Muôn kiếp nhân sinh 2

Phần 2 này vẫn là những chuyến du hành tiền kiếp của Thomas,
vẫn là những câu chuyện về nhân quả. Mỗi một chuyến đi của Thomas là để học 1
bài học mới, ở một quốc gia mới và những trải nghiệm mới. Sự khác biệt ở đây là
phần 1, để vào tiền kiếp thì Thomas phải nhờ tới nhân vật Kris, còn phần 2 thì
Thomas đã có thể tự mình du hành tiền kiếp.
Ở phần 1, chúng ta nói về nền văn minh lâu đời Ai Cập hay nền
văn mình “mờ ảo” Atlantic còn ở phần 2 chúng ta sẽ được nhân vật Thomas dẫn dắt
qua qua những nền văn minh cũng rất nổi tiếng như Ba Tư, Assyria, Án Độ. Ngoài
những chuyến du hành qua các quốc gia, điểm đặc biệt của phần 2 là chúng ta sẽ
được “diện kiến” các cõi giới khác nhau, gồm có cõi giới của ma quỷ, của người
ngoài hành tinh, của các bậc thầy tâm linh.
Bài học chính của cả 2 phần Muôn Kiếp Nhân Sinh chính là
khuyên chúng ta nên làm việc thiện, nhưng phần 1 thì sẽ không có nói rõ chúng
ta nên làm việc thiện thế nào mới tốt. Còn trong phần 2 thì bác Nguyên Phong có
đề cập tới 1 số phương pháp giúp chúng ta chuyển hóa chính mình (những phương
pháp này nằm rải rác trong sách).
Phần 2 có gì hay?
Ở phần 2, bác Nguyên Phong đã đi sâu vào nhận thức tâm linh
hơn bằng cách hướng dẫn chúng ta một số cách thông qua các câu chuyện về cách
ăn uống, cách nghe nhạc, cách thiền để đi sâu vào bên trong.
Muôn kiếp nhân sinh 2 dày gần 600 trang cùng 40 trang phụ bản
Thế giới nhân quả vũ trụ in màu siêu đẹp. Phần này sẽ đưa ra cách chuyển hóa
nghiệp quả, đồng thời cảnh báo về những hiểm họa, biến động lớn có thể xảy ra
trong tương lai của nhân loại cũng như gửi gắm những thông điệp chữa lành nhằm
cứu mỗi người, cứu lấy sự sống trái đất đang bên bờ của những khủng hoảng, hiểm
họa khó lường.
Lời giới thiệu - Cuốn sách của những cánh bướm rung động
Tác phẩm Muôn Kiếp Nhân Sinh tập 1 của tác giả Nguyên Phong
xuất bản giữa tâm điểm của đại dịch đã thực sự tạo nên một hiện tượng xuất bản
hiếm có ở Việt Nam. Cuốn sách đã khơi dậy những trực cảm tiềm ẩn của con người,
làm thay đổi góc nhìn cuộc sống và thức tỉnh nhận thức của chúng ta giữa một thế
giới đang ngày càng bất ổn và đầy biến động. Ngoài việc phát hành hơn 200.000 bản
trong 6 tháng, chưa kể lượng phát hành Ebook và Audio Book qua Voiz-FM, First
News còn nhận được hàng ngàn tin nhắn, e-mail chuyển lời cảm ơn đến tác giả
Nguyên Phong. Điều này chứng tỏ sức lan tỏa của cuốn sách đã tạo nên một hiện
tượng trong văn hóa đọc của năm 2020.
Khởi duyên cuốn sách Muôn Kiếp Nhân Sinh là cuộc điện thoại
lúc đêm khuya từ Việt Nam qua Mỹ vào cuối năm 2016. Khi cảm nhận thế giới xung
quanh còn quá nhiều áp bức, bất công và điều ác đang diễn ra, tôi đã đề nghị
tác giả Nguyên Phong viết một cuốn sách về Nhân quả để cảnh báo và thức tỉnh
con người (tác phẩm Hành Trình về Phương Đông do ông viết phóng tác gần năm
mươi năm trước đã làm nhiều thế hệ người Việt Nam thay đổi tâm thức và được yêu
thích cho đến giờ).
Lúc đó, tác giả Nguyên Phong đã kể tôi nghe về câu chuyện
nhân quả và tiền kiếp đặc biệt kỳ lạ của Thomas – một doanh nhân thành đạt ở
New York và cũng là người bạn tâm giao mà ông đã từng gặp ở Đại học Đài Bắc năm
2008. Sau cuộc điện thoại đêm khuya đó, ông đã lẳng lặng bay đến New York gặp
Thomas và đề nghị được viết những câu chuyện lạ thường của Thomas thành sách.
Và bất ngờ – Thomas đã đồng ý.
Muôn Kiếp Nhân Sinh đã ra đời một cách kỳ lạ như cuốn sách của
nhân duyên và có một sứ mệnh đặc biệt. Tôi và nhiều độc giả Việt Nam đã thực sự
lay động và đồng cảm sâu sắc với những lời chia sẻ tâm huyết của Thomas ở những
trang sách cuối tập 1: “Tôi mong chúng ta – những cánh bướm bé nhỏ rung động
mong manh – cũng có thể tạo nên những trận cuồng phong mãnh liệt để thức tỉnh mọi
người”.
Tiếp nối các kiếp sống kỳ lạ của Thomas ở nền văn minh
Atlantis và Ai Cập hùng mạnh ở tập 1, Muôn Kiếp Nhân Sinh tập 2 là cuộc hành
trình vô tiền khoáng hậu tiếp theo của Thomas trên chuyến tàu xuyên thời gian –
không gian trải dài từ nước Mỹ đương đại, ngược về vùng sa mạc Lưỡng Hà Assyria
cho đến Hy Lạp, Ba Tư, Ấn Độ cổ đại qua những cuộc chinh phạt của Alexander Đại
đế. Những ký ức về chiến binh kiêu hùng Achilles trong trận công thành Troy huyền
thoại và sự thức tỉnh bất ngờ của vị đại đế bất bại khi chinh phục quốc gia huyền
bí đã vẽ nên bức tranh kỳ vĩ về thân phận con người luôn phải xoay vần không ngừng
trong bão tố Nhân quả của tham vọng, chiến tranh, hận thù và tình yêu trong suốt
chiều dài lịch sử thế giới.
Không chỉ là những bài học sâu sắc về Nhân quả của Thomas,
Muôn Kiếp Nhân Sinh tập 2 còn vén bức màn bí ẩn và khám phá hành trình bất tận
của những linh hồn qua các tầng cõi, trạm trung chuyển trong muôn vàn kiếp sống…
Tất cả được đúc kết, xâu chuỗi lại một cách logic bằng góc nhìn hài hòa giữa
tâm linh, khoa học, triết học và lịch sử các nền văn minh từ Đông sang Tây, từ
cổ đại đến hiện đại.
Thông qua những cuộc trò chuyện đầy tính minh triết, tác phẩm
Muôn Kiếp Nhân Sinh tập 2 cũng đưa ra cách chuyển hóa nghiệp quả, đồng thời cảnh
báo về những hiểm họa, biến động lớn trong tương lai của nhân loại cũng như gửi
gắm những thông điệp chữa lành. Đây sẽ là khởi đầu một kỷ nguyên mới với cuộc
cách mạng chuyển đổi tâm thức và cũng là con đường minh triết nhất để thức tỉnh,
cứu mỗi người, cứu lấy sự sống trái đất đang bên bờ của những khủng hoảng, hiểm
họa khó lường.
Các nhà hiền triết đã chỉ rõ quá trình thức tỉnh bắt đầu từ
chính mỗi người. Và đó sẽ không phải là hành trình vô vọng nếu chúng ta cùng thật
sự ý thức được ý nghĩa sống và sứ mệnh của mình. Tương lai chúng ta có trở nên
tốt đẹp hơn hay không là do năng lượng từ chính những suy nghĩ, hành động của
chúng ta ngày hôm nay.
Khi tâm huyết viết Muôn Kiếp Nhân Sinh, tác giả Nguyên Phong
mong muốn truyền tải những thông điệp thức tỉnh cùng những lời cảnh báo đầy
trách nhiệm với một trái tim giàu lòng trắc ẩn, yêu thương để mọi người cùng nhận
thức, chuyển đổi – như những cánh bướm rung động mãnh liệt lan tỏa đến với nhiều
người. Bởi tận cùng của những rung động lan tỏa đó sẽ tạo ra sự chuyển đổi tâm
thức để tạo nên một tương lai tốt đẹp hơn cho mỗi người và cho nhân loại.
Ngoài ra không còn bất kỳ lý do nào khác.
Bôn ba muôn nẻo nhân sinh.
Không ai mang theo được thứ gì khi rời xa thế giới này – trừ
công và tội.
Chính bạn mới có thể chuyển hóa được nghiệp quả của mình –
không phải bất kỳ một ai khác.
Nhân quả đừng đợi thấy mới tin. Nhân quả là bảng chỉ đường,
giúp con người tìm về thiện lương.
– Nguyễn Văn Phước
Sáng lập First News – Trí Việt
Phần 1.1 - Khởi hành: Một thế giới không còn như trước
Tôi đã gọi điện cho Thomas nhiều lần nhưng không có ai trả lời.
Đây là điều hiếm khi xảy ra, vì ngay cả khi bận rộn thì Thomas cũng sẽ gọi lại
cho tôi ngay sau đó. Tôi gửi e-mail, nhắn tin qua các ứng dụng cũng không thấy
phản hồi, không có dấu hiệu đã xem tin nhắn. Điều này làm tôi cảm thấy lo lắng
và bất an, không hiểu chuyện gì đã xảy ra với người bạn của mình.
Một buổi tối muộn, lúc đó đã gần nửa đêm, bất ngờ tôi giật
mình vì tiếng chuông điện thoại khi đang viết bản thảo cho tập sách tiếp theo.
Thường thì rất ít khi có ai gọi cho tôi vào lúc đêm khuya như thế này. Tôi cầm
điện thoại, bên kia đầu dây là Thomas:
– Rất xin lỗi anh, mấy hôm nay tôi không sử dụng điện thoại
vì một số lý do. Những ngày qua chắc hẳn anh đã chứng kiến những biến động bất
ngờ đang lan rộng. Tuy nhiên, không chỉ New York, hay nước Mỹ mà gần như cả thế
giới đang đi qua những khủng hoảng chưa từng có. Tôi cũng vừa trải qua những
xáo trộn và sự chuyển đổi tâm thức kỳ lạ. Linh cảm báo cho tôi biết những điều
ông Kris lo lắng cảnh báo đang xảy ra. Tôi đã không liên lạc được với ông Kris.
Do đó, tôi thật sự muốn nói chuyện với anh. Tôi có nhiều bạn bè nhưng không phải
với ai tôi cũng có thể chia sẻ những điều này được. Biến động sẽ còn lan rộng
phức tạp hơn thế nhiều, nhưng đó chỉ là sự khởi đầu cho một kỷ nguyên mới đầy
những thách thức và có thể làm biến chuyển thế giới. Tôi tin rằng mọi thứ sắp xảy
ra trên toàn cầu sẽ còn tồi tệ hơn và sẽ không giống như những dự báo mà mọi
người đang đọc trên những dòng tin. Hầu như mọi người vẫn chưa hiểu hết nguồn gốc
thực sự và sâu xa của những điều đang diễn ra…
Tôi chợt cảm thấy bồn chồn nên ngắt lời Thomas:
– Tôi cũng có theo dõi tình hình đang diễn ra. Vậy cảm nhận
riêng của ông thế nào?
– Anh còn nhớ vào lần gặp trước ở Colorado, tôi đã chia sẻ với
anh tiên đoán của ông Kris về những điều quan trọng sẽ xảy ra trên thế giới này
không? Nó đã và đang đến rất nhanh! Có lẽ loài người đã đến lúc phải nhận lãnh
hậu quả từ những gì mình gây ra. Một số quốc gia lớn đã đi vào chu kỳ “hoại” của
vũ trụ. Ngay cả nước Mỹ tiên tiến với hơn ba trăm triệu người và thế giới rộng
lớn hơn bảy tỷ người đã mấy ai thấu hiểu rõ luật Nhân quả của vũ trụ đâu?
– Tôi vẫn nhớ những dự ngôn sâu sắc đó của ông Kris.
Tôi vừa đáp vừa hồi tưởng lại những gì Thomas đã nói trong lần
gặp cuối cùng trước lúc chia tay.
Giọng Thomas chợt trở nên xa xăm:
– Thế nhưng, con người trong thế giới này còn rất chủ quan. Họ
đang sống và chạy theo quán tính hơn là thức tỉnh. Họ không phải không có thời
giờ mà là không có cơ duyên để thức tỉnh. Có lẽ con người cần phải học bài học
của mình rồi! Không có cách nào khác. Anh cũng biết rằng thức tỉnh một kẻ phá sản,
thất nghiệp hay cơ hàn còn dễ hơn là thức tỉnh những kẻ đang ngạo nghễ với nhiều
lớp vỏ bọc bên ngoài dày cộp – nào là giàu có, tiếng tăm, địa vị, chức tước, bằng
cấp… nhưng những giá trị bên trong như lòng trắc ẩn, tình yêu thương và sự hiểu
biết tâm linh của họ lại hầu như rỗng tuếch hoặc quá nghèo nàn.
Dừng lại một chút, Thomas hạ giọng:
– Đừng mất thời giờ nữa. Ngày mai, anh hãy bay ngay đến New
York gặp tôi. Chúng ta cần tiếp tục trao đổi những câu chuyện quan trọng còn
dang dở. Tôi đã thu xếp mọi thứ để anh có thể yên tĩnh viết và nghỉ lại. Anh
hãy đặt vé chuyến bay sớm nhất có thể. Nhớ cho tôi biết giờ bay, tôi sẽ đón anh
ở sân bay. Hẹn gặp anh vào ngày mai.
Tôi để điện thoại xuống và lặng đi vài phút. Giọng Thomas
chưa bao giờ khẩn thiết đến như vậy.
Mới cách đây không lâu, trước khi chuông điện thoại reo, tôi
đã cầm cuốn tạp chí The New Yorker với tấm ảnh bìa lịch sử là người đàn ông
chơi vĩ cầm đơn độc trên nóc nhà cao vắng lặng. Tôi vừa nhìn khá lâu vào tấm ảnh
bìa đó vừa có những dự cảm không hay thì cuộc gọi kỳ lạ của Thomas không ngờ lại
trùng khớp hoàn toàn với những cảm giác bất an của tôi lúc đó.
Tôi đặt vé cho chuyến bay sớm nhất đi New York, thu dọn một số
hành lý cần thiết, máy ghi âm và đồ dùng thiết yếu cho chuyến đi không ngắn
ngày.
Tôi chợt cảm nhận sự thanh tĩnh lạ thường. Cuộc đời tôi cũng
không ít lần có những chuyến bay gấp như thế này. Tôi là người làm khoa học nên
mọi thứ cần phải được lên kế hoạch trước, nhưng với Thomas và trong hoàn cảnh
này thì khác. Đây không phải chuyến bay công việc bình thường. Tôi biết cuộc gặp
gỡ với Thomas ngày mai quan trọng không chỉ với riêng tôi.
Dường như sâu thẳm trong tâm thức tôi có sự lay động về một sứ
mệnh thiêng liêng vừa chợt tới. Sứ mệnh đó không chỉ của riêng tôi mà là của tất
cả chúng ta đối với tương lai thế giới này.
Phần 1.2 - New York: Khởi đầu một kỷ nguyên mới
Sân bay John F. Kennedy buổi chiều hôm đó vắng vẻ lạ thường,
khác hẳn khung cảnh đông đúc thường ngày. Chuyến bay của tôi cũng vắng khách và
khi đáp xuống ai cũng vội vã rời sân bay. Thomas đã đợi tôi ở cổng. Ông niềm nở
đón tôi về nhà cất hành lý và dùng bữa tối đã được chuẩn bị sẵn ở sân vườn nhà
ông tại Manhattan.
Sau khi hoàn thành phần ghi chép về các câu chuyện tiền kiếp
trong những cuộc gặp gỡ giữa tôi và Thomas trước đó, tôi đã có ý định đến New
York thăm ông để nhờ ông duyệt lại và tiếp tục những câu chuyện còn dang dở.
Tôi chưa kịp mở lời để hẹn với Thomas thì ông đã chủ động mời
tôi đến nhà.
Thomas đón tiếp tôi nồng nhiệt, như thể đã chờ cuộc gặp này từ
lâu. Trong bữa tối ngoài khu vườn yên tĩnh, Thomas hỏi thăm tôi về tình hình sức
khỏe, công việc và cho biết ông cũng đang nóng lòng chờ đợi tập bản thảo của
tôi. Sau đó, ông kể cho tôi nghe những điều kỳ lạ vừa trải nghiệm trong những
ngày tháng vừa qua mà trong điện thoại ông không nói hết được. Tôi chăm chú lắng
nghe từng lời Thomas kể, đôi lúc dừng lại để ghi chép. Ông phân tích nguồn gốc
sâu xa của những biến động chưa từng có đang diễn ra và khẳng định:
– Tất cả mới chỉ bắt đầu.
Thomas trầm ngâm trong giây lát rồi nói tiếp:
– Việc này đến nhanh hơn chúng ta nghĩ. Thế giới này có lẽ sẽ
không trở về như xưa được nữa. Những lá phổi của hành tinh này đang bị hủy hoại,
dịch bệnh chết người kỳ lạ đang lan rộng, biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt
hơn và nguy cơ chiến tranh lại chực chờ với những mâu thuẫn ngầm nhiều năm sắp
bùng phát… Tất cả những điều chúng ta đang chứng kiến chỉ là những cú rung lắc
khởi đầu cho những cơn địa chấn thực sự.
Bất ngờ Thomas nhìn tôi và hỏi:
– Anh có biết ai đã kích hoạt tất cả những điều đó không?
Tôi trả lời:
– Thông qua lịch sử, chúng ta đều biết các xu hướng chính trị,
kinh tế, văn hóa đều có tính chu kỳ. Chúng sẽ phát triển cực thịnh, rồi bị đào
thải, hủy diệt và tái sinh… Sự biến đổi thế giới hay đời người cũng như những
vòng tròn bất tận mà trong lần trao đổi trước, chúng ta đã biết nó được gọi là
Chu kỳ. Chúng ta đã biết về động lực và phản lực, cái mà hành tinh này đang trải
qua chính là giai đoạn chịu ảnh hưởng của phản lực. Còn động lực, chính là những
hành động của con người. Chúng ta dường như đang đi vào giai đoạn đặc biệt của
hành tinh và có thể sẽ chứng kiến sự khởi đầu một kỷ nguyên mới.
Thomas gật đầu:
– Đúng vậy, tất cả hành vi con người chính là nguồn gốc kích
hoạt những hiện tượng này. Đúng như anh nói, một kỷ nguyên mới sắp bắt đầu
nhưng trước khi đến được đó, thế giới sẽ trải qua nhiều khủng hoảng, chuyển đổi
và có cả hủy diệt. Chúng ta đang bước vào một thời kỳ bất ổn, biến động và hiện
giờ khó ai có thể nói chính xác chi tiết về viễn cảnh thế giới trong tương lai.
Nền khoa học tưởng như kiệt xuất của con người chỉ có thể chạy theo các sự kiện
mới liên tục xảy ra. Nhưng tương lai không nhất thiết diễn ra theo hướng tồi tệ,
vì chúng ta vẫn có thể tác động để làm cho tương lai tốt đẹp hơn.
Tôi đồng tình với Thomas:
– Tôi biết không có điều gì tuyệt đối đúng và không có điều
gì là không thể thay đổi. Rõ ràng nhất là các quan niệm khoa học mỗi thời kỳ lại
mỗi khác. Ở một góc độ nào đó, tôi vẫn tin rằng mỗi người vẫn có thể chuyển đổi
số phận của mình.
Thomas lắng nghe và gật đầu:
– Điều anh nói đúng với từng cá nhân đơn lẻ và cũng có thể áp
dụng với toàn thể. Chúng ta đang chứng kiến một thời điểm lạ thường của thế giới,
khi quy luật vũ trụ và tự nhiên đang xoay vần ở phạm vi rộng lớn, bao hàm mọi
thứ trong vòng tròn nhân quả. Nếu chúng ta không biết ngọn nguồn của những tai
ương mà thế giới đang đối mặt thì không thể làm gì để thay đổi nó. Ngạn ngữ cổ
có câu: “Tất cả tai họa đều bắt nguồn từ chính suy nghĩ và hành động của chúng
ta”. Nhân đã gieo thì sớm muộn cũng trổ quả, bất kể ta có chạy thật nhanh về hướng
tương lai, tảng lờ những sai lầm quá khứ, lấy cái này khỏa lấp cái khác, thì sớm
muộn gì ta cũng phải đối mặt với những hậu quả từ những việc làm của quá khứ.
Con người đã hủy diệt hành tinh xanh này nhanh chưa từng thấy. Chỉ trong vài chục
năm ngắn ngủi, địa cầu đã bắt đầu bước vào đợt tuyệt chủng thứ sáu.
Thiên tai, dịch bệnh sẽ ngày càng trở nên khủng khiếp và xảy
ra thường xuyên hơn, đe dọa mạng sống con người. Tương lai sẽ còn những tai
ương khó lường, mực nước biển dâng cao khi những tảng băng khổng lồ ở hai đầu cực
tan nhanh, có thể giải phóng ra rất nhiều mầm bệnh lạ đã chôn vùi hàng triệu
năm…
Tôi trầm ngâm trước những điều Thomas nói:
– Không lẽ, các quốc gia lớn không hợp lực lại tìm giải pháp
được sao? Theo ông, giải pháp nào là hữu hiệu nhất lúc này?
Thomas cười:
– Anh có thể thấy rõ, xuyên suốt lịch sử, các cường quốc lớn
chưa bao giờ thực sự đoàn kết, cùng ngồi lại với nhau để tìm ra hướng đi chung.
Có những quốc gia đang gia tăng ảnh hưởng, tham vọng và mưu đồ, còn các quốc
gia nhỏ khác thì cũng đang vất vả tự lo liệu.
Là một nhà khoa học nghiên cứu về công nghệ, anh cũng biết rằng
các phát kiến của khoa học kỹ thuật luôn có hai mặt, tốt và xấu, tích cực và
tiêu cực. Sự phát triển của kỹ thuật, công nghệ và các ngành thương mại khác
luôn đi cùng với sự hao tổn tài nguyên thiên nhiên. Tôi có cơ duyên học hỏi để
nhìn nhận mọi việc rõ ràng hơn sau những điều sâu sắc ông Kris từng chia sẻ. Việc
chúng ta gặp nhau, trao đổi những trải nghiệm, những suy nghĩ tâm đắc, dẫn đến
việc anh viết chúng thành sách đều không phải là ngẫu nhiên, mà cũng là một
nhân duyên đặc biệt được sắp đặt. Câu chuyện mà tôi muốn chia sẻ với anh tiếp
sau đây sẽ khá dài, chúng ta có thể bắt đầu triển khai câu chuyện này từ góc
nhìn của khoa học – trong một thế giới hữu hình xen lẫn vô hình. Rất nhiều điều
mà chúng ta chưa biết, chưa giải thích được hoặc không thể nhìn thấy không có
nghĩa là nó không tồn tại.
Chúng tôi dùng bữa xong thì trời cũng đã tối và bắt đầu trở lạnh.
Từng luồng gió từ biển thổi vào. Thomas mời tôi vào phòng làm việc của ông, cẩn
thận đóng cửa để tránh bị làm phiền. Thomas pha một ấm trà nóng mời tôi. Tôi để
ý một bức tranh vẽ cảnh Hy Lạp cổ đại rất đẹp ở mảng tường chính của phòng làm
việc được ánh đèn vàng nhẹ hắt chiếu vào, bên cạnh là chiếc kính viễn vọng đầu
tiên do Chester Moore Hall chế tạo vào năm 1758 mà thường chỉ nhìn thấy ở các
viện bảo tàng. Trên bàn làm việc lớn có một tờ báo mở sẵn bài viết liên quan đến
hiện tượng vật thể bay không xác định trong không gian UFO.
Nhận thấy sự chú ý của tôi, Thomas chỉ vào bài báo và hỏi:
– Anh nghĩ thế nào về hiện tượng UFO?
Hơi bất ngờ về việc Thomas chuyển chủ đề, tôi trả lời:
– Tôi không mấy khi để ý đến những việc như thế này. Nhiều
người tin rằng đã có những sinh vật ngoài không gian thăm viếng địa cầu. Người
khác lại cho rằng đó chỉ là sự tưởng tượng được phóng đại do ảnh hưởng của các
tiểu thuyết khoa học giả tưởng.
Thomas mỉm cười, thong thả nói:
– Phi hành gia Edgar Mitchell, bạn thân của tôi, anh đã gặp
ông ấy ở Đại học Đài Bắc, chắc anh vẫn còn nhớ, ông ấy từng nói với tôi rất nhiều
về đề tài UFO. Edgar tin UFO là có thật nhưng chính phủ Hoa Kỳ đã giấu nhẹm
chuyện này đi. Là nhà khoa học của cơ quan nghiên cứu vũ trụ NASA và là một
trong sáu phi hành gia đã đặt chân lên mặt trăng trên Phi thuyền Apollo 14,
Edgar khẳng định rằng trong vũ trụ còn có rất nhiều hành tinh khác, với các
sinh vật sinh sống trên đó. Những sinh vật này có lẽ không giống loài người, vì
điều kiện sinh sống ở các hành tinh kia khác với địa cầu và một số sinh vật
trong số đó có thể đã du hành không gian đến hành tinh của chúng ta.
Tôi ngạc nhiên khi nghe ông nói vậy, liền hỏi lại:
– Edgar đã khẳng định thế sao? Ông ấy có chia sẻ gì thêm với
ông không?
Thomas trả lời:
– Theo Edgar, trái đất này không phải là hành tinh duy nhất
có sự sống. Trước đây, mặc dù có nhiều báo cáo và hình ảnh về vật thể bay không
xác định từ nhiều nơi trên thế giới, nhưng phần lớn là dàn dựng, ngụy tạo. Tuy
vậy, cũng có vài trường hợp rất đáng tin cậy. Ví dụ như việc một chiếc đĩa bay
của người ngoài hành tinh rơi xuống vùng Roswell, tiểu bang New Mexico vào năm
1947, có hình ảnh rõ ràng. Dĩ nhiên, chính phủ Hoa Kỳ sau đó đã phong tỏa
nghiêm ngặt toàn bộ khu vực này. Mọi tài liệu, hình ảnh thu nhận đều đóng dấu tối
mật nên không ai có thể kiểm tra hay xác minh. Với thâm niên làm việc cho cơ
quan nghiên cứu vũ trụ NASA, Edgar đã được xem những tài liệu mà ít ai được biết.
Ông ấy nói rằng một số khoa học gia khác cũng được xem nhưng vì không muốn gặp
rắc rối nên không ai muốn đề cập gì về chuyện đó.
Tôi thấy rất thú vị, hỏi thêm:
– Vậy Edgar đã kể gì với ông về những việc diễn ra sau đó?
Thomas chậm rãi trả lời:
– Việc đề cập đến sự hiện hữu của sinh vật ngoài hành tinh từ
một người có uy tín như phi hành gia Edgar Mitchell đã làm cho NASA lúc ấy rất
khó xử. Sau đó, phát ngôn viên của cơ quan này phải tuyên bố rằng NASA là cơ
quan nghiên cứu khoa học chứ không phải nơi theo dõi các hiện tượng lạ trên
hành tinh này. Họ không xác nhận hay phủ nhận sự tồn tại của sinh vật ở các
hành tinh khác, vì việc này không nằm trong đối tượng nghiên cứu của họ. Mục
tiêu chính lúc đó của NASA là làm sao để đưa con người lên không gian mà thôi.
Thomas suy nghĩ một lúc, rồi tiếp tục:
– Edgar cho tôi biết ông ấy đã đề cập chi tiết về việc chiếc
đĩa bay rơi ở Roswell với các viên chức thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Họ nói với
ông rằng có những việc cần được giữ bí mật, vì từ chiếc đĩa bay đó, họ đã khám
phá nhiều kỹ thuật tối tân, tiên tiến vượt bậc, không thể để lọt bí mật này vào
tay bất kỳ quốc gia nào khác. Anh biết đó, lúc bấy giờ cuộc chiến tranh lạnh giữa
Hoa Kỳ và Liên Xô đang vào giai đoạn căng thẳng nhất. Bộ Quốc phòng đã chính thức
yêu cầu Edgar không được nói gì thêm về đề tài vật thể bay không xác định.
Đến đây thì tôi thật sự thấy hứng thú với chủ đề, tôi hỏi tiếp:
– Nhưng Edgar có bao giờ thật sự nhìn thấy UFO chưa?
Thomas lắc đầu:
– Mặc dù là phi hành gia và đã bay nhiều chuyến trong không
gian, cũng đã từng đặt chân lên mặt trăng, nhưng Edgar chưa từng tận mắt nhìn
thấy một vật thể bay lạ nào. Tuy nhiên, ông ấy tin rằng chiếc đĩa bay bị rơi ở
Roswell thật sự thuộc về một nền văn minh ngoài trái đất đang bí mật theo dõi sự
phát triển của hành tinh chúng ta. Khu vực chiếc đĩa bay rơi ở Roswell là một
làng nhỏ nằm gần White Sand, hiện nay vẫn đang là khu vực phong tỏa quân sự tối
mật của Hoa Kỳ, được gọi là vùng cấm số 51 (Prohibited Area 51).
Thomas im lặng suy nghĩ một lúc rồi nói:
– Edgar Mitchell là người rất thông minh nhưng trực tính. Ông
ấy có tư duy tiến bộ, muốn chia sẻ kiến thức với mọi người, muốn mở rộng nghiên
cứu khoa học đến những chân trời mới, khám phá những điều mới lạ mà loài người
chưa từng được biết. Tuy nhiên, ông ấy cũng đã khiến nhiều nhà khoa học nổi tiếng
lúc đó không lấy gì làm vui vẻ bởi những tuyên bố của mình, và ông cũng hứng chịu
nhiều búa rìu dư luận, từng bị quy là “phản khoa học”. Thật ra ít ai trên đời
này có thể hiểu được đầu óc của những thiên tài, vì sự suy nghĩ của họ vượt xa
chúng ta rất nhiều.
Tôi im lặng một chút rồi chợt nhớ lại chuyện trước đây:
– Trong buổi nói chuyện tại Đài Bắc với giáo sư Raymond Yeh,
phi hành gia Mitchell đã đề cập đến việc cuộc cách mạng khoa học có thể lật đổ
những quan niệm cũ, tồn tại từ trước đến giờ. Lúc đó, tôi và giáo sư Yeh không
nghĩ rằng điều đó có thể sớm xảy ra. Edgar có nói thêm gì về việc này không?
Thomas gật đầu xác nhận:
– Tôi nhớ lúc đó phi hành gia Edgar không nói gì thêm, sau đó
chúng tôi cũng chưa có dịp đi sâu vào vấn đề này. Tuy nhiên, ông ấy vẫn tin rằng
đã đến lúc chúng ta phải xem xét nghiêm túc lại những hậu quả không mong muốn
mà khoa học kỹ thuật đã tạo ra. Ông ấy tin rằng với những khám phá và dữ liệu
khoa học mới, người ta có thể thay đổi nền tảng của khoa học thực nghiệm đã được
thiết lập từ hàng trăm năm nay. Từ trước đến nay, chúng ta mặc nhiên chấp nhận
một số kiến thức và ứng dụng khoa học mà không hề đặt câu hỏi về giá trị thật
và tác dụng không mong muốn của chúng. Có thể những kiến thức khoa học này thật
sự hữu ích vào thời điểm chúng được khám phá ra, nhưng hiện nay thế giới đã dần
đổi khác, chúng ta cần những kiến thức mới, thích hợp với tình trạng thực tế
ngày nay hơn. Đã đến lúc cần đặt câu hỏi rằng liệu chúng ta có thể tuyệt đối
tin tưởng những gì chúng ta đã từng chấp nhận trước đây không? Dĩ nhiên, một số
người vẫn tin vào những kiến thức này, vì nền tảng khoa học cũng như lý thuyết
về kinh tế, xã hội, nhân văn đều được xây dựng trên đó. Nhưng Edgar cho rằng
trong tương lai sẽ có những nghiên cứu và dữ kiện mới được khám phá, chứng minh
rằng các giá trị mà chúng ta vẫn tin tưởng không còn thích hợp nữa và một kỷ
nguyên mới sẽ bắt đầu.
Tôi hỏi tiếp:
– Nhưng liệu Edgar có tin rằng những kiến thức khoa học ngày
nay có thể sụp đổ không?
Thomas trả lời:
– Edgar cho biết, ông nghĩ rằng con người thường có khuynh hướng
quan tâm đến những việc xảy ra trong tương lai mà hiếm khi nào quay lại kiểm chứng
những niềm tin cũ. Có biết bao nhiêu thứ được coi là “Đúng” của thế kỷ thứ 19
mà nay đã được chứng minh là hoàn toàn “Sai”. Ngày nay, nhìn lại một số lý thuyết
khoa học của thế kỷ 20, chúng ta đã thấy có những lỗ hổng từ căn bản. Có thể những
lý thuyết này không hoàn toàn sai nhưng chưa hoàn chỉnh, còn thiếu sót, cần bổ
túc thêm. Chúng ta sống trên trái đất nên tầm nhìn thường bị giới hạn vào một
nơi chốn, một thành phố hay một quốc gia, nhưng khi bước ra ngoài không gian
thì mọi thứ đều đổi khác. Khi lơ lửng trong không gian bao la vô tận đó, ta thấy
toàn thể trái đất mới thật sự là quê hương thân thương của mình. Từ đó, mọi
quan niệm phân biệt về quốc gia, chủng tộc, chính trị, tôn giáo, văn hóa, xã hội
đều thay đổi. Không ai chứng kiến sự vĩ đại của vũ trụ và sự nhỏ bé của trái đất
mà không khỏi giật mình vì những điều chúng ta đã gây ra cho trái đất thân yêu
của mình. Edgar nói rất rõ: “Không một ai bước ra ngoài không gian mà không
thay đổi. Không người nào đã mở rộng tầm mắt lại chấp nhận chui trở lại vào cái
vỏ ốc đã giam hãm mình từ bao năm qua”. Buổi nói chuyện với Hòa thượng Thánh
Nghiêm đã khiến cho Edgar nghĩ nhiều về mối tương quan giữa con người và vũ trụ.
Điều đó đã giúp ông ấy có động lực mạnh dạn đi theo con đường mà ông ấy đề xướng,
rằng sẽ có một cuộc cách mạng khoa học và thay đổi xảy ra trong tương lai gần.
Anh có biết tại sao Edgar nghĩ như thế không?
Tôi lắc đầu, Thomas nói tiếp:
– Vì tất cả nền tảng của khoa học thực nghiệm đều dựa trên những
giác quan của con người. Họ phải nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy và phải sử dụng
dụng cụ khoa học, máy móc để đo lường và kiểm chứng. Máy móc càng tối tân, dữ
kiện càng chính xác, thì những lý thuyết đặt ra càng được công nhận. Tuy nhiên,
giác quan của chúng ta có giới hạn, do đó mọi quan niệm, mọi lý thuyết, mọi suy
nghĩ của chúng ta đều bất toàn. Qua trải nghiệm về cảm giác hòa nhập với vạn vật,
Edgar ý thức rõ sự tương quan giữa con người và vũ trụ. Khi trở về, ông đã đặt
câu hỏi rồi ngạc nhiên về sự giới hạn của nền khoa học thực nghiệm mà ông đã
theo đuổi từ bao lâu nay. Sau buổi nói chuyện với Hòa thượng Thánh Nghiêm về
kinh Hoa Nghiêm, về sự tương quan và tương nhập của vạn vật trên thế gian,
Edgar nói với tôi rằng ông ấy đã mở rộng tầm mắt đến những chân trời mới lạ mà
ít nhà khoa học nào để ý đến. Ông ấy không ngờ từ lâu các nhà hiền triết phương
Đông đã biết cách phát triển những giác quan siêu việt để phá vỡ những giới hạn
mà khoa học hiện nay chưa thể vượt qua. Đó là những giác quan nội tại mà một
khi được khám phá có thể đánh đổ nhiều quan niệm thiếu sót hay sai lầm mà hiện
nay chúng ta tin tưởng. Đó là lý do ông ấy quyết tâm thúc đẩy các cuộc nghiên cứu
về mối liên hệ giữa khoa học và trải nghiệm nội tại. Hiện nay, các cuộc nghiên
cứu này vẫn đang được tiếp tục tại Viện Khoa học Tinh thần (The Institute of
Noetic Sciences) mà Edgar thành lập tại California.
Tôi hỏi thêm:
– Việc nghiên cứu này hiện tiến triển ra sao rồi?
Thomas mỉm cười:
– Thời gian đầu tôi cũng thường đến thăm Edgar Mitchell và
theo dõi các cuộc nghiên cứu này. Hiện nay, tôi không mấy để ý đến việc này nữa.
Tôi muốn dành thời gian cho những điều mình quan tâm nhiều hơn.
Tôi ngạc nhiên:
– Nhưng chẳng phải ông là một trong những người đã hỗ trợ
thành lập viện nghiên cứu cũng như đã tài trợ cho các cuộc nghiên cứu này sao?
Thomas im lặng một lúc rồi nói:
– Đúng vậy, nhưng các nghiên cứu này sẽ khó có được kết quả
khi mà mọi người vẫn đi tìm giải pháp thông qua những thí nghiệm khoa học bên
ngoài thay vì đi vào những nguyên nhân cốt lõi bên trong. Điều này cũng giống
như khi có bệnh, ta chỉ uống thuốc làm giảm đau, trị các triệu chứng chứ không
đi tìm căn nguyên đã gây nên căn bệnh đó và trị tận gốc.
Tôi hỏi lại:
– Tại sao ông lại nghĩ như thế?
Thomas chăm chú nhìn tôi rồi trả lời:
– Trong một buổi nói chuyện với ông Kris, tôi vô tình hỏi về
sự hiện hữu của các sinh vật từ các hành tinh khác. Ông Kris cho rằng chúng ta
không nên bận tâm nhiều đến việc đó. Hiện nay, ngay trên trái đất này còn bao
nhiêu sinh vật mà người ta chưa biết đến, bao nhiêu số phận bi thương không được
ai quan tâm, bảo vệ thì để tâm đến những sinh vật từ các hành tinh xa xôi để
làm gì? Lúc đó, lòng tự ái của tôi trỗi dậy, nên tôi đã phản bác, rằng trái đất
còn gì nữa mà con người chưa biết? Từ nhiều thế kỷ nay, con người đã khám phá tất
cả những gì có thể khám phá, đã nghiên cứu tường tận về mọi sinh vật, mọi điều
kiện sống, chẳng còn gì để phải tìm hiểu thêm nữa. Đây là lúc phải đi ra ngoài
vũ trụ để nghiên cứu. Khi đó, ông Kris đã bật cười. Ông ấy nói: “Cách đây hàng
ngàn năm, nhà hiền triết Socrates đã dạy các học trò của mình: ‘Các con đừng đi
tìm gì đâu xa, hãy tự hiểu biết mình, vì tự hiểu mình sẽ hiểu biết được vũ trụ’.
Một lời khuyên đầy minh triết mà chúng ta vẫn có thể áp dụng cho ngày nay được.
Như ông cũng biết, vũ trụ rộng lớn bao la, có hàng triệu hành tinh, hàng triệu
Thái Dương hệ, hàng triệu Tinh vân (Nebula), tất cả đều không ngừng quay, không
ngừng biến chuyển, cái thì sinh ra, cái thì mất đi, sinh sinh, diệt diệt, không
bao giờ chấm dứt. Tuy nhiên, nếu quay vào bên trong, tu tập nội tâm, ông cũng sẽ
thấy có hàng triệu tư tưởng nảy sinh trong tâm trí mình, tất cả cũng không ngừng
quay cuồng, biến chuyển, lúc thì sinh ra, khi thì mất đi, sinh sinh, diệt diệt,
cũng không hề chấm dứt. Tóm lại tâm của ta có khác gì vũ trụ đâu? Do đó nếu biết
mình, biết sự thay đổi trong tâm mình, thì cũng có thể biết được những sự kiện
muôn màu muôn vẻ bên ngoài vũ trụ”.
Sau khi đi qua những trải nghiệm kỳ lạ và hành trình thức tỉnh
của riêng mình, tôi ngày càng tâm đắc với câu nói đã được nghe nhiều năm trước:
“Xin đừng ngắm các vì sao khi mặt đất còn nhiều điều chưa hiểu hết”.
Vào đầu cuộc nói chuyện chiều nay, tôi đã chia sẻ với anh những
khủng hoảng, biến động chưa từng có của thế giới đang diễn ra. Và để hiểu hết cội
nguồn, nguyên nhân, chúng ta không thể đi lên mặt trăng, sao Hỏa hay sao Kim để
tìm lời giải cho loài người đang sống dưới trái đất này được. Lời giải phải đến
từ bên trong chúng ta.
Rất nhiều điều vô hình mà chúng ta chưa thấu hiểu hết được lại
vô cùng quan trọng. Chính nghiệp báo đang tác động, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống
chúng ta và những biến cố lớn đang diễn ra ngoài kia sẽ không dừng lại.
Bây giờ tôi sẽ kể anh nghe những câu chuyện ông Kris đã chia
sẻ gần đây mà theo tôi là quan trọng. Những câu chuyện này khá dài và liên tục
nên tôi phải trực tiếp gặp anh chứ không thể nói chuyện qua điện thoại hay
e-mail được. Đó là lý do tôi muốn mời anh đến đây với tôi vài ngày. Và tôi
không chỉ đơn giản chỉ kể lại cho anh nghe, mà từ đó chúng ta sẽ cùng đi tìm giải
pháp cho những vấn đề của hiện tại và tương lai. Anh và tôi sẽ bước vào một cuộc
hành trình, một sứ mệnh để góp phần chia sẻ, lan tỏa những giá trị hữu ích đến
với mọi người – càng nhanh càng tốt. Chúng ta không còn nhiều thời gian nữa!
Tuy chuyến bay cũng khiến tôi khá mệt, nhưng tôi vẫn muốn bắt
đầu câu chuyện và ghi chép ngay.
Sau đây là những cuộc đối thoại thú vị, đầy minh triết giữa
ông Kris và Thomas, cùng với hành trình thức tỉnh tâm linh của Thomas.
Phần 2.1 - Bí ẩn những cõi giới khác: Hành trình của những linh hồn
Trong một lần gặp ông Kris, tôi có hỏi Kris một cách khôi hài
rằng, nếu quay vào bên trong thì con người sẽ khám phá được những gì? Liệu
chúng ta có thể giải đáp câu hỏi con người từ đâu đến hay chết đi sẽ về đâu hay
không? Liệu sau khi hướng vào bên trong, chúng ta có được tăng lương thêm
không? Kinh doanh có được tốt hơn không? Có tìm ra được những giải pháp cho các
vấn đề cuộc sống quá phức tạp, ngổn ngang hay không?
Ông Kris không để ý đến hàm ý trêu đùa của tôi, ông nhìn thẳng
vào tôi, nghiêm nghị trả lời:
– Câu hỏi của ông là vấn đề rất nghiêm túc và thú vị, đồng thời
cũng là câu hỏi của rất nhiều người. Con người luôn có tính tò mò, cái gì cũng
muốn biết, muốn hiểu. Nhưng biết để làm gì? Cho dù tôi nói thế nào cũng không
thể thỏa mãn được tất cả mọi người. Nếu tôi nói rằng con người xuất phát từ
hành tinh nào đó đến đây thì các nhà khoa học sẽ đòi hỏi bằng chứng xác thực. Nếu
tôi nói rằng con người từ vật chất cấp thấp tiến hóa thành sinh vật, rồi thành
người thì các tôn giáo cũng không chấp nhận. Nếu tôi nói con người do một đấng
nào đó sinh ra thì có người sẽ đặt câu hỏi vậy ai đã sinh ra đấng đó. Nếu tôi
khẳng định có một thế giới của những vong linh sau khi con người chết, có cả
cõi giới của ma quỷ đang tồn tại song hành cùng chúng ta mọi người sẽ bắt tôi
chụp ảnh vong linh hay dẫn một con ma đến để các nhà báo chụp ảnh, phỏng vấn
thì mới tin. Tóm lại tất cả những câu trả lời đều không làm hài lòng mọi người.
Muốn thấu hiểu chỉ có cách duy nhất là quay vào bên trong, tự khám phá, tự tìm
kiếm câu trả lời thông qua việc tu tập, quán chiếu, để hiểu sự vận hành của tâm
thức và thế giới. Có điều, đó là câu trả lời mà chỉ có ai từng thực sự trải
nghiệm mới hiểu, “như người uống nước tự biết nóng lạnh”, chứ chỉ nói suông
không có ích gì. Hiện nay, phần lớn con người chỉ biết quay ra bên ngoài, đuổi
theo những điều phù phiếm chứ không thấu hiểu các động lực bên trong đang chi
phối đời sống của họ. Đa số mọi người chỉ chạy theo những ảo ảnh xa vời, càng
ngày càng đi xa, càng lạc lõng, càng mất phương hướng, không quay về ngôi nhà nội
tâm của mình được. Tất cả những gì hướng ra bên ngoài đều không mang lại kết quả
lâu dài được – bởi vì hiểu biết thật sự phải đến từ bên trong. Khi thế giới bên
ngoài biến động lớn đến mức không còn điểm tựa nào nữa thì chính là đến lúc
chúng ta buộc phải quay vào bên trong.
Tôi chăm chú lắng nghe, cảm nhận những điều ông nói rất thú vị
nhưng vẫn không giấu được vẻ hoài nghi. Bởi cho đến lúc đó, tôi vẫn còn là con
người của tư duy khoa học, dẫu đã bắt đầu có những trực giác nhất định về thế
giới tinh thần. Dường như đọc được những suy nghĩ của tôi, ông Kris chậm rãi
nói tiếp:
– Những điều tôi nói trên đây là dựa vào những trải nghiệm và
sự hiểu biết của tôi. Tất nhiên, trải nghiệm của tôi không thể là của ông, hiểu
biết của tôi cũng chưa thể là của ông, nên sự hoài nghi xuất hiện trong ông là
điều tất nhiên. Ông không cần phải tin những điều tôi nói mà nên tự trải nghiệm,
tự suy ngẫm để tìm ra lời giải đáp của riêng mình. Vũ trụ không chỉ đơn giản chỉ
là không gian rỗng với các hành tinh xoay chuyển mà còn có những luồng năng lượng
biến chuyển liên tục theo những định luật phức tạp, tương quan vô cùng chặt chẽ
với nhau. Hiện nay các nhà khoa học cho rằng mọi sự xảy ra trong vũ trụ chỉ là
những hiện tượng vật lý và hóa học, như vậy là còn nhiều thiếu sót. Tương tự,
con người không phải chỉ là cái thân xác vật chất mà bên trong còn có những nguồn
năng lượng vô hình luôn biến chuyển, tác động tương hỗ qua lại liên tục giữa
người này với người khác, dưới sự ảnh hưởng của các quy luật của vũ trụ, luật
Nhân quả và Luân hồi.
Tôi lắng nghe chăm chú, đôi chút ngạc nhiên vì ông có thể biết
được điều tôi đang nghĩ. Tôi suy ngẫm những điều vừa nghe, rồi hỏi:
– Vậy các sinh vật sống ở hành tinh khác thì thế nào? Liệu
chúng có bị chi phối bởi những luật này không?
Ông Kris bật cười, trả lời:
– Vũ trụ rộng lớn bao la với hàng triệu hành tinh, đời sống tại
những nơi đó ra sao thì tôi không thể biết được. Tuy nhiên, theo sự nghiên cứu
của tôi thì tất cả mọi sự, mọi vật trong vũ trụ này đều chịu sự chi phối của luật
Luân hồi và Nhân quả. Ngay trên trái đất này, ngoài thế giới của loài người và
loài vật còn có cõi giới của các sinh vật khác mà hầu như mọi người còn chưa biết,
việc gì phải đi tìm kiếm đâu xa?
Tôi hết sức ngạc nhiên, lập tức hỏi lại:
– Ông vừa nói còn có những cõi giới khác nữa sao?
Ông Kris gật đầu, xác nhận:
– Cõi giới (Realm) là những vùng cấu tạo bởi các nguyên tử có
sự rung động đặc biệt tương thích với các sinh vật sống trong không gian đó.
Tùy sự cấu tạo và rung động của nguyên tử mà hình hài, thể chất các sinh vật
cũng biến đổi theo hoàn cảnh của cõi giới đó. Cõi giới hiện nay của chúng ta cấu
tạo bởi các nguyên tử có sự rung động chậm và thô, nên thích hợp với cơ thể vật
chất, là thế giới chúng ta nhìn thấy mỗi ngày đây. Các cõi khác thì nguyên tử
rung động thanh và nhẹ nên giác quan vật chất của chúng ta không thể nhận biết,
nghe hay nhìn thấy được. Những cõi này đều có những sinh vật sống tại đó, chỉ
là chúng ta không thể nhìn thấy đó thôi, nhưng không nhìn thấy không có nghĩa
là chúng không hiện hữu.
Tất cả những gì hướng ra bên ngoài đều không mang lại kết quả
lâu dài được – bởi vì hiểu biết thật sự phải đến từ bên trong. Khi thế giới bên
ngoài biến động lớn đến mức không còn điểm tựa nào nữa thì chính là đến lúc
chúng ta buộc phải quay vào bên trong.
Tôi buột miệng hỏi:
– Phải chăng ông đang muốn nói về ma quỷ? Ông cho rằng ma quỷ
là có thật hay sao?
Ông Kris nhìn thẳng vào mắt tôi, nói rất chậm:
– Không những ma quỷ là có thật mà còn có rất nhiều thực thể
được phân cấp bậc sống ở các cõi giới khác nữa. Đối với đa số mọi người, ma quỷ
là một khái niệm được cho là mơ hồ, có người tin và có nhiều người không tin. Nếu
ông tin là có ma quỷ, thì ma quỷ sẽ hiện hữu, còn ông không tin là có ma quỷ
thì ma quỷ cũng vẫn cứ hiện hữu. Nếu tôi nói với ông dưới lòng đất có dầu hỏa
thì dù ông có tin hay không, mỏ dầu hỏa vẫn ở dưới đó. Người có kiến thức về địa
chất sẽ khai thác mỏ lấy dầu, người thiếu kiến thức thì bỏ lỡ cơ hội. Trong phạm
vi Thái Dương hệ của chúng ta hiện nay, có nhiều cõi giới khác nhau. Ma quỷ
(Spirits) có cõi riêng. Thần linh (Deva) có cõi giới riêng. Thánh nhân (Sages)
cũng có cõi giới riêng của họ. Ngoài ra còn có các loài sinh vật lạ lùng với
cõi giới riêng của chúng nữa. Những cõi này bao trùm lên nhau, tùy theo sự rung
động của nguyên tử khác nhau mà tạo ra các “chiều không gian” (Dimension) riêng
biệt.
Thấy tôi chăm chú lắng nghe, ông giải thích tiếp:
– Hiện nay, hầu hết mọi người không tin có cõi giới nào khác
ngoài cõi giới của loài người, vì giác quan của họ không nhận thức được các cõi
kia. Nhưng không nhận thức được không có nghĩa là chúng không hiện hữu. Hiện
nay trên không trung có vô số làn sóng điện của radio, tivi hay điện thoại mà
ông đâu nhìn thấy, nghe thấy hay sờ thấy được, nhưng ông vẫn biết chúng hiện hữu
vì có thể sử dụng điện thoại, tivi, radio, radar để bắt những làn sóng đó. Nhờ
sóng truyền hình, ông có thể thấy được hình ảnh chương trình trên các kênh
tivi. Cũng như thế, khi tu tập nội tâm, phát triển định lực, nhận thức trở nên
tinh tế hơn, thì ông có thể bắt được các rung động từ các chiều không gian kia,
rồi biết được sự sinh hoạt của các cõi khác.
Tôi đã bị thuyết phục phần nào trước sự phân tích chặt chẽ,
nhưng vẫn im lặng, ông Kris nói tiếp:
– Đa số mọi người ngày nay có tính hồ nghi, chỉ thích nghe những
gì muốn nghe, và bỏ qua những việc không thích, do đó rất khó có thể nói cho họ
biết về những cõi giới kia. Dù có nói ra, họ cũng đòi phải có bằng chứng, phải
chứng minh được thì mới chịu tin. Do đó, việc nói về các cõi giới khác không có
ích gì trong lúc này.
Tôi suy nghĩ thêm, rồi hỏi:
– Vậy thì các cõi giới đó liên hệ và tác động tới cõi giới của
chúng ta như thế nào? Trước giờ tôi chưa từng nhận biết được sự tồn tại của cõi
giới nào khác cả.
Ông Kris nhìn tôi, vẻ thú vị với câu hỏi, rồi điềm tĩnh giải
thích:
– Cõi giới loài người bị giới hạn bởi các yếu tố vật chất,
còn cõi giới của các thực thể khác như ma quỷ, thiên thần, hay thánh nhân thì rộng
lớn hơn, bao trùm lên cõi giới loài người. Ngoài ra còn có những cõi giới khác
lớn hơn nữa, bao trùm lên các hành tinh, Thái Dương hệ, các thiên hà, vượt
ngoài sự hiểu biết của tôi. Như ông đã biết, sự rung động chậm và thô sinh ra
các yếu tố vật chất. Với sự rung động thanh, nhẹ thì vật chất chuyển thành năng
lượng. Tại các cõi giới có nguyên tử rung động thanh, nhẹ thì không có yếu tố vật
chất, tất cả chỉ là năng lượng hay tư tưởng thôi. Vì là cõi tư tưởng nên các thực
thể thuộc những cõi này có thể biết được tư tưởng của con người, còn con người
thuộc cõi vật chất không thể biết được các cõi giới khác và các tư tưởng thuộc
cõi giới đó.
Tôi giật mình, lập tức hỏi lại:
– Ông nói rằng ma quỷ, thần thánh có thể hiểu được chúng ta
đang nghĩ gì hay sao?
Ông Kris bật cười:
– Dĩ nhiên là có thể. Không những ma quỷ, mà các thực thể thuộc
các cõi khác cũng có thể biết được tư tưởng, suy nghĩ, ý định, hành động của
con người một cách dễ dàng. Để tôi lấy ví dụ cho ông dễ hiểu. Chúng ta lớn hơn
côn trùng nên có tầm nhìn rộng lớn hơn chúng. Nếu quan sát con kiến tìm mồi dưới
đất và ta thấy cách đó không xa có một hạt gạo, mà nếu con kiến tiếp tục đi nó
sẽ gặp hạt gạo đó. Vì con kiến không thể nhìn xa, nên khi chưa đến chỗ đó, nó
không biết gì về hạt gạo kia. Còn chúng ta, vì có tầm nhìn bao quát hơn, chúng
ta có thể thấy trước được việc này và biết con kiến sẽ tìm được hạt gạo. Tương
tự như vậy, cõi giới cao hơn có tầm nhìn lớn hơn nên thực thể ở cõi đó có thể
nhận biết hay nhìn thấy trước một số sự kiện chưa xảy ra ở thế giới này.
Ông Kris dừng lại để cho tôi suy ngẫm về những điều vừa nói,
rồi tiếp tục:
– Một số người, qua công phu tu luyện, hay có một khả năng đặc
biệt nào đó, được mở rộng nhãn quan, có thể tiên đoán được một số sự việc xảy
ra cả vài thập kỷ thậm chí cả thế kỷ sau đó. Họ thường được gọi là những nhà
tiên tri. Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm là những tiên đoán này không phải
lúc nào cũng chính xác. Bởi vì tương lai không bao giờ cố định mà luôn thay đổi
tùy theo biến chuyển tâm thức của nhân loại.
Tôi hỏi thêm:
– Vậy những lời tiên tri có thể ứng nghiệm hay không ứng nghiệm
như thế nào?
Ông Kris từ tốn trả lời:
– Không ai có thể bảo đảm mọi việc sẽ xảy ra tuyệt đối chính
xác theo một kịch bản nào đó được. Những nhà tiên tri chân chính không bao giờ
nói thẳng mà thường chỉ sử dụng ẩn dụ, hoặc những câu thơ bóng bẩy, lời nói hàm
ý để cảnh báo nhân loại. Họ biết mọi sự xảy ra trên đời đều do nhân quả thu xếp,
nhưng còn tùy năng lực chiêu cảm của nhân loại mà thời gian có thể thay đổi, có
khi đến sớm, có khi đến muộn, cả mức độ xảy ra cũng không cố định, có khi nặng,
có khi nhẹ. Bất cứ ai một khi đã gây nhân ắt sẽ có quả nhưng khi nào nhân trổ
quả thì còn tùy vào lực chiêu cảm, hành vi tiếp theo và công đức của mỗi người.
Chính vì vậy, số mệnh con người không bao giờ cố định mà luôn luôn thay đổi tùy
theo tâm thức và sự thức tỉnh của người đó. Người xem tử vi dựa trên ngày
tháng, sự vận hành của các vì tinh tú, chỉ có thể nói một cách tổng quát, đại
cương thôi, vì mọi sự vẫn còn có thể thay đổi. Số mệnh được định sẵn khi con
người sinh ra chỉ là cái khung sườn (Framework), còn các chi tiết bên trong có
thể thay đổi tùy lực chiêu cảm của tâm thức con người. Khi con người có thêm hiểu
biết, có nhận thức mới và quyết tâm thay đổi từ tâm thức, thay đổi suy nghĩ, lời
nói và hành động, thì khi đó con người mới có thể cải biến được số mệnh.
Tôi chăm chú lắng nghe, vỡ ra nhiều điều. Im lặng một lúc,
tôi hỏi thêm:
– Thế sự thay đổi từ bên trong đó diễn ra như thế nào?
Ông Kris giải thích nhẹ nhàng:
– Kinh sách Ấn Độ có câu chuyện như sau: “Một ông vua khi lên
ngôi thấy cung điện của mình cũ kỹ, nhỏ bé, xấu xí, ông đã chi rất nhiều tiền của,
tuyển các nghệ nhân nổi tiếng trong vương quốc đến để xây mới lại cung điện của
mình huy hoàng, tráng lệ hơn, mặc dù năm ấy nạn đói hoành hành khắp nơi, người
dân không có đủ lương thực để ăn. Ngày nào nhà vua cũng đốc thúc các thợ thuyền
dồn sức làm việc ngày đêm, làm sao cho cung điện phải thật sang trọng nguy nga.
Ông muốn có một chiếc ngai bằng vàng ròng, bồn tắm bằng ngọc, phòng ốc được
trang hoàng cầu kỳ bằng đá quý với các chi tiết chạm trổ hết sức kỳ công. Ít
lâu sau, nhà vua mắc một căn bệnh nan y. Các y sĩ giỏi trong vương quốc dù đã cố
gắng hết sức cũng đều phải bó tay, không thể cứu chữa. Các nhà chiêm tinh nổi
tiếng trong nước được triệu tới để đoán vận mệnh cho nhà vua. Các nhà chiêm
tinh sau khi xem xét kỹ đều nói rằng nhà vua cùng lắm chỉ sống được một tháng nữa,
vì số mạng của nhà vua đến đó đã là số tận. Nhà vua trong tuyệt vọng vẫn suy
tính: ‘Nếu chết, ta làm sao để có thể mang của cải, cung vàng điện ngọc theo được
đây?’. Cuối buổi, khi mọi người ra về hết, một vị chiêm tinh già rất có uy tín
nán lại, tiến đến nói nhỏ một câu gì đó chỉ đủ cho nhà vua nghe. Nhà vua bỗng
biến sắc, lặng người suy nghĩ. Nửa đêm hôm đó, cả triều đình bất ngờ khi nhà
vua đột nhiên ra lệnh hủy bỏ ngay lập tức việc xây cất cung điện, mang tất cả của
cải, vàng bạc bố thí cho dân nghèo trong cả vương quốc. Nhà vua đã chấp nhận số
phận của mình.
Nhưng thật kỳ lạ, sau khi từ bỏ việc xây cất cung điện và tiến
hành phát chẩn cứu đói, sức khỏe nhà vua mau chóng hồi phục trước sự kinh ngạc
của tất cả triều thần. Nhà vua cho gọi vị quan chiêm tinh đó đến để hỏi chuyện.
Vị chiêm tinh già nhìn nhà vua một lúc rồi chậm rãi giải thích: ‘Theo lá số
chiêm tinh, mệnh của nhà vua thật ra đã hết, nhưng hành động bố thí lớn lao vừa
rồi đã chiêu cảm được những điều tốt lành, may mắn và chuyển hóa được nghiệp
báo nên nhà vua sẽ không phải chết nữa’”.
Trong khi tôi còn đang bàng hoàng về câu chuyện thì ông Kris
chậm rãi khẳng định:
Bất cứ ai một khi đã gây nhân ắt sẽ có quả nhưng khi nào nhân
trổ quả thì còn tùy vào lực chiêu cảm, hành vi tiếp theo và công đức của mỗi
người. Chính vì vậy, số mệnh con người không bao giờ cố định mà luôn luôn thay
đổi tùy theo tâm thức và sự thức tỉnh của người đó. Khi con người có thêm hiểu
biết, có nhận thức mới và quyết tâm thay đổi từ tâm thức, thay đổi suy nghĩ, lời
nói và hành động, thì khi đó con người mới có thể cải biến được số mệnh.
– Đó chính là nguyên lý “Hoán cải số mệnh – Đức năng thắng số”
mà ông đã từng nghe. Thật ra, gần như ai cũng biết đến nguyên lý này nhưng ít
người thực hiện được, vì tâm họ còn nhiều tham sân si, ích kỷ, thường chỉ biết
nghĩ cho riêng mình mà không nghĩ đến thiên hạ, chúng sinh. Nhất là những người
có nhiều của cải, quyền lực thường có tư tưởng bám chấp rất lớn, dù họ biết chết
đi không mang theo được gì cả. Ở phạm vi lớn hơn, các quốc gia chịu ảnh hưởng lớn
từ sự chuyển đổi tâm thức, hướng thiện từ những người giữ vị trí cao nhất, rồi
đến sự thức tỉnh của đa phần những người dân sống trong quốc gia đó. Tuy nhiên,
ông cũng lưu ý rằng bố thí, làm việc thiện không thể là hành vi có mục đích
riêng, nhằm cứu vãn một tai họa nào đó cho bản thân. Đó phải là sự giác ngộ, thức
tỉnh trong tâm để chuyển hóa thành hành vi thiện nguyện, là việc thiện chỉ vì
lòng thiện chứ không thể vì bất kỳ động cơ nào khác. Từ đó, mới chiêu cảm được
những điều tốt lành và số mệnh mới có thể chuyển biến. Ông cần nhớ rằng làm việc
thiện phải từ tâm, không cần hồi báo. Chúng ta làm điều tốt vì đó là điều đúng
đắn nên làm chứ không phải vì mong muốn nhận lại được điều tốt cho bản thân.
Tôi gật đầu và nói:
– Tôi hiểu rồi. Việc “cải mệnh” hóa ra có vẻ đơn giản nhưng lại
không hề đơn giản. Không phải cứ mặc sức làm điều độc ác, hại người lợi mình, rồi
sau đó vì sợ sự trừng phạt của nhân quả nên vội vàng bỏ tiền bỏ của ra làm những
việc công đức nặng tính hình thức là có thể xóa đi nghiệp ác hay báo ứng được.
Nếu không thực sự xuất phát từ suy nghĩ, hành động thiện tâm thì không một ai
trên đời có thể thay đổi được nghiệp quả.
Ông Kris mỉm cười nhìn tôi với vẻ thú vị:
– Vị vua trong câu chuyện trên có thể cải số vì đó là sự thức
tỉnh từ việc lắng nghe lời khuyên của vị chiêm tinh già, nhưng đó cũng là sự
giác ngộ thật sự. Từ sự giác ngộ đó, ông phát tâm từ bi bố thí cho dân, việc
trước giờ ông chưa bao giờ làm, và ông cũng không mong cầu gì nên đã tạo công đức
lớn. Những việc làm thiện có tính toán thiệt hơn vẫn gieo được nhân tốt nhưng
phần công đức tích được bị trừ đi, còn lại rất ít.
Ông vua trong câu chuyện trên là một vị vua hiếm hoi có thể
thức tỉnh rằng cung vàng điện ngọc và quyền lực của kiếp người chỉ là hư vô, chết
rồi sẽ không mang theo được. Nhưng có mấy vị vua nghĩ được như thế, đa số họ
còn ra lệnh đòi mang theo vàng bạc, châu báu, binh tướng, cung nữ chôn theo
mình. Nhìn vào lịch sử cổ đại, ông có thể thấy rằng từ rất sớm, các vị vua, đặc
biệt là ở Ai Cập, Trung Hoa, đã bắt đầu xây lăng mộ xa hoa, thậm chí bắt người
hầu, cung nữ và những đội quân chôn theo để vẫn có thể hưởng thụ quyền lực sau
khi chết. Chưa kể hàng trăm, hàng ngàn người phu xây lăng mộ vua chúa đều bị
chôn sống theo mộ để giữ bí mật vị trí lăng mộ. Tất cả đều là nghiệp dữ. Con
cháu của những vị vua đó đương nhiên sẽ bị quả báo, gặp họa sát thân, triều đại
cũng sớm bị tiêu vong. Những hoàng đế Trung Hoa thường mời những pháp sư, nhà
phong thủy giỏi nhất tính toán vị trí long huyệt để xây lăng mộ cho mình, nhằm
toan tính cho triều đại và con cháu của mình sẽ cai trị mãi mãi. Nhưng cuối
cùng, có triều đại nào là vĩnh viễn đâu? Vị vua tốt biết lo cho dân cho nước sẽ
tạo nền tảng tốt cho triều đại và quốc gia thêm vững bền. Không có long huyệt
phong thủy nào có thể cứu vãn được sự tàn ác và thất đức. Tần Thủy Hoàng quyền
uy một cõi, nhất thống thiên hạ, từng lập nên một triều đại vẻ vang nhưng đồng
thời gây ra rất nhiều tội ác, làm bao người chết oan ức, muôn dân lầm than. Ông
ta muốn bất tử để có thể làm hoàng đế vĩnh viễn nên tin dùng những đạo sĩ để
truy tìm thuốc tiên, rồi xây lăng mộ vĩ đại cho bản thân để mong tiếp tục làm
hoàng đế sau khi chết. Ông hãy nhìn các báo cáo về việc khai quật lăng mộ Tần
Thủy Hoàng, nhìn những đội quân đất nung hàng chục ngàn người cùng một phần
lăng mộ đã được khai quật này là có thể thấy tham vọng điên cuồng của ông ta. Sử
ký Tư Mã Thiên đã ghi chép lại Tần Thủy Hoàng đã ra lệnh cho hơn 700.000 người
ngày đêm xây lăng mộ cho mình nằm sâu dưới một ngọn đồi, bao quanh bởi hào sâu
được đổ đầy hàng trăm tấn thủy ngân cực độc, chưa kể các cạm bẫy chết người
cùng vô số lời nguyền, bùa chú trấn yểm nhằm ngăn chặn kẻ khác đột nhập lăng mộ
để chiếm đoạt vàng bạc châu báu.
Tôi mỉm cười nói:
– Đúng là không có giới hạn nào cho lòng tham của con người một
khi họ đã trầm mê trong quyền lực. Vậy ngôi mộ này có thực sự huyền bí như người
ta đã đồn đại?
Ông Kris mỉm cười rồi nói tiếp:
– Trước cửa mộ Tần Thủy Hoàng có đặt một tấm bia đá, ghi khắc
rất rõ tất cả những gì có trong mộ và ngay cả bản đồ kiến trúc ra sao (mộ
chính, các dòng sông thủy ngân, các tinh tú vũ trụ trên vách cùng bốn đoàn quân
đất nung canh mộ với đầy đủ binh mã, chiến xa…). Tuy nhiên, có một chi tiết là
dòng chữ cuối trên tấm bia đá ghi rõ đây là long mạch Trung Hoa, nếu mở mộ này
thì Trung Hoa sẽ tan rã trở lại, chia năm xẻ bảy như thời chiến quốc, rơi vào cảnh
phân tranh hỗn loạn. Lời nguyền đe dọa này khiến Hán Cao Tổ sau này dù muốn đập
phá mộ để trả thù thì cuối cùng cũng phải hạ lệnh cho quân sĩ đổ đất đá lấp kín
lăng mộ và bồi đắp cao như một ngọn núi để đời sau không ai biết nơi này là mộ
Tần Thủy Hoàng nữa. Ông ta còn để lại di chúc cho con cháu đời sau xây mồ mả
xung quanh khu vực long mạch này để giữ cho đất nước được thống nhất, thịnh trị.
Hiện nay, quanh mộ Tần Thủy Hoàng còn vài chục ngôi mộ lớn nhỏ của các vị vua
nhà Hán. Nhiều triều đại sau đó như Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh…
không một hoàng đế nào dám đụng đến vùng lăng mộ đó vì sợ chạm vào long mạch.
Những bí mật và vị trí ngôi mộ Tần Thủy Hoàng bị chôn vùi qua bao đời. Mãi đến
sau này vài thập kỷ gần đây, một số nông dân khi đào tình cờ phát hiện ra một cửa
vào ngôi mộ, chính quyền Trung Quốc lập tức tập trung cho khai quật di chỉ khảo
cổ này ngay, nhưng khi khai quật sâu vào trong và nhìn thấy tấm bia đó, họ đã
không tiếp tục đào mở cửa mộ. Tuy có bốn đội quân đất nung, nhưng chính quyền
chỉ cho đào đội quân phía Nam để người dân tham quan. Ba đội quân kia, dù đã biết
vị trí, nhưng họ không cho phép khai quật nữa. Phần mộ chính quanh núi đều có
quân đội canh gác nghiêm ngặt ngày đêm.
Đến tận ngày hôm nay, người ta vẫn chỉ công bố là không đủ
công cụ khoa học để mở cửa chính của lăng mộ Tần Thủy Hoàng vì sợ hủy hoại di vật
lịch sử. Nhưng ở một đất nước tin phong thủy như Trung Quốc, truyền thuyết về
lăng mộ Tần Thủy Hoàng lại càng được người dân đồn đại theo màu sắc huyền bí.
Nhiều chuyên gia hiểu về phong thủy địa mạch cũng cho rằng nếu chạm vào huyệt mộ
Tần Thủy Hoàng thì sẽ tổn hại đến long mạch quốc gia, khiến đại lục tan rã. Lời
nguyền từ vị bạo chúa để lại cho hậu thế có nhiều cách hiểu nhưng chắc chắn ông
ta mong muốn duy trì triều đại nhà Tần đến thiên thu vạn đại. Nhưng, nghiệp dữ
đã gây ra thì phải trả, không có một thế lực nào của loài người đủ vĩ đại để
kháng cự lại luật Nhân quả.
Tôi hỏi:
– Vậy, chính sự tàn ác của triều đại Tần Thủy Hoàng là nguyên
nhân khiến triều đại này vắn số?
– Đúng vậy. Mặc dù Tần Thủy Hoàng muốn sống đời đời để cai trị
đất nước của mình nhưng ông ta chỉ làm hoàng đế được mười hai năm rồi lâm bệnh
chết vào năm bốn mươi chín tuổi. Dù lăng mộ Tần Thủy Hoàng đã được tính toán đặt
ở long huyệt với những sắp xếp phong thủy cao thâm, nhưng sau khi ông ta chết,
triều đại vĩ đại của ông ta chỉ kéo dài thêm vỏn vẹn được có bốn mươi sáu ngày
nữa. Các con ông ta người thì tự sát, người thì sau khi đăng cơ đã lập tức ra lệnh
giết sạch những người con còn lại của Tần Thủy Hoàng và rồi cuối cùng cũng tuyệt
mệnh cùng triều đại nhà Tần. Tần Thủy Hoàng khi tại thế rất muốn chống lại
thiên mệnh nhưng không cách nào thắng được nghiệp báo từ những việc tàn ác mà
ông ta đã làm.
Tôi thắc mắc:
– Vậy tại sao có những nghiệp quả đến nhanh và có những nghiệp
quả đến chậm?
Ông Kris trả lời:
– Số mệnh con người, cũng như tất cả mọi sự xảy ra đều do những
nhân đã gây ra từ trước. Bệnh tật cũng thế, phần lớn những bệnh hiểm nghèo cũng
đều do những nhân và nghiệp đã tạo ra khi xưa. Sinh mệnh dài hay ngắn đều được
sắp đặt bởi luật Nhân quả, nhưng tùy năng lực chiêu cảm của mỗi người mà việc
trả quả sẽ xảy ra lúc này hay lúc khác, lúc nhanh, lúc chậm. Do đó, nếu hiểu biết,
người ta có thể thay đổi được số mệnh, cũng như tránh được tật bệnh, bởi vì mệnh
số thật ra không cố định. Vận mệnh, tốt hay xấu, may hay rủi, đều không cố định,
sinh tử cũng không cố định. Ông cũng biết, ngay trong tâm của chúng ta có đủ
các loại hạt giống, hay còn gọi là chủng tử, tốt cũng như xấu, đã tích tụ từ
muôn ngàn kiếp trước. Tại sao có người luôn gặp chuyện chẳng lành? Vì lúc nào họ
cũng tính toán, cũng mang suy nghĩ ghen tức, xấu xa, nên chiêu cảm các hạt giống
xấu ẩn trong tâm họ được kích hoạt. Nếu con người biết ngăn chặn những ý nghĩ xấu,
chỉ suy nghĩ đến điều tốt, làm việc thiện, thì sẽ chiêu cảm những hạt giống lành
sẵn có trong tâm nảy sinh, ngăn chặn ảnh hưởng của các hạt giống xấu, không cho
chúng khởi phát lên – từ đó mới chuyển đổi được số mệnh. Càng nhiều hạt giống
thiện được sinh sôi thì càng ít hạt giống xấu nảy mầm. Càng làm nhiều việc thiện
thì sẽ chuyển đổi được càng nhiều nghiệp quả xấu thành tốt. Cũng giống như người
trồng rau, nếu biết bón phân, chăm sóc cẩn thận thì rau sẽ mọc lên tươi tốt, nếu
không làm gì thì cỏ dại sẽ mọc lấn át rau trái. Hiện nay, không mấy ai để ý đến
việc này. Khi sung sướng, giàu sang, người ta có thể không biết suy nghĩ sâu xa
mà cho rằng mình tài giỏi nên có quyền được hưởng những tiện nghi đó. Thật ra,
những điều họ có được ngày nay đều do những nhân lành đã gieo từ trước mà hiện
nay trổ quả, gọi là phước báu. Có người hưởng phước lớn, có người hưởng phước
nhỏ, tùy theo nhân đã tạo. Tuy nhiên phước cũng giống như tiền bỏ vào ngân
hàng, nếu cứ tiêu ra mà không bỏ thêm vào thì trước sau cũng hết. Mấy ai đã biết
hỏi khi một người hết phước đức thì chuyện gì xảy ra với mình?
Ông Kris dừng lại một lúc cho tôi suy nghĩ rồi nói tiếp:
– Con người ngày nay đa số đều có tính tham lam, ích kỷ không
biết đến làm việc thiện, bố thí hay nhân quả của làm việc thiện, bố thí là gì.
Họ chỉ biết chiếm đoạt, tích trữ của cải cho thật nhiều, nghĩ rằng mình có thể
hưởng thụ mãi mãi. Họ không biết rằng ngay lúc sung sướng đã có bất hạnh rình rập.
Nhiều người không bao giờ cho ai một thứ gì mà chỉ biết lấy đi của người khác,
lấy được càng nhiều càng tốt, bất kể hậu quả và không bao giờ biết đủ. Những
người ấy không những đã tự mình gieo nhân xấu mà còn khuyến khích người khác
làm như mình, khiến cho vô số người cũng bị sa vào con đường lầm lạc. Họ không
biết gì về nhân quả hay sự quân bình của luật tự nhiên. Khi lấy ra mà không bù
lại chính là làm mất quân bình, do đó tự nhiên phải tạo ra động lực khác để lập
lại sự quân bình vốn có. Nếu để ý, ông sẽ thấy phần lớn những người tham lam,
ích kỷ, làm mọi thứ chỉ để tích trữ của cải cho nhiều, nếu không gặp các tai nạn
bất thường thì cũng mắc các chứng nan y. Đó là họ đang phải trả lại những gì đã
lấy qua hình thức chi phí chữa bệnh hoặc đau đớn và lo âu. Những người sử dụng
địa vị, quyền thế, chiếm đoạt tài sản người khác thường gặp việc không may, thậm
chí tán gia bại sản và tù tội. Không những thế, động lực tự nhiên thường rút bớt
sự sống của những người này. Khi chết họ bị nghiệp lực dẫn dắt vào cõi giới ngạ
quỷ, chịu đói khát, khổ sở để học bài học về cái giá phải trả của sự độc ác,
tham lam.
Tôi hỏi thêm:
– Thế giới ngạ quỷ sinh hoạt như thế nào?
Ông Kris giải thích:
– Cũng như loài người, ma quỷ có loài tốt, loài xấu. Có loài
giúp người, có loài hại người. Có loài có quyền năng, có loài vô tri, u mê,
không biết gì hết. Loài người có các chủng người khác nhau, cư ngụ tại địa
phương khác nhau thì ma quỷ cũng có chủng loại khác nhau, sống ở những nơi khác
nhau. Ma quỷ cũng sinh sản, tăng trưởng, rồi chết đi như chúng ta vậy. Thời
gian và kiếp sống của ma quỷ không giống nhau, có loài sống rất lâu, có loài có
kiếp sống còn ngắn hơn chúng ta nữa. Tùy theo nghiệp lực, có khi ma quỷ cũng
chuyển kiếp thành người, thành súc vật hay các sinh vật khác.
Nếu con người biết ngăn chặn những ý nghĩ xấu, chỉ suy nghĩ đến
điều tốt, làm việc thiện, thì sẽ chiêu cảm những hạt giống lành sẵn có trong
tâm nảy sinh, ngăn chặn ảnh hưởng của các hạt giống xấu, không cho chúng khởi
phát lên – từ đó mới chuyển đổi được số mệnh. Càng nhiều hạt giống thiện được
sinh sôi thì càng ít hạt giống xấu nảy mầm. Càng làm nhiều việc thiện thì sẽ
chuyển đổi được càng nhiều nghiệp quả xấu thành tốt.
Tôi ngạc nhiên:
– Ông nói thêm về việc ma quỷ chuyển kiếp thành người được
không? Vì sao từ ma quỷ lại lên làm người?
Ông Kris mỉm cười, chậm rãi nói:
– Trong vòng luân hồi, mọi sinh vật đều chuyển kiếp qua những
cõi giới khác nhau, tùy theo sự thu xếp của nhân quả. Con người khi chết có thể
chuyển kiếp thành ma, âm linh. Tương tự như thế, ma quỷ khi chết cũng có thể
chuyển kiếp thành người. Nếu để ý, ông sẽ thấy hiện nay trên thế giới có những
nơi mà đa số dân chúng có lòng oán thù, sân hận rất cao nên chiêu cảm các loài
ma quỷ hung ác chuyển kiếp đến đó làm người. Chúng khuyến khích mọi người thù hận,
chém giết lẫn nhau, gây ra chiến tranh. Điều này dễ hiểu vì những loài ma quái
hung dữ đều thích tìm đến những nơi chốn thích hợp với tâm địa tàn ác của chúng
để hoạt động. Có bao giờ ông tự hỏi tại sao có những quốc gia lúc nào cũng lâm
cảnh chiến tranh, giết chóc không ngừng? Tại sao mọi giải pháp hòa bình đều vô
hiệu? Phải chăng vì lòng thù hằn và tâm sân hận nơi đó quá cao, không thể dập tắt?
Nếu nhìn bằng cặp mắt tinh thần, ông sẽ thấy chính sự thù hận, tham lam, giận dữ
đã kêu gọi những loài ma quái hung dữ tìm đến. Ngoài ra, những người tâm địa xấu
xa, tàn ác khi chết thường trở thành ma quỷ đi khắp nơi gieo rắc điều ác. Ngay
cả những người bình thường lúc gần chết, thần thức u mê không sáng suốt cũng bị
những loài ma dữ đến dụ dỗ, dẫn dắt họ vào cõi giới tăm tối của ma quỷ. Chúng
thường biến ra hình dáng người thân như cha mẹ, anh em, bạn bè đến đón, khiến
người kia bị lừa gạt theo chúng. Hầu hết những kẻ ích kỷ, tham lam, cướp của,
giết người, cưỡng đoạt tài sản người khác đều bị thu hút vào cõi giới ma quỷ,
như nam châm hút sắt, khó thoát ra được. Đó là vì tư tưởng, hành động của họ
thích hợp với cõi giới đó. “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” chính là
như vậy.
Tôi hỏi tiếp:
– Tại sao ma quỷ phải dẫn dụ, lôi kéo con người như thế?
Ông Kris bật cười:
– Ma quỷ cũng thích kéo bè kết đảng, nên càng đông người theo
thì chúng càng có nhiều thuộc hạ. Tại sao con người bị dẫn dụ theo chúng? Nhiều
người không có tính tự chủ mà thường bị hoàn cảnh xung quanh lôi cuốn. Nếu có bạn
xấu rủ họ đi vào con đường rượu chè, cờ bạc, sa đọa thì nghe thuyết phục mãi họ
cũng xiêu lòng nên mắc vào các thói xấu đó. Dù không thích uống rượu hay sử dụng
ma túy nhưng hàng ngày giao du với người thích nhậu nhẹt, hút xách thì theo thời
gian cũng bị tiêm nhiễm lúc nào không hay. Đó là hậu quả của việc kết giao với
bạn xấu. Tuy nhiên, cũng cần nhớ rằng sự lười nhác, dễ dãi, buông thả là những
điều dễ chọn lựa hơn là chăm chỉ, kỷ luật, thiền định, làm phúc… Thế nên, nhiều
người tu tập nhiều năm nhưng chỉ vài phút buông thả thân tâm là toàn bộ công quả
tu hành sẽ tan theo bọt nước. Chính sự ham muốn hưởng lạc, lòng tham, sân si với
danh lợi, dục vọng là ma lực chiêu cảm ma quỷ đến thao túng. Đó gọi là tâm ma
và ai trong chúng ta cũng có tâm ma. Cũng như thế, do những đam mê, ham muốn của
con người nên khi họ qua đời, thần thức u mê không tự chủ lại gặp ma quỷ đến rủ
rê thì các tính tham lam vốn có nổi lên, cộng thêm lòng tò mò hiếu kỳ, nghe lời
hứa hẹn hão huyền, muốn có được những điều mê cuồng, hào nhoáng, nên họ dễ bị
đưa đến cõi giới tăm tối mà đáng lẽ ra họ không phải đến.
Tôi hỏi tiếp:
– Nếu bị đưa vào cõi giới đó, họ sẽ ra sao?
Ông Kris trả lời:
– Những người bị dẫn dụ sẽ phải sống tại cõi giới ma quỷ rất
lâu. Họ vô cùng khổ sở, vì ở đó phần lớn là những kẻ hung ác, dã man, đối xử với
nhau vô cùng tàn bạo. Cõi giới ma quỷ cũng có cảnh ma lớn hiếp đáp ma nhỏ, quỷ
cũ bắt nạt quỷ mới, bắt họ phải phục dịch và làm việc theo sự sai khiến của
chúng. Trong cõi giới của loài người thì con người còn biết phân biệt tốt xấu,
đúng sai và có thể lựa chọn làm việc tốt hay xấu, nhưng ở cõi giới ma quỷ, phần
lớn toàn là những chuyện xấu xa, độc ác vì ma quỷ có đầu óc u mê, điên cuồng
sân hận, không còn phân biệt phải trái nữa. Cõi giới ma quỷ ghê rợn, khủng khiếp
không thể nói cho hết được. Một khi đã vào cõi này thì rất khó thoát ra vì đầu
óc đã điên đảo, u mê theo, không còn khả năng tự chủ, không còn biết đúng sai,
nên đành cam chịu làm thủ hạ cho các loài ma quỷ, đi gieo rắc các điều xấu xa.
So với loài người thì ma quỷ đông hơn rất nhiều và càng ngày con số này càng
gia tăng. Do đó, làm người đã khó, một khi sa đọa cõi u tối thì để trở lại làm
người càng khó hơn, phải trải qua quá trình tu tập rất dài. Làm ma quỷ thì dễ
hơn, vì ma quỷ không phân biệt tốt xấu, chúng chỉ làm mọi thứ chúng muốn làm.
Tuy nhiên, dù là ma hay quỷ thì khi tạo nghiệp cũng sẽ phải trả nghiệp, khi đã
gieo nhân thì phải gặt quả, vì luật Nhân quả áp dụng cho mọi sinh vật, dù vô
hình hay hữu hình.
Tôi thắc mắc:
– Ông có nhắc đến việc ma quỷ cũng có lúc chết đi phải không?
Ông có thể giải thích rõ hơn không?
Ông Kris gật đầu:
– Đúng thế, khi kiếp ma quỷ chấm dứt, tùy nhân quả thu xếp mà
một số ma quỷ sẽ chuyển kiếp xuống cõi giới ghê rợn hơn như địa ngục, hay trở lại
cõi trần này dưới xác thân loài vật hung dữ để tiếp tục giết chóc, cắn xé và
gây đau đớn cho loài vật khác. Một số cũng chuyển kiếp thành người nhưng thường
sinh vào hạng người ngu si, bần cùng, hạ tiện phải làm tôi tớ cho kẻ khác, bị
đánh đập, hành hạ. Một số trở thành nạn nhân bị hãm hại, bị giết để họ trải
nghiệm sự đau đớn, khổ sở mà khi xưa họ đã gây ra cho người khác. Nhưng vì những
người này vẫn mang trong tâm thức những hạt giống của kiếp ma quỷ, nên lại
không ngừng gây điều ác, tạo thêm nghiệp ác. Hận thù tiếp tục chồng chất trong
vòng sân hận, luẩn quẩn cũng là nguyên nhân sâu xa khiến nhiều nơi trên thế giới
hiện nay cứ gặp chiến tranh liên tiếp, không bao giờ yên.
Tôi hỏi:
– Nói vậy là có một nơi như địa ngục thật sao?
Ông Kris xác nhận:
– Theo sự hiểu biết của tôi thì địa ngục là cõi giới có thật.
Đó là một cõi đặc biệt với những rung động của nguyên tử cực kỳ phức tạp. Dù
phát triển định lực đến mức nào cũng không thể đến đó được. Tôi chỉ biết là tùy
vào nghiệp lực dẫn dắt mà một số sinh vật phải sống tại đó thôi.
Tôi thắc mắc:
– Nếu thế khi chết con người đi đâu?
Ông Kris thong thả trả lời:
– Khi chết con người bước vào cõi âm, hay gọi là Trung giới.
Đây là nơi sau khi từ trần, các vong linh tạm trú trước khi chuyển kiếp. Trung
giới không phải là cõi của ma quỷ. Ma quỷ có cõi riêng. Vong linh sẽ ở cõi
Trung giới trước khi chuyển qua nơi khác như vào cõi ma quỷ, trở lại làm người
hay chuyển kiếp thành súc vật, tùy vào nghiệp lực. Cũng có khi vong linh chuyển
qua cõi của các sinh vật khác nữa hay vào cõi của các bậc thánh nhân. Thời gian
ở cõi âm không nhất định. Có khi vong linh ở đây một thời gian ngắn rồi chuyển
kiếp, nhưng cũng có khi vong linh ở đây rất lâu, cả trăm năm, không chừng còn
hơn nữa. Những vong linh có lòng quyến luyến vật chất thường lang thang, vật vờ
ở cõi này, không thể siêu thoát. Vong linh tồn tại trong trạng thái u mê vì sự
tham lam, quyến luyến hay hận thù quá nặng, không ý thức được mình đã chết, hoặc
cứ bám víu lấy những tài sản vật chất như nhà cửa, đồ đạc… Ông có thể thấy hiện
tượng này ở những căn nhà bị ám hay những món đồ trang sức mang lại điều bất
thường cho người đeo vì những từ lực của người chủ cũ. Ngoài ra, những người tự
tìm lấy cái chết, chết bất đắc kỳ tử khi số mạng chưa hết, thường ở đây một thời
gian khá lâu.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
– Tại sao lại thế?
Ông Kris giải thích:
– Số mệnh con người được định sẵn bởi luật Luân hồi nhưng khi
thọ mệnh chưa hết mà người đó tự tìm lấy cái chết, hoặc chết bất đắc kỳ tử vì
tai nạn, hay là nạn nhân của sự giết chóc, thì họ ở trong tình trạng đặc biệt,
không thể siêu thoát được. Vì thân xác họ tuy đã mất nhưng sinh lực vẫn còn nên
họ chưa thể chuyển kiếp. Do đó, họ “mắc kẹt” giữa hai cõi. Những vong linh chết
oan, bị giết hay chết vì tai nạn thường đau khổ, đôi khi oán hận, tìm cách trả
thù. Điều này có thể giải thích cho hiện tượng những quãng đường từng xảy ra
tai nạn chết người thường có nhiều tai nạn xảy ra sau đó nữa. Những ngôi nhà xảy
ra án mạng, có người bị giết thường có sự không may xảy ra. Linh hồn những người
tự sát cũng thường đọa lạc trong đau đớn. Nếu đến gần nghĩa địa, chiến trường,
nơi có nhiều người chết, chúng ta đều có cảm giác rùng mình sợ hãi, đó là vì âm
khí của những vong linh chưa siêu thoát vẫn còn lảng vảng quanh đó.
Phần 2.2 - Bí ẩn những cõi giới khác: Hành trình của những linh hồn
Từ trước đến nay, hầu hết các tôn giáo đều đề cập đến vong
linh, linh hồn và cả ma quỷ nhưng không mấy người tin mà chỉ xem đó là một kiểu
hù dọa hay niềm tin mù quáng. Bất kỳ việc gì khoa học cũng đòi phải có bằng chứng
thì mới công nhận, trong khi giác quan chúng ta rất giới hạn, không thể nhận thức
được mọi sự. So sánh giác quan của loài người và loài chó, ta sẽ thấy loài chó
tuy không thể nhìn xa như người nhưng có thể nhìn được nhiều thứ mà người không
thấy. Loài chó nghe được nhiều âm thanh mà chúng ta không thể nghe, ngửi được
nhiều thứ mà chúng ta khó lòng nhận biết. Dĩ nhiên giác quan loài chó khác loài
người nên chúng có nhận thức khác chúng ta. Do đó, không nên kết luận một thứ
gì đó không tồn tại chỉ vì giác quan chúng ta không nhận thức được.
Ông Kris dừng lại một lúc cho tôi suy nghĩ rồi nói tiếp:
– Nhiều người lầm tưởng Trung giới là địa ngục và cho rằng đó
là nơi tối tăm, ghê rợn. Thật ra đó là hai cõi hoàn toàn khác nhau. Cõi Trung
giới sáng sủa nên được gọi là “Cõi sáng” (Astral Plane), là nơi có rất nhiều
màu sắc biến ảo lạ lùng, kể cả những màu mà chúng ta không nhìn thấy như tử ngoại
(Ultraviolet) hay hồng ngoại (Infra-red). Sự sinh hoạt tại đây rất linh động vì
các nguyên tử rung động không những thanh nhẹ, mà còn xoay chuyển rất nhanh, do
đó các hình hài, sắc tướng biến đổi dễ dàng. Vì cấu tạo bởi nguyên tử thanh nhẹ
nên các thực thể di chuyển như lướt đi, xuyên qua mọi vật, chứ không có sự đụng
chạm. Điều đặc biệt của cõi giới này là quan niệm về thời gian và không gian
hoàn toàn khác cõi trần nên khó có thể ước định thời gian vong linh tạm trú nơi
đây.
Ông Kris trầm ngâm một lúc rồi nói thêm:
– Những điều tôi nói đây chỉ là sự hiểu biết của tôi qua công
phu tu tập trong nhiều kiếp sống. Tôi biết nói ra lúc này có thể ông không tin.
Tuy nhiên, ông và tôi đã là bạn, tu tập với nhau trong nhiều kiếp, tôi chỉ nhắc
lại điều ông đã biết thôi. Vũ trụ có nhiều năng lượng uyên nguyên, năng lượng
này thấm nhuần vào mọi vật và tạo ra sự sống. Một số năng lượng bị ô nhiễm bởi
những tư tưởng xấu xa hay dục vọng nên biến thành một loại ma lực mà người ta
có thể sử dụng nếu biết cách. Ma quái thường sử dụng những ma lực này vào việc
riêng của chúng. Một số phù thủy cũng biết cách sử dụng ma lực làm bùa chú, thư
phù.
Ông Kris dừng lại, chăm chú nhìn tôi, rồi nói tiếp:
– Khi xưa người xứ Og của Atlantis đã sử dụng nghi thức cúng
tế bằng huyết nhục cho các loài ma quái, nhờ chúng rút đi sinh lực con người,
khiến họ mất khả năng suy nghĩ, trở nên khờ khạo, thụ động, dễ sai bảo. Khi
Atlantis chìm xuống biển, dân xứ này trôi dạt nhiều nơi, bắt đầu tạo dựng các nền
văn minh khác nhau trên thế giới. Xứ Og nằm gần châu Mỹ nên người xứ này đã đến
Nam Mỹ, xây dựng văn minh Inca, Maya và Aztec. Đó là những nền văn minh huy
hoàng, tiến bộ không thua gì Ai Cập, với nhiều đền đài, kim tự tháp vẫn còn tồn
tại đến ngày nay. Vì ảnh hưởng tính hung ác của văn hóa xứ Og, nên lịch sử của
những nền văn minh này ghi nhận nhiều cuộc chiến tàn bạo giữa các bộ lạc và kẻ
thắng trận sẽ luôn thẳng tay tàn sát kẻ thua trận. Các tù binh chiến tranh đều
bị móc ruột, moi tim trong những nghi thức tế thần bằng huyết thịt.
Ông Kris giải thích thêm:
– Năng lượng của vũ trụ tạo ra sự sống thì vô hình, thường biểu
hiện dưới dạng nguyên tử, khi bị ô nhiễm bởi dục vọng thì chuyển thành ma lực.
Nói rõ hơn, ma lực là những hạt nguyên tử bị bọc lại trong những bọt khí của dục
vọng nên trở thành ô nhiễm. Trong vũ trụ, những tư tưởng có tính chất tham lam,
ích kỷ, dâm dục, hung bạo, thường tạo ra bọt khí dục vọng, quay cuồng trong
không gian một lúc rồi tan rã. Một số bọt khí bám được vào những hạt nguyên tử
để duy trì sự sống, trở thành ma lực có thể kéo dài sự sống. Kẻ hung ác, lúc
nào cũng nghĩ đến việc ích kỷ, hại nhân thường tạo quanh mình một thứ ma lực cá
nhân. Nhiều kẻ hung ác sẽ tạo ra ma lực có ảnh hưởng lớn hơn. Một số ma quỷ có
thể chuyển kiếp thành những tư tưởng gia, chính trị gia chuyên đề xướng các lý
thuyết phi nhân, xúi giục con người hận thù, gieo rắc các điều ác. Một số thành
các bạo chúa, hay nhà độc tài có quyền lực rất lớn, gây chiến tranh khắp nơi.
Đôi khi chúng chuyển kiếp thành giáo chủ những tà giáo, kêu gọi sự trợ giúp của
các loại ma quỷ thiên về dục vọng, tạo ảnh hưởng lên xã hội. Càng nhiều người
có tư tưởng thiên về dục vọng sẽ càng kêu gọi được các động lực ma quái đến,
tăng sức mạnh cho chúng, ảnh hưởng đến mọi người vào lúc họ thiếu tự chủ. Những
ma lực này thường tác động vào đầu óc những người trẻ, chưa biết kiểm soát tư
tưởng hay những người chịu ảnh hưởng các chất tác động thần kinh như rượu hay
ma túy, dẫn họ vào những con đường tội lỗi như cướp của, giết người hay những
phong trào cổ xúy bạo lực, sự tà ác, tư tưởng thanh tẩy thế giới, làm đảo lộn
trật tự xã hội.
Ông Kris dừng lại một chút, rồi cất lời với vẻ ưu tư:
– Chắc ông cũng thấy, thời gian gần đây có rất nhiều tà phái
nổi lên, với những người lãnh đạo có ma lực hết sức ghê gớm. Họ tự xưng là đấng
này đấng nọ, dạy dỗ những điều người ta thích nghe hoặc những điều kích thích
trí tò mò. Họ có lối thuyết giảng hấp dẫn nhưng thật ra chỉ là hình thức thôi
miên tâm trí. Một số người còn sử dụng bùa chú kêu gọi những động lực ma quái đến
trợ giúp. Họ biết rõ thị hiếu tham lam của quần chúng và cổ xúy những phương
pháp hưởng thụ khoái lạc, thỏa mãn dục tính, dẫn dắt những người theo họ vào
con đường lầm lạc. Khi sinh lực suy kiệt, đầu óc mê muội, không còn khả năng
suy nghĩ thì người ta rất dễ bị sai khiến. Khi những tà phái này ngày một đông,
ảnh hưởng của ma lực ngày một mạnh, thì sẽ tạo ra được thành kiến có thể ảnh hưởng
tới cộng đồng, xã hội. Dần dần người ta dễ dàng chấp nhận các hành vi ích kỷ,
tham lam, dâm ô, vô cảm, luyến ái bệnh hoạn như lẽ bình thường. Khi giá trị đạo
đức suy đồi, ảnh hưởng của ma lực không thể khống chế, thì loài người có thể đi
đến chỗ diệt vong. Hiện nay rất nhiều người đã bị những ma lực này ảnh hưởng
khiến họ điên đảo, quay cuồng không còn khả năng phân biệt phải trái, đúng sai
nữa. Tại một số nơi, không ai còn tin tưởng vào những giá trị luân lý, đạo đức
mà chỉ biết chạy theo tiếng gọi của tiền bạc, danh vọng, địa vị hay quyền lực.
Ông có thể thấy, tại những nơi đó, con người sống trong sự tham lam, giận dữ,
hung bạo, hận thù, tất cả chỉ chờ dịp bùng nổ. Từ sáng đến tối, họ chỉ tìm cách
cướp đoạt, chiếm hữu mọi thứ cho kỳ được, bất chấp hậu quả của luân lý, đạo đức
hay pháp luật. Các tư tưởng xấu này hiện diện khắp nơi, khiến người hiền lành
cũng bị ảnh hưởng ít nhiều. Hiện nay, ông đang sống tại nơi tương đối thanh
bình nhưng nhìn ra thế giới, vẫn còn những cảnh chém giết, chiếm đoạt, quốc gia
này xâm chiếm quốc gia khác, dân tộc này chém giết dân tộc kia, giành nhau từng
mảnh đất, từng mối lợi. Xã hội đầy những chuyện cướp bóc, gia đình cũng đầy những
chuyện lừa lọc, tranh đoạt tài sản, nếu không sớm thay đổi thì khó có thể tránh
khỏi những tai họa ghê gớm sắp xảy ra.
Ánh mắt ông Kris toát lên vẻ nghiêm nghị khi ông nói tiếp những
lời này:
– Những điều này đã xảy ra nhiều lần trong quá khứ. Khi con
người mất nhân tính, hành động theo thú tính, tạo ra hỗn loạn, thì tự nhiên phải
tạo ra biến động để lập lại trật tự. Do đó mà có nạn động đất, núi lửa, lụt lội,
hạn hán – lúc đầu nhẹ để cảnh cáo, sau nặng dần và đến chỗ hủy diệt tất cả. Ông
đã trải qua biến động này trong kiếp sống tại Atlantis và cũng đã thấy rõ ảnh
hưởng của những ma lực này ghê gớm như thế nào qua những trận chiến khốc liệt,
khi con người điên cuồng, hung bạo, không còn nhân tính. Ông cũng đã chứng kiến
một xã hội vô cảm, người thuộc giai cấp cao thẳng tay đàn áp, bóc lột không
thương tiếc những người thuộc giai cấp thấp. Sự chiếm đoạt thân xác người khác
để thỏa mãn dục tính là việc xảy ra bình thường trong xã hội đó. Chuyện gì xảy
ra sau đó thì ông cũng đã biết.
Tôi lên tiếng, đầy suy tư:
– Ông có nghĩ những việc này sẽ xảy ra nữa không?
Ông Kris trầm giọng:
– Hiện nay, ông đã thấy có đủ hiện tượng kỳ lạ xuất hiện khắp
nơi như thiên tai, lụt lội, hạn hán, động đất, cháy rừng, núi lửa phun trào, bệnh
dịch toàn cầu, nạn đói, châu chấu phá mùa màng… Tất cả như một lời cảnh cáo đối
với nhân loại. Vấn đề là, nếu tai họa xảy ra ở “nơi nào đó” xa xôi thì người ta
chẳng quan tâm. Con người chỉ biết sợ khi những tai họa này xảy đến cho chính họ.
Tuy nhiên, đến lúc tai họa gõ cửa tận nhà thì họ cũng hoảng loạn, bó tay, không
biết làm gì. Ít ai hiểu rằng nguyên nhân sâu xa của tai họa là do những tư tưởng
mang tính dục vọng của con người. Khi con người mất đi bản chất người, mất hết
lương tri, chỉ biết tham lam, ích kỷ thì sẽ chiêu cảm những ma lực ghê gớm đến,
nên những hiện tượng bất thường mới xảy ra.
Ông Kris dừng lại như chờ xem phản ứng của tôi. Thấy tôi im lặng,
ông giải thích thêm:
– Điều tôi sắp nói đây chắc chắn nhiều người sẽ không tin.
Các thiên tai xảy ra đều do nhân quả. Nếu nhìn bằng con mắt khoa học thì những
thiên tai đều có nguyên nhân vật chất, ví dụ, sự chuyển động của các mảng kiến
tạo (Tectonic Plates) tạo ra động đất. Áp lực dưới lòng đất khiến núi lửa phun
trào hay xảy ra sóng thần; và vi trùng, vi-rút thì gây ra dịch bệnh. Tuy nhiên,
nếu nhìn bằng con mắt tinh thần thì những hiện tượng này đều có nguyên nhân xuất
phát từ các tư tưởng điên đảo, tham lam, sân hận và cả những hành vi phá hoại tự
nhiên của con người, tất cả cộng lại tạo thành ma lực có thể dời núi, lấp biển.
Nguyên nhân khởi đầu của những hiện tượng này xuất phát từ cõi vô hình rồi sau
mới chuyển qua cõi vật chất. Một số nhà tiên tri nhờ công năng đặc biệt thấy
trước được việc này từ cõi vô hình và đưa ra lời cảnh cáo, nhưng có mấy ai tin.
Ông Kris dừng lại một chút rồi từ tốn nói tiếp:
– Tư tưởng vốn dĩ chỉ là một hình thức của năng lượng. Những
năng lượng này khi tích tụ đến một cường độ mạnh mẽ nào đó, có thể chuyển từ
cõi tinh thần qua cõi vật chất. Các tư tưởng tham lam, sân hận, bạo lực, giết
chóc có thể chuyển qua cõi vật chất tạo ra các hiện tượng như bão tố, thiên
tai, dịch bệnh… Khi quán chiếu nội tâm, ông có thể thấy rõ nguyên nhân và diễn
tiến của quá trình này. Thật ra, ông từng làm việc này trước đây rồi nhưng nay
ông đã quên. Con người không cần phải đi tìm hiểu vũ trụ xa xôi bên ngoài mà chỉ
cần quay vào bên trong cũng có thể biết được nhiều điều.
Một lần nữa, ông Kris lại nói về một kiếp sống xa xưa nào đó
mà tôi đã từng phát triển khả năng này. Tôi suy nghĩ về điều đó nhưng thấy
không phải là lúc thích hợp để hỏi thêm nên cũng chỉ im lặng. Thấy vậy, ông
Kris nói tiếp:
– Hiện nay, ít ai hiểu rõ về sức mạnh của tư tưởng. Nếu quay
vào bên trong, ông sẽ thấy tư tưởng con người xoay chuyển rất nhanh, tư tưởng
này vừa nảy sinh lại có tư tưởng khác ra đời, liên tục như sóng thủy triều,
cũng vì thế nên ít ai có thể kiểm soát được tư tưởng. Trong thế giới quay cuồng
hiện nay, con người ngày càng mất tự chủ và để những lực ảnh hưởng bên ngoài
chi phối. Bên cạnh những mặt tích cực thì những phát minh công nghệ như
internet và các sản phẩm kèm theo, chẳng hạn trò chơi điện tử hay mạng xã hội,
cũng đã phát tán những thông tin sai lệch, những hình ảnh dâm dục, kích động bạo
lực, ganh ghét, hận thù đi khắp nơi. Tất cả những điều độc hại đó tác động vào
tâm trí con người, khiến họ dần trở nên mê muội và rồi thụ động để cho chúng
xâm nhập, thẩm thấu vào bản thân từ ngày này qua ngày khác. Dần dần, họ trở nên
vô cảm và vô trách nhiệm, không biết phân biệt đúng sai, bởi đầu óc của họ đã
điên đảo lúc nào không hay.
Ông Kris trầm ngâm, rồi nói thêm:
– Hiện nay, ông đã thấy xã hội đang nảy sinh ra một thế hệ những
người “nghiện công nghệ” như một bệnh lý khó chữa, suốt ngày chỉ lướt mạng xã hội,
sống trong thế giới ảo của game online. Họ kết bạn khắp nơi qua các trò chơi, rồi
lệ thuộc, sống hẳn trong thế giới ảo đó, hoàn toàn vô cảm với mọi sự xảy ra
chung quanh. Dần dần họ trở nên lãnh đạm, không tha thiết hay quan tâm tới cuộc
sống đang diễn ra, không thể nói chuyện với người thân trong gia đình, không
còn khả năng giao tiếp với xã hội. Từ sáng đến tối, họ ở trong trạng thái ngây
ngất như kẻ nghiện thuốc phiện. Họ sống thẫn thờ, mơ màng, không cảm xúc, vô
trách nhiệm vì đã bị rút hết sinh lực, mất hết tinh thần, nhân tính, ý chí.
Tôi có chút nghi ngờ, hỏi lại:
– Có phải ông hơi nói quá không vậy? Đến mức như vậy sao?
Kris nhìn tôi rồi trả lời từ tốn:
– Điều này hiện đã xảy ra ở hầu hết các quốc gia, dần dần đe
dọa những nền tảng tinh thần và đạo đức của toàn thể nhân loại. Không quốc gia
nào có thể tránh được thảm họa của thứ ma lực này. Để tôi giải thích một cách
khoa học thì có lẽ dễ hiểu hơn. Căn nguyên là từ những sóng điện phát sinh từ
tư tưởng con người.
Tư tưởng con người là luồng sóng điện phát ra với một tần số
nào đó. Nếu đầu óc của hai người nào đó có rung động tương tự, có thể đáp ứng tần
số của nhau, thì họ sẽ hiểu hay dễ cảm thông cho nhau hơn. Nếu rung động không
đồng nhịp thì không thể hiểu nhau được. Những người đang yêu nhau, tư tưởng của
họ rung động đồng nhịp, nên họ thông cảm và hiểu nhau một cách dễ dàng. Một người
mẹ, khi đứa con gặp chuyện khó khăn, dù ở xa đến đâu cũng cảm thấy nóng ruột,
biết ngay là có chuyện, cũng nhờ tần số rung động đồng nhịp này. Những người có
tâm trí bình thản có khả năng bắt được những làn sóng rung động tinh tế, nên dễ
cảm thông với người khác hơn những người có tâm trí náo động. Cũng như thế, khi
có định lực sâu xa, ông có thể đọc được tư tưởng người khác vì đầu óc của ông
có thể bắt được tần số sóng của tư tưởng phát ra từ người kia. Có bao giờ ông tự
hỏi tại sao khi đến gần người hung dữ, độc ác ông liền cảm thấy khó chịu không?
Vì tư tưởng người đó có rung động không thích hợp với ông. Cũng như thế, phải
chăng ông có cảm giác bình yên khi đến gần các tu sĩ thánh thiện vì tư tưởng của
họ phản ánh sự bình an, thanh khiết?
Ông Kris dừng lại như để cho tôi suy nghĩ, rồi tiếp tục:
– Vấn đề hiện nay là thế giới chịu ảnh hưởng của công nghệ
quá nhiều. Các sản phẩm công nghệ hoạt động liên tục ngày đêm, hai mươi bốn giờ
mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần, nên những luồng sóng tư tưởng của dục vọng, tham
lam, ích kỷ lan tràn khắp nơi trên các phương tiện đại chúng, gây ảnh hưởng,
xáo trộn đầu óc con người mà không mấy ai để ý. Những ai không làm chủ được tư
tưởng, để đầu óc tiếp xúc với luồng sóng kia, dù lúc đầu không đồng nhịp thì
theo thời gian cũng sẽ bị cộng hưởng, rồi rung động theo nó và chịu sự chi phối
của nó. Khi số người chịu những ảnh hưởng này tăng lên thì sức mạnh của ma lực
này cũng gia tăng theo. Người bình thường xem hình ảnh bạo lực, khiêu dâm có thể
thấy khó chịu lúc đầu nhưng nếu cứ tiếp tục xem mãi thì hình ảnh này sẽ tạo ra
các rung động lên đầu óc của họ, dần dần họ bị tác động và xem đó là chuyện
bình thường. Người chơi các trò video game cũng thế, lúc đầu chỉ là trò giải
trí lôi cuốn dường như vô hại, nhưng một khi tiếp tục chơi thì phải sống hẳn
trong cái thế giới ảo đó để trở thành tay chơi chuyên nghiệp. Theo thời gian, đầu
óc của họ chỉ còn lưu tâm những sự kiện của thế giới ảo, quên đi thực tại, giảm
mất khả năng giao tiếp hay nhận thức về thực tại. Họ chỉ có thể nói chuyện với
những người cùng chơi video game trong thế giới ảo giống như họ, trong khi khó
có thể tiếp xúc một cách tỉnh táo với con người ngoài xã hội, và họ cũng không
có nhu cầu giao tiếp. Họ trở thành dạng người không còn cảm xúc, không biết yêu
thương, không thể tự lập hay đóng góp gì cho xã hội nữa. Đó là thảm cảnh của mặt
trái công nghệ mà ban đầu ít ai nhận ra.
Tôi gật đầu tán thành với những phân tích mang tính khoa học
này, rồi chia sẻ thêm:
– Tôi có biết về hiện tượng trẻ em nghiện internet hay video
game, tôi cũng cho rằng đó là vấn đề thật sự đáng báo động. Nhưng ông có nghĩ rằng
khi lớn lên chúng sẽ đổi khác được không?
Ông Kris lắc đầu:
– Không đâu, một khi đã bị thứ ma lực này lôi cuốn thì khó có
thể dứt ra được, vì đầu óc đã mất khả năng suy nghĩ độc lập rồi. Khi còn nhỏ đã
quen sống trong thế giới ảo thì lúc lớn khó mà từ bỏ được. Khi đầu óc đã vô cảm,
không còn ý thức, trở thành người vô trách nhiệm thì làm sao có thể trưởng
thành được. Dù có chuyện gì xảy ra họ cũng không quan tâm. Thiên tai, tai nạn,
dịch bệnh, người chết hàng loạt diễn ra thì sao? Họ cũng không để ý đến. Vì đó
đâu phải là thế giới của họ nữa. Thể xác họ vẫn ở đó nhưng đầu óc của họ lại ở
một thế giới khác. Tuy nhiên, nếu internet bị cắt, máy tính bị hỏng hay điện
thoại bị mất thì họ sẽ cảm thấy rất khó chịu và phản ứng thái quá ngay. Có nhiều
người trở nên giận dữ, mất đi lý trí vì sự xáo trộn trong thế giới ảo của họ.
Những người này có thể nhịn ăn, nhịn mặc, không cần người thân, không cần lập
gia đình nhưng không thể sống mà thiếu video game hay internet được. Ma lực này
vô cùng ghê gớm, có thể làm suy kiệt cả một thế hệ, phá hoại nền tảng gia đình,
đảo lộn trật tự xã hội. Đây là thảm họa đang đe dọa nhân loại những vẫn chưa được
lưu tâm đúng mức.
Ông Kris dừng lại để cho tôi suy nghĩ, rồi nói tiếp:
– Ngày nay, quảng cáo thương mại xuất hiện nhan nhản khắp
nơi, tạo ra đủ loại nhu cầu và khiến cho người ta trở nên tham lam hơn trước.
Ví dụ ông không thích món ăn nào đó, nhưng hàng ngày cứ thấy quảng cáo về món
ăn đó với những hình ảnh cám dỗ, thì ít lâu sau, tự nhiên ông lại cảm thấy muốn
ăn thử. Quảng cáo là nghệ thuật lặp đi lặp lại, tạo ra ham muốn, nhắc nhở người
ta phải sở hữu, phải mua sắm, phải tiêu thụ. Người có nhiều tiền thì không nói
làm gì, nhưng người không có nhiều tiền cũng dốc hết hầu bao mua cho bằng được,
vì quảng cáo cũng tạo ra tâm lý ganh đua: Anh có thứ đó thì tôi cũng phải có thứ
đó. Tóm lại chỉ người sản xuất là được hưởng lợi. Hiện nay, đa số nhân loại
không còn sống thoải mái, hồn nhiên như xưa mà vì chịu ảnh hưởng của những ma lực
này nên ngày càng trở nên ích kỷ, tham lam, và đôi khi tàn nhẫn với người khác.
Các nền tảng của đạo đức truyền thống đã mất đi, không mấy ai còn sáng suốt để
nhận định nữa mà cứ để hoàn cảnh xung quanh lôi cuốn. Ngày nay, một số sản phẩm
công nghệ còn xúi giục con người bằng các phim ảnh dâm ô, đồi trụy, bạo lực khiến
cho những người còn bận tâm về đạo đức, sự thanh cao cũng ngày một ít đi. Các
trò video game dẫn dắt con người, khiến họ u mê trong thế giới ảo, làm cho tâm
trí họ trở nên điên đảo. Các quảng cáo dẫn dụ con người mua sắm, tiêu thụ, có
thứ này lại phải mua thêm thứ khác, không bao giờ biết đủ. Các phim ảnh trụy lạc,
dâm ô khuyến khích con người hành động theo dục tính, phá hoại truyền thống gia
đình, nam nữ tự do luyến ái, bất chấp hậu quả. Trong tương lai, có nguy cơ xã hội
sẽ mất đi truyền thống hôn nhân hay nền tảng gia đình, chỉ còn là những sự trao
đổi xác thân, tình yêu bị thay thế bởi tình dục. Không có nền tảng gia đình,
không có tình nghĩa vợ chồng, con người sẽ bơ vơ, lạc lõng, không nơi nương tựa,
như cái cây bị mất gốc, và rồi dễ bị dẫn dắt vào một thế giới điên đảo, quay cuồng
không lối thoát. Thế mà đa số vẫn cho lối sống đó là văn minh tiến bộ. Khi con
người sống tham lam, ích kỷ, vô cảm hay sân hận thì sẽ gây ra tình trạng chiếm
đoạt, cướp bóc, thậm chí có thể đi đến sự giết chóc để thỏa mãn lòng tham, gây
xáo trộn xã hội và tự nhiên. Thế giới có chiến tranh là vì đâu? Phải chăng vì sự
tham lam, sân hận, oán thù giữa người với người, giữa quốc gia này với quốc gia
khác?
Ông Kris suy nghĩ một lúc, rồi tiếp tục, giọng trầm xuống:
– Hiện nay các loại dịch bệnh ghê gớm đang xuất hiện ngày một
nhiều hơn, để lại hậu quả ngày một khủng khiếp hơn. Nếu nhìn lại lịch sử, ông sẽ
thấy có những sự trùng hợp xảy ra. Hầu hết dịch bệnh đều xuất hiện sau những trận
chiến tranh, trong triều đại vua chúa tàn ác hay trong một xã hội mà con người
sống điên đảo, bất phân thị phi. Trong suốt lịch sử nhân loại, đã biết bao lần
con người trên trái đất này phải đối phó với các loại dịch bệnh hoành hành, gây
muôn cảnh tang thương, nhưng một khi qua khỏi, họ lại tiếp tục những thói quen
từ trước mà không chịu tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thảm cảnh vừa qua. Trong thời
buổi khoa học thì người ta chỉ quy lỗi cho vi trùng, vi-rút, không mấy ai biết
tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa, gốc rễ khác.
Tôi thật sự quan tâm đến vấn đề này, nên tiếp tục hỏi tới:
– Vậy ông nghĩ rằng nguyên nhân của dịch bệnh đều do chiến
tranh, sự tàn ác, vô cảm và thói giết chóc của con người gây ra sao?
Ông Kris lắc đầu:
– Không hẳn thế, có những dịch bệnh bắt nguồn từ sự giết chóc
như bệnh dịch hạch, bệnh đậu mùa… Nhưng cũng có dịch bệnh phát xuất từ sự luyến
ái bừa bãi như bệnh giang mai, hoa liễu hay từ sự trụy lạc vô độ như bệnh AIDS.
Tương tự như thế, dịch bệnh Ebola hay SARS gần đây, đều là sự cảnh cáo về thói
tham lam quá độ của con người, chiếm đoạt thiên nhiên, phá rừng, xẻ núi, bắt giết
thú hoang phục vụ cho thú ẩm thực. Thiên nhiên đã phản ứng lại bằng các loài vi
khuẩn, vi-rút sống trên thân thể sinh vật, rồi truyền nhiễm vào con người, tạo
ra các dịch bệnh kỳ lạ. Có lẽ thời tiền sử cũng có dịch bệnh từ trâu bò, gà vịt
lây qua người, nhưng theo thời gian, con người tạo được hệ thống miễn dịch nên
ngày nay chúng ta ăn thịt các sinh vật này mà không bị ảnh hưởng, trong điều kiện
chúng được chăn nuôi hợp vệ sinh. Tuy nhiên các động vật hoang dã thì khác,
chúng có thể mang những loại vi-rút, vi trùng mà chúng ta chưa có sức đề kháng.
Theo tôi biết, nguyên nhân sâu xa của bệnh dịch Ebola bắt nguồn từ sự giết chóc
trong các cuộc chiến giữa các nhóm phiến quân châu Phi, đó là nghiệp giết chóc
(Killing Karma).
Nguyên nhân sâu xa của dịch bệnh SARS là sự tham lam vô độ của
con người, hay là nghiệp tham lam (Greed Karma). Nếu chúng ta không biết rút
kinh nghiệm từ những thảm họa này, tương lai sẽ có những bệnh dịch ghê gớm hơn
nữa. Khi dịch bệnh phát tán, trở thành đại dịch của nhân loại, lan ra không
khí, truyền khắp thế giới, giết hại phần lớn nhân loại, thì không ai còn có thể
ngăn chặn được nữa.
Ông Kris kết luận:
– Dĩ nhiên là các nhà khoa học sẽ tìm cách chữa trị nhưng làm
sao có thể chữa đến tuyệt căn? Hết dịch bệnh này sẽ có dịch bệnh khác, vì
nguyên nhân thật sự gây ra bệnh vẫn còn đó – con người vẫn gây ác, vẫn tạo nghiệp.
Để chữa tận gốc, chúng ta cần phải đi sâu vào các nguyên nhân và thay đổi chúng
từ gốc rễ. Như tôi đã trình bày, những tư tưởng tham lam, ích kỷ, tàn bạo, vô cảm
tạo ra bọt khí ô nhiễm của dục vọng rồi chuyển biến thành các ma lực ghê gớm.
Trải qua năm tháng, ma lực này lan tỏa, ảnh hưởng khắp nơi, tạo thành những
thành kiến, những thói quen không dễ gì thay đổi. Rễ của nó đã bám chặt trong
tư tưởng con người dưới dạng những tà thuyết mà mọi người tin tưởng, không dễ
gì nhổ bỏ được. Mọi hành động hay ý nghĩ của con người đều gây ra nhân, và đã
có nhân thì phải có quả. Khi con người làm những việc trái với luân thường đạo
lý, trái luật thiên nhiên, làm mất cân bằng vũ trụ thì các tai ương hay tật bệnh
chắc chắn sẽ xảy ra.
Tôi lo lắng:
– Nói như thế thì không có cách gì ngăn ngừa, chữa trị được
những dịch bệnh này rồi.
Ông Kris mỉm cười, đáp lời:
– Có chứ, tất cả ma lực đều có nguyên nhân phát xuất từ tư tưởng
của con người. Nếu chúng ta có thể cùng nhau chuyển hóa những tư tưởng thù hận,
tham lam, ích kỷ bằng những tư tưởng cao thượng, tốt lành, chuyển hóa các hành
động độc ác, giết chóc bằng tình thương yêu rộng lớn thì tất cả mọi việc đều có
thể thay đổi. Một khi mỗi cá nhân có thể sửa đổi nghiệp quả của mình bằng cách
làm việc thiện lành thì một tổ chức hay một quốc gia cũng có thể làm như vậy để
chuyển nghiệp và có sự thay đổi tốt đẹp hơn. Thay đổi cộng nghiệp nhân loại là
việc nói thì dễ nhưng làm rất khó, không một cá nhân, đoàn thể hay quốc gia nào
có thể riêng lẻ mà thực hiện được. Mọi người phải làm việc cùng nhau, vì đây là
tương lai chung của nhân loại chứ không phải riêng quốc gia nào. Câu hỏi đặt ra
là hiện nay mọi người có thể làm việc cùng nhau không? Các quốc gia có thể hợp
tác với nhau không?
Nếu chúng ta có thể cùng nhau chuyển hóa những tư tưởng thù hận,
tham lam, ích kỷ bằng những tư tưởng cao thượng, tốt lành, chuyển hóa các hành
động độc ác, giết chóc bằng tình thương yêu rộng lớn thì tất cả mọi việc đều có
thể thay đổi. Một khi mỗi cá nhân có thể sửa đổi nghiệp quả của mình bằng cách
làm việc thiện lành thì một tổ chức hay một quốc gia cũng có thể làm như vậy để
chuyển nghiệp và có sự thay đổi tốt đẹp hơn.
Buổi nói chuyện này của Thomas và ông Kris diễn ra vào giữa
năm 2017. Thomas lưu ý tôi rằng đây là vấn đề chỉ nên được viết ngắn gọn, không
nên đi vào quá chi tiết, nên tránh nói nhiều về những điều chưa xảy đến, nhưng
một sự cảnh báo để nhiều người thức tỉnh để thay đổi cũng là điều cần thiết.
Mọi việc xảy ra đều theo quy luật Nhân quả. Dĩ nhiên đã có
nhân thì sẽ đến lúc nhận quả, nhưng thời gian có thể không cố định do sự thay đổi
tư duy và hành động của con người. Nếu mọi người sống hòa thuận với thiên
nhiên, không còn giết chóc, bỏ thói tham lam, tiêu trừ sự ích kỷ, kiêu căng thì
có thể tạo ra các năng lượng chuyển hóa lan tỏa mạnh mẽ. Thomas cũng nói thêm rằng
các dịch bệnh hiện nay chính là những dấu hiệu cảnh cáo nhân loại rằng đã đến
lúc phải thay đổi. Nếu để ý, chúng ta có thể thấy các loại bệnh tật ngày càng dữ
dội và càng lây lan nhanh hơn. Những tai ương này sẽ để lại hậu quả, tạo ra nhiều
thay đổi mà không ai lường trước được. Điều quan trọng nhất là mọi người cần nhận
thức được đây là cộng nghiệp chung của nhân loại, tất cả chúng ta đều là nguyên
nhân gây ra tình trạng này và mỗi cá nhân vẫn có thể thay đổi số mệnh bằng cách
thay đổi chính mình.
Cả ông Kris và Thomas đều cho rằng vai trò của những người hiểu
biết về việc này rất quan trọng, vì họ có thể truyền cảm hứng và tạo ra những
tư tưởng đạo đức chân chính, đẩy lùi được những ma lực kia. Tư tưởng của thế giới
là tổng hòa tư tưởng của các quốc gia và tư tưởng của một quốc gia là sự tổng
hòa tư tưởng của những con người sống trong đó. Nếu mọi người biết thay đổi các
tư tưởng hận thù, oán ghét, ích kỷ, tham lam, sợ hãi, nghi ngờ của mình, thì mọi
sự có thể đổi khác. Nếu một cá nhân có thể thay đổi số mệnh, tác động được đến
nhiều người xung quanh thì một xã hội hay một quốc gia cũng có thể làm được như
thế. Chỉ cần những người sống trong xã hội, quốc gia đó ý thức rõ về hậu quả
khôn lường của những tư tưởng xấu, những hành động tàn ác, biết hồi tâm hướng
thiện, thì sẽ có thể thay đổi được nghiệp lực chung của một dân tộc.
Phần 3.1 - Nghiệp báo và tương lai nhân loại: Bí ẩn ngôi nhà cổ
Khi mới bước chân vào lãnh vực đầu tư tài chính, tôi làm cho
JPMorgan Chase & Co., một trong những tập đoàn tài chính lâu đời nhất thế
giới, dưới quyền của một người quản lý tên Don C. Ông là một chuyên gia đầu tư
với nhiều năm kinh nghiệm và đã hướng dẫn tôi rất nhiều từ lúc tôi mới vào nghề.
Sau hơn mười năm làm việc, tôi thành lập công ty riêng và mời Don tham gia cùng
tôi với vai trò đối tác. Nhưng ở thời điểm đó, việc có chân trong một công ty
khởi nghiệp không phải là ưu tiên của ông, vì vậy ông chỉ đồng ý tham gia với
vai trò cố vấn trong giai đoạn đầu thành lập công ty. Chúng tôi đã giữ mối quan
hệ bạn bè thân thiết suốt nhiều năm kể từ đó.
Năm ngoái, Don về hưu. Ông mua một căn nhà gần bờ biển tại
Hyannis Port, thuộc tiểu bang Massachusetts, Mỹ, cùng vợ ông là Susan dọn về
đây để nghỉ ngơi, an hưởng tuổi già. Gần đây, ông mời vợ chồng chúng tôi đến
chơi. Có dịp gặp lại người bạn lâu năm, dĩ nhiên là chúng tôi không thể chối từ.
Chúng tôi đến thăm vợ chồng Don vào một ngày cuối tuần. Ngôi
nhà của hai vợ chồng tọa lạc tại một khu đất thoáng rộng, cạnh bờ biển. Đó là một
ngôi nhà đẹp theo lối kiến trúc cổ kính, với những đường nét hài hòa, tạo cảm
giác ấm cúng và yên bình. Theo lời ông Don thì ngôi nhà này được xây từ đầu thế
kỷ 20. Quanh nhà còn có khu vườn rất rộng, lại thêm ở gần biển nên không khí
trong nhà luôn thoáng mát, trong lành. Don đưa chúng tôi đi tham quan một vòng
quanh nhà, ông nói với vẻ hài lòng:
– Phần lớn những ngôi nhà quanh đây đều đã được tân trang lại
cho hợp thời và tiện nghi hơn, nhưng tôi thì thích kiến trúc cổ kính nên từ lúc
chọn mua ngôi nhà này, tôi hầu như đã giữ nguyên mọi thứ. Đây là lối kiến trúc
tân cổ điển thịnh hành đầu thế kỷ 20. Nhìn những đường nét tỉ mỉ của ngôi nhà
có thể hình dung sự khéo léo và tận tâm của những người thợ lành nghề. Hiện nay
không còn nhiều ngôi nhà như thế này nữa.
Don chỉ vào chiếc lò sưởi đang có những thanh củi rực cháy,
phát ra tiếng kêu lép bép:
– Đa số gia đình ngày nay đều dùng lò sưởi điện rồi, nhưng
tôi vẫn thích cảm giác ấm cúng của lò sưởi dùng củi như thế này. Nó gợi lại cho
tôi về sự giản dị, êm đềm của đời sống xưa cũ.
Don tiếp tục dẫn chúng tôi lên lầu, chỉ vào cầu thang gỗ dưới
chân, ông hào hứng:
– Căn nhà này xây cả một trăm năm rồi mà còn vững chắc lắm.
Ông thấy không, cầu thang này bằng gỗ nhưng không hề phát ra tiếng cọt kẹt khi
bước đi. Nhiều công trình bây giờ sử dụng các vật liệu nhân tạo không làm được
như thế đâu.
Bước lên hết cầu thang là căn phòng có cửa sổ lớn nhìn ra vườn,
trong phòng cũng có một lò sưởi nhỏ và ở góc phòng có kê một chiếc bàn gỗ rất lớn.
Don nói, không giấu giếm vẻ hãnh diện:
– Ông xem này, chiếc bàn tuyệt đẹp này được làm từ thân cây cổ
thụ, có lẽ cũng phải đến trăm năm tuổi. Nhìn những đường nét vân gỗ này xem,
như một bức tranh vậy. Tôi được biết, người làm ra nó là một thợ mộc nổi tiếng.
Ông hãy nhìn kỹ từng chi tiết này, tất cả bộ phận được ráp vào nhau khéo léo bởi
những mộng gỗ chắc chắn chứ không đóng đinh như bàn ghế ngày nay.
Tôi chắc là hiện nay không còn mấy người sản xuất theo kiểu
thủ công tinh xảo như thế này nữa.
Tôi gật đầu, tán thưởng thiết kế độc đáo của chiếc bàn. Don
nói tiếp:
– Tôi nghĩ nó được làm cùng lúc với căn nhà, vì nó lớn thế
này người ta không thể khuân nó qua khung cửa hẹp kia được. Dù đã về hưu và
không mấy khi dùng đến bàn làm việc nữa, nhưng tôi đặc biệt rất thích chiếc bàn
này.
Sau khi tham quan khắp căn nhà, thưởng lãm và trầm trồ những
món đồ trang trí trang nhã mà vợ chồng Don đã chọn bài trí cho phù hợp với
phong cách cổ kính nơi đây, Angie cùng Susan vào bếp chuẩn bị bữa ăn tối. Tôi
xin phép ra vườn dạo một chút. Khu vườn rộng và rất mát mẻ với cây cối xanh
tươi, được chăm sóc cẩn thận. Tôi dạo bước dưới bóng mát của những hàng cây, một
làn gió lạnh lùa qua khiến tôi rùng mình, đưa tay kéo áo khoác trùm kín cổ. Sự
tĩnh lặng dưới hàng cây vừa tạo cảm giác thanh bình, vừa có chút gì rờn rợn.
Tôi nhắm mắt, hít một hơi thật sâu thứ mùi nồng nồng của rêu trên những thân
cây cổ thụ, lẫn với mùi biển mát lành. Khi mở mắt ra, tôi nhìn thấy dưới một gốc
cây to cạnh hàng hiên có một ông lão đang ngồi trên băng ghế đọc sách. Ông lão
cũng nhìn thấy tôi, ông quan sát tôi một lúc rồi khẽ gật đầu chào. Tôi gật đầu
đáp lại, ông lão có vẻ ngạc nhiên. Tôi thầm nghĩ có lẽ đây là người nhà của
Don. Tôi định bước về phía ông chào hỏi thì chợt nghe tiếng Don sau lưng. Ông
ra vườn tìm tôi, tay cầm hai ly rượu. Tôi nói cảm ơn, nhận ly rượu từ tay Don
và quay người lại phía băng ghế nhưng đã không còn thấy ông lão lúc nãy ở đó.
Tôi nhìn quanh cũng không thấy người đâu, bèn quay lại hỏi Don:
– Hình như còn có người thân của ông ở đây phải không? Lúc
nãy tôi gặp một người đàn ông ở đây, chưa kịp chào hỏi thì đã không thấy ông ấy
đâu nữa.
Don giật mình, tỏ vẻ kinh ngạc:
– Ông thực sự nhìn thấy ông ấy ư? Vậy là cảm giác trước đây của
tôi đúng rồi…
Tôi trả lời, cũng không giấu vẻ ngạc nhiên:
– Tôi thấy chứ sao không? Ông ấy ngồi ngay kia mà, ông ấy còn
gật đầu chào tôi. Có phải người thân của ông không? Tôi chưa kịp chào hỏi gì cả.
Don xua xua tay, giọng hơi căng thẳng:
– Không đâu, nhà này chỉ có hai vợ chồng chúng tôi thôi.
Nhưng tôi đã luôn có cảm giác rõ rệt ở đây còn một ai đó khác… Nhưng dẫu sao
thì xin ông đừng nói gì về việc này với nhà tôi nhé. Tôi không muốn bà ấy lo lắng.
Vẻ ngập ngừng của Don càng khiến tôi thấy khó hiểu. Tuy vậy,
tôi cũng gật đầu:
– Được rồi, nếu đó là việc riêng của gia đình ông thì tất
nhiên tôi sẽ không nhắc đến nữa.
Don im lặng, do dự một lúc rồi tiến lại gần tôi, nói nhỏ:
– Có thể ông cảm thấy chuyện này hơi hoang đường, nhưng người
mà ông vừa gặp… có lẽ không phải là người, mà là một hồn ma. Vợ chồng tôi dọn về
đây không bao lâu thì tôi bắt đầu cảm giác được sự hiện diện của một ai đó
trong nhà. Có lần tôi giật mình thức dậy vì nghe thấy tiếng bước chân ngoài
hành lang. Lúc đó, tôi cố gắng đè nén nỗi sợ hãi, nhẹ nhàng mở ngăn kéo lấy khẩu
súng, cầm chặt và im lặng chờ đợi. Tôi không dám làm điều gì sơ suất. Tuy
nhiên, tiếng bước chân đã hoàn toàn biến mất, cũng may lúc đó, vợ tôi vẫn say
ngủ. Tôi khẽ mở cửa đi ra. Mặc dù giữa mùa hè nhưng tôi chợt cảm thấy một cơn ớn
lạnh rùng mình. Tôi mở công tắc đèn quan sát mọi nơi. Ngôi nhà không có dấu hiệu
của sự xâm nhập bất hợp pháp. Tôi tự an ủi mình thần hồn nát thần tính nhưng vẫn
cảm thấy bất an. Một lần khác khi làm việc khuya ở phòng khách dưới nhà, tôi
nghe thấy tiếng lịch kịch, dường như là tiếng mở ngăn kéo chiếc bàn lớn trên lầu.
Tôi mở điện thoại và sẵn sàng gọi cho 911, đúng lúc đó thì vợ tôi mở cửa vào
nhà, cô ấy vừa đi dự tiệc sinh nhật một người bạn cũ. Tôi vội ra hiệu cho vợ im
lặng, và chỉ lên lầu ra dấu cho vợ tôi biết là có người đột nhập. Vợ tôi hốt hoảng
lắm. Cô ấy ra hiệu cho tôi gọi cho cảnh sát, nhưng đúng lúc đó, tôi lại nghe thấy
tiếng bước chân ở hành lang trên lầu đi về hướng chúng tôi. Theo phản xạ tôi
nhìn lên trên nhưng hành lang không một bóng người, tiếng bước chân cũng không
còn. Tôi cầm lấy cây gậy đánh golf, ra hiệu cho vợ tôi đi ra ngoài vườn trước,
rồi tôi la lên: “Chúng tôi có súng, dù anh là ai cũng hãy rời khỏi đây! Tôi đã
gọi cảnh sát và họ sẽ sớm đến ngay”.
Tôi cũng bị cuốn vào câu chuyện và hỏi:
– Rồi mọi chuyện sau đó thế nào?
Don khẽ lắc đầu:
– Đáp lại tiếng quát của tôi là sự tĩnh lặng đáng sợ. Đợi
thêm một lúc, tôi lấy hết can đảm đi lên cầu thang. Đôi tay cầm gậy golf của
tôi ướt đẫm mồ hôi. Hành lang hoàn toàn im ắng, thậm chí, cánh cửa phòng phát
ra tiếng động lịch kịch mà tôi nghe thấy cũng đóng kín, không có vẻ như có ai vừa
đi ra từ căn phòng đó. Tôi mở toàn bộ đèn hành lang nhưng không thấy ai. Tôi xuống
nhà và gọi vợ tôi vào nhà. Tôi hỏi cô ấy rằng lúc mới vào nhà có nghe thấy tiếng
bước chân trên hành lang không thì cô ấy bảo: “Em chỉ thấy anh ra dấu cho em
yên lặng, sau đó, anh ra hiệu cho em đi ra vườn, em không hề nghe thấy tiếng bước
chân nào. Có khi nào anh làm việc khuya quá, tinh thần mỏi mệt nên sinh ra ảo
giác không?”.
Những ngày sau, tôi vẫn không cho rằng đây là chuyện ma quỷ
gì, chỉ nghĩ là người lạ xâm nhập, nên đã lắp thêm hệ thống báo động quanh nhà.
Vậy mà tôi vẫn nghe thấy những tiếng động lạ trong nhà, dù cửa thì vẫn khóa kỹ,
chuông báo động cũng không kêu. Kỳ lạ hơn, chỉ mình tôi nghe thấy còn vợ tôi
hoàn toàn không cảm nhận được có sự khác thường nào. Chuyện này chính tôi cũng
không giải thích được nên cũng chẳng kể với ai ngoài vợ tôi. Vợ tôi nghe kể thì
cũng hơi chột dạ, muốn bán căn nhà này đi, nhưng tôi không nỡ. Ông thấy đó, ở
đây gần biển, không khí trong lành, không gian yên tĩnh và chỉ mấy mươi phút là
có thể đến Bayberry Hills Golf Course để chơi golf…
Don ngừng lại, nhìn tôi như thăm dò, rồi nói tiếp:
– Có nhiều khi, nếu chuyện không xảy ra với mình thì mình vẫn
không tin là có thật. Từng tuổi này rồi, tôi cũng trải qua nhiều, cũng không
còn cố chấp giới hạn niềm tin của mình nữa. Qua một thời gian, tôi cảm nhận được
rằng nếu thật sự có một linh hồn ở nơi này thì họ cũng không làm gì hại chúng
tôi. Dần dần, chúng tôi cũng không quá căng thẳng nữa. Cũng lạ là gần đây tôi
không còn nghe thấy những tiếng động lạ đó nữa. Vừa nãy nghe ông kể chuyện nhìn
thấy người đàn ông lạ mặt trong vườn một cách rõ ràng tôi mới giật mình. Nhưng
nếu đó là linh hồn thì sao ông lại nhìn thấy rõ ràng, thật kỳ lạ…
Tôi im lặng, vừa ngạc nhiên vừa bối rối trước câu chuyện vừa
nghe. Mãi sau, tôi mới lên tiếng:
– Sau những trải nghiệm mà tôi từng đi qua, tôi không quá bất
ngờ về những linh hồn vẫn tồn tại quanh chúng ta, nhưng tôi không biết tại sao
tôi lại có thể nhìn thấy ông ấy rõ ràng đến vậy…
Don lắc đầu:
– Thỉnh thoảng tôi cảm nhận được lờ mờ sự hiện diện của ông ấy,
còn thấy rõ thì chưa bao giờ. Còn nếu người đàn ông mà ông vừa thấy là người
thì hệ thống chuông báo động tinh vi mà tôi lắp đặt đã phải kêu rồi.
Tôi vừa định nói thêm thì nghe tiếng gọi từ trong nhà, Susan
và Angie đã chuẩn bị xong bữa ăn tối. Chúng tôi vừa ăn vừa trò chuyện thân mật
trong tiếng nhạc của Frank Sinatra, một tuyển tập kinh điển mà chúng tôi đều
cùng yêu thích từ thời còn thanh niên. Sau bữa ăn, Susan đề nghị chúng tôi cùng
đi dạo bờ biển vì hoàng hôn ở đây rất đẹp. Trong khi Angie và Susan vào phòng lấy
thêm áo khoác vì không khí đã bắt đầu chuyển lạnh thì tôi bước ra khu vườn.
Trong bóng chiều nhập nhoạng, tôi lại nhìn thấy ông lão kia, người mà giờ đây
tôi đã biết có thể không phải là con người bằng xương bằng thịt giống như mình.
Ông lão ngồi trên ghế, tay cầm một quyển sách, nhìn tôi với vẻ quan sát. Tôi do
dự một chút, nhưng rồi thấy ông không hề có vẻ gì ác ý, tôi bèn lên tiếng:
– Xin chào ông. Tôi là Thomas.
Ông lão hơi giật mình, ông tiếp tục quan sát tôi một lúc, rồi
ngập ngừng:
– Chào ông! Tôi… Đã lâu rồi tôi chưa nói chuyện với ai. Ông
là người đầu tiên mà tôi có thể nói chuyện, kể từ khi…
Tôi nghe ra trong giọng nói của ông một sự thiết tha, bỗng có
chút mủi lòng. Ông nhìn tôi với vẻ khẩn khoản, như có điều gì muốn chia sẻ. Tôi
lên tiếng hỏi:
– Có phải ông có việc gì cần không? Xin hỏi tôi có thể giúp
được gì cho ông?
Ông lão đứng dậy, tiến một chút về phía tôi, sau vài giây lưỡng
lự, ông nói:
– Thật cảm ơn ông. Đúng là tôi có chút chuyện cần được giúp đỡ.
Chúng ta có thể nói chuyện một chút được không?
Tôi gật đầu:
– Được chứ. Nhưng bây giờ chúng tôi chuẩn bị ra ngoài. Khi trở
về tôi sẽ gặp ông ở đây, được không?
Ông lão gật đầu, tỏ vẻ cảm kích:
– Cảm ơn ông rất nhiều. Tôi sẽ đợi.
Tôi gật đầu chào ông lão rồi trở vào phòng khách, nơi mọi người
đang chờ. Chúng tôi đi dạo quanh bờ biển, vừa nhìn ngắm khung cảnh thanh bình
nơi đây vừa trò chuyện vui vẻ, đến tối muộn mới trở về nhà. Susan pha một bình
trà nóng và chúng tôi ngồi ở phòng khách tiếp tục trò chuyện. Susan và Angie
hào hứng trao đổi những bí quyết nấu ăn. Được một lúc, tôi xin phép ra ngoài
hiên hóng gió. Don hỏi với theo:
– Có cần tôi đi cùng ông không?
Tôi lắc đầu:
– Ồ, không cần đâu. Tôi muốn ở một mình. Sự yên tĩnh nơi đây
thật tuyệt vời, tôi muốn cảm nhận một chút.
Tôi khép cửa, bước ra khu vườn, dù trời tối, tôi vẫn nhìn thấy
ông lão đã ngồi đợi sẵn trên băng ghế. Tôi gật đầu chào ông, lần này đã bớt đi
sự dè chừng. Ông lão cũng gật đầu chào đáp lại tôi. Ông lên tiếng trước:
– Cảm ơn ông đã quay lại gặp tôi. Tôi đã ở đây lâu lắm rồi,
đã cố thử cho người khác biết về sự hiện diện của mình và cố gắng giao tiếp với
họ nhưng không thể. Người bạn của ông cũng là người khá đặc biệt, ông ấy có thể
cảm nhận sự hiện diện của tôi, nhưng có đôi lần tôi thử nói chuyện thì ông ấy
không nghe được. Ông là người đầu tiên vừa nhìn thấy tôi vừa nghe được lời tôi
nói.
Tôi hỏi:
– Nhưng ông là ai?
Ông lão tiến lại gần hơn một chút, hơi cúi người về phía trước,
tự giới thiệu:
– Tôi tên là James G., là kế toán riêng cho một gia đình giàu
có và nổi tiếng ở vùng này. Đây là nhà của tôi, đích thân tôi đã mời về những
người thợ giỏi nhất, và chứng kiến họ cẩn thận thêm từng viên gạch, từng khúc gỗ
để xây nên ngôi nhà. Ngôi nhà này chứa đựng rất nhiều kỷ niệm của tôi và gia
đình, đồng thời chứa cả bí mật nữa. Tôi là người lo liệu sổ sách kế toán cho
ông chủ, tôi giữ tất cả giấy tờ, tài liệu về tiền bạc của chủ tôi trong một hồ
sơ chính thức để khai thuế. Nhưng có lẽ ông cũng biết, trong việc kinh doanh,
không phải lúc nào tiền bạc đều rõ ràng, minh bạch. Ông chủ tôi có những chi
tiêu vào việc riêng, không được công khai và tôi giữ những giấy tờ liên quan
trong một hồ sơ bí mật mà chỉ có tôi và ông chủ biết thôi. Đây là những món chi
tiêu có liên quan đến nhiều người, các cơ quan chính quyền và có thể ảnh hưởng
đến danh dự của ông chủ tôi và dòng họ, cũng như những người có liên quan.
Ông lão dừng lại một lúc như để cẩn thận lựa chọn ngôn từ, rồi
nói tiếp:
– Trong hồ sơ bí mật đó có một quyển sổ kế toán ghi rõ các
khoản thu chi cho từng người, theo từng thời gian cụ thể, với các con số chi tiết.
Rất nhiều thông tin riêng tư cần được giữ kín. Dù đã là chuyện hơn tám mươi năm
trước rồi và ông chủ tôi cũng đã qua đời, nhưng nếu sự việc bị tiết lộ vẫn có
thể gây hại cho nhiều người và hơn hết là ảnh hưởng đến danh dự của ông chủ
tôi. Đáng lẽ ra tôi đã phải tiêu hủy cuốn sổ đó, nhưng chưa kịp thực hiện thì
tôi bất ngờ qua đời vì xuất huyết não. Đã hơn tám mươi năm rồi, tôi vẫn canh
cánh điều đó trong lòng và chưa bao giờ dám rời khỏi ngôi nhà này. Tôi phải ở
đây để giữ cuốn sổ, tránh nó rơi vào tay người khác. Tôi chịu ơn ông chủ rất
nhiều, thế nên, việc quan trọng đã hứa với ông chủ nhưng chưa hoàn thành khiến
tôi cứ day dứt không yên.
Ông lão nhìn tôi bằng ánh mắt khẩn nài, nói tiếp:
– Thưa ông, hơn tám mươi năm rồi, tôi đã chờ đợi một người có
thể giúp được tôi. Nay tôi may mắn gặp được ông, tôi có thể nhờ ông giúp tôi
tiêu hủy tập hồ sơ đó được không? Chỉ khi nào thực hiện được tâm nguyện cuối
cùng này, tôi mới yên lòng rời khỏi đây.
Tôi nhìn ông lão, cảm động trước lòng trung thành của ông,
sau vài giây suy nghĩ, tôi trả lời:
– Được, tôi sẵn lòng giúp ông.
Ông lão cúi người về phía tôi, giọng xen lẫn giữa cảm kích và
xúc động:
– Cảm ơn ông! Cảm ơn ông rất nhiều! Thưa ông, cuốn sổ đó đang
nằm trong một ngăn kéo bí mật trong chiếc bàn gỗ lớn tại phòng làm việc trên lầu,
tôi thấy ông đã đến chỗ đó rồi. Đó là chiếc bàn được thiết kế đặc biệt theo yêu
cầu của tôi. Ngoài tôi ra, không ai biết đến ngăn kéo đó, càng không biết về những
gì cất giữ bên trong. Ngay cả vợ và con tôi cũng không biết gì về việc này. Sau
khi tôi chết, vợ tôi đã sống ở đây cho đến khi qua đời. Sau đó con trai tôi tiếp
tục sống ở đây, nhưng không đụng chạm gì đến cái bàn đó hết. Năm ngoái, vì công
việc, nó đã dọn đi California nên mới rao bán căn nhà này. Người chủ mới rất
thích sự cổ kính của ngôi nhà nên không sửa sang gì và cũng ít khi sử dụng
phòng làm việc, nhờ vậy chiếc bàn vẫn còn nguyên ở đó. Giờ tôi sẽ chỉ cho ông
cách mở ngăn kéo bí mật đó, nhờ ông giúp tôi đem cuốn sổ đó đốt đi, không để lọt
vào tay ai, có được không ông?
Tôi gật đầu:
– Được rồi, ông chỉ cho tôi cách lấy tập hồ sơ. Tôi sẽ giúp
ông.
Ông lão lại cúi gập người, bày tỏ lòng cảm kích:
– Xin cảm ơn ông.
Tôi trở vào nhà, mọi người vẫn đang trò chuyện vui vẻ. Tôi
nói với Don rằng mình hơi mệt, xin phép sử dụng phòng tắm trên lầu rồi sẽ xuống
tiếp tục trò chuyện cùng mọi người. Khi tôi lên lầu, bước vào phòng làm việc và
chốt cửa lại, đã thấy ông lão chờ sẵn trong phòng. Ông chỉ cho tôi cách mở ngăn
kéo bí mật. Ngăn kéo đó được thiết kế nằm phía dưới một ngăn kéo khác, rất khó
nhìn thấy và phải mở bằng chốt đặc biệt. Cố gắng không gây ra tiếng động nào
khi mở ngăn kéo bí mật ra, tôi tìm thấy trong đó một quyển sổ đã bạc màu cùng một
số giấy tờ khác đã ố vàng. Tôi cầm cuốn sổ và tập hồ sơ đến lò sưởi và châm lửa
đốt. Khi mảnh giấy cuối cùng đã cháy hết, tôi cẩn thận cào lớp tro để không lưu
lại dấu vết. Xong việc, tôi quay người lại thì đã không thấy ông lão đâu nữa.
Khi tôi trở xuống nhà, Angie và Susan vẫn đang trò chuyện.
Don đang ở hàng hiên hóng mát với ly rượu vang trên tay. Don đang chờ tôi. Tôi
bước ra hàng hiên, cầm ly rượu, cụng ly với người bạn của mình và nói nhỏ:
– Từ hôm nay, có lẽ ông sẽ không còn nhìn thấy ông lão kia nữa
đâu.
Don không tỏ vẻ ngạc nhiên lắm, có lẽ ông đã linh cảm được
chuyện gì, ông chỉ hỏi đơn giản:
– Nhưng ông đã làm gì?
Tôi mỉm cười, trả lời:
– Tôi đã yêu cầu ông lão đi nơi khác.
Don có hơi bất ngờ:
– Ông nói chuyện được với ông lão ấy ư? Ông có thể giao tiếp
với họ ư?
Tôi mỉm cười:
– Cho phép tôi không kể điều này. Dù sao thì tôi đã đề nghị
ông ấy đi nơi khác, không làm phiền gia đình ông nữa, và ông ấy đồng ý. Từ nay
ông và Susan có thể yên tâm.
Don nhìn tôi, mỉm cười ý nhị:
– Tôi biết chuyện không đơn giản như thế đâu. Chúng tôi có
phòng tắm dưới nhà nhưng ông cố ý dùng phòng tắm trên lầu… Nhưng không sao,
theo lời ông nói thì mọi chuyện tốt đẹp cả rồi. Tôi phải cảm ơn ông.
Tôi mỉm cười đáp lại:
– Phải, mọi việc đều tốt đẹp cả. Giờ ông bà có thể yên lòng ở
ngôi nhà này, không cần lo lắng gì nữa.
Chúng tôi cụng ly, trò chuyện sang chủ đề khác. Làn gió biển
thổi vào, mang theo cảm giác nhẹ nhàng, thanh mát.
Mấy tháng sau, tôi cùng Angie đến căn nhà tại Colorado để nghỉ
cuối tuần. Tôi ghé thăm ông Kris và trong lúc trò chuyện, tôi cũng kể cho ông
nghe câu chuyện diễn ra ở nhà Don. Kể xong, tôi hỏi:
– Trước đây ông có nói về cõi giới vô hình và cho tôi biết rằng
đó là một cõi giới riêng biệt khác hẳn cõi trần. Vậy người chết đã đi qua cõi
đó, tại sao vẫn có thể trở về liên lạc với người sống?
Ông Kris thong thả đáp lời:
– Chúng ta hãy bắt đầu với những gì con người trải qua sau
khi chết. Khi qua đời, con người rời bỏ xác thân vật chất và hiện hữu dưới hình
thức khác gọi là thân trung ấm (Bardo) hay vong linh (Spirit). Đây là trạng
thái trung gian giữa cái chết và lần tái sinh tiếp theo. Nhiều người gọi đó là
ma, nhưng gọi như vậy là nhầm lẫn, vì ma quỷ là những thực thể sống ở cõi riêng
của chúng. Danh từ thường gọi khác là linh hồn (Soul) cũng không chính xác, vì
quan niệm đó cho rằng linh hồn là bất diệt, không thay đổi và chỉ di chuyển từ
kiếp này qua kiếp khác. Do đó, theo quan niệm ấy, đã làm người thì làm người
mãi, dù trong kiếp người đó có làm việc gì, bất kể tốt xấu, vẫn trở lại làm người.
Tương tự, đã làm súc vật thì mãi làm súc vật, trải qua bao nhiêu kiếp cũng
không thay đổi. Quay lại điều mà tôi đã nói với ông trước đây, cái duy nhất thật
sự hiện hữu là tàng thức (A lại da thức), nó là căn bản của sự tồn tại, là nền
móng của mọi tâm thức. Tàng thức có thể coi như cái kho chứa rất nhiều chủng tử
(hạt giống). Mọi tư tưởng, lời nói, hành động trong một kiếp sống, dù tốt hay xấu,
đều tạo ra nhân, hay chủng tử, được lưu trữ trong tàng thức, không bao giờ mất
đi. Tùy vào sự thu xếp của luật Nhân quả mà một số chủng tử sẽ phát khởi, biểu
hiện thành tâm thức trong mỗi kiếp sống. Do đó, tâm thức luôn luôn biến đổi,
luân chuyển qua nhiều kiếp khác nhau, lúc làm người, lúc làm thú vật, lúc làm bậc
tiên thánh ở cõi giới tâm thức cao hay ma quỷ. Có thể hình dung việc này như một
người làm vườn vào kho lấy ra một số hạt giống để gieo trồng, tùy điều kiện đất
đai, thời tiết hay tưới bón mà những hạt giống được chọn này sẽ mọc thành cây rồi
trổ quả. Kiếp người cũng thế, tùy sự sắp đặt của luật Nhân quả mà người ta sinh
ra tại một nơi chốn nhất định, với hoàn cảnh và tính tình riêng, không ai giống
ai. Có người sung sướng, có người khổ đau, có người rất thông minh và có người
lại khờ dại. Tất cả tính tình của một người đều chỉ là những chủng tử đã có sẵn
trong tàng thức và được biểu hiện trong kiếp sống đó mà thôi.
Ông Kris dừng lại để tôi suy nghĩ, rồi tiếp tục:
– Trải qua vô lượng kiếp, chủng tử chứa trong tàng thức thì rất
nhiều nhưng tùy nhân quả sắp đặt, hay nghiệp lực, mà chỉ một số nhỏ chủng tử được
lấy ra cho mỗi kiếp sống thôi. Tùy hành xử cá nhân, tức thân – khẩu – ý trong mỗi
kiếp sống mà chúng ta tiếp tục tạo thêm những cái nhân, lưu trữ vào trong tàng
thức dưới dạng chủng tử. Do đó tàng thức là cái kho không bao giờ cạn, và chủng
tử phát khởi là không bao giờ có hồi kết. Đó là lý do con người tiếp tục lưu
chuyển mãi trong vòng sinh tử luân hồi, khi thì làm người, lúc thì làm thú vật,
ma quỷ hay các bậc cao hơn. Khi chuyển kiếp làm người thì tâm thức (tức tàng thức)
đến trước rồi các yếu tố vật chất cấu kết trong bào thai đến sau. Đến khi chết,
các yếu tố vật chất tan rã trước, tâm thức là cái cuối cùng ra đi. Khi qua cõi
âm, tâm thức chuyển thành một dạng của năng lượng, lưu lại đây một thời gian để
chuẩn bị chuyển kiếp, cũng chính là giai đoạn thân trung ấm mà tôi vừa nhắc.
Tuy nhiên, có những trường hợp đặc biệt khi vong linh còn ước nguyện chưa thành
ở cõi trần, thì sẽ quanh quẩn tại đây, không chịu siêu thoát. Đó là trường hợp
mà ông đã gặp tại Hyannis Port. Tuy nhiên, không phải cứ muốn là vong linh có
thể liên hệ được với cõi trần. Nói đến chuyện người đã qua đời có thể liên hệ với
người sống ở thế gian, đa số sẽ cho là chuyện tưởng tượng hoang đường, bởi
không phải ai cũng thấy hay nghe được người đã khuất. Vì giác quan và lý trí
con người bị giới hạn trong thân xác nên phải cần đến trực giác mới có thể giao
tiếp được với thế giới bên ngoài thế giới vật chất. Trường hợp của ông, chính
trực giác đã giúp ông trò chuyện với người kia. Khi hai người trò chuyện, ông
không nghe bằng âm thanh, bởi vong linh đó đâu còn giác quan vật chất để phát
ra tiếng nói nữa. Chính trực giác đã giúp ông nghe được tiếng nói người đó bằng
tâm thức, rồi chính trực giác giúp ông đáp lời ông ta trong tâm thức, từ đó
giúp ông ta hoàn tất tâm nguyện để có thể siêu thoát.
Tôi hết sức ngạc nhiên trước những điều vừa nghe:
– Thật vậy ư? Tôi không ngờ sự việc diễn ra như thế. Vì khi
trò chuyện với ông ấy, tôi hoàn toàn không ý thức được mình đang nghe và nói bằng
trực giác. Tôi hiểu mọi thứ ông ấy nói rõ ràng như một cuộc trò chuyện bình thường.
Nhưng tôi vẫn thắc mắc lắm, khi vong linh qua cõi bên kia sẽ như thế nào?
Ông Kris từ tốn giải thích:
– Bởi vì tâm thức mỗi người là khác nhau nên khi qua đời, mỗi
người sẽ có một trải nghiệm khác nhau. Thế giới bên kia thuộc về phạm vi tinh
thần nên những người duy vật, những người tin rằng chết là hết, khi qua đây sẽ
không nhận thức được gì mà cứ ở trong trạng thái như người ngủ say. Đó là nghiệp
quả của sự phủ nhận mù quáng. Phải mất nhiều năm, có khi cả thế kỷ, họ mới ý thức
mình đã qua cõi khác.
Tôi ngạc nhiên:
– Người ta có thể không biết rằng mình đã chết sao? Tại sao lại
như vậy?
Ông Kris giải thích:
– Người duy vật không tin vào những gì không thể nhận thức được
bằng giác quan vật chất. Họ xem đời sống ở cõi trần là sự hiện hữu duy nhất và
chết là hết, không còn điều gì tồn tại sau cái chết nữa. Niềm tin này trở thành
điểm mù trong tâm thức của họ. Vì không chấp nhận sự tồn tại của một cõi giới
nào khác nên sau khi chết, họ cứ mê man, bất động dù đã bước vào cõi tinh thần.
Sau thời gian rất lâu, sự cố chấp của tâm thức tan dần, họ tỉnh dậy trong sự bỡ
ngỡ, hốt hoảng, xúc động, mọi niềm tin trước đó đều đảo lộn và họ không biết
bám víu vào đâu. Trong lúc hoang mang bối rối này, họ dễ bị những vong linh xấu
lôi kéo hay bị các loài ma quỷ dẫn dụ vào những nơi mà đáng lẽ họ không phải đến.
Tôi hỏi:
– Nhưng làm sao người ta có thể biết về thế giới bên kia nếu
chưa chết?
Ông Kris mỉm cười, giải thích:
– Một người tu tập có định lực, khai mở được những giác quan
đặc biệt thì có thể chuyển tâm thức qua cõi giới khác để quan sát và học hỏi.
Trong thời buổi khoa học này, bất cứ ai nói về cõi giới bên kia cũng đều bị coi
là hoang tưởng, nói xằng nói bậy, vì người ta đòi hỏi mọi thứ phải theo khoa học,
phải có bằng chứng, được xác nhận bởi những nhà khoa học uy tín. Dĩ nhiên, những
điều mắt ta không thể nhìn thấy thì ta không tin cũng là hợp lẽ. Nhưng con người
chúng ta nhận thức mọi sự bằng giác quan và ít ai ý thức được rằng các giác
quan này chỉ giới hạn trong một phạm vi nhỏ hẹp trong khi chúng ta sống trong một
vũ trụ bao la. Ngày nay, khoa học đã chứng minh được sự tồn tại của thế giới vi
sinh vật mà mắt thường không thể thấy, từ đó cho thấy quan niệm cho rằng cái gì
không nhìn thấy được thì không tồn tại là còn thiếu sót. Ví dụ đơn giản nhất là
không khí bao quanh chúng ta: Nó ở đó, nhưng chúng ta nào có thấy. Và còn có
bao nhiêu khí lực vô hình khác quanh ta mà các giác quan thông thường không thể
nhận biết được. Chúng ta giống như đang sống trong một phòng kín với ô cửa sổ rất
nhỏ, nên chỉ có thể nhìn mọi vật qua ô cửa sổ đó thôi, không biết gì về thế giới
rộng lớn bên ngoài. Con người, ngoài các giác quan thông thường của cơ thể vật
lý, còn có những giác quan khác có thể giúp chúng ta nhận biết mọi sự, mọi nơi,
mọi cõi, chỉ là không phải ai cũng biết cách sử dụng.
Ngay như các giáo sĩ, những người theo các tôn giáo, cũng chỉ
nói rất sơ lược về các cõi giới bên kia, vì họ chỉ biết kinh sách đã dạy như thế
chứ chưa từng đến đó trải nghiệm để có thể về trình bày lại. Tuy nhiên, vẫn có
người nhờ khai mở những giác quan tinh nhuệ, có thể chuyển tâm thức đến những
cõi giới kia, chứng kiến và thuật lại. Đây không phải điều gì đặc biệt khác thường,
vì thật ra mọi người đều có những giác quan này nhưng không biết sử dụng đó
thôi.
Tôi ngạc nhiên:
– Thật vậy sao? Mọi người đều sở hữu những giác quan đó sao?
Ông Kris gật đầu, xác nhận:
– Đúng thế, mọi người đều có những giác quan này nhưng muốn sử
dụng thì cần phải có công phu tu luyện và định lực thâm sâu thì mới có thể chuyển
tâm thức đến những cõi giới khác. Tôi có thể làm được việc này, nhưng dĩ nhiên
ông không nhất thiết tin những gì tôi nói. Tự ông có thể suy xét, tìm hiểu,
phân tích cẩn thận rồi hãy quyết định có nên tin hay không. Thật ra, ông và tôi
đã từng làm việc này ở kiếp sống khác rồi, nhưng nay ông đã quên.
Một lần nữa, ông Kris lại nói về tiền kiếp của tôi, khiến tôi
không thể không tự hỏi nếu mình đã có sự hiểu biết như thế thì tại sao quên?
Chưa kịp nói ra thắc mắc của mình, thì ông Kris như đọc được ý nghĩ của tôi, đã
mỉm cười nói thêm:
– Chúng ta đã từng tu tập cùng nhau trong nhiều năm, nhiều kiếp,
nhưng con đường của chúng ta đi không giống nhau. Chúng ta đều có những ngã rẽ
riêng, bài học riêng và nhân quả riêng phải trả, do đó ông và tôi có những trải
nghiệm khác nhau nhưng tình bạn chúng ta vẫn như cũ, được nối tiếp từ những kiếp
sống xưa. Vì vậy, tôi và ông mới có thể gặp lại nhau ở kiếp này để hoàn tất lời
hẹn và sứ mệnh khi xưa.
Ông Kris nhìn tôi một cách thân ái rồi nói thêm:
– Cái chết chỉ là sự từ bỏ xác thân vật chất, còn tâm thức
thì vẫn hoạt động nên khi qua cõi âm, vong linh vẫn có thể ý thức được những gì
xảy ra nơi đây. Dĩ nhiên, lúc đầu ai cũng trải qua trạng thái bỡ ngỡ, lạc lõng,
hay hoảng hốt một thời gian. Sau khi vượt qua điều đó, vong linh sẽ trải nghiệm
trạng thái gọi là hồi quang phản chiếu (Terminal Lucidity), tất cả mọi việc đã
trải qua trong kiếp sống vừa qua sẽ hiện rõ trong tâm thức. Vì không còn bị
trói buộc trong thân xác vật lý nên vong linh có thể nhận xét mọi việc một cách
khách quan hơn. Tùy vào những gì tâm thức nhìn lại được trong lúc này mà vong
linh có thể trải qua cảm giác tiếc nuối, buồn rầu, giận dữ hay hối hận và điều
này sẽ ảnh hưởng đến kiếp sống về sau. Khi các gánh nặng của xác thân vật lý
như bệnh tật hay áp lực của đời sống không còn, vong linh có thể suy nghĩ khách
quan, rõ ràng, minh bạch hơn, không bị thành kiến chi phối nữa. Vì có thể nhìn
mọi việc đúng như nó đã xảy ra, một số vong linh sẽ biết hối hận, biết nhận lỗi
và tự trách mình đã làm những việc sai trái, rồi nảy sinh ước vọng hoàn thành
việc gì đó để chuộc lỗi. Đây là giai đoạn rất quan trọng, vì khi đó tâm thức sẽ
phối hợp với luật Nhân quả, khơi động một số chủng tử chứa trong tàng thức,
chuyển thành nghiệp lực, thu xếp cho họ cơ hội học hỏi những gì họ cần học ở kiếp
sau. Do đó, mỗi kiếp người được quyết định một phần nhờ luật Nhân quả và phần
khác là nhờ tâm thức cá nhân, nhờ sự thức tỉnh sau trải nghiệm của từng kiếp sống.
Cả hai phối hợp với nhau quyết định hướng đi cho kiếp sống sau, cũng tức là bài
học mà người ta phải học, mục đích mà họ muốn đạt được ở kiếp sau. Khi sinh ra,
mỗi người đều có sẵn những mục đích được xây dựng trên tâm thức, và được nghiệp
lực dẫn dắt để học bài học mà họ cần. Vấn đề là khi tái sinh làm người, người
ta có nhận thức được điều đó không, có biết mục đích cuộc đời mình là gì không,
có ý thức được điều họ cần học trong kiếp sống đó hay không. Nhiều người để cho
dục vọng hay hoàn cảnh xung quanh lôi kéo, không tự biết mình, không biết mục
đích của mình, rồi lạc lối vào con đường khác, nên không thể hoàn tất bài học
và phải học đi học lại. Vòng luân hồi là như thế đó. Vì không tỉnh thức, cứ u
mê, điên đảo, để hoàn cảnh xung quanh ảnh hưởng, người ta tiếp tục gieo nhân rồi
phải trả quả. Nhân quả nối tiếp nhau không ngừng nên có khi vong linh chuyển kiếp
làm người, có khi làm thú vật, hoặc đi đến cõi giới của ma quỷ.
Ông Kris dừng lại cho tôi suy nghĩ rồi nói tiếp:
– Cõi giới của loài người là môi trường thuận tiện nhất để học
và áp dụng những bài học vì con người được lựa chọn sống như thế nào, làm những
việc gì. Do đó, khi được chuyển sinh làm người, việc tự biết mình, tìm ra mục
đích của đời mình là điều quan trọng. Nếu đọa lạc vào các cõi khác như súc
sinh, hay ma quỷ thì rất khó có thể học được gì. Được sinh làm người là cơ hội
rất quý báu, và nếu sống không mục đích, chỉ vật vờ trôi dạt theo hoàn cảnh
xung quanh, để dục vọng lôi cuốn thì vô cùng đáng tiếc. Bởi vì một khi mất đi
kiếp người thì sẽ trải qua thời gian rất lâu, qua rất nhiều sự tu tập mới có thể
trở lại làm người.
Vì biết được rằng tâm thức con người lúc chết ảnh hưởng rất lớn
đến kiếp sống về sau nên các tôn giáo đều khuyên con người hãy chuẩn bị cẩn thận
cho sự chết. Tuy nhiên, không ai có thể biết mình sẽ chết lúc nào hay cần chuẩn
bị ra sao. Một số tôn giáo đã đề cao thái quá sự chuẩn bị này qua việc tổ chức
các nghi thức cần thiết trước khi từ trần. Nếu tin vào các nghi thức đó, người
ta sẽ cảm thấy được cứu rỗi, vui vẻ ra đi khi được thực hiện nghi thức. Nhưng nếu
không thực hiện được nghi thức đó thì sao? Chính niềm tin đó sẽ tạo ra sự sợ
hãi vô ích. Đâu phải ai cũng chết già hay chết trên giường bệnh, đâu phải ai
cũng có được các nghi thức trên. Nếu gặp tai nạn, chết bất thình lình thì sao?
Nếu không có ai thực hiện nghi thức đó cho họ thì sao?
Ông Kris dừng lại để tôi suy ngẫm về câu hỏi trên, rồi nói tiếp:
– Thật ra trạng thái tâm thức của con người khi chết hoàn
toàn phụ thuộc vào cách sống của họ ở kiếp sống đó. Sự chuẩn bị tốt nhất cho
cái chết chính là sống một cuộc đời thanh cao, biết nhìn những biến cố cuộc đời
– tốt cũng như xấu, vui cũng như buồn – một cách điềm đạm như đang đến lớp để học
những bài học cần thiết, và chấp nhận sự chết như là việc đi qua lớp học khác.
Nếu biết học bài học cần phải học, làm những việc cần phải làm, sống với mục
đích rõ ràng thì trạng thái tâm thức khi chết không quan trọng nhiều. Trái lại,
nếu sống một cuộc đời chỉ toàn là những toan tính, tranh chấp, tham lam, bạo lực
hay hận thù, thì khi chết tâm thức không thể tránh khỏi u mê, lạc lối.
Tôi hỏi:
– Ông nói rằng ông có thể chuyển tâm thức sang cõi âm, vậy đời
sống ở cõi đó ra sao?
Ông Kris giải thích:
– Bên kia cửa tử là cõi giới của tư tưởng, vì vậy nó luôn
luôn biến đổi, tùy theo tâm thức của vong linh mà nó biến hiện thành các ảo ảnh
khác nhau. Vì không còn vật chất nên tâm thức con người lúc này rất nhạy cảm, bất
cứ tư tưởng nào khởi lên đều có thể tạo ra các mãnh lực biến ý tưởng thành thực
tại. Đa số vong linh đến đây vẫn còn giữ ý tưởng về cõi trần nên cõi âm này
cũng hiện ra những nhà cửa, đồ đạc, phong cảnh tương tự như cõi trần. Khi quan
sát cõi này, tôi thấy mọi hình ảnh đều mập mờ, rung động vì nó được tạo ra bởi
tâm thức chứ không phải vật chất. Vong linh ở cõi này cảm thấy ở đó giống như
cõi trần, không khác bao nhiêu, do đó họ thường không biết rằng mình đã chết.
Vong linh vẫn nhìn thấy thân nhân, vợ con, bạn bè và mọi sự như cũ dù không tiếp
xúc được nữa. Vong linh không bị giam kín trong quan tài mà thường trở về nhà
hay những nơi quen thuộc. Và dù rất cố gắng nhưng họ không thể liên lạc với người
thân được, nên họ đâm ra bối rối, đau khổ hay tức giận. Trường hợp ở Hyannis
Port theo tôi là khá hy hữu. Tôi không biết tại sao vong linh đó có thể hiện
hình rõ ràng như người sống. Có thể bởi vong linh quá tha thiết với tâm nguyện
chưa hoàn thành nên sự gắn bó với cõi trần đặc biệt mạnh mẽ hơn. Cũng có thể
ông đã có mối liên hệ nhân quả gì đó với vong linh này nên ông được sắp xếp để
hoàn thành tâm nguyện của người đó. Cũng có thể người đó nhận ra ông có khả
năng nên tìm cách liên lạc với ông. Và cũng có thể vì ông là một người đặc biệt,
căn cơ tu tập sâu dày trong nhiều kiếp và kiếp này, ông đang dần thức tỉnh.
Trong đời sống, có rất nhiều nhân duyên lạ lùng xảy ra mà chúng ta không hiểu hết
được.
Khi chúng ta suy nghĩ điều gì thì tư tưởng đó hiện ra trong
cõi tư tưởng. Vì sống bằng tâm thức nên vong linh cõi âm có thể biết được tư tưởng
của người sống và họ cũng biết được những việc xảy ra sau khi mình qua đời.
Giai đoạn này, những gì xảy ra ở cõi trần rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến
tâm thức của vong linh ở cõi bên kia. Nếu chứng kiến những điều không mong muốn
thì vong linh có thể rơi vào trạng thái tiêu cực như tức giận, oán hận hay buồn
bực. Nếu người cha để lại gia tài cho con cái khi qua đời nhưng các con lại
tranh giành, cãi cọ, kiện tụng vì số tài sản đó thì vong linh sẽ cảm thấy thế
nào? Nếu vong linh người vợ thấy chồng ân ái với người khác khi mình vừa qua đời
thì sẽ cảm giác ra sao? Vong linh của những vua chúa có quyền lực lớn chứng kiến
mọi công lao xây dựng lại bị người đời sau thay đổi, phá hủy thì sẽ khổ sở như
thế nào? Những trường hợp này hẳn cũng dễ hình dung. Ngoài ra, những người khi
còn sống quá chú trọng thân xác, lo lắng săn sóc cho tấm thân bề ngoài thái
quá, thì khi chết đi họ thường quyến luyến bên cái xác, không chịu đi đâu, cho
đến khi nó rữa nát, tiêu vong. Việc này có thể kéo dài vài chục năm hay vài
trăm năm tùy theo sự hủy hoại của vật chất. Ngày nay, nhiều xác chết được nhà
quàn tiêm thuốc bảo quản để giữ cho thân xác được nguyên vẹn cho tang lễ, vô
tình khiến cái xác khó tan rã và vong linh khó siêu thoát. Đó là lý do một số
nơi chủ trương thiêu xác giúp cho vong linh siêu thoát nhanh hơn, vì khi đó
vong linh không còn gì để quyến luyến nữa.
Tôi hỏi thêm:
– Ngoài những việc đó ra, khi chuyển tâm thức qua cõi âm, ông
còn thấy gì nữa?
Ông Kris trả lời:
– Tôi đã thấy nhiều vong linh quanh quẩn bên ngôi nhà cũ của
mình, không chịu rời bỏ và vô cùng đau khổ vì căn nhà đó bây giờ đã thuộc về
người khác. Tôi đã gặp những vong linh bởi vì khi sống quen vui chơi với bạn bè
nên sau khi chết cảm thấy buồn tủi vì không ai để chuyện trò. Những vong linh
ham ăn uống còn bi đát hơn, phải quanh quẩn gần trà đình tửu quán, nhìn mọi người
ăn uống, thèm muốn vô cùng nhưng không thể ăn gì được. Những vong linh ham
thích nhục dục còn khổ hơn nữa vì nay không thể thỏa mãn nhu cầu xác thân. Những
vong linh này thường tụ tập rất đông quanh những nhà hàng ăn uống hay thanh lâu
kỹ viện. Những người say rượu hay sử dụng ma túy thường bị những vong linh này
tìm cách nhập vào để hưởng dư vị của tâm thức khoái lạc và dần bị rút đi sinh lực.
Nhiều người còn sống không hiểu biết về sinh lực nên thường phung phí vào những
việc vô ích, trong khi sinh lực là thứ rất quý với các vong linh thiên về dục vọng.
Chúng tìm đủ mọi cách để xúi giục mọi người si mê mù quáng, trụy lạc vào rượu
chè hay ma túy, rồi nhập vào rút dần sinh lực của họ. Người nghiện rượu hay ma
túy thường không thể bỏ những thứ này, một phần vì tính chất gây nghiện của
chúng nhưng một phần cũng do mất kiểm soát ý chí, để những thế lực ở cõi âm xúi
giục. Những người có tính nóng giận, hung bạo cũng dễ mất kiểm soát, bị những
vong linh thiên về bạo lực nhập vào, xui họ làm những việc bạo động, như đánh đập,
tra tấn, hành hạ người khác hay giết người một cách dã man. Và ông cứ nghĩ mà
xem, những người mà khi còn sống đã bị những thế lực quái ác ảnh hưởng thì khi
chết đi sẽ bị dẫn dắt đi đến đâu, làm những việc tồi tệ gì nữa. Ngoài ra nếu để
ý, ông sẽ thấy hiện nay trên thế giới, số người sinh ra bị thiểu năng trí tuệ
ngày càng tăng lên. Tại sao như vậy? Một số trong đó chính là những người từng
sử dụng ma túy hay rượu, tự phá hoại đầu óc, trí tuệ của mình, nên kiếp này đầu
óc không còn minh mẫn nữa.
Nói đến đây, giọng ông Kris chợt chậm lại:
– Hiển nhiên, khi từ trần, nếu vong linh mang tâm thức quyến
luyến, tiếc nuối, buồn rầu, giận dữ thì rất có hại. Do đó, làm sao để cho vong
linh có thể ra đi thanh thản, không buồn rầu, không luyến tiếc là rất quan trọng.
Cách tốt nhất là đọc kinh cầu nguyện hay gửi những tư tưởng tốt lành cho người
vừa ra đi để cho họ yên tâm, không quyến luyến. Khi rời bỏ xác thân, mọi giác
quan đều ngừng hoạt động, tất cả mọi thứ vật chất như tiền bạc, tài sản, địa vị,
danh vọng đều không thể mang theo được. Ngay những người thân yêu, như gia
đình, vợ con, bạn bè cũng không thể ở bên cạnh nữa, thứ duy nhất hiện hữu chỉ
có tâm thức và chính tình trạng của tâm thức trong giai đoạn đó sẽ quyết định
kiếp sống tiếp theo, quyết định người ta đi về đâu, đến chỗ nào và học hỏi những
gì. Dĩ nhiên, người có đời sống tinh thần lành mạnh thì khi chết thường sáng suốt.
Tuy họ vẫn biết được những việc xảy ra ở cõi trần sau khi họ ra đi, nhưng họ
cũng hiểu rằng sợi dây thân ái kia chỉ là nhân quả, rằng mọi quan hệ cũng do
nhân duyên nên không còn quyến luyến và biết sử dụng thời gian này để chuẩn bị
cho kiếp sống tương lai.
Phần 3.2 - Nghiệp báo và tương lai nhân loại: Bí ẩn ngôi nhà cổ
Nếu hiểu biết những điều này, chúng ta sẽ thấy việc khóc
than, quyến luyến vào lúc đó không có ích lợi gì. Những điều người ta thêu dệt,
bày vẽ như phải mặc quần áo thế này, phải tổ chức các đám tang to lớn, ăn uống
linh đình tiễn đưa người chết thế kia, tất cả chỉ là quan niệm của những người
thiếu hiểu biết. Tất cả mọi sự khóc than, buồn khổ chỉ làm hại cho người chết
mà thôi. Khi vừa qua đời, vong linh sẽ trải qua trạng thái mê man vô thức trong
thời gian ngắn, đó là lúc các giác quan vật chất bắt đầu tiêu vong còn các giác
quan tinh thần được thúc động. Sau đó họ sẽ thức tỉnh ở cõi bên kia và tâm thức
bắt đầu hoạt động. Nếu tang quyến khóc lóc, kể lể, kêu than, có thể khiến vong
linh khó chịu, bực bội hay lo lắng, trong trạng thái đó làm sao họ bình tĩnh
yên tâm để ra đi được?
Tôi hỏi thêm:
– Vậy vong linh sẽ ở cõi âm bao lâu trước khi chuyển kiếp?
Ông Kris từ tốn đáp:
– Thời gian ở cõi âm không có tiêu chuẩn nhất định. Có vong
linh ở đây rất lâu nhưng cũng có vong linh chỉ ở một thời gian ngắn. Điều đó
tùy vào các yếu tố như thói quen từ kiếp sống trước và từ sự thu xếp của luật
Nhân quả. Khi còn sống, con người có những thói quen gì thì khi chết những thói
quen đó sẽ ảnh hưởng lên tâm thức của họ. Nếu con người không biết cách kiểm
soát tư tưởng lúc còn sống thì khi chết làm sao họ có thể kiểm soát được nữa?
Những người khi chết mà lòng vẫn còn đầy tư tưởng hận thù, xấu xa, oán trách sẽ
khích động những chủng tử xấu trong tàng thức phát động, tạo thành nghiệp lực,
đẩy họ đến những hoàn cảnh tồi tệ. Cũng như thế, những người có tư tưởng thánh
thiện, thường làm việc lành, sẽ được sinh về những nơi tốt đẹp.
Không ai biết mình sẽ chết lúc nào nên việc chuẩn bị một tâm
thức thanh cao ngay trong cuộc sống hàng ngày là cần thiết để không phải đọa lạc
vào những nơi tồi tệ dễ vào khó ra. Theo sự hiểu biết của tôi, đa số vong linh
chỉ lưu lại cõi âm khoảng vài chục ngày rồi chuyển kiếp. Những vong linh có nhiều
quyến luyến sẽ ở lại đây lâu hơn cho đến khi những ràng buộc tiêu tan, rồi cũng
chuyển kiếp. Những người có đời sống tâm linh tu luyện đến trình độ cao thường
chuyển tâm thức để tái sinh làm người hay đi đến các cõi giới cao hơn ngay lúc
vừa qua đời, nên không trải qua thời gian nào ở cõi âm. Những người quá mức
hung ác, tham lam, ích kỷ thì bị sức mạnh của nghiệp lực lôi kéo nên chuyển kiếp
thành súc sinh, hay ma quỷ ngay lập tức, nên cũng không lưu lại cõi âm.
Ông Kris dừng lại như suy nghĩ rồi tiếp tục:
– Tuy nhiên, cũng có trường hợp một số vong linh vì tâm thức
sân hận, thù oán, tham lam, tiếc nuối quyền lực hay danh vọng quá mạnh nên
không thể chuyển kiếp được. Họ trở thành một loại thực thể vô hình quanh quẩn,
mắc kẹt nơi đây, không đi đâu được. Thực thể này lang thang tại nơi chốn nào
đó, quấy phá hay đôi khi làm hại con người. Bởi vì vong linh chỉ là năng lượng
thanh nhẹ, không bị ràng buộc bởi vật chất nên có thể làm được những việc khác
người thường như đi xuyên qua tường vách hay vật cứng dễ dàng. Vì cõi âm là cõi
tư tưởng nên vong linh nghĩ đến đâu là có thể đến ngay chỗ đó chứ không bị yếu
tố không gian hay thời gian chi phối. Điều này cũng giống như khi ông nghĩ đến
nơi nào mà ông đã đi qua thì hình ảnh đó hiện ra ngay trong đầu ông vậy.
Một số vong linh có khả năng báo mộng cho người thân để
khuyên bảo hay nhờ họ làm việc gì đó. Một số vong linh có thể biết trước vài sự
kiện tương lai nên có thể nhập vào xác người đồng cốt để tuyên bố. Tuy nhiên
không phải dự báo nào của vong linh cũng đúng vì sự hiểu biết của họ rất giới hạn,
đôi khi còn hay phóng đại sự thật. Nhiều người khi sống đã nói những chuyện
không có thật thì khi chết cũng hay nói khoác, nhập vào xác người đồng cốt chỉ
để khoe khoang địa vị họ đạt được, ví dụ đã trở thành thần thánh nào đó. Thật
ra con người khi sống thế nào thì khi qua thế giới bên kia cũng thế thôi, không
thông minh, tài giỏi gì hơn. Tuy nhiên ở cõi âm, họ có thể đọc được tư tưởng
người khác hay nhìn thấy trước một số việc, do đó họ có thể trả lời vài câu hỏi
nên nhiều người cho rằng các vong linh là linh thiêng hay có quyền năng nào đó.
Theo sự hiểu biết của tôi, phần lớn những câu trả lời của vong linh đều dựa vào
tâm thức hay lòng mong cầu của người hỏi mà thôi. Do đó, những câu trả lời này
có khi đúng và có khi sai. Dẫu sao, chúng ta cần phải tránh tiếp xúc với các
vong linh vì có thể tiềm ẩn nhiều nguy hiểm hay làm chậm trễ việc siêu thoát của
họ.
Tôi hỏi thêm:
– Nói vậy thì những nghi lễ cầu hồn, cầu cơ đều không đúng,
không đáng tin có phải không?
Ông Kris gật đầu, xác nhận:
– Có nhiều người muốn tiếp xúc với người đã khuất qua trung
gian là người đồng cốt hay các nhà ngoại cảm. Thật ra những cuộc tiếp xúc này,
nếu có thể xảy ra, đều không có lợi cho người đã khuất mà còn khiến họ thêm quyến
luyến, cản trở sự siêu thoát của họ. Ông hãy nghĩ xem, một người sắp chuyển kiếp
qua một cảnh giới khác mà cứ bị người thân níu kéo, kêu gọi, cản trở tiến trình
tâm linh thì tâm thức của họ sẽ thế nào? Ngoài ra khi liên lạc với vong linh,
đâu ai biết được đó là vong linh của người hay là ma quỷ? Cho dù đó đúng là
vong linh người thân thì cõi bên kia vẫn thường có ma quỷ bám theo, từ đó theo
vào nhà. Khi vong linh chuyển kiếp rồi, thì loài ma quỷ kia có thể tự nhận là
vong linh, đưa ra các đòi hỏi cúng tế, bắt người ta giết hại các loài vật để
dâng cúng cho chúng. Từ đó sẽ có ảnh hưởng không tốt đến cả gia đình. Việc giết
hại động vật để cúng tế thần linh là nghi thức của các phù thủy chuyên liên lạc
với cõi âm để làm chuyện tà muội, nên tuyệt đối phải tránh. Bất cứ hình thức thờ
cúng gì liên quan đến việc giết hại hay sử dụng máu thịt đều là phương pháp kêu
gọi các loài ma quái từ cõi giới của chúng đến để tạo ảnh hưởng, gây ra hậu quả
tai hại. Ngoài ra, người đồng cốt mê man cho vong linh nhập vào chiếm hữu xác
thân cùng là điều vô cùng tai hại. Thế giới bên kia có đủ loại vong linh, tốt
cũng như xấu, tệ hơn nữa là các loài ma quái xấu xa, ghê gớm. Một khi người đồng
cốt đã mất hết ý chí thì không thể kiểm soát được vong linh nào sẽ chiếm hữu
xác thân, sử dụng sinh lực của họ, cũng vì vậy mà dễ gặp nhiều vấn đề trong kiếp
sống hiện tại và cả tương lai.
Tôi hỏi tiếp:
– Nói như vậy, chính cách sống của mỗi người mới quyết định
sau khi chết họ sẽ đi về đâu, trở thành cái gì. Nhưng nhiều người tin vào quan
niệm thiên đàng và địa ngục, họ tin rằng khi chết, chỉ cần trải qua một vài
nghi thức thì có thể lên thiên đàng, nếu không thì sẽ phải vào địa ngục. Ông
nghĩ gì về niềm tin này?
Ông Kris lắc đầu, rồi mỉm cười giải thích:
– Đó là một sự hiểu lầm tai hại do một số giáo sĩ thời Trung
cổ đã cố tình dựng nên, tạo ra sự sợ hãi để bắt mọi người phải tuân theo một số
giáo điều do chính họ đề xướng. Họ nói rằng khi chết con người chỉ có hai con
đường để lựa chọn một là lên thiên đàng và hai là xuống địa ngục, và chính những
nghi thức tôn giáo sẽ quyết định điều đó. Đó là quan niệm không logic chút nào,
bởi nó cho rằng sau khi chết con người có thể thay đổi hoàn toàn. Một người dù
xấu xa, tham lam, ích kỷ hay hung ác thế nào chỉ cần trải qua nghi thức nào đó
thì tất cả tội lỗi đều được xóa sạch và được sống trên thiên đàng. Hoặc người
hiền lành tử tế đến đâu, làm bao nhiêu thiện lành thì cũng mất hết, cũng có thể
biến thành ma quỷ sống dưới địa ngục nếu không được thực hiện những nghi thức ấy.
Con người ngày nay đã hiểu biết hơn, không còn mấy ai chấp nhận quan niệm phi
lý này nữa, nhưng trước đây nó đã từng gây khổ sở cho loài người trong nhiều thế
kỷ.
Tôi thắc mắc:
– Lúc nãy ông nói khi chết thì xác thân vật chất tan rã trước
và tàng thức ra đi sau cùng nhưng khi chuyển kiếp tái sinh thì tàng thức sẽ đến
trước các yếu tố vật chất. Nếu vậy thì khi nào bào thai bắt đầu có sự sống?
Ông Kris trả lời:
– Khi thụ thai thì tàng thức đã có mặt trước khi những yếu tố
vật chất thành hình. Khi người nam và người nữ giao hợp, một vong linh có những
nhân duyên liên hệ với họ có thể được luật Nhân quả thu xếp đến làm con của họ.
Do đó, trên phương diện tâm linh, sự sống đã có mặt ngay từ khi thụ tinh. Tuy
nhiên, ngày nay khoa học vẫn còn bàn cãi về việc này, chưa thể đi đến một kết
luận rõ ràng, vì khoa học chỉ dựa trên sự phát triển sinh lý của bào thai theo
thời gian, chứ không biết gì về các tác động của luật Nhân quả.
Tôi hỏi thêm:
– Như vậy, sự phát triển tâm thức cá nhân và bào thai diễn ra
thế nào?
Ông Kris giải thích:
– Khi vong linh đến vào lúc thụ thai thì tâm thức của bào
thai đã bắt đầu khởi sinh. Theo thời gian và sự cấu tạo vật chất của thai nhi
như đầu óc, chân tay và cơ quan nội tạng thì tâm thức cũng biến chuyển, có ý thức
về các giác quan như: nghe, nhìn, mùi, vị, xúc chạm và tư duy. Đến khi sinh ra,
tiếp xúc với ngoại cảnh thì tâm thức phát khởi thành ý thức và cảm xúc như yêu,
ghét, vui, buồn hay giận hờn.
Ông Kris dừng lại, ngẫm nghĩ một chút rồi nói tiếp:
– Quan niệm phổ biến cho rằng việc dạy dỗ con cái chỉ có thể
bắt đầu khi đứa trẻ lớn lên một chút, khoảng ba hay bốn tuổi, vì khi đó chúng mới
có khả năng hiểu biết. Thật ra điều này không đúng, sự giáo dục có thể ảnh hưởng
đến đứa trẻ ngay từ lúc nó còn trong bụng mẹ. Tình cảm giữa mẹ và con không phải
chỉ có sau khi đứa trẻ ra đời mà đã bắt đầu từ khi đứa con được thành hình
trong bụng mẹ. Do đó, người mẹ có tâm trạng gì thì đứa con đều biết. Nếu người
mẹ thông minh, hiểu biết thì bà sẽ biết cách giáo dục đứa con bằng cách nói
chuyện với nó ngay từ lúc mang thai. Vì tâm thức đứa bé đã có từ lúc thụ thai
nên việc liên hệ với nó càng sớm thì càng dễ có sự thông cảm giữa mẹ và con.
Không những mẹ mà người cha cũng phải tìm cách nói chuyện với con từ lúc nó còn
là bào thai. Điều này sẽ tạo ảnh hưởng tốt đẹp đến đứa trẻ, giúp nó trở nên
khôn ngoan, dễ dạy hơn. Nếu cha mẹ thường xuyên ở trong trạng thái giận dữ, hay
cãi nhau trong giai đoạn người mẹ mang thai, thì chắc chắn đứa trẻ cũng dễ dàng
trở nên nóng tính, hung dữ khi lớn lên. Nếu cha mẹ quá mải mê công việc, tính
toán, âm mưu hơn thiệt thì đứa con sau này cũng sẽ cứng đầu, khó dạy, không
nghe lời và thường bị bệnh suyễn, hay ngạt thở. Cho nên, thai giáo, hay sự giáo
huấn, dạy dỗ trong giai đoạn thai nhi là rất quan trọng. Thật ra quan niệm thai
giáo đã có từ xa xưa, từ thời của các nền văn minh cổ. Tiếc thay, ngày nay người
ta vẫn tranh cãi chứ không hoàn toàn công nhận việc này, bởi họ cho rằng không
có bằng chứng cho thấy bào thai có khả năng học hỏi.
Ông Kris nói tiếp:
– Mọi đứa trẻ sinh ra đều có những liên hệ nhân quả với cha mẹ
nó. Luật Nhân quả vô cùng phức tạp, khó lòng biết được đó là nhân duyên, là nợ
nần thế nào, nhưng dẫu sao, mỗi đứa trẻ được sinh làm người là để có cơ hội học
hỏi những bài học chúng cần học, để chuyển hóa và thăng cấp. Khi sinh ra, mỗi đứa
trẻ đều có những mong muốn hay mục đích cùng những tiềm năng sẵn có để hỗ trợ
cho việc học hỏi của chúng. Do đó bổn phận của cha mẹ là ý thức việc này để hướng
dẫn, giúp cho con mình có được cơ hội học hỏi, phát triển theo ý nguyện hoặc
giúp con tự tìm ra mục đích đời mình. Đa số cha mẹ không hiểu được việc này nên
thường ép buộc con cái phải làm việc này việc nọ để đáp ứng những mong muốn của
chính họ thay vì của con. Lẽ tất nhiên, cha mẹ nào cũng mong con mình thành
công, giàu sang, có danh vọng, địa vị trong xã hội, nhưng liệu kiếm nhiều tiền,
mưu cầu danh vọng và vật chất có phải là mục đích mà đứa trẻ đó tìm kiếm khi đến
làm con họ không? Theo tôi, bổn phận của người làm cha mẹ là giáo dục con cái
nên người, giúp chúng phát triển, trưởng thành, làm con có hiếu trong gia đình,
công dân tốt của xã hội. Đó là nhân lành đóng góp tích cực cho cộng nghiệp của
quốc gia. Khi đứa con trưởng thành, tự nó sẽ biết tìm ra mục đích của mình để học
hỏi và hoàn tất những gì nó cần phải học. Nếu không biết dạy dỗ con, để đứa trẻ
trở thành phần tử xấu, gây tai hại cho xã hội thì cha mẹ phải chịu trách nhiệm
vì đã không hoàn thành bổn phận của mình.
Ông Kris thở dài:
– Có lẽ ông cũng thấy hiện nay con người đã trở nên phóng
khoáng hơn trong quan niệm về tình dục. Người ta không còn bị giới hạn hay cấm
đoán bởi các luật lệ, giáo điều, thậm chí còn được khuyến khích bởi phim ảnh,
báo chí hay các phương tiện truyền thông, vì vậy mà việc nam nữ kết hợp đã trở
nên bừa bãi, vô ý thức, vô trách nhiệm, khác hẳn khi xưa. Một vấn nạn kéo dài
nhiều năm nay trên khắp thế giới là việc phá thai, khi mà những thanh thiếu
niên chưa truởng thành, chưa có đủ hiểu biết, chưa sẵn sàng làm cha mẹ nhưng đã
có quan hệ tình dục dẫn đến có thai ngoài ý muốn. Các bào thai đều là những
vong linh đang chuyển kiếp thành người để hoàn tất bài học hay hoàn thành tâm
nguyện gì đó. Nếu cái thai bị phá, không được sinh ra thì tức là vong linh mất
quyền được sống. Ông thử nghĩ mà xem, lòng oán thù sân hận của những vong linh
này sẽ nặng nề như thế nào? Phá thai là sát nghiệp vô cùng nặng, vì nó không những
tiêu diệt một sự sống mà còn phá hoại tình cảm của cả hai người và gia đình có
liên quan nữa. Rồi những vong linh thai nhi đó sẽ làm gì? Vì liên hệ nhân quả từ
trước mà nó tìm đến để làm con nhưng lại bị giết hại thì hận thù này sẽ phải trả
ra sao? Nếu mở được con mắt tinh thần ông sẽ thấy những người phá thai, các bác
sĩ hay y tá thực hiện việc phá thai sẽ phải gánh chịu quả báo nặng nề như thế
nào. Ông sẽ thấy được rất nhiều sự kiện vô cùng ghê gớm xảy ra cho những người
liên quan ngay khi họ còn sống cũng như khi họ qua thế giới bên kia. Vì việc
phá thai xảy ra khắp nơi nên số vong linh thai nhi cũng nhiều vô cùng. Lòng oán
hận quá lớn, quá mãnh liệt khiến chúng muốn trả thù. Với tâm thức như thế,
chúng chỉ có thể chuyển kiếp trở thành những loài ma quỷ hung ác đem tai họa
cho nhân loại. Hầu hết các tai họa ngày nay như chiến tranh, thiên tai, bão tố,
động đất và các loại dịch bệnh xảy ra đều liên quan đến nghiệp giết chóc của
loài người và một khi chúng xảy ra thì khó có thể dập tắt.
Ông Kris dừng lại để tôi suy nghĩ rồi nói tiếp:
– Tôi đã giải thích cho ông những gì tôi biết, tin hay không
tùy ông. Vì đây là vấn đề phức tạp, khó chứng minh nên nếu nói ra cũng chỉ tạo
những tranh cãi vô ích.
Có nhiều cách giải thích khác nhau tùy quan niệm của tôn
giáo, cũng như niềm tin của mỗi người. Tôi chỉ giải thích theo luật Nhân quả rằng
tùy nghiệp lực dẫn dắt mà một số vong linh trở lại làm người, một số khác chuyển
kiếp thành loài vật, hay loài ma quỷ. Tuy nhiên hiện nay số vong linh trở lại
thành người không nhiều lắm đâu, vì một khi đã mất nhân thân thì rất khó trở lại
mà phải trải qua quá trình tu tập rất dài.
Tôi ngạc nhiên:
– Vậy tại sao hiện nay dân số vẫn tiếp tục gia tăng?
Ông Kris thở dài:
– Ông không biết hiện nay rất nhiều loài thú vật đã chuyển kiếp
thành người hay sao? Tệ hơn nữa, nhiều ma quỷ cũng chuyển kiếp thành người.
Nghe có vẻ khó tin, nhưng nếu ông ngẫm nghĩ, có thể thấy ngày nay biết bao người
không sống đúng nghĩa con người thật sự. Có biết bao người mang thân xác con
người nhưng lại hành động như thú vật, biết bao người sống vô cảm, hung ác như
loài ma quỷ. Khi chu kỳ của các quốc gia đi vào giai đoạn “Hoại” thì hiện tượng
này xảy ra cũng là bình thường. Những “con người” này chuyển kiếp đến để phá hoại,
để tiêu diệt, để làm cho những nơi chúng đến phải sụp đổ. Không khó để nhận thấy
hiện nay nhiều nơi xảy ra chiến tranh liên miên không dứt, nhiều nhà độc tài
tàn ác, không nhân tính đã giết hàng trăm ngàn người, giam cầm hàng triệu người,
gieo rắc kinh hoàng khắp nơi, rồi xâm lăng, chiếm đoạt các quốc gia khác, để thỏa
mãn giấc mộng làm bá chủ thế giới. Tại sao con người có thể hung ác, vô lương
tâm như thế được nếu đó không phải là loài ma quỷ hay ác thú chuyển kiếp làm
người? Thật ra giai đoạn này đã diễn ra hơn một trăm năm nay rồi và lúc này các
động lực ma quái đang chế ngự thế gian. Các vong linh xuất phát từ những nền
văn minh cổ, những nơi tà giáo ngự trị hay những âm binh ma quái bị giam giữ
trong các cổ mộ được đào xới lên, được tháo cũi, sổ lồng trở lại gieo rắc sự tà
ác, gây xáo trộn, chia rẽ khắp nơi.
Tôi hỏi:
– Nhưng làm sao chứng minh sự hiện diện của các loài ma quỷ
quái ác này?
Ông Kris lắc đầu rồi nói:
– Tại sao chúng ta cứ đòi hỏi phải có bằng chứng thì mới chịu
tin? Ngay cả khi có bằng chứng thì cũng chưa chắc người ta chấp nhận, nhiều người
vẫn sẽ cho rằng bằng chứng chỉ là bịa đặt hay tưởng tượng. Còn nếu ông muốn tìm
bằng chứng, thì có thể tìm thấy trong hai trận thế chiến vừa qua và những cuộc
chiến lớn nhỏ liên tiếp sau đó. Làm sao những cá nhân tầm thường lại có thể trở
thành những nhà lãnh đạo tối cao, quyền lực lớn, có thể sai khiến con người làm
việc giết chóc dã man ghê gớm như thế được? Ai đã đưa hàng triệu người Do Thái
vào các trại tập trung để bị thiêu chết? Ai đã đem hàng triệu dân thiểu số đày
đi Siberia để họ chịu chết rét? Trong vòng mấy chục năm nay, có lúc nào thế giới
không có chiến tranh đâu, có lúc nào mà chúng ta không chứng kiến sự giết chóc.
Hiện nay, nhiều quốc gia đi vào giai đoạn “Hoại” trong chu kỳ, vì vậy số quỷ
ma, ác thú đang mang thân người nhiều vô kể. Khắp nơi đầy cảnh bóc lột, đàn áp,
bạo động, giết chóc, hận thù chất chồng đến ngút trời. Tại sao thế? Phải chăng
vì đa số con người hiện nay sống ích kỷ, vô cảm, tham lam, tàn ác tạo môi trường
thuận lợi cho những loài yêu ma quỷ quái tìm đến. Nếu con người không sớm ý thức,
bỏ việc ác, làm việc lành, bỏ tật tham lam ích kỷ, phát triển tình thương thì
khó tránh được những tai họa không cách gì cứu vãn sắp xảy đến trong tương lai.
Tôi nghĩ đến tình trạng xảy ra trên thế giới ngày nay, bùi
ngùi:
– Ông nói đúng, quả thật thế giới đang trải qua giai đoạn vô
cùng khó khăn. Liệu chúng ta có hy vọng nào trong việc tìm giải pháp cho tình
trạng hiện nay không?
Tưởng đâu ông Kris phải suy nghĩ một lúc rồi mới trả lời câu
hỏi trọng đại thế này, nhưng ông đáp ngay, một cách nhẹ nhàng:
– Có chứ! Điều nhân loại đang cần là sự phát triển về phương
diện tâm linh, để xoay chiều sự tiến bộ của tri thức. Trong những thế kỷ gần
đây, tâm thức nhân loại chỉ phát triển một cách đơn phương trên bình diện tri
thức. Tri thức hiện nay là hướng ngoại, là sự suy luận, phân tích, tính toán và
phân biệt. Tuy nhiên tâm thức con người không phải chỉ là tri thức mà còn có phần
khác, ta tạm gọi là tâm linh. Tâm linh là yếu tố sáng suốt, thanh khiết, mỹ lệ,
là phạm trù của thương yêu và sáng tạo vượt ra khỏi điều kiện giới hạn của thời
gian và không gian. Người ta chỉ có thể nhận diện và phát triển được tâm linh
khi tâm thức hướng ngoại được xoay chiều, quay vào bên trong. Đây là giải pháp
cần thiết cho tình trạng hiện nay.
Ngày nay, nhờ sự phát triển vượt bậc của tri thức nên tâm thức
nhân loại đã hiểu biết được rất nhiều yếu tố bên ngoài, phát minh được nhiều sản
phẩm vượt xa các thế kỷ trước. Tuy nhiên, nó vẫn chưa tự biết được nó là gì,
cũng như chưa biết mục đích của nó trong vòng sinh hóa của vũ trụ. Vì có tính
chất hướng ngoại nên mục đích của tri thức là đi tìm những lạc thú ở bên ngoài,
từ đó mà phát sinh ra sự tham lam, ích kỷ. Một khi đã có được gì thì cứ muốn có
mãi, càng nhiều càng tốt, rồi nảy ra các tham vọng không có điểm dừng. Đối với
một tinh thần hưởng thụ thì thế giới ngày nay hiện ra như một siêu thị đầy sản
phẩm mà ai cũng thèm muốn. Đã thế, người ta còn tạo thêm nhiều sản phẩm mới lạ
rồi quảng cáo khéo léo nhằm kích thích lòng ham muốn và dục vọng sở hữu của con
người. Sự kích thích này xảy ra trên mọi phương diện, từ sở hữu vật chất đến thỏa
mãn nhu cầu xác thân. Tinh thần hưởng thụ tạo ra lòng tham và sự ích kỷ, gia
tăng cảm giác chia rẽ, nên tâm thức con người ngày càng chìm sâu trong ngoại cảnh.
Để thỏa mãn lòng tham, con người lao vào những hoạt động bên ngoài nhằm thu góp
mọi thứ họ có thể lấy được, rồi dần đi đến việc chiếm hữu bằng sức mạnh và quyền
lực, từ đó gây ra chiến tranh. Chiến tranh bắt đầu giữa người với người, sau đến
gia đình rồi lan ra xã hội. Hiện nay khắp nơi đều có cảnh tranh giành, chiếm đoạt.
Quốc gia này muốn chiếm quốc gia kia để bành trướng lãnh thổ của mình. Nước này
gây hấn với nước kia để tranh đoạt quyền lợi rồi tạo ra đủ thứ vũ khí, từ súng ống,
bom đạn đến vũ khí hạt nhân và vũ khí sinh học. Nước này đầu độc nước kia bằng
chất thải nhà máy và muôn kiểu phá hoại môi trường. Nước kia gieo rắc vi-rút,
vi trùng sang nước nọ gây đủ thứ bệnh tật ghê gớm, thậm chí có thể tiêu diệt
toàn thể nhân loại.
Tôi lắc đầu:
– Tương lai nhân loại lẽ nào bi thảm đến thế sao?
Ông Kris mỉm cười, nói tiếp:
– Tâm thức nhân loại hoạt động tùy theo các động lực chi phối
nó. Hiện nay động lực đó là sự tham lam, ích kỷ, thù hận, say mê quyền lực, bất
chấp hậu quả. Tuy nhiên một khi nó nhận thức được các mục đích của tri thức mà
nó theo đuổi là sai lầm thì nó sẽ dừng lại và khi đó phần tâm linh từ lâu vẫn bị
phủ nhận sẽ hiện ra. Từ chối làm một việc ác cũng chính là thực hiện một việc
thiện lành. Khi con người nhận thức được cái gì là xấu thì cũng là lúc họ bắt đầu
biết thế nào là đẹp. Khi tri thức nhân loại ngừng hướng đến những dục vọng ích
kỷ, thấp hèn thì tự động sẽ hướng đến những điều thiêng liêng, cao quý. Khi đó
tri thức nhân loại sẽ xoay chiều, chuyển hướng vào bên trong, hòa hợp với tâm
linh, đem lại sự toàn diện cho tâm thức. Khi tâm thức thay đổi, mọi sự sẽ thay
đổi.
Trước một giải pháp giản dị như thế, tôi không khỏi ngạc
nhiên và lòng cũng có đôi chút hoài nghi. Tôi nói:
– Điều ông nói chỉ có tính chất lý thuyết. Làm sao thực hiện
được mới là vấn đề.
Ông Kris im lặng, vẻ đắm chìm trong suy tư. Một lúc sau, ông
lên tiếng:
– Ông có thể coi đó như khái niệm tổng quát về cách thức sự
thay đổi diễn ra trong tương lai. Khi nào nó xảy ra hay xảy ra tại đâu thì
không phải là điều có thể nói được trong lúc này. Và dù có nói ra cũng không ai
tin. Hiện nay con người đã ý thức về sự nguy hiểm của việc leo thang chiến
tranh, chỉ một vài hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử hay một loại vi-rút nào đó
là cả thế giới có thể tan thành cát bụi. Do đó, đã có những cuộc thương lượng để
tìm ra giải pháp. Quốc gia nào cũng có ý kiến về giải pháp cho chiến tranh
nhưng không ai tự hỏi ý kiến đó xuất phát từ đâu. Phải chăng nó vẫn xuất phát từ
cái tâm thức chưa thay đổi của tri thức hướng ngoại, nghĩa là vẫn tham lam, ích
kỷ và tư lợi? Ai cũng cho ý kiến của mình là đúng và không chấp nhận ý kiến người
khác. Do đó không thể có giải pháp chung trong lúc này. Hiện nay tâm thức nhân
loại vẫn đang quay cuồng trong vòng hư ảo, rồi sẽ đi đến tình trạng cực đoan.
Tuy nhiên, trong tương lai sẽ có những biến cố rất lớn xảy ra để buộc tâm thức
điên đảo này phải thức tỉnh.
Tôi hỏi:
– Ông muốn nói đến biến cố gì? Có phải là chiến tranh?
Ông Kris lắc đầu, mỉm cười trả lời:
– Khi tâm sân hận và ác nghiệp lên đến mức nào đó sẽ xảy ra
chiến tranh. Từ mấy ngàn năm nay, chiến tranh có bao giờ chấm dứt đâu. Tuy
nhiên hiện nay với các vũ khí tối tân, có thể tiêu diệt toàn thể nhân loại thì
chiến tranh đã chuyển qua hình thức khác. Các cường quốc đều biết nếu có đại
chiến xảy ra, họ không thể thắng, nhưng cũng không được phép để thua. Do đó,
thay vì đối đầu nhau trên chiến trường, họ chuyển qua xúi giục các nước nhỏ gây
chiến với nhau (chiến tranh ủy nhiệm) để quốc gia của họ đỡ nguy hiểm hơn. Các
cuộc chiến này cũng là nơi để thí nghiệm các loại vũ khí mới, các chiến thuật mới,
tạo ra những ảnh hưởng mới, khiến cho người dân các nước nhỏ này phải gánh chịu
hậu quả. Ông có thể thấy các cuộc chiến tranh như thế hiện đang xảy ra khắp thế
giới, nhất là ở những đất nước có dân trí còn thấp kém, có nội bộ xáo trộn,
tranh giành, tham lam quyền lực, phá hoại đời sống con người.
Ông Kris giải thích thêm:
– Nhìn lại thế kỷ vừa qua mà xem, nhân loại đã chịu ảnh hưởng
của một số triết gia, những nhà tư tưởng, những nhà lý luận với các quan niệm cực
đoan, dẫn đến sự đàn áp và chia rẽ con người. Những người này tin rằng mọi sự đều
có thể giải thích bằng lý luận hay chứng minh bằng những thí nghiệm. Phong trào
duy lý này đã phân chia thế giới ra thành hai khối chống đối nhau, tạo môi trường
thuận lợi cho những động lực ma quái và một số ma quỷ, ác thú chuyển kiếp thành
người, gây ra chiến tranh giết chóc khắp nơi. Tại sao lại như thế? Vì những nhà
tư tưởng, những nhà lý luận và các lãnh đạo này đều say mê quyền lực và không
nhận thức được gì về luật Nhân quả. Họ tin tưởng tuyệt đối vào việc mình làm, bất
chấp hậu quả mà những lý thuyết hay quyết định do họ đề xướng có thể mang lại.
Họ tin rằng mọi việc đều có thể giải quyết bằng lý luận và sức mạnh vũ lực.
Tôi phản biện:
– Tôi thấy hiện nay mọi việc đã thay đổi rồi. Sự phân chia
thành hai khối ý thức chống đối đã không còn.
Ông Kris lắc đầu nói ngay:
– Không được như thế đâu. Khi lý thuyết, tín điều, niềm tin cực
đoan không còn hiệu lực nữa thì thế giới chuyển qua giai đoạn khác. Ông thử ngẫm
lại mà xem, có phải những lý thuyết, tín điều cũ đã bị thay thế bằng giá trị đồng
tiền? Lý tưởng về một xã hội bình đẳng đại đồng đã được thay thế bằng lý tưởng
làm giàu cá nhân. Ngày nay, những nhà tư tưởng, nhà lý luận đã phải nhường chỗ
cho những nhà khoa học, những nhà khởi nghiệp, chuyên gia công nghệ. Tiếc thay,
những người này cũng chỉ biết dùng trí thông minh, và tâm sức của họ để phát
minh các sản phẩm với mục đích làm giàu, bất chấp hậu quả của việc đó tai hại
thế nào. Một số sản phẩm trong số đó có khả năng khiến cho mọi người say mê mù
quáng, biến thành thói quen không thể bỏ. Họ trở nên thụ động, không kiểm soát
được tâm thức, rồi rơi vào u mê, vô cảm không còn biết phải trái, đúng sai gì nữa.
Trên khắp thế giới, con người giờ chỉ biết đến kiếm tiền, tìm mọi cách làm
giàu, rồi thì mặc sức hưởng thụ, rượu chè vui chơi, ăn uống vô độ, tiền bạc
phung phí, bất kể ngày mai. Dĩ nhiên, xã hội thì luôn có người giàu người
nghèo, nhưng ngày nay người ta chỉ đề cao những người thành công, giàu có,
không còn mấy ai lên tiếng đấu tranh cho những người nghèo khổ, bất hạnh, bị
bóc lột như trước đây. Ngày xưa, người ta giết nhau bằng vũ khí, súng đạn, thì
nay vũ khí lợi hại nhất chính là triệt tiêu nhân tính, phá hoại đầu óc con người,
khiến họ trở nên ích kỷ, tham lam và vô cảm. Đây là hệ quả của tri thức phát
triển đơn phương, đưa nhân loại đến chỗ cực đoan, máy móc.
Tôi lắng nghe chăm chú và hỏi thêm:
– Nói như vậy, phải chăng tương lai nhân loại là không thể
thay đổi?
Ông Kris trầm ngâm một lúc rồi trả lời:
– Trong tương lai, thế giới sẽ không còn chia làm hai khối chống
đối nhau như trước mà sẽ phân thành ba khối, ba khối này cạnh tranh nhau nhưng
đồng thời cũng hợp tác, liên kết, thỏa hiệp. Tuy nhiên, đến cuối cùng vẫn đi đến
chiến tranh. Tại sao lại như thế? Vì các nhà lãnh đạo cũng như đa số dân chúng
vẫn chưa hiểu biết về luật Nhân quả. Họ không ý thức được về hậu quả những việc
họ làm, những hệ lụy từ các phát minh mà họ đề ra. Họ nghĩ rằng mọi việc đều có
thể giải quyết bằng công nghệ, bằng truyền thông, bằng tiến bộ kỹ thuật và
trong tương lai có thể để cho các máy móc thông minh phục vụ con người.
Từ chối làm một việc ác cũng chính là thực hiện một việc thiện
lành. Khi con người nhận thức được cái gì là xấu thì cũng là lúc họ bắt đầu biết
thế nào là đẹp. Khi tri thức nhân loại ngừng hướng đến những dục vọng ích kỷ,
thấp hèn thì tự động sẽ hướng đến những điều thiêng liêng, cao quý. Khi đó tri
thức nhân loại sẽ xoay chiều, chuyển hướng vào bên trong, hòa hợp với tâm linh,
đem lại sự toàn diện cho tâm thức. Khi tâm thức thay đổi, mọi sự sẽ thay đổi.
Tôi thắc mắc:
– Ông vừa nói thế giới sẽ phân thành ba khối, cụ thể là thế
nào?
Ông Kris giải thích:
– Tâm thức nhân loại hoạt động theo các động lực chi phối nó.
Bao nhiêu năm nay động lực đó vẫn là tham lam, ích kỷ, hận thù, say mê quyền lực
bất chấp hậu quả. Tâm thức nhân loại chưa thể chuyển hóa, nên sẽ đưa đến tình
trạng các quốc gia kéo bè kết đảng, lập thành phe phái cạnh tranh với nhau. Thế
giới sẽ phân làm ba khối, mỗi khối gồm một số quốc gia có chung mục đích, cạnh
tranh với các khối còn lại. Tuy nhiên, vì chưa chuyển hóa nên họ cứ hợp tác rồi
lại phản bội, liên kết rồi lại cạnh tranh, thỏa hiệp rồi cũng chống đối. Vì
lòng tham lam ích kỷ, ai cũng tìm đủ mọi cách để đoạt phần thắng về phe mình.
Tôi hỏi thêm:
– Sau đó thì sao?
Ông Kris trả lời:
– Nhân loại còn phải trải qua những giai đoạn thảm khốc với rất
nhiều thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh lớn nhỏ cho đến khi nào con người nhận
thức được sự sai quấy của tri thức đơn phương và bắt đầu ý thức về luật Nhân quả
trước tình trạng diệt vong của nhân loại.
Tôi thở dài, cảm thán:
– Việc đó không đơn giản chút nào. Người ta không dễ gì chấp
nhận quan niệm về luật Nhân quả đâu, nhất là ở phương Tây này. Như ông đã nói, ở
thời đại khoa học lên ngôi, người ta chỉ tin những gì nhìn thấy được, chứng
minh được.
Ông Kris gật đầu:
– Đúng như vậy. Hơn nữa, hiện nay người ta vẫn còn cố chấp
tin vào sức mạnh của quyền lực cũng như các vũ khí tối tân. Họ sẵn sàng dùng mọi
cách, từ âm mưu đến vũ lực, để khống chế người khác nhằm đạt đến mục đích của
mình. Khi người lãnh đạo một quốc gia có ý thâu tóm quốc gia khác thì sẽ bắt đầu
khơi mào tranh chấp, rồi dẫn đến chiến tranh. Vũ khí chiến tranh đã đi từ bom đạn
đến các loại chất độc chết người, rồi hiện nay là các loại mầm bệnh truyền nhiễm.
Môi trường khắp nơi đều bị hủy hoại, bị nhiễm độc, chẳng còn mấy chốn an toàn.
Những biến cố lớn sẽ xảy ra cho toàn nhân loại, không giới hạn riêng nước nào
hay vùng nào. Khi số người tử vong lên đến những con số khủng khiếp ở một số
nơi, hy vọng mọi người hiểu được rằng ai trồng nhân lành thì gặt quả lành, ai
trồng nhân ác thì gặt quả ác. Con người không thể tiếp tục sống với quan niệm
“anh móc mắt tôi thì tôi cũng móc mắt anh”, khiến cho tất cả mọi người đều mù hết
được.
Tôi hỏi lại:
– Nhưng theo ông, nhân loại có thể chuyển hóa tâm thức không?
Ông Kris chậm rãi trả lời:
– Điều đó tùy thuộc vào lựa chọn của mọi người. Những người
hiểu biết sẽ thay đổi tâm thức và những người u mê, không chịu thức tỉnh thì sẽ
gánh chịu những hậu quả do chính họ gây ra. Biệt nghiệp của từng cá nhân sẽ
chuyển hóa khi con người có ý thức và biết thay đổi, hành động khác đi. Cộng
nghiệp của quốc gia cũng sẽ thay đổi khi đa số người dân của quốc gia đó biết
chuyển đổi tâm thức, hồi tâm hướng thiện. Khi người lãnh đạo một quốc gia biết
hành xử trung thực, chính nghĩa, công bằng, không thiên vị, không tư lợi thì quốc
gia đó sẽ được yên bình. Nhân loại hiện nay vẫn chưa có mấy người tin vào luật
Nhân quả, nhưng tin hay không thì nhân quả vẫn xảy ra, dưới hình thức này hay
hình thức khác.
Nhiều quốc gia trên thế giới đang bước vào giai đoạn “Hoại” của
chu kỳ, vì vậy mà xã hội ngày càng xáo trộn, kinh tế ngày càng phân hóa, khoảng
cách giữa người giàu và nghèo trở nên lớn hơn. Tiếc là đa số con người vẫn sống
tham lam, ích kỷ, nên cứ mạnh được yếu thua, coi những bất ổn đó như lẽ thường.
Sự bất mãn nào rồi cũng đưa đến rối loạn, phản kháng, rồi bạo động sẽ diễn ra
khắp nơi. Nhưng khi rối loạn lên đến cực điểm thì cũng đến lúc trật tự được thiết
lập trở lại. Nhưng trật tự này được thiết lập ra sao còn tùy vào sự hiểu biết,
chuyển hóa tâm thức của người dân và lãnh đạo của quốc gia đó.
Ông Kris dừng lại, cân nhắc một chút rồi nói tiếp:
– Ngoài ra, đã có một số quốc gia trên thế giới đang đi vào
giai đoạn “Diệt” của chu kỳ, nên xã hội ở những nơi đó hoặc là vô cùng loạn lạc,
hoặc là vô cùng khổ sở với luật lệ hà khắc, bị kiểm soát, kìm kẹp chặt chẽ. Ở
đó, kẻ ác ngự trị, người lành bị đọa đày. Già néo đứt dây, khi sự đàn áp trong
một xã hội lên đến cực điểm, cũng là lúc nó sụp đổ hoàn toàn. Biến cố này sẽ
không xảy ra từ bên ngoài, do hậu quả của một cuộc chiến tranh hay thiên tai,
mà sẽ diễn ra từ bên trong do nghiệp quả đã đến lúc chín muồi. Ông nghĩ xem, nếu
năm mươi năm trước có ai đó nói rằng rồi Liên Xô sẽ tan rã, chia thành nhiều nước
nhỏ thì có mấy ai tin không? Thế mà sau đó, chỉ trong một thời gian ngắn từ lúc
bắt đầu suy yếu, Liên Xô đã tan rã hoàn toàn. Nếu bây giờ tôi nói, trong tương
lai, một nước lớn như thế cũng sẽ tan rã, thì người ta cũng giống như năm mươi
năm trước, coi đó là chuyện hoang đường. Tại sao ư? Là vì họ không hiểu hoặc
không tin vào luật Nhân quả.
Ông Kris giải thích thêm:
– Chỉ cần nhìn lại lịch sử nhân loại ông sẽ thấy những biến
chuyển lớn trên thế giới là không thể lường trước được. Có lúc nhiều nước nhỏ hợp
lại thành một nước lớn và cũng có lúc một nước lớn lại sụp đổ, phân thành nhiều
nước nhỏ. Bài học lịch sử đó tiếp diễn hàng ngàn năm, nhưng nhân loại vẫn chưa
chịu học. Các đế quốc như Ai Cập, Assyria, Babylon, Hy Lạp, La Mã, Mông Cổ đã từng
hùng mạnh biết bao, rồi thì đã xảy ra những chuyện gì, sử sách có ghi, hẳn ông
cũng biết rõ. Tôi và ông đã cũng trải qua những kiếp sống tại đó, ông hiện đã
quên rồi, nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ.
Ông Kris lại nói về những kiếp sống trước đây, khi chúng tôi
có những liên hệ với nhau. Dù rất tò mò muốn hỏi thêm về chuyện đó, nhưng chủ đề
đang thảo luận cũng rất thu hút tôi. Tạm gác lại thôi thúc muốn tìm hiểu thêm về
mối quan hệ tiền kiếp giữa tôi và ông Kris, tôi hỏi tiếp:
– Tôi nghĩ, một khi đã đến giai đoạn “Diệt” của chu kỳ thì sẽ
phải giống như Atlantis, bị hủy diệt hoàn toàn. Vậy nếu không phải do thiên tai
thì dễ gì một cường quốc có thể sụp đổ hoàn toàn như thế?
Ông Kris mỉm cười, giải thích:
– Tất cả đều do sự thu xếp của luật Nhân quả. Một lục địa với
đa số dân chúng đều hung dữ, độc ác, tích tụ đầy ác nghiệp như Atlantis thì phải
chịu hậu quả là bị tiêu diệt. Tuy nhiên, với những quốc gia từ xưa đã có truyền
thống văn hóa cao, đời sống tâm linh phát triển thì mặc dù phải sống dưới sự áp
chế, đe dọa của các loài ma quỷ, ác thú, sẽ vẫn có một bộ phận dân chúng cố gắng
duy trì nếp sống lành thiện, hiểu biết và tin tưởng luật Nhân quả. Nhờ cái nền
móng căn bản vững chắc đó mà quốc gia sẽ tránh được nạn bị hủy diệt hoàn toàn,
chỉ từ một nước lớn tan vỡ phân thành nhiều nước nhỏ mà thôi. Khi quyền lực đi
đến chỗ bạo ngược, cực đoan thì sẽ có những biến cố xảy ra. Vì đã gây ra quá
nhiều ác nghiệp nên những người liên can đều phải trả quả báo vô cùng nặng nề.
Khi thời điểm đến, việc định công, luận tội, đúng sai, tốt xấu sẽ được phán xét
rõ ràng.
Tôi ngẫm nghĩ những gì vừa nghe, rồi nói thêm:
– Những điều ông vừa nói cho tôi thấy ánh sáng cuối đường hầm.
Quay lại việc ông nói lúc trước, rằng hiện nay có nhiều ma quỷ và ác thú chuyển
kiếp thành người, tàn phá giết chóc khắp nơi. Vậy con người phải đối phó với những
động lực ma quái này như thế nào?
Ông Kris mỉm cười, giải thích:
– Tôi đã nói qua với ông về những cõi giới vô hình. Trong đó
tôi đã nói về cõi giới của vong linh, cõi giới của ma quỷ nơi những sự tàn ác
ghê gớm ngự trị. Tuy nhiên, tôi chưa nói đến cõi giới của các vị thánh nhân,
nơi mà những thực thể có tâm thức rất cao đang cư ngụ. Những thực thể này cũng
từng là con người như chúng ta, nhờ tu luyện tâm thức, hiểu biết nhân quả, phát
triển tình thương và trí tuệ cao thâm nên khi qua đời họ đã chuyển kiếp đến cõi
giới cao hơn. Dù ma quỷ có quyền năng đến đâu, dù thú vật chuyển kiếp thành người
có hung ác đến đâu thì cũng không thể ra khỏi sự chi phối của nhân quả. Gieo
nhân gì thì gặt quả đó, đây là lẽ công bằng. Khi loài ma quỷ hung ác chuyển kiếp
thành người gây nhiều nghiệp ác thì cũng sẽ phải trả nghiệp, đó là khi các thực
thể cao cả đến thế giới này để hóa giải những động lực ma quái đó.
Tôi thắc mắc:
– Ông muốn nói đến sự ra đời của một thánh nhân sao?
Ông Kris từ tốn trả lời:
– Không phải chỉ một người mà rất đông các bậc thánh nhân có
trình độ hiểu biết thâm sâu sẽ chuyển kiếp làm người để giúp đỡ, chuyển đổi tâm
thức cho nhân loại. Một số đã đến đây từ nhiều năm nay rồi nhưng làm việc âm thầm
nên thế giới không biết họ là ai. Theo thời gian, số người này ngày càng đông
hơn trước, tạo ra được những động lực có thể thay đổi xã hội. Tuy nhiên, sự
thay đổi này xảy ra rất chậm vì nhiệm vụ của họ chỉ là thúc đẩy nhân loại tự
mình chuyển đổi tâm thức để học hỏi và phát triển chứ họ không thể làm thay con
người được.
Sự truy cứu đến cùng của luật Nhân quả đối với những hành động
bất lương của con người là tất yếu sẽ xảy ra. Có những người từng quyền uy,
giàu sang nhưng giờ đã trắng tay, thậm chí có người còn rơi vào vòng lao lý. Ngẫm
lại thì họ đều từng sử dụng thủ đoạn hại người, chiếm đoạt, lừa gạt nhằm mưu lợi
cho mình. Luật Nhân quả của vũ trụ luôn vận hành chính xác và nghiêm minh.
Không phải cứ mặc sức làm điều độc ác, hại người lợi mình, rồi
sau đó vì sợ sự trừng phạt của nhân quả nên vội vàng bỏ tiền bỏ của ra làm những
việc công đức nặng tính hình thức là có thể xóa đi nghiệp ác hay báo ứng được.
Nếu không thực sự xuất phát từ suy nghĩ, hành động thiện tâm thì không một ai
trên đời có thể thay đổi được nghiệp quả.
Tôi tỏ vẻ hoài nghi:
– Nhưng đã có bằng chứng gì về những người này chưa?
Hiểu được sự nghi ngờ của tôi, ông Kris thong thả giải thích:
– Những câu chuyện thần thoại vẫn vẽ ra chuyện các vị thần với
quyền lực vô song xuất hiện để hàng phục các loài ma quái. Nhưng điều này sẽ
không thể xảy ra, vì nếu lấy sức mạnh đối phó với sức mạnh chỉ tạo thêm nghiệp
ác, lấy oán thù dập tắt oán thù thì oán thù sẽ càng tích tụ. Người hiểu biết
nhân quả không thể làm như thế được. Tôi chỉ có thể nói những gì tôi biết, tin
hay không tùy nhận định riêng của ông. Tuy nhiên, tôi có thể cho ông biết hiện
nay tại nhiều nơi trên thế giới đã có những đứa trẻ được sinh ra với nhiệm vụ
hóa giải những động lực ma quái này. Đó là những cá nhân có hiểu biết, có tâm
thức đã thức tỉnh, có tình thương lớn, biết thông cảm với những đau khổ, hoạn nạn
của người khác. Ngay từ nhỏ, những đứa trẻ này đã tỏ ra thông minh, hiểu biết
mau lẹ, đối xử công bằng với mọi người. Khi khôn lớn, họ trở thành những cá
nhân có tinh thần hợp tác, sẵn lòng chịu thiệt thòi nếu cần thiết, vì đức hy
sinh và lòng nhân ái của những người này rất lớn. Vì sống ở cõi thanh cao đã
lâu nên những người này rất nhạy cảm với những rung động xấu xa, thường tỏ ra
ghê tởm trước những đồ ăn bằng máu thịt.
Đa số họ không ăn thịt, nếu ăn vào cũng sẽ nôn ra. Hiện tượng
đó không phải là dị ứng với thịt như y học hiện đại vẫn nói, mà là dấu hiệu của
sự trưởng thành tâm linh, biết xót thương vạn vật. Do đó, nếu người làm cha mẹ
nào sinh được những đứa trẻ như thế thì họ nên ý thức về trách nhiệm thiêng
liêng của mình là đưa những bậc thánh nhân ấy đến với cõi đời. Hiện nay, trên
khắp thế giới có rất nhiều người còn trẻ đã biết ăn chay, tránh sát sinh, tự học
hỏi, tìm hiểu về thế giới tâm linh. Trong khi nhiều người trẻ khác vẫn còn mải
mê với thú vui vật chất thì những người này đã biết tìm về cội nguồn tâm linh,
đó là vì họ đã từng trải qua kiếp sống ở những cõi giới cao hơn cõi trần.
Tôi gật đầu, tán thành:
– Đúng là tôi có đọc được trên báo chí gần đây, rằng số lượng
người ăn chay đã gia tăng lên rất nhiều, khiến doanh thu của các hãng thực phẩm
tươi sống, các xưởng giết mổ giảm sút không ít.
Ông Kris bật cười:
– Là nhà đầu tư tài chính như ông thì hẳn biết rõ thị trường
chứng khoán của các hãng sản xuất thịt cá hiện đang lên xuống như thế nào.
Tương tự như thế, thời đại của các nhà tư tưởng gia, nhà lý luận, cũng như sự
phát triển của tri thức cực đoan đã qua rồi. Thời thế của các nhà khoa học,
chuyên gia công nghệ cùng sự phát triển của các máy móc thông minh cũng sẽ thay
đổi trong một thời gian nữa.
Tôi ngạc nhiên:
– Chuyện đó diễn ra như thế nào? Mọi nghiên cứu đều cho thấy
thế kỷ này đang là thời đại của công nghệ, nên chứng khoán các hãng công nghệ,
truyền thông, mạng xã hội, trí thông minh nhân tạo, bán hàng trực tuyến đều
phát triển rất nhanh.
Ông Kris mỉm cười:
– Rồi ông sẽ thấy, cái gì lên nhanh thì xuống chóng. Hiện nay
thế giới đang ở trong giai đoạn biến chuyển, mọi chuyện rất khó nói trước được.
Nhiều quốc gia đang bước vào giai đoạn “Hoại” và một số thì đã bắt đầu bước vào
giai đoạn “Diệt”, nên chuyện gì cũng có thể xảy ra. Hiện nay sự chia rẽ, bất
mãn, sợ hãi và rối loạn trong tâm thức con người đã ảnh hưởng lên sự vận hành của
trái đất. Những thiên tai khủng khiếp như động đất, núi lửa phun trào, sóng thần
có thể thay đổi mọi cục diện. Khi xảy ra nạn đói hay môi trường bị phá hủy hoặc
xuất hiện các loại dịch bệnh nghiêm trọng thì thế giới của khoa học kia liệu có
đứng vững không? Đó là chưa kể sự đe dọa chiến tranh đang ngày càng nghiêm trọng,
chỉ một biến cố nhỏ cũng có thể làm bùng nổ một cuộc chiến lớn ở khắp nơi.
Tôi trầm ngâm:
– Theo sự hiểu biết của ông thì tương lai nhân loại rồi sẽ ra
sao?
Ông Kris trầm ngâm:
– Tôi biết rằng tương lai sắp đến sẽ là thời của các nhạc sĩ,
thi văn sĩ, nghệ sĩ, những người có sức sáng tạo mạnh mẽ trong các lĩnh vực âm
nhạc, văn chương, nghệ thuật. Những tác phẩm của họ sẽ phản ánh lòng từ ái, lan
tỏa sự hiểu biết, thể hiện sự sáng tạo, tôn vinh những cái đẹp của thiên nhiên
và tạo ra ảnh hưởng lên toàn cõi nhân loại trên bình diện tư tưởng và tình cảm.
Điều gì phát sinh từ tâm thức thanh cao đều có sức cảm hóa mạnh mẽ, thâm nhập
vào tâm hồn con người và tạo ra sự thay đổi. Giai đoạn tiếp theo của nhân loại
sẽ được xây dựng trên sự hợp nhất giữa mọi người, mọi quốc gia, mọi tôn giáo, mọi
chủng tộc, trên bình diện tâm lý cũng như ngoại cảnh. Khi đó con người sẽ nhận
thức được giá trị của sự sống trong vạn vật. Việc hòa hợp giữa hai thành phần
tri thức và tâm linh sẽ bắt đầu với sự sáng tạo chân chính và nó sẽ phản chiếu
sự huy hoàng của Chân, Thiện, Mỹ. Trong thời đại sắp tới này, con người sẽ biết
nâng cao tâm thức, vượt khỏi những suy nghĩ nhỏ nhen tầm thường, những ham muốn
tham lam, ích kỷ của đời sống hiện nay, để hòa hợp vào tâm thức chung của nhân
loại. Mọi việc đều bắt đầu từ tâm thức cá nhân, do đó, giá trị của những thay đổi
này phụ thuộc vào tinh thần chuyển đổi của từng con người. Hiểu biết chính mình
và hiểu động lực của luật Nhân quả chính là bài học quan trọng trong tương lai
và chỉ những người biết chuyển đổi tâm thức và biết thay đổi thì mới xứng đáng
được hưởng nền văn hóa tốt đẹp xây dựng từ những bài học đó.
Ông Kris dừng lại ngẫm nghĩ một chút, rồi kết luận:
– Nói trước về những việc chưa xảy ra là điều không nên, vì
tương lai luôn luôn biến chuyển, có thể thay đổi chứ không cố định. Tất cả mọi
việc xấu hay tốt, lành hay dữ xảy ra ở một nơi nào đó đều đến từ tâm thức của
những người sống ở đó. Tôi không muốn nói trước về một viễn cảnh tốt đẹp còn ở
rất xa trong lúc mọi người đang lo lắng về sự đe dọa của dịch bệnh, biến động,
xung đột và diệt vong, nhưng tôi hy vọng nhờ biết trước những khả năng sẽ diễn
ra ở tương lai mà mọi người có thể chuyển đổi tâm thức – bỏ việc ác làm việc
lành, biết ban trải tình thương, khiến cho việc xấu thì bớt xấu đi và việc lành
thì có thể tốt lành hơn nữa.
Điểm đặc biệt trong buổi trò chuyện này với Thomas là ông
không ngừng nhắc đi nhắc lại tầm quan trọng của luật Nhân quả. Đối với tôi và hầu
hết những người chịu ảnh hưởng của nền văn hóa phương Đông, đây không phải điều
gì mới nhưng đối với đa số người phương Tây, đây vẫn là một quan niệm tương đối
mới lạ, chưa được hiểu thấu đáo. Hôm đó, tôi có đề cập lại chu kỳ “Thành, Trụ,
Hoại, Diệt” và Thomas cho biết như sau:
“Vạn vật trên thế gian đều thay đổi theo định luật Chu kỳ, tức
là trải qua bốn giai đoạn: Thành, Trụ, Hoại và Diệt. Trong giai đoạn ‘Thành’, mọi
người đều hăng hái xây dựng, trải qua bao nhiêu khó khăn thử thách gian truân
người ta cũng khắc phục vượt qua được. Trong giai đoạn ‘Trụ’, mọi người đều cố
gắng đi theo nền móng đã xây dựng từ trước và mặc nhiên vô cảm hưởng thụ những
gì tiền nhân gây dựng nên. Đến giai đoạn ‘Hoại’, mọi người bắt đầu có mưu đồ lập
bè phái lợi ích, tranh chấp, đả phá, oán hận triệt hại lẫn nhau. Thế giới hiện
nay đang chứng kiến liên tục nào là chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, tai họa,
là bởi chúng ta đang đi vào thời kỳ suy tàn của nhân loại. Ngay tại các nước
phát triển nhất chúng ta cũng chứng kiến rất nhiều xáo trộn, hỗn loạn, với sự
phân hóa giàu nghèo ngày càng trở nên gay gắt. Khi bước vào giai đoạn ‘Diệt’,
chúng ta sẽ thấy xuất hiện rất nhiều loại vũ khí ghê gớm – trong đó có vũ khí hạt
nhân và vũ khí sinh học có thể hủy diệt cả nhân loại.
Tuy nhiên, chu kỳ không diễn tiến đơn giản như thế. Ngay
trong giai đoạn ‘Thành’, chúng ta đã có thể thấy những dấu hiệu và mầm mống của
‘Trụ’ và ‘Hoại’. Vì ngay trong lúc xây dựng, vẫn có những người chỉ hưởng thụ
hay tranh chấp hơn thua, mặc dù số này rất ít. Trong giai đoạn ‘Trụ’ cũng thế,
mặc dù số người tích cực làm những việc tốt đẹp và được hưởng thụ tiện nghi thì
nhiều nhưng cũng bắt đầu có số ít người thích tranh chấp, gây hấn hay chỉ lo
thu vén, phá hoại. Tương tự như vậy, đến giai đoạn ‘Hoại’ và ‘Diệt’, tuy số người
thích chiếm đoạt, tranh giành, hận thù, phá hoại chiếm đa số, thì cũng bắt đầu
có một số ít người biết cố gắng xây dựng, chuẩn bị cho giai đoạn ‘Thành’ sắp đến
trong chu kỳ tiếp theo. Nếu những người này có thể giúp những người khác chuyển
đổi tâm thức, ban trải tình thương, bỏ việc ác làm việc lành thì có thể rút ngắn
giai đoạn ‘Hoại’ và ‘Diệt’ để đi đến giai đoạn ‘Thành’ của chu kỳ mới ít tổn thất
nhất.
Đây là một hy vọng lớn. Vì tương lai của đa số mọi nơi, mọi
quốc gia, và toàn thế giới này có thể thay đổi, trở nên tốt đẹp hơn, nếu mọi
người biết chuyển đổi tâm thức, tin vào luật Nhân quả, thay đổi biệt nghiệp
cũng như cộng nghiệp và sống một cuộc sống công bằng, hòa bình, cao đẹp và ý
nghĩa hơn”.
Khi qua đời, con người rời bỏ xác thân vật chất và hiện hữu
dưới hình thức khác gọi là thân trung ấm (Bardo) hay vong linh (Spirit). Đây là
trạng thái trung gian giữa cái chết và lần tái sinh tiếp theo.
Thứ duy nhất thật sự hiện hữu là tàng thức, nó là căn bản của
sự tồn tại, là nền móng của mọi tâm thức. Mọi tư tưởng, lời nói, hành động
trong một kiếp sống, dù tốt hay xấu, đều tạo ra nhân, hay chủng tử, được lưu trữ
trong tàng thức, không bao giờ mất đi.
Phần 4.1 - Chuyển hóa nghiệp quả: Con đường thức tỉnh
Hằng năm vào dịp lễ Giáng sinh, tôi thường tổ chức cho những
cộng sự chủ chốt của công ty đi nghỉ cùng nhau để thư giãn sau một năm làm việc
mệt nhọc. Ngoài ra, đó cũng là dịp chúng tôi gặp nhau, cùng nhau bàn tính công
việc cho năm tới. Hai năm trước, tôi mời mọi người đến căn nhà nghỉ mát mới mua
tại Colorado để nghỉ ngơi và có dịp leo núi, trượt tuyết tại núi Vail.
Buổi chiều hôm đó, sau khi trượt tuyết về, chúng tôi ngồi ăn
cùng nhau. Angie đã chuẩn bị trước một bữa tiệc thịnh soạn. Mọi người đang dùng
bữa thì Connie quay sang tôi, vui vẻ gợi chuyện:
– Tôi nghe Angie nói lúc này anh đang tập thiền. Việc này hơi
lạ, vì từ trước đến nay, khi tôi và Angie tập Yoga anh vẫn cười chúng tôi mà.
Lý do nào đã khiến anh đổi thái độ như thế?
Angie bật cười nói thêm:
– Anh ấy không những tập thiền mà còn có thể ngồi lâu hơn tôi
nữa. Khi tập Yoga, tôi chỉ ngồi thiền khoảng mười phút là nhiều, vì dễ buồn ngủ,
nhưng anh ấy có thể ngồi hơn nửa giờ mà vẫn tỉnh táo.
Cả bàn ăn rộn ràng lên vì mọi người cùng trêu chọc tôi. Brian
cười nói:
– Hình như có lúc anh thiền ngay trong phòng làm việc phải
không? Cô thư ký nói có lúc anh đóng cửa không tiếp khách.
Tôi trả lời nhẹ nhàng:
– Đôi khi tôi cần nghỉ ngơi cho đầu óc thoải mái. Lắm lúc suy
nghĩ nhiều quá bị căng thẳng, nên cũng cần ngồi yên tĩnh một chút.
Connie mỉm cười ý nhị:
– Ngồi yên để nghỉ ngơi và ngồi thiền khác nhau chứ. Nghe
Angie nói là anh học thiền với một ông hàng xóm gần đây. Angie nói rằng ông ấy
là người vô cùng hiểu biết và có kiến thức về Karma Yoga. Tôi cũng đang muốn
tìm hiểu thêm về Karma Yoga. Liệu tôi có thể gặp ông ấy được không?
Câu chuyện trên bàn ăn chuyển qua đề tài Yoga. Người thì cho
rằng đó chỉ là phương pháp thể dục Ấn Độ đang được khai thác trong các phòng tập
thể thao. Người khác nói rằng đó là một tôn giáo. Angie hào hứng lên tiếng:
– Theo ông Kris thì lịch sử Yoga kéo dài cả ngàn năm nhưng
tinh hoa đã bị thất truyền, chỉ còn lại phương pháp tập luyện thôi. Ông Kris là
người biết rất rõ về Yoga, tôi chưa gặp ai có thể giải thích rõ ràng về Yoga
như thế. Hơn nữa, ông ấy thật sự là người có vốn hiểu biết hiếm có. Nếu các bạn
muốn, chúng ta có thể mời ông Kris sang đây để ông nói về Yoga.
Tôi không muốn làm phiền bạn mình, nhưng mọi người đều tò mò
muốn làm quen với người láng giềng có kiến thức về Yoga này của tôi. Vì Angie
đã kể chi tiết đó nên Connie rất hào hứng, nhất định đòi gặp ông Kris để tìm hiểu
về Yoga. Hôm sau, Angie và Connie đến tận nơi mời ông Kris sang nhà tôi dùng
cơm. Vừa gặp tôi, ông Kris đã tươi cười nói:
– Tôi không mấy khi rời nhà nhưng không thể từ chối lời mời
chân tình của bà đây được. Nghe nói hôm nay bà đây sẽ trổ tài nấu ăn?
Angie vui vẻ:
– Tôi thích nấu ăn và không ngại trổ tài cho người biết thưởng
thức. Vì biết ông chỉ ăn trái cây nên tôi đã sửa soạn sẵn mấy món ăn bằng trái
cây dành riêng cho ông.
Chúng tôi mời ông Kris vào nhà, giới thiệu ông với mọi người.
Đồng thời, mọi người cũng tự giới thiệu mình với ông. Sau khi chào hỏi qua một
lượt, chúng tôi ngồi vào bàn, vừa ăn uống vừa trò chuyện. Trong lúc mọi người
vui vẻ thưởng thức món ăn mới do Angie chuẩn bị, Connie quay sang ông Kris, giọng
hào hứng:
– Angie nói rằng ông Kris đây là người thông thái, hiểu biết
rất nhiều và cũng biết nhiều về Yoga. Chúng tôi rất hân hạnh được trò chuyện
cùng ông. Là người tập Yoga nên tôi muốn tìm hiểu thêm về truyền thống của môn
này. Nghe nói trước đây ông đã có buổi nói chuyện về Karma Yoga ở đây, thật tiếc
là tôi không có mặt. Nếu có thể, xin ông nói thêm về môn này.
Ông Kris mỉm cười, vui vẻ giải thích:
– Karma là tiếng Phạn có nghĩa là hành động (Action). Một
hành động xảy ra có thể vừa đến từ một nguyên nhân trong quá khứ, vừa là nguyên
nhân cho những việc sẽ đến trong tương lai. Do đó nhân (Cause) và quả (Effect)
có liên hệ mật thiết trong truyền thống Karma Yoga. Nói một cách khác, Karma chỉ
sự liên hệ giữa nhân và quả trong tất cả hành động của con người.
Connie ngạc nhiên:
– Tôi đã tập Yoga với các đạo sư Ấn Độ nhưng không có ai nói
gì về nhân quả. Họ chỉ nói Yoga là phương pháp làm cho cơ thể khỏe mạnh, phòng
tránh bệnh tật thôi.
Ông Kris giải thích:
– Đúng thế, họ chỉ dạy phương pháp chứ không đi vào tinh hoa,
vì họ chỉ tập trung vào việc làm ra tiền. Con người thường muốn khỏe mạnh để hưởng
thụ nên chỉ chú trọng vào phương pháp tập luyện để khỏe hơn, mấy ai biết tìm hiểu
nguyên nhân thật sự gây bệnh tật. Tại sao những lực sĩ khỏe mạnh vẫn bị đủ thứ
bệnh? Tại sao khoa học đã tiến bộ rất xa nhưng bệnh nan y vẫn gia tăng. Nếu chỉ
nhìn Yoga như phương pháp thể dục thì quả là một sự thiếu sót rất lớn.
Brian lên tiếng:
– Phải chăng Karma là quan niệm của Ấn Độ giáo?
Kris lắc đầu:
– Không đâu. Mặc dù chữ Karma được sử dụng nhiều trong sách vở
của Ấn Độ giáo và Phật giáo, nhưng Karma là luật của vũ trụ (Universal Law).
Trong Kinh Thánh cũng nói về vấn đề này, khi Thánh Paul nói với người Galates:
“Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dễ đâu; vì ai gieo giống chi,
lại gặt giống ấy*”.
(*) Galatians VI:7: Do not be deceived: God is not mocked,
for whatever one sows, that will he also reap.
Brian hỏi:
– Vậy luật vũ trụ khác với luật xã hội như thế nào?
Kris nhìn Brian, mỉm cười:
– Ông là luật sư đúng không? Vậy hẳn ông cũng biết luật xã hội
là do con người đặt ra. Nó có tính khuôn khổ, bắt buộc người ta phải làm hay phải
tránh làm việc gì đó. Luật xã hội ám chỉ sự phán xét và trừng phạt nếu bị vi phạm.
Luật này thay đổi tùy hoàn cảnh xã hội, văn hóa và thời đại. Có khi nó được áp
dụng ở quốc gia này nhưng không được áp dụng ở nơi khác. Nó có thể hợp lý ở thời
điểm này nhưng sẽ không còn dùng được ở thời điểm khác. Bởi luật xã hội là do
con người đặt ra nên nó có thể thay đổi. Trái lại, luật vũ trụ thì không bao giờ
thay đổi, nó có tính chất bất di bất dịch và bất biến trong mọi không gian hay
thời gian. Luật vũ trụ cũng không có những phiên xét xử vì hậu quả là lẽ tất
nhiên, không thể tránh. Nếu anh đưa tay vào lửa thì anh sẽ bị bỏng, có thế
thôi.
Brian hỏi thêm:
– Nói vậy là, theo ông, con người bất lực trước luật vũ trụ?
Ông Kris trả lời:
– Không hẳn. Nhờ biết rằng con người sẽ phải chịu trách nhiệm
cho mọi việc làm của mình mà người ta có thể chọn những hành động đưa đến cái
quả mà họ muốn, đồng thời tránh những gì họ không muốn. Đó chính là sự tự do
hoàn hảo nhất. Người biết nhân quả chỉ làm những gì tốt đẹp để mang lại kết quả
như ý, và tránh làm những việc sai trái vì biết rõ hậu quả của nó. Trái lại,
người không hiểu biết nhân quả thì hành động bừa bãi rồi phải gánh chịu hậu quả
cho những việc làm sai trái của mình. Nhưng cũng nhờ đó mà họ sẽ học được bài học
mà họ cần. Bài học nhân quả này, không học lúc này thì sẽ học lúc khác, không học
ở kiếp này sẽ phải học ở kiếp khác.
Brian tỏ vẻ hoài nghi:
– Nhưng luật Nhân quả mà ông nói phải chăng chỉ là quan niệm
của tôn giáo? Bởi khoa học đâu nói gì về luật này.
Ông Kris mỉm cười trả lời:
– Nếu giải thích theo khoa học thì toàn thể vũ trụ này là một
khối năng lượng (Energy) quân bình tuyệt đối. Năng lượng này có thể vô hình,
không nhìn thấy được, cũng có thể biến chuyển thành vật hữu hình mà chúng ta có
thể nhìn được bằng mắt. Thái Dương hệ là năng lượng biểu hiện dưới trạng thái hữu
hình như Mặt trời, Mặt trăng, Trái đất và các hành tinh khác. Tương tự như thế,
tất cả mọi sinh vật như con người, thú vật, cây cỏ… đều là những năng lượng dưới
dạng hữu hình, vì tất cả đều được cấu tạo bởi nguyên tử, mà nguyên tử chính là
năng lượng đã đông đặc lại. Mọi việc xảy ra trong vũ trụ chỉ là sự chuyển hóa của
năng lượng qua nhiều hình thức, có khi rõ ràng và có khi hư ảo. Con người giống
như một cỗ máy vận hành năng lượng bằng tư tưởng, lời nói và hành động. Khi suy
nghĩ, nói ra điều gì, hay làm gì ta đều phát ra một luồng năng lượng vào không
gian, nó va chạm với các năng lượng khác, làm mất đi sự cân bằng vốn có. Do đó,
vũ trụ tự động phản ứng ngược lại để tái lập lại sự cân bằng. Nói một cách
khác, tư tưởng, lời nói, hay hành động của ta cũng đều là những năng lượng – đó
là Nhân, gây mất cân bằng nên sẽ gặp phản lực ngược lại – đó chính là Quả. Do
đó, chúng ta phải cẩn thận, vì mọi tư tưởng, lời nói hay hành động, dù xấu hay
tốt, đều tạo ra những kết quả ảnh hưởng đến chính ta và những người xung quanh.
Một lời nói ân cần, dịu dàng có thể làm chúng ta vui vẻ và những người xung
quanh hạnh phúc. Một lời nói gay gắt không những làm tâm ta thêm sân hận mà còn
gây thương tổn đến những người khác nữa. Nói tóm lại, luật Nhân quả chỉ là sự
thuyết minh cho mối liên quan giữa nhân và quả khi con người vận hành năng lượng.
Đây là điều mọi người cần hiểu rõ.
Con người giống như một cỗ máy vận hành năng lượng bằng tư tưởng,
lời nói và hành động. Khi suy nghĩ, nói ra điều gì, hay làm gì ta đều phát ra một
luồng năng lượng vào không gian, nó va chạm với các năng lượng khác, làm mất đi
sự cân bằng vốn có. Do đó, vũ trụ tự động phản ứng ngược lại để tái lập lại sự
cân bằng. Nói một cách khác, tư tưởng, lời nói, hay hành động của ta cũng đều
là những năng lượng – đó là Nhân, gây mất cân bằng nên sẽ gặp phản lực ngược lại
– đó chính là Quả.
Ông Kris nhìn dụng cụ trượt tuyết và leo núi để ở cuối phòng
rồi nói thêm:
– Hình như các ông vừa đi trượt tuyết hay leo núi về thì phải?
Khi sống tại địa hình bình thường như New York, các ông có thể hít thở dễ dàng
nhưng khi lên núi cao như Colorado thì không khí loãng khiến các ông hít thở
khó khăn hơn, đúng chứ? Vì biết trước nên các ông đã chuẩn bị để ứng phó với việc
này. Khi leo núi chúng ta thường phải mang theo bình dưỡng khí vì lên càng cao
không khí càng loãng, phải có bình dưỡng khí hỗ trợ. Nhiều người không hiểu biết
việc này nên không chuẩn bị, đến khi leo lên độ cao nào đó thì bị xây xẩm vì
thiếu dưỡng khí, không thể tiếp tục được nữa. Sự hiểu biết về độ cao giúp cho
người leo núi đạt được kết quả họ mong muốn. Con người đối với luật Nhân quả
cũng thế, có hiểu biết về luật Nhân quả giúp chúng ta hành động đúng đắn. Vấn đề
hiện nay là nhiều người chỉ hiểu luật này một cách mập mờ, có khi tin cũng có
khi không tin. Đôi khi người ta chỉ tin nếu nó xảy ra hợp với điều mà họ muốn.
Một số người đã hiểu nhầm lẫn Karma thành số mệnh (Fate), là cái gì đó đã được
định đoạt trước chứ không hiểu trọn vẹn ý nghĩa của luật này. Khi gặp nghịch cảnh,
họ khoanh tay chấp nhận rồi than rằng đó là ý muốn của Đấng Tối cao hay sự an
bài của định mệnh, do đó, họ không thể làm gì được nữa. Họ không biết cách thay
đổi chính mình và nếu sự việc xảy ra không như ý, họ chỉ đổ lỗi cho số mệnh hay
chỉ biết than trời trách đất chứ không hiểu rằng Karma chỉ là hành động, và họ
có thể hành động để thay đổi số mệnh mình thông qua luật Nhân quả.
Brian ngạc nhiên, hỏi:
– Nhưng sách vở Yoga định nghĩa Karma là nghiệp, nghĩa là việc
xảy ra mà người ta không thể tránh được. Chẳng phải vậy sao?
Ông Kris mỉm cười, lắc đầu:
– Đó là sự giải thích chưa hoàn chỉnh. Gieo nhân gì gặt quả
đó là lẽ tất nhiên, nhưng không phải vì thế mà người ta cam chịu không làm gì hết,
bởi người ta có thể hành động để chuyển nghiệp. Nếu hút thuốc là nhân, thì bị
ung thư là quả, nhưng người ta cũng không thể chấp nhận rồi chẳng làm gì hết
đúng không? Khi đau ốm, ông có quyền chạy chữa chứ không buông xuôi chỉ vì nghĩ
đó là nghiệp.
Brian thắc mắc:
– Nhưng chính ông vừa nói gây nhân thì phải trả quả mà. Nếu
tôi đã lấy trộm tiền của ai thì trước sau tôi phải trả lại cho người đó, làm
sao không trả được?
Ông Kris thong thả giải thích:
– Đúng thế, chắc chắn ông sẽ phải trả số tiền đó. Chuyển nghiệp
mà tôi đang nói đến ở đây không có nghĩa là ta tìm cách để không trả nợ, mà là
ta có thể có nhiều cách trả nợ khác nhau. Để tôi lấy một ví dụ cho dễ hiểu. Ví
dụ, trong kiếp trước ông lấy của ai đó một triệu đô-la. Ông đã gây nhân nên kiếp
này nghiệp quả bắt ông phải trả lại số tiền đó cho người ông đã lấy, bằng cách
này hay cách khác. Đây là số tiền rất lớn, ông làm vất vả mới có được mà nay phải
mất đi nên ông vô cùng đau khổ. Vì không rõ cái nhân mình gây ra từ trước nên
ông oán giận người kia, nghĩ họ cướp tiền của mình. Oán hận của ông lại tạo ra
một nhân nữa. Đã có nhân thì ắt có quả, do đó hai người cứ vay trả, trả vay lẫn
nhau, kéo dài qua nhiều kiếp sống không chấm dứt. Đó là sự phức tạp của nhân quả
trong vòng luân hồi. Đa số mọi người, vì thiếu hiểu biết về luật Nhân quả nên cứ
mắc nợ, đòi nợ, trả nợ, rồi lại mắc nợ, tạo thêm duyên nghiệp chồng chéo với
nhau.
Brian không ngăn được thắc mắc, liền ngắt lời ông Kris:
– Nhưng làm sao biết ai nợ ai? Ai là người gây ra nợ trước?
Ông Kris gật đầu:
– Đúng thế, người ta trải qua biết bao kiếp sống, nhân quả chằng
chịt, dễ gì tìm ra cái nhân đầu tiên. Nhưng nếu biết chuyển nghiệp bằng cách
làm những điều lành thì có thể chuyển nghiệp, tức chuyển sang cách trả nợ khác
và dần dần nghiệp sẽ được hóa giải. Hãy thử tưởng tượng ông nợ ai đó một triệu
đô-la và đến lúc phải trả, nhưng vì kiếp này ông làm nhiều việc thiện lành nên
ông là tỷ phú, có hàng trăm triệu trong tay thì việc thanh toán món nợ cũ chỉ
là việc nhỏ, đâu đáng quan tâm nữa. Do đó, với cái tâm thiện lành, ông vui vẻ
trả nợ, không gây thêm nhân và món nợ cũ có thể chấm dứt hoàn toàn. Có nợ thì vẫn
phải trả nhưng cách trả nợ có thể khác tùy theo sự chuyển nghiệp. Nói theo toán
học thì A+B = X, đã có điều kiện A và B thì chắc chắn kết quả phải là X. Tuy
nhiên nếu ta thêm vào đó điều kiện mới là C thì A+B+C sẽ cho kết quả khác chứ
không còn là X nữa, có đúng không?
Ông Kris mỉm cười, rồi kết luận:
– Tất cả mọi người sống trên đời đều ít nhiều có nợ với nhau.
Có người nợ ít, có người nợ nhiều. Có người nợ tiền, có người nợ tình, có người
còn nợ sinh mạng nữa, và khi nào phải trả nợ vẫn là câu hỏi không ai biết.
Nhưng nếu biết làm các điều lành thiện, biết bố thí giúp đỡ người khác thì con
người có thể giải quyết nợ nần, duyên nghiệp từ xưa dần dần và chuyển được nghiệp.
Brian có vẻ đã bị thuyết phục nên hỏi thêm:
– Nợ tiền có thể trả nhưng nợ sinh mạng thì trả như thế nào?
Nếu khi xưa tôi giết người, bây giờ có người đến giết tôi thì tôi phải làm gì?
Ông Kris trả lời:
– Nợ sinh mạng không nhất thiết phải trả bằng sinh mạng. Có
khi quả báo của việc giết hại sẽ đến bằng bệnh tật, các chứng nan y như ung
thư, bại liệt… Bệnh nhân khổ sở, đau đớn quằn quại vì bị bệnh tật hành hạ, nằm
dai dẳng rất lâu trên giường bệnh. Những người bị họ làm hại khi xưa, lúc này
có thể đến đòi nợ bằng cách khiến họ càng khổ sở hơn, sống không ra sống, chết
không ra chết. Tình trạng đó còn đau khổ hơn cả cái chết.
Mọi người quanh bàn ăn đưa mắt nhìn nhau vẻ hoang mang. Angie
sợ hãi:
– Ân oán như thế thì ghê gớm quá.
Ông Kris gật đầu, nhìn khắp một lượt quanh bàn và nói tiếp:
– Đó chỉ là trường hợp đòi nợ thông thường mà thôi. Còn nhiều
trường hợp ghê gớm hơn mà tôi không muốn nói đến. Khi gây nhân mấy ai nghĩ đến
hậu quả, đến khi trả quả cũng không mấy ai sẵn lòng đối diện. Người ta chỉ biết
trách trời, trách đất, đổ lỗi cho người này người nọ mà không hiểu cái nhân của
mình.
Brian lo lắng hỏi:
– Vậy con người phải làm những gì để chuyển được nghiệp?
Ông Kris nói:
– Cũng như việc trả nợ về tiền bạc vậy. Nếu người mang nghiệp
giết chóc ở kiếp này biết làm những việc thiện lành, thường xuyên bố thí, giúp
đỡ người khác thì họ sẽ gieo được nhân lành, khi lâm bệnh họ sẽ gặp thầy giỏi,
thuốc hay thì kết quả trả nghiệp sẽ khác. Bởi vì nhân lành mà họ gieo ở kiếp
này cũng trả quả lành cho họ, từ đó cân bằng với nhân ác mà họ đã gieo. Nhiều
người không hiểu được việc bố thí, giúp người, làm việc thiện có sức mạnh lớn
lao chuyển đổi nghiệp ác. Một khi đã biết, họ có thể ra sức hành thiện, từ đó
có thể chuyển đổi nghiệp ác. Chuyển nghiệp là như thế đấy.
Angie thở ra như vừa trút được một mối lo, lên tiếng:
– Nếu tích cực hành thiện, làm việc lành thì mọi sự đều trở
nên tốt đẹp, có đúng không?
Ông Kris mỉm cười:
– Như tôi vừa nói, nếu chúng ta biết làm những việc lành, điều
thiện, bình thản lấy ân trả oán, thì ta tự nhiên sẽ dần trả được một số nghiệp.
Nói cách khác, nhờ biết làm việc lành, ta có thể tránh được nhiều việc không
may, vì món nợ đã được trả dần rồi.
Khi sinh ra ai cũng có sẵn tính cách tốt lẫn xấu. Nếu hiểu rằng
tính cách này là hệ quả của cách chúng ta sống từ kiếp trước thì ta có thể thay
đổi được tính cách bằng nỗ lực cá nhân. Con người có tự do lựa chọn để thay đổi
chính mình. Bên cạnh những gì theo ta từ tiền kiếp, thì tính cách còn chịu ảnh
hưởng của giáo dục và các trải nghiệm đời sống trong kiếp này của chúng ta.
Kinh sách Ấn Độ có câu: “Con người suy ngẫm điều gì thì trở thành điều đó”. Do
đó, một người vốn xấu nhưng biết tu tập đạo đức, suy ngẫm nhiều về điều hay lẽ
phải thì vẫn có thể trở thành người tốt. Người vốn tốt nhưng đọc sách vở đồi trụy
hay tiếp xúc với những người có suy nghĩ tham chấp rồi bị tiêm nhiễm thì vẫn có
thể trở nên người xấu xa. Nói một cách khác, tính tình nào cũng có thể sửa được
nếu biết cách, vấn đề là họ có muốn sửa hay không mà thôi. Ví dụ, một người có
tính tình nóng nảy, nếu nhận ra được tính cách đó của mình là không tốt thì người
đó vẫn có thể sửa đổi.
Brian bật cười, lên tiếng:
– Thế tôi là người có tính tình nóng nảy. Vậy tôi phải sửa
như thế nào?
Ông Kris quan sát Brian rồi nói:
– Nếu ông coi đó là tính xấu thì ông có thể thay đổi được.
Ông không nên suy nghĩ về sự nóng nảy của mình làm gì mà phải chuyển qua suy
nghĩ về sự hòa nhã. Mỗi buổi sáng ông có thể dành vài phút suy gẫm về sự hòa
nhã. Ví dụ, ông hãy tập mỉm cười trước sự việc không như ý, ít lâu sau, ông sẽ
thấy bản thân đổi khác.
Dĩ nhiên, bởi hiện tại khi sự việc không như ý xảy ra ông liền
nổi nóng sau đó mới nghĩ đến sự hòa nhã nên ông mới biết ông đã không làm chủ
được mình. Nhưng giờ ông ý thức được mình cần hòa nhã, thì theo thời gian, khi
vừa nổi nóng ông liền nghĩ ngay đến việc kiểm soát và trở nên điềm tĩnh hơn. Từ
đó, tính tình nóng nảy sẽ giảm dần. Ít lâu sau, ông sẽ có thể giữ sự bình tĩnh,
thái độ hòa nhã ngay khi sự việc không như ý xảy đến. Tư tưởng tạo ra tính
tình, nếu ông suy nghĩ về điều gì đó mỗi ngày thì theo thời gian ông sẽ đạt
thành điều đó. Cũng giống như người thợ xây tường, bắt đầu từ một viên gạch rồi
cứ thế tiếp tục hết viên này đến viên khác cho đến khi hoàn thành.
Ông Kris dừng lại nhìn quanh một lượt rồi thong thả nói:
– Nguyên tắc của Karma Yoga là thúc đẩy con người hoạt động.
Sự hoạt động sẽ tạo ra hoàn cảnh để cho họ học hỏi và chuyển hóa. Lúc nào cũng
vậy, con người ít nhiều đều có ham muốn. Lòng ham muốn liên kết con người với đối
tượng ham muốn như nam châm hút sắt. Có người ham tiền, có người ham sắc, có
người thích quyền lực. Lòng ham muốn thúc giục con người hành động đến khi được
thỏa mãn mới thôi. Nhưng thế nào mới là thỏa mãn? Khi có được những gì họ muốn
thì họ lại muốn có thêm thứ khác, vì lòng ham muốn của con người là vô tận. Đôi
khi lòng ham muốn tiềm ẩn dưới dạng chủng tử nằm sâu trong tiềm thức cho đến
khi đủ duyên sẽ phát động. Karma Yoga nói rằng tư tưởng ham muốn sẽ dẫn dắt con
người đến hoàn cảnh khiến họ phải học bài học mà họ cần. Ví dụ, người ham tiền
tìm mọi cách để giàu có, đến khi tiền bạc đầy nhà thì lại mắc bệnh nan y, việc
đó là để họ học bài học rằng tiền bạc không thể đảm bảo cho sức khỏe và hạnh
phúc. Nhân quả trong vũ trụ này phức tạp vô cùng. May cũng như rủi, tốt cũng
như xấu, đều nối kết với nhau, được cái này thì mất cái khác. Do đó, càng ham
muốn nhiều thì người ta càng đau khổ nhiều. Các ham muốn tiền bạc, danh vọng,
quyền lực thường đem lại sự việc không như ý hơn là niềm vui sướng, do đó việc
bớt ham muốn chính là điều người ta cần phải học. Tuy nhiên, nói đi cũng phải
nói lại, chính vì lòng ham muốn thúc giục con người hoạt động thay vì bất động,
mà hoạt động là động lực của Karma Yoga giúp con người học bài học của mình,
cho nên, nếu không có lòng ham muốn thì người ta sẽ bất động như gỗ đá, chẳng học
được gì. Đôi khi lòng ham muốn sẽ đưa người ta đến với những người có thể đem đến
bài học cho họ. Ví dụ, những người bủn xỉn, mê say tiền bạc thì thường gặp phải
những người phung phí, kiếm bao nhiêu tiền đều bị họ tiêu hết bấy nhiêu. Những
mối quan hệ vợ chồng, con cái đều do nhân quả đưa đến, có khi là tình, có khi
là thù, có khi gặp để trả nợ và có khi gặp để đòi nợ.
Angie lên tiếng:
– Nếu tất cả đều do luật Nhân quả thì phải chăng các khổ đau
của chúng ta hiện tại chỉ là kết quả của những đau khổ chúng ta đã gây ra cho
người khác trước đây? Và mọi hành động làm cho người khác vui buồn lúc này sẽ tạo
ra những hoàn cảnh tương tự như thế trong tương lai?
Ông Kris gật đầu:
– Nói giản dị thì chính là như thế. Tuy nhiên, khi trải qua
vô lượng kiếp sống, chúng ta khó lòng biết được đâu là nguyên nhân và đâu là hệ
quả. Một hoàn cảnh xảy ra đôi khi có thể khiến chúng ta nghĩ rằng nó trái với
luật Nhân quả, nhưng thật ra còn những cái nhân sâu xa vốn được tích tụ từ lâu
mà chúng ta không biết được. Ví dụ, bà có thể chứng kiến những người hung ác, xấu
xa, tham lam, ích kỷ lại sống sung sướng trong sự giàu sang tột bực, trong khi
người hiền lành, tốt bụng lại chịu nhiều nỗi đau khổ, gian truân. Tại sao thế?
Đó là bởi những cái nhân mà họ đã gieo từ nhiều kiếp trước. Sự giàu sang của họ
trong kiếp này là nhờ những nhân lành mà họ đã gieo từ trước, còn những việc
làm xấu xa của họ ở kiếp này thì cũng đến lúc phải trả mà thôi. Không lúc này
thì lúc khác, không kiếp này thì kiếp khác. Luật Nhân quả không bao giờ sai
đâu.
Ông Kris dừng lại, nhìn khắp lượt, rồi nói tiếp:
– Luật Nhân quả đã thu xếp cho chúng ta sinh vào một tộc người,
một quốc gia, hay một hoàn cảnh gia đình cụ thể để trả những nghiệp quả đã gây
từ trước và đồng thời cũng tạo cơ hội cho chúng ta học hỏi để hiểu biết và tiếp
tục tiến lên đời sống cao cả của các bậc thánh nhân. Trải qua vô lượng kiếp, tất
cả chúng ta đều có sẵn một số nghiệp tích tụ, những nhân đã gieo từ kiếp trước
và phải trả ở kiếp sau. Những nghiệp tích tụ này rất nhiều, không thể trả hết một
lúc, nên chúng ta phải trải qua nhiều kiếp sống để trả dần. Vì nghiệp quả liên
hệ đến nhiều người, mà mỗi lần chuyển kiếp thì người sinh ở nơi này, người sinh
ở nơi khác, cũng có khi những đối tượng ân nợ của ta vẫn còn làm súc sinh chưa
chuyển kiếp thành người, nên chúng ta không thể gặp hết để trả hay đòi trong một
kiếp được. Một số nghiệp được thu xếp để trả ở kiếp này, một số trả ở kiếp
khác. Tuy nhiên, nghiệp quả không phải là định mệnh, vì chúng ta có thể hành động
để chuyển nghiệp được. Nghiệp quả chỉ là những động lực theo thời gian sẽ xảy
ra nhưng chúng ta có thể tạo ra các động lực mới để sửa đổi chiều hướng của nó,
khiến việc nặng có thể chuyển thành nhẹ.
Phần 4.2 - Chuyển hóa nghiệp quả: Con đường thức tỉnh
Connie nãy giờ vẫn im lặng lắng nghe, đến giờ mới lên tiếng:
– Việc chuyển nghiệp mà ông nói là áp dụng cho cá nhân, còn
nghiệp quả của số đông thì sao? Làm thế nào để thay đổi?
Ông Kris trả lời:
– Những người được sinh vào cùng một nơi chốn hay quốc gia
thường do sự sắp xếp để trả quả chung, mà ta gọi là cộng nghiệp. Do đó, các
thiên tai như động đất, bão lụt, chiến tranh hay dịch bệnh ở một nơi chốn hay
quốc gia nào đều ít nhiều do các nghiệp nhân của những con người tại đây đã gây
từ trước mà nay họ phải sinh ra tại nơi này để trả. Tuy nhiên, những thiên tai,
dịch bệnh này dù ghê gớm đến đâu thì vẫn có người không hề hấn gì. Có thể vì họ
không gây nhân nên không phải trả quả, cũng có thể vì họ đã làm việc lành thiện
nên chuyển từ nghiệp nặng thành nhẹ. Mỗi quốc gia có thể xem như một cá nhân
trong vòng sinh hóa của trái đất. Tùy hành động vị tha hay ích kỷ mà quốc gia
đó trở nên hùng cường hay suy bại. Không một quốc gia nào làm những điều hung
ác như xâm lăng, chiếm đoạt, giết chóc mà có thể hưng thịnh lâu dài. Những đế
quốc như Hy Lạp, La Mã, Mông Cổ,… chỉ hùng cường một thời gian rồi suy sụp. Cho
đến nay, trải qua thời gian dài, những quốc gia này vẫn chưa vãn hồi được sự
hưng vượng khi xưa. Con người sinh ra ở xứ nào là để học hỏi các đức tính của
dân tộc xứ đó, vì mỗi nơi đều có những đặc thù văn hóa hay điều kiện đặc biệt
giúp cho sự phát triển của họ. Một quốc gia phát triển thịnh vượng là nhờ những
người tài giỏi được nhân quả thu xếp đến giúp cho quốc gia đó trở nên hùng cường.
Một đất nước bị suy vong là do những người xấu xa, thấp kém được nhân quả đưa đến
đó để làm cho lụn bại. Nếu một cá nhân có thể học hỏi để chuyển nghiệp thì một
quốc gia cũng thế. Khi người dân xứ đó biết ý thức về nhân quả, biết làm điều
lành, việc thiện, biết phát triển tình thương, biết giúp đỡ nhau, biết làm việc
vì quyền lợi chung, thì xứ đó có thể giảm được rất nhiều tai kiếp.
Andrew im lặng từ đầu buổi, giờ cũng lên tiếng:
– Nói như vậy thì trong đời sống hiện nay, con người vừa trả
quả, vừa gây thêm nhân, do đó mọi việc cứ chồng chất, bớt được chỗ này thì lại
thêm vào chỗ khác. Mọi nơi, mọi quốc gia đều có người xấu và người tốt. Xã hội
nào cũng có người này giúp người kia, nhưng người kia lại hại người nọ, ân oán
cứ thế triền miên, có việc tốt cũng có việc xấu, cứ thế tiếp diễn thì làm sao
có thể cắt đứt sợi dây nhân quả?
Ông Kris nhìn Andrew mỉm cười:
– Ông nói đúng đó. Sợi dây nhân quả vô cùng phức tạp nhưng
nghiệp quả dù nặng đến đâu vẫn có thể giảm bớt nhờ sự hiểu biết, phát triển
tình thương. Những người hiểu biết, dù bị đối xử bất công, vẫn biết tha thứ,
không trả thù. Những người đã ý thức được nhân quả sẽ biết chấp nhận, không
than van oán trách, đồng thời phát triển lòng từ bi hướng đến người xung quanh.
Khi một số đông đã hiểu biết, sống đời lành thiện thì có thể tạo ra những động
lực mới, thay đổi nghiệp lực cũ, cải thiện số phận quốc gia.
Connie lên tiếng:
– Tôi được biết ngoài Karma Yoga, ông còn dạy thiền nữa phải
không? Khi tập Yoga, tôi cũng ngồi thiền khoảng mười phút trước khi tập.
Ông Kris mỉm cười:
– Hiện nay nhiều nơi dạy Yoga hay thể dục cũng hướng dẫn mọi
người ngồi yên mười phút để cho đầu óc thoải mái trước khi tập. Nhưng việc đó
không dính dáng gì đến thiền định hết.
Connie ngạc nhiên:
– Tại sao thế, tôi tưởng đó chính là thiền định chứ?
Ông Kris giải thích:
– Các phòng tập thể dục hay Yoga có trào lưu thêm thắt vài
phương pháp mà họ gọi là thiền định Yoga hay khí công vào bài tập nhằm mục đích
quảng cáo hay tạo ra vẻ huyền bí thôi. Không ai có thể ngồi thiền chỉ trong
vòng vài phút như thế được. Nếu thực tập thiền định bà phải ngồi ít nhất nửa giờ
hay lâu hơn nữa. Việc ngồi yên vài phút rồi đứng lên tập thể thao không dính
dáng gì đến thiền định cả. Đó chỉ là một cách để nghỉ ngơi, xả giãn đầu óc trước
khi tập thể thao thôi.
Angie quan tâm, muốn hiểu hơn, nên hỏi:
– Nhà tôi nói rằng ông dạy anh ấy phương pháp tĩnh tâm, vậy
đó là phương pháp gì thế?
Ông Kris giải thích:
– Ngày nay, đời sống xã hội có rất nhiều việc khiến cho đầu
óc người ta quay cuồng bởi những ưu tư, phiền não và bất an, nên ai cũng cần có
một nơi ẩn náu để giữ cho đầu óc được cân bằng. Đây không phải là việc trốn
tránh thực tại mà là tránh cho đầu óc bị căng thẳng bởi những xáo trộn bên
ngoài. Mục đích phương pháp này là tìm về sự an tĩnh nội tâm.
Connie xen vào:
– Nhưng tập thể thao cũng có thể làm cho đầu óc bớt căng thẳng
và an tĩnh được chứ.
Ông Kris mỉm cười:
– Khi gặp sự xáo trộn, cảm thấy bất an, đa số người đều tìm
cách giải quyết qua những hoạt động bên ngoài nhưng không mấy ai thành công. Bà
tập thể thao, trong lúc tập có thể bỏ đi mọi suy tư nhưng tập xong thì đầu óc vẫn
xáo trộn, bất an như cũ. Thân thể bà có thể khỏe nhưng đầu óc của bà đâu đã được
bình an. Muốn đạt được sự quân bình trong đời sống, chúng ta phải biết cách gác
qua một bên những công việc bận rộn hàng ngày để trầm mình trong sự cô liêu,
tĩnh mịch, để bồi dưỡng tinh thần, gia tăng sức mạnh nội tâm. Bên trong mỗi người
đều có sẵn một năng lực tiềm ẩn mà ít ai biết khai thác. Phương pháp tĩnh tâm
giúp cho họ tiến sâu vào nội tâm để tìm ra năng lực tiềm ẩn này. Khi đã tìm được
nó rồi thì họ sẽ được trang bị một sức mạnh vô biên, có thể chống với mọi nghịch
cảnh. Nên nhớ, sự phục hồi sức mạnh nội tâm này hoàn toàn được thực hiện ở bên
trong chứ không phải đâu đó bên ngoài.
Angie đưa một ly nước trái cây cho ông Kris:
– Các bạn hỏi nhiều quá, chúng ta hãy tạm dừng ở đây để ông
Kris giải khát.
Ông Kris vui vẻ nhận ly nước trái cây của Angie:
– Cảm ơn bà. Bà có cách pha chế nước rau củ với trái cây thật
thơm ngon.
Connie chờ ông Kris uống xong ly nước rồi lên tiếng:
– Tôi được biết ông chỉ ăn trái cây và rau củ, không ăn thịt
cá. Như vậy làm sao có đủ chất dinh dưỡng được?
Ông Kris ôn tồn giải thích:
– Từ nhiều năm nay mọi người đều được dạy rằng phải ăn thịt
cá mới có đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể khỏe mạnh. Có nhiều vấn đề với việc ăn
thịt cá, nhưng hôm nay tôi chỉ nói về một thứ thôi. Hiện nay ngành chăn nuôi đã
được công nghiệp hóa để gia tăng lợi nhuận. Các nhà chăn nuôi đã trộn thức ăn
gia súc với các loại hóa chất để vật nuôi phát triển nhanh hơn. Trung bình một
con bò phải mất bốn năm mới đủ lớn để làm thịt nhưng khi cho ăn hóa chất này
thì con bò sẽ chỉ cần mười sáu tháng là có thể làm thịt được rồi. Trong hành động
này hội đủ các nhân xấu như: lòng tham, sát nghiệp và đi ngược quy luật tự
nhiên. Ngày nay, hầu như mọi gia súc, gia cầm như heo, bò, trâu, dê, gà vịt đều
được nuôi bằng thức ăn trộn hóa chất. Do đó, ngành công nghiệp chăn nuôi thu lợi
rất nhiều. Vấn đề là khi ăn thịt của những vật nuôi này, con người cũng gián tiếp
tiêu thụ những hóa chất đó và chúng sẽ âm thầm gây bệnh cho con người – đó vừa
là một vấn đề có thể giải thích bằng khoa học và cũng có thể lý giải theo hướng
tâm linh là “cái quả” mà con người nhận được từ sát nghiệp của mình. Nếu hóa chất
làm tế bào con vật phát triển rất nhanh thì nó cũng có thể làm cho tế bào con
người phát triển tương tự, có đúng không? Nếu tế bào con người phát triển nhanh
hay phát triển bất bình thường thì người ta gọi đó là gì?
Connie nói ngay:
– Ông muốn nói đến bệnh ung thư có phải không?
Ông Kris gật đầu:
– Đúng thế, cái gì phát triển quá nhanh hay bất bình thường đều
không tốt. Đã có nhiều nghiên cứu khoa học về sự liên quan giữa việc tiêu thụ
thịt cá quá mức và các loại bệnh tật nhưng chưa được công nhận vì phản ứng của
các nhóm lợi ích ngành chăn nuôi. Để tôi kể thêm một bằng chứng khác. Ngày nay,
trẻ sơ sinh ít được nuôi bằng sữa mẹ mà thường uống sữa bò, mà hầu hết bò sữa đều
được nuôi bằng thực phẩm trộn hóa chất công nghiệp và chúng còn bị tiêm các loại
thuốc, hormone để sản xuất nhiều sữa hơn, trái với quy trình tự nhiên của
chúng. Chưa nói đến những điều tàn nhẫn khác như lũ bê con bị tách khỏi mẹ khi
mới vài ngày tuổi, không được uống dòng sữa của mẹ chúng và số phận của chúng
là được cung ứng cho ngành khai thác thịt bê. Còn những bò mẹ thì phải mang một
bầu sữa quá nặng, thậm chí kéo lê trên mặt đất, do khẩu phần ăn công nghiệp để
có thể cho sữa nhiều hơn, khiến chúng đau đớn, kiệt quệ, bị khai thác đến mức bầu
vú nhiễm trùng, rướm máu lở loét. Những hộp sữa được quảng cáo là giàu vitamin
tốt cho con người mà chúng ta đang uống thực chất đến từ sự khai thác tàn nhẫn,
đến từ sự đau đớn khổ ải của những con bò cái được nuôi nhốt trong điều kiện sống
tệ hại.
Nếu để ý, mọi người có thể thấy gần đây xuất hiện triệu chứng
dậy thì sớm ở nhiều bé gái. Bình thường, đến tuổi mười ba, mười bốn các bé gái
mới bắt đầu dậy thì, nhưng ngày nay, nhiều trường hợp con số này là chín, mười
tuổi. Chuyện gì xảy ra khi những đứa bé đầu óc vẫn còn ngây thơ, non dại, chưa
trưởng thành nhưng cơ thể đã phát triển đầy đủ như một thiếu nữ? Phải làm sao
khi tinh thần, sự hiểu biết, kiến thức vẫn chưa phát triển đầy đủ nhưng đã bắt
đầu thể hiện bản năng giới tính? Có lẽ mọi người cũng thấy hiện tượng nhiều trẻ
vị thành niên có thai, rồi phá thai đang xảy ra khắp thế giới. Đó là những hành
vi đáng thương và đáng trách, những đứa trẻ đó đã gieo một nghiệp ác lớn mà
chúng không nhận thức được.
Nói đến đây, ông Kris chợt nhìn tôi và nhắc lại:
– Chắc ông Thomas còn nhớ, tôi đã từng trao đổi với ông về vấn
nạn phá thai này trong một cuộc nói chuyện trước đây, lúc đó, tôi nói nhiều về
nguyên nhân đến từ văn hóa xã hội. Tuy nhiên, nếu các bạn nhìn rộng ra toàn bộ
câu chuyện, nghiệp ác của việc phá thai này cũng có nguyên nhân phần nào từ việc
nuôi vật nuôi bằng hóa chất, rồi khai thác thịt, sữa, da của chúng một cách tàn
nhẫn. Tức là cái ác, cái tham và sát nghiệp là một vòng tròn nghiệp rất lớn,
khi đã gieo xuống là chúng ta phải nhận lãnh cái quả tương ứng. Nhân quả trong
chuỗi sự việc mà tôi vừa nói đan xen phức tạp, nhưng khởi nguồn cũng từ cái
nhân ban đầu là tàn bạo với loài vật, sau đó có thể dẫn đến những hậu quả tai hại
về sức khỏe, thậm chí một nghiệp ác nặng nề như phá thai, tức tàn bạo với sinh
mạng con người.
Mọi người đều lặng đi sau những điều ông Kris chia sẻ. Andrew
chợt lên tiếng:
– Ông vừa nói một trong những nguyên nhân của ung thư là do
ăn thịt loài vật nuôi bằng hóa chất. Vậy nếu ăn những sinh vật nuôi tự nhiên hoặc
sống ngoài thiên nhiên thì sao?
Ông Kris mỉm cười, giải thích:
– Hiện nay có nhiều nghiên cứu về bệnh ung thư. Một số nghiên
cứu kết luận rằng vì ăn quá nhiều thịt cá nên mới có bệnh này. Dĩ nhiên các
nhóm lợi ích chăn nuôi không muốn mất nguồn lợi nên đã đưa ra bằng chứng khác để
chống lại các kết luận trên. Họ trả tiền cho một số chuyên viên để đưa ra các bằng
chứng phản bác lại. Cuộc tranh cãi vẫn tiếp diễn, chưa đi đến kết luận và số
người mắc bệnh ung thư vẫn tiếp tục gia tăng. Cũng giống như trước kia, việc
hút thuốc được xem là bình thường, cho đến những năm 1920, các nhà khoa học đã
tìm được bằng chứng là hút thuốc gây ra ung thư phổi. Tuy nhiên, các hãng sản
xuất thuốc lá đã bỏ tiền cho một số nhà khoa học khác phản bác kết luận đó. Cuộc
tranh cãi kéo dài cho đến thập niên 1970, gần năm mươi năm sau, mới chấm dứt,
khi chính phủ nhiều nước công nhận rằng hút thuốc lá gây ung thư và khuyến cáo
mọi người không nên hút thuốc. Mặc dù số người hút thuốc đã giảm nhiều ở các nước
tiên tiến nhưng các hãng sản xuất thuốc lá đã chuyển qua các nước chậm tiến
khác và tiếp tục quảng cáo mạnh mẽ nên số người mắc bệnh ung thư tại các nước
này lại gia tăng.
Trở lại việc ăn thịt cá, hiện nay các tranh luận về vấn đề
này vẫn không có hồi kết ở các quốc gia. Nhiều người phương Đông cho rằng: “Ăn
con dưới nước tốt hơn con trên bờ” hay “Ăn con hai chân tốt hơn con bốn chân”,
vì họ đã tiếp nhận được thông tin sai lệch là con vật bốn chân có “nhân linh”
hơn là con vật có hai chân, và các con vật sống dưới nước ít có khả năng được đầu
thai hơn các con vật sống trên bờ… Thế nên, họ sẽ chọn cách ăn sao cho cảm thấy
ít có tội lỗi nhất. Thậm chí ngay cả một số người có hiểu biết nhất định về luật
Nhân quả cũng biện hộ cho việc ăn thịt rằng người giết thịt con vật mới mang
nghiệp nặng, còn người ăn khi nó đã bị giết thì không sao. Người tin, người
không tin và số đông thì lúc tin, lúc không tin. Nếu có một nghiên cứu tâm linh
nghiêm túc thì chắc chắn sẽ bị phản đối mạnh mẽ bởi các công ty, tập đoàn kinh
doanh thịt gia súc, thủy hải sản và cả những người không thích ăn chay hoặc cho
rằng ăn chay không đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể.
Theo hiểu biết của tôi, bất kỳ con vật nào, dù bốn chân, hai
chân hay tôm cá sống dưới nước cũng đều là một kiếp sống trong vòng luân hồi.
Nhưng vì có nhiều người sẽ không tin, nên chúng ta có thể xem xét việc này từ một
góc độ khác. Khoa học đã chứng minh rằng khi lo lắng, buồn rầu, sợ hãi, thì
thân thể sẽ tiết ra những chất độc khiến ta căng thẳng, mất ngủ, khó tiêu, nếu
nặng hơn thì nhức đầu, chóng mặt, khó thở. Loài vật cũng như thế, dù nuôi bằng
tự nhiên hay thức ăn tăng trọng thì khi con vật bị bắt giết mổ, chúng cũng sợ
hãi, tiết ra trong cơ thể chúng những độc tố của sự sợ hãi, giận dữ. Nếu chúng
ta ăn vào, tiêu thụ những năng lượng xấu, độc hại này thì cơ thể chúng ta chắc
chắn sẽ tích tụ những năng lượng rất xấu đó và theo thời gian, bệnh tật và các
di chứng khác sẽ xuất hiện. Đó là chuyện tất yếu theo khoa học, chưa nói đến
các khía cạnh nghiệp quả liên quan đến sát sinh.
Ông Kris nhìn mọi người rồi thong thả nói tiếp:
– Chúng ta vừa nói về Karma và sự liên hệ giữa nhân và quả,
ông bà hãy tự nghĩ xem, khi chúng ta giết súc vật, chúng sợ hãi, đau đớn, kêu
la, than khóc và sinh lòng oán hận. Tư tưởng oán hận gửi lên vũ trụ này chính
là nhân mà sau này chúng ta sẽ phải trả quả. Khi chúng ta đã tạo oán nghiệp thì
trước sau cũng phải trả, không bằng cách này cũng bằng cách khác, không ở hình
thể này cũng ở hình thể khác, như vi trùng hay vi-rút chẳng hạn. Do đó, ân oán
cứ kéo dài liên miên, gây nợ, trả nợ, đòi nợ, rồi lại gây nợ, chẳng chấm dứt được.
Hiện nay, mọi quốc gia đều đua nhau phát triển công nghiệp với vô số nhà máy,
xí nghiệp mọc lên. Những nhà máy, xí nghiệp này thải nhiều chất ô nhiễm vào
không khí hay xuống sông ngòi, ao rạch, vì vậy nước uống và không khí ngày nay
đa số đều bị ô nhiễm, có chứa độc tố. Cá sống trong nước có độc cũng nhiễm độc.
Thêm nữa, chúng ta dùng nước có độc này để nấu ăn thì độc tố sẽ gia tăng. Khi
tiêu thụ những chất độc này, cơ thể của chúng ta sẽ phải chống lại chúng. Khi
còn trẻ, cơ thể chúng ta khỏe mạnh, có sức đề kháng tốt, thì chúng ta có thể
chưa gặp vấn đề sức khỏe gì, nhưng số độc tố này sẽ tích tụ chờ khi cơ thể suy
yếu là bắt đầu phát tán. Kết quả khi bước vào tuổi trung niên, nhiều người bắt
đầu gặp đủ thứ bệnh, nhưng lúc đó đã quá trễ rồi.
Ông Kris nhìn quanh bàn ăn rồi nói tiếp:
– Có bao giờ các bạn tự hỏi tại sao các quốc gia văn minh,
tân tiến vẫn có tỷ lệ tử vong vì bệnh tật rất cao? Tại sao trình độ y học đã
lên đến đỉnh cao như hiện nay mà các bệnh như mập phì, đau tim, cao huyết áp,
ung thư, tiểu đường, chẳng những không giảm bớt mà còn gia tăng mãnh liệt? Phải
chăng nguyên nhân bắt nguồn từ việc ăn uống?
Brian lên tiếng:
– Nếu không ăn thịt cá thì nên ăn gì? Phải chăng ông khuyến
khích mọi người ăn chay?
Ông Kris lắc đầu:
– Tôi chỉ đưa ra một số dữ kiện để giúp các bạn giữ gìn sức
khỏe thôi. Vấn đề ăn uống ra sao tùy các bạn quyết định.
Từ trước đến nay, con người vẫn được dạy rằng sức khỏe gắn liền
với dinh dưỡng. Tuy nhiên, có nhiều lời khuyên không rõ ràng về một chế độ dinh
dưỡng tốt. Đa số được dạy là phải ăn đầy đủ chất bổ, nhưng thế nào là chất bổ?
Có cả trăm lời khuyên khác nhau về vấn đề này, nhưng phần lớn đều bị ảnh hưởng
bởi quảng cáo của các nhóm lợi ích thuộc ngành công nghiệp chăn nuôi, thực phẩm.
Những lời khuyên này hướng chúng ta đến việc phải ăn thịt cá thì mới đủ dưỡng
chất. Tuy chúng ta biết phần lớn bệnh tật đều ít nhiều liên quan đến chế độ ăn
uống, nhưng không mấy ai thật sự hiểu việc đó diễn ra như thế nào. Có nhiều
nguyên nhân nhưng hôm nay tôi chỉ nói về một nguyên nhân thôi. Khoa học đã chứng
minh rằng trong dạ dày và ruột của con người có khoảng 100 tỷ vi sinh vật
(Microbiome). Một số vi sinh vật được coi là “tốt” vì chúng giúp cho sự tiêu
hóa và tăng cường hệ thống miễn dịch. Một số vi sinh vật được coi là “xấu” vì
chúng có thể gây bệnh tật. Ví dụ, những vi trùng xấu chui khỏi màng ruột qua hội
chứng rò rỉ ruột (Leaky Gut Symptom), đi thẳng vào máu, đến các cơ quan trong
cơ thể và gây ra bệnh. Nếu chúng theo máu lên não thì có thể gây ra bệnh trầm cảm,
lo lắng thái quá hay tự kỷ. Nếu chúng ảnh hưởng lên thần kinh thì có thể gây bệnh
Parkinson. Nếu chúng phá hoại màng dạ dày thì có thể gây ra bệnh béo phì. Nếu
chúng đi đến khớp xương có thể gây ra bệnh viêm khớp. Nếu chúng đi vào da thịt
thì có thể gây các chứng mụn nhọt ngoài da, nổi mề đay, ngứa. Đây chỉ là các bệnh
thông thường mà nguyên nhân bắt nguồn từ việc ăn uống. Các bạn có thể tìm hiểu
thêm về các loại vi sinh vật sống trong dạ dày và ruột này. Khoa học chứng minh
được rằng hầu hết các loại men vi sinh có lợi (Probiotics) đều tiêu thụ các loại
rau củ, trái cây rồi tiết ra các chất giúp chúng ta tiêu hóa dễ dàng, chống lão
hóa, tái lập sự cân bằng trong cơ thể. Trong khi đó, phần lớn các vi trùng xấu
đều tiêu thụ các chất dầu mỡ, thịt cá, đường và trứng. Do đó, tùy thức ăn mà
chúng ta tiêu thụ, chúng ta sẽ nuôi dưỡng các loại vi sinh vật tốt hay xấu
trong người. Nếu có nhiều vi sinh vật có lợi trong ruột thì chúng ta sẽ mạnh khỏe,
nếu có nhiều loại vi sinh vật gây hại thì chúng ta dễ mắc bệnh. Nếu các bạn bỏ
bớt các thức ăn như đường, dầu mỡ, thịt, cá, các bạn sẽ “bỏ đói” các vi sinh vật
gây hại này, khiến cho chúng không có gì ăn và số lượng sẽ giảm đi rất nhiều, rồi
các bạn sẽ thấy thân thể nhẹ nhàng, thoải mái hơn xưa. Nếu các bạn tiêu thụ nhiều
rau củ, trái cây, “tiếp sức” cho các vi sinh vật có lợi tăng trưởng thì các bạn
có thể tránh được nhiều thứ bệnh. Việc này đơn giản, ai cũng có thể làm được. Nếu
không tin, các bạn hãy thử áp dụng phương pháp dinh dưỡng chỉ ăn rau củ và trái
cây này trong vài ngày hay một tuần, xem cơ thể phản ứng ra sao.
Ông Kris nhìn mọi người một lượt rồi thong thả kết luận:
Tri thức hiện nay là hướng ngoại, là sự suy luận, phân tích,
tính toán và phân biệt. Tuy nhiên tâm thức con người không phải chỉ là tri thức
mà còn có phần khác, ta tạm gọi là tâm linh. Tâm linh là yếu tố sáng suốt,
thanh khiết, mỹ lệ, là phạm trù của tình thương yêu và sáng tạo vượt ra khỏi điều
kiện giới hạn của thời gian và không gian. Người ta chỉ có thể nhận diện và
phát triển được tâm linh khi tâm thức hướng ngoại được xoay chiều, quay vào bên
trong.
– Các bạn được tự do lựa chọn thức ăn chứ không ai bắt buộc
được các bạn phải ăn gì, nhưng hiểu biết về dinh dưỡng đối với sức khỏe con người
là nền tảng cần thiết. Tương tự, khi các bạn hiểu biết rõ các định luật vũ trụ
như luật Nhân quả và luật Luân hồi chi phối chúng ta như thế nào thì các bạn sẽ
hành động với cái tâm từ bi và giảm bớt những cái nhân xấu. Tinh hoa của Karma
Yoga là hành động qua sự hiểu biết chứ không phải chỉ tập luyện những tư thế
(Asana) mà thôi. Dĩ nhiên, các tư thế Yoga giúp việc điều hòa sinh lực (Prana)
trong cơ thể, giúp sự lưu chuyển hữu hiệu hơn. Nếu biết hít thở đều và sâu thì
sẽ gia tăng hiệu quả và cơ thể được khỏe mạnh. Đó là phần nhập môn điều thân và
điều khí. Nhưng sẽ là sự thiếu sót lớn nếu không nói đến việc dinh dưỡng đúng
cách, vừa đủ, giảm bớt sát nghiệp; và giữ gìn tư tưởng, lời nói, hành động làm
sao để không gây ra những kết quả xấu. Hôm nay, tôi chỉ rõ cho các bạn về một số
tinh hoa của Karma Yoga để mong các bạn có thể chủ động thay đổi chứ không để mặc
cho số mệnh định đoạt.
Thomas cho biết các nhân viên và cộng sự của ông hiện nay đều
chuyển qua chế độ ăn uống nhiều rau quả, ít thịt cá. Riêng ông và Angie đã ăn
chay trường từ nhiều năm nay. Ông cho biết Martha, vợ của Brian bị ung thư vú,
đã chữa trị bằng phương pháp hóa học trị liệu, nhưng bác sĩ nói rằng ung thư đã
đến giai đoạn thứ ba nên chỉ có thể sống khoảng vài tháng nữa thôi. Năm đó, nhờ
sự khuyên bảo của ông Kris qua phương pháp tập Yoga, thay đổi chế độ dinh dưỡng,
kiêng các chất như đường, thịt cá, dầu mỡ, sử dụng nước trái cây, ăn rau củ để
loại bỏ độc tố trong cơ thể, đồng thời học cách suy ngẫm và chấp nhận mọi sự,
không lo lắng buồn phiền, nên đến giữa năm 2020, Martha vẫn khỏe mạnh, bệnh ung
thư không còn phát triển nữa. Các xét nghiệm ung thư ở bệnh viện của Martha sau
đó khiến các bác sĩ cũng phải ngạc nhiên, bất ngờ.
Thomas cho biết trường hợp đặc biệt của Martha đã khích lệ
nhiều người khác quan tâm, chú ý nhiều hơn đến chế độ dinh dưỡng, ăn uống. Người
phương Đông có câu “bệnh cũng từ miệng mà vào – họa cũng từ miệng mà ra” cũng
có độ đúng đắn, xác thực rất cao.
Nguyên Phong
Theo https://thuvienonline.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét