh hoạt, hội hè của cộng đồng người lúc đó. |
|
|
|
||
|
|
|||
|
|
Đông Sơn phát triển -------------------------------Đông Sơn muộn |
|
? Đông Sơn phát triển |


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét