Tây Ninh - "Tỉnh lẻ biên thùy"
LTG - Do nhờ yếu tố về địa lý mà vào những năm đầu sau thời kỳ
1975, thì lúc bấy giờ, Tây Ninh được coi như là một trong ba của năm tỉnh thành
thuộc vùng Đông Nam Việt Nam có mức sống khá cao, nếu tính trên mức tiêu thụ
bình quân của đầu người. Trong lịch sử Nam tiến của người Việt, dấu ấn của miền
sơn cước địa phương do thế hệ ông cha của chúng ta để lại, quả là một công
trình khai phóng biên cương đầy mạo hiểm, nhọc nhằn. Chính vì biết bảo tồn di sản
thiêng liêng của dân tộc mà hàng hàng, lớp lớp người Việt Nam đã bao năm qua từng đến
đây lập nghiệp, đều lúc nào cũng gắng sức, chung lòng, để xây dựng nên hình ảnh
của một quê hương thanh bình, hạnh phúc...Núi Bà ĐenTìm nhau trên bước đường xa
Vui mừng gặp lại cùng là đồng hương
Bao năm đất khách tha phương
Biết ai tâm sự tình thương nhớ nhà? *
Tôi ra đời trên miền đất hoang vu có tình người đơn sơ, hiền
lành, mộc mạc, xóm làng lưa thưa độ chừng có được năm bảy túp lều tranh. Ngày
tháng lần trôi, ngọn núi Bà Đen vẫn thường che khuất bóng mặt trời khi tang tảng
sáng và cuộc sống cô thôn êm trôi như tờ lịch rớt hằng ngày.
Đây là những hình ảnh kỷ niệm về Tây Ninh đối với tôi từ thuở
thiếu thời. Nhưng nó đã chứa chan một sức sống trọn vẹn cho cục đất quê hương,
mà người dân địa phương thường hãnh diện, ca tụng như là một vùng địa linh nhân
kiệt đã hài hòa với khí thiêng sông núi, hun đúc nên biết bao nhiêu kẻ sĩ người
hiền, để làm vui đời sáng đạo, góp phần vào công to nghiệp cả điểm tô đất nước.
Thường những người Việt Nam chưa bao giờ có dịp đặt chân đến
nơi này. Nhưng hễ mỗi khi nghe nói đến hai tiếng Tây Ninh thì trong lòng không
thể không rung động, để hình dung ra ngay hình ảnh ngọn núi Bà Đen cao nhất tại
miền Nam Việt Nam. Và vùng thánh địa Cao Đài, cùng với các địa danh như giáo đường
Tha La in hình trên dòng sông Vàm Cỏ Đông hiền dịu v.v... Rồi cùng nào là những
khu vực của chứng tích lịch sử, từng được coi như là vùng oanh kích tự do trong
thời buổi chiến tranh chạy dài từ rừng Bời Lời, tới vùng đất Mỏ Vẹt v.v... Nói thực
tế hơn, Tây Ninh là một tỉnh lẻ biên thùy nằm ở phía Đông miền Nam Việt Nam. Một
nơi có những danh lam thắng cảnh được nhắc nhở khá nhiều tương tợ như miền
An Giang, Châu Đốc có đạo Hòa Hảo, có dãy Thất Sơn và miếu Bà Chúa Xứ. Tuy
nhiên, về phương diện đặc thù của địa lý, lịch sử thì tầm địa bàn chiến lược về
quân sự ở Tây Ninh có phần quan trọng hơn hẳn vùng bảy núi miền Tây. Và chính
những sự kiện đó được chứng minh bằng những chiến công hiển hách, danh dự hàng
đầu của các thế hệ trải qua từng thời kỳ cha ông mở rộng biên cương, chống giặc.
Thậm chí cho tới ngày nay, thì cái tên của tỉnh Tây Ninh cũng như trường hợp của
những quê hương khác như cố đô Huế, thành phố Sài gòn, đầm lầy Đồng Tháp Mười,
xứ dừa Bến Tre, đất mũi Cà Mau v.v... vẫn được cả đồng bào ở trong và ngoài nước
luôn quen miệng nhắc nhở, kêu gọi bằng một cách trân quý, thân thương.
Ngược dòng thời gian từ thuở Vương quốc Khờ Me (Khmer) còn
thái bình thịnh trị. Lãnh thổ của họ trải dài từ đền Angkor giáp tới vùng địa
lý không gian sinh tồn của sắc dân Phù Nam (Funan) có núi non này, cho đến tận
biển Đông. Và mãi đến ngày nay, hiện vẫn còn để lại nhiều dấu tích cổ xưa trong
những vùng hoang vắng. Chính về mặt địa lý, lịch sử đặc biệt đó, mà trước kia,
đã phát sinh có những hoài bảo không chính đáng của nhóm thiểu số từ nước bạn
láng diềng. Lúc nào họ cũng muốn như đơn phương khắc phục lại mảnh đất sinh tồn,
nguyên nguồn gốc là của tổ tiên vương quốc dân tộc Phù Nam đã dày công tạo dựng
tự bao đời. Nơi mà có đất đai đặc biệt, chỉ phù hợp cho loại cây Thốt Nốt được
mọc lên trải dài qua tận vào trong xứ của nước Thái-Lan. Và nếu giờ đây, tại
các tỉnh cũ miệt Trà Vinh, Sóc Trăng hãy còn rõ rệt những nét văn minh của người
Khờ Me ở tại các chùa chiền và Sóc (làng), thì vùng đất Tây Ninh dấu ấn đó còn
chăng, chỉ là những thành lũy, hào sâu đã lần lượt nghiêng ngả, xoáy mòn theo lớp
bụi thời gian với lớp sóng phế hưng.
Châu thành Tây Ninh cách thủ đô Hà Nội 1809km theo quốc lộ 1.
Cách cố đô Sài Gòn độ non một trăm cây số ngàn theo quốc lộ 22A. Và cũng từ
thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, nếu muốn lên tận Tây Ninh thì phải đi ngang qua
khu công nghiệp hiện đại và vùng di tích địa đạo Củ Chi, nơi được báo chí quốc
tế nói đến rất nhiều trong thời kỳ xảy ra cuộc chiến tranh Mỹ Việt. Hiện vị trí
này đã trở thành một địa điểm du lịch, thu hút được rất nhiều du khách đến tham
quan. Nhưng trước khi đặt chân lên đến đất Củ Chi, mà nếu cũng khởi hành từ miền
Gia Định thì bắt buộc du khách phải xuyên qua phần đất của Hóc Môn, của Mười
Tám Thôn Vườn Trầu, một chiến khu của du kích quân trong phong trào Nam kỳ khởi
nghĩa năm xưa. Và cũng nếu muốn gợi ra thêm một hình ảnh của kỷ niệm hãy còn in
đậm trong tinh thần đoàn kết dân tộc, để chống đối giặc xâm lăng thì cần phải
nói rõ thêm... Là trước khi vào địa phận Hóc Môn thì người ta bắt buộc phải đi
ngang qua vùng đất Bà Quẹo **, là nơi đã từng diễn ra những cuộc họp liên kết đảng
phái chính trị chống chế độ thuộc địa của thực dân Pháp.
Bỏ lại địa đạo Củ Chi, người hướng dẫn du lịch sẽ đưa bạn tiếp
tục cuộc hành trình tiến về Tây Ninh. Qua khỏi Suối Cụt là tới Trảng Bàng. Quận
lỵ này là một vùng đất có lắm danh nhân văn võ trải qua nhiều thời đại, thuở nhỏ
vốn xuất thân từ mái trường vỡ lòng Cao Cẳng, trước khi ra thành đổ đạt, lập
nghiệp thành danh. Tại đây, dân cư không giàu nhưng tình văn nghệ thì không thiếu.
Và người ta có thể nói, ở địa phương này chính là đất dụng võ của các đoàn ca kịch
cải lương từ thời của các ông bầu lớn như Năm Nghĩa, Bảy Cao v.v... Lúc bấy giờ
là thời kỳ vàng son của các lớp thế hệ kép mùi, đào thương đang lên nổi danh
như: Út Trà Ôn, Năm Phỉ, Phùng Há, cho tới về sau có kỳ nữ Kim Cương, cải lương
chi bảo Thanh Nga v.v... Tất cả những đoàn hát lớn nhỏ nào cũng đều có dịp lưu diễn
ở tại rạp hát Đồng Phước, ở kế nhà Vuông gần chợ Trảng Bàng. Hình ảnh chiếc xe
thổ mộ treo bên hông hai tấm bảng vẽ tuồng hát với nhiều màu sắc lòe loẹt, rực
rỡ. Một cậu bé ngồi phía sau đập trống "thùng thùng" chạy vòng quanh
mấy con đường rải giấy quảng cáo vào những buổi chiều về, quả là một kỷ niệm
văn nghệ tình quê êm đềm, xa xưa đầy thú vị, mà ngày nay làm sao tìm lại được
hình ảnh thân thương này nơi thôn Trảng!
Cái thành phố nhỏ xíu như vậy mà khi xưa có tới hai cái chợ.
Chợ Gia Lộc và chợ Gia Huỳnh. Chợ Gia Huỳnh còn được gọi là chợ hàng bông, vì số
lượng lớn rau cải chở về Sài Gòn hằng ngày. Còn chợ Gia Lộc ngày xưa nằm tiếp
giáp con kinh xuôi về An Tịnh đưa tới Lộc Giang, Tha La hoặc Bàu Trai, Tân Mỹ.
Dân cư ở vùng này có truyền thống quật khởi, đã từng tham gia vào Phong Trào
Thanh Niên Tiền Phong, tầm vông vạt nhọn, chống giặc giữ làng. Cho nên, đã được
nhà chí sĩ Nguyễn An Ninh thường xuyên từ Hóc Môn cỡi xe đạp lên bán dầu cù là,
để nhân cơ hội cổ võ, hô hào nhân dân đứng lên làm cách mạng, lật đổ chế độ thuộc
địa của thực dân Pháp. Ngày nay, cảnh cũ đổi thay, chợ mới Trảng Bàng đã được
xây cất tại ngã ba Lộc Du cũ, gần hai ngôi chùa cổ Phước Lưu và Phước Lâm. Bên
cạnh, là ngõ đường đi vào giáo đường Tha La; nơi nổi tiếng lưu truyền có những
chàng trai anh tuấn năm xưa xếp việc bút nghiên, để xung phong hăng hái lên đường
theo tiếng gọi của hồn thiêng sông núi.
Nhớ lại thời kỳ lúc bấy giờ, có một chiến sĩ hiên ngang từng
tham gia phong trào Thanh Niên Tiền Phong vừa về tới chiến trường vùng đất
Tha La, thì bị giặc bắt đem về xử bắn tại sân banh Trảng Bàng. Trước khi ngã gục
trước họng súng của quân thù, thì người anh hùng oai dũng không khuất phục đó
đã có mấy lần hô to lên mấy tiếng "Việt Nam muôn năm".
Từ phố cũ Sài-Gòn đi Tây Ninh. Đến đây, thì đã được phân nửa
đoạn đường và còn khoảng hơn mười cây số ngàn nữa thì tới Gò Dầu Hạ. Gò Dầu Hạ
nguyên là một quận biên thùy quan trọng về kinh tế của tỉnh Tây Ninh có tầm
sinh hoạt bán buôn, dạo nào, cũng giống như hình ảnh ở cửa Hữu Nghị, Móng Cáy
miền Bắc ngày nay, và cũng giống như ở Hà Tiên miền Tây ngày trước. Tại những
nơi này tràn ngập hàng nhập lậu từ Trung Quốc, Thái Lan và Cam Bốt. Nếu ở
Hà Tiên ngày trước, mỗi lần muốn đi đến địa điểm đổi trao hàng lậu phải đi
ngang qua Thạch động, thì hồi đó khách hàng mua bán ở quận lỵ này (Gò Dầu Hạ) muốn
tới địa điểm để giao thương, thì phải băng qua cây cầu biên giới đưa đến phần đất
phía bên kia của Gò Dầu Thượng để tải hàng hóa bất hợp pháp.
Lịch sử của chợ trời biên giới khi xưa này có lẽ đã xuất hiện
đầu tiên cùng lúc với chợ trời nhập lậu Hà Tiên, đều xảy ra dưới thời đất nước
bị phân đôi và cũng vào lúc mà miền Nam Việt Nam cùng Cam Bốt cắt đứt mọi liên
hệ ngoại giao với nhau. Ngày xưa, đoạn đường buôn lậu từ Gò Dầu Hạ về gần tới Lộc Du
thì thực là nguy hiểm, vì khi vừa ra khỏi Gia Bình thì hai bên vệ đường đều có
trúc tre rậm rạp mà bọn thảo khấu thường hay lợi dụng vào địa hình trắc trở để
cướp giật, giết người cướp của gieo tai họa cho bao gia đình vô tội ngày nào.
Ngày nay, cửa khẩu Mộc Bài ở Gò Dầu Hạ là một nơi bán buôn sầm uất, xe cộ dập
dìu nhờ nằm ở cạnh sát biên giới hai quốc gia Việt Miên. Nơi đây lại còn có cả
một sòng bạc bên kia cửa khẩu được tổ chức theo tiêu chuẩn quốc tế, cho nên đã
thu hút được rất nhiều khách hàng ham thích sát phạt, mua vui thú đỏ đen...
Tuy nhiên, ai kia mỗi khi có dịp viếng thăm ngọn núi Bà-Đen
và vùng thánh địa Cao Đài thì nhớ đừng quên ghé lại quận lỵ Trảng Bàng, vì đây
là cái mốc dừng chân trên điểm hẹn. Trữ tình, ngào ngạt, êm đềm qua tiếng hát mộc
mạc quê hương:
Quê tôi là đất ruộng đồng
Sớm chiều hai buổi nông dân cày bừa
Trồng khoai, trồng đậu, trồng dưa
Lúa cao, mía tốt nhờ mưa thuận mùa *
hay như có dịp để gợi lại những hình ảnh không gian đầy ấn tượng
của buổi chia ly nước mắt
... Hồi còi giục giã xuống tàu
Tâm tình xin gởi trọn vào tình thương
Chiều tà vọng nhớ cố hương
Mái trường Cao Cẳng, giáo đường Tha La *
mà thời gian dù mờ nhạt phôi pha vẫn còn để lại dấu chân kỷ
niệm của năm nào bên sông vắng. Nói một cách khác, Trảng Bàng vốn là đất của
giai nhân ra đời từ hết thế hệ này sang thế hệ khác. Và đã từng gây ra nhiều trận
sóng tình biến thành thảm họa, khổ đau được đưa lên mặt báo chí bao lần. Nhưng
nếu thời gian quá ngắn không đủ để cho khách nhàn du vào tận miền cây xanh trái
ngọt Tha La để thưởng thức hương vị đồng quê. Hay đến mả Trúc, giếng Mạch nhìn
thấy núi Bà ở tận chân trời để quay phim, chụp hình kỷ niệm, hồi tưởng lại đường
tiến quân của nhà Nguyễn chinh phạt lân bang, thì món kẹo hột điều, món muối
tôm, bánh ú lá tre, đặc biệt là những lò bánh canh sẽ không thiếu những tô bánh
canh giò heo, bánh tráng nướng phơi sương được biến chế độc đáo chỉ có thể tìm
thấy nghệ thuật gia chánh ở nơi này. (Tưởng cần nói thêm rằng hàng bao thập
niên dài về trước, vùng đất Nam kỳ từ miệt lăng ông tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức ở
Long An đến lăng ông tả quân Lê Văn Duyệt ở Gia Định. Và nói riêng, từ Trảng Bàng
đến Kà Tum (địa phận Tây Ninh) người ta còn thấy có rất nhiều ngôi mộ hoang
(xưa) được chôn cất chu đáo, xung quanh có đào hào, trồng tre trúc rậm rạp mà
dân địa phương quen gọi là mả Trúc. Dưới thời vua Minh Mạng, đất Trảng Bàng từng
là hậu cứ quân sự của vị tư lệnh chiến trường Việt Miên Trương Minh Giảng. Và
cũng bắt đầu từ thời kỳ này, mà về sau, đã có phát sinh ra một loại huyền thoại,
hư cấu, truyền khẩu dân gian trong xã hội của người Khờ Me nói về hình ảnh chụm
đầu ba ông sãi)...
Cũng dưới thời Minh Mạng, phủ Tây Ninh được thành lập đầu
tiên với hai quận là Tân Ninh và Quang Hóa. Còn thực tế ngày nay, thì tỉnh
Tây Ninh đã có một thị xã Tây Ninh và được tổ chức lại chia ra làm thành tám
huyện (quận) là: Châu Thành, Hòa Thành, Bến Cầu, Tân Biên, Tân Châu,
Dương Minh Châu, Gò Dầu và Trảng Bàng với tổng dân số tăng cao lên hơn một triệu
đầu người gồm có 26 sắc tộc. Tây Ninh bây giờ lại còn có cả thêm một hệ thống
kênh đào dài 617 km chủ yếu dựa vào hai nguồn nước chính là sông Vàm Cỏ Đông
và sông Sài Gòn. Và hồ Dầu Tiếng có châu vi dài khoảng chừng 1000km với dung
tích ước lượng lên tới 1,45 tỷ m3, với sự kết hợp cùng với 1053 tuyến kênh đào.
Là vùng đất cao không có sông ngòi nhiều, ngoài hai con sông
chính là sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông chảy ngang qua địa phận. Nhưng ngược
lại, hệ thống đường sá cũng tạm đủ thỏa mãn điều kiện giao thông. Hãy nghe những
câu nói như: Gò Dầu đi sang Sà Phu, Xvay Riêng, Nam Vang (Phnom Penh), thì
người ta hiểu rằng đây là tỉnh địa đầu, ăn thông đường sá sang quốc gia láng giềng
Cam Bốt. Nhưng với phương tiện giao thông ngày trước, lại khi nghe nói cách
khác như: từ Tây Ninh đi Lò Gò, đi Tân Phú, Khe Dol, Kà Tum v.v..., thì phải hiểu
rằng Tây Ninh là chỗ ở cuối đường đi vào ngõ cụt giao thông rồi. Nhưng cũng
chính từ ở những ngõ cụt giao thông hoang vắng ven ranh giới rải rác ở khắp đó
đây từ Hà Tiên, Châu Đốc cho tới Tây Ninh, mà trong quá khứ đã có từng nhiều thế
hệ di dân Việt Nam vượt biên nhập cư vào đất Cam Bốt để làm ăn sinh sống. Và
cũng chính vì vậy, mà trong cuộc đời của tác giả đã hai lần, cách nhau khoảng
ba mươi năm, từng được biết đến những vụ thảm sát người Việt (Cáp Duồn) xảy
ra trên xứ Chùa Tháp. Phong trào này phát sinh ra là do lòng tự ái dân tộc, vì
họ cho rằng trước đây đã có những vùng đất đai Khờ Me nay đã lọt vào tay của Việt Nam. (Sự
thật của nguyên nhân sâu xa là do thực dân Pháp áp đặt địa lý, cắt chia ranh giới
ba nước Đông Dương. Trường hợp lằn biên giới da beo của các xứ da đen ở
Phi Châu ngày nay cũng vậy, đều do người da trắng khi xưa ấn định và có khi họ
còn làm luôn cả lịch sử. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các quốc gia ở lục địa này
đều nhất trí tôn trọng các thỏa hiệp về biên giới từ trước, vì không thể có
cách nào để làm đảo ngược lại lịch sử nhân loại).
Dầu sao thì Tây Ninh cũng thuộc về vùng đất cao ráo cho nên
nhà cửa ở nông thôn sạch sẽ, dễ nhìn. Thử nếu đem so bì với một tỉnh nào đó ở
miền Tây, thì quả thực Tây Ninh có thiếu phần nào thủy sản cá tôm v.v... nhưng bù
lại, cải rau, hoa quả có thừa. Tóm lại, về mặt nhận xét chung thì người ta có
thể nói Tây Ninh vẫn còn là một vùng đất mới, là "Tân Biên Cương" hiểu
theo ý nghĩa của một vùng địa lý hãy còn chờ đợi sức khai phá của con người.
Đây không phải là một ẩn dụ mà là một sự chứng minh cụ thể của lịch sử dân tộc,
đã từng lựa chọn nơi này để làm thí điểm dinh điền trong những kế hoạch khẩn
hoang lập ấp.
Ngày xưa, mỗi lần khách hành hương từ phương xa khi tới Trảng Bàng,
tức là bàn đạp bước vào vùng đất của Tây Ninh, thì người ta thường hay phân vân
về việc lựa chọn lộ trình trên đường vào chiêm bái thắng cảnh núi Bà Đen. Tại
Trảng Bàng đi đến quận châu thành Tây Ninh có hai ngã đường, mà dân địa phương
thường hay quen miệng gọi là đường đá xanh (đường nhựa) và đường đá đỏ.
Đi theo đường đá xanh, tức là tiếp tục lên hướng Gò Dầu Hạ, rồi ngang qua Trà Vỏ
cho đến khi thấy lác đác những lò gạch ngói xuất hiện bên vệ đường, ven bờ
Vàm Cỏ tỏa làn khói đen quyện lên cao là đã vào cục đất Cẩm Giang có bến đò
xuôi ngược. Bỏ lại nơi đây không mấy chốc thì tới Mít Một rồi có hai ngã rẽ, hoặc
quẹo mặt vào chợ Long Hoa, hoặc đi thẳng để vào châu thành Tây Ninh. Ngược lại,
còn muốn đi theo con đường đá đỏ (nhưng ngày nay đã được tráng nhựa) thì
từ chợ Gia Huỳnh (Trảng Bàng) thẳng tới ngã ba hai châu quẹo trái đi
Suối Bà Tươi, Sông Đua, Động Lông Công (Bàu Đồn), Truông Mít, Cầu Khởi, Chà Là
và trước khi vào đến thành phố tỉnh lỵ thì phải ngang qua Tòa Thánh Cao Đài. Lộ
trình con đường đá đỏ này thì ngắn hơn và phản ảnh được nhiều chân dung của bức
họa đồng quê đầy ấn tượng hơn. Lý do là vì nó xuyên qua những nơi có vài chứng
tích của lịch sử địa lý cận đại (nay gần như biến dạng) bắt đầu từ địa
điểm Sông Đua, (nơi đây có bờ lũy chạy dài tới tận bìa rừng), cho đến
đồn điền cao su Cầu Khởi ăn thông qua Vên Vên, Trung Bình Linh trông rất nên
thơ vào những mùa Thu lá đổ.
Từ khi nước nhà chưa thực sự hoàn toàn ngưng tiếng súng,
khách lạ nào đặt chân tới thành phố Tây Ninh vào những buổi chiều tà, thì chắc
chắn sẽ không bao giờ quên cái cảm giác đầu tiên là lắng tai nghe được những âm
thanh rung chuyển thét gầm của súng đạn liên tục từ xa vọng về, như để thay cho
những tiếng chuông chiều đưa tiễn hoàng hôn. Ngày nay hòa bình trở lại, buổi
sáng ở Tây Ninh có ngọn gió núi trong lành thổi qua chân trời man mác nhưng gây
ấm được lòng của khách lãng du ngắm nhìn vườn bưởi ở vùng đất đỏ Thanh Điền mà
hương vị không thua miệt Đồng Nai, Sông Bé. Nói cách khác, mặc dù không thể so
sánh với những vùng có khả năng thổ sản đặc biệt dồi dào, sum sê cây trái,
nhưng Tây Ninh lại cũng có nhiều đặc điểm thuận lợi về yếu tố thiên nhiên của đất
đai rất thích hợp với một số cây trồng như mía, đậu phộng, dưa hấu, nhản, hồ
tiêu v.v...Tòa Thánh Cao Đài Tại miền Nam Việt Nam ngoài hai tôn giáo lớn là Phật Giáo và
Thiên Chúa Giáo, thì còn có thêm hai đạo khác cũng có nhiều tín đồ là Hòa Hảo ở
An Giang và Cao Đài ở Tây Ninh. Cần nói rõ thêm, nếu đạo Hòa Hảo tôn sùng đức độ
của Phật thầy Tây An bao nhiêu, thì đạo Cao Đài lại càng ngưỡng mộ vào vị danh
sĩ tiên tri thời Lê mạt Nguyễn Bỉnh Khiêm với quyển "Sấm Trạng Trình"
giống như trường hợp đặc biệt của nhà thiên văn Nostradamus ở Pháp với tập "Centuries" đã
được rất nhiều người phương Tây thời nay thán phục.
Đạo Cao Đài do ông Ngô Văn Chiêu (nguyên là Quận Trưởng ở
Phú Quốc) sáng lập vào năm 1926 với chủ trương tinh thần sống chung hòa
bình theo tôn chỉ hòa đồng tôn giáo và thờ cả Phật Chúa Lão Khổng. Do vậy, mỗi
khi nói đến Tây Ninh thì có ngay nhiều người muốn nói về hình ảnh của Tòa Thánh
Cao Đài ở tại Long Hoa cách thành phố Tây Ninh khoảng chừng mười phút xe lôi
(non chừng 5km). Đây là một công trình kiến trúc thật mỹ miều, đặc biệt có thể
nói là độc nhất vô nhị trên thế giới với những đường nét cấu trúc Việt Nam,
công phu trên những hình rồng oai nghiêm, uốn khúc thắm tô màu sắc rực rỡ. Theo
vị trí, Tòa Thánh này nằm trong vùng thánh địa của tín hữu đạo Cao Đài, là cái
nôi xiễn dương của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Lễ đặt viên gạch xây cất đầu tiên xảy
ra từ tiền bán thế kỷ XX (năm 1936) cho đến mấy chục năm sau đồ án mới
được gọi là hoàn thành. Song thực tế, cho đến bây giờ cũng vẫn hãy còn có một số
dự án công trình phụ thuộc còn tiếp tục nghiên cứu mở mang.
Nhưng nói riêng về một phương diện nào đó, thì dù sao cũng
không ai có thể phủ nhận về hình thức kiến trúc tuyệt mỹ vừa cổ kính, vừa hiện
đại của Tòa Thánh Cao Đài đã thắm tô thêm vẽ thắng duyên cho quê hương sơn kỳ
thủy tú sản sinh của khó, người hiền, đã thực sự có sức thu hút khách du lịch
mười phương đến thăm viếng ngày một đông hơn. Và, hơn thế nữa, ngày trước tại
đây ảnh hưởng của đạo Cao Đài đã có cơ hội đi sâu hơn vào tận làng mạc dân
gian, khắp nơi thôn vắng. Chỗ nào cũng có thánh thất, dù chỉ là những mái tranh
vách đất nhưng tâm hồn người không thiếu lòng tôn kính Đức Chí Tôn của các tín
hữu hướng về nguồn "Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp". Ngoài ra,
các tổ chức đoàn ngũ hóa phụng sự xã hội (phước thiện) của hệ thống
giáo hội Tòa Thánh Tây Ninh từ trước cũng đã tỏ ra rất là hữu hiệu, đáp ứng thỏa
mãn nhu cầu tinh thần của đa số dân cày siêng năng công việc đồng áng, lúc nào
cũng thấm nhuần tư tưởng đại đạo tam kỳ phổ độ mà đề huề công đức Từ Bi,
Thánh Thiện ở đời.
Nếu ở miệt An Giang là miền đất dụng võ của đạo Hòa Hảo, thì
tầm ảnh hưởng của đạo Cao Đài ở Tây Ninh đã có hoàn cảnh thuận duyên hơn để hoằng
dương đạo pháp ra đến tận miền Trung. Cho đến ngay cả cách không xa dưới chân cố
đô Đồ Bàn (đế đô "Fochê" của dân tộc Chiêm Thành) cũng
có sự hiện diện đơn sơ của một thánh thất tôn nghiêm của đạo Cao-Đài đã được
xây cất từ mấy mươi năm về trước... Trở lại chợ Long Hoa để nhìn thấy mái đỏ
hình cong sừng sững vươn mình lên giữa không trung của Tòa Thánh như muốn chế
ngự thiên nhiên, thì người ta không thể nào không nghĩ tới công đức cao dày của
hàng triệu tín hữu Cao Đài đã đóng góp công của để hoàn thành một công trình
nguy nga, hoành tráng thật là hi hữu, tuyệt tác, liên tục đắp xây trong vòng mấy
chục năm trời với tinh thần thiết tha, tự nguyện.
Ngày xưa, chợ Long Hoa được xây cất lên sau chợ Tây Ninh, tuy
việc buôn bán rất là nhộn nhịp, sầm uất nhưng không có con đường giao thông thủy
lộ giống như chợ Tây Ninh được khách thương hồ lui tới dễ dàng. Hãy nghe nhìn
tiếng trống và phèn la của các đoàn sơn đông mãi võ hết đám này đi, đám khác lại
biểu diễn võ nghệ, bán thuốc cao đơn hoàn tán cạnh bờ sông kế chợ. Hãy trông những
đoàn người Chàm từ Phan-Rang, Phan-Rí gánh bị nhiều thảo dược gia truyền, vô tư
lự với cuộc đời rày đây mai đó cũng thay nhau thường xuyên đến chợ Tây Ninh bán
thuốc rễ cây làm kế mưu sinh. Gặp lúc không có người mua thuốc thì họ đề nghị đổi
lấy khoai lang, khoai mì, cây trái v.v... Sự kiện đó đã nói lên tâm lý tình người
ở Tây-Ninh bao giờ cũng thắm đượm tính chất thật thà, tình nghĩa đồng bào trăm
con một mẹ.
Thậm chí ngay cả đối với lớp người Hoa cũng vậy. Ở đâu có
khói là có sự hiện diện của họ nhẫn nại làm ăn sinh sống. Và thực tế, họ đều
cũng được người dân bản địa Tây Ninh đối xử bao dung tốt đẹp tự bao đời. Sở tại,
họ chiếm lĩnh hàng đầu về mọi ngành nghề mua bán, lòn lách từ lọ ve chai, lông
vịt, gói đậu phộng rang, cục xà phòng, bánh tiêu, giò chéo quảy v.v... cho đến các
xí nghiệp biến chế ngũ cốc. Và họ cũng đã có những vị trí xã hội công bằng
trong nhiều tư thế khác nhau. Quả vậy, cách đây một thế hệ không xa nếu cộng đồng
người Hoa ở Tây Ninh đã có những hình ảnh của các chú "Cẩu" đằng
đằng sát khí, oai vệ lên đồng trong các miễu Ngũ Hành, những bà "Dành" chuyên
đóng kịch thảm thê bằng nghề khóc mướn trong các đám ma chay v.v... thì ngược lại,
bên cạnh đó, họ cũng có được những tổ chức Bang Hội đầy rẫy các thế lực ngầm sẵn
sàng mua chuộc các viên quan làng xã. Chính vì thế mà biết bao nhiêu câu chuyện
lý thú, ngoạn mục như "cái đòn gánh" mang theo trên lưng của chú
ba Tàu di dân vào đất Tây Ninh lập nghiệp quả là một loại vũ khí tinh thần,
giúp họ xoay trở thành công trên con đường sự nghiệp ở nơi này.
Là dân bản địa, người Tây Ninh biết rõ ràng về lịch sử, địa
lý, nhân văn, tập quán xã hội ở địa phương của họ nhiều hơn ai hết. Tuy nhiên,
cũng một phần vì không quen có đầu óc kinh doanh, và vì chỉ thích bám lấy nghề
nghiệp nông tang, cuốc bẫm cày bừa trên cục đất của ông cha để lại với nhiều kỷ
niệm gắn chặt thời thơ ấu mới ngày nào nghêu ngao ngồi vuốt đuôi trâu! Do vậy,
cho nên người dân Tây Ninh thường hay có những hành động dấn thân đóng góp làm
đẹp xóm làng đáng quý hơn là bằng mọi giá quả cảm phải bảo vệ núi rừng.
Đất Tây Ninh nổi tiếng không những là nơi đã từng sản xuất ra
nhiều thế hệ trí thức, văn nhân, tướng tài oai danh một cõi biên thùy, mà lại
còn có niềm tâm sự cao cả của một "Bà Tư bán hàng có bốn người
con" trong mùa ly loạn xảy ra trên thực tế. Chính Bà Tư phi thường ấy
chỉ có rơi những giọt nước mắt lần đầu tiên, khi được biết rằng mình vĩnh viễn
sẽ không còn có thêm được đứa con nào nữa để tiếp tục hiến dâng, hi sinh cho tổ
quốc đang lúc lâm nguy cần tay súng đánh đuổi ngoại xâm ra khỏi xóm làng. Đây
là một giai thoại ngoạn mục, vừa bi hùng đã xảy ra ở tại một địa bàn hẻo lánh
quê nhà. Và hình ảnh của một bà già trầu, thời xuân sắc có người yêu lý tưởng
là thanh niên tiền phong đã đền nợ nước. Dạo ấy, đã giống như bao nhiêu là hình
ảnh khổ đau của các bà mẹ Việt Nam gương mẫu, hận non sông, vì nợ nước thù nhà,
mà đã có nhiều ý chí sắt đá, quyết nuôi con trở thành người chiến sĩ anh hùng.
Lần giở trang nhật ký quê nghèo có lắm vui buồn lẫn lộn xa
xưa và nhớ từ chuyện con cọp về làng, con chim mèo về miễu báo hiệu điềm ứng chẳng
lành cho thôn xóm đến những hình ảnh của những con voi, con khỉ thuần phục làm
trò xiếc trước sự rèn tập của con người. Rồi hồi tưởng lại, có những hiện tượng
manh nha về tệ đoan xã hội có tác động tâm lý đã từng xảy ra ở vùng chó ăn đá,
gà ăn muối tại Tây Ninh. Đó là trường hợp hi hữu của một ông thầy thuốc Nam. Dạo
ấy khoảng năm 1956 ở Bến Củi nay là quận Dương Minh Châu (gần nơi khai
thác hầm đá ong, gần đồn điền cao su lớn nhất ở Việt Nam là Dầu Tiếng) có
một pháp sư thuốc Nam nhưng chẳng dùng bùa ngải tà ma nào để mê hoặc ai cả. Người
ta gọi ông là ông thầy lá cây, vì ông chữa bệnh bằng lá cây phun nước lạnh nấu
sôi lên cho chết hết vi trùng rồi mới dùng. Nếu nói theo tâm lý khoa học hơn là
vì ông khéo léo, gián tiếp khuyên cho bệnh nhân nên dùng nước đun sôi để tránh
những bệnh vặt hằng ngày. Người bình dân chất phác nghe tin ông, người có óc hiếu
kỳ tới để rõ xem hư thực. Vậy mà mỗi ngày có cả hàng trăm người ngồi chật cả
xe "lam", xe đò để từ các tỉnh lân cận và Sài Gòn đến với
ông trong vòng hơn cả năm trời.
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là Tây Ninh ngày trước
là nơi không thể không có những con người quê mùa nhẹ dạ, mê tín để cho các nghề
pháp sư lợi dụng cắm dùi làm đất dụng võ, lường gạt bà con bằng những trò rước
đèn múa bóng, ngồi cốt lên đồng, khiển đồng tìm vật, cúng tế quỷ thần dưới cây
cao bóng mát!!!. Còn nữa, thời đó cũng không thiếu chi nhóm bọn lục lâm thảo khấu
vãng lai quấy nhiễu khách đi đường. Và đặc biệt là thời tiền chiến (1945), thì
đã có sự hiện diện thường xuyên của những thành phần lãng tử phiêu lưu mạo hiểm,
khét tiếng sống cuộc đời rày đây mai đó lợi dụng với tinh thần anh hùng
Lương Sơn Bạc để tụ tập bầu bạn, say sưa chè chén suốt năm với giấc mộng ngang
tàng quanh vùng sơn cước.
Đó là những mẫu chuyện khó tin nhưng có thật đã xảy ra ở nơi
đèo heo hút gíó Tây Ninh. Và hình ảnh thâm sơn cùng cốc ở Tây Ninh hiện vẫn còn
được nhắc nhở theo các lời truyền thuật của các vị bô lão bằng những địa danh
xưa như Truông Mít (nơi đất có quá nhiều cây mít), động Lông Công (tức
Bàu Đồn, nơi đất có quá nhiều cọng lông công dùng để làm chổi), Rỗng Tượng (nơi
khi xưa có nhiều voi thường xuyên kéo đến uống nước hằng ngày) v.v... Ngoài
ra, vùng biên giới của sông Vàm Cỏ Đông ngã tiếp giáp dòng nước từ
Cong Pong Cham Cam Bốt chảy sang cũng là nơi khi xưa có cảnh trí thật là thơ mộng.
Có khúc đi ngược lên nhìn thấy đất bồi, bờ cao phủ đầy hoa dại và những cây đại
thụ tàn lá to lớn che mát cả ven sông, dưới có cá tôm, trên có vượn, khỉ, heo rừng,
muôn loài chim chóc v.v...
Tuy nhiên, lịch sử cận đại của tỉnh lẻ biên thùy Tây Ninh được
nhắc đến hơn bao giờ hết, nhất là kể từ khi nổ ra cuộc chiến tranh khốc liệt
sau hiệp định Genève 1954-1975. Vì lý do tình hình chính trị lúc đó, cho nên những
người dân cư ngụ ở khác vùng rất ngại tiếp xúc cùng với đồng bào địa phương. Mặc
dù bà con vùng sâu xa sở tại vốn rất là chơn chất, hiền hòa, có người dân cày cả
đời ru rú ở nhà không bao giờ có dịp để nhìn thấy được hình dáng của bể khơi ra
sao! Nhưng thời gian đã bỏ quên tất cả. Ngày nay, ngọn núi Bà Đen 986m cách
thành phố Tây Ninh 12km ngày càng mọc cao hơn. Và được coi như là một di tích lịch
sử thiên nhiên của nước nhà cần phải được bảo tồn, cũng như trường hợp của bảy
hòn núi nhỏ ở miền Tây Nam phần. Hơn thế nữa, nếu đem so với các ngọn Thất-Sơn
thì núi Bà Đen gồm cả núi Heo, núi Phụng trông có vẻ đẹp hẳn hơn, nhờ hình thể
trên chóp thường có mây giăng, tương tợ như ngọn Phú Sĩ ở Nhật Bản càng tăng vẻ
đẹp khi càng có nhiều tuyết phủ.
... Nước non ngàn dặm quê hương Việt Nam yêu dấu của chúng ta
có muôn ngàn vẻ đẹp tùy theo hoàn cảnh địa lý, lịch sử của vùng miền. Từ miệt:
Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
rồi vào phố Huế nhìn sông Hương, núi Ngự, để nghe
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương
và cách xa vùng cửa bể Hội An còn có cảnh trí núi Ngũ Hành,
cho đến tận đồng bằng châu thổ phương Nam có vựa lúa vàng đơm bông trên
Cánh đồng sông Cửu, cạnh dòng Đồng Nai
Và thực tế đã nói lên về hình ảnh của gấm vóc san hà không
sai điều đó. Nhưng đồng bằng miền Nam ngoài dãy Thất Sơn huyền bí v.v..., thì còn
có ngọn núi Bà Đen cao nhất làm cho cục đất quê hương có thêm phong cảnh hữu
tình, thủy sơn hòa quyện. Đặc biệt, nếu những năm sau ngày nước nhà hoàn toàn
ngưng tiếng súng. Người ta mới có dịp phát hiện ra được những chứng tích thời đại
văn minh của con người khi khai quật từ dưới các ngôi mộ cổ vùng Tân Uyên cạnh
dòng Đồng Nai, thì trong lúc còn chiến tranh cũng đã có nhiều ngôi mộ cổ huyền
bí khác nằm cạnh chân núi Bà Đen đã phải bị san bằng theo vết chân của bom đạn
hằng ngày.
Đường hành hương lên viếng núi Bà Đen thuở xa xưa từ bốn năm
thế hệ là con đường xe bò, xe trâu ngoằn ngoèo, khúc khuỷu gập ghềnh trên đất
đá, phải đi ngang qua nhiều Sóc (làng) nhỏ của người Cao Miên và người
Chăm sinh sống tự bao đời. Nhưng kể từ khi có sự hiện diện của người Kinh kéo đến
lập nghiệp ở gần, thì họ tự ý di cư sang nơi khác vì có mặc cảm không muốn sống
gần người Việt. Vào thời kỳ còn hoang vu, cây cối rậm rạp, núi Bà Đen vốn là
quê hương của chúa tể sơn lâm. Nơi đây cọp, beo rất nhiều và voi, hươu, nai, bò
rừng, cheo, khỉ, thỏ, công, heo rừng v.v... cũng không phải ít. Sáng nào người dân
sơn cước cũng nghe được tiếng chim muông ca hót líu lo, hòa lẫn với tiếng cọp gầm
vang dội núi rừng từ xa vọng lại.
Theo thời gian, nạn khai thác lâm sản không có kế hoạch, hay
nói cho đúng hơn là trước sức tiến của con người đã vô tình làm mất đi bao
nhiêu là gỗ quý như huỳnh đàn, gõ, bằng lăng v.v... Cũng như lần biến dần những
cánh đồng dược thảo như hà thủ ô, bạc hà, chi tử v.v... Và cũng làm mất đi luôn
cái cảm giác thú vị khi đi hành hương bằng xe trâu hay xe bò kéo ngang qua những
lò gạch ngói (có phẩm chất cao nhờ đất tốt), những hầm than tỏa khói
hiu hiu ở giữa rừng chồi, những cánh đồng tranh vàng nhạt lướt mình trên lau cỏ,
rồi dừng chân lại để bẻ măng tre, hái nấm mèo, nấm rơm. Hoặc ngắm nhìn những vườn
cây trái thiên nhiên bên vệ đường chen lẫn vào những cánh đồng sim tím, những
bụi hoa trinh nữ e ấp, mời mọc khoe mình và những cụm mai vàng lác đác ở khắp
đó đây trên lộ trình đi đến chân núi Bà Đen.
Ngày nay, huyền thoại hay thực thoại về giai thoại của vua
Gia Long trên con đường bôn ba đào tẩu (trốn nhà Tây-Sơn) được hiền
thần báo mộng cứu nguy ẩn trốn vào Điện Bà vẫn được còn truyền tụng cho đến bây
giờ như là một câu chuyện cổ. Và bây giờ, nhờ vào hệ thống cáp treo, máng trượt
rút ngắn thời gian giúp cho mọi người đều có thể leo núi một cách dễ dàng. Cho
nên, Điện Bà Linh Sơn Thánh Mẫu lúc nào cũng uy nghiêm không dứt khói hương
tràn ngập của bá tánh thập phương đến chiêm bái trong những ngày trọng đại, dịp
Tết Xuân về, lễ Phật suốt năm. Đặc điểm trên đảnh Điện Bà là có hồ sen, có suối
trong óng ánh cát vàng, nước chảy róc rách gọi là Suối Vàng, có nhiều hang sâu
gió lộng gọi là Hang Gió, động Thiên Thai, động Thanh Long v.v... và gót chân Phật
trên thạch bàn gợi lại một điển tích ở sân Thiền. Ngoài ra, từ trên cao núi Bà
nhìn xuống không gian rõ nét của đập Lòng Hồ in tựa bể khơi, mênh mông nước biếc
khiến khách hành hương không khỏi cảm thấy lòng mình sảng khoái lạ thường... Hồi
tưởng lại ngược dòng thời gian, thì ở chung quanh dưới chân núi này ngày nào,
thì có cả người Việt chánh tông, người Khờ Me, người Chăm và người Hoa đã hòa đồng
tập tục, thông cảm lẫn nhau sống đơn sơ trong hạnh phúc.
Trong ba mươi năm chiến tranh, có những thời kỳ mà người ta rất
ngại đến đất Tây Ninh, vì lý do tại đây có rất nhiều huyền thoại lẫn lộn với thực
tế xã hội ở một nơi được gọi là đất rộng người thưa, địa hình hiểm trở với núi
cao rừng rậm. Phải thực tế khách quan, để gợi lại hình ảnh của từng đoàn pháo
đài B52 rải thảm bom làm trơ bật rễ của những cây đại thụ ở tận rừng sâu. Hay
phun thuốc khai quang tàn phá môi sinh dạo nào, để cho đến ngày hôm nay còn có
những khu vực mà các loài thực vật (loại rừng thứ sinh) hãy còn chưa
đủ sức hoàn toàn để phục hồi sự sống như xưa, thì mới hiểu được rõ ràng
Tây Ninh là một tỉnh ở địa đầu giới tuyến đã hứng chịu nhiều hậu quả của chiến
tranh. Còn nói thêm, như về trường hợp điển hình thảm họa, thương tâm của em bé
tên là Phan Thị Kim Phúc trần truồng thoát chạy khi bị bom Napalm đốt cháy
cả lưng tại Trảng Bàng (Tây Ninh) vào năm 1972. Tài liệu sống động này từ
mấy chục năm qua đã được báo chí và đài truyền hình quốc tế phổ biến bao lần,
gây nên nhiều phản ứng xúc động trong tâm hồn yêu chuộng hòa bình của con người
trên thế giới. Do vậy, vì nhờ may mắn được đánh giá coi như là đứa con biểu tượng của Việt Nam" còn
sống sót sau thời kỳ chiến tranh Mỹ Việt. Cho nên, về sau nạn nhân mới chính thức
đã được "Tổ Chức Văn Hóa Khoa Học Giáo Dục LHQ"*** tại
Paris trao cho danh dự là Sứ giả Hòa Bình, và bổ nhiệm làm Đại sứ Thiện Chí vào
ngày 10-11-1997.Bức ảnh "Napalm Girl" nổi tiếng này đã đạt được giải thưởng quốc tế "Pulitzer".Và mặc dù là một vùng đất bị ảnh hưởng trực tiếp của chiến
tranh tàn phá khốc liệt trải qua mấy chục năm trời liên tiếp. Nhưng người dân
Tây Ninh vẫn hiên ngang, ngạo nghễ về lãnh vực nông tang, để vươn mình đứng dậy
qua sức sống của đồng ruộng lúa chín vàng, cánh đồng bắp, mía ngút ngàn, đậu phộng
to thơm và những lán dưa hấu đen mun ngọt ngào trên vùng đất mới. Thêm vào đó
là rừng cao su Dầu Tiếng xưa nay vẫn mênh mông bát ngát, và dòng nước êm đềm của
đập Lòng Hồ chảy đến đâu là mang đến cho người dân hiền những màu lục xanh tươi
mát với niềm hi vọng được mùa. Điều này, chứng tỏ rằng cá tính của người dân
Tây Ninh quả thật không thể thiếu tinh thần quả cảm và ý chí kiên trì để tham
gia kế hoạch dẫn thủy nhập điền, thay trời làm mưa. Để cố gắng xây dựng lại quê
hương từ trong đổ nát, hoang tàn hay cật lực cố làm tăng thêm mọi sự thịnh vượng
hầu nâng cao mức sống dân sinh.
... Bạn đã toại nguyện được trở về thăm làng cũ giữa khi mùa hoa
phượng vĩ vẫn còn nở thắm tươi vào những tháng hè về. Nhìn người xưa và cảnh vật
đổi thay mà ngỡ ngàng như giấc Nam Kha trước hình ảnh của một cuộc đời hai ý
nghĩa, rồi mai này bạn sẽ tiếp tục ra đi bỏ người ở lại với bao niềm lưu luyến,
nhớ nhung. Buổi chia tay đường trường sông núi, cách xa nào mà không gieo đau
khổ lòng người nhưng đành phải nghẹn ngào hẹn ngày tái ngộ!
Giữa bầu không khí ve sầu nơi chôn nhau cắt rún ấm tình cỏ rạ
ở quê nghèo, nước mắt của ai sao cứ mãi tuông tràn nhìn theo đếm từng bước chân
tạm biệt. Chân dung, màu sắc của không gian bây giờ chỉ còn như cô đọng lại ở
tâm hồn trong giây phút để khắc ghi vào lòng một kỷ niệm mãi mãi khó quên.
Bóng người đi lẫn vào màn sương sáng
Ánh bình minh đánh thức buổi tiệc tàn
Chim hòa bình tung cánh bay về núi
Gió biên thùy man mác đón Xuân sang... *
Chú thích:
* Mai An Tiêm tuyển tập.
** Nay là bến xe An Sương.
***United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization.
An Tiêm Mai Lý Cang
Tòa Thánh Cao Đài
Bức ảnh "Napalm Girl" nổi tiếng này
An Tiêm Mai Lý Cang





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét