Thứ Hai, 5 tháng 1, 2026

Hình ảnh con người cá nhân trong văn học sau chiến tranh

Hình ảnh con người cá nhân
trong văn học sau chiến tranh

Sự thức tỉnh trở lại ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học thời kỳ đầu Đổi mới nhiều đề tài và chủ đề mới, làm thay đổi quan niệm về con người. Văn học ngày càng đi tới một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con người mà nền tảng của nó là tư tưởng nhân bản.
Cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đã khơi dậy và phát huy đến cao độ ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc, lòng yêu nước trong mỗi con người Việt Nam. Điều này được phản ánh trong văn học chúng ta suốt những năm tháng đất nước vùng lên dưới làn bom của giặc Pháp, Mỹ. Văn học cách mạng Việt Nam suốt ba mươi năm, từ 1945 đến 1975 lấy cảm hứng chủ đạo là chủ nghĩa yêu nước, khát vọng độc lập tự do và lí tưởng xã hội chủ nghĩa. Một trong những thành tựu nổi bật nhất của văn học kháng chiến giai đoạn này có thể nói là đã phát hiện sáng tạo và xây dựng được hình ảnh con người quần chúng ở nhiều bình diện. Con người cá nhân với những nhu cầu, khát vọng cá nhân hầu như ít được đề cập, vì trong thời điểm lịch sử này chúng không đủ tư cách trở thành một đề tài độc lập. Số phận cá nhân, khát vọng cá nhân bị che lấp đi sau số phận của cộng đồng, những biến cố lớn lao của cộng đồng…
Từ sau 1975, đất nước hết chiến tranh, cuộc sống con người trở về với quy luật đời thường của nó. Mối quan tâm hàng đầu của triệu triệu người dân yêu nước ta phải thắng ngày hôm nay đã có câu trả lời ta đã thắng. Nhưng con người lại phải đối mặt với muôn vấn đề của cuộc sống đời thường trong hoàn cảnh xã hội có nhiều biến động, đổi thay. Họ cũng có rất nhiều những khát vọng cá nhân, những đòi hỏi được sống cho chính mình, sống là mình. Sự thức tỉnh ý thức cá nhân trở thành một cảm hứng và đặc điểm bao trùm văn học Việt Nam sau 1975, mà đặc biệt là thời kỳ đầu Đổi mới, với các tác phẩm văn xuôi tiêu biểu như Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng),  Thân phận tình yêu ( Bảo Ninh), Thời xa vắng (Lê Lựu),…
Mùa lá rụng trong vườn (1985) là cuốn tiểu thuyết mô tả sự biến đổi của gia đình  trong thời kỳ quá độ. Gia đình, cái vùng tưởng như yên ổn, cái mà có lúc tác giả gọi là vùng an lạc, có ai ngờ lại là một vùng nhiều sóng gió đến thế. Mối quan hệ thân thiết, ruột thịt giữa những cá nhân trong gia đình có ai ngờ lại chứa nhiều xung đột, mâu thuẫn như vậy. Có một thời, người ta chỉ chú trọng đến những vấn đề lớn của xã hội, của dân tộc mà quên đi cái nôi nhỏ bé của mình là gia đình. Ma Văn Kháng phát hiện ra rằng, chính trong những cái nôi nhỏ bé đó cũng chứa không ít xung đột. Bởi, ông nhận ra được mỗi cá nhân là một cá tính riêng, không dễ gì hoà hợp. Tác phẩm kể về những diễn biến rắc rối đầy tính thời sự trong gia đình ông Bằng, một gia đình vốn nề nếp ở thành phố Hà Nội. Nhưng chỉ sau một năm, giữa hai mùa cây trong vườn thay lá, mọi việc, mọi người trong gia đình ông đều có những thay đổi sâu sắc vì những xung đột nặng nề, những thử thách căng thẳng của hạnh phúc gia đình, của khát vọng cá nhân. Ma Văn Kháng đã đi sâu vào đời sống tâm lí tinh thần của con người, nói những được những vấn đề bức thiết của đời sống gia đình trước những đổi thay của bối cảnh xã hội.
Nếu như Mùa lá rụng trong vườn nói về bi kịch gia đình do sự không dung hợp được những cá tính khác nhau trong hoàn cảnh sống mới thì Thời xa vắng của Lê Lựu lại là tác phẩm nói về bi kịch của con người không được sống với cá tính của mình, không được sống là mình, sống cho mình. Cuộc đời của Giang Minh Sài có thể nói là một tấn bi kịch của sự đánh mất mình mà nguyên nhân là cả từ phía gia đình, xã hội lẫn bản thân anh ta. Cu Sài sinh ra trong gia đình nhà nho rất coi trọng phép tắc trên dưới. Hơn 10 tuổi Sài đã phải lấy vợ, một con bé mà Sài ghét từ đầu đến chân. Nhưng ngay từ nhỏ, cậu bè Sài thơ ngây đã bị cột chặt vào những cái gọi là danh dự bổn phận. Trong cuộc mít tinh của toàn xã, Sài được đứng lên nhận danh hiệu thiếu niên tiêu biểu, chú Hà quàng khăn vào cổ cho cháu và đã nói nhỏ cấm được bỏ vợ đấy nhé. Nghe ra thì nực cười nhưng chua xót, cu Sài ngây thơ để giữ cho xứng với danh hiệu thiếu niên tiêu biểu của xã mà phải yêu cái con bé mình ghét từ đầu đến chân. Câu nói của chú Hà trở thành  tảng đá khổng lồ đè nặng lên người Sài  khiến cho cu Sài tuy còn là một thiếu niên nhưng đã phải sống vì dư luận, vì danh dự. Và cái hòn đá tảng của dư luận, của danh dự đè nặng mãi lên vai Sài kể cả lúc anh đã lớn lên. Tình yêu của anh dở dang vì không vượt qua được dư luận xã hội. Sài gác sách vở, đi bộ đội. Thời gian ở trong bộ đội mới là thời gian đằng đẵng của Sài vì hầu như anh không được sống chút gì cho cá nhân mình. Ban ngày, anh là con người của nghĩa vụ, tập luyện, chiến đấu như đồng đội. Nhưng tối đến anh phải sống đối diện với chính mình. Anh nhớ Hương, anh tưởng tượng đến tình yêu đẹp đẽ của hai người. Những giây phút sống cho mình đó anh ghi vào trong nhật ký. Nhưng nhật ký của anh bị người ta tịch thu, khám xét để mà tìm hiểu và cấm anh viết. Lê Lựu đã cho chúng ta thấy có một thời – tuy là thời xa vắng – nhưng cách đây chưa xa lắm người ta không dám sống là chính mình, không dám sống cho mình!
Cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ trong sáng tác văn chương cũng được văn học thời kỳ đầu Đổi mới đề cập đến. Hình tượng nhân vật nhà văn trong Thân phận tình yêu là hình tượng người nghệ sĩ trăn trở đau đớn trong cơn sinh thành tác phẩm. Viết với anh ta là sự giãi bày, là nhu cầu bức thiết cần được giải toả. Vì vậy mà văn chương của anh là sự ngổn ngang, chằng chịt những cảm xúc, ám ảnh, đau đớn, uất ức của bản thân. Đỗ Đức Hiểu đã cho rằng Nỗi buồn chiến tranh (tên gọi lúc đầu của Thân phận tình yêu) còn là nỗi buồn tình yêu và nỗi buồn sáng tạo. Cuốn tiểu thuyết của Kiên được sáng tạo trong cơn dằn vặt tinh thần và những xung đột nội tâm khủng khiếp nhưng câm lặng của Kiên, đó là một sáng tác dựa trên cảm hứng chủ đạo của sự rối bời. Cá tính sáng tạo trở thành yếu tố chi phối đặc biệt nhất trong hành trình viết văn của Kiên. Thể hiện điều này trong tác phẩm, Bảo Ninh đã góp một tiếng nói khẳng định người nghệ sĩ có vai trò quan trọng bậc nhất trong sáng tạo văn học. Ý thức về sự tồn tại của cá nhân, cá tính trở thành dòng cảm hứng chủ đạo của văn học Việt Nam thời kỳ đầu Đổi mới, đặc biệt là ở trong văn xuôi. Các nhà văn đã nhìn lại hiện thực một thời kỳ người ta không được sống cho chính mình, không dám sống cho chính mình, ý thức cá nhân bị triệt tiêu. Lê Lựu, Bảo Ninh,… đã góp một tiếng nói mạnh mẽ đòi cho con người quyền được sống cho những ước mơ và khát vọng cá nhân của mình, đòi được quan tâm và hưởng thụ chính đáng.
Sự thức tỉnh trở lại ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học thời kỳ đầu Đổi mới nhiều đề tài và chủ đề mới, làm thay đổi quan niệm về con người. Văn học ngày càng đi tới một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con người mà nền tảng của nó là tư tưởng nhân bản. Con người vừa là điểm xuất phát, là đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học, đồng thời cũng là điểm quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện và biến cố lịch sử.
23/12/2024
Trịnh Thị Nga
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Han Kang & Bản chất của người Bối cảnh của tiểu thuyết là phong trào biểu tình ở Gwangju năm 1980, chống chế độ độc tài Chun Doo-hwa...