Mùi hương trầm
Ấn Độ, suối nguồn thiêng liêng 2

DƯỚI CÂY BỒ ĐỀ
Tháp Hòa Bình thế giới tại núi Bảo sơn thật ra là một công
trình đáng chiêm ngưỡng, rủi cho nó là tháp nằm cạnh ngọn Linh Thứu quá thiêng
liêng nên tháp bị lu mờ không ít. Tại bốn phía của tháp này ta có thể xem bích
họa của bốn cảnh về cuộc đời đức Phật, cũng là bốn chốn thiêng "tứ động
tâm", mà khách hành hương ai cũng đến tham bái, đó là: chỗ đản sinh của Ngài
tại Lâm-tì-ni, chỗ Ngài đắc đạo tại Bodh Gaya (Bồ-đề đạo trường), chỗ
Ngài bắt đầu giảng pháp tại Sarnath (Lộc Uyển) và chỗ Ngài nhập diệt tại
Câu-thi-na (Kusinara). Trong bốn chỗ thì Bồ-đề đạo trường tại Bodh Gaya được
xem là thiêng liêng nhất. Hôm nay tôi đến đó đảnh lễ.
Bodh Gaya là một địa danh quan trọng trên bản đồ Ấn Ðộ, nó chỉ
cách Linh Thứu khoảng 50 km đường bộ về hướng tây nam. Còn trong ký ức của tôi
từ ngày còn nhỏ dựa theo một tấm hình thì chỗ Phật đắc đạo là một cây bồ-đề và
cạnh cây là một con sông, sông đó phải có tên gọi là Ni-liên-thuyền.
Trải qua ngàn năm con sông này vẫn còn và ngày nay có tên
Nilajana. Nó chỉ là một con sông nhỏ, tại Bodh Gaya, nó nhập với sông Mohana chảy
ngược lên phía bắc và làm thành sông Phalgu. Hai con sông này mùa khô không có
nước và lòng sông trở thành một bãi cát rộng cả cây số. Sông Ni-liên-thuyền là
nơi Phật băng qua, đến một cây bồ-đề, từ bỏ phép tu khổ hạnh và dùng phép thiền
định mà tìm ra chân lý. Trong thời đó, phương pháp nhận thức đó - từ bỏ khổ hạnh
và áp dụng thiền định - là một cuộc cách mạng, là một trong những điều làm nhiều
người gọi Phật là "nhà phê phán" Ấn Ðộ giáo.
Trước đó nhà ẩn sĩ Cồ-đàm tu khổ hạnh tại Uruvela, nằm bên bờ
nam Ni-liên-thuyền. Ðây là nơi năm thầy tỉ-kheo mà đứng đầu là Kiều-trần-như
qui phục Phật và hẹn rằng ai giác ngộ trước phải giáo hóa cho những người còn lại.
Sau năm năm tu khổ hạnh, Ngài đến với một nhận thức khác, trong kinh kể lại:
"đức Bồ-tát thọ nhận sữa và cơm của một nàng tín nữ tên là Sujata. Ngài
ngâm tứ chi đã rã rời trong dòng nước thanh tịnh của Ni-liên-thuyền và bước về
phía Bodh Gaya, đến cây bồ-đề thiêng liêng, rải một ít nắm cỏ tươi dưới chân
cây, đó là tòa kim cương và bắt đầu ngồi thiền định".
Ngày nay cây bồ-đề vẫn còn và chỗ Ngài ngồi thiền định đắc đạo
đã trở thành chốn hành hương nổi tiếng nhất của Phật giáo.
Tôi đến thị trấn Bodh Gaya buổi tối để sớm hôm sau đến chiêm
bái nơi chốn thiêng liêng này, chỗ được vẽ trong một bức tranh thờ Phật, có lẽ
là bức tranh đầu tiên tôi thấy trong thời thơ ấu. Ngày đó đối với tôi đức Phật
trừu tượng xa vời như ông Ngọc Hoàng thượng đế, cây bồ-đề hay làn nước xanh
trong tranh chỉ là những hình ảnh tưởng tượng. Bởi thế khi bước chân vào chốn
này, tìm xem cây bồ-đề lòng tôi đầy cảm xúc.H 10: Gốc cây bồ-đề.
Gốc cây được bọc xung quanh bởi lan can bằng xi-măng. Vải nhiều
màu là phướn cầu nguyện được tín đồ Tây Tạng cúng dường. Phía bên mặt là chân
tháp Ðại bồ-đề.
Cây bồ-đề là đây!. Ðó là một ngọn cây khỏe mạnh cao
vút, trên cao là những chiếc lá long lanh màu lục rực rỡ dưới nắng mai. Lá bồ-đề
mà đầu của nó nhọn và dài thì tôi đã thấy nhiều, nhưng ở đây gốc của nó rất
cao, cành mang lá nằm tuốt trên xa không với tới được, những chiếc lá hầu như
vui cười trong gió sớm. Thân cây đầy những đoạn màu vàng sáng, đó là những chỗ
mà khách hành hương cúng dường bằng cách dát vàng mỏng như giấy lên cây. Xung
quanh cây toàn là phướn cầu nguyện kiểu Tây Tạng lẫn cờ ngũ sắc của Phật giáo.
Người đi đông như hội, họ chen chúc nhau thắp nhang chụp hình. Một đoàn trẻ con
học sinh Ấn Ðộ, đứa này nắm chéo quần đứa kia đi thành một đuôi dài đi vòng
quanh thánh địa, mặt mày hồn nhiên. Có vị bồ-tát nào hóa sinh làm một người
trong đoàn trẻ con đó không?
Tôi chờ bớt người để đi vào sát thân cây. Nơi đây còn có một
phiến đá dày khoảng một tấc, được phủ lụa đỏ cẩn thận. Người ta cho rằng phiến
đá đó có từ thời vua A-dục trước công nguyên, nó ghi lại chỗ đức Phật đã ngồi.
Ðó chính là hiện thân của "kim cương tòa" trong thế giới vật chất này
mà kích thước thực sự của nó hết sức ẩn mật không mấy ai hiểu hết. Chúng tôi im
lặng thắp nhang, tìm chỗ ngồi thiền định dưới cây bồ-đề.
Hãy thử làm theo Phật bằng cách thiền định để nhận thức thế
giới. Ý nghĩa đích thực của cuộc đời làm người là, đó chính là cơ hội quí báu để
nhận thức thế giới và cách nhận thức có hiệu quả nhất là chỉ và quán trong thiền
định. Ðó là kết luận của Ngài nhưng tiếc thay đối với tôi lại là điều khó làm
nhất. Từ xưa tâm tôi hay tán loạn khi ngồi thiền định, đối với tôi không có gì
khó hơn sự định tâm. Dưới gốc bồ-đề, tôi ngồi đó với lòng cảm xúc, có lẽ tâm
tôi chẳng định được gì vì tâm ý sôi nổi. Làm sao tôi tĩnh tâm được khi nhớ rằng
ngay tại nơi này cách đây hai ngàn năm trăm năm có một bậc thầy ngồi thiền định
nơi đây và đạt giác ngộ. Ðây là chỗ mà người đó, nói như Schumann trong chương
trước, đã thấu hiểu nguồn gốc của cái Khổ và phương cách giải thoát khỏi nó.
Bên cạnh tôi có một người có khuôn mặt châu Á, có lẽ người Nhật,
cũng đang ngồi thiền định. Ngồi một lúc tôi phát hiện là anh ta có tật, thỉnh
thoảnh anh vung chân múa tay một cách bất bình thường. Khuôn mặt anh sáng láng
nhưng hình như thân thể anh không yên, xem ra nó hoạt động độc lập với anh. Tay
chân của anh hoạt động độc lập xem ra cũng như tâm của tôi tán loạn. Chưa bao
giờ tôi thấy thương một người xa lạ như thế. Quê hương anh ở đâu, ai chỉ đường
cho anh đến đây, phương tiện đâu cho phép anh đi con đường vạn dặm này. Thân
anh không bình thường nhưng tâm anh liệu có sáng suốt không, hỡi người bạn đạo
đang ngồi bên tôi thiền định dưới gốc cây thiêng. Một điều tôi tin chắc chắn
ngày hôm đó là anh sẽ lành bệnh, dù bệnh thuộc tâm hay thuộc thân, vì đây là
nơi là chỗ phát ra ánh sáng của trí tuệ và là nơi ma quái phải qui hàng.
Về sau tôi biết thêm cây bồ-đề nguyên thủy nơi mà ngày xưa Phật
thiền định đã bị phá hủy trong thế kỷ thứ bảy. Tại chỗ cây nguyên thủy đó người
ta có trồng một cây con thì cây con cũng bị bão thổi trốc gốc năm 1876. Còn cây
bồ-đề chúng ta thấy ngày hôm nay là một cây con của cây mà vua A-dục tặng Tích
Lan trong thế kỷ thứ ba trước công nguyên, mà con trai là Mahendra tự tay đem
qua đó trồng. Ðối với tôi, cây bồ-đề này là cây nguyên thủy hay cây con cây
cháu, nó không hề quan trọng. Chính tại nơi đây, Phật đã thấy "mọi pháp có
sinh đều có diệt", huống hồ chỉ là một ngọn cây.
Bên cạnh cây bồ-đề là một bảo tháp rất lớn gọi là Tháp Ðại bồ-đề.
Nó được xây dựng khoảng thế kỷ thứ 1,2 sau công nguyên và cũng đã trải qua nhiều
đợt trùng tu và hủy phá. Lúc Pháp Hiển đến đây năm 409 thì ở đây đã có "ba
ngôi tháp". Lúc Huyền Trang đến chiêm bái năm 637, ông mô tả tỉ mỉ:
"về phía đông cây bồ-đề có một tháp cao chừng 52m, nền tháp độ 20 thước
vuông, tường bằng gạch xanh, trét vôi chu-nam". Ngày nay người ta biết rõ
tháp mà Huyền Trang mô tả chính là ngọn tháp ngày nay, chiều cao chính xác là
55m.
Bồ-đề đạo trường là một thánh địa vĩ đại cho những ai muốn
tìm sự tỉnh giác thiền định, cảm hứng tâm linh hay nghiên cứu lịch sử. Trong
tháp là một tượng Phật thếp vàng ngồi thanh tịnh, ngoài tháp là dấu chân Phật,
trên mặt đất là lá bồ-đề rụng được khách hành hương nhặt đem về thờ cúng. Tôi
đi quanh tháp theo chiều kim đồng hồ, đó là cách tán thán theo kiểu Ấn Ðộ, Tây
Tạng, nhớ đến tích của một con chim chỉ bay quanh ba vòng nơi đây mà tái sinh
được làm người. Hỡi chim, nếu ngươi được làm người thì cũng ráng dùng đời làm
người mà nhận thức, ngoài ra cuộc đời không còn ý nghĩa gì khác.H 11: Sơ đồ khuôn viên tháp Ðại Bồ-đề.
1) Ðường vào; 2) Ðền Buddhapada; 3) Ðền Ấn độ giáo; 4)
Ðền Ðại bồ-đề; 5) Kim cương tòa (bên trong); 6) Cây bồ-đề; 7) Kim cương tòa
(bên ngoài); 8) Dấu chân Phật; 9) Chỗ Phật đi kinh hành trong tuần thứ ba sau
khi giác ngộ; 10) Hàng rào đá; 11) Phế tích của Ratanaghara Chaitya, đền do chư
thiên dựng, nơi đây Phật giảng A-tì-đạt-ma trong tuần thứ tư sau khi đắc đạo;
12) Ðền kỷ niệm chỗ Phật ngồi nhìn cây bồ-đề không chớp mắt trong tuần sau khi
Ngài đắc đạo; 14) Ðền kỷ niệm Phạm Thiên hiện xuống khẩn cầu đức Phật hãy giảng
pháp; 15) Trụ đá của vua A-dục; 16) Ðền A-dục vương; 17) Ðền Mahanama; 18) Hàng
rào
Xung quanh tháp Ðại Bồ-đề là vô số những tháp nhỏ nhắc lại
nhiều sự tích. Trong số đó có một tháp nhỏ nhắc lại hai vị thương nhân tên là
Tapussa và Bhallika, người xứ Orissa đã dâng Phật mạch nha và mật. Hai vị đó có
việc đi Vương Xá, chắc cũng làm công tác tiếp thị tại đó, xin qui y làm cư sĩ
và xin học pháp nơi Ngài mặc dù Phật chưa hề muốn giảng dạy. Thế là đức Phật có
hai đệ tử cư sĩ đầu tiên, hai vị đó cũng chỉ là thương nhân như tôi thôi.
Có một bức tượng mà Huyền Trang đã thấy nhưng ngày nay không
còn, đó là tượng Quán Thế Âm gần cây bồ-đề. Theo một lời tiên tri xa xưa thì tượng
này ngày càng chìm trong đất, lúc nó chìm hẳn thì đó là lúc đạo Phật suy tàn.
Lúc Huyền Trang đến thì tượng đã chìm tới ngực và ông tiên đoán trong ký sự của
mình là đạo Phật chỉ còn hưng thịnh nơi đây trăm rưỡi hay hai trăm năm nữa. Lời
tiên tri đó đã thành sự thực vì quả nhiên trong thế kỷ thứ 8, thứ 9, đạo Phật xem
như mất hẳn tại Ấn Ðộ, chỉ trừ ở vùng Ma-kiệt-đà và Bengale.
Cây bồ-đề có sinh có diệt, bản thân đạo Phật cũng có sinh có
diệt, tất cả đều là "pháp" cả. Ðó là một trong những điều cốt tủy Phật
dạy sau khi Ngài chứng ngộ dưới cây bồ-đề. Những điều này muốn hiểu một cách trừu
tượng thì dễ nhưng chấp nhận chúng trong cuộc đời thì khó lắm thay. Ôi, những
nhận thức toàn triệt xuất phát từ gốc cây này thật khó được người đời hiểu ngộ,
đó là lý do tại sao đạo Phật đích thực không bao giờ trở thành một tôn giáo của
quảng đại quần chúng, tại sao nó đã biến mất trên chính quê hương của mình. Và
đó là lý do mà tại chính dưới gốc cây này, Phật phân vân không biết mình có nên
giảng pháp hay không.
THIỀN ÐỊNH, PHƯƠNG PHÁP NHẬN THỨC ƯU VIỆT
Rời quê hương Ca-tì-la-vệ, vị du sĩ Cồ-đàm trẻ tuổi đi về hướng
đông nam, đến Vương xá và gặp Tần-bà-sa-la như ta đã biết. Sau đó không lâu, Cồ-đàm
tìm gặp một vị thầy là Alara Kalama xin học pháp. Nơi đây Cồ-đàm học được một số
phép thiền định nhưng phép này chỉ dẫn đến "Vô sở hữu xứ", như về sau
Phật kể lại trong Bộ kinh.
Sau đó Cồ-đàm tìm gặp một vị thầy khác là Uddaka Ramaputta,
phép tu của vị này cũng chỉ đạt "Phi tưởng phi phi tưởng xứ". Thế
nhưng với Uddaka, Cồ-đàm đã học được tinh túy của Ấn Ðộ giáo. Về sau Phật kể lại
rằng, Uddaka thường giảng, con người "thấy nhưng không thấy" và minh
họa lời mình bằng cách đưa một con dao lên, cho thấy lưỡi dao nhưng không biết
dùng nó mà cắt sự vật. Con dao là ẩn dụ quan trọng của Những bài thuyết giáo của
Ấn Ðộ giáo, trong đó Uddalaka Aruni giáo hoá cho con trai là Svetaketu bằng
dùng dao cắt hạt trái cây tí hon và cho thấy trong đó không gì khác hơn là cái
đại ngã tuyệt đối đang tràn ngập trong vũ trụ và con người. Ðây là nơi nhà tu
sĩ Cồ-đàm vừa tiếp thu triết học của Ấn Ðộ giáo, vừa sáng tạo những lý thuyết mới
của giáo pháp mình. Vài tháng sau, du sĩ Cồ-đàm lại bỏ ra đi vì tất cả những gì
thầy dạy "không giải thoát được cái khổ, không mang lại lợi ích".
Sau đó Cồ-đàm đến Uruvela, như ta đã biết, chỗ ẩn tu nằm trên
bờ sông Ni-liên-thuyền. Thấy phép thiền định du-già và triết học Những bài thuyết
giảng Ấn Ðộ giáo không mang lại tri kiến giải thoát cho mình, Cồ-đàm nghĩ phải
chăng con đường đúng đắn là phép tu khổ hạnh.
Miền rừng núi Uruvela về sau được Phật gọi là "khả
ái" nhưng ta đừng vội tin là nơi chốn thần tiên. Tôi đã đi qua miền rừng
núi Bihar và Bắc Ấn, đó là rừng già Ấn Ðộ mà loại cây thường gặp là Sala, trong
đó cơ man nào là khỉ, rắn và dơi. Vị du sĩ ba mươi tuổi đó về sau kể lại đời sống
độc cư trong rừng: "Thật là khó chịu đựng sự độc cư trong rừng, khó thấy
niềm vui khi độc cư".Những khi phải ở một chỗ xa vắngï thì chỉ một con thú
đi ngang, hay một con công dẫm phải cành cây hay gió reo trong lá, là ta đã thấy
sợ rồi". Người tu sĩ tìm cách chế ngự cái sợ bằng kỹ luật tâm linh và thử
đạt nhận thức bằng cách "nghiến răng lại, ép lưỡi vào hàm trên, buộc tư tưởng
phải phục tùng tâm thức". Kết quả là Cồ-đàm chỉ chuốc lấy thất bại và nhận
thấy rằng tâm thì có thể kiểm soát được nhưng tri kiến không thể đạt bằng sự ép
buộc, nhất là khi vắng bóng trực giác. Sau đó Cồ-đàm thử áp dụng phép nín hơi
thở nhưng hậu quả là chịu đau đớn toàn thân.
Vì các phép tu nội tâm như thế không mang lại kết quả, Cồ-đàm
áp dụng phép khổ hạnh ngoại cảnh. "Vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống
cho đến nửa tháng mới ăn một lần, ăn cỏ hoang, ăn rong nước, ăn phân bò… vị ấy mặc
vải gai thô, vải phấn tảo y… vị ấy là người theo hạnh nhổ râu tóc, hạnh thường
đứng không ngồi, dùng gai làm giường... Thế nhưng, nhà khổ hạnh Cồ-đàm không đạt
được gì hơn là sự thán phục của năm vị tỉ-kheo mà chúng ta đã biết, ngoài ra
không có gì cả.
Cuối cùng, suy nghĩ về phương pháp tu học của mình, Cồ-đàm chợt
nhớ lại một kỷ niệm xưa. Cách đây nhiều năm, lúc còn ở với phụ vương, trong một
dịp xem vua cha tự tay đặt luống cày trong một buổi lễ, Tất-đạt-đa đang ngồi dưới
gốc cây bên bờ ruộng bỗng nhiên rơi vào một trạng thái hỉ lạc của thiền định.
Phải chăng đây là phương pháp quán sát đúng đắn, dẫn đến giải thoát ? Tự thấy một
thân thể hao mòn không thể chuyên chở một tâm thức sung mãn, Cồ-đàm từ bỏ khổ hạnh
và đó là bước ngoặt
Vị tu sĩ băng sông Ni-liên-thuyền, đến cây bồ-đề, chuyên tâm
thiền định và đạt trạng thái mà kinh điển gọi là "Tứ thiền". Trạng
thái tứ thiền chưa phải là giác ngộ, nó chỉ có chức năng chuẩn bị, có khả năng
dẫn đến giác ngộ. Ðức Phật giác ngộ vì ngoài tứ thiền, Ngài đã có thiện nghiệp
lâu đời và quyết tâm đạt tri kiến giải thoát. Ngài đạt thiên nhãn, thấy sự sống
chết của chúng sinh và của chính mình, thấy nguyên nhân của đời sống lang thang
vô tận này, thấy cách giải thoát ra khỏi cảnh đó và nhận rõ:
"Ta đã giải thoát, đây là đời cuối của ta, không còn sự
tái sinh nữa"
Việc từ bỏ các phép khổ hạnh và chuyên tâm thiền định để đạt
nhận thức là một hành động rất có ý nghĩa, không phải chỉ trong thời kỳ tôn
giáo trước công nguyên đó, mà cả trong thời đại khoa học hiện đại này. Thời nào
cũng thế, tất cả đều quay quanh câu hỏi, làm sao nhận thức được thế giới,
phương pháp nào là phương pháp có hiệu quả nhất. Muốn trả lời điều này, người
ta phải tự hỏi thế giới là gì, từ đâu mà có. Rồi từ câu trả lời đó về tự tính
thế giới - một câu trả lời có tính chất khẳng định tiên quyết, có tính cách như
một định đề - người ta mới bắt đầu tìm cách nhận thức nó, đó là một điều thực
ra là nghịch lý. Tất nhiên càng đi sâu vào nhận thức, định đề về tự tính thế giới
ngày càng rõ, nhưng cũng có lúc nó bị phủ định hay bị thay thế.
Ấn Ðộ giáo xuất phát từ niềm tin có một đại ngã siêu việt
xuyên suốt trời đất muôn vật, trong đó con người cùng một thể với đại ngã đó.
Thế nhưng vì con người có thân, thân đó che lấp thể tính chung nhất đó, như
"bình đất che ánh sáng tự thân". Vì thế muốn tiếp cận với đại ngã,
con người phải dùng phép du-già vượt qua giới hạn của thân, kiểm soát thân,
trong đó các phép khổ hạnh được xem là cần thiết. Vì lẽ đó, khổ hạnh hầu như là
đức hạnh trong Ấn Ðộ giáo.
Ðức Phật là người "cải cách" của Ấn Ðộ giáo ở chỗ
Ngài không quan tâm đến các vấn đề siêu hình, không đặt câu hỏi về nguồn gốc của
thế giới, không nói đến cái đại ngã, không thấy cần phải "cọng trú với Phạm
Thiên". Ðiều quan tâm duy nhất của Phật là làm sao thoát khỏi cảnh khổ thế
gian. Và phương pháp của Ngài là cách làm của một y sĩ, đó là hãy trước hết tìm
ra nguồn gốc của khổ. Ði từ điểm xuất phát đó Ngài thấy không có lý gì mà phải
tiếp tục con đường khổ hạnh. Muốn tìm ra nguyên nhân của khổ phải có trí tuệ chứ
không cần gì khác.
"Có hai điều cực đoan mà người xuất gia không nên làm
theo. Những gì là hai? Một là đắm say dục lạc thấp hèn, đê tiện, phàm phu,
không ích lợi, không cao cả. Hai là lao mình trong khổ hạnh, không ích lợi,
không cao cả.
Này các tỉ-kheo, xa lánh hai điều cực đoan này, Như Lai chánh
giác chứng ngộ trung đạo, phát sinh sự thấy, sự hiểu, đưa đến an tịnh, thắng
trí, niết bàn".
Ðó là đoạn đầu bài kinh Chuyển pháp luân, bài đầu tiên mà Phật
giảng sau khi phân vân mấy tuần liền, trong đó ta thấy rõ cái mà Ngài tìm kiếm
không phải là sự thống nhất với thánh thần, với đại ngã mà là sự thấy, sự hiểu.
Cái thấy là điều quan trọng bậc nhất trong đạo Phật mà con đường
đưa đến đó không gì khác hơn là phép thiền định. Nói một cách giản đơn, đó là
phương pháp nhiếp tâm, tỉnh giác để quán chiếu và thấy sự vật đúng như nó là.
Trong phương pháp đó không hề có sự cầu khẩn, van xin đến một ai khác.
Phần lớn chúng ta không hiểu tại sao phép thiền định, ngồi một
chỗ, hướng tâm vào bên trong mà lại phát sinh được tri kiến về thế giới. Ðó là
sự ẩn mật muôn đời của phép thiền định, chỉ có ai nếm trải rồi mới biết, chư Phật
chư Tổ có từ bi đến mấy cũng không thể giải thích cho chúng ta nghe. Nhưng có
điều chắc chắn là đối với Phật giáo tri kiến đích thực chỉ phát sinh trong thiền
định, "ở đâu có Phật giáo là có thiền định, ở đâu có thiền định là có Phật
giáo".
Phần lớn chúng ta cho rằng, muốn có tri kiến về sự vật, hãy đến
với nó và phân tích nó. Ðó chính là nền tảng bất di bất dịch của nền khoa học
xưa nay. Và muốn phân tích sự vật thì dụng cụ xuất sắc nhất của con người là khả
năng lý luận phán đoán, vắng bóng nó con người rơi vào tôn giáo thần bí. Nền
khoa học của chúng ta cũng có một định đề hẳn hoi về thế giới, đó là quan niệm
về một thế giới khách quan, độc lập với con người, con người chẳng may có chết
đi thì thế giới vẫn cứ trường tồn với thời gian. Với định đề đó, với dụng cụ
đó, con người đã lên đường từ gần 400 năm nay để tìm "cái thấy cái hiểu"
về thế giới và những thành tựu xuất sắc của nền vật lý làm ta thấy nhận thức đó
hẳn phải đúng đắn. Với thời gian, con người có thêm một dụng cụ đắc lực nữa, đó
là các thiết bị tinh vi để phát hiện, đo lường, tính toán các hiện tượng, chúng
là những trợ thủ đắc lực cho óc suy luận.
Với khả năng hùng hậu đó, nền vật lý hiện đại của thế kỷ này
đã đi sâu vào lĩnh vực vi mô cực nhỏ để phát hiện nền tảng cuối cùng của thế giới
vật chất, một thế giới mà người ta cứ nhất định cho là nó phải được xây dựng từ
các "hạt cơ bản". Ðó cũng là một thứ định đề mà không ai trong ngành
vật lý dám phủ nhận. Ngày nay sau hơn nửa thế kỷ tìm kiếm nguồn gốc cuối cùng của
vật chất, ngành vật lý hiện đại đang ở trong một cuộc khủng hoảng về nhận thức
luận. Ðó là, những hiện tượng trong thế giới vi mô đó không ăn khớp với lý luận
của chúng ta, dạng xuất hiện của chúng mâu thuẫn lẫn nhau, hành tung của chúng
tùy thuộc nơi cách ta quan sát chúng và quan trọng nhất, sự xuất hiện của vật
chất hầu như phụ thuộc nơi ý thức con người. Hiện nay người ta ngờ rằng vật chất
chỉ là dạng xuất hiện của một thực tại khác, thực tại đó bao gồm toàn thể vũ trụ,
trong đó có ý thức con người.
Trong nền vật lý hiện đại, thế giới hết là một thực thể khách
quan, óc suy luận thuần túy đã bớt hiệu nghiệm, nó còn gì là khoa học, nó khác
gì với tôn giáo? Người ta đi thêm một bước và thấy rằng, những gì mà nền vật
lý đang khám phá và cảm nhận rất trùng hợp với những kết luận của các thánh
nhân Phật giáo. Nhiều nhà vật lý nhận ra rằng, vũ trụ được mô tả trong Kinh Hoa
Nghiêm là hoàn toàn trùng hợp với quan niệm đương thời của vật lý học và ngày
nay có nhiều phát biểu về thế giới và vũ trụ mà người ta không biết của một nhà
vật lý hay một nhà đạo học. Trong một cuộc hội thảo gần đây tại Vienna (Áo), có
nhà vật lý dám đặt câu hỏi: "Nếu con người không ai nhìn mặt trăng cả thì
liệu mặt trăng có tồn tại không?". Ðiều đó có nghĩa, nhà vật lý không còn
xem thế giới vật chất hoàn toàn độc lập với ý thức con người nữa, nó nằm trong
một thể tương tác qua lại mà ngày nay ta gọi là "phi tuyến tính".
Cũng tại hội nghị đó, đại diện của Phật giáo là vị Ðạt-lai lạt-ma lại nói một
cách rất khiêm tốn theo luận giải Trung quán: "Sự vật chỉ có ý nghĩa trong
mối tương quan với các sự vật khác".
Ðiều cần kết luận nơi đây là phương pháp thiền quán của các
nhà đạo học đã dẫn đến những "cái thấy, cái hiểu" mà ngày nay nền vật
lý đang đối diện với những thiết bị tinh tế của họ. Tại sao một bên "nhìn
vào bên trong", bên kia "nhìn ra bên ngoài" mà cuối cùng lại có
một kết luận như nhau? Chỉ còn một câu trả lời duy nhất là cả bên trong lẫn bên
ngoài đều là những dạng xuất hiện của một nhất thể mà đạo Phật gọi là Chân như.
VESALI VÀ VƯỜN XOÀI CỦA NÀNG AMBAPALI
Từ Bodh Gaya, chúng tôi trở về Hoa Thị Thành để đi Vesali.
Vesali mà ngày nay được gọi là Vaishali chỉ cách Hoa Thị Thành chưa đầy 50 cây
số đường bộ, nằm phía bắc sông Hằng, ngày xưa là kinh đô của nước Licchavi.
Anh tài xế của chúng tôi, người Nepal, cho biết đường từ Hoa
Thị Thành đi Vesali cũng là đường đi Kathmandu, thủ đô Nepal, cách đó khoảng
200 km, anh nói với giọng u hoài nhớ quê hương. Ðường này đi lên phía bắc
Bihar, vượt cầu Mahatma Gandhi đến Hajipur, qua sông Hằng đúng chỗ sông rất rộng,
có cồn cát ở giữa. Ðây là chiếc cầu dài nhất châu Á với chiều dài khoảng 6 km.
Vesali là nơi Phật nhiều lần đến thăm viếng và cũng là trạm dừng
chân cuối cùng lúc Ngài đến chỗ nhập diệt của mình là Câu-thi-na. Tôi tự hỏi
ngày xưa Phật qua sông Hằng rộng mênh mông này bằng phương tiện gì.
Câu hỏi này xem ra quá tầm thường nên không thấy ai trả lời
trong kinh sách. Trong kinh, tôi chỉ nghe Ngài qua sông "dễ dàng"[1].
Trên đường đi tham bái tôi có quen với một tu sĩ người Tích Lan, tôi hỏi ông
ngày xưa Phật làm sao vượt biển tới Tích Lan được để nói kinh Lăng Già. Ông trả
lời gọn lỏn "thần thông". Về sau tôi khám phá trong ký sự của Huyền
Trang có đoạn nói về Phật trở về thăm viếng quê hương Ca-tì-la-vệ theo lời thỉnh
cầu của vua cha. Huyền sử chép Ngài đi bằng thần thông trên không và Huyền
Trang có hân hạnh tới xem chỗ Ngài hạ xuống mặt đất. "Tám vị Kim cương thủ
hộ tống Ngài, bốn vị Tứ thiên vương dẫn đường. Với toàn thể các thiên nhân cùng
đi, trời Ðế Thích bên trái và trời Phạm Thiên bên mặt, Phật đi ở giữa như mặt
trăng giữa các vì sao. Cả ba cõi đều rung động vì uy lực của Ngài, bảy thiên thể
đều lịm tắt trước hào quang của Ngài, Ngài vượt không gian và trở về quê
hương".
Vesali là kinh thành của tiểu quốc Licchavi nằm ở bờ bắc sông
Hằng, thời đó chỉ có khoảng 250.000 dân và rất thân thiện với nước Ma-kiệt-đà.
Nước này tuy nhỏ nhưng có một dòng dõi hiệp sĩ đông khoảng 14.000 người, cai trị
nước một cách rất sáng suốt. Một ngày nọ trong năm 524, lúc mùa mưa đã đến tại
phía nam sông Hằng và tại vườn Trúc lâm Phật bắt đầu ba tháng an cư để thiền định
và giáo hóa cho tỉ-kheo thì có một sứ giả từ bờ bắc sông Hằng đến Vương Xá. Người
đó là Mahali, bạn của Tần-bà-sa-la, ông báo tại Licchavi đang bị hạn hán trầm
trọng, đói kém và nạn dịch xảy ra, nhiều người đã chết. Mahali nhờ Tần-bà-sa-la
xin Phật đi Vesali cứu giúp. Năm năm sau khi thành đạo, lúc đó khoảng 39 tuổi,
lần đầu tiên Phật được thỉnh cầu thi triển thần thông. Vương Xá cách sông Hằng
khoảng 60km, Ngài lên đường cùng vài người hầu cận, "ngày thứ năm Ngài vượt
qua sông Hằng và vừa đến bờ bắc thì trời đổ mưa như trút". Và tương truyền
rằng nạn dịch cũng chấm dứt khi A-nan vâng lời Phật tụng đọc Bảo tích kinh, đó
là một bộ kinh có thần thông chữa bệnh.H 12: Hình Phật Thích-ca lúc khoảng 41 tuổi, tức là trong thời
kỳ kể trên. Hình này do đệ tử của Ngài là Phú-lâu-na (Purna) vẽ.
Bức tranh này
được giữ tại viện bảo tàng London
Vesali cũng là nơi mà ni bộ - tăng đoàn của phụ nữ - được thiết
lập mà người đầu tiên chính là kế mẫu của Phật. Sau khi vua cha Tịnh-phạn băng
hà, bà kế mẫu đã trở thành góa phụ đi bộ từ Ca-tì-la-vệ đến Vesali, tính ra khoảng
bốn năm trăm cây số, để xin Phật cho xuất gia. Phật đã từ chối nhưng tôn giả
A-nan là người năn nỉ xin Phật cho phép và cuối cùng bà được nhận lời. Vì cử chỉ
lịch sự với phái nữ này mà về sau A-nan bị tăng già khiển trách vì các vị tu sĩ
ngày xưa thấy quả thật sự hiện diện của phái nữ trong giới tu hành thật bất tiện.
Tại Vesali Phật còn có thêm một hành động cách mạng nữa trong
thời bấy giờ, đó là Ngài nhận lời mời thọ thực của một nàng kỹ nữ tên gọi là
Ambapali. Ambapali là một kỹ nữ với sắc đẹp hết sức kiều diễm, đã làm điên đảo
các vị công tử xứ Licchavi. Cả vua Tần-bà-sa-la phía nam sông Hằng cũng mê say
nàng, có với nàng một đứa con. Hay thay ngày xưa, mặc dù đường xá xa xôi, sông
Hằng cách trở mà niềm say mê và sinh hoạt xem ra không khác gì người thời nay.
Nàng Ambapali mời Phật thọ thực rồi lại cúng dường luôn một
vười xoài rất lớn và Ngài cũng thâu nhận, mặc dù trong xã hội Ấn Ðộ thời xưa với
quan niệm hết sức khe khắt về đẳng cấp, đó là một hành động lạ lùng.
Ðường đi đến Vesali dẫn tôi qua nhiều đoạn rừng núi và làng mạc.
Trong địa phận Vesali mà ngày nay nó chỉ là một quận nhỏ của Bihar, điều làm
tôi thấy lạ là ở đây rõ ràng có một khí sắc vương giả sang trọng, chúng phảng
phất trong màu lá, màu nắng, màu cỏ cây. Lạ thay, tôi cảm nhận khí sắc đó một
cách chắc chắn. Tại Vesali ta tìm thấy một trụ đá của A-dục vương còn nguyên vẹn,
trên đầu có hình sư tử. Dưới chân trụ đá là nền gạch đá của tu viện nữ ngày
xưa, theo kiến trúc thì cũng có nhiều phòng khác nhau, tương tự như Na-lan-đà
nhưng nhỏ hơn nhiều. Và thú vị thay, xa xa cách vài cây số là một khu rừng nhỏ,
cây lá um tùm, đó là vườn xoài của Ambapali!
Nàng kỹ nữ về sau trở thành tỉ-kheo ni và giác ngộ thành bậc
thánh [2]. Thế nhưng chắc nàng không bao giờ ngờ vườn xoài của mình sẽ được hậu
thế ghi chép và thăm viếng. Hành động của Phật, cứu độ cho những người thuộc
giai cấp "thấp kém", như xã hội Ấn Ðộ ưa miệt thị, như Ambapali, như
người thợ rèn Cunda, như kẻ sát nhân Angulimala, không những nói lên lòng từ bi
vô lượng, mà là trí huệ của Ngài chỉ rõ, tất cả con người đều có chung một tự
tính thanh tịnh, "... biết rõ rằng chúng sinh, người hạ liệt kẻ cao sang,
người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ..." [3].
Mùa mưa năm 484 trước công nguyên, lúc này sức khỏe vị đạo sư
đã tàn, Vesali này là chỗ Phật lưu trú và tại đây A-nan hỏi Ngài về một người kế
vị. Ngài trả lời: "A-nan, tăng đoàn còn trông chờ gì nơi ta? Ta đã giảng
giáo pháp không phân biệt trong ngoài...Ta đã già, năm tháng đã tận, cuộc đời
ta sắp chấm dứt, ta đã tới giới hạn của mình: ta đã tám mươi tuổi. Như một chiếc
xe bò đã cũ chỉ nhờ giây chằng buộc lại mà thành thì thân ta cũng chỉ nhờ giây
chằng mà có... Vì thế, A-nan, hãy tự mình là y tựa của chính mình, hãy dùng
chánh pháp mà làm nơi y tựa, đừng tìm y tựa nơi nào cả". Như thế sau Phật
không có người kế vị, giáo pháp chính là đạo sư hướng dẫn tăng đoàn.
Vài ngày sau khi nói lời này, Phật đi về hướng bắc, đến chỗ
nhập diệt tại Câu-thi-na. Một trăm năm sau khi Phật nói lời này, Vesali là chỗ
kết tập kinh điển lần thứ hai, tổng kết về giáo pháp, chỗ y tựa của Phật giáo.
Và cũng tại hội nghị này tại Vesali, giáo pháp đã phát triển và bị chia làm hai
phái, Thượng tọa bộ và Ðại chúng bộ và Ðại chúng bộ là tiền thân của Phật giáo
Ðại thừa sau này.
VARANASI, THÀNH PHỐ THIÊNG LIÊNG
Trên thế giới có những thành phố cổ như Theben ở Ai-cập,
Ninive hay Babylon ở Ba Tư. Chúng thành hình cả ngàn năm trước công nguyên, thậm
chí 1700 năm như Babylon, kinh đô rực rỡ một thời của miền Trung Á. Thế nhưng về
mặt cổ xưa, các thành phố đó lu mờ trước Varanasi, thành phố xuất hiện khoảng
3000 năm trước công nguyên. Có lẽ Varanasi chỉ thua kinh đô Trường An của Trung
Quốc với số tuổi 6000 năm khả kính. Khoảng năm 900 trước công nguyên, những người
dòng Arya của Ấn Ðộ đến Varanasi, biến nơi đây thành một kinh đô hùng mạnh về
thương mại cũng như tư tưởng học thuật. Và Varanasi phồn vinh tới ngày hôm nay,
trải qua gần 5000 năm lịch sử, trong lúc nhiều thành phố cổ khác đã điêu tàn.
Mark Twain, văn sĩ của Mỹ, đã đến Ấn Ðộ năm 1896 và dĩ nhiên
cũng đã thăm Varanasi, viết: "Varanasi xưa hơn lịch sử, cổ hơn truyền thống,
cũ hơn cả huyền thoại và tuổi của nó gấp đôi tất cả những thứ vừa kể cộng lại".
Không ai giải thích được tại sao Varanasi trở thành kinh đô
thiêng liêng của thần Shiva, nguồn gốc của nó hẳn nằm trong bóng tối của thần
thoại. Thế nhưng người ta cho rằng đó là "kinh đô ánh sáng", mới nghe
qua tưởng như Paris của châu Âu, nhưng không phải. Aùnh sáng ở đây là mặt trời,
và mặt trời mọc tại Varanasi bên bờ sông Hằng là một cảnh tượng kỳ lạ.
Tôi đến Varanasi bằng máy bay từ Kathmandu, thủ đô Nepal.
Varanasi là một thành phố không thể không tới nếu ta đến xứ Ấn Ðộ. Ðây là một
nơi mà người du khách thấy mình lùi lại vài trăm năm thời gian, nếu không muốn
nói cả ngàn năm. Vì lẽ đó, ngày nay Varanasi đầy khách du lịch, có sân bay quốc
tế từ nhiều nước đến. Có nhiều người đến Varanasi bằng tàu xe như tôi, nhưng rất
nhiều tín đồ Ấn Ðộ giáo đi bộ nhọc nhằn từ xa đến đây, họ tin rằng càng gian khổ
bao nhiêu trên đường đi đến thì tội lỗi càng chóng rửa sạch bấy nhiêu. Ai chết
ngay tại Varanasi này, linh hồn họ sẽ thoát khỏi sinh tử để về với Ðại ngã bao
la và vì thế mà nhiều người già đến đây đợi chết.
Vì lẽ gì mà Varanasi được xem là "quê hương" của thần
Shiva, là chỗ thiêng liêng nhất của Ấn Ðộ giáo? Thành phố này có thể sánh với
Jerusalem của Thiên chúa giáo, với Mecca của Hồi giáo. Bên bờ sông Hằng dài
2525km cũng còn những thành phố thiêng khác như Allahabad, Rishikesh, Hardwar.
Hãy t5am nghe lời giải thích của phương tây: tại Varanasi, sông Hằng uốn mình
nhìn ra phía đông để buổi sáng lúc mặt trời mọc, ánh dương chiếu tràn ngập bờ
sông, tín đồ tắm sông vừa ngâm mình trong nước thánh, vừa hưởng tia sáng của thần
Shiva. Vì thế Varanasi là đất thiêng của tín đồ Ấn độ giáo, đến Varanasi mà
không đi thăm sông Hằng lúc mọc trời mọc là xem như chưa đến.
Tôi ra sông lúc trời còn mờ tối, thuê thuyền đi dọc theo bờ.
May thay đó là một ngày nắng ráo, mặt trời chưa mọc mà ánh dương đã ngời sáng.
Thật là một cảnh tượng lạ lùng. Sông Hằng đoạn này rộng mênh mông, nước yên
tĩnh như mặt hồ. Từ dưới mặt nước, mặt trời như một quả cầu đỏ ối dần dần vươn
lên, treo giữa trời lơ lửng như một chiếc lồng đèn màu đỏ vĩ đại. Có lẽ vì
không khí ban mai còn đẫm sương đêm hay sao mà ta có thể nhìn thẳng mặt trời đỏ
rực, không bị chói mắt, thấy to hơn bất cứ mặt trời nào tôi đã từng thấy. Tôi
ngây người nhìn mặt trời không biết chán. Ôi, thì ra mặt trời hiện ra mà cũng
tùy cảnh tùy nơi, mỗi lúc một khác.
Xa xa giữa Hằng hà là những cồn cát của mùa nước cạn, thế
nhưng sông vẫn còn mênh mông những nước, phía đông mặt trời là một vùng hoang
vu, dưới là chỉ nước và cát, trên là một vầng dương kỳ diệu. Phía tây là thành
phố thì chỉ toàn người và người, người từ đâu đến? Hàng ngàn người tắm gội giữa
giòng sông, họ lặn hụp, đứng yên, vái lạy, khẩn cầu... Tất cả đều nhìn về mặt
trời đỏ đang chiếu rọi. Dọc sông Hằng tại Varanasi là các bến sông mà người Ấn
gọi là "Ghat", nơi mà tín đồ Ấn độ giáo tràn ngập xuống sông, đó là
những chỗ để họ cầu nguyện, cúng dường, thiền định, bố thí, khất thực, thiêu
xác, rải tro, tắm rửa, bói toán, thắp đèn, thả hoa. Trong mấy mươi Ghat trải dài
khoảng mười cây số đó thì Dasaswamedh-Ghat là thiêng liêng nhất, đó là nơi vị
sáng tạo vũ trụ Phạm Thiên đã cúng dường "mười con ngựa". Tại
Manikarnika-Ghat có một cái hồ nhỏ, nơi tương truyền thần Vishnu đã dùng dĩa
đào lên và đổ mồ hôi vào đây.
Tôi đi thuyền dọc sông Hằng vừa ngắm mặt trời, vừa nhìn thế
nhân, vừa thả đèn và hoa tươi đúng phép tắc, không biết mình đang ở thế kỷ hai
mươi hay thời đại nào. Trên các bãi thiêu xác dọc theo sông, có những kẻ đã rời
đời sống hỗn loạn này của trần gian ra đi trong lửa đỏ cháy bập bùng. Mùi gỗ,
mùi da thịt lẫn trong mùi nhang trầm và tiếng tụng niệm bay trong không gian.
Người ta nói với tôi cảnh tượng này cũng là cảnh tượng của mấy trăm năm cũ, mặt
trời và giòng sông thì không hề thay đổi đã đành, con người và cách cúng tế
cũng thế. Chỉ có điều khác là ngày nay người ta người ta tụng niệm trong loa
phóng thanh và vì thế mà tiếng ồn ào và sự hỗn loạn có lẽ còn hơn ngày xưa.
Cách đây 13 thế kỷ, lúc Huyền trang đến Ba-la-nại[4], đó cũng
là tên của Varanasi, ông đã viết về các tu sĩ Ấn độ giáo: "Phần lớn trong
số họ tôn sùng thần Shiva. Kẻ thì cạo đầu, kẻ thì bối một nhúm tóc trên đỉnh đầu.
Một số khác thì lõa thể tự nhiên đi ngoài đường. Kẻ khác thì thoa tro lên người
hay tự chịu nhục hình để mong trốn khỏi luân hồi... "
Huyền Trang cũng tìm thấy một bức tượng Shiva mà ông mô tả
"đầy sự cao quí uy nghi mà khi nhìn người ta thấy có một lòng kính sợ tôn
thờ, dường như thần đang hiện diện...". Ngày nay, sau những Ghat chính là
đô thị cổ Varanasi với cơ man nào là đền, thờ thánh thần mang dạng người, dạng
thú. Tượng của Huyền Trang nói đến chắc nằm trong đền Vishawanath. Ngôi đền mái
vàng này đã bị tín đồ Hồi giáo phá hủy trong thế kỷ thứ 18 và nay đã được xây dựng
lại. Ðó là đền lớn nhất và thiêng liêng nhất của Ấn Ðộ giáo. Tôi đi theo những
ngõ hẹp của Varanasi, tâm chỉ biết mở ra đón nhận những ấn tượng vô cùng trái
ngược. Ðã đi nhiều nơi trên thế giới, nhưng chưa nơi nào tôi có ấn tượng của sự
đối nghịch tuyệt đối như Varanasi. Những đền đài thếp vàng bên cạnh mái tranh lụp
xụp, trẻ con bụi đời Ấn độ chen chúc với khách du lịch nước ngoài, những con đường
đầy phân bò và bùn đen bên cạnh những ngôi đền cẩm thạch bóng loáng. Các thứ bột
đầy màu được bày bán trong các basar mờ lẫn trong khói nhang trầm sặc sụa.
Tiếng còi xe xen lẫn với tiếng ăn xin, tiếng chào mời của các tiệm bán tơ lụa
chen với tiếng cầu nguyện trong giáo đường sát bên cạnh. Ðây là nơi hầm hập hơi
thở của sự sống, của niềm mơ ước và hẳn cả của sự tuyệt vọng. Vì làm sao với số
lượng con người khủng khiếp đó ai cũng có thể có hạnh phúc ? Thế nhưng nhìn
khuôn mặt của con người ở đây, kể cả những người ăn xin hay tàn tật, tôi thấy một
sự chấp nhận, thậm chí bình an, tâm trạng của những người có cảm tưởng mình
đang "trả nghiệp", theo quan niệm của Ấn Ðộ giáo. "Hỡi trần gian
hỗn loạn và điên dại này, ta vẫn cứ yêu thương mi".
LỘC UYỂN
"Trên núi có một con đường đá, chỗ đó người có thể đánh
đổi sự luân hồi hỗn loạn với hạnh phúc thanh tịnh vô biên", đó một câu ca
của Milarepa [5], thánh nhân Tây Tạng sau khi tìm được sự giác ngộ.
Milarepa ca bài ca này khoảng mười lăm thế kỷ sau khi Phật đến
vườn Lộc Uyển, chỗ cách Varanasi không đầy tám cây số, một chỗ cũng hết sức
thanh tịnh, không còn dấu vết gì của "trần gian hỗn loạn và điên dại"
trên bờ sông Hằng.
Lộc Uyển, một công viên tại Sarnath, ngoại ô Varanasi là chỗ
Phật giảng pháp đầu tiên, một trong bốn thánh địa của Phật giáo. Tại sao Phật
thành đạo tại Bodh Gaya mà lại đến Lộc Uyển để giảng pháp, chỗ cách Bod Gaya
210 cây số đường chim bay, mà theo nhà Phật học Schumann tính lại, Ngài phải đi
mất khoảng 14 ngày mới tới. Schumann cẩn thận tính rằng mỗi ngày Phật phải mất
thì giờ khất thực và nghỉ trưa vì trời quá nóng nên cần khoảnh thời gian đó[6].
Nhiều nhà Phật học phương Tây ngờ rằng đức Phật, với tính
cách là "nhà cải cách" Ấn độ giáo đã chủ tâm đến Varanasi, quê hương
của Ấn độ giáo, để truyền bá Phật giáo. Thế nhưng người hiểu đức Phật sẽ sớm thấy
Ngài không làm như thế, thậm chí Ngài phân vân không biết nên giảng pháp không,
thứ pháp "khó hiểu, khó tin, chỉ dành cho người có trí". Chỉ sau khi
nghe Phạm Thiên khẩn cầu, Ngài mới thốt lên "cửa đã mở cho ai biết nghe, cửa
thoát vòng sinh tử" và mới sẵn lòng giảng giải. Ngày nay, có đạo Phật, ta
phải cám ơn ba vị, đó là Phạm Thiên nhiều công đức đã đi làm công tác thuyết phục,
Ca-diếp nhiều uy tín đã triệu tập hội nghị kết tập và A-nan nhiều trí nhớ đã đọc
lại những gì từng nghe.
Giảng cho ai? Ðầu tiên Phật nghĩ đến hai vị thầy cũ, Alara
Kalama và Uddaka Ramaputta, nhưng với thiên nhãn Ngài biết hai vị đã chết. Sau
đó nghĩ đến năm vị tỉ-kheo đã từng cùng tu học trong rừng Uruvela, Ngài thấy họ
hiện ở trong vườn Lộc Uyển gần Varanasi và lên đường đi đến. Ðó là năm 528 trước
công nguyên.
Thế nhưng năm vị tỉ-kheo không phải là người đầu tiên nghe
chuyện. Trên đường đi Phật gặp một tu sĩ khổ hạnh theo phái lõa thể [7] tên là
Upaka. Upaka thấy Phật xem ra trang nghiêm mới hỏi Ngài tu phép gì, thầy dạy là
ai, đó là cách hỏi thông thường mà Xá-lợi-phất cũng sẽ hỏi. Phật trả lời thành
thực, Ngài đã thoát khổ, không ai là thầy của Ngài, bản thân Ngài đã là một đạo
sư. Upaka lắc đầu không tin bỏ đi nhưng còn lịch sự chúc "mong được như thế,
huynh đệ".
Tại Lộc Uyển, năm vị tỉ-kheo gặp Ngài mới đầu không muốn chào
vì cho Ngài đã bỏ cuộc, không theo nổi con đường tu hành khổ hạnh. Thế nhưng họ
thấy dáng điệu Ngài quá cao quý nên mới mời ngồi và cũng gọi Ngài là
"huynh đệ". Phật nhẹ nhàng sửa lại hãy gọi Ngài là Như Lai và giảng
bài pháp đầu tiên mang tên "Kinh chuyển pháp luân", nội dung chính là
"Bốn sự thực chân chính". Nghe xong, Kiều-trần-như đắc quả A-la-hán
và trở thành tỉ-kheo đầu tiên của tăng đoàn. Kiều-trần-như không phải là ai xa
lạ với Phật, ông là người trẻ nhất trong phái đoàn của tám bà-la-môn đến đặt
tên cho thái tử Tất-đạt-đa lúc thái tử mới sinh ra đời.
Tôi đến Lộc Uyển và thấy tượng Phật ngồi thuyết giảng cho năm
vị tỉ-kheo. Sáu vị ngồi yên lặng trong nắng sớm. Ôi, hai mươi lăm thế kỷ đã
trôi qua, tiếng nói ngày xưa đâu còn nghe rõ.H 13: Sơ đồ vườn Lộc Uyển. Bên mặt là tháp Dhamekh.
Ðền hình
vuông bên trái là Mulagandhakuti, cạnh đó là
tháp vua A-dục. Dấu hình tròn phía
dưới là nền đá
của tháp Dharmarajika [8]
Ngày nay vườn Lộc Uyển là một công viên cực lớn với một hàng
rào đá, được chăm sóc kỹ lưỡng. Trong công viên là những bãi cỏ xanh tươi với
những bụi cây nhỏ rực màu đỏ và tím. Tháp nổi bật nhất tại Lộc Uyển là tháp
Dhamekh, cao 33 mét. Suốt một thời gian người ta không biết rõ tháp này có sự
tích gì nhưng về sau các nhà khảo cổ tìm ra được nơi đó một bảng đề
"dhamaka" (pháp luân) mới chắc rằng đó là chỗ Phật giảng bài pháp đầu
tiên. Nó được xây bằng gạch trước thời A-dục vương, thế kỷ thứ ba trước công
nguyên.
Lộc Uyển chính là nơi thành lập tăng đoàn. Nơi đây ta còn thấy
một trụ đá của vua A-dục với những dòng chữ: "Tăng đoàn không được chia rẻ.
Dù tăng hay ni, ai chia rẻ tăng đoàn, người đó phải mặc áo trắng (chỉ cư sĩ) và
ở một nơi không có tăng đoàn". Tại Lộc Uyển còn một chỗ thiêng liêng, kỷ
niệm trú xá của Phật trong mùa mưa [9] năm 528 trước công nguyên. Tại đây các tỉ-kheo
đã làm cho Phật một cái chòi lá. Ðến thế kỷ thứ ba trước công nguyên chòi này
biến thành một cái đền và tiếp tục được xây dựng thêm trong những thế kỷ sau.H 14: Tượng Phật chuyển pháp luân được tìm thấy
tại Lộc Uyển
và hiện được chưng bày tại bảo tàng viện
tại đây. Tượng bằng đá, cao 160cm, thuộc
niên đại Gupta
(thế kỷ thứ 5), là một trong những tượng đẹp nhất,
được đúc lại
nhiều lần. Tay Phật bắt ấn chuyển pháp luân.
Phía dưới, bánh xe pháp được khắc
họa, hai con nai hai bên
trình bày địa danh Lộc Uyển (Lộc: nai).
Các người ngồi
nghe là năm vị tỉ-kheo và một nữ cư sĩ
(người cúng dường bức tượng) và đứa
con [10].
Trong thế kỷ thứ bảy khi Huyền Trang đến đây thì đền này đã đắp
cao lên đến 60 mét mang tên Mulagandhakuti. Ngày nay đây chỉ còn một nền đá
hình vuông mỗi chiều khoảng 13 m, dày 2 m, cao chưa đầy 5 m và là nơi nhiều
khách hành hương ngồi thiền định.
Phía nam của đền này là một nền đá hình tròn, đường kính khoảng
14 m. Ðó là nền của tháp Dharmarajika, ngày xưa vua A-dục cho xây để thờ xá lợi
Phật. Tháp này bị phá hủy cuối thế kỷ thứ 18 vì người ta cần gạch xây nhà !
Trong lúc đào tháp lấy gạch người ta tìm ra một hộp đá đựng xá lợi của Phật và
thả xuống sông Hằng theo truyền thống Ấn Ðộ.
Lúc tôi đến nền đá hình tròn này, một đoàn khách hành hương
người Nhật đứng tụng kinh trước nền tháp cũ. Họ tụng tiếng Nhật nên tôi chẳng
hiểu gì nhưng đoán nó phải là kinh Chuyển pháp luân hay Vô Ngã tướng, hai bài
kinh Phật thuyết nơi đây. Tôi đứng nghe tiếng tụng kinh trong nắng sớm, thấy giống
tiếng tụng kinh của ông tôi ngày xưa. "Tôi nghe như vầy: một thời đức Thế
Tôn trú tại thành Ba-la-nại, chỗ chư tiên đọa xứ, vườn Lộc Uyển. Lúc bấy giờ đức
Thế Tôn gọi năm vị tỉ-kheo rằng...".
Với lòng cảm khái vô hạn, tôi nhớ từ "Lộc Uyển" xa
xăm của thời thơ ấu và không ngờ lớn lên mình đến được đây. Thì ra tất cả đều
có thật. Chợt tôi để ý đoàn hành hương Nhật không thắp nhang, không hiểu tại
sao. Tôi rút nhang Việt Nam trong ba-lô ra thắp, cắm vào một kẻ đá của nền tháp
cũ và ngơ ngẩn nhìn khói hương bay trong gió quyện với tiếng kinh du dương trên
bầu trời Lộc Uyển.
"... Vậy nên, này các tỉ-kheo, tất cả các thức hiện tại,
quá khứ hay vị lai, nội tâm hay ngoại cảnh, thô hay tế, hạ liệt hay cao sang,
xa hay gần, tất cả thức ấy ‘không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự
ngã của tôi’. Chính như vậy chúng ta phải quán xét với như thật chính kiến" [11].
Vô ngã là một trong những đặc điểm làm Phật giáo khác với Ấn
Ðộ giáo và là cái đặc sắc nhất của nền triết học đạo Phật. Không có gì tồn tại
tự nó [12] cả và con người chỉ là một sự giả hợp của năm nhóm - ngũ uẩn, tức là
của các yếu tố tâm lý và vật lý. Các ngũ uẩn đó vận hành vô chủ, chúng tuân thủ
thói quen của mình vốn đã biến thành nghiệp lực. Tính chất của vô ngã sâu xa đến
độ các môn phái Phật giáo cũng khác nhau khi hiểu khái niệm này. Ðó là một khái
niệm mà ta có thể dùng trí để hiểu được nhưng không thể "ngộ" được nó
đích thực vì bản thân cái trí ta dùng để hiểu nó lại vương đầy ngã chấp. Ðạt được
vô ngã đích thực là đạt Niết bàn, không có cá nhân nào đi vào Niết bàn cả [13]..
Chú thích:
[1] Trường bộ kinh, 16
[2] Theo Trưởng lão ni kệ (Therigatha 252-270), thuộc Tiểu bộ
kinh
[3] Ðoạn thường có trong các tập Bộ Kinh
[4] Benares
[5] "Người mặc áo vải khổ hạnh", 1052-1135
[6] Trong lúc phương Tây chính xác như thế thì người Ấn Ðộ,
do quan niệm "miên viễn" của họ, lại thiếu chính xác về thời gian và
số lượng. Trong lịch sử họ thường tùy tiện ghi "vài trăm năm" để chỉ
một khoảng thời gian nhất định và hay dùng con số 500 để chỉ số lượng lớn.
Trong các Kinh ta hay đọc thấy các đạo sư với "năm trăm đệ tử" hay
nhà vua với "năm trăm cỗ xe"
[7] Có lẽ thuộc phái Ni-kiền-tử (Jain), phái này ngày nay vẫn
còn
[8] Hình trích của H.W.Schumann, Auf den Spuren des Buddha
Gotama, Walter Verlag, Freiburg
[9] Thường kéo dài từ tháng sáu đến hết tháng chín mỗi năm
[10] Hình trích của H.W.Schumann, sách đã dẫn
[11] Trích kinh Vô Ngã tướng (Anatta Lakkhana Sutra), Việt dịch
của Thích Thiện Châu
[12] inherent existing
[13] Xem "Vô ngã là niết bàn" của Thích Thiện Siêu.
Nguyễn Tường Bách
Theo http://chimviet.free.fr/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét