Mùi hương trầm
Ấn Độ, suối nguồn thiêng liêng 1
BIHAR, VÙNG ĐẤT THÁNH
Ngày nay Ấn Độ là một quốc gia thống nhất với 25 tiểu bang và
800 triệu dân. Trong số các tiểu bang thì Bihar là một vùng đất đặc biệt nằm
phía Đông Bắc Ấn Độ với thủ phủ là Patna. Bihar rộng khoảng nửa nước Việt Nam
và với một số dân khoảng 90 triệu người, tiểu bang này có mật độ dân cư rất
cao.
Bihar được xem là vùng đất thánh của Ấn Độ không phải chỉ vì
có sông Hằng chảy qua. Đó là một vùng đất lạ lùng vì nó là nơi sản sinh và hoạt
động của nhiều thánh nhân vĩ đại của Ấn Độ. Cách đây hơn 25 thế kỷ, đây là cũng
là vùng hoạt động chính của Phật Thích-ca. Tại Bihar ngày xưa trong thế kỷ thứ
hai sau công nguyên đã thành hình viện Phật học Na-lan-đà. Đây là nơi các vị luận
sư nổi tiếng như Long Thụ, Trần Na giảng dạy, là nơi các vị tổ thiền Ấn độ lưu
trú, là chỗ đón tiếp những khách hành hương đến học tập như Pháp Hiển, Huyền
Trang. Bihar cũng là quê hương của rất nhiều vị Đại thành tựu giả [1],
đó là những vị có chung một đặc điểm là trong một đời người mà giác ngộ giải
thoát sau khi trải qua nhiều cuộc khủng hoảng. Những vị đó là những thánh nhân
kỳ dị mới đầu mang đầy ô nhiễm của thế nhân, nhưng cuối cùng lại biến dục lạc
thành phương tiện giác ngộ. Đó là những du già sư xuất hiện cuối cùng trước khi
đạo Phật diệt vong tại Ấn Độ. Trong các vị này có một kẻ mang tên
Ti-lô-pa, đây là vị tổ đầu tiên của phái Ca-nhĩ-cư của Tây Tạng [2].
Ngày nay người ta còn nhắc tới Tan-tê-pa, người mê đánh bạc, chỉ cần quán
"thế giới cũng rỗng như túi tiền của mình" mà ngộ Tính Không. Hay
Kan-ka-ri-pa, kẻ say đắm nữ sắc, người được dạy hãy quán nữ nhân của mình là thần
Không hành nữ [3] và
nhận ra "mọi sắc thể đều do tự tính biến hiện". Họ làm ta nhớ đến Từ
Đạo Hạnh của Việt Nam trong thế kỷ 12, trong một đời mà từ bỏ hắc đạo để
"làm Phật làm tiên" [4].Vì thế Bihar có một lịch sử của hai ngàn năm trăm năm. Ngày
Phật còn tại thế thì phía nam sông Hằng của vùng này là một tiểu quốc tên gọi
là Ma-kiệt-đà, tại phía bắc là nước Kiều-tát-la [5].
Thời đó vua của Ma-kiệt-đà là Tần-bà-sa-la và kinh thành của ông là Vương Xá,
thị trấn này ngày nay có tên là Rajgir. Như đã nói trong phần trước, ông chẳng
may có người con trai ngỗ nghịch là A-xà-thế. A-xà-thế giam cha mẹ vào ngục, bỏ
đói đến chết, giành ngôi vua và dời đô lên phía bắc Vương Xá, đến Hoa Thị Thành [6],
nằm trên bờ nam sông Hằng. Hoa Thị Thành phồn vinh suốt cả ngàn năm, ngày nay
có tên là Patna. Patna chính là thủ phủ của tiểu bang Bihar, có sân bay nội địa.
Trở lại chuyện ngày xưa thì sau đời A-xà-thế là một triều đại
phồn vinh có tên là Maurya [7] lên
ngôi, với sự lãnh đạo của nhà vua Chandragupta. Ông lấy Hoa Thị Thành làm kinh
đô, thống nhất các vương hầu làm thành một thế lực hùng mạnh. Hồi đó là thế kỷ
thứ ba trước công nguyên mà Chandragupta đã bắt đầu liên lạc với các nhà vua Hy
lạp. Thế nhưng lúc đó cũng chưa phải là giai đoạn vàng son vì lịch sử phải đợi
đến một người cháu của Chandragupta tên gọi là A-dục (Ashoka) mới lên đến tột đỉnh.
A-dục trị nước từ năm 269-232 trước công nguyên và vương quốc của ông hùng hậu
chưa từng thấy, trải dài từ Kashmir phía bắc đến Mysore miền nam, từ Bangladesh
đến Afganistan ngày nay, hầu như toàn bộ nước Ấn Độ mênh mông bây giờ. Nhưng
quyền lực bao giờ cũng phải được trả giá bằng xương máu, nhất là thời phong kiến
của A-dục. Ngày nọ trên một bãi chiến trường đẫm máu, ông động tâm sâu sắc, thề
không nhúng tay vào chinh chiến nữa. Ông tìm nơi Phật Thích-ca là người thầy của
mình, cho xây dựng trong vương quốc của mình khoảng 30 trụ đá [8],
18 tấm thạch bích ghi lại những lời giáo hóa và tán thán về đức Phật mà ngày
nay người ta còn tìm thấy tại Bihar, Orissa, Delhi, Sarnath.
A-dục cho nhiều sứ giả mang kinh sách, tranh tương đi khắp
nơi các vùng Đông Á để truyền bá đạo Phật. Huyền sử chép rằng ông có làm quà
cho Trung Quốc một bức tượng của Phật Thích-ca, bức tượng đó ngày nay được thờ
tại Lhasa Tây Tạng, bức tượng " biết nói ", được xem như thiêng liêng
nhất của Tây Tạng [9].
Con trai của A-dục là Mahendra về sau thành tăng sĩ, người đã mang giáo pháp
qua Tích Lan. Tiện đường, Mahendra cũng mang một nhánh con của cây Bồ-đề, chỗ
Phật thành đạo qua Tích Lan trồng và ngày nay còn xanh tốt. Trụ đá mang đầu sư
tử của A-dục cho xây dựng ngày nay là quốc huy của nước Ấn Độ.
Sau khi vua A-dục chết năm 232, vương triều Maurya sớm suy
tàn, nước Ấn Độ lại chia năm xẻ bảy ra nhiều tiểu quốc và suốt 2000 năm sau đó,
cho tới lúc người Anh chiếm nước này làm thuộc địa, không có một vương quốc nào
trên bán đảo này mà sự hùng mạnh có thể so sánh với thời kỳ A-dục. Khoảng sáu
trăm năm sau A-dục, tức trong thế kỷ thứ 4 sau công nguyên là thời đại Gupta.
Gupta cũng là một triều đại rực rỡ của Ấn Độ về văn hóa, triết học và toán học.
Thế nhưng triều đại Gupta không kéo dài hơn 200 năm. Khoảng thế kỷ thứ 7, một
tôn giáo khác ra đời, đó là Hồi giáo. Sau khi nhà sáng lập Hồi giáo là Mohammed
chết năm 632, đạo Hồi lan đến Ấn Độ năm 712 và bắt rễ tại đây, đồng thời mối
tranh chấp giữa Hồi giáo và Ấn Độ giáo bắt đầu nảy sinh. Trong những cuộc thánh
chiến giữa Hồi giáo và Ấn Độ giáo sau đó, đạo Phật cũng bị suy yếu nặng nề, thế
lực của Hồi giáo cũng lan tràn đến Bihar và vùng đất thiêng liêng này là kẻ chứng
kiến biết bao thảm họa do lòng tin tôn giáo mù quáng gây ra. Ngày nay trên bán
đảo Ấn Độ mênh mông, đạo Phật xem như đã diệt vong, chỉ còn Ấn Độ giáo và Hồi
giáo. Giữa hai tôn giáo đó là một sự tranh chấp sâu xa, khi âm ỉ, khi bùng nổ,
nhưng nó luôn luôn hiện diện từ những bình diện chính trị cao nhất đến đời sống
bình thường của nhân dân.
Tuy có một quá khứ huy hoàng nhưng Bihar ngày nay là một tiểu
bang nghèo. Hoa Thị Thành hay Patna là cố đô của một thời chói lọi, lại là điểm
xuất phát để đi thăm nhiều thánh tích. Vì thế tôi lấy máy bay từ Delhi đi
Patna.
ĐI DỌC SÔNG HẰNG
Hãy ra khỏi Delhi, rời bỏ các lâu đài tráng lệ, các vùng nghỉ
mát danh tiếng để tìm hiểu kỹ hơn nước Ấn Độ. Tôi đã đi nhiều nơi trên thế giới,
giàu nghèo khác nhau nhưng chưa thấy nước nào kỳ lạ, đầy những ấn tượng trái
ngược như Ấn Độ. Ta không thể nào hiểu được nước này, không thể mô tả nó. Nhà
văn Mỹ Mark Twain, người có nhiều nhận xét sâu sắc hóm hỉnh, thăm Ấn Độ năm
1896, viết về xứ này như sau: "Mỗi khi bạn nghĩ là mình đã tìm hiểu hết những
tính cách lạ lùng của nước này và muốn cho nó một danh hiệu nào đó...xứ sở của
dịch hạch, xứ sở của nghèo đói, xứ sở của những ảo giác khủng khiếp, xứ sở của
những ngọn núi ngất trời...vân vân, thì lại sớm hiện ra những tính cách mới và
bạn thấy cần những danh hiệu mới". Cuối cùng Mark Twain thấy hay nhất là vứt
bỏ mọi danh hiệu và đặt tên Ấn Độ là "xứ sở của sự kỳ diệu".Đây là nơi mà ta phải ngắm Taj Mahal lúc nửa đêm, nhìn cái
nghèo đói lúc ban ngày, nếm cái bụi bặm của những làng quê buồn tẻ, đi lạc
trong màu sắc rực rỡ và tiếng ồn ào của các basar, nhìn những đàn bò và khỉ sống
chung với con người, xem những đám rước tôn giáo mê say quên mình. Đây là nơi
mà thiên nhiên cho dấu ấn một cách sắc nét nhất với những con sông, những ngọn
núi, với sức nóng tàn khốc và những cơn bão kinh người.
Đây là một quốc gia thuộc về 15 nước công nghiệp hàng đầu
trên thế giới nhưng 70% dân chúng vẫn cày cấy với dụng cụ thô sơ của cha ông để
lại và sống bên bờ của sự thiếu ăn. Tại Ấn Độ, trong một nhà máy có thể người
ta đang sản xuất bom nguyên tử và tên lửa liên lục địa nhưng ngoài nhà máy vẫn
là nơi sửa xe bò theo cách của thời A-dục vương để lại. Trí thức Ấn Độ có thể
là những triết gia nhất nhì thế giới, là các nhà khoa học xuất sắc được nhiều
nước tranh nhau mời về nghiên cứu, họ sống bên cạnh 60% dân chúng mù chữ. Phú
gia Ấn Độ rất nhiều và cũng rất giàu có, của cải của họ không ai biết hết được,
dưới mái hiên cung điện của họ là những tu sĩ thiếu cả áo quần che thân ngồi đợi
mặt trời mọc để hành trì phép du-già.Tiểu bang Bihar là một vùng có nhiều tu sĩ như thế. Patna, thủ
phủ của Bihar, cách Delhi khoảng 800km đường chim bay về hướng đông nam. Máy
bay hầu như bay dọc theo dòng chảy của sông Hằng trên địa phận tiểu bang Uttar
Pradesh.
Uttar Pradesh là một dãy bình nguyên nằm kề sát chân Hy-mã lạp
sơn. Đây là một vùng thấp nhưng ít nước khó canh tác, chỉ một phần ba đất trồng
trọt có các hệ thống tưới tiêu lấy nước từ sông Hằng. Vì thế từ xưa đến nay
Uttar Pradesh là một vùng nghèo. Thế nhưng đây là đường trực tiếp nhất đi từ
vùng rẻo cao Simla về Bihar nên chính vùng này là đường mà ngày xưa Huyền Trang
đã đi hành hương. Đây là dịp đọc lại [10] và
tìm hiểu lộ trình của ông trong thế kỷ thứ 7
Máy bay đi qua địa phận của hạt Bijnor nằm trên tả ngạn sông
Hằng, đó là nơi mà Huyền Trang lưu lại trong mùa xuân và hè năm 635 để nghiên cứu
kinh sách của phái tiểu thừa Nhất thiết hữu bộ [11],
một bằng chứng về tính bác học của ông, mặc dù hồi đó lòng ông đã hướng hẳn về
phía đại thừa. Đi thêm một đoạn sông Hằng nữa là thủ phủ Kannauj mà ngày Huyền
Trang đến là một thành phố hết sức phồn vinh, là kinh thành của một nhà vua rất
mộ đạo Phật tên gọi là Harsavardhana, trị vì từ năm 606 đến 647. Cũng trong
vùng trung lưu sông Hằng này, Huyền Trang đến tiểu quốc Ayodhya, quê hương của
hai nhà sáng lập phái Duy thức là anh em Vô Trước [12] và
Thế Thân [13],
sống trước ông khoảng hai trăm năm. Huyền sử chép rằng Ayodhya là nơi mà Vô Trước
mời Bồ-tát Di-lặc hạ giới giáo hóa. Suốt bốn tháng liền, Vô Trước cứ ban đêm
thì nghe Di-lặc giảng, ban ngày thì giảng lại cho đại chúng. Di-lặc được xem là
tác giả của bộ " Du già sư địa", bộ luận mà Huyền Trang là người dịch
ra chữ Hán. Huyền Trang đến thăm lại tu viện nằm trong một vườn xoài, nơi mà Vô
Trước giảng cho em là Thế Thân ngộ lý Duy thức. Sau khi đại ngộ, Thế Thân định
rút dao cắt lưỡi vì từ xưa đến nay ông luôn luôn phát biểu chống Duy thức nhưng
lại Vô Trước lại là người cứu em khỏi câm. Ayodhya là quê hương tâm linh của
Huyền Trang vì ông chính là người đem phái Duy thức về Trung Quốc dưới tên Pháp
tướng tông.
Sau một giờ bay, máy bay ở khoảng vị trí Allahabad, chỗ giao
lưu của sông Hằng và sông Yamugar, đó cũng là nơi Huyền Trang thoát chết một
cách huyền bí. Ông bị một nhóm giặc cướp bắt và bị lấy hết hành lý. Thế nhưng
chẳng may cho ông là nhóm giặc này đang tìm giết một chàng trai khôi ngô tuấn
tú để tế cho nữ thần Durga mà Huyền Trang thì quá đẹp trai. Ở đây xem ra chuyện
Tây Du ký của Ngô Thừa Ân nói về Đường Tăng bị yêu quái mê mẩn không phải hoàn
toàn bịa đặt. Sau khi thuyết phục giặc cướp không xong và thấy chúng đang mài
dao kiếm, Huyền Trang thấy mình đã tới số, ông ung dung xin họ chút thời gian để
cầu đức Di-lặc đưa mình về trời Đâu-suất nghe pháp. Lúc linh ảnh của Di-lặc xuất
hiện trong tâm của Huyền Trang thì cũng là lúc đá chạy cát bay. Giặc cướp hoảng
hồn hỏi gia nhân ông về tung tích nhà sư này. Gia nhân kể cho họ nghe ông là một
tu sĩ Trung Quốc qua Ấn Độ hành hương và thỉnh kinh. Và khi Huyền Trang mở mắt
ra chịu chết thì giặc cướp đã phủ phục dưới chân ông.
Sau Allahabad, lẽ ra Huyền Trang phải thuận đường thủy tiếp tục
đi theo sông Hằng về hướng đông đến Lộc Uyển, chỗ đức Phật chuyển pháp luân
nhưng không hiểu tại sao ông đổi hướng, đi ngược lên hướng bắc tìm đến quê
hương của Ngài. Có lẽ qua biến cố vừa rồi, ông thấy chuyến đi quá hiểm nguy, phải
đến đảnh lễ chỗ Phật đản sinh tại Lâm-tì-ni để phòng trước đời mình có ngắn ngủi.
Lúc đó Huyền Trang không biết rằng mình còn sống 30 năm nữa.
Còn tôi, kẻ hậu sinh sống thêm mấy đời cũng không làm nổi học
trò ông, thì ngồi máy bay đi tiếp về Hoa Thị Thành. Ôi, xấu hổ làm sao khi thấy
nghị lực và trí tuệ của người xưa. Ngày nay người đi hành hương quá dễ, quá khỏe,
quá tiện nghi. Nếu ngày xưa con người phải đổi mạng để lấy kinh sách và để được
cảm khái đến gần dấu chân thánh nhân thì ngày nay chỉ cần một cú điện thoại là
có chỗ mà ở, có xe mà đi. Ngày nay chỉ cần bấm một cái nút là kinh sách hiện
lên trên màn hình, thêm một cái nút nữa là in ra hàng loạt. Nhớ lại ngày xưa,
có người cả đời chỉ khắc được một câu kinh, còn nay ai muốn có thiên kinh vạn
quyển đều được. Thế nhưng ngày nay xem ra không mấy ai minh triết hơn người thời
xưa vì con người hình như không còn ai muốn đọc, muốn suy ngẫm về kinh sách
ngày xưa. Khó hơn thế nữa, trong tâm thức tôn giáo, dù có biết nhiều hiểu rộng,
biết tán tụng suy luận, chúng cũng không mang lại gì cả trên đường tìm kiếm.
Chúng đều là những ngọn gió tri thức chỉ tạo thêm mây mù che ánh sáng của giác
ngộ. Điều mà hành giả cần có phải chăng là "bồ-đề tâm", điều mà Phật
giáo Tây Tạng vô cùng coi trọng. Có bồ-đề tâm thì một câu kinh cũng đủ, không
có thì thiên kinh vạn quyển cũng vô ích. Tìm hiểu bước đường lữ khách của Huyền
Trang không phải là tò mò xem ông đi đến đâu mà để cảm khái tâm bồ-đề kiên cố của
ông. Và nhờ thế mà ta biết mừng vui cho những người đem cả đời ra để tạc một bức
tượng, khắc một câu kinh. Những tác phẩm đó đều là gỗ đá nhưng chúng là phương
tiện để bồ-đề tâm được thể hiện.
HOA THỊ THÀNH
Ra khỏi máy bay cảm giác đầu tiên của tôi là thấy hơi nóng khủng
khiếp tràn đến. Tôi nhủ thầm: "Đức Phật ngày xưa phải chịu cái nóng này
sao". Sân bay Patna làm tôi nhớ đến sân bay Qui Nhơn, nó có cái nhỏ của loại
sân bay làng, hành khách đi bộ dưới cánh máy bay vào ga lãnh hành lý. Trên đường
đi bộ tôi cũng đi ngang những đoạn sân bê-tông có lót loại lưới sắt của quân Mỹ
hồi xưa như ở sân bay Qui Nhơn mà lúc tôi đến vẫn còn. Patna là nơi đầu tiên
tôi đến sau Delhi, dù đoán trước, tôi cũng phải ngỡ ngàng về sự nghèo nàn và luộm
thuộm của xứ Ấn Độ. Tới đây tôi mới nếm cái nóng Ấn Độ, Delhi là miền ôn đới nằm
phía bắc gần Hy-mã lạp sơn thì khác hẳn. Ra khỏi sân bay Patna, quang cảnh hiện
ra với tôi đúng là miền nhiệt đới châu Á, với các loại cây như cây me, liễu,
chuối hay cau của chúng ta.
Patna hay Hoa Thị Thành là đây, đây là nơi A-dục vương triệu
tập hội nghị kết tập lần thứ ba khi ông đã trị vì toàn nước Ấn Độ. Thấy Patna,
tôi thất vọng tự nhủ, cố đô của A-dục vương ngày nay như thế này sao? Không thể
được!
Đó là một thành phố nằm trên bờ nam sông Hằng, dơ bẩn và buồn
tẻ. Tôi ngẩn ngơ đi xích lô trong thành phố, để cho ấn tượng tự kéo đến, ấn tượng
của kinh thành nhà vua A-dục mà tôi yêu mến. Tới đây tôi mới biết Delhi là quá
sang trọng, quá sạch sẽ. Sông Hằng gần Delhi cũng sang trọng hơn sông Hằng của
Patna. Những người giàu có kiêu ngạo họ sống ở Delhi hay những nơi nghỉ mát như
Simla cả, họ đâu cần đến đây xây cất nhà cửa. Còn nhà nước Ấn Độ xem ra quá tải
với những vấn đề của dân số đặt ra, họ đâu có kinh phí để sửa chữa xây dựng.
Khi tôi đến, trời đã về chiều, thành phố với một triệu rưỡi dân này gây một cảm
giác buồn bã. Thật ra qui mô thủ phủ này rất lớn, xứng đáng là kinh thành của
Ma-kiệt-đà một thời hiển hách, đô thị có một bề dài chừng 10 cây số. Ngày nay
ánh sáng vương giả đã tắt.
Nhưng Hoa Thị Thành, nơi đây bao nhiêu thánh nhân đã sống, là
kinh đô của triều đại Maurya và Gupta, tại sao hiếm có những di tích văn
hóa? A-dục vương cho xây cất biết bao công trình trên toàn xứ Ấn Độ nhưng ngày
nay Hoa Thị Thành sao chỉ có những di tích tầm thường như một cái tháp bán cầu
tên là Golghar cao 30 mét chứa thóc gạo phòng đói kém của một người Anh tên là
John Garstin xây năm 1786 mà người ta giới thiệu với du khách?
Tôi nhớ rằng, trước công nguyên xứ sở hùng mạnh của nhà vua
Chandragupta của nước Ma-kiệt-đà này đã từng liên hệ với "phương
tây". Phương tây ở đây tức là Hy Lạp mà đại sứ nước này tại Ấn Độ là một vị
tên gọi là Megathenes. Magathenes kể lại nhiều giai thoại về thư từ qua lại giữa
Ấn Độ và Hy Lạp thuở đó. Theo đó, vua Ấn Độ Bindusara (con của Chandragupta)
yêu cầu vua Hy Lạp gửi rượu ngon và nho khô, đồng thời một ít sách vở về
"triết học". Hy Lạp cũng là một quê hương vĩ đại về triết học của
loài người. Vua Hy Lạp Antiochus trả lời là rượu và nho thì đang gửi nhưng triết
lý thì không ai "cho không biếu không". Chúng ta biết thời đó tại Ấn
Độ, triết học và văn hóa rất phát triển tại Hoa Thị Thành và hẳn Bindusara muốn
so sánh học thuật nước mình với nước ngoài. Người kế vị Bindusara chính là vua
A-dục và vị này, sau một thời kỳ chinh chiến, lấy triết lý Phật giáo làm chủ đạo,
nhưng đồng thời hết sức tôn trọng các tôn giáo khác. Đó là một điều rất mới lạ
trong lịch sử tôn giáo Ấn Độ.
Megathenes cũng viết về Hoa Thị Thành trong tác phẩm
"Indika", rằng đây là một thành phố phồn vinh với 570 tháp và 64 cổng
thành. Tất cả những công trình đó nay ở đâu? Người ta kể tôi nghe rằng năm 750
có một đại hồng thủy và tất cả đều bị hủy diệt, nay chỉ còn nền đá. Thì ra Hằng
hà đã nổi giận thật sự và có lẽ biến cố đó đã làm dịu con sông thiêng. Ngày nay
ra bến sông Hằng ta thấy nó êm dịu như mặt hồ.
Thực tế lịch sử chưa hẳn như vậy. Huyền Trang đã đến đây khoảng
năm 639 và theo lời kể của ông thì lúc đó thành phố này đã suy tàn. Sau A-dục
vương thì Hoa Thị Thành còn là cố đô Ấn Độ cho đến thế kỷ thứ tư dưới triều đại
Gupta [14] và
sau đó chìm vào bóng tối. Khi Huyền Trang đến thì ông chỉ còn tìm thấy hai ba
tu viện của hàng trăm ngôi đền ngày trước. Nơi đây Huyền Trang đến bờ sông Hằng,
thăm lại một tảng đá cũ, đây là nơi Phật Thích-ca lúc đó đã tám mươi tuổi nhìn
lại kinh thành lần cuối trước khi qua bờ bắc để về Câu-thi-na, nơi Ngài nhập diệt.
Huyền Trang viết: "Ở bờ nam con sông, đứng trên một tảng đá lớn hình
vuông, Ngài nhìn A-nan một cách trìu mến và nói: ‘Đây là lần cuối mà ta nhìn ngắm
ngai vàng và kinh thành’".
Tôi đi tìm lại tảng đá nhưng ngày nay không còn ai biết đến
nó. Bờ nam sông Hằng giờ đây lầy lội bùn đen và vẫn là chỗ thiêu xác như mấy
ngàn năm trước. Nếu phải tìm một thành phố cổ, ngày xưa là một kinh đô cường thịnh,
ngày nay đã rơi vào bóng tối của nghèo nàn và quên lãng, biểu tượng cho tính vô
thường của mọi sự thì đó phải là Hoa Thị Thành.
Điều gì làm Hoa Thị Thành sớm bị hủy diệt, khác với các trung
tâm văn hóa nằm gần đó, cũng trong tiểu bang Bihar? Tôi cho rằng Hoa Thị Thành
là kinh thành vua chúa, nó có đặc trưng của một kinh đô chính trị của A-xà-thế
dựng nên, khác hẳn với những công trình văn hóa. Và không có gì chóng tàn bằng
những chế độ chính trị vì chúng là đối tượng của sự hủy diệt. Chỉ năm mươi năm
sau khi vua A-dục chết, triều đại hùng hậu này đã suy tận. Chính trị có cái đặc
biệt dễ làm say lòng người là khi nó cường thịnh thì ai cũng tưởng nó thiên thu
vĩnh viễn, thế nhưng nó ngầm chứa cái mầm bội phản của phe phái và khi hết thời
thì nó suy tàn rất nhanh, như nhà xây trên cát. Lịch sử thế giới, kể cả lịch sử
mười năm trở lại đây, luôn luôn nhắc lại điều này nhưng con người vốn chóng
quên và dễ say mê, họ luôn luôn lao vào chính trị và học lại cái bài học đó. Và
cũng đừng nghĩ là chính trị chỉ nằm trong chính trường, nó cũng có thể nằm
trong các tu viện mà vì lẽ đó Tây Tạng ngày nay đang chịu thảm họa. Vì là thuần
túy kinh đô chính trị, Hoa Thị Thành ngày nay không còn gì. Nếu không bị thiên
tai năm 750 thì nó cũng sẽ bị tín đồ Hồi giáo phá hoại vài thế kỷ sau đó.
Tôi ngồi xích lô cho xe chạy quanh thành phố, từ những ngõ
ngách trong nội thành đến bờ sông Hằng, nơi cúng tế và thiêu xác. Một niềm hoài
vọng tràn ngập tâm tôi. Những con đường nhỏ hẹp này hẳn đã ghi dấu biết bao
nhiêu người của mấy trăm thế hệ. Nó là nơi trị vì của vua chúa cũng như chỗ lui
tới của những thánh nhân. Trên bước đường đi trong đô thị này với số tuổi khả
kính của hơn 2500 năm, ta có thể nghĩ ngày xưa biết đâu đây là nơi mà Phật và
đoàn tăng già đã đi qua, các vị du già sư ngồi thiền định, các vị đại thành tựu
giả làm nghề thợ may, thợ giày, thợ giặt … như sách vở kể lại. Ngoài những điều
đó ra thì Hoa Thị Thành ngày nay chỉ là trạm nghỉ chân cho khách hành hương đi
thăm những thánh địa gần đó và là điểm xuất phát đường bộ cho lữ khách đi
Kathmandu, thủ đô Nepal.
NA-LAN-ĐÀ, ĐẠI HỌC PHẬT GIÁO ĐẦU TIÊN
Na-lan-đà cách Patna 70 cây số về hướng đông nam. Tôi từ Hoa
Thị Thành, còn mang nặng ấn tượng của thành phố đó, đến Na-lan-đà một buổi sáng
trời đẹp và bất ngờ thay, đây là một vùng đất xinh đẹp, cỏ cây tươi nhuận. Tại
cổng vào Na-lan-đà có một biển đá đen trình bày tổng thể khu vực và viện đại học
Phật giáo đầu tiên này được gọi là "phế tích" vì ngày nay tất cả hầu
như chỉ còn nền đá.
Đây là viện Phật học đầu tiên của thế giới được xây dựng
trong thế kỷ thứ hai sau công nguyên. Dưới triều đại Gupta thế kỷ thứ tư,
Na-lan-đà trở thành một viện đại học thật sự. Liên tục 700 năm nơi đây được mở
rộng và tu bổ mà mạnh nhất là trong thời nhà vua Harsa (606-647) và triều đại Pala
(từ 750). Suốt một thời kỳ khoảng 1000 năm, đây là nơi sản sinh hàng trăm
luận sư danh tiếng nhất của Phật giáo. Trong thời kỳ cực thịnh có đến 10.000 tỉ-kheo
tu học tại đây. Khoảng cuối thế kỷ thứ 12 Na-lan-đà bắt đầu bị tín đồ Hồi giáo
tàn phá và năm 1235 hai tu viện cuối cùng bị hủy diệt và đó cũng là thời kỳ Phật
giáo suy tàn tại Ấn Độ.
Lòng tôi hân hoan không tả được khi thăm viếng phế tích này.
Đó là một tổng thể những công trình xây dựng dài khoảng 500 mét theo trục nam-bắc.
Bên mặt của trục chính là khoảng 10 tinh xá, ngày xưa đó là giảng đường và cũng
là cư xá của các giảng sư hay lưu học sinh. Trong các giảng đường ta còn có thể
nhận ra được bục giảng của giảng sư, sinh viên ngồi xung quanh dưới đất. Bên
trái trục chính là nền đá của bốn ngôi đền lớn, ngày xưa được dùng làm thư viện
và tháp thờ. Ngày nay tất cả đều chỉ là nền đá trơ trọi thế nhưng chúng gây biết
bao lòng cảm khái và khâm phục cho người thăm. Bất ngờ và cũng đáng trân trọng
thay, một xứ nghèo như Ấn Độ, nơi mà đạo Phật đã suy tàn gần mười thế kỷ mà một
phế tích như Na-lan-đà lại được chăm sóc chu đáo. Ngày tôi đến, ở đây có một
màu nắng êm dịu và và màu cỏ xanh nhắc tôi dường như đây vẫn còn sức sống.
Nói Na-lan-đà được xây dựng trong thế kỷ thứ hai là nói viện
Phật học chứ thực ra trong thời Phật tại thế khu vực này đã là vùng đất thiêng.
Nó chỉ cách Vương Xá 11 cây số về phía bắc và mỗi lần Phật rời kinh thành này của
vua Tần-bà-sa-la đi lên miền bắc, Ngài thường nghỉ trong vườn xoài Pavarika ở
đây. Đây cũng là quê hương của Xá-lợi-phất, vị đệ tử có "đại trí tuệ"
và cũng là nơi ông chết. Đến thời A-dục vương, nhà vua đã cho xây một ngôi chùa
tại đó và ba trăm năm sau, một nhà vua nước Ma-kiệt-đà tên là Sankraditya mới
thành lập nơi đây viện Phật học. Viện này không phải đợi lâu vì cũng trong thế
kỷ thứ hai đó đã có một nhân vật kiệt xuất tên là Long Thụ [15] ra
đời, đến Na-lan-đà tu học và về sau trở thành viện trưởng. Long Thụ là một
trong những luận sư xuất chúng nhất của Phật giáo, Ngài được xem là đức Phật thứ
hai, sự xuất hiện của Ngài là lần chuyển pháp luân thứ hai. Ngài là người chịu
suy luận nhất của lịch sử Phật giáo, là người sáng lập Trung quán tông [16],
đồng thời lại là vị tổ thiền thứ 14 của Thiền tông Ấn Độ truyền từ đức Thích-ca
xuống.
Tiếp nối truyền thống, sau Long Thụ là những thế hệ của giảng
sư và luận sư danh tiếng như Thánh Thiên, Vô Trước, Thế Thân, Hộ Pháp, Trần Na,
Giới Hiền giảng dạy. Thời đó Na-lan-đà đã là mẫu
mực của tính khoa học cầu thị. Nơi đây 18 trường phái Phật
giáo của thời kỳ đó đều được giảng dạy, từ vệ-đà, tiểu thừa, Duy thức, nhân
minh cho đến các ngành khác như toán học, y học. Cả "giáo sư nước
ngoài" cũng được mời dạy mà người nổi tiếng nhất lại là Huyền Trang. Ông tới
đây học Duy thức với Giới Hiền [17],
lúc đó vị thầy viện trưởng này đã 106 tuổi. Kẻ hành hương Trung Quốc này mô tả
kiến trúc của các tinh xá và giảng đường với một lòng yêu mến và sự chính xác
mà về sau các nhà khảo cổ phải thừa nhận là hoàn hảo [18].
Đó là năm 637, khi Huyền Trang đến Na-lan-đà và thưa với Giới
Hiền: "Con từ Trung Quốc đến và xin Ngài chỉ dạy triết lý Duy thức".
Giới Hiền khóc vì mừng rỡ và kể Huyền Trang nghe cách đây không lâu ông đã bị bệnh
tưởng mình sắp chết. Đêm nọ ông nằm mơ thấy ba vị bồ-tát hiện đến, mặc ba màu
áo khác nhau, vị mặc áo vàng, vị áo xanh thẩm, vị kia áo trắng. Đó là ba vị
Văn-thù, Quán Thế Âm và Di-lặc và chỉ thị cho Giới Hiền phải sống tiếp và đợi một
người từ Trung Quốc tới mà giảng dạy. Nơi đây Huyền Trang đã được truyền thừa
trực tiếp triết học Duy thức, đã truyền từ Vô Trước, Thế Thân đến cho Trần Na [19],
Hộ Pháp [20] và
học trò của Hộ Pháp chính là Giới Hiền. Huyền Trang ở lại đây 15 tháng để học tập
và hoàn thành bộ Thành duy thức luận [21],
tổng kết mười vị đại luận sư [22] của
Duy thức tông mà nói như Grousset là "tổng kết 700 năm tư tưởng Ấn Độ".
Ôi, thì ra Na-lan-đà là quê hương của hai trường phái vĩ đại
của Phật giáo là Trung quán tông và Duy thức tông, một nói về tánh, một về tướng.
Chẳng đâu khác, đó chính là nguồn gốc của triết học Phật giáo đại thừa mà ngày
nay nó đã lan tỏa khắp thế giới, mà Việt Nam cũng đã tiếp thu.
Tôi nhìn quanh một vùng đất vắng vẻ, hôm nay không ai đến
tham quan. Cảm động thay được đến nơi đây. Đây là nơi hàng chục ngàn người đã cầu
nguyện và học tập, hàng chục thế hệ của thánh nhân đã giáo hóa, ánh sáng minh
triết Phật giáo đã từ đây chiếu khắp bốn phương. Biết bao phép lạ đã xảy ra nơi
đây, hỡi các cành cây ngọn cỏ đang rung rinh trong gió.
Tôi bỗng nhớ tới Tịch Thiên [23].
Ông là một cao tăng thuộc phái Trung Luận sống khoảng thế kỷ thứ 7, 8. Tương
truyền ông là một vương tử nhưng thụ giới tỉ-kheo và đến Na-lan-đà học tập. Thế
nhưng khi đồng môn chăm chỉ học hành thì ông chỉ biết ngủ. Na-lan-đà hồi đó là
một học viện rất nghiêm khắc, đúng như Huyền trang kể: "…cả ngày các vị đều
luôn luôn biện luận. Những ai không thể biện luận về kinh điển đều không được
kính trọng và phải lẫn tránh vì xấu hổ…". Thế nhưng Tịch Thiên cũng chẳng
chịu lẫn tránh và đồng môn dự định sẽ bêu xấu ông là "lười biếng" để
ông phải bỏ viện ra đi. Tới ngày bị thử thách, ông lên giảng đường, tuyên bố sẽ
giảng một bộ luận mới và sau đó tụng đọc tập Nhập bồ-đề hành luận [24].
Đến chương thứ chín, người ông bắt đầu bay lên khỏi ghế, lơ lửng trên không và
qua chương cuối thì đồng môn chỉ còn nghe tiếng ông nói, thân ông biến mất. Về
sau Tịch Thiên từ chối chức viện trưởng để vào rừng làm thợ săn. Bị chê trách
phạm lỗi sát sanh, ông dùng thần thông cho thú vật sống lại và nói bài kệ:
Con nai trên bàn ăn,
chưa hề sống hề chết,
chẳng bao giờ vắng bóng.
Đã không gì là Ngã,
sao lại có thợ săn,
hay thịt của thú rừng?
Ôi người đời đáng thương,
mà các ngươi lại gọi,
ta là kẻ "lười biếng".
Ngày nay, Nhập bồ-đề hành luận là kinh sách giáo khoa của Phật
giáo Tây Tạng và cách hành xử của Tịch Thiên được dân chúng nơi đó yêu thích
truyền tụng.
Sau Tịch Thiên vài trăm năm, cuối thế kỷ thứ 12, Na-lan-đà bị
xóa tên trên xứ Ấn Độ. Có một đạo quân mang tên một giáo phái đã đến đây hủy diệt
Na-lan-đà và cả xứ Ma-kiệt-đà. Mọi sự vật khi lên đến đỉnh cao của nó đều trở về
với sự suy tận, đó là qui luật bất di bất dịch, Na-lan-đà cũng không tránh khỏi.
Thế nhưng nơi đây ta có thể tự hỏi phải chăng một trong những nguyên nhân của sự
suy tàn quá sớm của đạo Phật tại Ấn Độ là sự tập trung cao độ tại Na-lan-đà, sự
tập hợp có tổ chức của tôn giáo thành những định chế có tính cách tăng lữ, nhất
là lại được các vương triều ra sức hỗ trợ. Đó là những nhân tố làm Phật giáo vướng
vào quyền lực và chính trị, chúng là mầm mống của mọi tranh chấp và thảm họa.
Tôi nhớ đến lịch sử Phật giáo Trung Quốc hay Tây Tạng thường bị bức hại sau một
thời kỳ được các vương triều biệt đãi. Và trong thời đại ngày nay chế độ tăng lữ
của Phật giáo Tây Tạng đang lâm tai họa lại thêm một lần nữa minh chứng cho suy
nghĩ này. Hãy làm theo Tịch Thiên vào rừng làm thợ săn hay như Gampopa, bỏ tu
viện cao quí đi tìm Milarepa nơi chỗ độc cư hẻo lánh. Lời Lão Tử vang vọng lại
với tôi ngày hôm đó tại Na-lan-đà "Vật mạnh lớn ắt già, Ấy là trái Đạo,
Trái Đạo mất sớm" [25].
"VUI ĐẸP THAY THÀNH VƯƠNG XÁ" [26]
Từ Na-lan-đà đi về phía nam khoảng 11 km là đến Vương Xá, tức
Rajagaha, ngày nay tên là Rajgir. Đến Vương Xá không mấy ai ngờ ngày xưa đây là
kinh đô của nhà vua Tần-bà sa la, nơi mà đức Phật thường đi khất thực. Ngày nay
Vương Xá là một thị trấn nhỏ đầy bụi bặm như mọi nơi tại Ấn Độ, cách xa thị trấn
vài cây số đã là đồng không mông quạnh.
Đây là Vương Xá sao, nơi mà đức Phật từng gọi là "vui đẹp"?
Ngày xưa nó là kinh đô của Ma-kiệt-đà, là nơi mà Phật Âm [27] mô
tả là có 32 cửa chính và 64 cửa phụ. Từ trước công nguyên, sau khi A-xà-thế dời
đô đi Hoa Thị thành thì Vương Xá đã suy tàn.
Kinh thành Vương Xá của nhà vua ngày xưa được xây một cách hiểm
yếu, xung quanh là ba núi vây bọc. Dọc trên các đỉnh núi đó nhà vua còn cho xây
các trường thành mini, tương tự như vạn lý trường thành Trung Quốc để chống ngoại
xâm. Người thực hiện các trường thành đó không ai khác hơn là A-xà-thế, lúc ông
chưa phản lại vua cha. Chắc là quá ngán ngẫm chuyện xây 40 cây số trường thành,
về sau A-xà-thế bỏ Vương Xá, dời đô đi Hoa Thị Thành. Ngày nay khách đến Vương
Xá thì sẽ thấy phía bắc của Vương Xá cũ có một thị trấn nhỏ với một ga xe lửa,
còn thành Vương Xá thuở xưa ngày nay không còn ai ở. Tôi đi theo sườn núi với
lòng u hoài, đúng như tâm sự của Huyền Trang vì lúc ông đến đây thì Vương Xá
cũng đã đổ nát. Chỗ mà ngày xưa Phật đi khất thực bây giờ là một con đường chạy
giữa hai vách núi, thưa thớt những bụi cây con và đầy cỏ dại.
Ngày xưa người du sĩ mang tên Cồ-đàm, lúc chưa đắc đạo đã từng
đi ngang Vương Xá. Nhà vua Tần-bà-sa-la, người trẻ hơn Phật năm tuổi biết du sĩ
này có dòng dõi vương tước, có phẩm cách cao quí mới đề nghị nhường một phần đất
Ma-kiệt-đà để cùng trị vì. Thật là chuyện đời xưa mới có ! Dĩ nhiên là người du
sĩ Cồ-đàm từ chối. Dù đó là chuyện hiếm hoi nhưng có lý vì không lẽ kẻ du sĩ đã
bỏ ngai vàng tại nước mình đi khoảng hơn sáu trăm cây số để nhận một ngai vàng
khác. Nhớ rằng ngày xưa sáu trăm cây số đi cả vài tháng mới tới.
Nghe vậy, Tần-bà-sa-la mới thỉnh cầu Cồ-đàm sau khi đắc đạo
hãy trở về thăm ông. Đức Phật nhận lời và về sau Ngài tới Vương Xá rất thường
xuyên và nhà vua cũng tặng Ngài một ngôi vườn trồng toàn tre tên là Trúc Lâm
(Veluvana), chỗ này có rất nhiều sóc. Vườn Trúc Lâm tại Vương Xá là chỗ ở thân
thiết của Phật nên ta hay gặp trong các tập Bộ kinh đoạn sau đây: "Một thời
đức Thế Tôn ở tại Vương Xá, trong vườn tre Veluvana, chỗ nuôi dưỡng sóc…".
Phật giảng nhiều bài kinh tại đây, thường là trong buổi sáng
sớm. Trong các tập Bộ kinh thỉnh thoảng ta còn thấy câu: "Đức Thế Tôn thấy
quá sớm để vào thành Vương Xá khất thực nên…". Hình như kinh thành vương
giả quen dậy muộn, Phật thấy ra đi khất thực "quá sớm" nên thỉnh thoảng
Ngài dành thì giờ đi thuyết giảng cho kẻ tầm đạo mà ngày nay người ta tìm thấy
nội dung trong các bài kinh.
Tôi tìm đến vườn tre Trúc Lâm nằm phía bắc của Vương Xá, ngày
nay khu vườn được nhà nước Ấn Độ cho rào bọc cẩn thận. Trong vườn hiện còn một
hồ nước trong xanh, hồ này được Huyền Trang ghi trong ký sự cách đây 13 thế kỷ.
Hồ này chính là hồ Kalandaka, nơi đức Phật thường tắm. Trong vườn, đường
lối ngay ngắn, hoa lá xinh đẹp và tôi chợt thấy lòng mình an bình vô hạn. Tại một
nơi trong vườn hiện còn một số bụi tre lớn nửa xanh nửa vàng, mang lá dày đặc.
Theo Schumann [28] nơi
H 4: Sơ đồ Vương Xá: Phía bắc là thị trấn Vương Xá mới, phía
trên bên trái là vườn tre Veluvana, ở giữa là kinh thành Vương Xá cũ, phía nam
kinh thành là điện giam vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara's Jail), bên mặt của điện
là vườn Jivaka, phía đông bắc là tháp hòa bình thế giới (Shanti Stupa) trên núi
Bảo sơn và cuối cùng bên mặt chỗ có ô vuông là đỉnh Linh Thứu (Gijjhakuta)[29] mà
đoạn... là đường đi bộ.
đây người ta tìm thấy di tích của một số tháp xây trong thế kỷ
thứ 10, kỷ niệm chòi tranh ngày xưa Phật lưu trú.
Thời đó vua Tần-bà-sa-la có một vị ngự y tên là Jivaka, vị
bác sĩ này được nhà vua chỉ thị chăm nom sức khỏe cho tăng đoàn và JIvaka cũng
tặng cho Phật một vườn xoài mang tên Jivakambavana. Vườn xoài của Jivaka kiên cố
hơn vườn tre vì ngày nay tôi còn tìm thấy nền đá. Tuy gọi là "vườn
xoài" nhưng đây phải là một công trình xây dựng to lớn và kiên cố gồm nhiều
hành lang dài và hẹp mà ngày nay ta thấy những nền đá với bề ngang gần một mét.
Theo Schumann thì ngày xưa, trên những hành lang hẹp đó là mái bằng đất hình
vòm nằm trên những thân tre uốn vòng.
Theo tương truyền nhà y sĩ Jivaka mới đầu rất dè dặt với đức
Phật. Phải chăng đó là cái bệnh của người trí thức xưa nay đối với các vị đạo
sư tâm linh, nhưng không bao lâu sau, ông là một cư sĩ hết sức nhiệt thành.
Trong Trung bộ kinh, tôi bắt gặp kinh Jivaka với câu mở đầu: "Như vầy tôi
nghe. Một thời Thế Tôn trú tại Vương Xá, tại vườn xoài của Jivaka
Komarabhacca…". Người đến hỏi chuyện lần đó không ai khác hơn là nhà y sĩ
của chúng ta. Đúng nghiệp vụ của mình, ông hỏi Phật lúc nào thì được ăn thịt.
Sau khi nghe giảng pháp, nội dung thâm sâu hơn hẳn chuyện ăn uống, ông phấn khởi
xin Phật nhận làm cư sĩ và "từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy
ngưỡng". Hay thay đặc tính của người trí thức xưa nay, chưa hiểu thì dè dặt,
hiểu rồi thì có nhiệt tâm. Người ta cho rằng chính tại vườn xoài này mà Jivaka
đã chữa bệnh cho các tỉ-kheo và một số toa thuốc của ông đã được ghi lại trong
kinh tạng Pali. Jivaka cũng cho bệnh nhân tắm suối nước nóng nằm ngay tại Vương
Xá. Trong ký sự, Huyền Trang viết lúc ông đến thì còn khoảng mười suối nước còn
nóng. Sau 25 thế kỷ, ngày nay nước vẫn còn nóng, lúc tôi đến thì còn thấy biển
quảng cáo tân thời mời du khách tắm nước nóng.
Xúc động nhất cho tôi tại Vương Xá là lúc đến thăm nền cũ của
cung điện Tần-bà-sa-la. Nhà vua là người tặng Phật nửa nước nhưng Ngài không lấy,
còn khi ông tặng con A-xà-thế cả ngai vàng thì A-xà-thế vẫn chưa an tâm, giam
cha mẹ vào ngục tối. Từ cung điện này, may thay Tần-bà-sa-la vẫn thấy được núi
Linh Thứu cách đó không xa. Trong những ngày cuối đời của ông, tương truyền rằng
Phật Thích-ca đã dùng thần thông vào ngục giảng pháp cho vua và hoàng hậu. Là một
người nhiệt tâm và đã trải qua nhiều thăng trầm cay đắng, hẳn ông thấm đượm
giáo pháp của Ngài dễ như "tấm vải sạch sẵn sàng ăn thuốc nhuộm"[30] và
huyền sử kể rằng sau khi chết, ông sinh ngay vào trời Tứ Đại Thiên vương.
Vương Xá là nơi Phật gặp gỡ những đệ tử quan trọng nhất của
tăng già, đó làø Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Đây là hai vị đại đệ tử, Xá-lợi-phất
được xem là trí huệ đệ nhất, vị kia là thần thông đệ nhất. Hai vị này là bạn
thân với nhau, cùng xuất thân từ giòng dõi Bà La môn và cùng gia nhập tăng già.
Vị trí huệ đệ nhất Xá-lợi-phất vốn là người rất hay nghi kỵ các giáo pháp. Trước
khi gặp Phật xin qui y, Xá-lợi-phất gặp một tỉ-kheo tên là A-thuyết-thị [31] và
ngạc nhiên trước phong độ của vị này. Xá-lợi-phất hỏi thầy của A-thuyết-thị là
ai, đó là cách hỏi thông thường thời đó. A-thuyết-thị trả lời bằng bốn câu kệ:
Các pháp nhân duyên sinh
Cũng theo nhân duyên diệt
Nhân duyên sinh diệt này
Phật đại sa môn thuyết.
Vốn là người từng suy tư về pháp, Xá-lợi-phất trực ngộ lí
"có sinh có diệt" này của bốn câu "Duyên khởi kệ" và rủ Mục-kiền-liên
xin gặp ngay vị "đại sa môn". Chuyện đó diễn ra tại Vương Xá. Về sau
cả Xá-lợi-phất lẫn Mục-kiền-liên đều mất trước Phật và hi hữu thay hai vị đều
chết tại Vương Xá cả. Trong nhiều chùa có khi ta thấy tượng Phật với tả hữu hai
bên là hai vị tôn giả này.
Đức Phật cũng gặp nhiều vị cư sĩ nhiệt thành tại Vương Xá,
trong số đó ta đã biết Tần-bà-sa-la. Một vị khác rất quan trọng là Cấp Cô Độc [32] mà
trong một chương sau sẽ được nói rõ hơn. Thế nhưng Phật không chỉ gặp những người
yêu mến Ngài, Phật cũng có kẻ thù mà sự việc cũng xảy ra tại Vương Xá. Người đó
là Đề-bà đạt-đa [33].
Ông là em họ của Phật, gia nhập tăng già và trở thành một thành viên quan trọng.
Khoảng 8 năm trước khi Phật nhập diệt, ông muốn thống lãnh tăng già nhưng Phật
không chấp nhận. Ông tìm cách giết Phật nhưng không thành. Hãy đọc lại ký sự của
Huyền Trang lúc đến thăm Vương Xá, kể về những nơi chốn lịch sử này:
"Ngoài cửa thành Vương Xá về phía bắc có một ngọn tháp. Chính chỗ này Đề-bà
đạt-đa và vua A-xà-thế sau khi giao hữu với nhau đã thả con voi say để hại đức
Phật…Phía đông ngôi chùa [34] là
một tảng đá rất to, chính chỗ này Đề-bà đạt-đa xô đá hại Phật…".
Tôi đến đây và thấy lại tảng đá này! Ôi thời gian đã trôi đi
25 thế kỷ nhưng những điều tưởng chừng như huyền thoại vẫn còn. Bao nhiêu điều
đã xảy ra trong thị trấn bé nhỏ này. Suốt một thời gian hơn 50 năm, từ lúc vị
du sĩ Cồ-đàm đi ngang đây cho đến ngày triệu tập hội nghị kết tập lần thứ nhất,
tất cả những điều đó đều xảy ra cũng tại nơi đây. Ngày nay có thể có khách đi
ngang đây mà không hề biết lịch sử của nó vì Vương Xá chỉ là một con đường nhựa
nhỏ chạy giữa hai sườn núi trơ trọi. Vương Xá cũng đã theo "nhân
duyên" mà diệt.
TRÊN ĐỈNH LINH THỨU
Đỉnh Linh Thứu đối với tôi gần như hoang đường, tôi không bao
giờ dám nghĩ đời mình sẽ có ngày đến Linh Thứu. Hôm nay tôi chỉ còn cách Linh
Thứu vài cây số, đã thấy đỉnh núi huyền thoại này từ xa, từ điện của Tần-bà sa
la.
Trong số du khách đến Ấn Độ mà nếu có ai đến Vương Xá là chỉ
để thăm Linh Thứu. Người Ấn gọi Linh Thứu là Griddhaguta, nó là một đỉnh đồi nằm
phía đông kinh thành Vương Xá. Do Linh Thứu thu hút khách nước ngoài nên tại thị
trấn Vương Xá mới xây sau này cũng có một vài khách sạn hiện đại, đón khách
hành hương từ Nhật hay Aâu Mỹ quen tiện nghi. Chúng tôi vào ăn trưa ở một khách
sạn mang tên Lotus (Hoa sen) và mới hay nơi thị trấn hẻo lánh này mà cũng có
khách sạn trang bị đầy đủ máy lạnh nước nóng. Vào sảnh đường khách sạn tôi thấy
ngay một bức tranh lớn vẽ đỉnh Linh Thứu. Lòng tôi toát ra lòng biết ơn cuộc đời
và cảm nhận một niềm rộn rã vô hạn. Khách sạn này chỉ mở cửa sáu tháng mùa
đông, còn mùa hè thì du khách không có ai đến vì quá nóng.
Sau bữa ăn trưa, nhân viên khách sạn chỉ đường cho chúng tôi
đi Linh Thứu, họ nói với anh tài xế bằng tiếng Hindu cách đi đường thế nào thuận
tiện nhất. Và khi đến nơi, chúng tôi mới hay Linh Thứu không hề là một vùng
hoang vu như Vương Xá mà là một nơi được nhiều người đến chiêm bái.
Theo dòng khách hành hương chúng tôi đến một trạm đi xe cáp,
đó là phương tiện di chuyển thông thường trong các vùng núi non. Từ dưới thấp
nhìn lên chúng tôi thấy một bảo tháp trắng toát. Thế nhưng đỉnh Linh Thứu đâu ?
Xe cáp dần dần đưa chúng tôi lên núi, thì ra đó là núi Bảo
sơn [35],
nằm phía tây bắc của Linh Thứu. Trên đỉnh núi này, năm 1969 người Nhật xây một
bảo tháp cực lớn mang tên Shanti Stupa (tháp hòa bình thế giới). Khi đến nơi
tôi mới thấy quả thật đây là một bảo tháp tuyệt đẹp với bốn tượng Phật hoàn hảo
nhìn ra bốn phía. Thông thường thì tôi có thể bỏ cả nửa buổi để nhìn ngắm tháp
này nhưng tôi đến đây vì Linh Thứu, đỉnh núi thiêng liêng này đang chiếm lấy
tâm tôi. Tôi chạy ra sân của công trình bảo tháp nhìn xuống, thì dưới kia là
Linh Thứu! Linh Thứu là đó sao, một đỉnh đồi với một chiếc sân nhỏ bằng đá
hình vuông vuông, đó thật là nơi cách đây 25 thế kỷ Phật đã giảng những bộ kinh
quan trọng hay sao?
Thì ra xe cáp đã kéo chúng tôi lên rất cao, tới đỉnh Bảo sơn
nơi xây bảo tháp. Cách đi là khách thăm Bảo sơn trước, sau đó đi bộ xuống núi để
đến Linh Thứu. Lòng tôi có chút vướng bận một điều gì đó chưa rõ nhưng tôi háo
hức theo đoàn người xuống núi, đi trước là một viên lính Ấn Độ dẫn đường. Càng
đi, Linh Thứu càng gần dần và rõ dần. Buổi chiều đã bớt nắng, gió hơi mạnh.
Và đây rồi, len lỏi qua vài mô đá lớn, chúng tôi tới đỉnh
Linh Thứu! Xúc động thay, đời mình đến được nơi này.
Đây là một sân vuông nhỏ, dài khoảng hai mươi mét, rộng
mười mét. Đây là nơi diễn ra Hội Linh Sơn cách đây hai ngàn năm trăm năm mà hồi
nhỏ tôi đã nghe ông tôi tụng "Linh Sơn hội thượng Phật", pháp hội mà
nhiều người hiện nay cho rằng nó vẫn còn tiếp diễn.
Linh Thứu được xem là chỗ đức Phật giảng pháp thậm thâm, dành
cho các bậc thượng thừa, được mệnh danh là chỗ Ngài chuyển pháp lần thứ hai.
Trong một bài giảng tại đại học Harvard (Mỹ) [36],
vị Đại-lai lạt-ma thứ 14 hiện nay nói: "Nội dung của những bài thuyết pháp
này là những bài kinh thuộc hệ Bát-nhã ba-la-mật-đa và trong những bài kinh
này, người ta thường kể rằng, rất nhiều môn đệ của Ngài (Phật) – người, chư
thiên, a-tu-la và những loài khác đã tham dự pháp hội này. Nhưng nếu đã từng đến
núi Linh Thứu thì người ta sẽ nhận ra ngay là cái đỉnh của ngọn núi này chỉ có
thể chứa được mười, cao nhất là mười lăm người. Vậy thì chỗ Phật thuyết pháp phải
là một nơi, một hiện tượng mà chỉ những môn đệ với những thiện nghiệp hi hữu,
con mắt thanh tịnh, mới có thể nhìn thấy được".
Đỉnh Linh Thứu chính là nơi Phật giảng bộ kinh Diệu pháp liên
hoa, trong đó Ngài không còn là một con người lịch sử có sống có chết nữa, mà
Phật xuất hiện trong dạng Báo thân, trong dạng của một vị Phật đã thành tựu Phật
quả từ muôn ngàn kiếp trước. Trong kinh này Ngài trình bày rõ các phương pháp
khác nhau của tam thừa đều chỉ là phương tiện của "người cha muốn cứu các
con đang vui chơi trong một ngôi nhà đang cháy". Phẩm thứ 16 (Thọ mạng Như
Lai) trình bày rõ việc Ngài đắc đạo bốn mươi năm trước đó tại Bồ-đề đạo trường
hay sẽ nhập Niết bàn chỉ là dạng Ứng thân của Ngài cho người đời dễ tin dễ hiểu
chứ Ngài thành đạo không phải trong đời này và cũng sẽ mãi mãi thường trụ tại đời
này. Và đáng chiêm ngưỡng thay, đỉnh Linh Thứu chính là trú xứ, là tịnh độ của
Ngài. Vì thế mà "hội Linh Sơn" mãi mãi vẫn còn tiếp diễn với hàng vạn
bồ-tát và thiên nhân. Người bình thường, còn bị vô minh vây phủ, thấy thế giới
này còn vô thường và khổ đau, thì cũng thế, thấy Linh Thứu chỉ là một cái sân
nhỏ tráng xi-măng chỉ có chỗ cho vài chục người.
Tôi chỉ là người trần mắt thịt nên chiều hôm đó chỉ nghe tiếng
gió chiều và cảm nhận một cách trừu tượng rằng mình đang đứng một chỗ thiêng
liêng. Từ đỉnh núi Linh Thứu này, lòng đầy u hoài tôi nhìn xuống Vương Xá ngày
nay chỉ là một con đường chạy giữa hai triền núi. Tôi nhớ lại một tác phẩm của
Schumann để hiểu tại sao ngày xưa Phật lại cư trú trên này. Theo Schumann [37] thì
Vương Xá ngày xưa là một đô thị nằm trong lòng chảo, xung quanh toàn là núi
không có chút gió nên mùa hè hẳn phải nóng khủng khiếp. Đức Phật và đoàn tùy
tùng có lẽ cũng không chịu nổi cái nóng và phải rút lên núi, thế nhưng không
lên quá cao để môn đệ, trong đó có nhà vua Tần-bà-sa-la tiện việc thăm Ngài. Dễ
thương thay, cách giải thích logic của một người phương tây. Thì ra Ứng thân của
Ngài cũng sợ nóng, cũng chịu mọi cảnh sinh lão bệnh tử của cuộc đời.
Về sau trên đường đi xuống núi, quả nhiên tôi thấy có bảng đề:
"Đây là chỗ nhà vua cho tùy tùng rút lui để một mình lên diện kiến Phật".
Đi tiếp xuống một đoạn lại thấy: "Đây là chỗ nhà vua xuống xe ngựa, đi bộ
lên núi thăm Phật".
Trước khi xuống núi khách có thể thăm viếng các động thiền định
của A-nan, Đại Ca-diếp, Xá lợi-phất, Mục-kiền-liên. Bao nhiêu thế hệ của khách
hành hương đã đến chỗ này, bao nhiêu lòng thành kính đã tỏa lan nơi đây mà ngày
nay còn lại là những cửa động bằng đá dát vàng lấp lánh. Ôi, những điều tưởng
là huyền thoại không ngờ lại có thật cả.
Trên đường xuống núi, người lính Ấn Độ dẫn đường đã chỉ cho
tôi thấy một tảng đá rất giống hình chim ưng, một trong những lý do mà người ta
đặt cho đỉnh núi này biệt danh "đỉnh kên kên". Tôi chụp được hình ảnh
độc đáo này, không dễ gì bắt gặp nó trong một ngày trời xanh nắng sáng như hôm
nay (xem hình 9).
Tôi đi xuống chân núi, lòng ân hận. Bây giờ tôi mới biết lòng
mình vướng bận điều gì. Lẽ ra tôi phải đi bộ lên núi, như hàng đoàn người đi
ngược từ dưới lên, trong đó có cả ông già bà cả. Những người trong khách sạn tưởng
tôi thích tiện nghi đã chỉ một con đường bất xứng, đi xe cáp lên cao rồi từ
trên đi xuống cho khỏe. Từ phía dưới tôi ăn năn nhìn lên, chỉ còn thấy xa xa
hình của một ông già người Ấn đứng bơ vơ trên đỉnh, ông là người thu những số
tiền mà khách cúng dường nơi chốn thiêng liêng này.
Lần sau đời tôi nếu có cho tôi đến Linh Thứu lại, tôi sẽ dành
một ngày đi bộ từ Vương Xá lên đỉnh, đi lại bước chân của đức Phật lúc Ngài còn
tại thế. Nhiều năm về sau, tôi được đi tham bái nhiều thánh địa của đức
Thích-ca ở Ấn Độ, nhiều đạo trường của các vị Bồ-tát mà Diệu pháp liên hoa kinh
đã nhắc tới như Văn-thù, Quán Thế Âm, Phổ Hiền… ở Trung Quốc, nhiều tu viện rất
cổ tại Tây Tạng. Đó là những chốn rất thiêng liêng được mệnh danh là "tứ động
tâm" của Ấn Độ, "tứ đại danh sơn" của Trung Quốc, "thành phố
của chư thiên" tại Tây Tạng. Thế nhưng không có nơi nào để lại trong tôi
lòng xúc động và biết ơn cuộc đời như Linh Thứu. Phải chăng Linh Thứu quá nhỏ
bé để tôi thấy đâu đây còn có hơi ấm và ánh sáng của vị đạo sư trong lúc các chốn
kia quá to lớn mênh mông? Nhưng đó là tâm tư thật của tôi. Nếu có một ngày hỏi
lại đời mình đâu là chỗ đáng quý nhất đã từng đi tới thì đó là núi Linh Thứu.
TỪ LINH SƠN NHỚ VỀ YÊN TỬ
Có nhiều truyền thuyết giải thích tại sao núi Linh Thứu còn
có tên là "đỉnh kên kên". Có thuyết cho rằng tôn giả A-nan, một vị học
trò thân cận của Phật, trong lúc thiền định trong động đá bị ma quỷ hiện thành
chim kên kên dọa nạt. Tôi không hiểu nếu hiện hình con gì thì còn có người sợ chứ
chim thì mấy ai sợ. Lại có người cho rằng nơi đây chim kên kên hay đến làm tổ.
Cũng có kẻ nói rằng đá núi nơi đây có hình chim kên kên, thuyết này xem ra đứng
vững hơn cả.
Như ta đã biết, trong hơn bốn mươi năm giáo hóa, Đức Thích-ca
đã giảng nhiều bài kinh quan trọng tại Linh Thứu. Cuối đời mình, nơi đây Ngài
đã dùng Báo thân để giảng bộ kinh Diệu pháp liên hoa cho thiên nhân cũng như
loài người, bộ kinh Đại Thừa nổi tiếng mà Phật tử Việt Nam hay gọi là kinh Pháp
Hoa.
Cũng trên đỉnh Linh Thứu này, ngày nọ, Đức Thích-ca không nói
gì, lẳng lặng đưa một cành hoa lên cao. Hội chúng chẳng ai hiểu gì cả, chỉ có một
đại đệ tử của ngài là Đại Ca-diếp mỉm cười, cũng chẳng nói năng gì. Hành động
"niêm hoa vi tiếu" này là đầu nguồn của Thiền tông, một tông phái chủ
trương "tâm truyền tâm", đạt giác ngộ không cần và không thể sử dụng
ngôn ngữ văn tự mà dùng tuệ giác vốn có sẵn nơi tâm mà tiếp cận với thực tại.
Linh Thứu là quê hương của Thiền tông, đây cũng là suối nguồn của nhiều tông
phái quan trọng khác. Đại Ca-diếp được xem như Tổ thứ nhất của Thiền tông Ấn Độ.
Về sau Đại Ca-diếp truyền cho A-nan, rồi cứ thế mà dòng truyền thừa Thiền tông
tiếp diễn liên tục đến gần ba mươi đời sau, trong đó có Long Thụ là truyền nhân
đời thứ 14 mà ta đã biết.
Khoảng tám trăm năm sau khi Đức Thích-ca nhập diệt có một kẻ
lữ hành từ Trung Quốc đến thăm Linh Thứu. Người đó là một vị tăng sĩ, tên gọi
là Pháp Hiển, sinh khoảng cuối thế kỷ thứ tư. Năm 399, Pháp Hiển lên đường thăm
Ấn Độ, thăm các thánh tích quan trọng của Đức Thích-ca và mười lăm năm sau mới
về nước, mang theo vô số kinh điển. Theo tập ký sự còn lưu lại, Pháp Hiển mang
nhang đèn đến Linh Thứu, vừa dâng hương, "đèn tự cháy sáng". Pháp Hiển,
"buồn đến phát khóc", ở lại trong núi một đêm và tụng đọc kinh Lăng
Nghiêm để nhớ lại vị đạo sư đã giảng kinh này tại đây. Sau Pháp Hiển hơn hai
trăm năm, một đại sư Trung Quốc lừng danh khác là Huyền Trang, biệt danh Đường
Tam Tạng cũng đến chiêm bái Linh Thứu. Trên đỉnh núi Linh Thứu ngày nay còn một
nền đá ghi lại ngày xưa Đức Thích-ca đã trú nơi đây và ngàn năm sau Huyền Trang
đã nghỉ lại qua đêm. Vị tăng sĩ Việt Nam đầu tiên đi Linh Thứu có lẽ là Đại Thặng
Thăng, sinh trong thế kỷ thứ bảy. Đại Thặng Thăng với ba vị tăng sĩ Việt Nam
khác cùng đi với nhà sư Trung Quốc Nghĩa Tịnh (635-713) bằng đường biển đến Ấn
Độ, đến tham bái Linh Thứu và các thánh tích khác, cuối cùng chẳng may bỏ mình
tại xứ người.
Không phải chỉ có lữ khách từ xa đến Ấn Độ, ngược lại tăng sĩ
Ấn Độ đi các nước khác cũng rất nhiều mà con người đầy huyền thoại nhất thời đó
là một tăng sĩ mặt đen, râu rậm, tướng mạo như một võ sư. Đó là Bồ-đề Đạt-ma,
có lẽ sinh năm 470. Bồ-đề Đạt-ma chính là truyền nhân đời thứ 28 và là đời cuối
cùng của Thiền tông Ấn Độ, bắt đầu với Đại Ca-diếp và A-nan. Năm 520 Bồ-đề Đạt-ma
lên đường đi Trung Quốc bằng đường biển, theo một tài liệu thì có ghé Việt Nam
trước khi đến Nam Kinh gặp nhà vua Trung Quốc Lương Vũ Đế. Gặp Vũ Đế, Bồ-đề Đạt-ma
khai thị yếu tính Thiền tông rất rõ ràng nhưng vua không lĩnh hội vì lòng còn bị
các quan niệm thiện ác, tốt xấu chi phối. Bồ-đề Đạt-ma thấy cơ duyên chưa tới,
đi về hướng Bắc Trung Quốc, vượt sông Trường Giang đến Lạc Dương, lên núi Tung
sơn, ở chùa Thiếu Lâm, chín năm tọa thiền quay mặt vào vách.
Tưởng Thiền tông như thế là đứt đoạn, tổ Thiền thứ 28 đã rời Ấn
Độ đi Trung Quốc, ở Trung Quốc thì quay mặt vào vách không nói năng gì. Nhưng
không phải, trong một ngày đầy tuyết nọ, có người rút dao tự chặt cánh tay tỏ
lòng thành khẩn, xin Bồ-đề Đạt-ma khai thị. Người đó là Huệ Khả (487-593). Chỉ
nghe một câu "an tâm", Huệ Khả đại ngộ, trở thành truyền nhân của Bồ-đề
Đạt-ma, đời sau gọi là nhị tổ của Thiền tông Trung Quốc. Huệ Khả truyền cho
Tăng Xán, vị tam tổ này sinh ra lúc nào không rõ chỉ biết tịch năm 606. Tăng
Xán sau đó truyền cho Đạo Tín (580-651), rồi vị này truyền lại cho Hoằng Nhẫn
(601-674). Các vị truyền nhân này đều sống một cuộc đời kỳ dị, giác ngộ qua những
câu vấn đáp xem ra ngớ ngẩn, mỗi người mỗi khác nhưng giống nhau ở chỗ lấy
"tâm truyền tâm, thấy tánh thành Phật" làm gốc. Đến đời thứ sáu, với
Lục tổ Huệ Năng (638-713) thì tính cách "bất lập văn tự" mới đạt tột
đỉnh vì Huệ Năng mới đầu chỉ là một anh chàng tiều phu mù chữ. Về sau, Huệ Năng
không có truyền nhân chính thức, thiền Trung Quốc được xem là có sáu vị tổ, như
thiền Ấn Độ có 28 vị. Thế nhưng Huệ Năng là người khai sáng Thiền Trung Quốc rực
rỡ hơn ai hết, để lại cho hậu thế vô số thiền sư xuất chúng và một dòng truyền
thừa mãnh liệt đến thế kỷ thứ 11 và cả đến ngày nay.
Thiền tông không dừng ở Trung Quốc. Tổ thứ ba Tăng Xán vốn có
ít học trò, trong đó có một vị tên là Tì-ni-đa Lưu-chi [38].
Vị này sinh năm nào không rõ, chỉ biết tịch năm 594. Sau khi ngộ pháp xong,
Tì-ni-đa Lưu-chi đi về phương Nam, đến Giao Chỉ, ngụ ở chùa Dâu ngày nay, thuộc
tỉnh Hà Bắc Việt Nam. Tại đây Tì-ni-đa Lưu-chi khai sáng dòng Thiền Việt Nam,
truyền 19 đời, đến thế kỷ thứ 13, có ảnh hưởng mạnh lên đến các vua thời Lý.
Song song, trong số học trò sau mấy đời của Huệ Năng có một vị
nói năng rất ít, được gọi tên là Vô Ngôn Thông. Năm 820, Vô Ngôn Thông về
phương nam đến tỉnh Bắc Ninh Việt Nam ngày nay, khai sáng một dòng Thiền mới,
truyền 17 đời, cũng đến thế kỷ thứ 13.
Trong thế kỷ thứ 11 một vị thiền sư Trung Quốc tên gọi là Thảo
Đường, không rõ vì duyên cớ gì đi lưu lạc tận Chiêm Thành. Thảo Đường bị vua Việt
Nam là Lý Thánh Tông bắt làm tù binh trong một trận chinh phạt nước này năm
1069. May thay cho Thảo Đường, Lý Thánh Tông là một nhà vua trọng đạo lý. Biết
Thảo Đường là môn đệ của thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển, Lý Thánh Tông phong làm
Quốc Sư, tự nhận mình làm học trò. Cũng lại là một điều mà chỉ ngày xưa mới có.
Sau đó, Thảo Đường khai sáng dòng Thiền thứ ba của Việt Nam, truyền được sáu đời,
kéo dài đến cuối nhà Lý.
Khác với Thiền Trung Quốc chia thành "ngũ gia thất
tông", hầu như ba thiền phái Việt Nam chỉ đợi ngày hợp nhất. Qua đầu thế kỷ
thứ 13, ba dòng Tì-ni-đa Lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường nhập lại một dòng
duy nhất. Không rõ cơ duyên nào mà lịch sử Việt Nam lại sản sinh nhiều nhân vật
lỗi lạc trong các thế kỷ 12,13 của đời Lý Trần. Dưới ảnh hưởng của Trần Thái
Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, ba dòng Thiền đó tập hợp thành một, xuất phát từ
núi Yên Tử, hiện nay thuộc tỉnh Quảng Ninh, gọi là phái Thiền Yên Tử. Tại Việt
Nam núi Yên Tử trở thành đỉnh cao vòi vọi của một dòng Thiền vừa rất quí tộc vừa
rất nghệ sĩ.
Giữa thế kỷ thứ 13, một nhân vật kiệt xuất ra đời, đó là Trần
Nhân Tông (1258-1308). Vừa làm vua chăm lo bảo vệ bờ cõi, vừa là thiền sư đạt đạo,
Trần Nhân Tông trở thành tổ thứ sáu của dòng Thiền Yên Tử. Nhưng vì nhân cách của
Trần Nhân Tông quá rực rỡ, đời sau tôn ông làm sư tổ, lấy hiệu Trúc Lâm của ông
đạt tên làm phái Thiền Trúc Lâm, một dòng Thiền có tính nhập thế. Năm 1304, Trần
Nhân Tông đích thân đi cả nước tìm truyền nhân, gặp ngay một thiếu niên
"có đạo nhãn", liền truyền pháp cho, người đó là Pháp Loa
(1284-1330), tổ thứ hai của Trúc Lâm. Đến năm 23 tuổi, Pháp Loa gặp một nhân vật
kỳ dị, lúc đó đã 51 tuổi, tên gọi là Huyền Quang. Huyền sử chép rằng, mẹ của
Huyền Quang là Lê Thị, ba mươi tuổi mà chưa có con, hay đến chùa cầu nguyện. Đầu
năm 1254, trụ trì chùa là sư Tuệ Nghĩa mơ thấy trong chùa "đèn đuốc sáng
choang, Đức Thích-ca chỉ tôn giả A-nan mà bảo, ngươi hãy tái sinh làm pháp khí
Đông Độ và nhớ lại duyên xưa". Năm đó Lê Thị sinh Huyền Quang. Gặp Pháp
Loa, Huyền Quang tôn làm thầy mặc dù thầy trẻ hơn mình gần ba mươi tuổi.
"Duyên xưa" là duyên gì? Đông Độ Việt Nam thật ra
là có duyên với đạo Phật, Việt Nam đến với đạo Phật sớm hơn cả Trung Quốc.
Trong thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, tại Việt Nam đã hình thành một trung tâm
đạo Phật là Luy Lâu, thuộc Bắc Ninh ngày nay. Luy Lâu phát triển song song với
hai trung tâm của Trung Quốc là Lạc Dương và Bình Thành [39].
Thiền Việt Nam đã xuất phát cả trước khi Bồ-đề Đạt-ma đến Trung Quốc. Trong thế
kỷ thứ ba, tăng sĩ Khương Tăng Hội người Giao Chỉ đã viết luận giải về Đại Thừa
và Thiền tông cho nên nhiều người cho rằng Khương Tăng Hội chính là người sáng
lập Thiền Việt Nam, không phải đợi đến lúc Thiền Trung Quốc du nhập.
Người đời sau tôn ba vị Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang
là "tam tổ" Thiền Việt Nam, xứng danh ngang hàng với sáu vị Tổ Thiền
Trung Quốc và 28 vị Tổ Thiền Ấn Độ. Núi Yên Tử của Việt Nam, Tung sơn của Trung
Quốc và Linh Thứu của Ấn Độ là nơi sản sinh các dòng Thiền đó.
Suốt bảy thế kỷ sau Trần Nhân Tông, trong vô số những người
đã đến thăm Linh Thứu, có một đứa con cháu lạc loài của ông đứng ngẩn ngơ trên
núi chiều nay. Ôi, con người đích thực của bao vị thánh nhân hầu như chìm trong
bóng tối của lịch sử. Thường người ta chỉ biết Trần Nhân Tông là một nhà vua giỏi
bảo vệ bờ cõi, nào ngờ là một đại sư đạt đạo mà học thuật và nhân cách của ông
đã truyền thừa cho các thế hệ đến ngày nay. Tưởng Huyền Trang chỉ là một nhân vật
huyền thoại, sư phụ hiền lành của Tôn Hành Giả, nào ngờ là một nhà dịch kinh
tác tuyệt về văn chương và nội dung, sáng lập cả một tông phái đại thừa tại
Trung Quốc. Tưởng Bồ-đề Đạt-ma chỉ là tổ sư võ công Thiếu Lâm, nào ngờ là kẻ đã
khai sáng Thiền tông miền Đông Á, mở đường cho vô số người cầu hiểu biết. Tưởng
Đức Thích-ca là một ông bụt hoang đường, nào ngờ là một con người từng sống, từng
hoạt động, từng chết trên trái đất này.
Rời Linh Thứu với lòng u hoài chiều hôm đó, tôi chỉ có thể nhắc
lại đây lời của Schumann: "Chuyến hành trình theo dấu chân Đức Phật là một
niềm vui, đồng thời là một cảm hoài xao xuyến, vì phần lớn các nơi Ngài đã đặt
chân đến, ngày nay người ta chỉ còn tìm thấy sự đổ nát và hiu quạnh. Nhưng tính
vô thường của vạn sự há chẳng phải là thông điệp của Ngài ư? Ngài chẳng đã nói
rằng Pháp sẽ có ngày bị quên lãng, nhưng sẽ được khám phá lại một cách mới mẻ
ư? Có thể Ấn Độ đã quên người con trai vĩ đại của mình, nhưng tại các nơi khác ở
châu Á, mà cũng trong các tâm hồn tại châu Âu và Mỹ, thì thông điệp của Ngài vẫn
còn sinh động. Chúng ta hãy mừng vui rằng, có một đầu óc ưu việt đã thấu hiểu
cái Khổ và nguyên nhân của nó và đã chỉ rõ cách giải thoát nó nằm ngay nơi
chúng ta".
Chú thích:
[1] Mahasiddha,
sống trong khoảng từ thế kỷ thứ tám đến thứ mười hai tại Ấn Độ. Huyền sử ghi lại
84 vị Đại thành tựu giả, xem Dowman Keith, Master of Mahamudra. Song and
histories of the Eightyfour buddhist Siddhas, New York, 1985
[2] Xem
chương "Con trâu điên" trong phần thứ tư
[3] Dakini,
các vị nữ thần thường được nhắc đến trong Kim Cương Thừa, xuất hiện để bảo vệ
giáo pháp.
[4] Trích
câu kệ về Từ Đạo Hạnh
[5] Kosala
[6] Pataliputra
[7] Trị
vì từ 324 đến 185 trước công nguyên
[8] Ngày
nay chỉ còn khoảng 10 trụ
[9] Xem
chương "Đền Jokhang" trong phần thứ tư
[10] Tác
phẩm đáng chú ý nhất là "Sur les traces du Bouddha", Paris 1929 của
R.Grousset (1885-1952), nguyên là giám đốc bảo tàng viện Guimet tại Paris và hội
viên viện Hàn Lâm Pháp. Nhiều tư liệu trong sách này được trích từ tác phẩm này
[11] Sarvastivada
[12] Asanga,
thế kỷ thứ 4, đại luận sư của Phật giáo, người sáng lập Duy thức tông
[13] Vasubandhu,
khoảng 316-396, mới đầu là luận sư của Nhất thiết hữu bộ, về sau của Duy thức
tông, là tổ thứ 21 của Thiền tông Ấn Độ
[14] Trị
vì từ 320 đến 499
[15] Nagarjuna
[16] Madhyamika
[17] Silabhadra
[18] Xem
Archaeological Survey of India, Report 1922-23
[19] Dignaga
[20] Dharmapala
[21] Vijnaptimatratasiddhi
[22] Thập
đại luận sư: Thân Thắng, Hỏa Biện, Đức Huệ, An Huệ, Nan-đà, Tịnh Nguyệt, Hộ
Pháp, Thắng Tử, Thắng Hữu, Trí Nguyệt
[23] Santideva
[24] Bodhicaryavatara
[25] Vật
tráng tắc lão, Thị vị bất Đạo, Bất Đạo tảo dĩ (Việt dịch Nguyễn Duy Cần)
[26] Lời
Phật Thích-ca
[27] Buddhaghosa
[28] H.W.Schumann,
Auf den Spuren des Buddha Gotama, Walter Verlag 1992.
[29] Hình
trích của S.Dhammika (sách đã dẫn)
[30] Cách
nói Phật hay dùng chỉ những người sẵn sàng tiếp thu
[31] Assaji
[32] Anathapindika
[33] Devadatta
[34] Ngôi
chùa này nằm dưới chân núi Linh Thứu, phía đông Vương Xá
[35] Ratna
mountain
[36] The
Dalai Lama at Harvard, Jeffrey Hopkins, University of Virginia
[37] Sách
đã dẫn
[38] Vinitaruci
[39] Ngày
nay là Đại Đồng thuộc tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.
Nguyễn Tường Bách
Nguyễn Tường Bách





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét