Thứ Hai, 15 tháng 9, 2025

Thiên tài bên trái, kẻ điên bên phải 1

Thiên tài bên trái,
kẻ điên bên phải 1

THIÊN TÀI BÊN TRÁI, KẺ ĐIÊN BÊN PHẢI – CUỐN SÁCH KHOA HỌC VỀ TÂM LÝ HAY CHỈ LÀ TƯỞNG TƯỢNG CỦA TÁC GIẢ?

Mình viết bài review này khi mới đọc được một phần ba cuốn sách. Bởi quả thực đây là một cuốn sách “hack não, xoắn tư duy và vặn logic”. Mỗi câu chuyện trong cuốn sách đều khiến mình bất ngờ, khi đọc luôn cảm thấy hấp dẫn và thú vị, thậm chí là kinh ngạc.
Tự nhận bản thân là “người chơi hệ tâm linh” nhưng mình không hoàn toàn tin vào những câu chuyện trong cuốn sách này. Có hai lý do chính: Một là mình chưa tìm được thông tin kiểm chứng rằng tác giả đã thực sự dành từng ấy thời gian để nói chuyện với những bệnh nhân tâm thần (hoặc người bị coi là tâm thần), không có đoạn ghi âm nào để chứng minh cả. Mình đọc được nhận xét của nhiều độc giả Trung Quốc cho rằng rất có thể đây chỉ là “một mánh lới quảng cáo” để nhằm mục đích thương mại (?). Lý do thứ hai là tác giả chỉ đơn thuần thuật lại các cuộc trò chuyện và thêm lời bình của mình chứ không đưa ra các bằng chứng khoa học hay các kiến thức tâm lý học chuyên ngành để giải thích hiện tượng và đưa ra giải pháp. Mình cũng mới đọc xong cuốn Người đàn ông tưởng nhầm vợ mình là cái mũ và những câu chuyện thần kinh hiếm gặp. Dù những vấn đề trong cuốn sách tính đến nay có hơi “lỗi thời” nhưng về cơ bản Tiến sĩ Oliver Sacks đã cung cấp cho mình một cái nhìn khách quan, khoa học hơn về các căn bệnh tâm lý tâm thần vì cơ bản ông là một bác sĩ tâm lý, một nhân vật “kinh điển” trong ngành tâm lý học. Ngược lại, Cao Minh chỉ là một tác giả viết sách, mình không chắc rằng ông thực sự am hiểu tâm lý học và những thông tin liên quan đến khoa học trong cuốn sách này là chính xác.
Vậy đây là một cuốn sách về tâm lý học, tâm thần học hay chỉ là tưởng tượng của chính tác giả?
Phải khẳng định rằng đây hoàn toàn không phải cuốn sách về tâm thần học, tâm lý học như nhiều người vẫn lầm tưởng. Nếu cuốn sách thực sự là tuyển tập những câu chuyện có thật của tác giả khi tiếp xúc người bệnh thì mình nghĩ nên đặt cuốn này vào thể loại tạp văn hồi ký sẽ phù hợp hơn là thể loại truyện hoặc chuyên ngành tâm lý học.
Nhưng mình có thể mong đợi gì hơn ở một tác giả đơn thuần?
Dù không tin vào những câu chuyện được đưa ra trong sách nhưng mình không thể phủ nhận được sự hấp dẫn của nó. Lối dẫn dắt của Cao Minh có nét gì đó dông dài mà tự nhiên, cuốn người đọc đi theo. Rất có thể, nói theo cách của Cao Minh, trình bày một cách vô trách nhiệm thì, mình sẽ điên mất nếu cứ tiếp tục đọc.
Khai thác một chủ đề mới lạ, mỗi chuyện ngắn của một bệnh nhân tâm thần đều mang đến những nội dung thú vị khác nhau. Cách cảm nhận kỳ lạ về thế giới và những suy nghĩ, giải thích tưởng chừng như vô nghĩa nhưng lại khá logic của những “người không bình thường” khiến người đọc đôi khi không phân biệt được ai mới thực sự không-bình-thường. Có một vài luận điểm trong cuốn sách mình thấy khá giống với những cuốn sách về tôn giáo tâm linh của tác giả Nguyên Phong dù cách lý giải có đôi phần khác biệt. Những điều khoa học chưa thể chứng minh không có nghĩa là không tồn tại.
Dù cuốn sách không phải về khoa học với những chứng cớ xác thực, luận điểm rõ ràng, phân tích kỹ lưỡng nhưng mình tin rằng đây là một cuốn sách có giá trị dành cho bất kỳ ai mong muốn khám phá thế giới dưới một lăng kính mới.
Ranh giới giữa thiên tài và kẻ điên thực sự rất mong manh: Thiên tài chứng minh được thế giới của mình, còn kẻ điên chưa kịp làm điều đó. Chọn trở thành một kẻ điên để vẫy vùng giữa nhân gian loạn thế hay khóa hết chúng lại, sống mãi một cuộc đời bình thường khiến bạn cảm thấy hạnh phúc hơn?
“Thế giới rất kỳ diệu, rộng lớn và bao la; thế giới rất hệ thống, nghiêm ngặt và quy tắc. Đáng tiếc chúng ta tuy tồn tại trong thế giới này, nhưng đa số chỉ cảm nhận được một phần nhỏ trong đó. Bạn hiểu tôi đang nói gì không? Hiểu biết của chúng ta hạn hẹp và phiến diện một cách phổ quát.”
Ngày hôm nay, bạn có sẵn sàng cầm cuốn sách này lên, bắt đầu với một tâm thế cởi mở, để thoát khỏi thế giới vốn quy tắc và hệ thống, cho phép mình “du hành” trên những thế giới quan đa chiều, mới lạ

Xin đừng vội đánh giá, hãy đọc và cảm nhận!
Lời nói đầu
Thời gian trôi qua thật nhanh, chớp mắt đã sáu năm.
Trước khi viết câu vừa rồi, tôi đã mất khoảng hai mươi phút để gõ ra một đống các câu từ dài dòng, kiểu như “Cám ơn độc giả”, “Cám ơn mọi người đã yêu quý”, sau khi nghĩ đi nghĩ lại cuối cùng tôi quyết định xoá hết.
Tôi đang làm gì vậy? Sao tôi phải cố nói mấy lời nịnh nọt ấy, tôi có bản Chicken Soup For Your Soul đâu. Chuyên tâm viết nội dung mới là cách tôn trọng độc giả nhất, nếu không cho dù có quỳ xuống liếm chân độc giả cũng vẫn bị chửi mắng! Vì vậy tôi thật sự không cần viết những lời khách sáo vô dụng đó, nó không quan trọng, quan trọng là nội dung cuốn sách này, không phải những lời nói đầu hay tự sự vẫy đuôi.
Lời nói đầu - Thật
Khoảng 2 giờ 30 phút sáng sớm ngày 17 tháng 8 năm 2009, tôi ngồi trước bàn phím gõ chữ đầu tiên. Bắt đầu từ đó là sự ra đời kỳ diệu không biên giới của một tân vũ trụ, rất nhiều điều lắng đọng trong ký ức của tôi đã được khơi dậy, dâng trào. Chúng vừa là vật chất vừa là ánh sáng, quyện vào nhau, quấn lấy nhau, hình thành nên một khái niệm hay ý nghĩa nào đó, chúng xuất hiện trước mắt tôi với hình hài lập thể. Trước đó tôi chưa từng nghĩ nên làm gì với các ký ức này, cũng chưa từng nghĩ cách lý giải chúng, tôi luôn cho rằng đó chỉ là một đoạn ký ức. Nhưng có thể vì kìm nén quá lâu, hoặc do thời điểm đó quá rảnh rỗi, nên tôi đã viết ra. Thật bất ngờ, quyết định viết ra này lại trở thành một lần thể nghiệm và giải đáp đầy tính công kích đối với tôi. Tôi nhớ trong cuốn Sổ tay nhà thôi miên tập hai, tôi đã viết một Cậu: “Ngôn ngữ và chữ viết là những loại virus tư duy, chúng có thể viết lại đường truyền của đại não – bao g ồm cả bản thân”
Nếu mang ra so sánh, chữ viết là bản tiến hoá của ngôn ngữ, bởi chữ viết là sự giải thích mang tính sùng bái đối với ngôn ngữ – truyền tải hàm ý sâu sắc hơn hay ám thị có tính lan toả hơn. Mỗi lần ý thức được điều này, tôi đều cảm thấy bản thân không phải đang ngồi trước bàn phím gõ chữ, mà là đang thực hiện một nghi lễ tôn giáo. Vị trí của tôi là người tổ chức nghi lễ, cũng là người tham gia, người quan sát. Đây là một trải nghiệm rất kỳ diệu.

Nghĩ được vậy tôi không còn áp lực nữa. Lời nói đầu cứ có gì nói nấy thôi, ừm, không tự ti không cao ngạo, tâm bình khí hoà.

Mấy tháng sau đó, những chữ viết này được “trình diễn” trước nhiều người hơn – được in thành sách. Tất nhiên, đối với tôi đây không chỉ là vấn đề về một cuốn sách.
Những năm trở lại đây, sau khi xuất bản cuốn sách này, tôi nhìn thấy được nhiều sự việc có ý nghĩa, tiếp xúc với nhiều cách nghĩ mới mẻ, và quen biết thêm những người bạn thú vị, nhờ vậy tôi có thể nhận thức rõ hơn về bản thân cũng như cả thế giới.
Thế giới rất kỳ diệu, rộng lớn và bao la, thế giới rất hệ thống, nghiêm ngặt và quy tắc. Đáng tiếc chúng ta tuy tồn tại trong thế giới này, nhưng đa số chỉ có thể cảm nhận được một phần nhỏ trong đó. Bạn hiểu tôi đang nói gì không? Hiểu biết của chúng ta hạn hẹp và phiến diện một cách phổ quát.
Nhớ lúc xem Avatar tôi rất ngưỡng mộ người dân hành tinh đó, họ chỉ cần đưa các xúc tu (hay một cơ quan gì khác) được giấu trong bím tóc nhỏ tiếp xúc với cây linh hồn là có thể cảm nhận được điều mà đa số những người dân địa cầu cả đời cũng không cảm nhận được – cộng hưởng cùng tự nhiên, “nhìn” bản chất của thế giới từ các góc độ của thế giới, không cần đi lòng vòng. Tôi tin rằng phương thức giao lưu tình cảm của họ cũng chân thực hơn nhiều, khi đã tiếp xúc bím tóc sẽ biết hết mọi việc, muốn nói dối cũng không có cửa. Vì vậy tôi đoán ngôn ngữ của họ tương đối đơn giản, ít nhất họ không cần những câu từ cảm động để chạm đến tim gan, tất cả giao cho bím tóc, đảm bảo chính xác, giao tiếp tâm linh tiêu chuẩn. Bản thân họ chắc cũng khó có người bị bệnh thần kinh, vì tất cả đều có thể trực tiếp truyền đạt, bao gồm cả áp lực, bối rối, hoang mang, những khúc mắc chưa thể giải thích.
Còn chúng ta không được như vậy.
Do sự khác biệt giữa các cá thể, chúng ta có vô số vấn đề và mâu thuẫn phức tạp, nhưng chúng ta lại không có bím tóc giấu xúc tu đặc biệt, vì vậy chỉ có thể dựa vào ngôn ngữ để truyền đạt tư duy. Nếu muốn nhiều người biết hơn, cần thông qua một nghi thức mang tính tôn giáo nào đó, ví dụ như văn tự để thực hiện. Điểm này gần giống phương thức người dân hành tinh Pandora giao tiếp cùng tự nhiên, ý tôi muốn nhắc đến chính bản thân nghi thức.
Nhưng dù sử dụng văn tự, chúng ta cũng không thể vượt qua sự khác biệt về cảm nhận, không thể hoàn toàn đồng cảm với nhau. Chính vì vậy mới có người mắc bệnh tâm thần. Chúng ta không thể hoàn toàn biểu đạt các áp lực, bối rối, hoang mang, khúc mắc, thế nên sản sinh ra cái gọi là tâm bệnh. Vì vậy, có thể đứng từ góc độ của người khác để nhìn nhận thế giới là một việc vô cùng đáng quý… ờ… bí từ rồi… nên nói thế nào nhỉ? Thể nghiệm? Thôi được rồi, đại khái là ý nghĩa như vậy, có thể hiểu được là tốt rồi… Bạn thấy đấy, tôi giờ đang mắc kẹt trong cách biểu đạt.
Chính từ điểm khởi đầu này, tôi nảy sinh ý tưởng tiếp xúc với các bệnh nhân tâm thần – một phương pháp rất khờ khạo để thể nghiệm những góc nhìn khác nhau. Việc đúng hay sai, tốt hay xấu, rõ ràng hay hỗn loạn, logic hay không có trình tự, tất cả đều không quan trọng (tôi không muốn tìm họ để khẳng định cảm giác tồn tại), quan trọng là một loại cộng hưởng gần giống như ý thức tôn giáo vậy. Đó chính là điều tôi muốn.
Đúng vậy, mọi việc không bắt đầu từ sáng sớm ngày 17 tháng 8 năm 2009, mà sớm hơn nữa, từ khi tôi hiếu kỳ với thế giới này, với những hiểu biết của chúng ta qua các góc nhìn khác nhau.
Cho đến nay vẫn vậy.
Sau khi lắng đọng vài năm tôi viết cuốn sách này, sáu năm sau đã có bản thứ hai bổ sung, hoàn thiện các chương còn dang dở; cũng vì vậy mà tôi viết lời nói đầu tào lao dông dài này.
Thời gian trôi qua thật nhanh, chớp mắt đã sáu năm. Nhưng tôi biết, tất cả vẫn chưa kết thúc, đây mới chỉ là bắt đầu.

Mùa thu năm 2015, Ngọc Khê, Vân Nam.
Vấn đề nhân vật
Anh: “Tôi chỉ có thể nói tôi đồng cảm với anh, nhưng không hề tội nghiệp anh, bởi suy cho cùng tôi chính là người sáng tạo ra anh.”
Tôi: “Sao anh lại là người sáng tạo ra tôi?”
Anh: “Anh chỉ là nhân vật trong tiểu thuyết của tôi, mục đích xuất hiện của anh là để tôi – nhân vật chính của cuốn sách này – thêm một số phản ứng tâm lý, sau đó dẫn dắt toàn bộ sự việc, ý tôi là toàn bộ câu chuyện phát triển tiếp theo đây”
Anh chàng trước mặt tôi mắc bệnh hoang tưởng, luôn nghĩ mình là nhân vật chính của một cuốn sách, đồng thời cũng là tác giả cuốn sách đó. Anh ta có bệnh sử hơn bốn năm rồi, ba năm trước bị nhốt vào bệnh viện. Thuốc thang gần như vô hiệu với anh ta, người nhà – vợ anh ta cũng sắp bỏ cuộc.
Do anh ta từng có biểu hiện hưng cảm nên tôi chỉ mang bút ghi âm theo, không mang giấy bút hay bất cứ vật gì có đầu nhọn. Tôi và anh ta ngồi cách nhau đủ xa, anh ta ở đầu bàn bên kia, tôi ở đầu bàn bên này, khoảng cách chừng hai mét. Anh ta ngồi chà chà tay phía dưới mặt bàn theo thói quen.
Anh: “Tôi biết điều này vượt quá phạm vi lý giải của anh, nhưng đây là sự thật. Hơn nữa, cuộc nói chuyện giữa anh và tôi sẽ không xuất hiện trong tiểu thuyết. Nó chỉ là một câu thoáng qua, ví dụ: ngày tháng năm nào, tôi gặp anh trong bệnh viện tâm thần, sau đó tôi nghĩ gì đó, đại khái là như vậy.”
Tôi: “Anh thật sự cảm thấy như vậy sao? Làm sao anh chứng minh được tôi chỉ là một nhân vật anh tạo ra? Anh nói thử xem?”
Anh: “Anh viết tiểu thuyết có nói rõ gia cảnh, thân thế của nhân vật cho độc giả biết không?”
Tôi: “Tôi chưa từng viết tiểu thuyết, tôi không biết”
Anh ta cười: “Anh chắc chắn không biết rồi. Tôi đã nói rõ thân phận hiện giờ của tôi là nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết này, tôi tràn ngập trong toàn bộ tác phẩm, nhân vật của tôi không mang thân phận tác giả, cũng không thể mang thân phận tác giả, cái gì cũng rõ rành rành độc giả sẽ không hứng thú nữa.
Tôi có thể biết thân thế của anh, nhưng không cần thiết phải miêu tả trong tiểu thuyết, nó không có ý nghĩa gì cả. Hiện giờ tôi nói chuyện với anh là do sự sắp xếp tình tiết, có điều nội dung cụ thể ngoại trừ một vài người trong truyện thì không ai biết. Độc giả cũng không biết, đây chỉ là một phân đoạn nhỏ trong kịch bản lớn.”
Tôi: “Anh biết anh ở đây bao nhiêu năm rồi không?”
Anh: “Ba năm, ở đây rất vô vị.”
Tôi: “Vậy tại sao anh không làm cho thời gian trôi qua giai đoạn này nhanh hơn? Hoặc viết một siêu nhân đến cứu anh thoát khỏi đây chẳng hạn? Người ngoài hành tinh cũng được.”
Anh ta cười ồ lên: “Anh thật thú vị! Thời gian trong tiểu thuyết như một dòng chảy và theo quy luật tự nhiên của truyện. Ba năm đối với độc giả chỉ là mấy hàng chữ, thậm chí còn ngắn hơn, nhưng trong truyện các nhân vật đều thật sự trải qua ba năm đó, yêu đương, kết hôn, sinh con, thăng chức, cãi nhau, ăn uống, cờ bạc, trai gái đủ cả. Làm sao thời gian của tiểu thuyết có thể nhảy vọt được chứ? Tôi là nhân vật chính, cần phải nhẫn nại với sự vô vị này. Còn cái gì mà siêu nhân, người ngoài hành tinh như anh nói, thật nhạt nhẽo, đây không phải tiểu thuyết khoa học viễn tưởng. Tư duy logic của anh có vấn đề.”

Tôi nhận ra anh ta nói hoàn toàn đúng, từ góc độ cá nhân của anh ta, thế giới quan vô cùng vững chắc, không thể phá vỡ.
Tôi: “Tôi hiểu rồi, ý anh là thế giới này vì anh mà tồn tại, vậy khi anh chết thì sao? Thế giới này còn tồn tại không?”
Anh: “Tất nhiên vẫn tồn tại rồi, chỉ có điều độc giả không còn nhìn thấy được nữa. Nếu tôi chết, có hai khả năng: một là tình tiết buộc tôi phải chết, hai là tôi không phải nhân vật chính. Về khả năng thứ nhất, giờ tôi không thể chết được, tiểu thuyết vẫn còn đang viết dang dở mà. Về khả năng thứ hai, tôi không cần xác nhận lại gì cả, tôi là nhân vật chính, vì tôi là tác giả.”
Tôi: “Làm sao anh chứng minh được?”
Anh: “Nếu muốn lúc nào tôi cũng có thể chứng minh được, nhưng để làm gì? Với cương vị của tôi, chứng minh bản thân là một việc buồn cười, trừ phi tôi cảm thấy cần phải làm như vậy. Nếu cần chứng minh, giờ anh có thể thử giết tôi, anh sẽ không giết được tôi đâu, các bác sĩ bên ngoài sẽ ngăn anh lại, hoặc anh có thể sẽ vấp ngã, hoặc lúc lao đến anh bị lên cơn đau tim, thậm chí anh không thể đánh thắng được tôi và suýt chút nữa còn bị tôi giết… vậy đấy”
Tôi: “Đây là tiểu thuyết gì vậy?”
Anh: “Về một số kiểu tình cảm con người, có lúc rất bình lặng nhưng lại dễ làm lay động lòng người. có những sự việc như thế mà, đúng không?”
Tôi: “Vậy anh có yêu vợ không?”
Anh: “Tất nhiên rồi, tôi viết như vậy mà”
Tôi: “Còn con cái?”
Anh ta có vẻ hơi khó chịu: “Những việc này… còn cần phải hỏi sao?”
Tôi: “Không, ý tôi là tình cảm của anh đối với họ là tình tiết sắp đặt và cần thiết cho câu chuyện, chứ không phải tình cảm tự phát của anh đúng không?”
Anh: “Logic của anh sao hỗn loạn vậy? Tôi là nhân vật chính, họ là gia đình của nhân vật chính, tình cảm của tôi đối với họ tất nhiên chân thành.”
Tôi: “Vậy tại sao ba năm trước anh lại có ý định sát hại các con anh?”
Anh: “Tôi không sát hại chúng. Tôi chỉ làm ra vẻ như vậy để dễ dàng đưa bản thân đến đây.”
Tôi: “Ý anh là anh giả vờ làm vậy? Vì muốn đến nơi này?”
Anh: “Tôi biết không ai tin, tùy thôi, nhưng đó là điều phải làm, không độc giả nào thích xem nước chảy bình lặng mãi, cần phải có cao trào.”
Tôi quyết định kích động anh ta một chút: “Nếu trong thời gian anh ở bệnh viện, vợ anh phản bội anh thì sao?”
Anh: “Tình tiết không được sắp đặt như vậy?
Tôi: “Anh chắc chứ?”
Anh ta cười: “Con người anh thật là..”
Tôi không để lỡ thời cơ: “Anh thừa nhận tôi là con người rồi? Chứ không phải nhân vật anh tạo ra?”
Anh: “Tôi tạo ra nhân vật của anh là người, hơn thế nữa anh đã hoàn thành những việc anh cần làm.”
Tôi: “Tôi đã làm gì?”
Anh: “Làm cho tư duy cảm xúc của tôi biến động.”
Tôi gần như đã rơi vào cái bẫy của anh ta.
Tôi: “Sau khi hoàn thành, tôi không còn tồn tại nữa ư?”
Anh: “Không, anh vẫn sẽ tiếp tục cuộc sống của anh, kể cả sau khi tiểu thuyết của tôi kết thúc, chỉ có điều độc giả không thể nhìn thấy anh nữa, bởi tôi sẽ không miêu tả thêm về anh cho độc giả.”
Tôi: “Vậy kết thúc cuốn tiểu thuyết này anh sẽ thế nào?”
Anh: “Ừm, vấn đề này, tôi chưa nghĩ tới…”
Tôi: “Bao giờ sẽ viết xong?”
Anh: “Có viết xong anh cũng không biết, bởi nó nằm ngoài thế giới này rồi, vượt quá phạm vi lý giải của anh.”
Tôi: “…”
Anh ta nhìn tôi hứng thú: “Nói chuyện với anh rất vui, Cám ơn, tôi đến giờ rồi.” Nói xong anh ta nhảy nháy mắt.
Cuộc nói chuyện kết thúc. Tôi có quay lại đó hai lần, anh ta không còn nói với tôi những chuyện như vậy nữa mà chuyển sang nói đủ thứ chuyện phiếm trên trời dưới biển. Sau đó không lâu, nghe nói anh ta có biến chuyển tốt, nửa năm sau được xuất viện để quan sát thêm. Anh ta xuất viện đúng hôm tôi rảnh rỗi nên tôi đã đến thăm, anh ta nói chuyện vui vẻ với bác sĩ chữa trị chính và người nhà, bạn bè, không để ý đến tôi. Lúc chuẩn bị về, anh ta chậm rãi tới bên cạnh tôi, hạ giọng nói nhAnh: “Còn nhớ cái bàn lần đầu tiên chúng ta gặp nhau chứ? Hãy xem phía dưới mặt bàn.” Nói xong anh ta cười xảo quyệt, không để ý đến tôi nữa.
Tốn bao công sức tôi mới tìm thấy cái bàn hôm tôi và anh ta gặp nhau nói chuyện lần đầu. Tôi quỳ xuống để xem phía dưới mặt bàn, rất nhiều vết móng tay, có thể nhận ra mấy chữ nghiêng ngả.
Đó là ngày tôi và anh ta gặp nhau lần đầu tiên, kèm theo dòng chữ: “Nửa năm sau rời đi.”
Sau đó rất lâu, trước mắt tôi vẫn luôn hiện lên nụ cười giáo hoạt cuối cùng của anh ta.
Tính chân thực của giấc mơ
Mất một thời gian dài tiếp xúc với nữ bệnh nhân này, chúng tôi mới có thể thật sự ngồi xuống nói chuyện với nhau, bởi cả ngày cô ấy chỉ sống trong khủng hoảng, không tin tưởng bất cứ ai – người nhà, bạn trai, bạn thân, bác sĩ, chuyên gia tâm lý, tất cả đều không tin.
Cơn khủng hoảng của cô ấy xuất phát từ những giấc mơ.
Cô ấy rất an toàn, không hề gây ra bất cứ uy hiếp nào. (Kết luận này do chính tôi đúc rút sau khi quan sát cô ấy hết lần này đến lần khác. Tôi không tin báo cáo của những người khác. Sự an toàn của bản thân tốt nhất vẫn nên do mình tự quan sát rồi kết luận mới đáng tin.) Vì vậy lần đó tôi mang đầy đủ cả bút ghi âm, giấy viết, bút chì.
Tôi: “Hôm qua cô có ngủ mơ không?”
Cô: “Tôi không ngủ.”
Gương mặt cô ấy không thể gọi là mệt mỏi, nó trắng bệch, suy sụp do cảnh giác và mất ngủ thời gian dài – có chút dấu hiệu của chứng hysteria1.
Tôi: “Cô sợ ngủ mơ?” Tôi có chút hối hận vì hôm nay đã đến nên quyết định sẽ nói chuyện cẩn thận.
Cô: “Ừm.”
Tôi: “Hôm kia thì sao? Có ngủ không?”
Cô: “Có.”
Tôi: “Ngủ có ngon không?”
Cô: “Không.”
Tôi: “Có mơ không?”
Cô: “Có”
Tôi: “Có thể kể cho tôi biết cô đã mơ thấy gì không?”
Cô: “Vẫn tiếp tục những chuyện kia.”
Lần đầu tiên ghi chép lại những mô tả của cô ấy về giấc mơ, tôi thừa nhận mình có chút ngạc nhiên, cô ấy ghi nhớ gần như toàn bộ các giấc mơ từ nhỏ đến lớn. Theo lời cô ấy kể, những giấc mơ đều có tính liên kết, nghĩa là cuộc sống của cô ấy trong giấc mơ cũng giống hiện thực, liên kết cùng dòng chảy thời gian và quan hệ nhân quả. Ban đầu, vấn đề của cô ấy là thường xuyên lẫn lộn giữa các sự việc trong giấc mơ và hiện thực, về sau cô ấy chấp nhận việc sống hai thế giới – cuộc sống hiện thực và cuộc sống trong mơ. Nhưng giờ vấn đề đã trở nên nghiêm trọng hơn, giấc mơ của cô ấy ngày càng kinh dị, đáng sợ nhất là chúng vẫn có tính liên kết. Cứ thử tưởng tượng mà xem, một bộ phim kinh dị mãi không có kết thúc.
Tôi: “Cô biết đấy, tôi đến để giúp cô, cô có thể kể cho tôi nghe các sự việc đã xảy ra trong một tháng nay không?” Tôi muốn nói đến các sự việc trong giấc mơ.
Cô ấy cắn môi, do dự một lúc mới gật đầu.
Tôi: “Tốt. Vậy đã xảy ra chuyện gì?”
Cô: “Còn nhớ Ngài Bóng không? Tôi phát hiện ra ông ta không đến để giúp tôi.”
Câu nói này khiến tôi rất kinh ngạc.
Ngoại trừ cô ấy ra, Ngài Bóng là con người duy nhất tồn tại trong giấc mơ của cô ấy, hình dáng và trang phục đều không rõ ràng mà chỉ xuất hiện mơ hồ. Ngài Bóng thường xuyên cứu cô ấy. Ban đầu tôi tưởng Ngài Bóng là sự nuôi dưỡng tình cảm xuất phát từ lòng ái mộ của bệnh nhân đối với một đối tượng nam giới nào đó trong hiện thực. Nhưng sau nhiều lần các chuyên gia thôi miên cô ấy, tôi mới phát hiện ra không phải như vậy, Ngài Bóng thật sự chỉ là nhân vật trong mơ.
Tôi: “Ngài Bóng… không phải người cứu cô sao?”
Cô: “Không phải.”
Tôi: “Đã xảy ra chuyện gì vậy?”
Cô: “Ông ta bắt đầu kéo tôi nhảy lầu.”
Tôi khẽ thở ra một hơi: “Để cứu cô thoát hiểm phải không? Trước đây cũng từng vậy mà?”
Cô: “Không phải, tôi đã phát hiện ra mục đích thật sự của ông ta”.
Tôi: “Mục đích gì?”
Cô: “Ông ta muốn tôi và ông ta cùng chết.”
Tôi cố gắng kiềm chế phản ứng của bản thân bằng cách dùng chút chiêu trò – lặp lại câu nói sau cùng của cô ấy: “Cùng chết?”
Cô: “Đúng.”
Tôi không hỏi tiếp, chờ đợi.
Cô: “Tôi từng kể với anh rồi đấy, một năm trước, ông ta đã kéo tôi nhảy lầu, nhưng lần nào cũng vậy, cứ vừa nhảy là tôi tỉnh giấc. Một năm trở lại đây càng ngày tôi càng tỉnh muộn hơn.”
Cô: “Cô muốn nói là…”
Cô ấy cố gắng lấy đủ dũng khí, hít một hơi thật sâu: “Mỗi lần ông ta kéo tôi nhảy xuống đều ở cùng một tòa nhà, ban đầu tôi không để ý, về sau mới phát hiện ra một phòng ở tầng giữa của tòa nhà đó có cái đèn chùm rất to. Hồi đầu tôi vừa nhảy đã tỉnh giấc, về sau mỗi lần nhảy lại xuống thấp hơn mấy tầng rồi mới tỉnh.”
Tôi: “Ý cô là từ khi chú ý đến cái đèn chùm, cô mới nhận ra mỗi lần mình đều tỉnh dậy sau khi đã xuống thêm mấy tầng của cùng một toà nhà?”
Cô: “Ừm.”
Tôi: “Đều là tòa nhà hơn 40 tầng cô từng kể sao?”
Cô: “Lần nào cũng vậy.”
Tôi: “Căn phòng có đèn chùm ở tầng mấy?”
Cô: “Tầng 35”
Tôi: “Lần nào cũng nhìn thấy cái cửa sổ đó à?”
Cô: “Không phải cùng một cửa sổ, nhưng các phòng của toà nhà đó có rất nhiều cửa sổ, vì vậy mỗi lần nhảy xuống, tôi đều để ý tầng 35, tôi có thể nhìn thấy cái đèn chùm to đó từ nhiều góc độ.”
Tôi: “Bây giờ đến tầng mấy mới tỉnh?”
Cô: “Sắp xuống đến một nửa tòa nhà rồi.”
Tôi: …
Cô: “Tôi có thể nhìn thấy mặt đất càng ngày càng gần tôi, ông ta nắm tay tôi, cười bên tai tôi.”
Tôi có chút đứng ngồi không yên: “Không phải lần nào cũng mơ thấy nhảy lầu đúng không?”
Cô: “Không phải”
Tôi: “Vậy ông ta còn cứu cô không?”
Cô ấy sợ hãi nhìn tôi: “Ông ta là quái vật, ông ta biết hết tất cả các con đường, tất cả các cánh cửa, cửa ra lẫn cửa vào. Khi ông ta nắm tay tôi, tôi không cách nào thoát ra được, chỉ biết chạy theo ông ta, không thể hét, không thể nói, cứ thế chạy đến tầng thượng của tòa nhà rồi cùng ông ta nhảy xuống.”
Nếu không phải đã từng điều tra kỹ các đối tượng nam giới xung quanh cô ấy, thậm chí còn mấy lần thôi miên, tôi sẽ nghĩ cô ấy từng bị đàn ông ngược đãi trước đây. Nếu vậy mọi việc lại đơn giản. Nói thật, tôi rất mong sự việc chỉ đơn giản như thế.
Tôi: “Bây giờ cô vẫn chưa nhìn rõ Ngài Bóng sao?”
Cô: “Khoảnh khắc nhảy lầu tôi có thể nhìn thấy rõ hơn một chút.”
Tôi thầm nghĩ xem có quen ai cao thủ phác họa chân dung không.
Tôi: “Mặt mũi ông ta thế nào?”
Cô ấy lại lần nữa trả lời với vẻ khủng hoảng: “Đó không phải mặt người… không phải một người… không phải…”
Tình hình không ổn, cô ấy phát bệnh rồi, tôi nhanh chóng cắt ngang cuộc nói chuyện: “Cô muốn uống nước không?”
Cô ấy nhìn tôi sung một lúc lâu mới tỉnh: “Không cần”
Không lâu sau lần nói chuyện đó, cô ấy nhập viện. Bác Sĩ rất quan tâm chú ý quan sát giấc ngủ của cô ấy, kết quả báo cáo thật sự đáng ngạc nhiên: đa phần các giấc ngủ cô ấy đều không mơ, giấc ngủ mơ thật sự diễn ra không quá hai phút. Trong lúc đó, cơ thể cô ấy bắt đầu co giật, ra mồ hôi, nhiệt độ tăng cao, rồi cô ấy giật mình tỉnh giấc. Gần như lần nào cũng vậy.
Lần cuối cùng nói chuyện với cô ấy, tôi lại hỏi về hình dáng của người đó.
Cô ấy kiềm chế nỗi sợ hãi mãnh liệt nói với tôi: “Ngũ quan của Ngài Bóng không ngừng biến đổi, phảng phất khuôn mặt của rất nhiều người, thay đổi rất nhanh trên cùng một khuôn mặt.”
Con sâu bốn chiều
 
Cậu: “Xin chào.”
Tôi: “Xin chào.”
Cậu ấy trầm tĩnh hiếm thấy so với những người cùng tuổi, ít nhiều còn mang vẻ bất cần đời, nhưng đôi mắt lại toát lên khát vọng, khát vọng được giao lưu.
Nếu thống kê các bệnh nhân tôi từng tiếp xúc và sắp xếp theo mức độ mang đến đau khổ cho tôi, người này hoàn toàn xứng đáng đứng trong top 5 dù cậu ấy chỉ là một thiếu niên 17 tuổi.
Sau bảy lần tiếp xúc thất bại, tôi quyết định dành ra hơn hai tuần để chạy khắp nơi – từ lên thư viện đến bái kiến các học giả vật lý và sinh học, thậm chí còn đi nghe các buổi thuyết giảng về vật lý mà bình thường luôn khiến tôi ngủ gật. Tôi dành thời gian xem các sách về vật lý lượng tử căn bản. Tôi bắt buộc phải làm vậy, nếu không sẽ không thể giao lưu được với cậu ta, vì nghe không hiểu.
Sau quá trình đọc sách, nhồi nhét kiến thức khổ sở, tôi lại ngồi trước mặt cậu ta một lần nữa.
Cậu ta vẫn còn vị thành niên nên mỗi lần gặp mặt đều có bố hoặc mẹ ngồi không xa phía sau, họ phải đảm bảo không làm ảnh hưởng đến cuộc nói chuyện của chúng tôi, bao gồm cả việc không gây ra tiếng ồn.
Ngồi phía sau tôi là người trợ giúp tôi dẫn đến: một giáo sư vật lý lượng tử trẻ tuổi.
Trước ánh mắt chú ý của cậu thiếu niên, tôi ấn nút bật bút ghi âm.
Cậu: “Sao anh không dẫn Giáo sư Trần đến?”
Tổi: “Giáo sư Trần tới bệnh viện kiểm tra sức khỏe nên không đến được”
Giáo sư Trần là một học giả vật lý – một cựu binh tôi từng đưa đến, nhưng hiệu quả không như tôi mong muốn.
Cậu: “Ồ, những cuốn sách tôi nói anh đã đọc chưa?”
Tôi: “Tôi không có nhiều thời gian như cậu nên không đọc được mấy, nhưng cũng đã chăm chỉ đọc một số cuốn.”
Cậu: “Ồ… Vậy anh có thể lý giải được sinh học bốn chiều tôi từng nói rồi?”
Tôi cố gắng tìm kiếm trong đại não: “Ừm… chưa lý giải được hoàn toàn, chiều thứ tư là thời gian đúng không?”
Cậu: “Đúng.” có thể thấy sự hứng thú của cậu ấy tăng lên đôi chút.
Tôi: “Chúng ta sống trong sinh học ba chiều gồm chiều dài, chiều rộng, chiều cao vật lý, đồng thời cũng trải qua trục thời gian…”
Cậu ấy thiếu kiên nhẫn ngắt lời tôi: “Ba chiều vật lý là dài, rộng, cao sao? Ba chiều vật lý là độ dài, nhiệt độ, số lượng! Không phải dài, rộng, cao! Độ dài trong đó đã bao gồm dài, rộng, cao!!!”
Cậu ấy nói không sai, tôi cố gắng để trí nhớ và cảm xúc hồi phục về trạng thái bình thường, không ngờ bản thân lại có chút căng thẳng.
Cậu: “Hay anh về đọc sách tiếp đi.” Cậu ta đuổi tôi đi không khách sáo.
Tôi: “Thật ra trí nhớ của tôi không tốt, tôi cũng mới tiếp xúc những thứ này, nhưng thật sự tôi đã đọc rồi. Tôi công nhận lúc nghe các bài giảng đó tôi đã ngủ gật, nhưng tôi vẫn cố gắng đi nghe rất nhiều, còn ghi chép lại nữa.” Vừa nói tôi vừa đặt trước mặt cậu ấy tất cả những ghi chép của tôi về vật lý trong thời gian qua.
Lúc này thành thật là cách hiệu quả nhất, cảm xúc của cậu ấy hòa hoãn lại rất nhiều.
Cậu: “Được rồi, tôi biết anh rất muốn hiểu những gì tôi nói, tôi cũng không muốn làm khó anh, tôi sẽ cố gắng nói với anh bằng phương thức anh có thể hiểu.”
Tôi: “Cám ơn.”
Cậu: “Thật ra chúng ta đều là sinh vật bốn chiều, ngoài không gian, chúng ta còn tồn tại trên trục thời gian, chỉ là bắt buộc phải tuân theo quy luật của dòng thời gian… Điều này anh hiểu chứ?”
Tôi: “Hiểu..”
Giáo sư vật lý lượng tử nhỏ tiếng nhắc tôi: “Chính là quan hệ nhân quả.”
Cậu: “Đúng, chính là quan hệ nhân quả. Cần ấn công tắc mới có thể bắt đầu ghi âm, nếu không có người ấn sẽ không thể bắt đầu ghi âm. Vì vậy có thể nói, chúng ta không phải sinh vật bốn chiều tuyệt đối, chúng ta chỉ đưa vào theo dòng thời gian, không thể đi ngược lại, nhưng nó thì không như vậy.”
Tôi: “Nó là sinh vật bốn chiều tuyệt đối cậu từng nói sao?”
Cậu: “Ừm, nó là sinh vật thật sự tồn tại trong sinh học bốn chiều, bốn chiều đối với nó cũng giống như chúng ta sống trong không gian ba chiều vậy. Như vậy tức là, một phần thân thể của nó không phải kết cấu ba chiều, mà là phi vật chất.”
Tôi: “Cái này tôi không hiểu.”
Cậu ấy cười: “Anh thử tưởng tượng đi, nếu chia thời gian thành từng đoạn, trong mỗi đoạn thời gian con người chỉ có thể nhìn thấy một phần của nó, chứ không phải toàn bộ. Có hiểu không?”
Tôi choáng váng ngần mặt ra.
Giáo sư vật lý lượng tử: “Cậu muốn nói đến giả thuyết sinh vật tuyệt đối trong thế giới sinh vật sao?”
Cậu: “Ừm… chắc không phải, sinh vật tuyệt đối có thể tồn tại trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào, vượt qua giới hạn hoàn cảnh, nhưng giới hạn sinh vật bốn chiều còn lớn hơn như vậy, có thể không liên quan đến nhân quả?”
Giáo sư vật lý lượng tử: “Có đặc tính của lực học lượng tử?”
Cậu: “Chính là như vậy?”
Tôi: “Những điều này nghĩa là sao? Tôi nghe không hiểu.” Mấy bài giảng nhập môn phần này tôi đều vừa bắt đầu đã ngủ.
Giáo sư vật lý lượng tử: “Để nói rõ vấn đề này thật sự rất khó, nói đơn giản kiểu vô trách nhiệm thì, hai đơn vị hạt không liên quan đến nhau, có thể cách xa nhau hàng vạn dặm nhưng lại tác động đến nhau… Tôi đoán là anh nghe vẫn không hiểu.”
Tôi nhớ mang máng khi nói chuyện với một học giả vật lý lượng tử nào đó cũng từng nghe qua, nhưng lúc này não bộ tôi vô cùng hỗn loạn. Tôi có một dự cảm chẳng lành: Lần nói chuyện này nhiều khả năng sẽ thất bại.
Cậu thiếu niên tiếp tục chủ đề: “Nói đơn giản nhất là, anh ở đây, nhưng không cần bất cứ thiết bị phụ trợ nào vẫn có thể điều khiển một cái bút vẽ tranh ở nhà, hoàn toàn dựa vào ý muốn của anh để vẽ, giống như máy tính truyền dữ liệu vậy, gửi một vật thể ba chiều đến một người khác ở nơi xa.”
Tôi: “Bằng cách nào vậy?”
Giáo sư vật lý lượng tử: “Không rõ, đây là đặc tính của lực học lượng tử, cũng là vấn đề các trung tâm vật lý lượng tử đỉnh cao toàn cầu đang nghiên cứu. Sao cậu lại biết được?” Câu sau là nói với cậu thiếu niên.
Cậu: “Sinh vật bốn chiều bảo với tôi, cả đọc trong sách nữa.”
Tôi: “Sinh vật bốn chiều mà cậu nói ở đâu ?”
Cậu: “Tôi đã nói rồi, một phần kết cấu của nó mang tính phi vật chất, chỉ có thể cảm nhận được.”
Tôi: “Cậu nói vậy nghĩa là nó tìm đến cậu, nói với cậu những điều này đồng thời bảo cậu nên đọc những cuốn sách nào?”
Cậu: “Sách do tôi tự tìm đọc, vì tôi không thể lý giải được cảm giác nó mang đến cho tôi.”
Những cuốn sách cậu ấy kể tên tôi đã từng thấy, một số thậm chí còn là tạp chí học thuật tiếng Anh. Một học sinh cấp ba cả ngày ôm từ điển chuyên ngành chỉ để đọc hiểu các luận văn được đăng trên tạp chí chuyên ngành.
Tôi: “Nhưng sao cậu chứng thực được cảm giác của cậu là chính xác, đúng hơn là làm sao cậu chứng minh được có ai đó mang đến cho cậu cảm giác đó?”
Cậu ấy lạnh lùng nhìn tôi: “Lùi lại hơn một trăm năm trước, nếu anh nói với một học giả vật lý hàng đầu thời đó rằng, anh chỉ cần cầm một vật không to bằng bàn tay, không dày bằng cuốn sách là có thể nói chuyện với một người ở nơi xa, nhờ vệ tinh bay quanh địa cầu và một cái thẻ bé bằng móng tay nằm trong vật đó; anh có thể ngồi trước một màn hình nhỏ bé nói chuyện với người là cách xa hàng ngàn dặm mà không cần dùng bất cứ sợi dây liên kết nào, anh xem một trận bóng ở bên kia địa cầu chỉ nhờ ấn điều khiển tivi, người đó sẽ nghĩ thế nào? Ông ta sẽ nghĩ anh bị điên! Bởi chúng vượt quá phạm trù của bất cứ ngành khoa học nào thời đó, được liệt vào dạng những điều bất hợp lý, đúng không?”
Tôi: “Nhưng thứ cậu nói là cảm giác.”
Cậu: “Đó chỉ là một từ. Trước khi phát hiện lượng tử, không ai biết nên gọi lượng tử là gì, đa số gọi là năng lượng hay gì đó. Tư duy của anh vẫn là thế giới vật chất quen thuộc, thế giới ba chiều. Điều tôi muốn nói với anh là bốn chiều, không thể dùng cái khung của ba chiều để miêu tả được, tôi nghĩ chúng ta không nên tiếp tục nói chuyện với nhau.” Cậu ấy một lần nữa ám chỉ tôi nên cút đi.
Giáo sư vật lý lượng tử: “Cậu có thể cho tôi biết sinh vật bốn chiều đó còn nói với cậu những gì nữa không?”
“Là sinh vật bốn chiều tuyệt đối.” Cậu ta sửa lại một cách thiếu kiên nhẫn.
Giáo sư vật lý lượng tử: “Đúng, nó còn cho cậu những cảm giác gì?”
Cậu: “Cách nhìn nhận của nó đối với tôi”
Tôi: “Như thế nào?”
Cậu ấy nghiêm túc quay sang tôi: “Đúng hơn là chúng ta, cách nhìn nhận của nó đối với chúng ta. Chúng ta đối với nó không phải hình dạng như hiện nay, vì con mắt của nó đã vượt qua cả thời gian. Theo cách nhìn của nó, chúng ta chỉ như những con sâu đang bò.”
Tôi không nhịn được nữa, quay đầu lại đối mặt nhìn giáo sư vật lý lượng tử.
Cậu: “Anh có thể tưởng tượng, nhìn vượt qua thời gian, chúng ta là một quái vật sâu bọ rất dài rất dài, từ trên giường trườn xuống những con đường, kéo đến trường học, kéo đến công ty, kéo đến chợ, kéo đến nhiều nơi. Vì các động tác của chúng ta ở mỗi đoạn thời gian đều không giống nhau, nên khi nhìn vượt qua thời gian, chúng ta đều là những con sâu dài. Bắt đầu từ một đoạn thời gian nào đó đến một đoạn thời gian nào đó thì kết thúc.”
Tôi và giáo sư vật lý lượng tử đều sững người nghe cậu ấy nói.
Cậu: “Sinh vật bốn chiều tuyệt đối có thể nhìn thấy trước cái chết của chúng ta, rồi mới nhìn thấy chúng ta được sinh ra, không có nhân quả trước sau. Thật ra điều này tôi đã có thể lý giải từ lâu: thời gian không trôi đi, thứ trôi đi là chúng ta.”
Sau khi cậu ấy chậm rãi nói từng câu từng chữ, chúng tôi hỏi gì cậu ấy cũng không trả lời nữa.
Lần nói chuyện đó cơ bản đã kết thúc thất bại.
Không lâu sau, cậu thiếu niên đồng ý làm một bài kiểm tra vật lý lượng tử được chuẩn bị riêng cho cậu ấy nhưng kết quả rất tệ. Không biết vì sao, sau khi nghe kết quả đó tôi có chút thất vọng. Nếu cậu ấy thật sự là một thiên tài, cậu ấy cũng chỉ có thể là thiên tài ở tương lai trăm năm sau, thậm chí xa hơn nữa, chứ không thuộc về thời đại của chúng ta. Ý tôi là đoạn thời gian? Có thể vậy.
Đến giờ tôi vẫn rất muốn biết, cái gọi là sinh vật bốn chiều tuyệt đối có hình dạng thế nào. Nó có đáng sợ không? Có lẽ mãi mãi tôi sẽ không thể biết được, cho dù nó có thật.
Viết đến đây, tôi bỗng nhớ đến một câu Goethe2 từng nói: “Chân lý thuộc về con người, sai lầm thuộc về thời đại.”
Ba chú heo con
PHẦN ĐẦU: NGƯỜI ANH KHÔNG TỒN TẠI
Rất nhiều bệnh nhân mắc trở ngại tâm lý do hồi nhỏ gặp phải các tổn thương tâm lý, một số nguyên nhân theo cách nhìn nhận của người lớn thì gần như không có nghĩa lý gì cả. Trong mắt trẻ con, những ảnh hưởng do hoàn cảnh và hành vi của người lớn xung quanh đều có thể bị phóng đại, thậm chí bị bẻ cong. Một số người vì thế mà có được năng lực người thường không có – cho dù đó không phải thứ họ mong muốn.
Ngồi trước mặt tôi là một người đàn ông cao to vạm vỡ, ngũ quan cũng khiến người khác sững sờ, nhưng nói chuyện lại nhỏ nhẹ mềm mại, khiến tôi lúc mới tiếp xúc không thích ứng nổi. Nhưng sau nhiều lần quan sát, tôi nhận ra nên gọi người đàn ông đó là “Cô ấy” thì phù hợp hơn. Văn vẻ tôi không tốt nên không miêu tả được, nhưng hãy tin tôi đi, dùng “Cô ấy” là phù hợp nhất.
Tôi: “Xin lỗi, tuần trước tôi có chút việc nên không đến được, cô sống ở đây có quen không?”
Cô: “Ừm, cũng tạm, có điều buổi đêm hơi sợ, may còn có anh trai tôi.”
Cô ấy nghĩ mình có một người anh trai, thực tế thì không – chính xác hơn là đã mất từ lâu, trước khi cô ấy sinh ra. Phiền phức là sau khi biết mình từng có anh trai, cô ấy dần dần tin rằng mình thật sự có một người anh rất tinh tế, quan tâm chăm sóc cho em gái. Khi cô ấy giết người bạn trai từng sống chung, cô ấy kiên quyết nói anh trai đã giúp cô ấy giết người.
Tôi: “Theo như cô nói anh trai cô cũng đến đây?” Bản thân tôi tự nói câu này nhưng vẫn cảm thấy một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng.
Cô ấy mỉm cười: “Đúng vậy, anh trai tốt với tôi nhất, anh ấy nhất định đi cùng tôi.”
Tôi: “Cô có thể cho tôi biết anh ấy hiện đang ở đâu không?”
Cô: “Tôi không biết anh trai đi đâu, nhưng anh ấy sẽ đến tìm tôi.”
Tôi cảm thấy gai gai lạnh, bất giác nhìn quanh bốn bức tường xi măng xám.
Tôi: “Tôi rất muốn biết cô đã sát hai bạn trai mình hay anh trai cô đã giết bạn trai cô, hay anh trai cô bảo cô làm như vậy?”
Cô ấy cúi đầu cắn môi im lặng.
Tôi: “Bản thân cô chắc biết, sự việc này dù thế nào cũng có trách nhiệm của cô, vì vậy tôi mới nói chuyện với cô nhiều lần như thế. Nếu cô không nói mà cứ tiếp tục thế này sẽ rất phiền phức. Nếu cô không muốn chứng minh anh trai mình có tham gia vào việc này, tôi nghĩ tôi sẽ không đến nữa, tôi thật sự không thể giúp cô. Cô muốn như vậy không?” Tôi cố gắng hoà nhã dẫn dắt chứ không ép buộc.
Cô ấy cuối cùng cũng ngẩng đầu lên, nước mắt vòng quAnh: “Tôi không biết vì sao mọi người đều không tin, tôi thật sự có một anh trai, nhưng anh ấy không nói gì cả, cứ như không ai nhìn thấy anh ấy vậy, tôi không biết phải làm sao nữa, nhưng cầu xin anh hãy tin tôi được không?” Nói xong cô ấy bật khóc.
Tôi tìm khăn giấy một lúc nhưng không thấy nên đành nhìn cô ấy ngồi đó khóc, cô ấy khóc rất nhỏ, úp mặt vào tay mà khóc.
Đợi cô ấy ổn hơn, tôi tiếp tục hỏi: “Cô có thể cho tôi biết anh trai cô khi nào mới xuất hiện không? Hay là lúc nào anh ấy mới nói chuyện?”
Cô ấy chầm chậm lau nước mắt: “Ban đêm, ban đêm khi chỉ có một mình tôi, anh ấy sẽ đến.”
Tôi: “Anh ấy nói những gì?”
Cô: “Anh ấy bảo tôi đừng sợ, anh ấy nói anh ấy sẽ luôn ở bên tôi.”
Tôi: “Trong giấc mơ của cô sao?”
Cô: “Không thường xuyên, anh ấy có thể bước vào giấc mơ của tôi, nhưng rất ít, anh ấy nói làm vậy không tốt.”
Tôi: “Ý cô là, anh ấy thật sự sẽ xuất hiện bên cạnh cô?”
Cô: “Ừm, bạn trai tôi từng gặp anh trai tôi.”
Tôi: “Là mơ hay tận mắt nhìn thấy?”
Cô: “Tận mắt nhìn thấy”
Tội Cố gắng trấn tĩnh lại, nhấn mạnh với cô ấy sự thật: “Mẹ cô, tất cả họ hàng, hàng xóm đều nói anh trai cô đã qua đời hai năm trước khi cô sinh ra. Cô lý giải điều này thế nào?”
Cô: “Tôi không biết vì sao họ lại nói như vậy?
Tôi: “Trừ cô ra, trong nhà cô có ai đã từng gặp anh cô không?”
Cô: “Mẹ có từng gặp anh ấy, còn nói anh ấy ngoan hơn tôi, không nghịch ngợm, không đòi cái này cái nọ, anh ấy biết nghe lời hơn tôi.”
Tôi: “Nói với cô lúc nào?”
Cô: “Lúc tôi còn nhỏ”
Tôi: “Có phải mỗi lần cô nghịch ngợm hoặc không nghe lời thì đều nói vậy không?”
Cô: “Tôi không nhớ rõ nữa, hình như không hẳn vậy, nếu chỉ là lời nói lúc tức giận tôi có thể nhận ra.”
Tôi: “Câu chuyện Ba chú heo con do anh trai kể cho Cô nghe à?”
Cô: “Ừm, hồi nhỏ tôi rất thích anh trai kể chuyện này cho tôi nghe.”
Cách đây không lâu, cô ấy từng một lần bị thôi miên, sau khi vào trạng thái, cô ấy chỉ kể đi kể lại câu chuyện Ba chú heo con, không chịu trả lời bất cứ câu hỏi nào, cứ vừa nói vừa cười. Tôi đã nghe bản ghi âm, hình như có điều gì đó ẩn giấu bên trong, nhưng tôi không muốn biết. Đoạn ghi âm đó giờ tôi vẫn giữ.
Tôi: “Anh trai cô bắt đầu kể cho cô nghe câu chuyện này từ lúc nào?”
Cô: “Lúc tôi nhìn thấy anh trai lần đầu tiên, tôi rất vui, anh ấy nói chuyện với tôi, chơi cùng tôi, kể cho tôi nghe câu chuyện Ba chú heo con. Anh ấy nói chúng cùng nhau đối phó với chó sói xám, rất đoàn kết, đặc biệt là con heo thứ ba, rất thông minh.”
Cô ấy cứ thế kể câu chuyện Ba chú heo con, tôi vẫn luôn quan sát. Đột nhiên, có điều gì đó loé sáng trong đầu tôi, tôi cố gắng nắm bắt. Bất ngờ, tôi hiểu ra! Tôi đã để sót một vấn đề lớn, giờ tôi mới thật sự bừng tỉnh. Sau khi lật giở các tư liệu trên tay, tôi chắc chắn mình đã hiểu chuyện gì đang xảy ra.
Đợi cô ấy kể hết câu chuyện, tôi luyên thuyên thêm vài câu rồi rời đi.
Vài ngày sau, tôi có video quan sát cô ấy cả ngày.
Tôi vội vàng xem để chứng thực phán đoán của mình có chính xác hay không.
Hai ngày trước mọi việc đều bình thường. Sang ngày thứ ba, cô ấy đang ngủ say thì bị ai đó gọi dậy. Cô ấy cố gắng dụi mắt, hơi sững người một chút, sau đó hưng phấn lao về phía trước, hai cánh tay cô ấy ôm chặt với mình, biểu cảm gương mặt phút chốc thay đổi.
Có thể thấy đó là một người đàn ông, một người đàn ông hoàn toàn phù hợp với tướng mạo cơ thể, đó là anh ta.
Tôi đốt một điếu thuốc, thở dài. Những cảnh phía sau không còn quan trọng nữa, xem hay không không quan trọng.
Cô ấy không có giác quan thứ sáu, cũng không bị quỷ quái bám theo, tất nhiên cũng chả có người anh trai vớ vẩn nào.
Người anh trai không tồn tại của cô ấy, chính là một nhân cách khác của cô ấy.
PHẦN SAU: ĐA NHÂN CÁCH
Khoảng một tháng sau, tính cách “Cô ấy” trong bệnh nhân đột nhiên biến mất, kể từ khi bắt đầu điều trị bằng thuốc. Xét về thời gian, tôi không nghĩ đó là do tác dụng của thuốc.
Việc như này rất hiếm xảy ra, vì vậy tôi muốn gặp bệnh nhân lần nữa. Dù tôi đã nhấn mạnh nhiều lần tôi chưa từng gặp anh ta, nhưng tôi vẫn ngồi trước mặt bệnh nhân – cho dù đó không phải cùng một người.
Sau nhiều lần tiếp xúc với anh ta, tôi phát hiện anh ta là một người rất thông minh. Lý trí, lạnh lùng, những điểm này bổ sung cho “Cô ấy” đã mất tích. Còn nữa, anh ta biết rất rõ bản thân là người đa nhân cách.

Vấn đề trước mắt của tôi là, nếu “Cô ấy” thật sự không còn nữa thì dễ, vì kẻ phạm tội là người đàn ông này, anh ta cần chịu hình phạt của pháp luật. Nếu “Cô ấy” vẫn còn, bất cứ hình phạt nào cũng sẽ áp dụng cho cả hai người – tôi muốn nói là hai nhân cách, như vậy không được hợp lý lắm.
Theo logic của tôi, về mặt tình cảm, nếu bắt buộc dùng luật pháp… việc này cũng không dễ nói lắm, đa số các quốc gia chưa hề đề cập đến vấn đề này. Nói chung việc tôi cần làm là xác định sự thống nhất của anh ta, như vậy sẽ đơn giản hơn để định tội, chứ không phải thật sự đi tìm “Cô ấy”.
Anh: “Chúng ta gặp nhau lần thứ năm rồi nhỉ?”
Tôi đếm lại: “Đúng, lần thứ năm rồi.”
Anh: “Anh còn muốn xác định mấy lần nữa?”
Tôi: “Ừm… có lẽ là hai ba lần?”
Anh: “Lâu vậy…”
Tôi: “Anh muốn nhanh bị pháp luật xử phạt?”
Anh: “Đúng”
Tôi: “Vì sao?”

Anh ta cười: “Vì tôi nhận thức được tội lỗi của bản thân không thể cứu vãn, tôi thật sự đau khổ và mong sớm bị trừng phạt để thoát khỏi nỗi khổ này. Lý do vậy được không?”
Tôi không cười, lạnh lùng nhìn anh ta.
Anh: “Đừng nghiêm túc vậy chứ. Lẽ nào anh hy vọng tôi giả vờ bị thần kinh để thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật?”
Tôi: “Nếu thần kinh, anh có thể không bị pháp luật xử phạt, anh có thể lợi dụng các bác sĩ, y tá tâm lý đã tận tâm tận lực với anh. Nhưng dù anh được sống tiếp, vẫn sẽ có một ngày anh không thoát khỏi sự trừng phạt của lương tâm”
Anh: “Sao các người phải giả làm thành nhân vậy? Sao không nhân cơ hội này giết tôi đi? Nói tôi vẫn bình thường, là kẻ giết người bệnh hoạn điên cuồng táng tận lương tâm không phải xong rồi sao?”
Tôi: “Chúng tôi không phải thánh nhân, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng hết bổn phận chứ không quyết định bằng cảm tính.”
Anh ta im lặng.
Một lúc sau, anh ta ngẩng đầu lên nhìn tôi: “Tôi giết cô ấy rồi.”
Tôi vẫn lạnh lùng nhìn anh ta, nhưng trong lòng phẫn nộ mãnh liệt.
Anh ta cũng đang nhìn tôi.
Mấy phút sau, tôi đã bình tĩnh lại. Tôi phát hiện ra có một vấn đề: Vì sao anh ta lại muốn bị pháp luật xử phạt sớm? Anh ta chắc cũng nhận thức được kết cục hành vi tội ác của mình là tử hình, vậy vì sao anh ta lại mong được chết?
Tôi: “Nói đi, động cơ của anh là gì ?”
Anh ta nhếch miệng cười: “Anh đúng là thông minh, bị anh nhìn ra rồi.”
Tôi vốn chẳng thông minh như anh ta nói, nhưng chút phân tích logic này thì tôi có.
Nếu anh ta không giết cô ấy, họ sẽ cùng dùng chung một cơ thể hình thành đa nhân cách. Bệnh đặc thù như đa nhân cách chắc chắn sẽ là nhân tố quan trọng khi cân nhắc hình phạt cuối cùng, rất có thể quyết định đó sẽ có lợi cho anh ta. Giờ anh ta lại giết cô ấy, nghĩa là nhân cách đã được thống nhất, anh ta có thể độc lập điều khiển cơ thể. Nhưng nếu vậy sẽ không có lợi cho anh ta, vì sao anh ta lại làm thế? Vì muốn chết ư? Đúng là đi ngược lại lẽ thường. Việc này cũng hoang đường như khi một người hết tạo phản lại đánh trận rồi may mắn đoạt được thiên hạ nhưng không phải để làm hoàng đế mà để huỷ diệt tận gốc quốc gia. Theo kinh nghiệm cá nhân tôi, nếu không nhìn ra động cơ nghĩa là đang có một động cơ còn lớn hơn ẩn giấu sâu bên trong. Đây chính là điều tôi nghi hoặc nhất.
Tôi: “Nói tôi biết động cơ của anh.”
Anh ta chăm chú nhìn tôi một lúc, thở dài: “Nếu tôi nói, anh có giúp tôi được chết không?”
Tôi: “Tôi không dám bảo đảm với anh, dù đó là điều cả anh và tôi đều mong muốn, tôi cũng không thể làm vậy.”
Anh ta nghiêm túc nhìn tôi, không còn cười cợt: “Anh có biết vì sao tôi thích kể cho cô ấy nghe câu chuyện Ba chú heo con không?”
Tôi: “Nguyên nhân ở đó sao?”
Anh ta không trả lời trực tiếp câu hỏi của tôi: “Những điều tôi sắp kể với anh đều là sự thật. Anh có thể cảm thấy ly kỳ, nhưng tôi nghĩ anh sẽ tin, vì vậy tôi quyết định kể cho anh biết. Nhưng trước khi tôi kể, anh có thể tắt ghi âm không?”
Tôi: “Xin lỗi tôi bắt buộc phải bật, lý do anh cũng biết đó.”
Anh ta lại thở dài: “Thôi được… tôi sẽ kể hết với anh.”
Tôi cầm bút lên, chuẩn bị ghi chép những điểm quan trọng.
Anh: “Có lẽ anh chỉ nhìn thấy tôi và cô ấy, nhưng tôi muốn anh biết, chúng tôi từng có ba người. Anh ấy đã chết trước đó rồi, không phải do tôi giết.”
Tôi ngẩng đầu nhìn anh ta.
Anh ta liếm liếm môi tiếp tục nói: “Tôi sẽ kể cho anh nghe phiên bản chân thực của câu chuyện Ba chú heo con nhé. Ba chú heo con sống trong một toà cung điện rất to, cuộc sống thời gian đầu rất hạnh phúc, mỗi chú heo đều làm các công việc theo sở trường. Một ngày kia, có hai chú heo phát hiện một quái vật đáng sợ đang đến, hai chú heo cùng đánh nhau với quái vật, nhưng quái vật quá mạnh, một chú heo đã chết. Trước khi chết, chú nói với người anh em cùng chiến đấu, hy vọng chú heo còn sống có thể đánh bại quái vật, bảo vệ chú heo bé nhất. Lúc này chú heo bé nhất vẫn không biết đến sự tồn tại của quái vật. Thế là sau cuộc chiến, chú heo còn sống sót lợi dụng kết cấu phức tạp của lâu đài đuổi vòng quanh với quái vật, đồng thời bảo vệ chú heo bé nhất, thậm chí vẫn che giấu sự tồn tại của quái vật, cứ như vậy một thời gian dài. Nhưng, chú quá yếu, không thể đánh thắng được quái vật. Trong khi đó quái vật mỗi ngày một mạnh lên, chú heo không thể làm bất cứ việc gì khác ngoài giải quyết quái vật. Đến một ngày, quái vật chiếm cứ được căn phòng quan trọng nhất trong cung điện, tuy sau đó vẫn bị dẫn ra ngoài, nhưng căn phòng quan trọng đã tổn hại nghiêm trọng. Cung điện bị tổn hại, sự thật không thể che giấu được nữa. Nhưng chú heo bé nhất vẫn rất ngây thơ, không hiểu chuyện gì đang xảy ra và tin vào lời nói dối của chú heo kia là cung điện cần sửa chữa, Sẽ không có vấn đề gì. Chú vẫn đang cố gắng bảo vệ chú heo bé nhất, vẫn thường tranh thủ thời gian rất ngắn để đến thăm, an ủi chú heo bé nhất, không muốn chú heo bé nhất biết chân tướng tàn khốc… Nhưng đây không phải bộ phim kết thúc có hậu… Cuối cùng quái vật đã phát hiện ra chú heo bé nhất và giết chết chú heo bé nhất… Chú heo cuối cùng, cũng là chú heo duy nhất thề sẽ trả thù bằng bất cứ giá nào, chú quyết định thiêu huỷ cung điện, chết cùng quái vật… Đây chính là câu chuyện thật sự của Ba chú heo con.”
Anh ta bình tĩnh nhìn tôi, nhưng trong mắt chất chứa những giọt nước mắt.
Tôi ngồi đó, hoàn toàn quên mất việc ghi chép, chỉ lắng nghe.
Anh: “Đó chính là động cơ của tôi.”
Tôi cố gắng kéo tư duy trở lại với lý trí: “Nhưng em gái anh… cô ấy không hề nhắc đến việc có hai người anh trai .…”
Anh: “Khi anh ấy chết, cô ấy còn rất nhỏ, chưa phân biệt được chúng tôi, hơn nữa chúng tôi rất giống nhau….”
Tôi: “Ồ… điều này không hợp lý, chẳng có lý do gì lại phân tách một nhân cách rất giống mình”
Anh: “Anh ấy cô đơn, bố anh ấy mất do say rượu, đây chẳng phải việc vẻ vang gì, những người xung quanh đều không cảm thông với anh ấy, ngược lại còn cười cợt anh ấy, vì vậy anh ấy tạo ra tôi. Anh ấy thề rằng sau này sẽ đối xử tốt với con cái, nhưng anh ấy không đợi được đến ngày đó, vì vậy cô bé ngây thơ kia mới xuất hiện sau tôi.”
Tôi: “Quái vật anh nói làm sao vào được? Tôi không hiểu, kiểu… kiểu… xâm nhập nhân cách? Không giải thích được”
Anh: “Không biết, có những việc mãi mãi cũng chẳng có lời giải… có thể đây là một ác mộng?”
Thật ra người hoang mang chính là tôi, tôi không biết nên nói gì lúc này.
Anh: “Tôi hiểu chuyện này nghe rất buồn cười, bản thân làm bạn với bản thân, bản thân yêu thương chiều chuộng bản thân. Nhưng nếu anh là tôi, anh sẽ không cảm thấy buồn cười.”
Tôi cảm thấy miệng khô khốc, họng không phát ra tiếng: “Ừm… nếu… anh có thể cho con quái vật đó… trở thành một nhân cách xuất hiện bên ngoài, có lẽ chúng tôi có cách điều trị…” Tôi biết những lời tôi nói không có gì chắc chắn.
Anh ta mỉm cười nhìn tôi: “Đó là một dã thú tàn nhẫn và tôi chỉ chọn báo thù.”
Tôi: “Tất cả đều là thật sao?”
Anh: “Rất hoang đường đúng không? Nhưng tôi lại cảm thấy bi ai.”
Tôi gần như đã có ý định an ủi anh ta một cách hoang tưởng: “Nếu là thật, tôi nghĩ chúng tôi có thể có cách.”
Tôi biết những lời này thật vô vị, nhưng tôi thật sự không biết nói gì.
Không lâu sau, khi tôi đang vắt kiệt não, cân nhắc xem nên viết những chuyện này ra như thế nào, tôi được tin anh ta đã tự sát.
Theo những người có mặt ở hiện trường kể lại, anh ta không hề có dấu hiệu báo trước, chỉ đột nhiên đập đầu liên tục vào tường, cho đến khi máu tươi chảy lênh láng và ngã vật ra đất.

Anh ta đã dùng cách của mình để chứng minh với tôi, anh ta không hề nói dối, cho dù anh ta có thật sự điên hay không.
Sau câu chuyện này, có một câu hỏi thường xuyên quấy nhiễu tôi: Giới hạn của thực tế nằm ở đâu? Liệu có giới hạn nào phù hợp với tất cả mọi người? Lấy gì để đo lường đây?
Tôi vẫn luôn nhớ câu cuối cùng anh ta nói, được lưu trong máy ghi âm của tôi: “Thật sự muốn được nhìn thấy lại trời xanh.”
Tập quán tiến hóa
Anh: “Điều tôi nói không phải phá bỏ, mà là có thể thử nghiệm hay không. Đương nhiên nếu ai không thích, họ có thể tùy ý lựa chọn. Nhưng ai nói phương thức sống mới mà tôi giới thiệu bắt buộc phải theo tập quán chứ? Tôi cảm thấy không gì là không thể, tại sao anh không thử? Giả dụ anh sống ở một con phố rộng rãi, mỗi ngày tan làm đều đi một con đường, đó là vì anh đã quen rồi, đúng không? Anh nên thử đi một con đường khác về nhà. Có thể trên con đường đó sẽ có rất nhiều cô gái xinh đẹp, hay đĩa bay bay qua, hoặc những cảnh đẹp khác… Lựa chọn phương thức sống mới cũng vậy, anh nên rũ bỏ quán tính, thử nghiệm phương thức mới, không nên phục tùng những thói quen đã hình thành từ lâu. Không phải thói quen nào cũng tốt, ví dụ như hút thuốc chẳng hạn, hơn nữa những điều ẩn giấu sau các thói quen lại càng phức tạp. Chẳng hạn cuối tuần mọi người đều đến bar, có người nói vì thói quen, thật ra chỉ để tán gái… thói quen là cái cớ, không phải lý do, đúng không? Vì vậy tôi thật sự cảm thấy anh cần thay đổi các thói quen một chút.”
Tư duy logic và thế giới quan của bệnh nhân trước mặt hoàn toàn không cùng một thế giới với tôi – ý tôi là góc nhìn. Anh ta đã mất gần ba tiếng đồng hồ để biểu đạt suy nghĩ của bản thân, thậm chí còn rất kiên định với điều đó và muốn thuyết phục tôi. Nói chung đây là trạng thái cố chấp phiến diện đến hoang tưởng.
Tôi: “Những điều anh vừa nói tôi có thể chấp nhận, nhưng hình như những thứ anh muốn thay đổi còn phức tạp hơn thế này. Đây không phải chuyện của một người, nó ảnh hưởng đến toàn xã hội, thậm chí ảnh hưởng đến cả văn minh nhân loại.”
Anh: “Văn minh nhân loại làm sao chứ? Rất cao quý? Không thể thay đổi? Ai nói vậy? Thần thánh nói, hay con người nói? Là con người nói, đúng chứ? Vậy thì đơn giản rồi, tôi tưởng do thần thảnh nói cơ!”
Tôi chán nản nhìn anh ta.
Anh: “Anh thật sự cần thử nghiệm, anh không thử làm sao biết được tốt hay xấu?”
Tôi: “Nghe anh nói tôi có thể coi là đã thử nghiệm. Anh nói đủ nhiều rồi.”
Anh: “Tại sao anh không thử trải nghiệm nhiều hơn?”
Tôi: “Một đĩa thức ăn được bưng lên, tôi không nhất thiết phải ăn hết mới nhận ra đĩa thức ăn đó bị thiu.”
Anh: “Ừm… Tôi không hiểu điều anh băn khoăn. Thế này đi, tôi sẽ nói cho anh từ căn bản nhé?”
Tôi cười khổ sở gật gật đầu.
Anh: “Đầu tiên, anh không cảm thấy cuộc sống của anh, những thứ xung quanh anh rất kỳ quái sao?”
Tôi: “Sao lại kỳ quái?”
Anh: “Anh phải đi làm, anh phải làm việc, anh cùng đồng nghiệp ăn cơm nói chuyện tán phét, sau đó anh tan làm, vội đi hẹn hò hoặc về nhà hoặc ra quán rượu, nếu không thì anh đi đá bóng hát karaoke rồi tắm rửa… Những việc này thật kỳ quái!”
Tôi: “Tôi vẫn chưa hiểu chỗ nào kỳ quái”
Anh: “Thôi được, tôi hỏi anh nhé, tại sao anh phải làm vậy?”
Tôi: “Hả?” Nói thật thì, tôi sững người vì câu hỏi.
Anh: “Bây giờ anh hiểu rồi chứ?”
Tôi: “Không hẳn là hiểu… Tôi cảm thấy đó là cuộc sống của tôi.”
Sự suy sụp xuất hiện trên gương mặt anh ta, tôi nghĩ tôi mới là người nên có biểu cảm đó.
Anh: “Anh chưa xem xét kỹ bản chất. Tôi sẽ lần theo sợi dây manh mối này nhé, anh làm vậy vì mọi người đều làm vậy, đúng không? Tại sao mọi người đều làm vậy? Vì chúng ta sống trong một xã hội, đúng chứ? Tại sao lại sống trong một xã hội? Vì mấy nghìn năm nay đều như vậy, đúng chứ? Tại sao mấy nghìn năm nay đều như vậy? Vì từ mấy chục vạn năm trước, chúng ta sinh sống theo bầy đàn. Tại sao lại sinh sống theo bầy đàn? Vì cơ thể chúng ta không đủ lớn mạnh, chúng ta phải tập trung lại để bảo vệ nhau, tăng thêm cơ hội sinh tồn. Một người tiền sử canh gác, những người tiền sử còn lại đi hái lượm, bắt cá… Khi có hổ đến, người canh gác nhìn thấy liền hô lên, mọi người lập tức ngừng làm việc, tất cả trèo lên cây, thế là an toàn. Về sau mọi người nghiên cứu ra vũ khí, nào là đá ném, giáo đá, rồi cùng tên, mọi người cùng nhau đi săn bắt, lúc gặp hổ không cần leo cây nữa, người ném đá, kẻ bắn tên, người đâm giáo dài, ai to gan còn lao lên cắn một miếng hoặc đá cho con hổ một phát… Anh đừng cười, tôi đang nói sự thật đấy. Loài người chúng ta đã sống như vậy vì chúng ta từng rất yếu đuối, chúng ta tập trung lại với nhau. Còn giờ đó là hành vi phá hoại! Khu rừng tươi đẹp không còn nữa, thay vào đó là thành phố. Con người ở thành phố rất an toàn, sao còn phải tập hợp lại? Bởi vì đã quen sống tập trung. Tôi nghĩ con người giờ có biết bao nhiêu vũ khí lợi hại, thì từng cá nhân cử sống riêng trong thế giới tự nhiên thôi, ở trong rừng cây, ở trên hang núi, còn tụ họp làm gì? Tại sao cứ phải sống theo tập quán từ thời tiền sử? Không thể đột phá sao? Sống ở nơi hoang dã tốt mà, cũng đừng tiệc tùng nữa, tự săn bắt, hằng ngày ăn đồ tươi, chính ra lại cao cấp đấy chứ!”
Tôi: “Vậy không phải càng phá hoại tự nhiên sao? Mọi người đều chặt cây đốn rừng làm nhà bừa bãi, săn bắt động vật hoang dã để ăn thịt…”
Anh: “Ai nói sẽ ở nhà?”
Tôi: “Vậy sống ở đâu? Trên cây?”
Anh: “Được mà, hang động cũng được.”
Tôi: “Gặp phải thú dữ thì sao?”
Anh: “Có vũ khí mà, súng hoặc vật gì đó.”
Tôi: “Súng ở đâu ra? Đạn hết thì làm thế nào?”
Anh: “Những người không từ bỏ cuộc sống bầy đàn còn đang sống trong thành phố sẽ cung cấp.”
Tôi: “Ồ, không phải tất cả mọi người đều được thả ra ngoài tự nhiên hoang dã à?”

Anh: “Con người anh sao cực đoan vậy, ai nói tất cả sẽ trở về tự nhiên? Đây chính là hậu quả của việc anh ngắt lời tôi lúc nãy đấy. Chắc chắn sẽ có những người không đồng ý sống như vậy, họ cứ tiếp tục sống trong thành phố thôi. Những người đồng ý và tự động thay đổi thói quen đã trở về với tự nhiên, giảm nhẹ áp lực cho những người sống trong thành phố rồi, vì vậy những người sống trong thành phố cần cung cấp miễn phí cho những người sống trong tự nhiên hoang dã các vật dụng sinh tồn thiết yếu, kiểu như súng này, thiết bị giữ ấm này…”
Tôi: “Vậy là quay về điểm chúng ta nói ban đầu rồi?”
Anh: “Đúng! Dưới sự hiệu triệu của toàn nhân loại, mọi người bắt đầu tự giác lựa chọn, muốn trở về tự nhiên thì trở về, không muốn thì tiếp tục sống trong thành phố, rất hay mà.”
Tôi: “Vậy anh chọn sống như thế nào?”
Anh: “Trước hết tôi sẽ phụ trách kêu gọi, khi mọi người hưởng ứng rồi, tôi mới quyết định sống như thế nào. Tôi cảm thấy lời kêu gọi của tôi sẽ được rất nhiều người hưởng ứng.”
Tôi: “Anh cảm thấy việc này có ý nghĩa không? Khi đưa ra lựa chọn sẽ có rất nhiều nhân tố bị ảnh hưởng.”
Anh: “Nhân tố gì? Khu vực? Chính trị? Đó đều là loài người tự hủy hoại nhau thôi. Bởi vậy tôi mới kêu gọi lựa chọn, muốn thay đổi tập quán sinh tồn sớm cần vứt bỏ tất cả. Quá lạc hậu! Không chừng tôi còn có thể cống hiến cho sự tiến hóa của loài người ấy!”
Tôi: “Cống hiến cái gì?”
Anh: “Qua mấy chục vạn năm nữa, người hoang dã chắc chắn sẽ rất khác người trong thành phố, tiến hóa hoặc thoái hóa, như vậy loài người trên thế giới sẽ phân thành hai loại, không chừng còn có thể tạp giao thành loại thứ ba…”
Anh ta thao thao bất tuyệt. Tôi tắt ghi âm, mệt mỏi nhìn anh ta say mê miêu tả tương lai của tạp giao một cách kích động. Người bình thường thật khó có thể nói suốt mấy tiếng đồng hồ mà vẫn còn hưng phấn – rõ ràng anh ta không phải người bình thường. Còn nhớ khi làm điều tra trước đó, một người họ hàng của anh ta đã đánh giá rất chính xác: “Tôi cảm thấy anh ta rất có tố chất làm giáo chủ tà giáo.”
Chim bay thú chạy
Cô ấy là một trường hợp vô cùng đặc biệt. Cho đến nay tôi vẫn không nghĩ nên gọi đó là bệnh án, bởi tình trạng của cô ấy đặc biệt tới nỗi tôi chưa từng nghe qua. Có thể đó là hiện tượng quay về với tổ tiên, hoặc hiện tượng tiến hóa, tôi không xác định được, thậm chí phải hai năm sau khi tiếp xúc với cô ấy, tôi mới có thêm thông tin để hiểu biết sâu hơn về nguyên nhân căn bệnh (có lẽ vậy, tôi không chắc chắn).
Từ lúc tôi đẩy cửa bước vào, ngồi xuống, đến khi lấy bút ghi âm ra, bày ngay ngắn bút, vở lên bàn, rồi ngẩng đầu lên nhìn, cô ấy đều chăm chú quan sát tôi.
Cô ấy là một thiếu nữ 19 tuổi xinh đẹp, có vẻ cởi mở, ngây thơ, tóc dài thẳng xõa vai, miệng hé mở, nhìn tôi đầy hiếu kỳ. Dung mạo cùng biểu cảm ấy thật sự dễ thương đến mê lòng.
Sau khi bật nút ghi âm, tôi phát hiện cô ấy vẫn đang nhìn tôi chằm chằm, tôi có chút ngại ngùng.
Tôi: “Ờ… Xin chào.”
Cô ấy sững lại một lúc, rồi giật mình: “Xin chào” Sau đó tiếp tục quan sát tỉ mỉ tôi đầy hứng thú.
Tôi đỏ mặt: “Cô… Trên mặt tôi có gì à?”
Cô ấy vẫn nhìn tôi: “A? Gì cơ?”
Tôi: “Tôi có chỗ nào chưa sửa soạn cẩn thận hay trên mặt tôi dính gì à?”
Cô ấy cẩn thận nhìn tôi một lượt rồi mới khẳng định: “Không, mặt anh không dính gì cả.”
Tôi: “Vậy vẻ mặt của cô… cứ nhìn tôi mãi vậy là sao?”
Cô ấy cười thành tiếng: “Thật thú vị, lần đầu tiên tôi thấy một con nhận biết nói chuyện! Ha ha ha!”
Tôi ngạc nhiên: “Tôi là con nhện?”
Lúc này tâm trí cô ấy mới hoàn toàn quay lại, không hề giấu diếm sự ngạc nhiên của mình: “Đúng vậy.”
Tôi: “Cô muốn nói là, trong tôi rất giống con nhện?”
Cô: “Không, anh chính là con nhện.”
Tôi sững sờ, cúi xuống đọc lại những miêu tả tình trạng bệnh của cô ấy, không hề thấy viết có dấu hiệu ngớ ngẩn, chỉ nói cô ấy rất hay tưởng tượng.

Cô: “Xin lỗi, tôi không có ác ý, chỉ là lần đầu tôi nhìn thấy nhện. Nói thật anh vừa bước vào đã khiến tôi giật mình, có chút sợ hãi, nhưng khi anh đóng cửa lại tôi không còn cảm thấy sợ nữa. Trông anh rất giống trong phim hoạt hình, bao nhiêu cái tay xếp ngay ngắn, lúc bày bút, giấy cực kỳ dễ thương!Ha ha ha ha!” Cô ấy cười không giống người đang trong trạng thái bệnh, mà do thật sự không kìm được.
Tôi: “Trong mắt cô tôi là con nhện sao?”
Cô: “Ừm, nhưng tôi không hề có ý khinh miệt, cũng không phải cố tình đâu. Tôi biết mọi người nghĩ tôi bị bệnh, nhưng tôi cảm thấy tôi không hề bị bệnh.” Cô ấy dừng lại một lúc, nén tiếng cười nổi tiếp tục: “Mấy năm trước tôi mới biết chỉ có mình tôi như thế này, tôi cứ nghĩ mọi người đều vậy cơ.”
Tôi: “Cô như thế nào cơ?”
Cô: “Tôi có thể nhìn mọi người thành động vật.”
Tôi: “Với ai cũng vậy?”
Cô: “Ừm.”
Tôi: “Đều là nhện à?”
Cô: “Không, không giống nhau. Đủ các loại động vật.”
Tôi: “Cô có thể kể xem có những loại động vật nào không?”
Cô: “Động vật gì cũng có. Động vật lớn cũng có, động vật nhỏ cũng có. Côn trùng không nhiều, nhện thì đây là lần đầu tiên tôi thấy, rất thú vị, vì vậy vừa rồi tôi mới cười ngớ ngẩn mãi như vậy, anh đừng để bụng nhé.”
Đối diện với một cô gái xinh đẹp, làm sao tôi để bụng được. Muốn để bụng phải để bụng người khác, ví dụ như lãnh đạo viện chúng tôi chẳng hạn.
Tôi: “Tôi không để bụng đâu, nhưng tôi muốn nghe cô kể cụ thể hơn.”
Cuối cùng cô ấy cũng bình tĩnh lại: “Tôi biết mọi người đều không thể lý giải và cho rằng tôi bị bệnh, nhưng tôi không sợ, cùng lắm tôi bảo mọi người tôi không thấy người ta là động vật nữa, vậy là được rồi. Tôi thấy anh không hề có ác ý, nên tôi sẽ kể cho anh nghe. Từ khi còn nhỏ, chính xác là từ lúc biết ghi nhớ đến giờ tôi đã vậy rồi. Khi tôi nhìn người khác sẽ có hai kiểu, nếu tôi nhìn mơ hồ sẽ thấy họ là động vật, nếu tôi nhìn tử tế thì mới là người. Anh biết kiểu nhìn mơ hồ chứ? Kiểu nhìn như ngây ra, trước mắt có chút cảm giác hư ảnh…”
Tôi: “Nhìn mơ hồ? Nghĩa là sao? Ý cô là trạng thái giãn đồng tử phải không?”
Cô: “Giãn đồng tử? Có lẽ vậy, tôi không rõ cách nói của các anh, nói chung là kiểu nhìn mơ hồ. Vì từ nhỏ đã vậy nên tôi không cảm thấy có gì đáng sợ, tuy nhiên cũng gây ra không ít phiền phức. Ở trường tiểu học chúng tôi có một giáo viên, mỗi lần nhìn mơ hồ sẽ trở thành con tinh tinh khổng lồ lỗ mũi hếch! Ha ha ha ha, lúc lên lớp thầy ấy cứ gãi gãi gáy nhìn buồn cười lắm, mà thầy ấy lại thích gãi như vậy, ha ha ha! Tôi cứ cười là thầy giáo không vui. Lúc đó còn bé, cũng không biết giải thích rõ ràng, bạn bè hỏi tôi vì sao lại cười, tôi nói con tinh tinh khổng lồ đứng gãi gáy nhìn hài quá, từ đó các bạn đều lên gọi thầy là đại tinh tinh, về sau thầy biết được, gọi bố tôi đến trường, mắng tôi một trận. Trên đường về nhà tôi kể cho bố nghe mọi việc, còn bắt chước lại hành động của thầy, bố tôi cười đến rung cả người, nhưng lại dặn tôi không được đặt biệt danh cho thấy, cần phải tôn trọng giáo viên…”
Cô ấy hưng phấn kể thêm vài câu chuyện nữa thời tiểu học, vừa nói vừa cười, tôi đành ngắt lời trò tự giải trí của cô ấy: “Đợi chút, vậy có lúc nào cô không thấy người khác là động vật không? Chỉ là người thôi ấy?”
Cô: “Không có, đều là động vật! Ha ha ha ha!”
Tội: “Thế bố mẹ cô là động vật gì?”
Cô: “Mẹ tôi là mèo, lúc mẹ tôi cáu giận bố tôi lông đằng sau lưng dựng hết lên, cả tai nữa, nhìn hung dữ lắm. Bố tôi thì là một loại cá rất to, tôi không biết đó là cá gì, chỉ biết sống ở biển, rất to, vây to, miệng to, không có răng… à, không phải không có răng, bố tôi có răng, ý tôi là lúc bố tôi trở thành động vật thì không có răng. Rất to. Không đúng, cũng không phải to lắm… Nói chung giống loài cá chuyên ăn cá bé và các sinh vật phù du tôi từng thấy trên kênh Thế giới động vật và ở thuỷ cung.”
Biểu hiện của cô ấy tuyệt đối không phải kiểu hưng phấn bệnh lý mà là hưng phấn tự nhiên, rất thành thật, đến nỗi tôi bắt đầu hoài nghi có phải khả năng nghe của mình có vấn đề.
Tôi: “Vậy cô là động vật gì?”
Cô: “Tôi là chuột chũi!”
Tôi: “Chuột chũi? Là con trong phim Mole Comes to town3
Cô: “Không không không, là con chuột chũi thật ý. Mắt rất bé, lại thường xuyên lim dim, toàn thân lông vàng ngắn ngắn, mũi ướt nhẹp màu hồng, chân tay đều hồng hồng, móng thì như cái xẻng… đây là điều tôi không thích nhất.”
Tôi: “Cô soi gương là thấy à?”
Cô: “Ừm, nhìn trực tiếp cũng thấy. Tôi mà tự nhìn tay tôi thì không thể nhìn mơ hồ được, tôi không thích, nếu không có móng mà chỉ là tay hồng hồng thôi thì tốt quá…” Cô ấy cúi xuống nhìn tay mình, mặt đầy nuối tiếc.
Tôi nắm chặt bút không biết nên viết gì, đành hỏi tiếp: “Có bao giờ cô nhìn người khác nhưng không thành động vật không? Một khoảnh khắc nào đó chẳng hạn?”
Cô ấy cẩn thận suy nghĩ: “Ừm… không có, đúng thật là không có… Đúng rồi! Có! Khi tôi nhìn ảnh, xem tivi, xem phim thì đều là người, tôi cũng không biết vì sao?

Tôi cảm thấy khó lý giải, cô ấy trông rất bình thường, không có chút biểu hiện bệnh lý nào, không vội vàng gấp gáp cũng không cố chấp hoang tưởng, tính tình vui vẻ hoà đồng, không kích động vô cớ, nhưng những điều cô ấy nói thì không thể tin được. Tôi quyết định bắt tay tìm hiểu từ chính bản thân mình.
Tôi: “Cô thấy tôi là một con nhện như thế nào?”
Cô: “Tôi chỉ mới nhìn thấy mỗi loại như anh, để tôi xem.” Nói xong cô ấy dựa lưng vào ghế bắt đầu mơ hồ nhìn tôi.
Tôi quan sát, đúng là cô ấy đã thả lỏng cơ mắt và giãn đồng tử.
Cô: “Anh… trên người có vằn, nhưng đều là những đường thẳng, giống như vẽ lên vậy… các tay của anh… không đúng, là chân, rất dài, có điều không có lông như những con nhện thật… anh giống như bằng nhựa ý.”
Tôi không biết nói gì nữa.
Cô: “Ừm, lúc anh vừa cúi đầu nhìn tờ giấy trong tay, tôi mơ hồ thấy như anh đang kết tơ… Mắt anh rất sáng, như bóng đèn ý, còn có thể phản quang, mồm không có răng to… hai hàm to như của con châu chấu…”
Tôi cảm thấy có chút ghê tởm liền cắt lời: “Thôi được rồi, đừng nhìn nữa, tôi cảm thấy mình đáng sợ quá.” Tôi cúi đầu xem kỹ bản ghi chép miêu tả về cô ấy.
Cô: “Anh lại đang giăng tơ rồi!”
Tôi ngẩng lên: “Tơ như thế nào?”
Cô ấy dừng trạng thái mơ hồ, cẩn thận suy nghĩ lại: “Ừm… đầu tiên không biết kéo từ đâu ra một sợi tơ, sau đó quấn trên chân trước, rồi lại kéo ra một sợi, lại quấn lên chân trước, xếp rất ngay ngắn…”
Tôi: “Rất nhanh à?”
Cô: “Không, lúc nhanh lúc chậm.”
Tôi chợt nhận ra, đó là lúc tôi cúi đầu sắp xếp lại suy nghĩ của bản thân.
Tôi: “Cô lại nhìn mơ hồ xem, nếu tôi kết tơ thì nói nhé.”
Tôi đoán cô ấy nhìn thấy tôi đang giăng tơ khi tôi suy nghĩ…
Cô: “Lại đang giăng tơ rồi!”
Tôi không xem tư liệu hay viết gì, chỉ đang suy nghĩ.
Tôi: “Có lẽ tôi đã hiểu chút ít về tình trạng của cô rồi. Cô có từng nhìn thấy loài động vật nào rất kỳ lạ không?”
Cô: “Không, đều là loài tôi biết, tuy có những loài tôi không gọi được tên, còn kỳ lạ thì… đúng là không có.”
Tôi nghĩ cô ấy sở hữu một khả năng cảm nhận đặc biệt, mạnh mẽ hơn người bình thường, khi cô ấy nhìn con người sẽ trực tiếp phản chiếu thành một loài động vật. Nhưng tôi cần xác định kỹ hơn, bởi chuyện này quá kỳ quặc.
Mấy tuần sau đó, tôi tìm hiểu tập tính của một số loài động vật cũng như tìm hiểu về bố mẹ cô ấy, tuy có chút khác so với tôi nghĩ nhưng không quá nhiều.
“Mẹ mèo” là một người cẩn thận, tỉ mỉ, nhưng ngoại hình luôn khiến người khác có cảm giác cẩu thả; “bố cá” là cá đuối ma, bình thường chậm rãi, nhưng tâm hồn khá trẻ trung, gặp cái gì cũng thấy hiếu kỳ. Còn về “Cô chuột chũi”, đúng là khá hình tượng. Nhìn thì rất cởi mở nhưng thực chất lại nhút nhát, nghịch ngợm phá rối linh tinh thì được chứ chuyện lớn chắc chắn không dám làm. Do tò mò nên tôi quyết định để cô ấy gặp mấy người đồng nghiệp của mình, cô ấy đều kể tên các loài động vật có đặc điểm tính cách phù hợp với họ, khiến tôi rất ngạc nhiên.
Cứ nghĩ đến việc thế giới của cô ấy là hổ, ác là, chó, gấu, thỏ, mực, tôi lại cảm thấy ít nhiều có chút ngưỡng mộ.
Về sau tôi không thể nhận định được cô ấy có vấn đề bệnh lý thần kinh gì, mà cũng không thể coi là bệnh lý thần kinh được – hoàn toàn nhờ tính cách cởi mở của cô ấy. Có điều tôi dặn cô ấy không nên kể với bất cứ ai về chuyện này nữa, nó sẽ khiến cô ấy gặp phiền phức không đáng có. Nhưng tôi không cho cô ấy biết tôi rất khao khát có được tài năng đáng kinh ngạc đó như thế nào.
Khoảng hai năm sau, một người bạn học y nói với tôi về một cơ quan sinh học: cơ quan phát hiện mùi (cơ quan Jacobson hay Vomeronasal, vomeronasal organ), rất nhiều loài động vật đều có cơ quan này. Đó là cơ quan cảm giác nhận biết đặc biệt, động vật nhờ cơ quan này để thu thập các vật chất hoá học tồn lưu trong không khí, từ đó phán đoán giới tính của đối phương, lường trước nguy hiểm, thậm chí dùng để săn bắt động vật khác. Đây chính là giác quan thứ sáu của nhiều loài động vật mà chúng ta hay nhắc tới. Loài người tuy vẫn còn cơ quan này nhưng đã bị thoái hoá cao độ. Lúc đó tôi lập tức nhớ tới miêu tả của cô ấy về chính bản thân mình: chuột chũi – xúc giác luôn mạnh hơn thị giác. Có lẽ cơ quan phát hiện mùi của cô ấy đặc biệt phát triển. Tất nhiên đó chỉ là suy đoán của tôi. Có điều, nói một câu hơi vô trách nhiệm thì: Có những lúc mắt thấy nhưng chưa chắc đã là sự thật.
Điểm kết thúc của sinh mệnh
 
Có một bệnh nhân tâm thần cả ngày không làm gì, chỉ mặc bộ áo mưa màu đen, giường ô hoa ngồi xổm ở một góc tăm tối ẩm ướt trong vườn, cứ ngồi xổm như vậy, cả ngày không động đậy. Khi bị bắt đứng dậy anh ta cũng không giãy, nhưng nếu có cơ hội sẽ lại mặc đồ giương ô chui vào góc cũ ngồi xổm, rất kiên trì, cố chấp. Nhiều chuyên gia và bác sĩ thần kinh đã đến gặp anh ta, lằng nhằng mấy ngày liền nhưng đến một câu trả lời cũng không có. Thế là mọi người bỏ cuộc, kết luận rằng bệnh nhân không còn cách nào cứu chữa. Một hôm có chuyên gia tâm lý đến, ông ta không hỏi gì, chỉ mặc đồ y hệt bệnh nhân, cầm ô hoa ngồi xổm cùng anh ta, ngày nào cũng vậy. Sau một tuần, cuối cùng bệnh nhân đó cũng chủ động mở miệng, anh ta nhè nhẹ khều chuyên gia tâm lý, thì thầm hỏi: “Anh cũng là nấm à?”
Đó là một câu chuyện cười tôi đã nghe từ rất lâu. Có buồn cười không?
Tôi thì không thấy buồn cười.
Những chuyện tương tự như vậy tôi đều đã từng làm. Tất nhiên tôi không phải chuyên gia tâm lý, cũng không chắc sẽ chữa khỏi cho bệnh nhân, nhưng tôi cần được cô ấy công nhận thì mới có thể hiểu thế giới quan của cô ấy.
Cô ấy từng là một giáo viên giỏi, về sau đột nhiên thay đổi. Mỗi ngày ngoại trừ lúc ăn, ngủ, đi vệ sinh, cô ấy đều ngồi xổm trước đá hay hoa cỏ, tỉ mỉ nghiên cứu, thậm chí có lúc còn nằm thì thầm nói chuyện với bất cứ thứ gì trước mặt cô ấy lúc đó, có thể là hòn đá, cái cây, hoặc chẳng gì cả, nhưng cô ấy vẫn kiên trì, suốt mấy năm không nói chuyện với ai, chỉ một mình một thế giới. Chồng con cô ấy đều lo đến phát điên mà cô ấy chẳng hề quan tâm.
Sau nhiều lần nói chuyện thất bại, bên cạnh cô ấy xuất hiện thêm một người hành động y hệt, đó là tôi.
Có điều tôi không giống cô ấy, tôi chỉ giả vờ, tay nắm chặt bút ghi âm sẵn sàng bật bất cứ lúc nào.
Mười mấy ngày đó quả thật rất gian nan. Những lúc không có việc bận, tôi lại chạy đến giả vờ nghiên cứu hoa cỏ, hòn đá. Nếu cứ tiếp diễn thế này, tôi đoán tôi cũng sẽ sớm nhập viện.
Sau nửa tháng, cô ấy bắt đầu chú ý đến tôi, thậm chí còn như thể vừa mới phát hiện ra.
Cô: “Anh đang làm gì vậy?”
Tôi giả vờ như cũng vừa phát hiện ra cô ấy: “A? Sao phải nói với cô? Thế cô đang làm gì?”
Cô ấy không ngờ tôi hỏi ngược lại nên sững ra một lúc: “Rốt cuộc anh đang làm gì?”
Tôi: “Tôi không nói cho cô biết.” Nói xong tôi tiếp tục giả vờ hứng thú ngắm nghía ngọn cỏ đã héo trước mặt.
Cô ấy khều khều tôi, cũng nhìn ngọn cỏ đó.
Tôi giả vờ thần bí che lại không cho xem.
Cô ấy ngẩng đầu nhìn tôi: “Cái này tôi xem rồi, chẳng có gì đặc biệt cả, đằng kia nhiều lắm.”
Tôi: “Cô không hiểu gì cả, cái này không giống” ”
Cô ấy tò mò hỏi tôi: “Không giống như nào?
Tôi: “Tôi không nói cô biết!”
Cô: “Nếu anh nói tôi biết không giống như thế nào, tôi sẽ nói cho anh nghe những điều tôi biết.”
Tôi giả vờ ngây thơ nhìn cô ấy. Tôi cảm thấy biểu hiện lúc đó của mình không khác gì một thằng ngốc.
Tôi: “Thật chứ? Nhưng những gì cô biết chưa chắc hay hơn những điều tôi biết.”
Biểu cảm trên gương mặt cô ấy như thể đang nín cười nhìn một đứa con nít: “Anh sẽ không thiệt đâu, điều tôi biết là một bí mật lớn, chắc chắn hay hơn anh! Thế nào?”
Tôi biết cô ấy đã kiên định hơn, thái độ nói chuyện với tôi như thể đang nịnh nọt, tôi cần cho cô ấy cảm giác ưu việt.
Tôi: “Nói lời phải giữ lời?”
Cô: “Giữ lời, anh nói trước đi”
Tôi mở tay ra: “Cô xem, đầu ngọn có một con sâu, ngọn cỏ này héo là do sâu ăn.”
Cô ấy nhìn tôi vẻ không tán thành: “Cái này thì có gì chứ, điều anh biết chả là gì cả.”

Tôi không chịu thua phản bác lại: “Vậy cái cô biết cũng chả có gì hay cả!”
Cô ấy cười: “Điều tôi biết rất đặc biệt, chưa ai phát hiện ra cả!”
Tôi giả vờ không hứng thú, cúi đầu tiếp tục ngắm ngọn cỏ và cả con sâu không hề tồn tại (toát mồ hôi).
Cô ấy nói một cách khoe khoang: “Cái đó của anh quá thấp cấp, không tính là sinh mệnh cao cấp.”
Tôi: “Sinh mệnh cao cấp là gì?”
Cô ấy cười thần bí: “Nghe tôi nói đi, anh sẽ giật mình đó!”
Tôi bán tín bán nghi nhìn cô ấy.
Cô ấy kéo tôi ngồi xuống đất: “Anh biết chúng ta là con người chứ?”
Tôi: …
Cô: “Ban đầu tôi cũng không cảm thấy gì, sau đó tôi phát hiện ra con người chưa đủ cao cấp. Anh biết rất nhiều nhà khoa học đều đang tìm kiếm tinh cầu giống trái đất không? Bởi vì sao? Để tìm sinh vật tương tự con người”
Tôi: “Cái này tôi biết từ lâu rồi!”
Cô ấy cười: “Anh đừng vội, nghe tôi nói đã. Ban đầu tôi không hiểu, vì sao họ muốn tìm sinh vật giống con người? có thể sinh vật trên tinh cầu đó đều là người máy, cũng có thể sinh mệnh của họ được tạo thành từ silicon… Anh biết sinh mệnh con người cơ bản được tạo thành từ nguyên tố gì không?”
Tôi: “Carbon chứ sao, cái này ai chẳng biết!”
Cô: “Ý? Anh biết cũng nhiều đấy… Ban đầu tôi nghĩ, các nhà khoa học kia thật là ngốc, phải giống các sinh vật trên trái đất mới là sinh vật sao? Thật là ngốc. Có điều, về sau tôi hiểu ra, các nhà khoa học không ngốc. Nếu người ngoài hành tinh ở trên tinh cầu kia không giống con người, không hít thở oxy, không ăn các hợp chất carbohydrate, mà họ hít axit sulfuric, ăn nhựa cũng có thể sống, thì chúng ta rất khó giao tiếp với họ. Vì vậy, các nhà khoa học không ngốc, họ tìm môi trường giống trái đất, mọi người đều hít khí oxy, đều uống nước ăn rau bắp cải, như vậy mới có điểm chung, hình thái sinh mệnh cơ bản tương đồng mới có khả năng giao tiếp với nhau, đúng không?”
Tôi khinh thường nhìn cô ấy: “Đây là phát hiện của cô?”
Cô ấy kiên nhẫn giải thích: “Đó không phải phát hiện của tôi, tôi suy nghĩ sâu hơn. Nếu sinh mệnh đã có nhiều hình thức như vậy, có thể một số đồ vật bên cạnh chúng ta cũng có sinh mệnh, chỉ là chúng ta không biết mà thôi. Vì vậy tôi bắt đầu nghiên cứu chúng, tôi nghĩ tôi có thể tìm thấy hình thức sinh mệnh mới trên trái đất.”
Tôi: “Vậy cô đã phát hiện ra sinh mệnh nào rồi?”
Cô ấy cười thần bí: “Kiến, biết chứ? Đó là hình thức không giống chúng ta!”
Tôi: “Phì! Trẻ con cũng biết kiến là côn trùng!”
Cô: “Nhưng, mọi người đều không biết, thật ra kiến là tế bào”
Tôi: “Hả? Tế bào gì cơ?”
Cô: “Thế nào, anh không biết đúng không? Tôi nói cho anh biết, thật ra kiến là một loại tế bào sinh mệnh, tôi đặt tên là sinh mệnh lỏng lẻo. Kiến chúa chính là đại não, kiến lính là tổ chức phòng vệ của cơ thể, kiến thợ đều là tế bào, cũng là miệng, là tay, dùng để tìm thức ăn, truyền tin, duy trì đại não. Kiến chúa làm đại não phải kiếm thêm cơ quan sinh sản. Lúc kiến thợ tập trung vận chuyển thực chất chính là máu đang vận chuyển chất dinh dưỡng, kiến thợ kiêm rất nhiều công năng, còn phải dạy dỗ các tế bào mới sinh – chính là kiến con. Sự truyền đạt tín hiệu giữa kiến với nhau dựa vào vật chất hoá học, đúng không? Con người cũng vậy, anh không cần chỉ huy tế bào của anh, giữa các tế bào tự thân giải quyết! Anh hiểu không? Thực tế kiến là một loại hình thức sinh mệnh khác, chứ không đơn giản chỉ là côn trùng. Anh đã từng nuôi kiến chưa? Chưa nuôi đúng không? Anh nuôi mấy con kiến, sau vài ngày chúng sẽ chết, dù mỗi ngày đều được cho ăn chúng cũng chết, bởi mất đi sự chỉ huy của đại não. Anh phải nuôi rất nhiều con thì chúng mới sống được, giống như lấy một mảnh mô người để nuôi dưỡng vậy, có điều chúng dễ sống hơn mô người. Khi nhìn kiến, chúng ta chỉ thấy chúng đang bò, thật ra chúng ta vẫn chưa thấy hết mọi vấn đề! Con kiến chỉ là tế bào. Cả đàn kiến mới có sinh mệnh hoàn chỉnh! Sinh mệnh lỏng lẻo!”
Tôi cảm thấy rất thần kỳ, nhưng tôi muốn biết nhiều hơn: “Chỉ có vậy thôi sao?”
Cô: “Không, hòn đá rất có thể cũng có sinh mệnh, chỉ là hình thái không giống. Chúng ta thường nghĩ, sinh mệnh có mắt, mũi, tay, chân, thật ra hòn đá là một loại sinh mệnh khác. Nhìn thì tưởng không cử động, nhưng thực chất chúng cũng biết cử động đấy, chỉ là quá chậm, chúng ta không cảm nhận được mà thôi. Chuyển động của chúng dạng bị động, gió thổi, nước xô, động vật ném đi. Nhưng hòn đá không muốn chuyển động, và chuyển động linh tinh chúng sẽ chết.”
Tôi: “Hòn đá làm sao mà chết được?”
Cô: “Bị mài mòn hết thì sẽ chết.”
Tôi: “Cô cần chứng minh hòn đá có sinh mệnh trước thì sau đó mới chứng minh được hòn đá có thể chết chứ?”
Cô: “Khi hòn đá bị mài mòn, vụn rơi xuống có thể là đất, cát, trái đất được tạo thành từ đó, đúng không? Các chất dinh dưỡng trong đất giúp trồng lương thực, trồng rau, động vật và con người ăn chúng, kể cả ăn thịt cũng vậy, chỉ khác nhau về mặt hình thức! Con người chết đi sau khi được chôn cất sẽ mục rữa hóa thành tro bụi, trở lại làm các chất dinh dưỡng trong lòng đất, cát và đất chứa thành phần dinh dưỡng đó kết tinh lại với nhau thành đá, hòn đá chính là sinh mệnh.”
Tôi: “Sao lại thành sinh mệnh?”
Cô ấy nghiêm khắc nhìn tôi: “Đại não là thịt, tại sao lại có tư duy?”
Tôi ngây người.
Cô ấy cười đắc ý: “Không biết đúng không? Kết tinh lại với nhau chính là sinh mệnh! Con người là vậy, sinh mệnh lỏng lẻo tạo thành từ kiến cũng vậy, hòn đá cũng vậy, cát và đất kết tinh lại với nhau sẽ có tư duy, đó chính là sinh mệnh! Hòn đá không nghe hiểu được chúng ta nói chuyện, cũng không cho rằng chúng ta có sinh mệnh. Theo cách nhìn của chúng, động tác của chúng ta quá nhanh, sinh ra quá nhanh, chết đi quá nhanh. Anh lấy đá để xây nhà, hòn đá còn chưa cảm nhận được sự thay đổi cơ. Vài trăm năm sau nhà có thể đã sập từ lâu, các hòn đá xây nhà lại trở thành hòn đá bình thường, vì vài trăm năm đối với hòn đá chả là gì cả. Với cách nhìn của hòn đá, dù chúng ta có đứng yên cả đời, chúng cũng không nhìn thấy chúng ta, vì dòng đời chúng ta quá ngắn!”
Tôi há hốc mồm.
Cô ấy bình thản nhìn tôi: “Thế nào? Anh thấy không ổn rồi đúng không? Việc tôi cần làm bây giờ là tìm cách giao tiếp với hòn đá. Nghiên cứu xong vấn đề này, tôi sẽ tìm hiểu tiếp xem có sinh vật nào cũng giống hòn đá đang nhìn loài người không. Có thể nó ở ngay trước mắt chúng ta mà chúng ta không nhận ra.” Nói xong cô ấy cười đắc ý rồi lại ngồi xổm xuống trước một hòn để ngắm nhìn tỉ mỉ.
Tôi không giả vờ nghiên cứu ngọn cỏ nữa, đứng dậy nhẹ nhàng rời đi, sợ làm phiền cô ấy. Khoảng hơn một tháng sau tôi luôn để ý đến các hòn đá bên đường.
Sinh mệnh lâu dài của hòn đá dưới góc nhìn của con người dường như không có điểm kết thúc.
Mùi vị của quả táo
Anh ta mất tích sắp được một tháng, gia đình tìm không thấy, họ hàng bạn bè cũng tìm chẳng ra, không ai biết anh ta đi đâu. Cảnh sát phá cửa nhà anh ta mới phát hiện anh ta đang trần truồng ngồi trên sàn, ngơ ngác nhìn những con người vừa xông vào.
Thế là, vài ngày sau, tôi ngồi trước mặt anh ta.
Anh: “Khi biết họ nghĩ tôi bị điên, tôi cười muốn chết.”
Tôi:…
Anh: “Đúng là tôi không tốt, tôi chỉ nói đi công tác một tuần, nhưng không để ý, một tháng…”
Tôi: “Anh ở nhà một mình đã làm gì?”

Anh ta cười xảo quyệt: “Nếu tôi nói tôi không làm gì, anh tin không?”
Tôi: “Anh thật sự không làm gì sao?”
Anh ta nghĩ một chút: “Nhìn thì là như vậy.”
Tôi: “Tại sao vậy?”
Anh: “Ừm… Não của tôi rất bận…nói như vậy anh có hiểu không?”
Tôi: “Một phần”
Anh: “Tôi đang giải phóng tinh thần.”
Tôi hỏi lại: “Ý anh là thiền?”
Anh: “Không, không, không phải cái đó. Không giống lắm, tôi không nói rõ được, có điều, tôi bắt đầu như vậy từ mấy năm trước rồi.”
Tôi: “Bắt đầu như nào?”
Anh: “Anh đừng vội, tôi sẽ kể từ đầu cho anh hiểu nhé. Tôi vô tình đọc được câu chuyện Đạt Ma chín năm quay mặt vào vách thiền định, tôi cảm thấy tò mò muốn biết ngài đã làm những gì, ngồi nhiều năm như vậy ngài lĩnh hội được gì. Tôi vốn là người rất hiếu kỳ, tôi thật sự muốn biết.”
Tôi: “Anh theo Thiền tông? Có ý định xuất gia không?”
Anh: “Không có, không có. Tôi nghĩ thế này, tôi nói là tôi nghĩ thôi, xuất gia chỉ là hình thức, không cần câu nệ hình thức làm gì. Tin Phật giáo thì cứ tin thôi, ai nói đi làm thì không được tin theo chứ? Ai nói phải ở trong chùa mới có thể thanh tâm quả dục? Tín ngưỡng, tín ngưỡng, bản thân đã không tin, đi chùa có ý nghĩa không? Quay về chủ đề chính… Tôi đọc trong sách, người xưa động chút là lên núi tu hành, chủ yếu đi một mình… Đưa nữ nhân đi cùng thì không tính, đó gọi là vấn đề sinh hoạt… Chỉ có một mình, ở trên núi vài năm khi quay về đều trở nên lợi hại. Cả trong tiểu thuyết kiếm hiệp cũng vậy, động chút là bế quan, không màng thế sự. Có điều người xưa so ra thì giỏi hơn, tu luyện trong núi xong có thể cưỡi gió mà đi.”
Tôi cười: “Có các yếu tố nghệ thuật phóng đại mà? Trong thơ còn viết ‘Tóc dài ba nghìn trượng’ cơ.”
Anh: “Ừm, đúng, nhưng tôi không định bay, tôi chỉ muốn biết cảm giác đó như thế nào”
Tôi: “Thế là anh liền…”
Anh: “Đúng, tôi bắt đầu từ bốn năm trước rồi”
Tôi: “Bốn năm trước?
Anh: “Đúng, nhưng ban đầu không lâu như vậy, với cả mỗi năm chỉ một lần. Lần đầu tiên chưa đến bốn ngày, càng về sau càng lâu.”
Tôi: “Cuối cùng anh cũng nói chuyện chính rồi.”
Anh ta cười: “Tôi cần nói rõ với anh lý do mà, nếu không tôi sẽ bị gọi là kẻ tâm thần mất.”
Tôi: “Ha ha, kẻ tâm thần”
Anh ta cười rất vui vẻ: “Ừ, kẻ tâm thần. Lần đầu tiên tôi xin nghỉ phép năm. Trước đây tôi đã chuẩn bị đủ nước, rất nhiều bánh màn thầu to, tôi nói với bố mẹ tôi đi công tác, rồi một mình ở nhà tắt điện thoại di động, rút dây điện thoại, khoá cửa, cuối cùng sập cầu dao.”
Tôi: “Sập cầu dao?”
Anh: “Tôi sợ tôi không chịu được lại xem tivi hay gì đó nên sập cầu dao. Sau đó tôi không làm gì cả, chỉ ngồi trong nhà. Không đọc sách báo tạp chí, không giao lưu, khát thì uống nước, đói thì ăn màn thầu, buồn ngủ thì ngủ, tỉnh thì dậy. Nếu có thể, tôi cũng không mặc quần áo. Nói chung là cố hết sức để cắt đứt liên hệ với văn minh hiện đại, không làm bất cứ việc gì, nằm, đứng, đi lại, ngồi, trồng cây chuối đều được, tuỳ ý.
Tôi tò mò nhìn anh ta.

Anh: “Lúc mới bắt đầu, sau khoảng vài tiếng, tôi có chút hưng phấn, não bộ hỗn loạn, cái gì cũng nghĩ. Nhưng chỉ nửa ngày là tôi chán, không biết làm gì, tôi đành ngủ. Ngủ dậy đã là đêm, không có điện, thật ra cũng không cần thiết phải bật đèn, dù sao tôi cũng không làm gì. Lúc đó tôi rất muốn xem có ai gửi tin nhắn cho mình hay gì đó không nhưng tôi nhịn được. Cứ thế ngơ ngẩn đến sáng sớm, tôi cảm thấy tốt hơn, não bắt đầu nghĩ đến những chuyện vốn nghĩ không ra.”
Tôi: “Những chuyện gì?”
Anh: “Đều là những chuyện vô vị, ví dụ như hồi nhỏ bị bố đánh ác quá hay gì đó. Tối ngày thứ hai là khó chịu nhất, lúc đó não trống rỗng, nhưng chính vì vậy lại càng cảm thấy vô vị. Tôi bắt đầu nhớ đến mùi vị các món ăn ngon, bởi vì mồm miệng đã nhạt nhẽo tới mức muốn sụp đổ, không phải đói, là thèm. Thật sự 48 tiếng đầu tiên là khó vượt qua nhất, vì không có gì để làm, lại không bình tĩnh được.”
Tôi: “Ăn thì sao?”
Anh: “Không muốn ăn, bởi màn thầu và nước lọc không có vị. Cái này chắc anh không hiểu đâu. Tôi mơ hồ chút cảm giác đang ăn ngô luộc uống coca, tỉnh dậy thấy miệng toàn mùi ngô luộc và coca. Thật đấy, anh đừng cười, thèm đến mức sinh ra ảo giác luôn.”
Tôi: “Vậy tại sao anh vẫn kiên trì?”
Anh: “Chưa đến hai ngày mà, với cả tôi cảm thấy có thứ xuất hiện.”
Tôi: “Xuất hiện cái gì?”
Anh: “Nghe tôi kể đã. Khi gần được 48 tiếng, trong lúc mơ màng, tôi cảm giác có chuyện gì đó rất thú vị, nhưng lại buồn ngủ nên ngủ mất. Tỉnh dậy, tôi phát hiện có điều gì đó không giống như trước nữa. Tôi cảm nhận được sự tồn tại của cảm giác, rất chân thực, không phải kiểu nửa giả nửa thật.”
Tôi: “Cảm giác gì?”
Anh: “Không phải cảm giác gì, mà là cảm giác thật sự tồn tại. Cảm giác này rất kỳ diệu, khi anh bị thông tin của các loại cảm quan dìm ngập, anh không thể cảm nhận được sự tồn tại của cảm giác, ít nhất là không cảm nhận rõ. Giống như một lớp sương mỏng nổi trên bề mặt. Mỗi lần tiếp xúc với người mới hoặc sự vật mới, cảm giác giống như các xúc tu bắt đầu đi thám hiểm, sau đó phản hồi lại thông tin cho chúng ta một cách trực tiếp nhất. Nghĩ lại có những lúc đối diện với người lạ, chúng ta dễ gắn cho họ một cái thẻ ngay từ đầu, nếu cái thẻ đó đánh giá rất tệ, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của chúng ta, hơn thế còn duy trì rất lâu, đấy chính là ấn tượng mà cảm giác tạo thành. Mỗi khi để ý đến một người, xúc tu cảm giác sẽ khởi động trước, cho dù đó chỉ là một người lạ gặp trên đường. Anh có gặp tình trạng này chưa? Đối diện một người lạ, anh mỉm cười hoặc không thèm để ý đến nữa. Đó là do cảm giác trực tiếp tạo thành. Đương nhiên đối phương cũng đang dùng các xúc tu cảm giác để tìm hiểu anh, song phương thôi. Sau khi tự mình phong bế 48 tiếng, tôi liên tục suy nghĩ về sự tồn tại của cảm giác, cả kinh ngạc lẫn hiếu kỳ. Bởi vì cảm giác đã bị sắc, mùi, vị bình thường áp chế quá lâu, tôi cảm thấy suy cho cùng đây là một thế giới phức tạp và hỗn loạn, để có thể nhận thức rõ sự tồn tại của cảm giác rất khó, hoặc có thể nói thế này, rất dễ, nhưng ít người muốn làm.”
Tôi do dự một lúc rồi hỏi: “Lúc đó anh đã tỉnh dậy?”.
Anh: “Tỉnh dậy rồi, thậm chí còn tỉnh dậy khi chưa mở mắt, vì vậy tôi mẫn cảm lạ thường, hoặc có thể nói, thông tin cảm giác đến với tôi rõ ràng lạ thường. Lúc nhỏ anh có trải qua cảm giác như thế này không, đã đến lúc phải dậy mà anh vẫn chưa dậy được, nhưng anh lại thấy mình đang đánh răng rửa mặt ăn sáng xong xuôi, còn ra khỏi cửa nữa, sau đó anh đột nhiên tỉnh giấc, hoá ra anh vẫn chưa dậy! Đó chính là cảm giác đi trước.”
Tôi: “Hình như từng có lần như vậy, nhưng tôi nghĩ đó là giả tưởng hoặc nằm mơ, hay phân tích từ mặt tâm lý học..”
Anh: “Không đúng, không đúng, không giống như vậy, chắc chắn không giống. Mức độ chân thực của nó vượt quá giả tưởng hay nằm mơ, anh cứ thử sẽ rõ. Năm đầu tiên tôi chỉ ngộ ra cảm giác đã thấy rất thú vị. Mấy năm sau tự phong bế khoảng một tuần, cơ bản không vấn đề gì?
Tôi: “Bế quan một tuần?”
Anh: “Hả? Bế quan? Ha ha, đúng, bế quan một tuần. có điều, thứ đằng sau cảm giác càng ngày càng thú vị.” Nói rồi anh ta cười thần bí.
Tôi cũng cười nhìn anh ta.
Anh: “Thường sau bốn năm ngày bế quan, cảm giác cũng nhạt dần, do không được tiếp xúc với những vật lạ, giai đoạn phía sau có thể sẽ vượt qua cả cảm giác. Nói có thể vì tôi chưa xác định được sau đó là gì, tôi cứ tạm gọi là sự tồn tại của tinh thần. Sau cảm giác, cái xuất hiện tiếp theo chính là tinh thần. Tất nhiên tôi không có ý định di chuyển đồ vật hay bay lung tung, nhưng tôi lờ mờ cảm nhận được sự tồn tại của tinh thần vẫn rất ý nghĩa, cụ thể thế nào tôi khó biểu đạt rõ ràng, nói một cách thời thượng thì chỉ có thể hiểu không thể nói ra, nói một cách dân dã thì có thêm nhiều nhận thức vốn không có. Nhận thức tôi nói ở đây bao gồm tất cả, lật tung mọi thứ trong trí nhớ lên rồi lọc lại một lượt sẽ hiểu hơn đôi chút: những việc trước đó vốn không rõ giờ rõ hơn, những việc không nghĩ ra giờ nghĩ ra, những vấn đề tưởng như đi vào ngõ cụt giờ trở nên đơn giản… Đại khải vậy. Trạng thái đó rất thú vị, như kiểu cưỡi ngựa không cương thoải mái tinh thần phi nước đại vậy… ừm… Hình dung thế nào nhỉ? Trạng thái? Cũng có thể… có thể kéo dài bao lâu tôi cũng không rõ, mười mấy tiếng hai mươi mấy tiếng hoặc lâu hơn, khái niệm về thời gian đã nhạt nhoà rồi, điều này rất rõ ràng!”
Tôi: “Không thể miêu tả rõ hơn sao?”
Anh: “Ừm, căn bản tôi không giải thích rõ được, tôi chỉ có thể khái quát cho anh vậy thôi. Thật ra kế hoạch lần này của tôi là hai tuần, không ngờ lại kéo dài lâu như vậy… Lúc họ bước vào, tôi lờ mờ cảm thấy phía sau tinh thần còn có điều gì đó, tôi không nói rõ được, kiểu vừa đấy đã tan biến. Chỉ là trong thoáng chốc tôi cảm thấy một điều rất thần kỳ nhưng không thể tìm lại được còn một điểm nữa, có lẽ do ít vận động, khi ở trạng thái lĩnh hội tinh thần, một ngày tôi ăn rất ít, tôi không dễ đói, thật đấy.”
Tôi: “Anh cảm thấy phía sau tinh thần là gì?
Anh: “Tôi không biết, tôi đang nghĩ đây… Cái đó, không dễ diễn đạt… Cho tôi thêm chút thời gian, có lẽ tôi sẽ biết. Có điều, tôi thật sự đã hiểu ra nhiều điều, vì thế tôi nghĩ việc cao nhân như Đạt Ma quay mặt vào vách bao nhiêu năm rất có thể xảy ra, không những thế ngài ấy còn chẳng hề cảm thấy nhàm chán… có phải anh thấy tôi rất nhàm chán không?”
Tôi: “Tôi không nghĩ vậy, những điều anh nói rất có ý nghĩa.”
Anh ta lại cười xảo quyệt: “Vậy tôi sẽ nói cho anh biết một bí mật nhé. Mỗi lần bế quan tôi đều chuẩn bị một quả táo để bắt đầu cho việc quay lại từ đầu.”
Tôi: “Táo? Để ăn?”
Anh: “Ừm, nhưng, cuối cùng mới ăn. Đó mới là mùi vị của quả táo!”
Tôi: “Táo? Mùi vị gì?”
Anh ta lim dim mắt, say mê nhớ lại: “Mỗi khi quyết định kết thúc, tôi sẽ mang quả táo đã chuẩn bị trước đi rửa thật sạch, lạ lẫm nhìn những chấm vô cùng nhỏ trên lớp vỏ, ngơ ngẩn một lúc, rồi cắn một miếng thăm dò… Tôi đoán đa số mọi người đều không biết mùi vị thật sự của quả táo! Tôi nói anh biết nhé: lúc dùng răng cạp vỏ, hương vị thanh mát nguyên bản nhè nhẹ xộc lên phá vỡ điểm ngưỡng, dần dần lan toả trong miệng, mùi vị cũng trở nên nồng đậm. Khi chầm chậm nhai, nước quả trào lên đầu lưỡi, xoá bỏ vị giác khô khốc một cách tàn bạo và mãnh liệt… Từng hạt tế bào trong thịt táo tranh nhau vỡ ra, giải phóng nhiều mùi vị hơn. Cả vỏ và thịt quả bị cắt thành các mảnh rất nhỏ di chuyển giữa hàm răng, mùi vị như sóng xung kích truyền đến từng góc trong miệng. Hương thơm thanh nhẹ của táo cùng nước quả chảy xuống nơi sâu nhất cổ họng… Trời ơi. Vị giác vừa được rửa sạch thành thật truyền thông tin đến đại não… Tất cả cảm quan sau mấy ngày bị quên lãng, được tinh thần và cảm giác chi phối giờ nhờ một quả táo đã phục hồi trở lại! Chẹp chẹp, bây giờ nhớ lại tôi vẫn chảy nước miếng.”
Nhìn sự kích động toát lên qua từng câu từng chữ của anh ta, bỗng dưng trong lòng tôi dấy lên ham muốn với quả táo.
Tôi không kìm được nuốt nước miếng: “Anh thử qua loại quả khác chưa?”
Anh ta lại nuốt nước miếng: “Vẫn chưa, lần nào tôi cũng nghĩ lần sau sẽ thử quả khác! Nhưng đến lúc đó tôi lại thèm cảm giác kích thích mà quả táo mang đến… thật sự, nói một câu cực kỳ kém cỏi là: vì quả táo, anh nên thử, hai ngày là thành công.”
Tôi đã bị miêu tả của anh ta lây nhiễm: “Sau đó thì sao?”
Anh ta ngơ ngẩn một lúc rồi mới hồi tỉnh: “Sau đó? Ồ, sau đó tìm lại cảm giác của bản thân, không phải vì những ngày hồn phách du lạc đó mà định từ bỏ xác thịt, anh sẽ càng kiên định kiểm soát xác thịt hơn. Điều đó chân thực đến mức tôi làm gì cũng cảm thấy rất thực tế. Đó là thống nhất, rõ ràng. Tôi cảm thấy linh hồn tha hương đã quay lại rồi.”
Hôm đó trở về nhà, tôi mua vài quả táo, sau đó bày một quả lên bàn rất lâu, để đặt câu hỏi cho bản thân: Tôi thật sự biết mùi vị của tảo không?
Khoan sọ
PHẦN ĐẦU: NGƯỜI TÌM KIẾM DỊ NĂNG
Vị này tự tìm đến nhà, hình như là họ hàng của bạn của bạn, nói chung đủ kiểu dây mơ rễ má thì tìm đến được tôi, quan hệ giống như kiểu “tôi là hàng xóm của bạn của em họ của siêu nhân”.
Anh ta ăn mặc phong cách, sạch sẽ gọn gàng, dáng vẻ không đến 40 tuổi, nhìn có vẻ là kiểu người thông minh khôn ngoan. Tôi có cảm giác anh ta là người có thành tựu trong sự nghiệp, nói chung không phải kiểu người hằng ngày lo lắng miếng cơm manh áo – ý tôi muốn chỉ thần thái. Mục đích anh ta tìm tôi rất đơn giản… nhưng sau đó sự việc lại thành phức tạp.
Sau khi hàn huyên, anh ta nhanh chóng vào đề.
Anh: “Anh biết về khoan sọ chứ?”
Tôi: “Thủ thuật não khoa?”
Anh: “Đúng.”
Tôi: “Có chuyện gì vậy?”
Anh: “Tôi muốn làm, nhưng không phải vì bị bệnh, mà là tôi muốn làm.”
Tôi: “Anh nói đến những người có sở thích xăm mình ở nước ngoài? Tôi khuyên anh đừng làm.”
Anh: “Không phải kiểu đó, mà liên quan đến thần học và tôn giáo.”
Trong đầu tôi mơ hồ có chút ấn tượng, hình như tôi đã được nghe trong một bài giảng nào đó, cũng từng xem qua ít tư liệu liên quan, nhưng rất ít, chỉ lướt qua.
Tôi: “Của Châu Âu cổ đại?”
Anh: “Chính xác, xem ra anh cũng có biết chút ít, rất nhiều người không biết.”
Tôi: “Thật ra tôi cũng không biết nhiều..”
Anh: “Anh biết như nào?”
Tôi: “Chỉ biết có liên quan đến tôn giáo. Nói chung là khoan lỗ trên sọ, cũng có kiểu mở hẳn hộp sọ…”
Anh: “Ừm, chính là như vậy. Thật ra thủ thuật mở sọ đã tồn tại từ mấy nghìn năm trước với rất nhiều phương thức, có khoan lỗ, cắt một miếng, còn có kiểu mở hẳn xương hộp sọ. Mục đích ban đầu là gì thì không thấy có bất cứ ghi chép nào, giới khảo cổ trước giờ cũng chưa lý giải được, họ chỉ cho rằng có thể để giảm đau đầu hoặc một kiểu hợp thời trang. Có điều, vài thế kỷ trước Châu Âu đã có ghi chép về phương pháp này, còn khá tường tận.”
Tôi: “Ừm, tôi biết là ở Châu Âu. Nhưng anh nói xuất phát từ vài nghìn năm trước, cái đó có liên quan đến Châu Âu không? Không có tài liệu lịch sử ghi chép chính xác đúng không?”
Anh: “Không có, nhưng mấu chốt vấn đề không quan trọng ở cách nói”
Tôi cười: “Không phải anh muốn thực tiễn chứ?”
Anh ta không trả lời trực tiếp câu hỏi của tôi: “Vì sao làm như vậy, có lẽ anh biết chứ?”

Tôi: “Hình như thời đó các đoàn thể tôn giáo chú ý đến việc con người lúc sơ sinh hộp sọ không khép kín, có một khe hở rất lớn, dân gian hay gọi là “thóp”. Con người thời kỳ phôi thai trong tử cung, não bộ sẽ không phát triển quá to, để khi sinh ra được thuận lợi, tránh dẫn đến khó sinh. Sau khi ra đời cho đến khi thóp khép lại, đại não ở trạng thái phát triển nhanh. Từ một đến hai tuổi, khe hở đó dần khép kín, canxi hoá, trở thành xương sọ bảo vệ não bộ. Giữa xương sọ ở đỉnh đầu người trưởng thành đều có dấu vết sau khi khép kín.”
Anh: “Không sai, chính là như vậy. Sau khi khe hở xương sọ khép kín, khoang sọ trở thành khép kín, thể tích não không tăng lên, do có áp lực nội sọ, máu không còn chảy một lượng lớn về não bộ như trước nữa. Một số tổ chức tôn giáo đã chú ý đến điều này, họ đặt giả thuyết liệu có thể tạo lỗ nhân tạo trên hộp sọ để giảm áp lực nội sọ, giúp máu chảy lượng lớn về não bộ như thời sơ sinh, tạo sự sinh trưởng nhân tạo lần hai cho não bộ, vì thế có loại thủ thuật này.”
Tôi: “Hoá ra là như vậy à…”
Anh: “Ừm, trepanation, cũng chính là khoan sọ.”
Tôi: “Anh tin vào điều này?”
Anh: “Tại sao lại không tin?”
Tôi có chút ngạc nhiên: “Tôi nhớ vỏ não và màng não của người trưởng thành không cho phép đại não tiếp tục phát triển to hơn mà? Hơn nữa khoang sọ cũng chỉ to như vậy…”
Anh ta cười rất tự tin: “Không sai, xương người trưởng thành đã canxi hoá rồi, khoang sọ to như vậy dù khoan xong dung tích não cũng không thể tăng lên. Nhưng áp lực nội sọ giảm đi, đại não sẽ nhận được nhiều màu và chất dinh dưỡng hơn trước.”
Tôi cảm thấy anh ta nói cũng đúng, nhưng không công nhận: “Vậy có ảnh hưởng trực tiếp đến việc nâng cao trí lực không? Điều này hiện nay vẫn chưa đủ căn cứ khoa học đúng không?”
Anh: “Trước mắt với tất cả những ghi chép tôi được biết thì giới y học và giới khoa học đều chưa thể giải thích.”
Tôi: “Anh… đã đọc qua?”
Anh: “Đúng”
Tôi: “Anh gần đây đã tiếp xúc với nhân vật tà giáo nào vậy? Nhân dân toàn quốc đều biết cái Công gì đó chỉ là vớ vẩn.” Tôi nửa đùa nửa thật.
Anh ta cười lớn: “Không liên quan gì đến tà giảo cả, tôi tự nghiên cứu vấn đề này cũng bốn năm rồi. Anh thật hài hước.”

Tôi thành thật nói với anh ta: “Việc đó rất nguy hiểm, nếu tôi nhớ không nhầm thì ngày trước ở Châu Âu có rất nhiều người sau khi làm thủ thuật đã bị phơi nhiễm cuối cùng chết. Hơn nữa dịch tuỷ não ở trong khoang sọ là để bảo vệ não, anh tuỳ tiện mở hộp sọ sẽ có thể bị lây nhiễm, hoặc làm đại não bị tổn thương, việc đó thật sự rất nguy hiểm.”
Anh ta cũng thành thật nhìn tôi: “Thủ thuật thô sơ ngày xưa không thể so sánh với y học hiện đại được, hơn nữa tôi cũng không định làm to, chỉ cần mở một lỗ trên xương sọ là được, rất nhỏ, đường kính khoảng bằng ngón tay, sau đó dùng da bên ngoài đắp lên khâu lại. Tôi chỉ muốn giảm áp lực nội sọ”.
Tôi: “Sau đó thì sao? Anh muốn đạt được điều gì? Nói câu thật lòng thì tôi cảm thấy anh đã rất thông minh rồi, thật đấy.”
Anh ta lại cười lớn một cách thâm sâu: “Anh thật sự rất hài hước, cái tôi muốn không phải điều đó.”
Tôi: “Vậy anh muốn gì?”
Anh: “Đa phần các tư liệu trong tay tôi đều ghi chép thế này: một phần ba những người từng làm trepanation4, sau khi làm thủ thuật không lâu đã có khả năng lạ.”
Tôi hoài nghi nhìn anh ta: “Anh muốn nói…”
Anh: “Một số người có thể nhìn thấy ma quỷ, vong linh, một số người có thể nhìn trước tương lai, một số người đạt được giác ngộ nào đó, một số người có được năng lực như điều khiển đồ vật, còn có người trí tuệ phi phàm, thậm chí có người còn biết bay.” Cặp mắt luôn trầm tĩnh của anh ta lộ rõ vẻ hưng phấn.
Tôi: “Chuyện này không đáng tin, những ghi chép của Châu Âu phần nhiều do các nhà cầm quyền tôn giáo tự bịa ra, ma cà rồng gì đó đánh nhau với con người suốt mấy năm, kiểu vậy, tôi không tin”
Anh ta không quan tâm đến sự hoài nghi của tôi: “Những người anh quen biết có người nào từng làm vậy chưa?”
Tôi: “Chưa, chưa ai điên như vậy.”
Anh ta mỉm cười nhìn tôi: “Vậy sắp có rồi.”
Tôi không biết nên khuyên anh ta thế nào, cũng chẳng nói lại anh ta. Anh ta đã nghiên cứu suốt mấy năm, như vậy chắc chắn biết nhiều hơn tôi về phương diện này. Hơn nữa, tôi cũng không có chứng cứ nào đủ mạnh để phản bác lại, tôi chỉ biết lặp đi lặp lại nhưng không cách nào giải thích được. Nói thật là tôi rất bất lực.
Tôi: “Vì sao anh lại nói với tôi những việc này? Vì sao lại cần đến tìm tôi?”
Anh: “Tôi không biết sau khi làm trepanation sẽ có phản ứng gì. Nếu có, tôi mời anh tham gia nghiên cứu. Không chỉ có mình anh, bác sĩ não khoa, bác sĩ thần kinh, nhà lịch sử Châu Âu, thậm chỉ nhà dân tộc học tôi đều đã nói chuyện rồi, đều hỗ trợ tôi. Khi tôi làm thủ thuật xong, nếu có dị năng, các anh đều có thể tham gia sâu hơn, coi tôi như vật thí nghiệm cũng được. Đồng thời, tôi sẽ trả tiền cho các anh.”
Nói thật tôi cảm thấy anh ta cần khám bệnh rồi, thật sự.
Tôi: “Đến lúc đó có lẽ tôi cũng không giúp được gì cho anh, tốt nhất anh đừng làm, nếu anh nằm trong số hai phần ba thì sao? Vậy là khoan sọ vô ích rồi?”
Anh: “Vậy coi như tôi đã cống hiến cơ thể mình cho khoa học đi.” Nói xong anh ta lại cười lớn.
Tôi cố gắng hết sức để khuyên nhủ nhưng anh ta vẫn kiên quyết muốn làm, tôi cũng chẳng còn cách nào khác, anh ta đã quyết tâm rồi.
Mấy ngày sau, tôi tìm đọc một số tài liệu liên quan, tài liệu tiếng Trung rất ít, đa số là tài liệu ngoại văn. Tôi đưa một phần tài liệu nhờ người dịch, sau khi đọc cảm thấy toàn những tài liệu không có căn cứ, do các tôn giáo không chính thống viết ra. Tìm hiểu một chút thì được biết, người đàn ông đó không phải người có cuộc sống đau khổ, bất mãn nghiêm trọng với xã hội hay vợ đi với người khác, đi làm bị đồng nghiệp chèn ép, đều không phải. Tôi không hiểu một người đang có mọi thứ tốt đẹp như vậy tại sao lại tự hành hạ bản thân đến thế. Tôi nghĩ có lẽ anh ta rảnh rỗi quá.
Khoảng một tháng sau, anh ta nhắn tin cho tôi: Chiều nay làm phẫu thuật, chúc tôi may mắn đi!
PHẦN SAU: NHƯ HÌNH VỚI BÓNG
Khoảng ba tuần sau khi người tìm kiếm dị năng làm thủ thuật khoan sọ, tôi nhận được điện thoại của anh ta, nói cần gặp tôi ngay. Nghe giọng nói khẩn cấp của anh ta, tôi không dám từ chối. Nói thật tôi cũng rất muốn biết sau khi phẫu thuật anh ta thế nào.
Có điều, khi gặp anh ta, tôi biết, anh ta đã rất sợ hãi.
Tôi nhìn anh ta bước vào.
Tôi cảm thấy có gì đó không ổn, vẻ trầm tĩnh vốn có của anh ta không còn nữa, tóc tai bù xù như đám cỏ, thần sắc hoảng loạn. Nếu phải nói về khí chất thì – khí chất của phạm nhân bỏ trốn. Hơn thế, ánh mắt anh ta toát lên sự lo lắng bệnh lý.
Tôi mở cửa mời anh ta vào phòng: “Xin chào, sao gấp vậy? Bị tổ chức tà giáo để ý à?” Tôi đùa.
Anh ta bất an nhìn bốn phía, ánh mắt đầy khủng hoảng.
Tôi không đùa nữa. Khi cả hai ngồi xuống, tôi lấy bút ghi âm ra, bật lên.
Tôi: “Anh… vẫn ổn chứ?”
Anh: “Tôi không ổn, có vấn đề rồi”

Nhìn anh ta gấp gáp lôi điếu thuốc ra, tôi biết không thể ngăn cản, đành đứng lên đi mở cửa sổ.
Anh: “Tôi làm phẫu thuật rồi” Vừa nói anh ta vừa vén tóc lên, có thể thấy trên trán một vết cắt hình vòng cung, hình như rút chỉ chưa lâu. Bên trong vết thương hình vòng cung, một miếng da đường kính tầm ngón tay cái người lớn hơi lõm vào bên trong, không rõ lắm.
Anh: “Ban đầu không có vấn đề gì, chỉ đau một chút, tôi uống thuốc tiêu viêm mấy ngày vì sợ nhiễm trùng. Tôi cứ luôn hy vọng có kỳ tích xảy ra, tuần đầu tiên không có gì cả, nhưng sau đó có chuyện kỳ quái đã xảy ra. Tôi phải tìm đến nhà dân tộc học, ông ta làm ít bùa đưa tôi treo đầu giường, nhưng không có tác dụng. Tôi sợ quá, vì thế tôi đến tìm anh.”
Tôi: “Anh đến bác sĩ não khoa và bác sĩ thần kinh chưa?”
Anh: “Nếu không nhìn thấy, người ta sẽ không tin, vì vậy tôi tìm hai người đầu tiên.” Chắc anh ta muốn nhắc đến tôi và nhà dân tộc học kia.
Tôi: “Vậy hãy kể tôi biết đã xảy ra chuyện kỳ quái gì, anh nhìn thấy cái gì?”
Anh: “Không phải kỳ quái, mà là kinh dị”
Tôi đợi anh ta nói.
Anh ta hít một hơi thuốc: “Tôi có thể nhìn thấy ma quỷ.”
Tôi: “.. Ở đâu?”
Anh: “Nơi nào ánh sáng không chiếu đến là có.”
Tư duy và ngôn ngữ hỗn loạn của anh ta hiện giờ khiến tôi rất đau khổ: “Anh có thể kể lại hoàn chỉnh chuyện gì đã xảy ra không?”
Anh ta mất một lúc để định thần lại: “Khoảng một tuần trước, tự dưng nửa đêm tỉnh giấc, tôi cảm thấy trong nhà ngoài tôi ra còn có thứ khác. Lúc đầu tôi còn chưa mở mắt, sau đó nghe thấy âm thanh, tôi tỉnh hoàn toàn”
Tôi: “Âm thanh gì?”
Anh: “Tiếng xé rách thứ gì đó.” Anh ta lại đốt một điếu thuốc. Nhân tiện nói luôn, cả quá trình anh ta gần như hút thuốc không ngừng.
Anh: “Lúc đó tôi không hề mơ màng, tôi nhìn rõ có thử bên cạnh giường tôi, hình như đang dùng tay kéo gì đó, tôi sợ quá, hét to một tiếng rồi bật đèn lên. Thứ đó cứ như sương vậy, mờ dần đi rồi biến mất.”
Tôi: “Anh có nhìn rõ đó là thứ gì không?”
Trong mắt anh ta hiện lên vẻ khủng hoảng cao độ: “Là hình người gầy nhỏ, hình như đang moi nội tạng của mình ra, còn rất mạnh tay… ngũ quan tôi nhìn không rõ, đáng sợ quá, tôi không chịu nổi…”
Tôi có cảm giác anh ta sắp suy sụp đến nơi nên vội vàng đứng lên rót cho anh ta cốc nước. Anh ta uống hết, tôi lại rót thêm, anh ta chậm chạp cầm cốc nước trong tay, ánh mắt đờ đẫn.
Tôi: “Ngày nào cũng vậy sao?”
Rõ ràng anh ta không để ý đến tôi: “Ngày hôm sau tôi tới gặp nhà dân tộc học, anh ta nói là ác quỷ gì đó rồi đưa tôi một số bùa giấy, dặn tôi treo đầu giường sẽ không việc gì. Tôi không dám ngủ, ngồi trên ghế sofa đợi. Đến khi buồn ngủ quá không chịu nổi, tôi mới nhắm mắt một chút, vừa mở mắt ra, thứ đó lại đến, ngồi ở cửa chỗ ánh đèn không chiếu tới, dùng sức lôi các thứ trong bụng ra ngoài… Tôi cầm cái bùa còn lại, lấy hết dũng khí hét lên, nó ngẩng đầu nhìn tôi cười, tôi nhìn thấy một hàng răng nhọn rất nhỏ..”
Tôi: “Là gương mặt người à?”
Anh: “Không biết, tôi không nhìn rõ.”
Tôi: “Anh chuyển ra ngoài sống đi, tạm thời đừng ở trong nhà nữa.”
Anh ta tuyệt vọng nhìn tôi: “Không có tác dụng, những ngày qua tôi đã thử rồi, khách sạn, nhà bạn, trong xe, đều không có tác dụng. Người khác không nhìn thấy được! Rõ ràng ở đó nhưng không ai nhìn thấy! Mà không cần đến đêm, chỉ cần chỗ hơi tối nó cũng xuất hiện, nó theo tôi khắp nơi. Chỉ cần ở nơi hơi tối một chút, nó lại xuất hiện, từ từ, không ngừng lôi nội tạng của mình ra ngoài, tôi thật sự không chịu đựng nổi cái âm thanh xé rách da lôi ra ngoài đó…”
Tôi: “Ừm… anh đã từng thử nói chuyện hoặc tiếp xúc với nó chưa..” Tôi nói mà còn cảm thấy không đáng tin.
Anh: “Nó trong suốt, tôi ném đồ cũng xuyên qua được…”
Tôi thấy trên mặt anh ta mồ hôi chảy như tắm.
Tôi: “Những thứ đó cũng không làm hại anh phải không?”
Anh: “Nội tạng của nó sắp lôi ra hết rồi, các buổi tối gần đây lôi ra ngày càng ít. Tôi có thể nhìn thấy tay nó tìm trong bụng rất lâu, còn phát ra âm thanh như kiểu móng tay cào vào xương, rào rạo rào rạo… Khi tìm không thấy, nó ngẩng lên nhìn tôi chằm chằm…”
cổ áo anh ta ướt đẫm mồ hôi, toàn thân suy nhược, hình như anh ta đang phải rất đấu tranh mới có thể ngồi vững: “Tôi không xong rồi.” Vừa nói anh ta vừa nới lỏng tay cầm cốc nước, nằm tê liệt trên ghế. Tôi vội vàng vòng sang đỡ anh ta. Người bị dọa chết khiếp lúc này chính là tôi, não tôi chỉ có một suy nghĩ: Làm ơn đừng chết tại phòng làm việc của tôi.
Tôi vội chạy ra ngoài gọi điện thoại – tôi rất muốn mắng người đó một trận, vì tiền chuyện gì cũng dám làm!
Có điều tôi không mắng thành công, vị bác sĩ làm phẫu thuật cho anh ta ở đầu dây bên kia rất rõ ràng, kiên định nói với tôi: “Tôi bị anh ta đeo bám đến không chịu nổi mới phải làm phẫu thuật. Nhưng để an toàn, tôi không hề khoan sọ anh ta, chỉ làm một vết cắt bên ngoài da, sau đó mài mòn một mảnh xương sọ thôi. Khoan sọ cái gì chứ, anh nghĩ tôi không sợ xảy ra chuyện sao…” Sau khi tắt điện thoại, tôi hiểu ra. Không có cuộc phẫu thuật khoan sọ nào hết, bệnh nhân hoàn toàn bị tự kỷ ám thị. Tôi quyết định giúp bệnh nhân đổi bệnh viện điều trị khác, cơ sở tư vấn tâm lý hoặc viện tâm thần chẳng hạn.
Trên đường quay trở lại phòng, tôi nhớ ra một câu chuyện: Ngày xưa có một người họ Diệp, rất thích rồng…
Cùng lúc ấy câu hỏi từng ám ảnh tôi rất lâu lại ập đến: Rốt cuộc cái gì mới là chân thực?
*[Chú thích đặc biệt]

Các giải thích về thủ thuật khoan sọ (trepanation), động cơ làm thủ thuật và số liệu thống kê đạt được dị năng được nhắc đến trong phần mười hai, mười ba của cuốn sách này lấy từ các văn bản ghi chép về lịch sử Châu Âu. Nhưng cần nhắc lại, tất cả tài liệu này đều là văn bản không chính thức (do dân gian ghi chép, còn có yếu tố tôn giáo cực đoan nghiêm trọng). Các bạn có hứng thủ và có khả năng dịch có thể tự tìm kiếm xác nhận (người viết không liệt kê các đầu mục giới thiệu tại đây nữa). Đặc biệt nhấn mạnh, người viết không công nhận thủ thuật này và cái gọi là năng lực đạt được sau khi làm thủ thuật, mong người đọc không dễ dàng tin vào thủ thuật này và cái năng lực được mang đến đó. Nếu có người vì đọc xong phần này mà có ý định thử khoan sọ, tất cả hậu quả không liên quan đến người viết.
Nô lệ sinh học
Đây là một bệnh án khá điển hình.
Anh ta mỗi ngày rửa tay n lần, nếu không có người ngăn cản anh ta cũng sẽ tắm n lần, còn phải dùng đủ loại diệt khuẩn để tắm rửa, tắm rửa bằng mọi giá, tức là, dù có hại cho cơ thể cũng không quan trọng, cứ tắm đã rồi tính. Lúc tiếp xúc với anh ta tuyệt đối không được ho, hắt xì hơi, nếu không anh ta sẽ nhảy ra xa – không hề khoa trương, thật sự là nhảy ra xa, sau đó bỏ chạy. Điều này làm tôi rất đau đầu. Ban đầu tôi tưởng đó là chứng ưa sạch sẽ, rối loạn ám ảnh cưỡng chế một cách nghiêm trọng, về sau tôi mới biết, còn phức tạp hơn như vậy.
Tôi: “Tay anh bị tróc da nghiêm trọng rồi, anh không đau sao?”
Anh ta cúi đầu nhìn: “Có một chút.”
Tôi: “Vậy mà vẫn cố sống cố chết rửa? Anh cảm thấy bẩn lắm à?”
Anh: “Không phải vấn đề bẩn.”
Biểu cảm anh ta nhìn người khác luôn nghiêm túc nặng nề, chưa từng thay đổi.
Tôi: “Vậy anh muốn rửa cái gì?”
Anh: “Vi khuẩn”
Tôi: “Anh cũng không nhìn thấy mà, hơn nữa không thể rửa hết sạch hoàn toàn đâu.”
Anh: “Không nhìn thấy mới phải cố sống cố chết rửa.”
Tôi: “Anh cũng biết bản thân đang cố sống cố chết rửa?”
Anh: “Ừm”
Cuộc nói chuyện gần như bị khựng lại, anh chỉ trả lời một cách bị động, không muốn chủ động giải thích. Tôi quyết định đổi phương thức khác.
Tôi: “Anh cảm thấy tôi có cần rửa không?”
Anh: “… Nếu anh cảm thấy muốn rửa, thì rửa.”
Tôi: “Ừm… có điều, rửa thế nào cơ?”
Anh ta càng cau mày hơn: “Tắm và rửa tay mà anh cũng không biết sao? Nếu anh không thể tự làm, dưới nhà có khu hộ lý.”
Tôi: “Ừ… ý tôi là, tôi hy vọng có thể rửa sạch vi khuẩn giống anh.”
Anh ta vẫn nghiêm túc nhìn tôi: “Rửa không sạch được, từ lúc sinh ra đến chết cũng không thể rửa sạch được.”
Tôi: “Nhưng mà anh…”
Anh: “Mục đích của tôi với anh không giống nhau.”
Đây là lần duy nhất anh ta chủ động phát ngôn tính đến thời điểm này, để cắt lời tôi. Tôi cảm thấy anh ta rất tỉnh táo nên quyết định hỏi trực tiếp hơn.
Tôi: “Mục đích rửa của anh là gì?”
Anh: “Rửa sạch vi khuẩn.”
Xong, lại quay lại từ đầu rồi, điều này khiến tôi cảm thấy chán nản. Nhưng đúng lúc tôi cảm thấy mình đã thất bại, anh ta bỗng dưng chủ động mở lời.
Anh: “Anh có xem phim không?”
Tôi: “Có. Anh thích xem phim gì?”
Anh: “Anh từng xem Matrix chưa?”
Tôi: “Matrix? Xem rồi, khá là hay.”
Anh: “Thật ra chúng ta đều là nô lệ.”
Tôi: “Anh muốn nói phim đó là sự thật?”
Anh: “Bộ phim đó là khoa học viễn tưởng, là giả. Nhưng chúng ta thật sự là nô lệ.”
Tôi: “Chúng ta là nô lệ của gì?”
Anh: “Vi khuẩn”
Tôi: “Anh có thể nói rõ hơn không? Tôi chưa hiểu. Con người tại sao lại là nô lệ của vi khuẩn được?”
Anh ta nhìn xung quanh bốn phía (tôi cần nói rõ, phòng chúng tôi không còn ai khác, cửa đóng), nén thấp giọng: “Tôi sẽ nói cho anh biết sự thật. Anh nghe xong thế nào cũng cảm thấy kinh động, nhưng anh không cách nào thoát được đâu, giống tôi vậy. Tuy trong phim đều vui vẻ hạnh phúc, nhưng hiện thực rất tàn khốc. Vận mệnh con người chính là như vậy?
Tôi: “Bi ai vậy sao?”
Anh: “Anh có biết trái đất đã tồn tại bao nhiêu năm rồi không?”
Tôi: “Anh muốn nói là hình thành? Ừm… Hình như là 46 tỷ năm.”
Anh: “Ừ, vậy anh biết trái đất có sinh vật đa bào bao nhiêu năm rồi không?”
Tội cố gắng tìm kiếm trong não bộ những danh từ cổ đại tội nghiệp: “Ừm… Tôi nhớ niên đại đó, là kỷ Cambri đúng không? Nhưng bao nhiêu năm trước thì quên rồi…”
Anh: “5 tỷ năm trước, nhiều nhất không đến 10 tỷ năm. Thời đó mọi thứ đều trống trơn, không ai biết thời đó xảy ra chuyện gì.”
Tôi: “Ồ… thật đáng tiếc..”
Anh: “Anh biết con người xuất hiện bao nhiêu năm rồi không?”
Tôi: “Cái này tôi biết, thời đại loài người chính là thời kỳ người cổ, mười mấy vạn năm về trước”

Anh ta hơi nghiêng nghiêng người về phía tôi: “Hiểu rồi chứ?”
Tôi: “… Chưa hiểu.”
Anh: “Con người tiến hóa mới có từng đó thời gian, kỷ Cambri cách thời điểm trải đất hình thành hơn 30 tỷ năm, chẳng lẽ giai đoạn đó không có cái gì? Trống trơn?”
Tôi: “Anh muốn nói là…”
Anh: “Không phải tôi nói, mà là thực tế! Cứ cho mấy tỷ năm đầu khi trái đất hình thành đều là môi trường thể khí và chưa ổn định, chúng ta cứ tính nhiều một chút, 10 tỷ năm, được rồi chứ? Như vậy còn lại hơn 20 tỷ năm, chẳng lẽ không có cái gì hết? Chắc chắn là có, đó chính là vi khuẩn.”
Tôi: “Anh nói vi khuẩn… tiến hóa thành người… người vi khuẩn?”
Anh: “Anh nghĩ hẹp quá, người chỉ là một từ, một ký hiệu đánh dấu. Anh thử nghĩ xem, vì sao vi khuẩn không thể tiến hóa? Phải đa bào mới được coi là tiến hóa sao? Năng lực sinh tồn của vi khuẩn mạnh hơn con người nhiều đúng chứ? Phương thức sinh sản của vi khuẩn là tự phân chia, đơn giản hơn con người nhiều đúng không? Tiến hóa, tiến hóa, sinh vật đa bào thực chất là đang thoái hóa! Trở nên yếu đuối, phức tạp, kén chọn hoàn cảnh môi trường, đây cũng coi là tiến hóa sao?”
Tôi: “Nhưng có tự nhận thức rồi”
Anh: “Làm sao anh biết được vi khuẩn không tự nhận thức? Vì sao tế bào não tự nhận thức? Hiện nay khoa học giải thích là nhờ các tế bào não tập trung cùng phóng ra tín hiệu điện, tín hiệu hóa học. Nếu đây là yếu tố cơ bản để sản sinh nhận thức, vậy vi khuẩn cũng có thể làm được. số lượng vi khuẩn nhiều hơn rất nhiều so với tế bào não đúng chứ? Nhiều vi khuẩn tập trung một chỗ, đạt đến giá trị nhất định về số lượng sẽ sản sinh sự thay đổi về chất. Điều thiết yếu nhất để sinh vật tiến hóa không phải hoàn cảnh môi trường mà là thời gian. Điều kiện môi trường khắc nghiệt chỉ là tương đối, đối với vi khuẩn thì không là gì cả, thời gian 30 tỷ năm đủ để vi khuẩn tiến hóa rồi!”
Tôi: “Nền văn minh của vi khuẩn..”
Anh: “Nền văn minh của vi khuẩn và chúng ta chắc chắn không giống nhau, những suy nghĩ của chúng ta về vật chất, sự việc đối với chúng chẳng ý nghĩa gì. Chúng ta không nhìn thấy, không sờ thấy vi khuẩn, nhưng chúng lại ở xung quanh chúng ta, có nền văn minh vượt quá phạm vi hiểu biết của chúng ta. Nếu anh đã từng đọc qua sách về sự tiến hóa của sinh vật, chắc anh biết kỷ Cambri là thời kỳ bùng nổ sinh học, thời đó sự tiến hóa của sinh vật có thể nói là vượt quá tốc độ ánh sáng. Rất nhiều nhà khoa học đều không hiểu vì sao lại xuất hiện sinh vật đa bào, sau đó nhanh chóng tiến hóa thành các loài động vật phức tạp hơn, bọ ba thùy, các loài thực vật biển nguyên sinh, động vật không xương sống, các loài tảo. Thật sự có bùng nổ tiến hóa sinh học sao? Tôi đã nói rồi, tiến hóa quan trọng nhất là thời gian, bùng nổ sinh học chỉ là trùng hợp. Ví dụ anh đang đi trên đường, gió thổi một tờ giấy bay đến, là tờ vé sờ, anh bắt lấy, ngày hôm sau tờ vé số đó trúng giải lớn, anh thấy mình may mắn không? Nếu sự việc như vậy ngày nào cũng xảy với anh thì quả may mắn rồi đúng không? Nhưng so với sự bùng nổ sinh học kỷ Cambri5, đó chỉ là việc ăn, việc ngủ, không thể coi là trùng hợp được, nó quá bình thường”
Tôi cố gắng lý giải những điều anh ta vừa nói: “Vậy làm thế nào mà có sinh vật?”
Anh: “Vi khuẩn tạo ra. Sinh vật đa bào phải cộng sinh với vi khuẩn mới có thể sinh tồn, nếu trong cơ thể anh không có vi khuẩn giúp anh phân giải thức ăn thì đến một quả trứng gà anh cũng không tiêu hóa nổi. Con người không có vi khuẩn sẽ không thể sống được. Mà không phải chỉ mỗi con người, sinh vật nào trên thế giới này chẳng vậy. Vì sao?”
Tôi: “Hình như đó gọi là sinh vật cộng sinh đúng không?”
Anh: “Cộng sinh? Không đúng. Vì sao vi khuẩn tạo ra động vật đa bào? Vì chúng ta là xưởng sinh học của nền văn minh vi khuẩn, chúng ta có thể sản sinh ra các chất dinh dưỡng cần thiết, ví dụ như đường, để nuôi dưỡng vi khuẩn.”
Tôi: “Những loài người có thể tiêu diệt vi khuẩn mà!”
Anh: “Đúng, không sai, nhưng thứ anh tiêu diệt là có thể vi khuẩn, anh không thể tiêu diệt tất cả vi khuẩn. Hơn nữa, vi khuẩn sinh sản theo hình thức tự phân chia, đúng chứ? Anh giết cá thể bản sao của vi khuẩn thì có tác dụng gì? Vi khuẩn vẫn ở khắp mọi nơi. Nếu thật sự có một ngày vi khuẩn cảm thấy chúng ta uy hiếp đến sự sinh tồn của chúng, cùng lắm chúng sẽ tiêu diệt chúng ta. Loài người thậm chí còn không nhìn thấy sự đấu tranh của vi khuẩn thì vũ khí có tác dụng gì? Anh còn không biết bản thân đã bị xâm nhập rồi ấy. Khủng long thống trị trái đất 2 tỷ năm biết đâu cũng đã có nền văn minh khủng long, nhưng đột nhiên chúng bị diệt vong, rất có thể do vi khuẩn cho rằng nền văn minh khủng long uy hiếp đến chúng nên ra tay hủy diệt. Đối với vi khuẩn, hủy diệt một nền văn minh và thiết lập một nền văn minh mới quá đơn giản, dù sao cũng đều bị vi khuẩn nô dịch cả”
Tôi: “Anh đang nói vi khuẩn nô dịch chúng ta sao?”
Anh: “Vi khuẩn cho phép chúng ta phát triển, chúng ta có văn minh hay không chúng không quan tâm, nếu phát hiện chúng ta uy hiếp đến nền văn minh vi khuẩn, chúng chỉ cần tiêu diệt chúng ta là xong, dễ như trở bàn tay. Hơn nữa, chúng chỉ tiến hành xâm lược loài người trên quy mô lớn, các sinh vật khác vẫn tồn tại. có thể sau này sẽ còn nhiều nền văn minh khác như nền văn minh mèo hay nền văn minh giản, nhưng đối với vi khuẩn đó không phải vấn đề, tất cả chỉ là một vòng tuần hoàn lặp đi lặp lại.”
Anh ta nói liền một hơi rồi nhìn tôi nghiêm túc, tôi muốn phản bác nhưng không thể nói rõ.
Anh ta cẩn thận hỏi tôi: “Tôi muốn đi rửa tay.”
Tôi ngồi ngây người. Tôi biết những điều anh ta nói chỉ là giả định, nhưng cũng dựa trên một phần thực tế. Loại lý luận này khiến người ta phải vò đầu bứt tai, rất đau đầu.
Vài ngày sau, khi nghe lại đoạn ghi âm hôm đó, tôi hiểu ra. Vấn đề không phải anh ta nghĩ quá nhiều hay những người khác nghĩ quá ít, mà là những điều chúng ta chưa biết quá nhiều. Nếu bắt buộc phải dùng từ “nô dịch”, vậy chúng ta đều bị những điều chưa biết nô dịch, cho đến một ngày chúng ta có thể nhìn rõ tất cả sự vật, sự việc xung quanh.
Chỉ là, không biết ngày đó còn bao xa.
Mãi mãi, mãi mãi
Trong một lần điều tra sơ bộ trước quá trình trị liệu, theo thói quen tôi đến tìm người nhà bệnh nhân để tìm hiểu tình trạng bệnh hiện tại. Gia đình chưa kể hết tôi đã nhận ra đây là kiểu bệnh nhân đau đầu nhất. Với trình độ y học hiện nay, tình trạng bệnh đó gần như không có cách giải quyết, chỉ có thể trông chờ vào vận may, rất đáng buồn.
Sau một lúc nói chuyện phiếm với bà lão, tôi cảm thấy đầu óc bà khá tỉnh táo, tinh thần cũng khá tốt, chỉ là có lúc nói chuyện không đầu không đuôi.
Tôi: “Dì dạo này khí sắc tốt hơn nhiều rồi.”
Bà cười: “Đến tuổi này rồi, không còn đẹp nữa, khí sắc không tốt thì thành bà phù thuỷ à? Haha.”
Tôi: “Bệnh nằm ngoài của chú… đỡ hơn chưa?”
Bà: “Đỡ nhiều rồi, đợt nằm bệnh viện đấy làm dì lo quá. Dì tuổi cao, cơ thể không còn khoẻ nữa, chịu không nổi vất vả, nhưng cũng không bỏ mặc ông ấy được. Cũng may giờ không còn vấn đề gì nữa, ông ấy hồi phục nhiều rồi. Nhưng ông ấy vẫn thường xuyên cảm thấy khó thở, đang nằm nghỉ trong phòng đấy.”
Tôi liếc căn phòng trống trơn: “Không sao, Văn Đào (con trưởng của bệnh nhân) bận, bảo cháu đến thăm dì thay cậu ấy, tiện mang đồ qua.”
Bà: “Dì biết tụi trẻ các cháu giờ bận nhiều việc, cuộc sống lúc nào cũng áp lực. Nhưng mấy đứa nhà dì gần đây rất chăm về nhà, chắc không yên tâm hai ông bà già. Thật ra mọi việc đều ổn, các cháu cứ lo việc của mình, rảnh qua chơi là chú và dì vui rồi.”
Tôi: “Dì, cháu hỏi dì một việc, dì nhớ thời gian này năm ngoái dì đang làm gì không?”
Bà lão tự lẩm bẩm, cau mày suy nghĩ.
Bà nhìn tôi hoài nghi: “Năm ngoái? Tầm này? Hình như đón chú xuất viện… Nhưng những việc sau đó dì không nhớ…”
Tôi: “Năm ngoái tháng mấy chú xuất viện ạ?”
Bà: “Đầu tháng năm…”
Đầu tháng năm theo người nhà bệnh nhân nói là thời điểm bố họ qua đời.
Lời kể của người nhà bệnh nhân mấy ngày trước: “Bố tôi mất năm ngoái, chúng tôi ai cũng buồn, nhất là mẹ tôi. Mấy lần chúng tôi còn tưởng mẹ sẽ đi theo bố vì khóc quá nhiều… Một năm trở lại đây, mấy anh chị em chúng tôi thường xuyên đưa các cháu đến chơi với bà, nhưng mẹ tôi vẫn không đỡ hơn, toàn cứ nhắc tới là mắt lại đỏ… Mấy hôm trước về nhà, mở cửa ra thấy mẹ tôi khí sắc rất tốt, tôi vui lắm, nhưng vừa vào nhà tôi sợ quá. Di ảnh của bố tôi bị dẹp đi, cốc trà bố hay dùng lại được bày ra, mẹ còn bảo tôi ngồi nói chuyện với bố để mẹ đi nấu cơm. Chúng tôi nhìn khắp nhà, trong nhà chỉ có một mình mẹ tôi, nhưng dù chúng tôi nói thế nào mẹ cũng làm như không nghe thấy… Lúc ăn cơm, mẹ tôi bày thừa ra một bộ bát đũa, gắp thức ăn bỏ vào bát đấy suốt, rồi còn nói chuyện với chỗ trống đó… Tôi đã hỏi rất nhiều người, họ đều nói vong hồn bố tôi quay về ám mẹ tôi, nhưng chúng tôi không tin. Bố mẹ tôi trước giờ tình cảm rất tốt, ngày xưa cùng nhau đi du học, cùng nhau về nước, rồi cùng bị chỉ trích… tuy bình thường cũng có lúc cãi nhau, nhưng không hề có mâu thuẫn gì lớn, đã bao nhiêu năm như vậy… Tôi nghĩ do mẹ tôi không chấp nhận được hiện thực, thần kinh có chút…”
Vậy là, được sự nhờ vả của người nhà bệnh nhân, tôi đến nhà bà.
Tôi: “Đúng vậy, khoảng thời gian này năm ngoái, tháng Sáu, dì không nhớ đã làm gì a?”
Bà nghĩ một lúc, đột nhiên nhớ ra: “Đúng rồi! Dì nhớ rồi, năm ngoài là kỷ niệm 40 năm ngày cưới của dì và chú, hai vợ chồng còn định rủ đồng nghiệp cũ tổ chức một buổi tụ họp nhỏ, tiếc là sức khoẻ ông ấy yếu quá, không tổ chức nữa.”
Tôi: “Vậy dì có gọi điện cho đồng nghiệp cũ thông báo huỷ họp mặt không?”
Bà: “Di còn tâm trí nào nữa đâu, dì bận chăm sóc ông ấy mà, nên dì dặn con trai trưởng gọi điện. Dì không nhớ nổi nữa! Một năm nay dì chỉ lo chăm sóc chú, ngày nào cũng như ngày nào, thành ra không nhớ được nhiều chuyện nữa, dì đang nghĩ sao đột nhiên trí nhớ lại kém vậy…”
Tôi nặng nề nhìn bà, không biết nên mở lời thế nào. Cách bài trí trong nhà đều dành cho hai người: ghế, dép, kính lão…
Bà nhẹ nhàng nhìn tôi: “Dì không sao, mấy năm nay sức khoẻ dì rất tốt, giờ chăm sóc ấy cũng coi như trả tình trả nghĩa. Hồi đó đi du học, dì không quen khí hậu, đều là chú chăm sóc dì, lúc đó dì cảm động lắm, không ngờ giờ ông ấy lại đòi nợ. Ha ha ha.”
Nói chuyện một lúc lâu, bà vẫn cho rằng chồng mình còn sống, tôi định nói rõ nhưng lại không có thời điểm thích hợp, cũng không nhẫn tâm mở lời. Sau đó bà chia sẻ năm nay kỷ niệm 41 năm ngày cưới, bà không định mời khách nữa, chỉ tổ chức trong nhà với nhau.
Tôi: “Dì ơi, gần đây ban đêm di ngủ ngon không?”
Bà: “Cũng được, gần đây dì ngủ khá tốt, toàn ngủ một mạch đến sáng. Trước dì bị suy nhược thần kinh, có chút tiếng động là tỉnh rồi”
Tôi: “Còn chú?”
Bà: “Ông ấy vẫn vậy, có sét đánh ngang tai cũng không tỉnh, toàn ngủ đến khi trời sáng. Gần đây ông ấy không dậy lúc nửa đêm để đọc sách nữa nên cũng không làm ồn đến dì như trước… Sách của ông ấy… mấy hôm nay di không tìm thấy, không biết có quên ở bệnh viện không. Bệnh viện…”
Tôi: “Chú có nói chuyện với dì không?”
Bà: “Có chứ, cứ chậm chậm thôi, ông ấy nói xong một câu là dì kịp đun sôi ấm nước rồi, ha ha ha… Đúng rồi, dì mang nước cho ông ấy đã, cháu đợi chút.”
Tôi: “Ừm, cháu có thể vào không?”
Bà đứng dậy: “Được chứ, đi, ông ấy quen ngồi ở cái ghế lớn trong phòng ngủ đằng kia.”
Tôi vào phòng cùng bà, cái ghế lớn bà nói đang trống không, trên ghế đặt một chiếc áo khoác, một cuốn sách. Bà hướng về cái ghế trống giới thiệu tôi, sau đó nhìn cái ghế bắt đầu nói các chuyện linh tinh, khung cảnh rất kỳ dị, tôi từ từ lùi ra ngoài.
Nhà đôi kiểu cũ chỉ có hai phòng và một sảnh nhỏ, tôi đành quay lại căn phòng kia. Tôi để ý thấy cạnh cái ghế bà lão vừa ngồi có một chồng thiệp dày, tiện tay tôi cầm lên xem, đều là thiệp ông bà tặng nhau suốt những năm qua: sinh nhật, năm mới, tết, kỷ niệm ngày cưới… Vừa định đặt chồng thiệp về chỗ cũ, tôi nhìn thấy một tấm thiệp nằm ngay trên đầu, theo ngày tháng ghi trên thiệp thì viết từ năm ngoái. Trên tấm thiệp là hàng chữ viết tay nắn nót, sạch đẹp, có vẻ là chữ của bệnh nhân. Xem xong, tôi cất tấm thiệp đi.
Khi bà lão từ trong phòng đi ra, tôi đổi ý, chỉ nói thêm vài câu rồi đứng lên xin phép đi về.
Vài ngày sau, bác sĩ chủ trị cho bệnh nhân hẹn người nhà tới gặp, dặn họ cố gắng đến đông đủ. Sau khi khách quan đánh giá tình trạng và đưa ra phán đoán của mình, tôi chia sẻ với họ suy nghĩ của mình: Tôi hy vọng họ cân nhắc thêm về vấn đề nhập viện điều trị, cá nhân tôi đề nghị chỉ cần tĩnh dưỡng là chủ yếu. Sau đó tôi lấy tấm thiệp kia đưa cho họ xem. Mấy người truyền tay nhau đọc, sau đó tất cả trầm mặc, chỉ gật gật đầu.
Tối đó về nhà, tôi tìm sổ ghi chép, đọc lại lần nữa dòng chữ tôi chép từ tấm thiệp.
Từ khi đắm chìm trong những phân tích logic và phân biệt của lý trí, tôi chưa từng cảm thấy tình cảm lại quan trọng như vậy.
Tôi cảm thấy tình cảm rất nhỏ bé, không huy hoàng, cũng chẳng lẫm liệt, nhưng dù chỉ là một câu rất ngắn cũng khiến tôi rung động. Tôi biết đoạn văn này rất khô khan, bình thường, không có thế giới huyền mỹ hay những suy nghĩ đầy màu sắc, nhưng tôi vẫn muốn thử dùng văn chữ ngây ngô và tài nghệ yếu kém của mình, tuỳ hứng viết ra, vừa để kỷ niệm tình cảm chân thành của đôi vợ chồng già, vừa dùng câu viết trong tấm thiệp kia làm câu kết cho đoạn văn này.
Nhẫn trên ngón tay không còn lấp lánh
Váy cưới trong tủ sớm đã phủ bụi
Dung nhan chúng ta đều từ từ già đi
Nhưng tình cảm đó vẫn không thay đổi
Cám ơn mỗi ngày anh mang đến cho em
Chính vì có anh
Em mới có dũng khí nói rằng
“Mãi mãi, mãi mãi”
Thế giới thực
Cô: “Vấn đề này tôi cũng mới nghĩ thông cách đây không lâu. Anh biết vì sao có lúc đối diện với những việc rất rõ ràng anh lại thấy khó phân tích, không dám định nghĩa không? Thật ra tư duy ảnh hưởng đến phán đoán con người, khi tư duy con người không thể nhìn rõ bản chất, năng lực phán đoán cũng ảnh hưởng theo.”
Tôi: “Nhưng vấn đề này liên quan gì đến việc cô đã làm không?”
Nhiều người xung quanh bệnh nhân này đều nghĩ cô ấy bị “ma nhập”. Bạn trai cô ấy vì vậy mà chia tay, gia đình cho rằng cô ấy không còn thuốc chữa, bạn bè thì bắt đầu tránh xa… Lý do là vì từ vài năm trước cô ấy bắt đầu mô phỏng người khác.
Ban đầu những người xung quanh còn cảm thấy thú vị, về sau lại thấy rất đáng sợ, bởi cô ấy bắt chước vô cùng sống động, trừ đặc trưng sinh lý, từ ánh mắt, động tác, ngữ khí, thói quen, hành vi, cử chỉ không điểm nào không giống. Mượn lời bạn trai cô ấy thuật lại: “Đợt đó cô ấy toàn bắt chước người già, không phải để người khác xem, mà là lúc nào cũng bắt chước ấy, tôi thậm chí còn cảm thấy đang sống cùng bố tôi. Đáng sợ nhất là ánh mắt cô ấy nhìn tôi… Đó không phải cô ấy, tôi nghĩ cô ấy bị ma nhập. Tôi tự thấy mình không phải người nhát gan, nhưng chia tay xong, nhân lúc cô ấy không ở nhà, tôi chuyển ra ngoài như chạy trốn vậy. Chuyển đi rồi mới gọi điện thoại bảo cô ấy, tôi nghe thấy âm thanh trong điện thoại của cô ấy, là tiếng một ông già…”
Điều tôi cảm thấy hứng thứ không phải nội dung tâm linh kỳ dị mà ở một khía cạnh khác: Những người được cho là “nhập hồn” vào cô ấy đều là người sống.
Cô: “Có liên quan trực tiếp, tôi vừa nói rồi, con người sao có thể không tư duy?”
Tôi nhấn mạnh lần nữa: “Cô xem, như thế này, tôi chưa tiếp xúc với cô được lâu, cũng không hiểu lắm tình hình. Tất nhiên tôi cũng biết một chút từ những người khác, nhưng nếu tự tiếp xúc thì cho tới bây giờ mới hơn một tiếng đồng hồ, vì vậy…”
Cô: “Vì vậy anh mong tôi nói rõ ràng hơn?”
Tôi: “Đúng, điều này cũng có lợi cho cô.”
Cô cười: “Cho tôi? Có lợi gì?”
Tôi: “Nếu cô không để tôi làm rõ sự việc, cô sẽ phải đối mặt với một loạt các xét nghiệm đánh giá, kiểm tra, mất thời gian không nói, đối với tâm lý…”
Cô: “Tôi hiểu rồi, tôi biết anh muốn nói gì rồi… cũng là vấn đề. Tôi sẽ cố gắng hết sức để kể anh nghe từ đầu, nhưng nếu anh vẫn không hiểu, tôi cũng chẳng còn cách nào, yên tâm, tôi sẽ cố hết sức”
Tôi: “Được, Cám ơn cô.”
Cô ấy là một người phụ nữ lời lẽ rất sắc sảo.
Cô: “Ừm… bắt đầu từ đâu đây? Như thế này, những lời vừa rồi của tôi anh tạm để một bên đừng nghĩ đến vội, tôi hỏi anh một việc. Anh có từng nghĩ thế giới anh nhìn thấy vốn dĩ không phải như thế này?”
Lời cô ấy nói khiến tôi ngạc nhiên, câu hỏi này chính là vấn đề vẫn luôn ám ảnh tôi lâu nay.
Cô: “Nói đơn giản nhé. Tôi biết cấu tạo nhãn cầu của loài người là hình cầu, đúng chứ, tinh thể hình cầu. Dựa vào nguyên lý thấu kính, ảnh vật chiếu lên võng mạc là hình ảnh trên dưới đảo ngược, nhưng não bộ tự xử lý vấn đề này, não trái khống chế tay phải, não phải khống chế tay trái. Như vậy vấn đề đã được giải quyết, nhưng về bản chất, thế giới trong mắt chúng ta vẫn bị đảo ngược.
Tôi: “Ừm, đúng là như vậy”
Cô: “Bắt đầu từ vấn đề này tôi nghĩ rất nhiều, đây là khởi đầu. Những điều tôi nói với anh tiếp theo đây, cần anh cố gắng hết khả năng mở rộng trí tưởng tượng của bản thân.”
Tôi: “… Được, tôi sẽ cố gắng”
Cô: “Chúng ta đi xa hơn một chút, vì mỗi người chúng ta đều có suy nghĩ riêng, nên khi nhìn các sự vật thật ra đều thêm ý thức chủ quan của bản thân vào, cũng tức là thế này, anh nghĩ rằng nó sống động nhưng theo tôi thì không, anh nhìn thấy là màu đỏ, tôi có thể lại cảm thấy hơi vàng; anh nếm thấy vị ngọt, tôi lại cảm thấy chua; anh cho rằng rất xa, tôi có thể cảm thấy cũng không xa lắm; anh cho rằng đó là nghệ thuật, tôi lại cảm thấy nó rất phổ biến. Nói vậy anh hiểu chứ?”
Tôi: “Ý cô muốn nói các nhân tố như kinh nghiệm, thành tựu, học thức, kiến thức, hiểu biết ảnh hưởng đến việc chúng ta nhìn nhận bản chất sự việc?”
Cô: “Anh nghĩ sự việc quá vòng vèo rồi, nhìn bản chất. Anh nói những thứ kinh nghiệm, kiến thức đều tính là khách quan đúng không? Những điều này ảnh hưởng khách quan đến anh, tạo thành suy nghĩ của anh, vì vậy cuối cùng lại biến thành chủ quan của anh. Khi anh biết càng ngày càng nhiều, anh và người khác càng ngày càng không giống nhau. Trên thực tế, mỗi người càng ngày càng không giống người khác.”
Tôi: “Là như vậy sao?”
Cô: “Thế giới mỗi người chúng ta nhìn thấy sự chênh lệch càng ngày càng lớn, nhưng sẽ có một thứ gọi là giá trị quan tập thể cân bằng những chủ quan của chúng ta.”
Tôi: “Ừm…”
Cô: “Về sau tôi nghĩ đến điều này nên bắt đầu hiếu kỳ, thế giới trong mắt người khác sẽ thế nào?”
Tôi: “Tôi hiểu rồi, đây là nguyên nhân ban đầu khiến cô bắt đầu mô phỏng người khác, đúng không?”
Cô: “Không sai, tôi bắt đầu nghĩ ra rất nhiều phương pháp, cuối cùng quyết định vẫn dùng cách ngu ngốc nhất, cũng chính là điều chúng ta hay nói: thay đổi góc nhìn. có điều, việc thay đổi góc nhìn này phức tạp hơn nhiều, bởi muốn thay đổi góc nhìn không phải một việc mà là cả thế giới! Ban đầu tôi cứ từ từ quan sát từng chi tiết của người khác, sau đó ghi nhớ các đặc trưng của chi tiết đó, rồi bắt đầu thử mô phỏng người ta, hiểu đối phương vì sao lại làm như vậy, nói trắng ra là biến thành chính người mà tôi mô phỏng. Thời gian mô phỏng kéo dài sẽ giúp tôi hiểu được tâm thải của người bị mô phỏng, xa hơn sẽ học được cách dùng con mắt của đối phương để nhìn sự vật, nếu nắm bắt tốt thậm chí còn có thể biết đối phương đang nghĩ gì”
Tôi: “Có chút giống diễn viên… có điều, biết đối phương đang nghĩ gì nghe có chút huyền bí rồi.”
Cô: “Không hề, tôi biết rất nhiều người bạn không mấy để ý đến tôi vì cảm thấy tôi đáng sợ, cái gọi là ma nhập chỉ là cái cớ, thật sự là tôi biết họ đang nghĩ gì nên họ cảm thấy đảng sợ. Nhưng lúc đó tôi đã gần với cấp cao hơn của mô phỏng rồi.”
Tôi: “Là mô phỏng giống hơn nữa?”
Cô: “Không, là mô phỏng tâm hồn. Cứ âm thầm cũng biết suy nghĩ của đối phương. Vì mô phỏng người khác lâu rồi, các chi tiết đặc trưng đã nắm được rất chuẩn, nên việc cố gắng tìm ra tâm thái đối phương hoàn toàn trong ý thức, không cần mô phỏng vẫn có thể nhìn thấu. Anh có cho rằng đây là ma thuật hay phép thuật không?”
Tôi: “Nói như vừa rồi thì không thấy vậy”
Cô: “Đúng vậy, mất mấy năm như vậy sẽ cảm thấy rất đơn giản, không có gì hơn ngoài sự chú ý, nắm bắt, thấu hiểu chi tiết, lĩnh ngộ ánh mắt, sự quen thuộc đối với tính mục đích của động tác, sau khi đã quen rồi sẽ không cảm thấy thần kỳ lắm. Có điều, để mô phỏng được tâm hồn tôi nghĩ cần có yếu tố tài năng. Nếu trời sinh anh quan sát tỉ mỉ còn nhạy bén thì sẽ nhanh hơn.”
Tôi: “Như vậy sẽ rất mệt.”
Cô: “Không, như vậy rất thú vị, lúc anh bắt đầu dùng con mắt của người khác để nhìn, anh sẽ thấy bản chất hơn, anh sẽ tiếp cận hơn với bản chất vốn dĩ của thế giới này.”
Tôi: “Nhưng đó chỉ là dùng con mắt của người khác nhìn thôi, không phải cô nói muốn nhìn thấy thế giới thực sao?”
Cô cười: “Không sai, tôi nói rồi, đây là cách rất ngu ngốc, thực tế là vòng một vòng lớn, nhưng tôi không nghĩ ra cách nào hay hơn, tôi không định đi theo con đường tín ngưỡng tôn giáo.”
Tôi: “Cô nói cô có thể đọc được người khác nghĩ gì, cô biết tôi đang nghĩ gì không?”
Cô: “Không biết, vì cần nói rõ với anh việc này nên tôi luôn ở trong tư duy của mình, nhưng… cô ngừng một lúc: “Nhưng tôi biết anh cũng rất ám ảnh đối với bản chất thế giới này.”
Tôi sững người.
Cô: “Thần kỳ không? Chỉ là vừa rồi tôi chú ý đến ánh mắt anh hơi thay đổi nhẹ. Vấn đề đó ám ảnh anh rất lâu rồi đúng không?”
Tôi gật đầu, sau đó đột nhiên nhận ra: Vị trí của tôi và cô ấy dường như đảo ngược rồi. “Cô rất lợi hại…”
Cô cười nhẹ: “Không nghiêm trọng đến vậy, chúng ta quay lại vấn đề đi.”
Tôi: “OK, nhưng cô đã nắm được mô phỏng tâm hồn ở một mức độ, vì sao vẫn cần tiến hành mô phỏng hành vi?”
Cô: “Anh biết từ bao giờ tôi bị nói là ma nhập không?”
Tôi: “Cái này họ không nói”
Cô: “Là lúc tôi bắt đầu mô phỏng người cao tuổi.”
Tôi: “Mô phỏng người cao tuổi có gì khác biệt không?”
Cô: “Trong truyền thuyết dân gian thường nhắc đến các loài động vật tu luyện nhiều năm biến thành tinh đúng không? Tôi cho rằng không cần tu luyện, sống đủ số năm là thành tinh rồi, đó là vì kinh nghiệm sống. Anh có phát hiện ra không, sống càng lâu, kinh nghiệm càng nhiều, tư duy con người càng sâu xa.”
Tôi: “Vậy sao?”
Cô: “Nghĩ xem, một động vật trong môi trường tự nhiên hoang dã tàn khốc kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu, sống vài trăm năm, không thành tinh mới lạ! Có cái gì chưa nhìn thấy? Có cái gì chưa gặp phải? Có cái gì không biết? Có khi thật sự có, chỉ là con người không cách nào nhìn thấy, vì họ sống quá lâu rồi, kinh nghiệm quá phong phú rồi, người xưa nói đến ma núi, thần núi, thần sông, không chừng chính là những động vật hoang dã đã sống rất lâu. Con người nếu sống được bảy trăm tám trăm năm nhất định cũng là lão yêu tinh. Tôi nói như vậy không phải tuyên truyền mê tín dị đoan loạn thần phong kiến, tôi chỉ muốn nhấn mạnh sự quan trọng của kinh nghiệm sống.”
Tôi: “Vì vậy cô cố tình mô phỏng hành vi cử chỉ của người già?”
Cô: “Ừm, là như vậy… Anh có thuốc lá không?”
Tôi tìm thuốc lá đưa cho cô ấy.
Cô ấy châm điếu thuốc hít một hơi: “Xin lỗi, tôi cũng không thường hút thuốc đâu.”
Thực tế tôi rất mừng khi cô ấy có thể thả lỏng hơn lúc đối diện với tôi.
Cô: “Khi tôi mô phỏng những người cao tuổi, tôi dần dần tiếp cận với những bản chất mà tôi muốn biết.”
Tôi: “Ý cô là..”
Cô: “Thế giới rốt cuộc là như thế nào?
Tôi: “Tôi hiểu ý cô rồi. Cô chọn cách đi vòng này, mục đích không phải để cố gắng nắm bắt người khác hay đơn thuần dùng con mắt người khác nhìn thế giới, mà vì cô muốn không mang theo bất cứ ý thức chủ quan nào để nhìn thế giới này, đúng chứ?”
Cô ấy cười.
Tôi không cười, chờ cô ấy nói tiếp.
Cô: “Đa số người cao tuổi khiến tôi rất thất vọng, vì kinh nghiệm sống của họ đủ nhưng những việc đã trải qua có thể không đủ, về mặt tư duy vẫn chưa có được độ siêu thoát tôi cần. Đa phần những người có tuổi khi gặp vấn đề vẫn có cảm xúc mãnh liệt, nhưng cơ thể lại không cho phép có phản ứng mãnh liệt, vì vậy mới có những lúc tính khí họ rất kỳ quái, mẹ tôi cũng thế. Không tin anh thử dùng băng gạc bọc kín các khớp, cứ để vậy một tuần xem, anh cũng sẽ cảm thấy rất chán nản. Nhưng cái tôi cần không phải như vậy, tôi cần trạng thái thoát ly trần thế để nhìn thế giới, tôi không biết phải làm thế nào nữa.”
Tôi: “Ý cô là cô rơi vào bế tắc rồi sao?”
Cô ấy cắn môi: “Đúng, nhưng không bao lâu sau tôi phát hiện tôi lại tiến được thêm một bước, vì đúng lúc tôi cho rằng mấy năm nay đã phí công vô ích, tôi đột nhiên hiểu ra.”
Tôi: “Cô đạt được trạng thái siêu thoát rồi?”
Cô: “Còn mạnh mẽ hơn vậy.”
Tôi: “Lẽ nào dùng con mắt hoàn toàn không có tư duy và ý thức chủ quan vẫn không nhìn được thế giới thực?”
Cô: “Đúng vậy, đó không phải thế giới thực”
Tôi: “Vậy cái gì mới là thế giới thực?”
Cô ấy siết chặt điếu thuốc, cười: “Nếu anh mang theo ý thức bản thân khi nhìn, dựa vào những điều tôi nói lúc nãy, thứ anh nhìn thấy thật sự là bản thân anh, đúng không? Anh từng nghĩ đến chưa, những việc cần làm không phải việc nào cũng bỏ cuộc, không phải không có thái độ để nhìn, đó không phải siêu thoát, đó là thờ ơ, không còn cái vị gì nữa. Ở trạng thái đó căn bản sẽ nhìn không thấy, cùng lắm chỉ là không để ai trong mắt mà thôi, khác xa rồi.”
Tôi: “Cô nói hết cả buổi, cuối cùng làm sao mới có thể nhìn thấy?”
Cô ấy đắc ý cười: “Muốn nhìn thấy thế giới thực, cần dùng con mắt của trời nhìn trời, dùng con mắt của mây nhìn mây, dùng con mắt của gió nhìn gió, dùng con mắt của cây cỏ hoa lá để nhìn cây cỏ hoa lá, dùng con mắt của đá để nhìn đá, dùng con mắt của biển để nhìn biển, dùng con mắt của động vật để nhìn động vật, dùng con mắt của người để nhìn người.”
Tôi chăm chú lắng nghe, nhìn cô ấy như kẻ ngốc, nhưng não bộ lại ở trạng thái sôi sục.
Cuối cùng cô ấy còn nói một câu đùa nổi tiếng: “Nếu một ngày anh thấy tôi điên, thật ra chính là anh điên.”
Hôm đó lúc ra về, tôi cảm thấy xây xẩm chóng mặt, nhìn cái gì cũng thấy hình như là vậy mà không phải vậy. Bởi cô ấy nói quả kỳ dị, đều là những điều tôi chưa từng nghe. Tôi bắt buộc phải công nhận quan điểm, logic của cô ấy rất hoàn hảo, thậm chí tôi còn hoàn toàn bị lật đổ. Tôi nghĩ, có thể đến một ngày, cô ấy sẽ nhìn thấy thế giới thực.
Người canh gác cô đơn
Anh: “Trước khi tôi nói với ông, có thể hỏi một câu hỏi không?”
Tôi: “Được, có điều đừng xưng hô “ông” như vậy, chúng ta không hơn kém nhau nhiều.”
Anh: “Được. Tôi muốn biết, giấc mơ có thật không?”
Tôi trả lời với mười phần cẩn thận cảnh giác: “Từ góc độ vật lý hiện có để giải thích thì không phải thật.”
Anh: “Vậy, giấc mơ là ngẫu nhiên sao?”
Tôi: “Ờ… có lẽ chính là ngày nghĩ đêm mơ đấy?”
Anh: “Nếu sự việc trong mơ với ban ngày hoàn toàn không liên quan thì sao?”
Tôi: “Ừm… Vậy có lẽ tiềm thức của anh đã bẻ cong một số hiện thực sau đó đưa vào giấc mơ.”
Anh: “Những điều này có công thức không?”
Tôi: “Tôi cũng không nói được, tôi không phải chuyên gia trong phương diện này, nhưng về cơ bản chắc là không. Chỉ là suy luận cá nhân thôi. Anh hỏi vậy là có ý gì?”
Anh: “Tôi tìm anh là bởi từ nhỏ đến lớn cứ cách mấy năm tôi sẽ có cùng một giấc mơ.”
Tôi: “Mỗi lần đều giống nhau?”
Anh: “Không, cùng một địa điểm, còn những việc tôi làm trong mơ thì gần giống nhau. Nhưng tôi cảm giác rất chân thực, từ lần đầu tiên đã có cảm giác vậy rồi nên ấn tượng rất sâu đậm. Tôi thậm chí còn tỉnh táo để nhận ra rằng lại là giấc mơ này, tôi cố gắng tỉnh dậy nhưng không được. Tôi sắp không chịu nổi nữa rồi, mỗi lần mơ giấc mơ đó đều phải mất rất lâu mới hồi lại. Bởi vậy qua bạn bè giới thiệu tôi mới tìm đến anh, tôi muốn biết liệu có phải tôi bị điên không?
Tôi: “Có phải bị điên hay không tôi không thể đưa ra phản đoán, anh cần làm các bài kiểm tra mới có thể xác định được… Anh đã mơ thấy gì vậy? Rất đáng sợ sao?”
Anh: “Không, không phải khủng bố hay doạ người gì cả.”
Tôi điều chỉnh lại tư thế ngồi: “Có thể kể cho tôi biết không?”
Anh: “Tôi tỉnh dậy, mở mắt ra, xung quanh ánh sáng rất mơ hồ. Tôi biết tôi vẫn còn trong vỏ trứng. Phải xé màng bọc mềm mềm như vỏ trứng đang bao lấy tôi thì mới có thể ra ngoài. Vỏ trứng ở trong một cái hồ hình vuông rất đơn giản, trong hồ toàn thứ chất lỏng giống như nước, hình như dùng để ngâm vỏ trứng. Mỗi lần tôi tỉnh dậy, chất lỏng chỉ còn một nửa. Từ trong hồ bước ra ngoài có cảm giác mình đã ngủ đủ giấc. Sau khi tỉnh dậy ra khỏi hồ, tôi thường tìm một bộ đồ liền thân để mặc, khá dày dặn, bộ đồ đã cũ lắm rồi.”
Tôi: “Anh ở trong phòng à?”
Anh: “Phải, căn phòng rất cũ. có nhiều thiết bị cũ kỹ mà tôi chỉ loáng thoáng nhớ được một vài món, nhưng tôi không nhớ chúng dùng để làm gì. Sau khi mặc đồ xong, tôi đến trước một cái máy kim loại vừa to vừa cũ, kéo công tắc, cái máy phát ra một hồi âm thanh loảng xoảng, một cái khay kim loại bật mở, bên trong có vài thứ giống như đồ ăn khô cho chó mèo, hạt rất to. Tôi biết đó là đồ ăn nên liều lấy ăn, tôi gọi nó là khay thức ăn. Khay thức ăn còn có bong bóng nước, bong bóng nước mềm mềm, bóp hay cắn ra có thể uống nước bên trong, da bong bóng nướC cũng ăn được.”
Tôi: “Đồ ăn và các thứ xung quanh anh đều có màu sắc à?”
Anh: “Có, nhưng đã bay màu rồi, cái máy nhiều chỗ còn rỉ sét… Sau khi ăn xong, tôi mở cửa khoang đến một hành lang. Hai bên hành lang có rất nhiều cửa trông giống cửa khoang trên thuyền, nhưng dày nặng hơn, lại kín, mỗi lần mở ra mất rất nhiều sức. Lần nào tôi cũng mở cửa khoang để xem căn phòng phía sau cánh cửa, nhưng tất cả các căn phòng đều giống căn phòng lúc tôi tỉnh dậy, rất to, nhiều máy móc.”
Tôi: “Các phòng khác có người không?”
Anh: “Không có. Tất cả có mười căn phòng, chín căn phòng kia lần nào tôi cũng vào xem, hồ nước của chúng cạn khô, vỏ trứng mềm mềm nhăn nheo, bao lấy một thi thể khô co quắp bên trong. Tôi không dám mở ra xem.”
Tôi: “Anh sợ các thi thể khô đó?”
Anh: “Cái tôi sợ không phải thi thể, mà tôi không chấp nhận được thực tế chỉ có tôi là người sống sót.
Tôi: “… Ừm? Chỉ có một mình anh?”
Anh: “Đúng vậy. Sau khi xem hết tất cả các phòng, tôi đóng cửa khoang lại, cảm thấy rất bi thương, tôi cố nhịn để bản thân không bật khóc. Tại điểm cuối hành lang, tôi mở mấy cái cửa khoang to đùng, tới một sảnh nhỏ bên ngoài. Có thể nhìn thấy nơi tôi sống cao hơn mực nước biển, trên mặt biển khắp nơi toàn những tảng băng to nhỏ trôi nổi, bầu trời rất xanh, không khí không hề lạnh, kiểu mát mẻ trong lành. Mặt biển gần như yên tĩnh, chỗ nào không có băng có thể nhìn được sâu dưới đáy. Vùng nước phía dưới nơi tôi sống có một cái kim tự tháp nhưng chẳng có lấy một loài sinh vật.”
Tôi: “Không có gì hết?”
Anh: “Không có. Bờ sảnh thông đến một hành lang dốc, theo bậc thang sẽ leo tới nơi cao nhất – đỉnh của khu kiến trúc đó. Nhìn khắp bốn phía sẽ thấy dưới nước còn có các kim tự tháp khác, nhưng đều đã sụp đổ, chỉ còn lại kim tự tháp của tôi. Mỗi lần như vậy, tôi đều không nhịn nổi mà bật khóc, dẫu khóc chẳng thành tiếng. Nước mắt không thể ngăn lại, tôi cứ thế lau đi, không muốn nước mắt che mờ tầm nhìn. Nhưng, vô dụng.”
Anh ta trầm mặc một hồi lâu, tôi cũng không biết nên khuyên thế nào.
Anh: “Khóc xong tôi cứ đứng đó nhìn bốn hướng, nhìn rất lâu, tôi muốn tìm bất cứ thứ gì chuyển động, nhưng không có.”
Tôi cảm thấy bị đè nén: “Cứ đứng nhìn vậy thôi sao?”
Anh: “Không, nhìn một lúc tôi sẽ quay về, tới tầng phía dưới nơi tôi ở. Ở đó có một căn phòng lớn rộng rãi, bên trong đủ các loại máy móc vừa to vừa cũ, một số đang chuyển động nhưng không có âm thanh. Tôi không nhớ những máy móc đó dùng để làm gì, tôi chỉ nhớ phải điều chỉnh vài thông số trên màn hình về 0. Xong việc, tôi tới đầu kia căn phòng tìm một cái hộp nhỏ hình vuông, cầm cái hộp về phòng trên đỉnh. Tôi vặn mở khóa hộp như đang lên dây cót, rồi đứng nhìn cái hộp từ từ tự động bơm khí trong tay mình, cuối cùng biến thành một quả bóng bay đi mất.”
Tôi: “Anh đã từng thử làm những việc khác chưa?”
Anh: “Tôi không muốn thử, anh không biết cảm giác khi đứng ở đó đâu. Xung quanh thỉnh thoảng mới có tiếng nước nhẹ, những núi băng, mảnh băng vụn lững lờ trôi. Lúc đó tâm trí tôi rất rõ ràng, cả thế giới chỉ còn lại mình tôi, tôi cảm thấy cô đơn vô cùng. Sau khi làm hết tất cả mọi việc, tôi ngồi trong căn phòng trên đỉnh chờ đợi. Tôi biết mình đang đợi cái gì, nhưng tôi cũng biết có thể tôi sẽ không đợi được. Tôi muốn tự tử nhưng lại không muốn bỏ cuộc, tôi hy vọng vẫn có người còn sống, có thể cũng đang đi tìm tôi, giống như tôi đang tìm họ vậy… Lúc ngồi chờ đợi, tôi lại không kìm được nước mắt. Cảm giác cô đơn vây chặt lấy tôi, khiến tôi đến dũng khí tự nói chuyện một mình cũng không có. Nhiều lúc tôi muốn nhảy xuống nước, bơi về bất cứ đầu nhưng tôi biết mình sẽ phải bơi đến khi sức tàn lực kiệt, rồi chết ở đâu đó…”
Tôi: “Anh… kết hôn chưa?”
Anh: “Ừm, có một đứa con.”
Tôi: “… Cuộc sống không được như ý sao?”
Anh: “Mọi thứ đều rất tốt, thậm chí có người còn rất ngưỡng mộ tôi. Nhưng anh biết không, giấc mơ đó quả chân thực! Cảm giác cô đơn đến tuyệt vọng không cách nào xua đuổi được. Anh có thể hiểu được cảm giác cả tinh cầu chỉ còn lại một mình anh không? Tôi muốn khóc thật lớn nhưng không dám, đến dũng khí khóc to tôi cũng không có. Cảm giác cô đơn như hình với bóng, dù tôi có tỉnh giấc, tôi cũng vẫn buồn vì cô đơn. Tôi đối tốt với gia đình, đối tốt với bạn bè hơn gấp nhiều lần, bằng bất cứ giá nào, không cần bất cứ sự báo đáp gì, chỉ mong có thể giảm bớt cảm giác cô đơn đó. Nhưng không thể, dù tôi ở giữa chốn đông người, cảm giác cô đơn vẫn vây chặt lấy tôi không buông, tôi không biết nên làm thế nào?
Tôi thấy từng giọt nước mắt của anh ta rơi xuống.
Anh: “Tôi thà làm thi thể khô, thà chết trong tai nạn chứ không muốn một mình cô đơn như vậy… đợi chờ… tìm kiếm… Trong giấc mơ tôi cứ thế chờ đợi, chờ đợi với một chút hy vọng, nhưng mãi vẫn chưa đợi được. Trong tầm mắt chỉ toàn núi băng, âm thanh bên tai đều chỉ toàn tiếng nước biển, mỗi lần…”
Anh ta khóc không thành tiếng, tôi im lặng nhìn, chẳng có cách nào.
Anh: “Tôi không cách nào thoát khỏi giấc mơ, tôi từng điên cuồng tìm trên mạng đủ các loại ảnh núi băng và đại dương, tôi biết đó là giấc mơ, nhưng cảm giác cô đơn quá chân thực, tôi không thể an tâm được. Tôi thà mơ một cơn ác mộng kinh dị còn hơn giấc mơ cô đơn như vậy. Lần nào tôi cũng đứng trên đỉnh nhìn ra xa, cố gắng tìm kiếm sự tồn tại của bất cứ người nào. Tôi lật tung tất cả các căn phòng để tìm kính viễn vọng, tôi muốn quan sát xem phía xa xa kia liệu có còn người bầu bạn. Nếu có, dù là ai, tôi sẵn sàng trao tất cả mọi thứ mình có, tôi không muốn tiếp tục cô đơn nữa… Đó là sự bị ai khắc cốt ghi tâm, là dấu ấn nung sâu vào tim! Tôi cố gắng dùng mọi cách, nhưng không thể xoá mờ…”
Nỗi tuyệt vọng của anh ta không phải trạng thái bệnh mà là sự đau khổ xuất phát từ trái tim. Tôi cố gắng giữ bình tĩnh, tìm kiếm trong đầu mọi phương pháp có thể để giúp đỡ anh ta.
Tôi: “Thử thôi miên nhé?”
Khoảng ba tuần sau, tôi tìm được một người bạn khá đáng tin cậy về phương diện này để thôi miên anh ta.
Sau hai tiếng đồng hồ, bạn tôi bước ra, mắt cô ấy đỏ hoe.
Tôi: “Sao vậy?”
Cô: “Tôi cũng không biết nữa, có lẽ tôi không giúp được gì, cảm giác cô đơn của anh ta xuất phát từ trong giấc mơ.”
Tôi đưa bệnh nhân đến cửa bệnh viện, nhìn anh ta đi xa dần, trong lòng bỗng cảm thấy bi ai.
Đó là một nơi rất đẹp nhưng chỉ có anh ta tồn tại. Anh ta chịu đựng tất cả nỗi cô đơn để chờ đợi, anh ta là một người canh gác cô đơn.
Mưa rơi lặng thầm
Trong các bệnh án tôi đã tiếp xúc, bệnh nhân này đứng thứ ba về mức độ khiến tôi đau đầu, tôi rất đau khổ. Tiếp xúc với cô ấy mất quá nhiều công sức, hẳn bảy tháng. Không phải kiểu bảy tháng mỗi tháng gặp một lần, mà là bảy tháng cứ ba bốn ngày lại gặp một lần!
Vấn đề của cô ấy thật ra khá phổ biến đối với các bệnh nhân mắc bệnh thần kinh: trầm lặng.

Nói thật, tôi thích các bệnh nhân nói đủ thứ chuyện đông tây kim cổ, tuy họ không phải dạng đơn giản nhất, nhưng ít ra tiếp xúc với họ không phức tạp, cứ từ từ nói chuyện rồi cũng sẽ ra manh mối. Nếu tính theo phần trăm, kiểu bệnh nhân nói liên tục chiếm nhiều nhất, hơn một phần ba, trong đó có những thành phần nói gì không ai hiểu; kiểu trầm lặng cũng một phần ba, có thể chưa đến; còn lại là kiểu phức tạp, không dễ phân loại. Nhiều lúc chỉ có thể chia chung thành: ảo giác nghe, ảo giác nhìn, hoang tưởng, chứng hysteria… Chẳng còn cách nào khác, các bác sĩ thần kinh + học giả tâm lý + các loại bác sĩ liên quan có thể trực tiếp tham gia điều trị trên toàn quốc trung bình mỗi người chỉ có thể thăm khám cho số bệnh nhân trong phạm vi ba chữ số. Đây không chỉ là vấn đề cường độ lao động, muốn bước vào tâm hồn bệnh nhân, hiểu được thế giới quan của bệnh nhân để tìm phương pháp điều trị (nhấn mạnh: không phải chữa khỏi bệnh, mà là tìm phương pháp điều trị) cần rất nhiều thời gian, đầu tư tốn công sức. Tiếp xúc với người bình thường còn mất nhiều thời gian, đây lại là bệnh nhân thì khỏi phải nói. Những người có tên tuổi trong ngành này cơ bản đầu tư duy logic, bản năng phân tích khách quan rất mạnh. Chú ý, tôi không nói đến năng lực, mà là bản năng, bởi nếu không bản năng hoá sẽ rất dễ bị lay chuyển. Hơn nữa còn phải có đặc trưng tâm lý một lòng cố chấp, nói dễ nghe là kiên trì. Nếu không như vậy sẽ rất nguy hiểm, không phải chưa từng có trường hợp bác sĩ thần kinh biến thành bác sĩ bị bệnh thần kinh. Vì vậy, có lúc tôi thấy thật may mắn vì mình không phải bác sĩ thần kinh.
Vừa rồi nói đến các kiểu bệnh nhân tâm thần, loại gọi là trầm lặng không nhất thiết phải lạnh lùng hoặc ảm đạm, họ chỉ không chịu nói chuyện, hoặc có thể không thèm nói chuyện với người bình thường, nói chung tự chơi với mình rất tốt. Trầm lặng có thể phân thành ba loại: một loại có kèm theo chứng tự kỷ; một loại cho rằng tư duy của người khác không theo kịp họ, không có gì để nói; loại cuối cùng rất bi quan, trầm cảm. Trên thực tế, đa số bệnh nhân tâm thần đều là kiểu phức hợp, nếu chỉ một kiểu đơn lẻ cơ bản sẽ không bị xếp vào bệnh nhân tâm thần, trừ các trường hợp đặc biệt.
Bổ sung thêm là, kiểu trầm lặng không phải kiểu có nhiều thiên tài nhất. Kiểu nói liên tục mới là kiểu có nhiều thiên tài nhất, tất nhiên người khác có thể phát hiện ra không lại là vấn để khác. Trong số đó có một bộ phận rất giảo hoạt, thích giả ngu ngơ ngây ngô đấu trí đấu mưu, chưa làm người khác gà bay chó nhảy vò đầu bứt tai thì chưa kết thúc, họ coi đấy là thú vui.
Cô gái tôi muốn nhắc tới thuộc đặc trưng thứ nhất và thứ hai của loại trầm lặng. Chứng tự kỷ của cô ấy cũng không quá nghiêm trọng, vấn đề là tính cách cô ấy rất mạnh mẽ, chỉ một câu nói không đúng chỗ thôi, buổi gặp mặt coi như vô dụng. Qua lần tiếp xúc thất bại đầu tiên và liên tiếp những lần thất bại sau đó, tôi bắt đầu mặt dày, không có việc gì là tới, có việc làm xong cũng tới. Tôi giống như theo đuổi tán tỉnh cô ấy vậy.
Cuối cùng, cánh cửa tâm hồn cô ấy cũng bị tôi mở ra.
Tôi: “Tôi vẫn luôn muốn hỏi cô nhưng không dám hỏi.”
Cô ấy cười: “Tôi không nghĩ anh là kiểu người nhát gan.”
Tôi: “Ừm… có lẽ vậy. Tôi có thể hỏi cô vì sao lại dùng băng dính bọc tivi không?”
Cô: “Vì họ (chỉ bố mẹ cô ấy) làm việc ở đài truyền hình.”
Tôi: “Không được, cô phải giải thích rõ ràng quá trình bên trong, tôi thật sự không hiểu.”
Cô ấy là một cô gái cực kỳ thông minh, sớm biết nói cũng sớm biết chữ, bà nội chỉ dạy một chút không hiểu vì sao vẫn tự lĩnh ngộ được. Năm tuổi biết tự cầm báo chăm chú đọc, không phải giả vờ, mà là đọc thật. Giáo viên tiểu học cảm thấy buồn cười liền hỏi cô ấy bảo nói gì, cô ấy không ngẩng đầu lên, cứ thế đọc từ tiêu để đến nội dung, là thần đồng được công nhận.
Bố mẹ cô ấy đều làm việc ở đài truyền hình, từ khi cô ấy được sinh ra bố mẹ không chăm sóc mấy, đều do bà nội một tay chăm chút, vì vậy cô ấy thân nhất với bà nội. Năm cô ấy mười một tuổi, bà nội qua đời, cô ấy cầm tay bà khóc một ngày một đêm, ai kéo ra là cô ấy cắn, rồi mệt quả mà ngất đi, sau khi tỉnh dậy thì ốm một trận nặng, từ đó không nói chuyện với người khác nữa. Bố mẹ cô ấy không có cách nào, cũng chẳng có thời gian, mấy cô bảo mẫu đều bị doạ chạy mất dép. Có điều thiên tài vẫn là thiên tài, cô ấy cứ thế một mạch lên đại học, bố mẹ không cần lo lắng gì. Sau khi tốt nghiệp, bố mẹ sắp xếp cho cô ấy làm ở đài truyền hình, cô ấy nhất quyết không chịu, tự tìm một công việc liên quan đến nghệ thuật. Hằng ngày cô ấy cứ thầm lặng ra ra vào vào nhà mình, chẳng nói chuyện với ai. Nếu không phải vì cô ấy làm một số việc kỳ quặc, tôi đoán bố mẹ cô ấy cũng sẽ mặc kệ như vậy. Có lẽ nhiều người sẽ hoài nghi, có kiểu bố mẹ như vậy ư? Tôi xin trả lời, có, là có thật.
Cô ấy cau mày: “Họ làm các tiết mục truyền hình, tôi ghét những gì họ làm nên bọc kín tivi lại.”
Tôi: “Hiểu rồi, tôi cứ tưởng lý do cổ quái nào cơ, hoá ra là vậy.”
Cô: “Ừm, tôi cứ nghĩ anh sẽ bảo tôi không bình thường, rồi khuyên tôi sau đừng làm vậy nữa.”
Tôi: “Bọc thì bọc thôi, cũng không phải tivi nhà tôi, cần gì ngăn cản.”
Cô ấy cười.
Tôi: “Vậy sao cô thay ổ khoá cửa lại chỉ đưa bố mẹ cô hai người một chìa khoá ?”
Cô ấy đột nhiên trở nên lạnh lùng: “Dù sao mỗi lần họ cũng chỉ về một người, một chìa là đủ rồi.”
Tôi: “Ồ… Nguyện vọng thứ hai mãn nguyện rồi, cái cuối cùng tôi phải suy nghĩ thật kỹ.”
Cô ấy chăm chú nhìn tôi: “Tôi không phải thần đèn.”
Tôi: “Câu cuối cùng tôi chưa hỏi vội, tôi thử đặt giả thuyết nhé. Cô thường đeo kính gọng đen này chắc không phải vì đẹp mà để lẩn tránh, để có cảm giác an toàn phải không?”
Cô: “Anh đoán sai rồi, không phải kiểu an ủi tâm lý anh nghĩ đâu.”
Tôi ngẩn người: “Cô đọc qua tâm lý học rồi.”
Cô: “Sau lần đầu tiên anh tìm tôi, tôi đã đọc.”
Hoá ra cô ấy cũng đang quan sát tôi.
Tôi: “Nguyện vọng cuối cùng chẳng biết có nên hỏi về gọng kính không? Thật băn khoăn… có thể thêm một nguyện vọng không?”
Cô: “Đương nhiên là không, chỉ ba câu thôi. Anh phải nghĩ thật kỹ có hỏi vấn đề gọng kính hay không nhé.” Có thể thấy cô ấy rất vui.
Trực giác mách bảo tôi vấn đề gọng kính rất quan trọng.
Tôi: “… Quyết định rồi, vì sao cô lại đeo kính gọng đen này?”
Cô: “Bị anh phát hiện rồi?”
Nói thật tôi vẫn chưa phát hiện ra điều gì, nhưng vẫn gật gật đầu giả vờ cao thâm.
Cô ấy nghĩ ngợi kỹ càng: “Được rồi, tôi nói cho anh biết vì sao, đây là bí mật lớn nhất của tôi.”
Tôi: “Ừm, tôi sẽ không nói lại với người khác”
Cô: “Tôi đeo gọng kính này để không phải nhìn thấy màu sắc của mỗi ngày.”
Tôi: “Màu sắc của mỗi ngày?”
Cô: “Các anh đều không thấy, nhưng tôi có thể nhìn thấy màu của mỗi ngày.”
Tôi: “Mỗi ngày… ý cô là ngày nắng, ngày âm u à?”
Cô: “Không, không phải thời tiết.”
Tôi: “Màu sắc của bầu trời?”
Cô: “Không, mỗi sáng sớm tôi tỉnh dậy đều sẽ nhìn ra bên ngoài trước, trong nhà nhìn không thấy, bắt buộc phải ra ngoài, có màu sắc đấy.”
Tôi: “Là khái niệm như thế nào?”
Cô: “Chính là màu sắc của mỗi ngày.”
Tôi: “Cái này cô phải kể cụ thể, không như mấy tháng trước được.”
Cô: “Ừm… tôi biết anh có ý tốt đến giúp tôi, ban đầu tôi không để ý đến anh không phải vì những câu hỏi của anh, mà vì anh là người họ (chỉ bố mẹ cô ấy) tìm đến. Nhưng tôi không bị bệnh, tôi rất bình thường, tôi chỉ không thích nói chuyện.”
Tôi: “Ừm, tôi có thể hiểu, họ không hiểu cô nên mới cho rằng cô không bình thường, như vấn đề tivi hay việc cô thả hết cá đi chẳng hạn.”
Cô ấy từng thả hết mấy con cá nhà nuôi vừa quý vừa đắt. Lý do không phải để phóng sinh mà khá phức tạp: Không giống nuôi chó nuôi mèo phải cho ăn cố định thời gian lại mất nhiều công sức, giờ nuôi cá đều tự động hết, tự động lọc nước, tự động thả đồ ăn, tự động cân bằng nhiệt độ, nếu có điện thì mấy tháng liền cũng không cần quan tâm đến chúng, cứ nhìn ngắm là được. Cô ấy cảm thấy cá quá đáng thương, đến những quan tâm nhỏ nhặt nhất cũng không có, chỉ để ngắm, vì vậy cô ấy thả hết chúng đi. Đó là điều cô ấy đã kể với tôi không lâu trước đây.
Cô: “Ừm, thật ra việc tôi có thể nhìn thấy màu sắc của mỗi ngày tôi mới chỉ kể với bà nội, bà chẳng hề cho rằng tôi không bình thường, nhưng sau hôm nay có thể anh sẽ cảm thấy tôi không bình thường đấy.”
Tôi: “Ồ, chưa chắc, tôi không phải kẻ nhát gan, hơn nữa cũng từng gặp không ít người cổ quái kỳ lạ hiếm thấy. Nguyện vọng thứ ba của tôi là cô hãy giải thích về màu sắc của mỗi ngày, tôi sẽ không nuốt lời đâu.”
Cô: “… Mỗi ngày vào buổi sáng tôi đều ra ngoài, tôi sẽ nhìn thấy một màu sắc tràn ngập toàn bộ tầm nhìn, ví dụ đen, vàng, xanh lá, xanh biển… từ bé đã vậy rồi. Nếu là màu xám nhạt, ngày hôm đó sẽ rất nhạt nhẽo; nếu là màu vàng, ngày hôm đó sẽ có sự việc bất ngờ xảy ra, không phải việc xấu, cũng không phải việc tốt; nếu là màu xanh biển, ngày hôm đó chắc chắn có rất nhiều chuyện tốt lành xảy ra, vì vậy tôi thích màu xanh biển; nếu là màu đen sẽ xảy ra việc khiến tôi không vui.”
Tôi: “Chuẩn vậy sao? Trước giờ chưa từng sai sót?”
Cô ấy cười: “Sai sót?… Chưa từng.”
Tôi: “Hiểu rồi, cô đeo cái kính này để không phải nhìn thấy nữa đúng không?”
Cô: “Ừm, hồi học trung học tôi tình cờ phát hiện nếu đeo kiểu kính này sẽ không thấy màu sắc của ngày nữa, tôi cũng không biết vì sao?
Tôi: “Hình như vừa rồi cô không nhắc đến màu hồng? Đúng không?”
Cô ấy trở nên nghiêm túc: “Tôi không thích màu đó.”
Trong phòng cô ấy không có vật gì màu hồng hay đỏ.
Tôi: “Vì sao?”
Cô: “Màu hồng là màu không tốt.”
Tôi: “Ừ… cô có thể giải thích không?”
Cô: “Nếu là màu hồng, sẽ có người chết.”
Tôi: “Người cô quen?”
Cô: “Không phải, có thể chỉ là tôi đọc được một vài tin tức. Người chết vì thiên tai đăng trên báo, trên mạng, hoặc không thì cũng là đồng nghiệp, bạn học báo với tôi người thân, bạn bè của họ vừa qua đời.”
Tôi: “Hoá ra là như vậy… Hoá ra màu hồng là màu không tốt nhất…”
Cô: “Màu đỏ mới là không tốt nhất.”
Tôi: “Ồ? Màu đỏ? Rất… rất không tốt sao?”
Cô: “Ừm.”
Tôi: “Có thể ví dụ không? Nếu cô không muốn thì ta nói chuyện khác. Đúng rồi, có màu nào rất phức tạp cô không biết không?” Tôi không thể không thận trọng.
Cô: “Chính vì có màu tôi không biết, nên tôi mới học mỹ thuật… Tôi chỉ từng nhìn thấy màu đỏ hai lần”
Tôi: “Đó là…”
Cô: “Một lần là hôm bà nội mất, một lần là hôm người bạn cấp ba rất thân với tôi mất.”
Tôi: “Là như vậy à… Đúng rồi, cô nói tràn ngập là như kiểu mây mù à?”
Cô: “Là hơi phát quang, trừ hai lần đó.”
Tôi cảm thấy cô ấy muốn nói tiếp, nên không ngắt lời.
Cô ấy cắn môi do dự một lúc: “Ngày bà nội qua đời, sáng dậy tôi đã cảm thấy không thoải mái, tôi kéo rèm cửa sổ, sợ chết khiếp, tất cả đều là một màu đỏ máu, rất chói mắt. Tôi sợ tới mức trốn trong nhà không dám ra ngoài, đến tối thì nghe tin bà nội trong bệnh viện không ổn, mẹ dẫn tôi tới bệnh viện, tôi nhắm mắt khóc mà đi, trên đường ngã mấy lần, chân rách cả da. Mẹ mắng tôi, nói tôi không hiểu chuyện… Đến bệnh viện, thấy trên người bà nội là ánh sáng màu xanh biển, nhưng xung quanh toàn màu đỏ máu, tôi không rời tay khỏi người bà, chỉ khóc… cũng vì sợ. Bà nội nói với tôi rất nhiều, bà nói màu sắc của mỗi ngày thật ra chỉ là màu sắc của mỗi ngày thôi, không đáng sợ. Bà còn nói bà cũng có thể nhìn thấy, vì vậy bà biết tôi không nói dối. Cuối cùng bà nói với tôi, mỗi ngày bà đều cảm thấy tự hào về tôi, vì tôi có cái người khác không có… Sau đó bà nói để lại màu xanh cho tôi, không mang đi, rồi một đám màu xanh in lên lòng bàn tay tôi… Mỗi lần tôi thấy vui, màu sắc đều rất sáng… Khi tôi buồn, màu sắc lại rất tối… Tôi biết bà tôi luôn bảo vệ tôi…”
Mắt cô ấy rơm rớm, nhìn lòng bàn tay phải của mình.
Tôi nín thở im lặng lắng nghe cô ấy, lắng nghe tiếng mưa bên ngoài cửa sổ.
Sau một lúc lâu, cơ thể cô ấy dần dần thả lỏng.
Cô ấy ngẩng đầu lên: “Cám ơn anh.”
Tôi: “Không, phải là tôi Cám ơn cô đã nói cho tôi biết bí mật của cô mới đúng.”
Cô: “Sau này không còn là bí mật nữa rồi, tôi sẽ nói cho người khác biết nữa. Có điều, tôi vẫn sẽ đeo cái kính này, không phải vì sợ, mà bởi tôi không thích một số màu.”
Tôi: “Vậy cứ đeo thôi… Tôi có màu không?”
Cô ấy nghĩ nghĩ rồi chỉ áo khoác của tôi: “Vậy phải xem anh mặc cái gì?
Chúng tôi cùng cười.
Coi như trao đổi công bằng, tôi cũng kể một số bí mật của mình, cô ấy cười rung cả người.
Thật ra người nhẹ nhõm lại chính là tôi. Tôi biết cô ấy đã gạt bỏ đi được thử nặng nề nhất trong tâm hồn, tuy mới chỉ là bắt đầu.
Lúc chuẩn bị ra về, tôi dùng một cây bút màu xanh đổi lấy một bí mật của cô ấy: cô ấy thích trời mưa, vì theo như cô ấy nhìn thấy mưa có màu xanh nhạt, mỗi giọt đều vậy.
Xuống dưới nhà, tôi ngẩng đầu lên, thấy cô ấy đang dựa cửa sổ ló nửa cái đầu ra, tay vẫy vẫy cây bút màu xanh.
Hình như tôi đã cười.
Đi trên đường, tôi gập ô lại, cứ để mình bị ướt.
Mưa rơi thầm lặng.
Chương sinh mệnh
“Xin chào.” Tôi ngồi xuống, cởi mũ, mở sổ ghi chép, chuẩn bị bút ghi âm, sau đó ngẩng lên nhìn anh ta.
Chỉ một cái nhìn, tôi lập tức hối hận, hối hận đã gặp anh ta.
Tôi đã tiếp xúc không ít bệnh nhân tâm thần, trong số họ ít người có ánh mắt như anh ta, khiến tôi cảm thấy bất an. Căn nguyên là bởi trong ánh mắt anh ta không thể nhìn ra điều gì, không một chút hỷ nộ ai lạc. Nếu bệnh nhân đối diện ở trạng thái hưng phấn hứng thú cao độ, tôi sẽ không phải hỏi nhiều, cứ nghe là được. Nếu đối diện là kiểu trầm lặng cũng không sao, cùng lắm đến thăm bệnh nhân thêm nhiều lần là ổn. Còn nếu đối phương tâm trạng không ổn định, thậm chí hung dữ náo loạn, cùng lắm thì chạy thôi, chạy nhanh một chút để tránh những thứ đồ bị ném vào người, an toàn là trên hết. Nhưng người ở trước mặt tôi anh ta chỉ có một kiểu thái độ: siêu nhiên. Nói thật tôi có chút sợ bệnh nhân kiểu này, trước mặt họ, tôi như người bị đánh giá đến mức không có lối thoát.
Tôi có dự cảm tiếp theo đây sẽ là đoạn thời gian hack não, thậm chí lật đổ tất cả những gì tôi từng biết.
Anh ta gương mặt không chút cảm xúc gật đầu: “Xin chào.”
Chết rồi! Tôi biết dự cảm của mình không sai, anh ta rất bình tĩnh đáp lại câu chào của tôi. Đối với một bệnh nhân tâm thần tinh thần không ổn định, việc này là không bình thường.
Tôi: “Ừ… nghe nói anh từng nhiều lần tự tử?”
Anh ta nhìn tôi một lúc, mặt không cảm xúc: “Đó không phải tự tử, tôi chỉ muốn kết thúc trước chương này.”
“Chương này?” Câu nói khiến tôi nhớ tới một bệnh nhân tôi từng tiếp xúc: “Anh cho rằng chúng ta đang ở trong một cuốn sách?”
Anh: “Không phải sách. Chỉ là hình dung như vậy thôi.”
Tôi: “Vậy ý anh là gì?”
Anh: “Chỉ là một vòng quay thôi.”
Tôi: “Ồ… vẫn chưa hiểu.”
Anh ta thờ ơ nhìn tôi một lúc: “Cái chết thật ra không phải cái chết, là chúng ta nói như vậy thôi. Cái chết chỉ là phần kết của một đoạn trong sinh mệnh, chúng ta vẫn sẽ dùng phương thức khác để tiếp tục.”
“Cái chết không phải cái chết..” Tôi đang chiêm nghiệm câu nói này: “Vậy cái chết là gì?”
Anh: “Là kết thúc của chương này, tôi đã nói rồi.”
Tôi bắt đầu hiểu hơn chút: “Hoá ra là vậy… Vậy sau đó thì sao? Là cái gì?”
Anh: “Tôi cũng không biết, một hình thức nào đó. Vì vậy tôi muốn kết thúc sớm vòng quay hiện tại để xem sau đó sẽ là gì?
Tội: “Thật ra…” Tôi mơ hồ cảm thấy nội dung cuộc nói chuyện có chút sai sai, nhưng lúc này chưa biết có nên rẽ hướng hay không, dù sao anh ta cũng là kiểu bệnh nhân có xu hướng tự sát.
Anh ta không định dừng lại, vẫn tiếp tục vấn đề này: “Sinh mệnh và cái chết chỉ là do chúng ta đặt tên, sinh mệnh bản thân chưa chắc đã tốt, cái chết cũng chưa hẳn là xấu. Chúng chỉ là những giai đoạn bắt buộc mà thôi. Hiện nay, giai đoạn chúng ta gọi là sinh mệnh chỉ là đoạn sau của một vòng quay lớn, trước đó chúng ta đã trải qua các giai đoạn khác, về sau cũng sẽ trải qua những thứ khác nữa, nhưng chúng ta không rõ đó là gì.”
Tôi: “Tôi đại khái đã hiểu rồi, anh muốn nói sinh mệnh của chúng ta là một phần của một thứ… cực lớn… ừm… có tính liên tục?”
Anh: “Đại khái là như vậy.”
Tôi: “Vậy, vậy thứ cực lớn đó… tôi không biết phải gọi nó là gì, có hình dạng như nào? Vòng tròn? Hay dạng xoắn ốc như DNA?”
Anh: “Anh đang có ý định dùng các thường thức trong sinh mệnh để giải thích những thứ ngoài sinh mệnh sao? Nếu thật sự có hình dạng, tôi nghĩ chúng ta cũng không cách nào lý giải được, bởi trước mắt chúng ta thậm chí còn không lý giải được ngoài sinh mệnh là gì?
Tôi đột nhiên cảm thấy suy nghĩ của anh ta rất thú vị: “Có thể nó chỉ là đường thẳng rất bình thường.”
Anh ta nghiêm túc suy nghĩ: “Tôi không biết.”
Tôi: “Nhưng vì sao anh lại nghĩ như vậy?”
Anh: “Tôi chỉ nói có thể tồn tại khả năng này, vì vậy tôi mới dự định thử kết thúc sớm sinh mệnh.”
Tôi: “Nhưng lấy sinh mệnh ra để… quá bồng bột, dù sao sinh mệnh cũng chỉ có một…”
Anh ta không ngại ngần cắt lời tôi: “Sao anh biết được?”
Tôi sững người.
Anh: “Các anh cứ thích dùng những thứ đã biết để giải thích những thứ chưa biết, rồi lấy làm chuẩn mực để phán đoán đánh giá.”
Tôi: “Nhưng điều này rất bình thường, dù sao chúng ta sống trong sinh mệnh…”
Anh: “Không, không, không phải như vậy, anh vẫn chưa thể nhảy ra. Biết đâu nhìn từ vòng quay sau, giai đoạn hiện nay của chúng ta chỉ là thời kỳ thai nghén nào đó, thậm chí giai đoạn của chúng ta còn bị gọi là cái chết thì sao? Nhìn từ giai đoạn khác, quan hệ nhân quả của sinh tử có thể là tương phản chứ không như chúng ta nghĩ hiện nay. Anh quá quen dùng thứ đã biết để giải thích vấn đề chưa biết rồi, hoặc có thể nói ở một mức độ nào đó anh sợ hãi những thứ chưa biết, như sợ hãi cái chết chẳng hạn.”
Tôi biết logic của anh ta tuy được tạo nên từ cơ sở giả thuyết nhưng lại không thể công phá, tôi không thể lật đổ giả thuyết của anh ta, trừ phi tôi cũng giả thuyết giống anh ta. Nhưng như vậy so với những gì anh ta đã làm, tôi sẽ không có bất cứ khác biệt nào nữa. Mỗi lần gặp phải tình trạng này, tôi đều cảm thấy bị ai cho giới hạn logic của loài người, cảm giác bất lực nặng nề và tuyệt vọng ở một mức độ nào đó.
Tôi quyết định giãy giụa một chút: “Dùng cái đã biết để thử nghiệm, giải thích cái chưa biết cũng không sai mà, ít ra hiện tại thì không sai, vì định vị của chúng ta ở trong sinh mệnh chứ không phải ngoài sinh mệnh.”
Anh: “Anh nhìn từ góc độ thân thế thì tất nhiên không sai, nhưng từ góc độ chính xác hay không thì chưa chắc.”
“Thôi được.” Tôi hoàn toàn từ bỏ việc tiếp tục luẩn quẩn trong vấn đề này, vì anh ta đúng: “Từ lúc nào anh bắt đầu có suy nghĩ này?”
Anh: “Từ một bức ảnh.”
Tôi: “Có thể nói là bức ảnh như nào không?”
Anh: “Là một bức ảnh dải ngân hà”
Tôi đột nhiên có dự cảm không lành: Sẽ không liên quan đến ngành khoa học kỳ quái nào chứ?
Anh ta hoàn toàn không để ý đến biến động cảm xúc của tôi, mắt lim dim như đang nhớ lại: “Đó là một bức ảnh rất đẹp, dải ngân hà như cái đĩa cực lớn, sáng lấp lánh, kèm theo hàng tỷ các tinh cầu chậm rãi xoay chuyển. Bức ảnh đó như có ma lực vậy, hoàn toàn hấp dẫn tôi không thể rời mắt trong gần một tiếng đồng hồ. Có lúc tôi thậm chí đã đặt bản thân vào trong đó, trôi nổi ngắm nhìn nó cho đến khi tôi quên mất sự tồn tại của đôi chân, quên mất cách giữ thăng bằng, ngã lăn ra đất.”
Tôi thử tưởng tượng rồi hỏi: “Vậy anh nghĩ đến cái gì?”
Anh ta sững lại một lúc rồi định thần nhìn tôi: “Thời xưa con người vốn cho rằng mặt đất là bề mặt phẳng, mặt trăng, mặt trời và các ngôi sao đều từ mặt phẳng này theo một quy luật nào đó mà lên xuống. Về sau chúng ta phát hiện ra địa cầu hình tròn, chúng ta cũng nhận định mặt trăng, mặt trời và các ngôi sao vận hành quanh chúng ta, rất tự cao phải không? Có người đưa ra ý kiến không đồng nhất thì bị thiêu chết, còn nói đó là học thuyết dị đoan tà ác. Anh biết tôi đang nói về cái gì không, là thuyết nhật tâm6. Về sau thuyết nhật tâm dần dần được chấp nhận, nhưng vẫn là sai lầm. Về sau nữa, chúng ta càng biết nhiều hơn, nhưng cho đến nay đại đa số mọi người vẫn cho rằng địa cầu chỉ an an tĩnh tĩnh từng vòng từng vòng chuyển động quay xung quanh bằng tinh đó. Thực tế thì sao? Mặt trời mang theo chúng ta chạy trong dải ngân hà, giống như hàng chục tỷ tinh cầu khác, tạo thành một cái đĩa cực lớn, lấp lánh, không ngừng chuyển động. Ai biết được dải ngân hà có thuộc một cái gì to lớn hơn nữa không, sự tồn tại lớn đến mức chúng ta không thể biết đến, không thể chấp nhận? Thật ra chúng ta từ khi sinh ra không có một giây nào đứng yên tại vị trí cũ, chúng ta mỗi phút đều cách vị trí trước đó mấy chục vạn km. Từ rất lâu rất lâu về trước đã vậy rồi, từ khi chưa có con người đã vậy rồi, nhưng chúng ta lại mới biết chưa lâu. Anh hỏi tôi lúc đó nghĩ gì, tôi đã nghĩ như vậy đấy.”
Tôi không biết nên tiếp tục như thế nào, chỉ có thể im lặng nhìn anh ta.
Anh: “Tôi muốn nói sinh mệnh của chúng ta chỉ là một đoạn nhỏ, rất nhỏ rất nhỏ mà thôi. Trước đó có rất nhiều rất nhiều phương thức tồn tại khác mà chúng ta không thể lý giải, sau này cũng sẽ có rất nhiều rất nhiều phương thức tồn tại mà chúng ta hoàn toàn không biết, cũng như ban đầu chúng ta không thể lý giải chúng ta sống trong một dải ngân hà cực lớn vậy. Vì vậy, tôi muốn cảm nhận, dùng từ cảm nhận có thể chưa đủ, đó là một cảm giác vượt xa sức tưởng tượng của chúng ta. Sau đó khi tôi quyết định, chỉ là một quyết định nho nhỏ của sinh mệnh trong vòng quay nhỏ không đáng kể này, các anh không thể chấp nhận, nói tôi điên rồi nhốt tôi lại, còn nói để tôi không tự hại bản thân, chẳng phải nghe rất buồn cười sao?”

“Bởi vì…” Tôi có thể cảm nhận được sự bất lực của bản thân: “Hiện tại anh vẫn sống trong cái… ừm… vòng quay này.”
“Đúng vậy.” Lúc này nước mắt chạy quanh khóe mắt anh ta. “Nhưng các anh không cho tôi đi…”
Tôi định nói điều gì đó, nhưng lại phát hiện bản thân không biết nói gì cho đúng.
Từ chỗ anh ta về, tôi cứ luôn ở trong trạng thái hoảng hốt. Vốn dĩ cứ nghĩ trạng thái đó sẽ qua đi rất nhanh, nhưng hóa ra nó lại tiếp diễn trong rất nhiều ngày. Khoảng một tuần sau, tôi mơ một giấc mơ, thấy bản thân ở trong khoảng hư vô, trước mắt có dải ngân hà cực lớn, lấp lánh chậm rãi chuyển động, không phát ra tiếng động. Ở nơi xa hơn, có rất nhiều dải ngân hà rải rác trong bóng tối, vô hạn.
Satan cuối cùng
Tôi: “Tôi thấy bức tranh cậu vẽ trên tường phòng bệnh rồi.”
Cậu: “Ừm.”
Tôi: “Các bệnh nhân khác đều bị doạ sợ chết khiếp.”
Cậu: “Ừm.”
Tôi: “Nếu cậu vẫn tiếp tục vẽ thì không những phải buộc đai nịt, mà lúc ngủ còn bị cố định vào giường đó.”
Cậu: “Ừm.”
Tôi: “Cậu không bận tâm sao?”
Cậu: “Dù sao tôi cũng ở bệnh viện tâm thần một năm rồi, xử lý thế nào tuỳ các anh thôi.”
Tôi: “Là người nhà cậu chủ động yêu cầu à?”
Cậu: “Ừm.”
Tôi: “Có phải rất ghét tôi không?”
Cậu: “Cũng tạm”
Tôi: “Vậy cậu nói chuyện gì đó đi.”
Trước mắt tôi là một cậu thanh niên khoảng 20 tuổi, rất đẹp trai, nhưng giữa hai hàng lông mày có một loại tà khí, tôi không thể nói rõ đó là gì, tóm lại khiến người ta không thoải mái – không phải chỉ mình tôi nói như vậy.
Cậu ta ngước mắt nhìn tôi: “Có thể tháo đai nịt một lúc không?”
Tôi: “Sợ là không được, cậu có xu hướng bạo lực.”
Cậu: “Tôi chỉ muốn hút điếu thuốc.”
Tôi suy nghĩ rồi vòng qua tháo cho cậu ta.
Cậu ta vận động vai một chút rồi đón lấy điếu thuốc tôi đưa, châm điếu, mơ màng hít sâu: “Một lúc nữa buộc lại cho tôi, tôi không muốn làm khó anh.”
Tôi: “Cám ơn.”
Cậu: “Tôi có thể xem anh viết gì không?” Cậu ta chỉ ghi chép bệnh sử của cậu ta đặt trước mặt tôi.
Tôi đưa cậu ta, chỉ có vài ghi chép quan sát, cậu ta cười.
Tôi: “Một năm gần đây cậu gần như không nói gì, ghi chép trống rất nhiều.”
Cậu: “Tôi lười nói.”
Tôi: “Vì sao?”
Cậu: “Bao thuốc này cho tôi thoải mái hút được chứ?”
Tôi: “Được.”
Cậu: “Thật ra tôi không có vấn đề gì, chỉ không muốn đi học nữa, muốn ngồi không, giống như họ nói, lười lao động, thích hưởng thụ.”
Tôi: “Để bố mẹ nuôi?”
Bố mẹ cậu ta theo đạo Thiên Chúa giáo, kiểu người rất mộ đạo. Từ Vũ Uy7 di cư đến Bắc Kinh, n đời trước đã như vậy.
Cậu: “Đúng, đợi họ chết đi tôi sẽ thừa kế, sống đến đâu tính đến đó. Hết tiền thì giết người cướp của.”
Tôi: “Đây là tương lai cậu tự thiết kế cho bản thân?”
Cậu: “Đúng”
Tôi: “Rất có ý nghĩa sao?”
Cậu: “Cũng tạm”
Tôi: “Vì sao chứ?”
Cậu ta lần nữa ngước mắt nhìn tôi: “Chỉ là cảm thấy chán nản… Thật ra tôi cũng không làm gì cả, ngoài việc không đi học không đi làm thì chỉ vẽ bậy thôi.”
Tôi: “Tất cả các bức tường ở nhà đều vẽ đầy hình tượng ác ma, còn vẽ trong hành lang nữa. Đã vậy cậu còn ép bạn gái xăm hình ngôi sao năm cánh sau lưng, vậy mà bảo không làm gì sao?”
Cậu: “Sao năm cánh ngược.”
Tôi: “Nhưng vì sao cậu lại làm những điều đó?”
Cậu ta lại rút một điếu thuốc ra, châm lửa: “Anh có tín ngưỡng tôn giáo không?”
Tôi: “Tôi cơ bản là theo vô thần luận.”
Cậu: “Ồ, vậy anh thuộc phái trung gian rồi?”
Tôi: “Phái trung gian?”
Cậu: “Đúng vậy, những người tín ngưỡng Chúa trời là ánh sáng, anh là trung gian, tôi là bóng tối.”
Cậu ta nói một cách đơn giản nhẹ nhàng, nhưng cả gương mặt toát lên vẻ khinh thị.
Tôi: “Cậu muốn nói cậu tín ngưỡng ác ma?”
Cậu: “Ừm, tất cả những kẻ bị con người gọi là ác ma tôi đều tín ngưỡng.”
Tôi: “Lý do?”
Cậu: “Cũng phải có người tín ngưỡng những thứ đó thì mới có sự so sánh.”
Tôi: “So sánh cái gì? Ánh sáng và bóng tối?”
Cậu: “Ừm.”
Tôi: “Cậu không thấy đó chỉ là hành động tỏ vẻ ngầu, rất ấu trĩ sao?”
Cậu ta mím môi không trả lời.
Tôi biết câu nói của mình đã chọc trúng cậu ta rồi, tôi quyết định mạo hiểm.
Tôi: “Trẻ con thường sùng bái ác ma vì thấy chúng ngầu, mua mấy bộ quần áo hình thù gớm ghiếc để mặc, xăm một hình đầu lâu quỷ quái trên người, hoặc cố ý trang điểm không giống ai, theo đuổi hiệu quả khác người. Thật ra đó là để che đậy sự trống rỗng, mơ hồ của bản thân, một kiểu làm trò nổi loạn để được nổi loạn.”
Cậu ta vẫn không mở miệng, nhưng tôi thấy cục yết hầu của cậu ta hơi chuyển động.
Tôi: “Tuy khả năng vẽ của cậu khá tốt, nhưng cũng không thể chứng minh được cậu thâm sâu, hơn nữa lại có những thứ không thể che đậy, ví dụ sự ấu trĩ.”
Cuối cùng cậu ta cũng lên tiếng: “Đừng dạy đời tôi, anh cũng đâu biết được bao nhiêu. Đừng cho rằng bản thân cái gì cũng biết, anh không hiểu gì về tôi đâu.”
Tôi: “Giờ cậu có cơ hội để tôi hiểu hơn về cậu rồi đó.”
Cậu: “Được thôi, tôi nói cho anh biết, thế giới này rất bẩn thỉu, tất cả con người đều vậy. Dưới lớp vỏ đạo mạo trang nghiêm là những gương mặt hạ lưu bỉ ổi. Tôi sớm đã nhìn thấu rồi, không có ai bản chất thuần khiết cả, đều như nhau thôi. Anh không đồng ý cũng chẳng sao, nhưng những gì tôi nói đều là sự thật.”
Tôi mỉm cười nhìn cậu ta.
Cậu: “Con người trời sinh vốn không thuần khiết, mỗi cơ thể ngay từ ban đầu đã được tiêm sẵn hai đặc tính: lời chúc của Chúa và lời nguyền của ác ma, giống như anh mua máy tính đã được cài đặt sẵn hệ thống vậy. Ban đầu được tiêm như vậy, sau đó linh hồn con người đi vào thể xác, bị kìm kẹp giằng co ở giữa. Các loại dục vọng thúc đẩy linh hồn anh sa ngã, các loại cảnh báo giúp anh từ chối sa ngã, con người chỉ có thể đấu tranh như vậy. Có ý nghĩa không? Không, đều là bản tính bất lực, không thể thoát khỏi. Một lúc nào đó hiểu ra anh sẽ phát hiện rằng trong bản chất của mình cũng có những thứ thật bẩn thỉu hạ lưu mà anh muốn xóa bỏ. Ha ha ha, không thể nào!”
Tôi: “Nhưng cậu có thể chọn lựa.”
Cậu ta cao giọng: “Lựa chọn? Anh sai rồi! Không có động lực, mãi mãi tham lam dục vọng sẽ mạnh hơn sự kiềm chế, bỉ ổi đê tiện luôn mạnh hơn cao thượng. Con người chính là thứ hạ tiện như vậy đó. Chỉ có lúc đối diện với tà ác, mặt cao thượng mới được kích thích, bởi đó cũng là đặc điểm của việc cùng tồn tại trong cơ thể, ý đồ của Chúa chính là như vậy. Khi đối diện với bạo hành anh sẽ che chở kẻ yếu đuối, khi đối diện với tà ác anh trở nên chính nghĩa, khi đối diện với sợ hãi anh mới trở nên dũng cảm. Không có sự so sánh, đến cái rắm cũng không phải, là con kiến, con giòi, là rác rưởi, là bụi bẩn trong không khí, là tạp vụn dưới chân!”
Tôi: “Nếu trên thế giới này không có Chúa, không có ác ma thì sao?”
Cậu ta đứng dậy, gần như quát vào mặt tôi: “Vậy mới chứng minh đây là vấn đề bản chất con người, vốn dĩ đã ở trong tim rồi, đời đời tương truyền, vĩnh viễn như vậy! Đưa hai đứa bé sơ sinh một bình sữa, anh nghĩ chúng sẽ nhường nhau? Vớ vẩn! Loài người là động vật đấu tranh, đấu tranh với tự nhiên, đấu tranh với sinh vật, sau đó đấu tranh với chính con người, anh có thể cho tôi biết liệu ngày nào trên thế giới không có chiến tranh? Chỉ có trong Nghìn lẻ một đêm thôi đúng không? Trừ phi là lúc trước khi con người xuất hiện! Tôi ấu trĩ? Anh thật buồn cười! Tôi tin vào ác ma, vậy thì sao chứ? Tự nguyện sa ngã có làm sao? Sự tồn tại của tôi chính là để chứng minh sự tồn tại của ánh sáng, tôi không tồn tại sẽ không có so sánh, không có ánh sáng. Sự cao thượng của con người cũng vĩnh viễn không được kích thích ra ngoài, sẽ chỉ có tự ti, bẩn thỉu, hạ lưu! Có người tình nguyện lựa chọn Chúa, có người tình nguyện lựa chọn ác ma! Nếu trên thế giới này chỉ có ác ma, vậy sẽ không có ác ma nữa, cũng cùng một đạo lý như vậy, nếu trên thế giới này chỉ có Chúa thì cũng sẽ không có Chúa nữa. Ý nghĩa tồn tại của tôi chính là như vậy!”
Nghe thấy tiếng hét của cậu ta, hai y tá nam từ ngoài xông vào, kẹp cậu ta lôi ra ngoài.
Ngoài hành lang vọng lại tiếng la hét của cậu ta: “Các người đều là Chúa được rồi, tôi cam tâm tình nguyện làm ác ma, dù tất cả các người đều chọn ánh sáng, để chứng thực ánh sáng của các người, tôi sẽ là Quỷ Satan cuối cùng. Đây! Chính là sự tồn tại của tôi!”
Nghe tiếng cậu ta xa dần, tôi đối diện với căn phòng lộn xộn, ngơ ngẩn đứng đó, lần đầu tiên không biết nên làm gì.
Tôi phải thừa nhận, những lời cậu ta nói khiến tôi nghĩ ngợi rất lâu, đoạn ghi âm tôi nghe đến sắp nát.
Về sau nói chuyện với bố mẹ cậu ta vài lần, họ cho tôi biết bệnh nhân từng rất mộ đạo, tràn đầy tín ngưỡng, nhưng đột nhiên không hiểu vì sao lại thành như bây giờ. Họ nói đã cầu nguyện cho cậu ta vô số lần, họ mong cậu ta có thể trở về trạng thải mộ đạo như ban đầu.
Tôi vốn định nói một vài điều nhưng rồi do dự một hồi lại thôi. Tôi nghĩ, từ một góc độ nào đó, cậu ta có lẽ vẫn rất mộ đạo.
Hành tinh của phụ nữ
Lúc tôi đẩy cửa bước vào, anh ta giật mình, còn chưa đợi tôi nhìn rõ, anh ta đã trốn xuống dưới gầm bàn, nói thật tôi cũng bị giật mình.
Sau khi đóng cửa, tôi đặt tư liệu, sổ ghi chép, bút ghi âm lên bàn, ngồi xổm xuống nhìn anh ta. Tôi sợ anh ta từ dưới gầm bàn cắn tôi – từng có tiền lệ.
Anh ta sợ hãi, co người lại dưới bàn không ngừng run rẩy, lo lắng bất an nhìn bốn hướng.
Tôi: “Ra đi, cửa tôi khóa rồi, không có phụ nữ.”
Anh ta chỉ lắc đầu không lên tiếng.
Tôi: “Thật sự không có, tôi chắc chắn, anh có thể ra nhìn thử, chỉ nhìn một cái thôi, được không?
Tôi tiếp xúc với bệnh nhân này được hai tháng rồi. Anh ta mắc chứng lo lắng kèm ám ảnh nghiêm trọng, còn mất ngủ nữa, đối tượng gây ám ảnh là phụ nữ.
Anh ta cẩn thận thò đầu ra nhìn xung quanh, thận trọng lùi lại bò ra ngoài, sau đó ngồi xổm xuống ghế, ôm chặt hai đầu gối, kinh hồn hoảng sợ nhìn tôi.
Tôi: “Anh xem, không có phụ nữ đúng chứ?”
Anh: “Anh thật sự là đàn ông? Anh cởi quần ra tôi xem nào?”
Tôi: “… Tôi là đàn ông, điều này tôi có thể xác nhận. Anh quên tôi rồi à?”
Anh: “Anh còn bằng chứng gì không?”
Tôi: “Hôm nay tôi cố tình không cạo râu, anh có thể thấy, bộ râu này là thật, không phải dán lên đâu. Anh từng nhìn thấy phụ nữ có râu chưa? Cho dù lông nhiều cũng không thể nhiều như tôi được đúng không?”
Anh ta hồ nghi, dán mắt vào nhìn mặt tôi một lúc lâu.
Anh: “Lần trước họ phái một người phụ nữ có râu rậm đến lừa tôi.”
Tôi: “Không có, người có râu rậm lần trước đó là bác sĩ chủ trị của anh, ông ta là đàn ông đích thực.”
Anh ta nỗ lực nhớ lại. Tôi quan sát anh ta, lo lắng hôm nay liệu có khả năng giao lưu không.
Anh: “Ừm, hình như vậy, hai người các anh đều là nam… nhưng người lần đầu tiên đó thì không phải.”
Tôi: “Đúng, đó là phụ nữ, không sai.”
Anh: “Bây giờ họ hóa trang càng ngày càng giống.”
Tôi: “Lấy đâu ra nhiều người hóa trang thành đàn ông vậy chứ. Dạo này anh thấy tốt hơn không?”
Anh: “Ừm, an toàn hơn nhiều rồi.”
Tôi: “Gần đây uống thuốc thuận lợi không?” Anh ta từng từ chối uống thuốc, nói đó là thuốc độc phụ nữ cho anh ta uống, cũng từ chối uống thuốc ngủ, nói đợi anh ta ngủ say các cô đó sẽ dễ dàng hại anh ta.
Anh: “Ừm, chỉ là uống rồi thì hơi buồn ngủ, cũng không có vấn đề gì.”
Tôi: “Đúng vậy mà, không việc gì hết, ở đây rất an toàn?
Anh: “Anh cả ngày ở ngoài nên cẩn thận một chút, cẩn thận những người phụ nữ đó ra tay với anh!”
Tôi suy nghĩ một lát, không cảm thấy bản thân có gì đáng để phụ nữ phải sống chết nhớ nhung, tôi hỏi anh ta vì sao.
Anh: “Sớm muộn gì họ cũng sẽ chinh phục trái đất này!”
Tôi: “Trái đất không thể bị chinh phục được.”
Anh: “Ồ, họ sẽ thống trị thế giới đấy.”
Tôi: “Vì sao?”
Anh ta lại nghi thần nghi quỷ nhìn tôi, tôi cũng hiếu kỳ nhìn anh ta, tôi chưa từng nghe anh ta nói những chuyện này.
Anh: “Anh chưa phát hiện ra sao?”
Tôi: “Anh phát hiện ra rồi?”
Anh ta nghiêm túc gật đầu.
Tôi: “Làm sao anh phát hiện được?”
Anh: “Phụ nữ không phải loài động vật giống chúng ta.”
Tôi: “Vậy họ là gì?”
Anh: “Tôi không biết, rất có thể từ ngoài hành tinh đến, bởi họ tiến hóa hoàn thiện hơn chúng ta.”
Anh ta hình như đã bình tĩnh hơn một chút.
Tôi: “Tôi muốn nghe, có gì chứng minh được không?”
Anh ta thần bí hạ thấp giọng: “Anh biết DNA không?”
Tôi: “Deoxyribonucleic acid? Biết chứ! Anh muốn nói gì? Vấn để nhiễm sắc thể?”
Anh: “Bí mật của họ chính là ở đây!”
Tôi: “Ồ… bí mật gì? Bí mật nhiễm sắc thể?”
Anh: “Không sai!”
Tôi: “Rốt cuộc là chuyện gì?”
Anh: “DNA của con người có 23 cặp nhiễm sắc thể đúng không?”
Tôi: “Đúng, 46 sợi.”
Anh ta vẫn hoài nghi nhìn tôi: “Anh biết được bao nhiêu?”
Tôi: “Nam nữ 44 sợi nhiễm sắc thể đầu tiên đều là thông tin di truyền gì đó, cặp nhiễm sắc thể sau cùng là nhiễm sắc thể giới tính, nam là XY, nữ là XX. Cái này có gì sao?”
Anh ta nghiêm túc nhìn tôi: “Các anh thật ngu ngốc! Việc đơn giản như vậy cũng không nhìn ra!”
Tôi: “… tôi biết cái này, nhưng không biết có vấn đề gì…”
Anh: “Nam nữ khác biệt không chỉ đơn giản như vậy! Trong XY của nam, X bao gồm hai ba nghìn gene, hoạt động thường xuyên, Y chỉ gồm mấy chục gene, rất ít hoạt động! Hiểu chưa?”
Tôi: “Ồ… không hiểu… cái này không phải bí mật đúng không? Anh biết từ đâu vậy?”
Vẻ mặt anh ta hận không thể biến sắt thành thép: “Tôi từng đi nghe rất nhiều buổi thuyết giảng kiểu như thế này. Các anh thật sự ngu ngốc, không còn gì để nói nữa rồi, lẽ nào phụ nữ muốn tiêu diệt chúng ta!”
Tôi thật sự không nghĩ ra trong chuyện này có huyền cơ gì. Anh ta thở dài: “Hai nhiễm sắc thể cuối cùng của phụ nữ có phải là XX không?”
Tôi: “Đúng vậy, tôi vừa nói rồi đó…”
Anh: “Hai cái X của phụ nữ đều gồm hàng ngàn gene, hơn nữa còn hoạt động thường xuyên. Y đối X, vài chục đối với vài nghìn! Chỉ dựa vào những điều này, khác biệt đã rất lớn! Phụ nữ nhiều hơn nam giới bao nhiêu gene như vậy, tức là phụ nữ tiến hóa cao cấp hơn nam giới nhiều rồi!”
Tôi: “Nhưng đại thể vẫn giống nhau mà, chỉ có một chút.”
Anh ta có chút phẫn nộ: “Anh là đồ mù khoa học! Gene của con người và tinh tinh có độ giống nhau đến trên 99%, chính cái không đến 1% đó dẫn tới việc một bên là người, một bên là tinh tinh. Nam giới ít hơn phụ nữ có chút? Còn ít sao!”
Nhìn anh ta cười lạnh, tôi nhất thời không biết nên nói gì.
Anh: “Đối với phụ nữ, nam giới giống như tinh tinh ấu trĩ buồn cười. Coi thường một chút thông tin gene đó? Quá ngu muội! Động vật cấp thấp mãi mãi không hiểu được động vật cấp cao! Phụ nữ là người ngoài hành tinh, người ngoài hành tinh vượt xa nam giới!”
Tôi: “Khoa trương vậy sao?”
Anh ta khinh miệt nhìn tôi: “Anh hiểu phụ nữ không?”
Tôi: “Ồ… không hẳn là hiểu..”
Anh: “Nhưng phụ nữ hiểu anh! Họ trời sinh đã ưu tú hơn nhiều, gene phong phú hơn nam giới. Chính những gene hoạt động đó dẫn đến kết quả hoàn toàn không giống nhau! Nam giới ai dám nói mình hiểu phụ nữ? Ai nói vậy là kẻ ăn nói hàm hồ. Tôi hỏi anh, xét từ gene, anh cao cấp hay thú nuôi cao cấp?
Tôi: “Ờ… tôi.”
Anh: “Chính là như vậy. Thú nuôi của anh làm sao có thể hiểu được anh? Anh ăn cơm nó hiểu, anh ngủ nó hiểu, anh xem phim nó chưa chắc đã hiểu, đúng không? Anh lên mạng nó không thể lý giải được rồi, đúng chứ? Anh nói chuyện với người khác nó vẫn không hiểu, đúng không? Anh đọc sách nó có hiểu không? Không hiểu phải không? Anh xem trận bóng vui hay không, nó hiểu không? Nó cũng không hiểu! Nó chỉ có thể nhìn biểu hiện bên ngoài của anh: anh vui hay tức giận. Nhưng lý do vì sao thì nó vĩnh viễn không hiểu.”
Tôi: “Ừm… anh đừng kích động, ngồi xuống từ từ nói.”
Anh: “Anh thấy phụ nữ thích bộ quần áo này, vì sao? Vì đẹp. Đẹp chỗ nào? Anh biết không?”
Tôi: Ừm, có lúc là như vậy…”
Anh: “Phụ nữ tức giận, anh có thể nhìn thấy cô ta tức giận, anh biết vì sao không? Anh không biết…”
Tôi: “Thường là vì một số việc linh tinh…”
Anh ta lại cười lạnh: “Việc linh tinh? Anh không hiểu họ. Thú cưng anh nuôi làm vỡ cái cốc anh thích, anh sẽ tức giận, còn với chúng đó chẳng phải vấn đề gì cả, có gì mà tức giận? Đúng không? Đúng không?”

Nhìn anh ta đứng trên ghế tôi có chút bất an.
Tôi: “Anh nói không sai, ngồi xuống đã được không? Cẩn thận đứng cao như vậy phụ nữ sẽ phát hiện ra anh đấy.”
Quả nhiên anh ta nhanh chóng ngồi xuống.
Anh: “Không đàn ông nào có thể hiểu được phụ nữ, tâm tư của phụ nữ nhiều hơn của đàn ông rất nhiều, phụ nữ sớm muộn cũng sẽ thống trị thế giới này, đến lúc đó đàn ông có thể sẽ được giữ lại một ít để làm giống, còn lại bị giết hết. Khi khoa học càng phát triển hơn, đàn ông làm giống cũng không cần nữa, họ có thể trực tiếp tự tạo ra tinh trùng. Đàn ông đáng thương giờ vẫn nghĩ mình là chủ đạo của thế giới, thật ra sắp diệt vong rồi, hành tinh này Sớm muộn sẽ là của phụ nữ..”
Tôi: “Tội nghiệp đàn ông… còn tình cảm thì sao? Không cần à?”
Anh: “Tình cảm? Đó chỉ là sản phẩm đính kèm để nhân giống thôi.”
Tôi: “Tôi cảm thấy anh có chút bi quan… dù là thật, đối với anh cũng không uy hiếp gì.”
Anh: “Tôi bi quan? Tôi không đứng ra nói rõ, tôi không đứng ra cảnh cáo, các anh sẽ bị diệt vong sớm hơn! Đáng tiếc những người như tôi quá ít.”
Tôi: “Đúng vậy… Tôi chỉ biết có anh.”
Anh: “Sigmund Freud8 , anh biết chứ? Ông ta cũng giống tôi, đã phát hiện ra từ lâu.”
Tôi: “Ý? Không phải chứ?”
Anh: “Di ngôn trước khi qua đời của Sigmund Freud đã cảnh cáo đàn ông rồi.”
Tôi: “Ông ta có nói về việc này sao? Cảnh cáo như thế nào?”
Anh: “Trước khi chết ông ta cảnh cáo tất cả đàn ông, phụ nữ muốn có cả thế giới!”
Tôi đứng dậy cất đồ: “Ừm, tôi đại thể đã hiểu câu chuyện rồi, thời gian này tôi sẽ thường đến thăm anh.”
Anh: “Anh không được làm to chuyện, cứ âm thầm truyền tin thôi, nếu không anh cũng sẽ gặp nguy hiểm.”
Tôi: “Được, tôi nhớ rồi.”
Tôi nhẹ nhàng đóng cửa lại.
Vài ngày sau tôi hỏi một người bạn là nhà di truyền học hiểu biết khá nhiều xem có chuyện như vậy không? Anh ta nói, trừ các phần đến từ ngoài hành tinh, giết sạch đàn ông, chinh phục thế giới, thì cơ bản là sự thật.
Có điều, chúng tôi đều cảm thấy câu di ngôn lúc lâm chung của Sigmund Freud rất thú vị, tuy đó chỉ là tin đồn.
“Phụ nữ, cuối cùng cô muốn gì?”
Phiên ngoại: Một buổi chiều nói chuyện về bệnh thần kinh
Cần nhấn mạnh rằng tôi không phải chuyên gia hay bác sĩ về phương diện này. Nội dung dưới đây chỉ để tham khảo.
Một buổi chiều vài năm trước, tôi có trò chuyện với ông bác của một người bạn. Nguyên buổi chiều hôm đó chúng tôi chỉ nói về đề tài: Bệnh tâm thần và bệnh nhân tâm thần. Bác bạn tôi hồi trẻ có đi du học ngành y ở nước ngoài, về sau chuyên nghiên cứu, điều trị các bệnh liên quan đến thần kinh. Trong giới y học (phạm vi toàn cầu) ông khá có tiếng, có nhiều cống hiến lớn trong nghiên cứu và điều trị thần kinh.
Ông không ra vẻ tự cao tự đại mà rất cởi mở, đúng chất một chuyên gia chân chính. Lúc nói về kiến thức nghề nghiệp, ông không cố ý tỏ ra cao thâm, cũng không dùng từ ngữ chuyên ngành để khoe khoang bản thân tài giỏi, ông dùng những từ ngữ gần gũi thường ngày để biểu đạt. Khác hẳn mấy “Chuyên gia” cả ngày nghiên cứu “bikini hở bao nhiêu mới được tính là suy đổi đạo đức”, ngạo mạn cả buổi cũng chẳng ai hiểu gì. Bản năng của tôi mách bảo, cuộc nói chuyện hôm đó sẽ có lúc cần dùng nên đã ghi âm lại.
Ông: “Anh muốn ghi âm à?”
Tôi: “Có được không ạ?”
Ông: “Được thì được nhưng hôm nay tôi chỉ nói vu vơ, nếu muốn dùng để tham khảo viết bài nghiên cứu e rằng sẽ gây trở ngại cho anh.”
Tôi: “Bác yên tâm, cháu không dùng cái này để viết bài nghiên cứu, cháu chỉ muốn tiếp thu một chút kiến thức từ bác thôi, có được không ạ?”
Ông: “Được, vậy tôi cứ nói vu vơ thôi đấy, anh có đăng lên mạng tôi cũng không thừa nhận đâu.” (cười lớn)
Tôi: “Được, không thành vấn đề.”
Ông: “Vậy anh muốn biết điều gì?”
Tôi: “Bác quyết định theo đuổi lĩnh vực này từ khi nào ạ?”
Ông: “Không phải từ nhỏ tôi đã nuôi chí lớn đâu, cũng chẳng có tinh thần cao cả muốn cứu người gì hết, hồi đó tôi còn trẻ, chưa nghĩ đến những điều ấy. Dòng họ nhà tôi có truyền thống theo nghề y (có gia phả ghi chép đến 300 năm trước làm chứng), đó là lý do vì sao dòng họ tôi có rất nhiều bác sĩ (cười). Tôi vốn là bác sĩ khoa chấn thương chỉnh hình, năm XX khi được nhà nước bảo lãnh cho đi du học ở châu Âu, tôi đã gặp phải một sự kiện, vì nó mà tôi lựa chọn chuyên ngành hiện tại”.
Tôi: “Là một sự kiện rất thảm khốc sao? Đế chế tư bản độc ác hủy hoại những người mắc bệnh tâm thần?”
Ông: (cười lớn) “Không phải như vậy. Là trrong một lần cùng người bạn học đi thăm anh trai cô ấy đang thực tập tại một bệnh viện tâm thần. Lúc đợi cô ấy trong sân viện, tôi có nghe hai bệnh nhân tâm thần nói chuyện. Ban đầu tôi thấy rất buồn cười, về sau lại không cười nổi.”
Tôi: “Do nội dung kỳ quái sao?”
Ông: “Không phải, nội dung rất bình thường, họ chỉ nói những chuyện thường ngày thôi. Nhưng hai người đó, một người nói tiếng Tây Ban Nha, một người nói tiếng Anh, nội dung cuộc đối thoại không hề ăn khớp chút nào. Một người nói: “Hôm nay thời tiết đẹp hiếm có đấy” Người kia trả lời: “Ừm, có điều tôi không thích cho hành tây.” Lại nói: “Nếu Angela còn sống, bà ấy nhất định sẽ giục tôi đi dạo cùng.” Người kia lại trả lời: “Chó to có là gì, chó nhỏ lúc gãi ngứa nhìn mới buồn cười cơ…” Chủ đề nói chuyện không hề ăn khớp nhau, nhưng họ vẫn rất nhiệt tình. Nếu không nghe được cuộc đối thoại, chỉ nhìn biểu cảm, động tác, anh sẽ cảm thấy hai người họ đang trò chuyện rất thân thiết. Tôi ngơ ngác ngồi nghe. Sau khi ra nước ngoài tôi mới bắt đầu học tiếng Tây Ban Nha, trình độ ngoại ngữ vẫn chưa vững lắm, lúc đầu cứ tưởng khả năng nghe hiểu của mình có vấn đề. Tôi cứ ngồi nghe hơn một tiếng đồng hồ, không có đối thoại nào giữa họ liên quan đến nhau. Đến khi hoàn hồn lại mới biết, vì không tìm thấy tôi, cô bạn tôi đã tự đi về từ lâu rồi.”
Tôi: “Có phải sau hôm đó bác bắt đầu để ý đến chuyên ngành này không?”
Ông: “Đúng vậy, bắt đầu từ lúc đó tôi dần chú ý đến lĩnh vực này. Vào thư viện tìm sách chuyên ngành, bám lấy giáo sư xin tài liệu, nhưng tôi nhận ra mọi thứ không giống mình nghĩ.”
Tôi: “Đúng vậy, chấn thương chỉnh hình và thần kinh là hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau.”
Ông: “Không phải việc đó, mà là vấn đề tài liệu. Mới đầu tôi tưởng ở phương Tây tài liệu về mảng thần kinh sẽ rất đầy đủ, ghi chép cụ thể, nhưng đi tìm mới biết, không phải vậy. Đến giữa thế kỷ XVIII, rất nhiều các tài liệu của phương Tây về khoa thần kinh, khoa não vẫn còn liên quan đến tôn giáo, chỉ thị của Thượng đế, sự trừng phạt của thần linh, sự quấy phá của ma quỷ… toàn những tài liệu như vậy, còn được rất nhiều bác sĩ ủng hộ.”
Tôi: “Thật ra cũng dễ hiểu đúng không ạ? Khởi nguồn của y học Vốn là ma thuật mà, phù thủy chữa bệnh.”
Ông: “Không phải vậy, vào thế kỷ XVIII, tại Châu Âu, y học, nhất là ngoại khoa đã phát triển ở một trình độ nhất định rồi. Nhưng về phương diện thần kinh có thể do bị tôn giáo áp chế nên khó phát triển, thậm chí có thời gian còn bị bài trừ.”
Tôi: “Thế nên?”
Ông: “Thế nên cuối cùng tôi quyết định lựa chọn chuyên ngành thần kinh học.”
Tôi: “Ồ… cháu muốn biết cái nhìn của bác đối với vấn đề điều trị bệnh nhân tâm thần, bởi có một quan điểm cho rằng: Nếu bệnh nhân tâm thần vui vẻ, vậy thì tại sao phải phá hỏng niềm vui đó.”
Ông: “Quan điểm này tôi biết, thật ra cần phải giải thích rõ ràng hơn: Nếu một bệnh nhân tâm thần vui vẻ, trong tình trạng không uy hiếp đến sự an toàn của bản thân và người khác, cũng không làm tăng gánh nặng cho gia đình và xã hội, thì không cần thiết điều trị cho họ theo phán đoán của chúng ta.”
Tôi: “Bác có cho rằng đây là một quan điểm đúng đắn không?”
Ông: “Không thể nói là sai, nhưng tình trạng như vậy chỉ là ngoại lệ, hiếm khi xảy ra. Anh nghĩ xem, đầu tiên họ phải trong trạng thái rất vui vẻ, rồi không đói rét, cũng không có tính uy hiếp, lại không khiến người nhà mệt mỏi. Có được mấy bệnh nhân như vậy? Không nhiều phải không?”
Tôi: “Nhưng vẫn có những trường hợp như thế?”
Ông: “Vẫn có. Một bệnh nhân người Anh thuộc dạng như vậy, gia đình có điều kiện, sau khi ông bố qua đời, ba người chị gái và bệnh nhân đều được thừa kế khá nhiều tài sản. Tình trạng bệnh nhân là: Ngày nào cũng mang đồ ra đốt, đốt thành tro xong lại ủ vào lửa, mài vụn, dùng tro đó để trồng hoa xem có thể sống được hay không, đồ vật nào cũng đem ra thử nghiệm, chẳng làm gì khác, cũng không biết làm. Đưa gì ăn nấy, không kén ăn, mệt thì lăn ra salon ngủ. Ba người chị rất quan tâm anh ta, họ thuê cho anh ta hai người giúp việc, một người nấu ăn dọn dẹp phòng, người còn lại coi như trợ lý, có nhiệm vụ giám sát không cho anh ta đốt đồ dùng trong nhà hoặc làm bản thân bị thương. Bệnh nhân đó cứ thế sống qua ngày. Không cho anh ta đốt, anh ta sẽ nổi giận, ném đồ linh tinh. Đưa cho anh ta đồ để đốt, anh ta yên lặng, dùng đèn cổn đốt nó thành tro. Anh ta chẳng quan tâm bản thân ăn gì, mặc gì, tài sản đã có kế toán, luật sư và các chị gái quản lý, tất cả đều rất tốt. Một bệnh nhân như vậy không nhất thiết phải điều trị, anh ta không có ý định ra ngoài, không có ý định kết hôn, chuyên tâm đốt đồ trồng hoa, không có tính uy hiếp, không gây hại đến bất cứ ai, còn tạo cho người khác công ăn việc làm. Quan trọng nhất là, anh ta rất vui vẻ.”
Tôi: “Làm cách nào để phán đoán được anh ta có vui vẻ hay không?”
Ông: “Chỉ có thể nhìn từ biểu hiện bên ngoài thôi, nếu bệnh nhân khóc cười lẫn lộn, thật sự không thể đoán định được. Nếu anh điều trị cho bệnh nhân trong tình trạng đó, sẽ có rất nhiều tổ chức nhân quyền quái gở đến làm phiền anh, chỉ trích anh cướp đoạt niềm vui của bệnh nhân tâm thần”
Tôi: “Ừm, đó cũng là một vấn đề… Vậy định nghĩa cơ bản về bệnh tâm thần là thế nào? có biểu hiện không bình thường đã được xem như bệnh nhân tâm thần rồi, hay phải đi giết người phóng hỏa chạy rông khắp phố mới tính?”
Ông: “Thật ra cái anh nhắc tới là vấn đề được cả xã hội công nhận. Còn quan điểm của tôi là: Ai cũng mắc bệnh tâm thần.”
Tôi: “Gì cơ ạ?”
Ông: “Anh cứ nghĩ xem, anh có cố chấp với một điều gì đó không?”
Tôi: “Trên màn hình máy tính của cháu không được để quá ba biểu tượng, nếu quá nhất định sẽ cho vào shortcut hoặc xóa luôn khỏi màn hình, cái này có tính không ạ?”
Ông: “Tính chứ, quá ba cái là anh không chấp nhận được đúng không?”
Tôi: “Nói vậy xung quanh cháu cũng có rất nhiều người tình trạng tương tự. Cháu quen một cô gái, cô ấy lúc nào cũng sắp xếp tiền trong ví theo thứ tự mệnh giá, mặt trước mặt sau nhất định phải đồng nhất. còn một người khác luôn muốn ga giường phẳng phiu, không được có một đường nhăn, nếp gấp. Hay như một người bạn thích những chậu cây có lá bản rộng, ngày nghỉ ở nhà đều lau lá cây sạch bóng. Đúng rồi cháu còn có một thói quen, cứ ba tháng lại đổi vị trí bày biện đồ đạc trong nhà, đều tính sao?”
Ông: “Chúng ta phân biệt ra. Anh đổi vị trí đồ dùng trong nhà, bạn anh chăm sóc cây cỏ, có thể dùng từ phong cách sống. Người sắp xếp ví tiền và người kéo phẳng ga giường coi như có chút lập dị. Thật ra những hành vi này đều mang tính cưỡng chế nhẹ. Nó không ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của anh và những người bạn kia đúng không? Vậy cứ giữ những thói quen đó lại, không có gì xấu hết. Có điều nếu anh muốn sắp xếp cả ví tiền của người khác, hay chạy đến nhà bắt người ta sắp xếp lại đồ đạc, anh được tính là bệnh nhân tâm thần rồi. Còn việc đến nhà người khác lau lá lau hoa… tôi tình nguyện chấp nhận” (cười)
Tôi: “Vậy bệnh tâm thần căn nguyên do đâu? có nguyên nhân cụ thể nào không ạ?”
Ông: “Tôi cũng rất muốn biết điều này, không chỉ tôi mà những người cùng ngành đều muốn biết. Nhưng nguyên nhân đa số những căn bệnh liên quan đến tâm lý đều không thể xác định rõ ràng. Chỉ có thể khẳng định một số bệnh nhân tâm thần mắc bệnh do di truyền thiếu sót. Tuy nhiên nó không thể áp dụng cho mọi trường hợp. Về cơ bản mọi người đều có thiếu sót về di truyền, tại sao chỉ có một bộ phận phát bệnh, đó vẫn là câu hỏi chưa lời giải đáp. Nói rộng ra, mấy chục năm trở lại đây, kỹ thuật, phương pháp và thiết bị điều trị các bệnh như ung thư, AIDS, U bướu đều được nâng cao chóng mặt. Vì sao? Bởi nguyên nhân gây bệnh đã rõ ràng. Nhưng bệnh tâm thần không như vậy, giải phẫu cũng không nhìn ra được. Giống như huyệt vị kinh lạc trong y học cổ truyền Trung Quốc, lúc còn sống mới xem được, giải phẫu thi thể căn bản không có, anh xác định thế nào? Vả lại trong một ngày huyệt vị và kinh lạc còn có những biến đổi nhất định. Buổi sáng huyệt vị này có thể hiệu quả, buổi chiều lại không còn tác dụng nữa rồi!
Vấn đề bệnh thần kinh càng nghiêm trọng hơn, thần kinh là cái gì? Cũng khó trách tôn giáo phương Tây cản trở việc nghiên cứu các bệnh liên quan đến thần kinh. Đây là một vấn đề rất khó nói. Khoa tâm thần kinh khác với khoa ngoại thần kinh, hiện tại Đức và Nhật Bản đang là hai nước đi đầu về lĩnh vực ngoại khoa thần kinh này, bởi trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, họ đã thực hiện rất nhiều thí nghiệm trên cơ thể sống. Tất nhiên, đây là việc làm vô nhân tính, cũng là hành vi tàn nhẫn phản nhân loại. Nhưng từ đó, cũng chính nhờ các thí nghiệm về não bộ trên cơ thể sống của Đức và Nhật Bản, chúng ta mới biết được chức năng của não bộ. Vì não bộ giống một chiếc máy tính, không phải bất cứ lúc nào các linh kiện của nó cũng ở trong trạng thái hoạt động; lúc cần bộ phận nào, bộ phận ấy sẽ hoạt động, lúc không cần, nó sẽ không hoạt động nữa. Máy tính sau khi tắt chẳng thể nhìn ra vấn đề gì, cũng giống như nếu không thí nghiệm trên cơ thể sống, sẽ rất khó đoán định, nhất là ở thời kỳ kỹ thuật chụp chiếu X-quang còn chưa phát triển.”
Tôi: “Cháu nhớ có một quan điểm cho rằng, đại não chỉ mới được khám phá 20%, 80% còn lại vẫn chưa được tận dụng. Liệu có phải nguyên nhân gây ra các căn bệnh về thần kinh đều ở những điểm chưa được khai phá này không?”
Ông: “Thật ra đây chỉ là tin đồn. Có thể các cơ quan truyền thông đã cắt ghép sai lệch từ những luận văn hoặc tạp chí y học liên quan. 80% đó không phải tất cả đều để không, nhịp đập của tim, hô hấp, sự bài tiết mồ hôi, những phản ứng của cơ thể đều được 80% đó khống chế, nói cách khác là duy trì cơ chế sinh lý. Nhưng tôi thừa nhận vẫn còn một số bộ phận đến nay không tìm ra được chức năng của chúng. Không phải chứng không có chức năng gì, mà là chưa phát hiện ra, có thể phải trong một tình huống nào đó nó mới được kích hoạt. Những bộ phận như vậy không vượt quá 20%, cũng chính là đại não của con người trên thực tế đã được tận dụng hơn 80% rồi. Không nên quá tin tưởng vào khoa học viễn tưởng về tiềm năng của đại não trong tiểu thuyết và phim ảnh. Đến nay con người vẫn chưa thể tận dụng được hết những tiềm năng vô hạn của đại não, thật sự là tiềm năng vô hạn, nên không cần phát triển đại não đến mức đó đâu. Trọng lượng đại não của một người trưởng thành là bao nhiêu? Khoảng 17 kilogam, tỉ lệ giữa trọng lượng này với thể trạng con người hiện nay mà nói đã rất lớn rồi.”

Tôi: “Ngoại trừ khiếm khuyết về di truyền ra, không thể xác định được nguyên nhân nào khác sao?”
Ông: “Có, nhưng khó phân biệt hơn, ví dụ nhân tố tâm lý, môi trường hay trưởng thành đều là những nhân tố tạo ra sự khác biệt trong khả năng chịu đựng của mỗi người. Lấy ví dụ, một trong những triệu chứng quan trọng của bệnh tâm thần phân liệt9 là tư duy khuếch tán và tư duy phát sóng (diffusion of thought, thought broadcasting, tên gốc tiếng Anh do tôi tự kiểm chứng sau khi được một người bạn cung cấp), đều do các nhân tố khách quan vừa nhắc đến gây ra, là triệu chứng phổ biến của bệnh nhân mắc chứng tâm thần phân liệt.”
Tôi: “Tư duy khuếch tán? Nghĩa là gì ạ?”
Ông: “Đây là một loại ảo giác, bản thân có suy nghĩ gì sẽ phát tín hiệu để mọi người cùng biết. Cảm giác suy nghĩ của bản thân luôn trong trạng thái cộng hưởng, không có riêng tư, gây ra cảm giác khủng hoảng và không tin tưởng (đối với người khác). Tình trạng này được gọi là tư duy khuếch tán, kỳ thực hai loại tình trạng này giống nhau, nhưng phân ra hai cách gọi và cảm nhận của bệnh nhân không giống nhau. Cảm giác suy nghĩ lập tức bị cộng hưởng, hoặc cảm giác suy nghĩ bị sóng não phát tán khắp nơi… Tâm thần phân liệt hoặc giai đoạn trước tâm thần phân liệt đều có đặc trưng này. Đối với những bệnh nhân kiểu này, tôi không dám nói tất cả, nhưng phần lớn trong số đó chỉ cần nhìn thẳng vào mắt họ là tôi có thể xác định được. Không phải tôi hay bệnh nhân có khả năng đặc biệt, mà đây là kinh nghiệm lâm sàng. Ánh mắt của họ rất nhạy cảm và cảnh giác.”
Tôi: “Hóa ra là như vậy…”
Ông: “Ngoài ra, trong tình trạng ấy, cảm giác thù địch của bệnh nhân đối với những người xung quanh sẽ tăng lên, tâm lý cũng càng thêm lo lắng. Nếu không kịp thời tiến hành hỗ trợ tâm lý để điều chỉnh hoặc điều trị sẽ dẫn đến sự tuần hoàn ác tính, bởi họ sẽ ngày càng nhạy cảm hơn. Ví dụ cậu nói một câu, nội dung cụ thể thế nào bệnh nhân không nghe thấy, mà chỉ nghe được mấy từ, sau đó xâu chuỗi thành một câu xúc phạm, mắng chửi hoặc miệt thị. Họ sẽ cho rằng cậu nhắm vào họ, cậu là người xấu, cậu biết suy nghĩ của họ rồi, họ không còn riêng tư nữa. Đồng thời kích thích bệnh nhân suy nghĩ nhiều hơn, khiến trí não họ thoát ly khỏi vùng suy nghĩ bình thường, cảm thấy như trong đầu có người đang nói với họ, hình thành ảo giác nghe. Nghiêm trọng hơn, bệnh nhân có thể dựa theo cuộc nói chuyện trong đầu sản sinh ảo giác nhìn, nhìn thấy thứ mà người khác không nhìn thấy, là như vậy đấy.”
Tôi: “Hóa ra nghiêm trọng như thế…”
Ông: “Đúng, tôi từng điều trị cho một cậu thanh niên mắc chứng tâm thần phân liệt nghiêm trọng. Cậu ta nói có thể nhìn thấy rất nhiều người ngoài hành tinh ở trên đường, người khác không nhìn thấy được. Người ngoài hành tinh nghe trộm suy nghĩ của cậu ta, ghé sát bên tai người khác nói cho họ biết. Nhưng cậu nghĩ xem, khi cậu ta dùng ánh mắt kỳ quái đó nhìn người khác, họ sẽ cảm thấy cậu ta kỳ quái, nhìn cậu ta thêm vài cái, cậu ta lại càng cho rằng mọi người đều biết cậu ta đang nghĩ gì, nên cáu kỉnh và thất thường.”
Tôi: “Vậy phải điều trị bệnh tâm thần phân liệt này như thế nào ạ?”
Ông: “Sự dẫn dắt của người thân là cần thiết, bác sĩ thần kinh sẽ nghe kiến nghị của nhà phân tích và bác sĩ hỗ trợ tâm lý, sử dụng các loại thuốc hỗ trợ điều trị. Nhưng cần nhấn mạnh lại rằng, sự phối hợp của gia đình tương đối quan trọng. Ở châu Âu, chúng tôi từng tiến hành một cuộc điều tra, những đứa trẻ được mẹ yêu thương, khi trưởng thành sẽ tự tin hơn những đứa trẻ bị mẹ thờ ơ, đồng thời quan hệ với bạn đời hay người yêu cũng ổn định hơn. Thú vị nhất là, khả năng miễn dịch cũng mạnh hơn.”
Tôi: “Khác biệt lớn như vậy sao?”
Ông: “Đúng vậy, có điều bản thân bệnh nhân cũng phải từ từ điều chỉnh tâm trạng, không thể cả ngày chỉ để ý tới ánh mắt, thái độ của người khác. Bản thân họ phải học cách thả lỏng tinh thần. Hải nạp bách xuyên, hữu dung nãi đại; bích lập thiên nhận, vô dục tắc cương…”
Trích dẫn tư liệu ghi chép dừng tại đây, hy vọng phần phiên ngoại này có thể giúp các bạn hiểu thêm về một vài vấn đề chuyên ngành.
Điểm cuối của thời gian
Chương đầu: Không gian quả cam
Có lần tôi cùng trò chuyện với một người bạn khá thân thiết. Vì anh ta là bác sĩ nội trú chuyên khoa thần kinh, nên sau khi tôi nhắc đến cậu thanh niên có thể nhìn thấy sự vật theo bốn chiều tuyệt đối, anh ta cảm thấy rất thú vị, đồng thời cũng kể cho tôi nghe, bệnh viện anh ta có một bệnh nhân thật sự không khác gì thần tiên. Đó là một ông lão đã hơn 60 tuổi, nằm ở bệnh viện anh ta mười mấy năm rồi, mọi người đều gọi ông là “bảo bối trấn viện”. Gọi như vậy không chỉ vì các suy nghĩ của ông rất thú vị, mà phần nhiều vì ông có thể “lây truyền”.

Ban đầu ông lão ở cùng phòng với mấy người, trong đó mỗi người có một vấn đề riêng. Có người cả ngày chèo thuyền trên giường (còn có một người giúp căng buồm thả neo), người cắm đầu viết tiểu thuyết (trong tình trạng không giấy bút), người thích nửa đêm đứng trước cửa sổ đợi người ngoài hành tinh đồng hương đến đón đi (bảy năm rồi, người đồng hương ấy vẫn chưa đến), người gặp ai cũng báo cáo công tác của bản thân: “Không có vấn đề gì, đợi ta chém chết Hoa Hùng rồi quay lại uống rượu cũng không muộn!”
Trong môi trường như vậy, ông lão rảnh rỗi kéo các bệnh nhân cùng phòng lại nói chuyện, mất hơn nửa năm, không ngờ có thể khiến các bệnh nhân cùng phòng với những chứng bệnh khác nhau giờ mắc cùng một chứng bệnh giống ông. Tất cả thường ngồi tụ tập với nhau kịch liệt thảo luận vấn đề, không phải kiểu ai nói chuyện của người đấy, mà thật sự cùng nhau thảo luận, rất ít bác sĩ, y tá có thể hiểu được họ đang nói gì.
Trong số các bệnh nhân từng nói chuyện với ông lão có một vài người không lâu sau đã được ra viện, điều này thật sự khó hiểu. Những người đã ra viện đó thỉnh thoảng sẽ quay lại thăm ông, còn rất kính trọng ông, gọi ông là thầy. Nhưng cũng có một số bệnh nhân bệnh tình lại nặng hơn, bệnh viện đổi phòng mấy lần vẫn vậy. Về sau bệnh viện không chịu nổi, được sự đồng ý của gia đình, họ để ông lão ở phòng đơn. Ban đầu gia đình còn thường xuyên đến thăm, nhưng cứ đến liền bị ông giữ lại nói những chuyện chẳng ai hiểu, thế nên dần dần con cháu cũng ít đến, may con cái cũng khá giả, đóng tiền đúng hạn, chỉ hiếm khi lộ diện. Theo lý mà nói, một người thích nói chuyện như vậy ở một mình vài ngày sẽ khó chịu, nhưng với ông lão lại chẳng vấn đề gì, ông cứ sống như vậy suốt mười mấy năm. Có khi cả tháng không nói chuyện với ai cũng chẳng sao, ngày nào cũng vui vẻ ăn ngủ đọc báo, không thì đi qua đi lại trong phòng. Tình trạng bây giờ của ông lão theo cách nói của bạn tôi là: “Coi bệnh viện như nhà dưỡng lão, sống vô cùng thoải mái! Ăn cơm đúng giờ, tự dọn dẹp phòng bệnh, tự chăm sóc bản thân, đến thuốc cũng ngừng uống rồi nên bớt lo. Tuy nhiên, lúc ông ấy đi dạo phải có người trông chừng, không được để ông ấy nói chuyện với người khác, bởi chỉ cần nói chuyện với bệnh nhân khác một lúc thôi cũng có thể khiến bệnh nhân đó kích động, cái này không ai chịu trách nhiệm được.”
Được sự khuyến khích của bạn, cộng thêm tính hiếu kỳ của bản thân, hai tuần sau cuộc nói chuyện, tôi đã đến thăm “bảo bối trấn viện”. Thành thật, tôi rất muốn biết rốt cuộc ông ấy nói những chuyện gì.
Vừa bước vào phòng, tôi nhìn thấy một ông lão đang đứng nhìn ra ngoài cửa sổ, dáng người trung bình, tóc hoa râm, nghe tiếng mở cửa liền quay đầu lại, do ngược sáng nên nhìn không rõ mặt.
Bác sĩ nói: “Đây là một người bạn của tôi, đến thăm ông.”
Lúc này tôi mới nhìn rõ, là một ông lão mặt chữ điền phúc hậu.
Ông thong thả đi đến bên giường rồi ngồi xuống, khoanh chân rất tự nhiên. Tôi ngồi xuống chiếc ghế duy nhất, cảm thấy trong phòng tràn ngập không khí luận kinh giảng đạo.
Bạn tôi nói có việc phải đi trước, lúc đóng cửa còn nhìn tôi cười nham hiểm, nghe tiếng anh ta khóa cửa, tôi lập tức có chút bất an, nhìn ông lão ngồi trước mặt.
Ông nói chuyện chậm rãi rành rọt, rất dễ chịu, không hề có cảm giác áp bức: “Cậu đừng sợ, tôi không có khuynh hướng bạo lực.”
Tôi: “Không đến mức như vậy… nghe nói ông có một số ý tưởng rất đặc biệt.”
Ông: “Tôi chỉ nói những chuyện mà rất nhiều người không biết, chẳng có gì kỳ quái cả”.
Tôi: “Ông rất thích nói chuyện sao?”
Ông: “Nói chuyện cùng ai đó khá là thú vị, vả lại rất nhiều việc sau khi nói ra bản thân cũng có cơ hội suy nghĩ lại, không chừng còn có thể tìm được quan điểm mới.”
Tôi cảm thấy điều này rất có lý.
Tôi: “Nghe nói ông đã trị khỏi cho một số bệnh nhân?”
Ông: “Tôi nào có biết trị bệnh, tôi chỉ dẫn họ đến một thế giới khác. Cậu có muốn đi không?”
Tôi tính nếu ông lão lao đến với khuôn mặt lộ vẻ hung ác, tôi sẽ lật ghế và hét lên. Lúc đó phải dựa vào bản thân, chạy đi là chuyện không thể rồi.”
Ông cười lớn: “Cậu đừng căng thẳng, tôi không có ý đó.”
Tôi: “Vậy ông nói thế giới khác là nơi nào?”
Ông: “Là điểm cuối của thời gian.”
Tôi: “Điểm cuối của thời gian? Thời gian có điểm cuối sao?” Ngay lúc đó, tôi đã chuẩn bị một số kiến thức vật lý lượng tử rồi.
Ông: “Có”
Tôi: “Ở đâu?”
Ông: “Ở ngay điểm cân bằng do trọng lực bẻ cong tạo thành.”
Tôi cảm thấy điều này rất vô vị, ban đầu tôi còn tưởng sẽ nghe được chuyện gì thú vị lắm, nhưng bây giờ hình như chỉ đơn thuần là những lời nói linh tinh vô nghĩa thôi.
Tôi: “Ông nói bẻ cong nghĩa là sao?” Vừa nói tôi vừa lôi điện thoại ra chuẩn bị nhắn tin cho bạn bảo anh ta đến mở cửa.
Ông lão vẫn thong thả: “Xem ra kiến thức của cậu về mảng này không nhiều, hay tôi nói cụ thể hơn cho cậu nghe nhé?”
Tôi nghĩ ngợi, nắm chặt điện thoại, quyết định ngồi nghe thêm vài phút.
Ông: “Cậu biết chúng ta đang sống trong không gian bị bẻ cong chứ?”
Tôi: “Tôi không biết.”
Ông: “Không biết cũng chẳng sao, lấy một ví dụ là cậu hiểu ngay. Ví dụ cậu tìm thêm vài người, cùng cầm một tấm màng nhựa mỏng rất to, mỗi người kéo một bên làm màng nhựa mỏng căng ra… Cái này cậu có thể tưởng tượng được chứ?”
Tôi: “Tôi tưởng tượng được, nhưng kéo căng tấm màng ra để làm gì?”
Ông: “Chúng ta đặt giả thuyết tấm màng mỏng được kéo căng đó chính là không gian vũ trụ. Lúc này nếu cậu đặt lên trên tấm màng một quả cam, tấm màng sẽ thế nào?”
Tôi: “Màng mỏng sẽ lõm xuống?”
Ông: “Không sai, trên màng mỏng sẽ có một vết lõm hình cung. Vết lõm hình cung đó chính là không gian bẻ cong.”
Tôi: “Vết lõm hình cung là gì? Chúng ta đang nói đến vũ trụ phải không? Không gian làm sao lõm được?”
Ông lão mỉm cười không nói.
Tôi ngẩn ra một lúc, chợt hiểu: “Ô, xin lỗi, tôi quên mất, định luật vạn vật hấp dẫn.”
Ông tiếp tục: “Đúng, chính là định luật vạn vật hấp dẫn. Quả cam kia tạo thành sự gấp khúc của không gian, lúc này cậu thả một viên bi thép lăn qua vết lõm, nó sẽ lăn vào vết lõm, đúng chứ? Nếu cậu nắm bắt lực và góc độ tốt, khi viên bi lăn qua vết lõm hình cung mà quả cam tạo thành, vết lõm hình cung và quán tính chuyển động hướng ra ngoài của nó đạt đến độ cân bằng, thì sẽ thế nào?”
Tôi: “Viên bi sẽ không ngừng chuyển động vòng quanh quả cam? Có thể trùng hợp như vậy sao?”
Ông: “Đương nhiên rồi, hệ mặt trời chính là một sự trùng hợp như vậy, mặt trăng chuyển động vòng quanh trái đất chính là chuyện trùng hợp như vậy? Không phải sao?”
Tôi: “Đúng là như vậy… hóa ra là thế.”
Ông: “Bây giờ cậu hiểu được không gian bị bẻ cong rồi chứ? Môi trường chúng ta đang sống chính là không gian bị bẻ cong, đúng không?”
Tôi không thể không thừa nhận.
Ông: “Cậu hiểu được thì dễ nói rồi. Lúc này chúng ta lại đặt lên màng nhựa một viên bi thép rất to, có phải sẽ xuất hiện một vết lõm sâu hơn không?”
Tôi: “Đúng, ông muốn nói đó chính là mặt trời phải không?”
Ông: “Không chỉ là mặt trời, nếu viên bi thép to đó quá nặng, thì sẽ thế nào?”
Tôi: “Màng mỏng sẽ rách? Là lỗ đen sao?”
Ông: “Không sai, chính là lỗ đen. Đây cũng là điều giới khoa học đã nghĩ tới, khi trọng lượng lỗ đen đủ lớn, nó sẽ xé rách không gian. Nếu màng mỏng không rách, sẽ có một vết lõm rất sâu, chính là lỗ sâu.”
Tôi: “Hóa ra đó chính là lỗ sâu… sau khi rách… bi thép… Ý tôi là lỗ đen sẽ đi đâu?”
Ông: “Không biết, có thể vẫn tồn tại ở một nơi khác, cũng có thể đã tự tiêu hao rồi bị bài trừ, không chắc còn tồn tại không, nhưng vết lõm và vết rách không gian ít nhất có thể tồn tại trong một khoảng thời gian.”
Tôi: “Cái này tôi không hiểu, khoan hẵng nói vấn đề nó đi đâu. Bi thép không còn nữa tại sao vết lõm và vết rách vẫn tồn tại?”
Ông cười: “Đây chính là quán tính của trọng lực. Nếu một hành tinh đột nhiên biến mất, không gian bị bẻ cong xung quanh vẫn sẽ tồn tại thêm một thời gian chứ không lập tức biến mất.”
Tôi: “Có căn cứ khoa học không?”
Ông: “Chính là vành đai xung quanh sao Thổ, vốn dĩ vệ tinh đó bị lực hút của sao Thổ và quán tính chuyển động của bản thân xé tan, nhưng trường trọng lực tồn dư vẫn còn, chính là trường trọng lực này, tạo thành vành đai sao Thổ nằm trên một quỹ đạo. có điều, có thể vài tỷ năm sau sẽ biến mất hoặc cũng có khi vài chục vạn năm nữa?”
Tôi: “Không thể xác định được sao?”
Ông: “Không xác định được, vì phát hiện tình trạng này chưa bao lâu.”
Tôi: “Vậy sự cân bằng ban đầu ông nói là chỉ cái này?”
Ông: “Không hoàn toàn, nhưng cũng có liên quan. Bây giờ chúng ta đặt thêm thật nhiều bi thép to trên màng mỏng, sẽ có rất nhiều vết lõm to, điểm này cậu cũng đã đồng ý. Vậy nếu vị trí của những vết lõm đó đều nhau, trên màng mỏng sẽ tạo thành một khu vực rất cân bằng, các vật thể trong khu vực đó chịu ảnh hưởng của trọng lực, tự bản thân nó không thể tạo thành các vết lõm, nhưng lại tạo thành sự cân bằng, không thể lẫn vào bất cứ vết lõm trọng lực nào. Lúc này sự cân bằng của trọng lực bẻ cong được hình thành”
Tôi cố gắng tưởng tượng ra cái vị trí vi diệu đó.
Ông: “Nếu có một hành tinh ở điểm cân bằng đó, do chịu ảnh hưởng của trọng lực cân bằng, hành tinh đó vừa không thể tự quay, cũng không quay quanh vật khác, đồng thời cũng không bị xé tan do các loại trường lực hấp dẫn, nó chỉ nằm yên. Trường trọng lực bản thân nó đa phần đã bị các trường trọng lực lớn xung quanh hút hết, hành tinh đó chính là điểm cuối của thời gian.”
Tôi: “Sao lại gọi nó là điểm cuối của thời gian?”
Ông: “Cậu không hiểu cũng không sao, bởi cậu không phải nhà vật lý học. Nếu nhà vật lý học không hiểu, nên quay lại trường học thêm vài năm. Đó là thuyết tương đối mở rộng, có thời gian cậu đọc một chút sẽ hiểu thôi. Hơn nữa, để giúp cậu hiểu hơn, tôi đã cố ý không dùng từ ‘không – thời gian’, mà dùng từ không gian. Trên thực tế, thứ bị bẻ cong chính là ‘không – thời gian’ đấy”
Tôi: “Nhưng làm sao ông biết có một nơi như thế tồn tại? Chính là cái điểm cuối của thời gian mà ông nói… hành tinh?”
Ông lão cười rất tự hào: “Tôi đã từng đến đó!”
Chương sau: Khoảnh khắc chính là vĩnh hằng
Nhìn bệnh nhân tự hào tuyên bố đã từng đến điểm cuối của thời gian, tôi nhất thời hoang mang. Những điều ông nói trước đó tôi còn chưa tiêu hóa hết, giờ lại nói đến chuyện khó tin như vậy, khiến tôi hoàn toàn không phản ứng kịp.
Tôi: “Ông… từng đến đó lúc nào?”
Ông: “Muốn đến lúc nào cũng được.”
Tôi: “Lúc nào cũng được?”
Ông rất kiên định: “Đúng.”
Tôi: “Bây giờ có thể đi không? Có thể cho tôi thấy ông đến đó không?”
Ông: “Bây giờ đi cũng được, nhưng cậu không thể nhìn thấy.”
Tôi: “Không phải tôi muốn đi xem điểm cuối của thời gian, mà là cho tôi thấy ông không ở đây nữa ấy.”
Đột nhiên ánh mắt ông sáng rực lên: “Tôi quay lại rồi.”
Tôi: “Hả?”
Nói thật tôi từng gặp không ít bệnh nhân rất khoa trương, nhưng khoa trương đến mức độ này là lần đầu tiên.
Ông: “Tôi nói rồi, tôi đi cậu cũng không nhìn thấy.”
Tôi: “Ý ông muốn nói linh hồn rời đi?”
Ông: “Không, không phải đi trong tinh thần, mà là thật sự đi rồi.”
Tôi bày tỏ sự nghi ngờ, hoang mang nghiêm trọng với việc này.
Ông: “Tôi biết cậu cảm thấy tôi có bệnh, chẳng sao, tôi quen rồi, nhưng tôi thật sự đã đến đó. Như tôi nói, đó là điểm cuối của thời gian, tức là không có khái niệm thời gian nữa, vì vậy dù tôi đi rồi, cậu cũng không nhìn thấy, bởi không thuộc cùng một thời gian. Ở nơi đó không chiếm dụng một giây một phút nào của thời gian nơi đây.”
Tôi: “Ý ông là ông đi rồi, nhưng thời gian ở đó ngừng trệ hoặc có thể nói là không có thời gian, dù ông có đến đó người ở thế giới này cũng không phát hiện ra, khả năng là có hai thời gian khác nhau. Đúng không?”
Ông: “Không hoàn toàn đúng, trên thực tế thời gian có rất nhiều loại. Cứ dựa vào cuộc nói chuyện của chúng ta vừa rồi về tính chất của không gian bị bẻ cong là cậu có thể tiếp nhận được.”
Tôi: “Thôi được, chúng ta giả thuyết ông thật sự đã đến đó, vậy ông đến đó bằng cách nào?”
Ông: “Đầu tiên cậu cần tin tưởng sự tồn tại của điểm cuối thời gian, cậu mới có thể đi được.”
Tôi: “Tin thì có, không tin thì không có? Thế chẳng có nghĩa lý gì…”
Ông lão rất nghiêm túc: “Cậu có thể không tin, nhưng cậu không tin cũng không ảnh hưởng đến sự tồn tại của hiện thực khách quan, hơn nữa cậu cũng không thể chứng minh những điều tôi nói là sai. Ít nhất, trong thế giới có thời gian này, cậu không thể chứng minh tôi đang bốc phét. Tôi muốn kể cậu nghe một câu chuyện: có một người mù bẩm sinh rất muốn biết mặt trời là gì. Có người nói với anh ta: ‘Anh đang đứng dưới mặt trời đó, có cảm thấy nóng không? Đó chính là mặt trời.’ Người mù hiểu: Thì ra mặt trời rất nóng. Có một đêm người mù đi qua lò lửa, cảm thấy rất nóng, liền hỏi người xung quAnh: ‘Nóng quá, là mặt trời sao?’ Người ta bảo anh ta: ‘Đây không phải mặt trời, mặt trời hình tròn cơ’. Người mù hiểu: Thì ra vừa tròn vừa nóng mới là mặt trời. Người ta giải thích cho anh ta: ‘Không phải, mặt trời không thể sờ được, mặt trời ở trên bầu trời, buổi sáng có màu đỏ, buổi trưa màu trắng, buổi tối lại màu đỏ. Mặt trời có thể phát sáng, vì vậy anh cảm thấy mặt trời nóng’. Người mù liền hỏi: ‘Bầu trời ở đâu? Màu đỏ là gì? Màu vàng là gì? Phát sáng là gì?’ Không ai có thể nói rõ được. Thế là người mù liền nói: ‘Các người đều lừa tôi, không hề có mặt trời’.”

Tôi sững ra một lúc, cảm giác như đã rơi vào một nghịch lý nào đó nhưng không thể nói rõ. có điều tôi hiểu vì sao ông ấy lại là “bảo bối trấn viện”, tôi cũng cảm thấy ông lão này có tiềm năng của một giáo chủ tà giáo.
Tôi thở một hơi dài: “Được rồi, ông đi rồi, thật sự có tồn tại. Vậy điểm cuối của thời gian là nơi như thế nào?”
Ông lão cũng thở một hơi dài: “Tôi không cách nào khiến cậu tin tưởng mình được. Nhưng tôi có thể nói cho cậu biết.”
Tôi: “Ông nói đi”
Ông lão: “Điểm cuối của thời gian vượt quá sức tưởng tượng, do nơi đó không có thời gian, nên rất khó lý giải. Lấy ví dụ, cậu bước một bước về phía trước, nghĩa là cậu cũng đang đồng thời bước về tất cả các hướng. Hiểu không? Cậu có thể nhắm mắt tưởng tượng một chút.”
Tuy tôi hơi nghi ngờ, nhưng vẫn thử nhắm mắt tưởng tượng hiệu quả khi cùng lúc bước một bước về tất cả các hướng. Rất tiếc, hình ảnh trước mắt lại là một bông hoa cúc nở rộ.
Tôi mở mắt: “Xin lỗi tôi không tưởng tượng được.”
Ông: “Tôi hiểu, cái này rất khó… được rồi, nếu cậu nhất định phải so sánh với thế giới có thời gian, tôi sẽ cố gắng hết khả năng minh họa cho cậu hiểu, dù cũng chẳng trông mong cậu có khái niệm gì. Coi như tôi đang nói linh tinh vậy. Điểm cuối của thời gian, có không khí hay không, có trọng lực hay không đều không quan trọng, không ăn không ngủ cũng chẳng sao, thể xác tồn tại thì tồn tại, có thể tồn tại ở bất cứ điểm nào, chỉ cần cậu đồng ý. còn vấn để bước một bước, tùy quyết định của cậu, nếu cậu tiếp tục hướng về phía trước cũng có nghĩa là tiến về tất cả các hướng. Giống như vậy, cậu có thể đồng thời nhìn thấy tất cả các góc độ, có phải cậu càng rối rắm hơn rồi không? Cậu có thể tận mắt nhìn thấy bóng lưng mình, rất kỳ quái đúng không? Câu cũng nhìn thấy chính diện và bên cạnh mình. Cậu có thể nhìn thấy vì ba chiều còn tồn tại, nhưng chiều thứ tư thì không.”
Tôi: “Chiều thứ tư tội nghiệp…”
Ông: “Vượt quá tầm tưởng tượng rồi sao? Còn có thử khoa trương hơn nữa. Trên thực tế, ngay đến một bước đó cậu cũng không cần bước, chỉ cần cậu muốn đi, cậu đã đi rồi. Không có sự hạn chế về thời gian, thoát ly khỏi quan hệ nhân quả. Cậu có thể chiếm đầy cả không gian, đó là không gian thật sự, không phải không – thời gian. Nhưng thật ra cậu chỉ đang ở yên tại một điểm. Tôi biết cậu không thể lý giải được, thực tế cũng không mấy người có thể lý giải được, bao gồm cả các học giả vật lý.”
Nói thật não tôi bắt đầu căng ra rồi.
Tôi: “Vậy về sau thì sao? Sẽ có vô số bản thân tôi?”
Ông: “Không, chỉ có một.”
Tôi: “Vì sao?”
Ông: “Cơ thể cậu có đặc tính ba chiều, vì vậy điểm cậu tồn tại chỉ có một. Nhưng không có trục thời gian, cậu có thể ở bất cứ nơi nào, vì không có sự ràng buộc về nhân quả của chiều thứ tư… khái niệm không – thời gian bốn chiều này có lẽ cậu cũng không hiểu.”
Tôi: “Không, tôi hiểu.” Đột nhiên tôi rất cảm kích cậu thanh niên nói loài người là con sâu bốn chiều kia, không có cậu ta thì hôm nay tôi chẳng hiểu nổi cái gì.
Ông: “Cậu hiểu? Rất tốt, vậy để tôi nói tiếp. Không có trục thời gian nên cũng sẽ không tồn tại quá trình, tại điểm cuối của thời gian, tất cả quá trình thật ra chính là không có quá trình. Quan hệ nhân quả cần có trước có sau, không có thời gian, khái niệm trước sau này cũng không tồn tại nữa.”
Tôi cảm thấy có chút hiểu ra, nhưng trong lòng vẫn thấy một bước này đi thật khó khăn, ý tôi là sự lý giải.
Tôi: “Thôi được, vậy ông giải thích xem trong tình trạng không có thời gian, ý thức sẽ như thế nào? Không có thời gian thì cũng không có thời gian suy nghĩ đúng không?”
Ông: “Ai nói ý thức cùng một không – thời gian với chúng ta chứ? Ý thức là do cơ thể chúng ta sản sinh ra, nhưng về cơ bản nó tồn tại ở một nơi đa chiều hơn cơ thể chúng ta.”
Tôi cảm thấy câu nói này khá gây chú ý.
Tôi: “Đợi một chút, ông đang phủ định thế giới vật chất đúng không?”
Ông lão cười: “Không, tôi không phủ định thế giới vật chất. Tôi có tín ngưỡng không có nghĩa là tôi phải phủ định sự tồn tại của thế giới vật chất hay vũ trụ. Thượng đế cũng được, Phật tổ cũng được, Allah cũng được, đó chỉ là tư tưởng triết học. Tư tưởng sản sinh từ ý thức, tôi nói rồi, ý thức không thuộc thế giới bốn chiều này. Tư tưởng đến từ ý thức thúc đẩy sự phát triển và tiến hóa của nhân loại, điều này hợp lý, không mâu thuẫn.”
Tôi: “Cái này có lẽ cũng có lý… nhưng vì sao chủ đề lại chạy sang triết học rồi?”
Ông: “Cậu không phát hiện ra sao? Cho dù cậu nói về chủ đề gì, nói đến cuối cùng tất cả đều sẽ liên quan đến triết học.”
Tôi: “Hình như là như vậy…”
Ông: “Tổ tiên chúng ta từng miêu tả lại các dòng thời gian khác nhau từ góc độ triết học: Bảy ngày trong động, nghìn năm nhân gian. Chẳng qua đó chỉ là sự suy đoán từ góc độ triết học.”
Tôi: “Cái này tôi có nghe qua…”
Ông: “Đối với cậu, điểm cuối của thời gian rất khó lý giải, nhưng nếu cậu suy nghĩ thêm về không gian phẳng của màng mỏng chúng ta đã giả thuyết lúc trước thì cậu sẽ hiểu thôi. Từ góc độ duy vật xác định sự tồn tại của các dòng thời gian khác nhau, chuyện này không có vấn đề gì. Khi đạt đến cân bằng trọng lực, nhất định phải có một điểm thuộc điểm cuối của thời gian.”
Tôi: “Bây giờ tôi rõ ràng hơn nhiều rồi. Trên thực tế tôi không hiểu đi như thế nào?
Ông lão thả chân xuống, đứng lên: “Ban đầu không có sinh vật, về sau mới có. Ban đầu không có địa cầu, về sau mới có. Ban đầu không có hệ mặt trời, về sau mới có. Hệ ngân hà cũng vậy, vũ trụ cũng thế. Đây chính là cái gọi là “bằng không” sao? “Bằng không” đi ngược lại với mọi quy tắc vật lý của thế giới vật chất. Nhưng thật sự không phải là “bằng không” sao? Điện không dây cậu không nhìn thấy, tia hồng ngoại cậu không nhìn thấy, tia X- quang cậu không nhìn thấy. Nhưng cho dù khó lý giải hoặc không thể tin nổi, tất cả những thứ đó vẫn đang tồn tại. Một người thời nhà Đường đến thời đại của chúng ta, nhìn thấy có người cầm điện thoại di động nói liên tục, anh ta sẽ cảm thấy thời đại này thật thần kỳ, nhất định là phép thuật, là tiên cảnh. Thực tế thì sao? Có phải không? Ăn uống đi cầu có thiếu cái nào đâu? Đó chỉ là sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phải không nào? Nếu cái người nhà Đường kia hiếu học, nỗ lực học tập cách sinh hoạt của thời đại chúng ta, đợi đến một ngày anh ta cầm chiếc điện thoại di động nói chuyện, tay ấn điều khiển tivi, cậu lại đưa anh ta về đời nhà Đường, cậu cho rằng ai sẽ tin lời anh ta nói? Chúng ta học lịch sử, có thể nhận thức được sự phát triển của nền văn minh nhân loại, vì vậy không cảm thấy sự phát triển đó là phép thuật. Điện thoại di động cũng vậy, tivi cũng thế, chỉ là đồ dùng hằng ngày. Đột nhiên ném cậu về 1000 năm sau, cậu sẽ chính là người đến từ thời đại nhà Đường.”
Tôi chăm chú nhìn ông ta.
Ông: “Chủ nghĩa duy vật cũng được, chủ nghĩa duy tâm cũng thế, kỳ thực không có gì mâu thuẫn cả. Chỉ cần không dùng những gì bản thân nắm bắt được đi làm hại người khác, vậy coi như nhận thức của bản thân được nâng cao rồi, cũng chẳng có gì phải kinh ngạc. Như tôi đã nói lúc trước: Cậu không tin cũng không ảnh hưởng gì đến sự tồn tại của hiện thực khách quan. Điểm cuối của thời gian có tồn tại, hơn thế tôi thật sự đã đến đó. Cậu có đồng quan điểm hay không cũng không phải vấn đề của tôi, nó là vấn đề của cậu.”
Tôi thở một hơi dài: “Thôi được, tôi thừa nhận ông thuộc cấp bậc thần tiên rồi… Trước đây ông làm nghề gì?”
Ông lão cười: “Tôi chỉ là một bệnh nhân tâm thần thôi, từng là một giảng viên triết học.”
Tôi: “… Đúng rồi, tôi muốn hỏi một chút, trước đây có một số bệnh nhân khỏi bệnh là như thế nào? Còn nữa ông đã nói với các bệnh nhân đó những gì mà khiến tinh thần họ thay đổi tích cực như vậy.”
Ông: “Tôi đưa họ đến điểm cuối của thời gian.”
Tôi bất lực nhìn ông ta, không biết nên nói gì. Trước mắt hiện ra nụ cười xấu xa của anh bạn trước khi khóa cửa rời đi.
Sau đó cuộc nói chuyện của chúng tôi dần dần chuyển sang hướng triết học, tôi phát hiện, những người nắm vững cơ sở triết học gần như đều thuộc cấp bậc thần tiên. Còn đối với điểm cuối của thời gian, tôi đã có thể lý giải được, nhưng việc ông lão nói đã từng đến đó, tôi không thể lý giải. Hoặc có thể nói, dựa vào những nhận thức của tôi đối với thế giới vật chất, tôi không thể lý giải.
Lúc anh bạn bác sĩ mở cửa đón tôi, trên mặt vẫn treo nụ cười nhìn muốn đánh.
Đợi sau khi anh ta tan làm, trên đường đi ăn cơm, tôi hỏi anh ta: “Cậu từng nói chuyện với ông ta chưa?”
Anh: “Điểm cuối của thời gian phải không? Tôi nghe rồi, nghe đến chóng mặt rồi, về sau còn tự đọc sách, miễn cưỡng hiểu rồi.”
Tôi: “Cậu tin không?”
Anh: “Cậu nói trước xem cậu có tin không?”
Tôi: “Tôi không biết.”
Anh: “Tôi cũng không biết… có điều, một câu ông ấy từng nói khiến tôi hiểu hơn về vấn đề này”
Tôi: “Câu gì?”

Anh: “Thử dùng góc độ của duy vật để lý giải, khoảnh khắc chính là vĩnh hằng”.
Cao Minh
Theo https://thuvienonline.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...