Thứ Hai, 5 tháng 1, 2026

Trắng - Khi ngôn từ là nghi lễ triệu hồi linh hồn và quá khứ

Trắng - Khi ngôn từ là nghi
lễ triệu hồi linh hồn và quá khứ

Với Han Kang, mỗi thiên thần đến với thế giới này đều có sự hy sinh của một thiên thần khác, và đâu đó còn có cả sự tái sinh – phục sinh trong đấy. Và việc viết ra, để Trắng phủ khắp mọi ngõ ngách, trên từng trang văn là cách mà Han Kang đã chọn để triệu hồi linh hồn của chị mình, triệu hồi cả quá khứ của chính mình.
Han Kang – nhà văn đoạt giải Nobel Văn học năm 2024, bà đã cho xuất bản 6 tiểu thuyết, nhiều truyện ngắn và thơ trong hơn ba mươi năm tiến thân vào sự nghiệp văn chương. Trong đó, Trắng là quyển sách để lại ấn tượng độc đáo khi phá vỡ loạt ranh giới, đưa người đọc xuyên qua hư không, chạm tới linh hồn và quá khứ của tác giả, từ đó gặp gỡ, va chạm với chính tâm hồn mình.
Đậm chất lai ghép thể loại
Rong ruổi qua những áng văn, chạm trán những ngôn từ để đến khi gấp quyển sách lại, Trắng vẫn cư ngụ nơi tâm trí người đọc, họ chôn mình trong mấy suy tư, đôi dòng vụn vặt và cả những câu hỏi. Trắng mang đến một cảm giác khó hiểu, thậm chí sự khó hiểu ấy đã dâng lên đến tầm kỳ lạ. Có thể thấy, cái khó hiểu và kỳ lạ của tác phẩm không đơn thuần đến từ sự chắp nối những khả thể tưởng chừng nhị nguyên như sự sống – cái chết, quá khứ – hiện tại, cái riêng – cái chung… mà nó còn thể hiện rõ rệt thông qua cách viết, cách dàn từ, cách phân chia từng phần trong quyển sách. Chính những trang giấy chỉ chứa vỏn vẹn một đoạn, thậm chí là vài câu lọt thỏm trong khoảng trắng tinh khôi, thuần nhất cũng là cách tác giả bày tỏ tư tâm của mình. Thật khó để xếp Trắng vào thể loại tiểu thuyết bởi khi tiến sâu vào Trắng, ta còn thấy đâu đó dáng dấp của những lời tự truyện, của một quyển nhật ký bấy lâu giấu kín nay được phơi bày và xa xa kia còn là âm hưởng của những lời thơ phảng phất.
Khi xét kỹ càng, Trắng có phần tương đồng với một số tác phẩm như Căn phòng riêng của Virginia Woolf, Hoàng tử bé của Antoine de Saint- Exupéry hay Người tình của Marguerite Duras. Bởi đó đều là những tác phẩm làm mờ nhòe ranh giới thể loại, chúng mang trong mình hai hoặc thậm chí là hơn hai căn tính thể loại. Không có căn tính nào cố gắng nổi lên hay đè nén các căn tính còn lại, thay vào đó, chúng sống với nhau, đan cài, quyện chặt. Có hẳn một tên gọi dành riêng cho những tác phẩm kiểu này, đó là hybrid genre, tạm dịch là lai ghép thể loại. Đây là cụm từ dùng để chỉ các sáng tác văn chương có sự trộn lẫn hai hay nhiều thể loại, như Căn phòng riêng là lai ghép giữa tiểu thuyết và tiểu luận, Người tình lại là sự kết hợp giữa tự truyện và tiểu thuyết.
Từ khái niệm này có thể nhận định, Trắng là sự hòa quyện của nhiều thể loại. Đó là tiểu thuyết về hành trình lưu lạc vào thời quá khứ của tác giả khi là “tôi”, khi là “cô ấy” và cũng có khi là “tất cả màu trắng” – tất cả mọi người. Đó là lời tự truyện với những dòng văn kể về lần chuyển nhà, về những khoảnh khắc thèm nghe vài câu tiếng mẹ đẻ nơi xứ lạ, về những cuộc trò chuyện mang tính tự thân, riêng tư đến những cuộc chuyện trò mang tính đối thoại, công khai nào đó. Trắng còn dung chứa đôi ba dòng thơ buộc người đọc phải nán lại vài hồi để lần mở, xem rằng phía sau “những bông tuyết thưa thớt rơi rơi,/ Vào bầu trời tối đen không một ánh đèn đường với tới” là những ý niệm gì, về cái chết, về tình thân hay một điều gì khác. Để rồi cuối cùng, Trắng đè xuống, khắc vào lòng người đọc thứ luận đề, nơi “có vô vàn sự trở mình (nhưng vẫn chẳng có gì là mãi mãi)”, tại đó buộc họ tiếp tục tự hỏi “hoa trắng gợi nhắc đến sự sống chăng, hay là cái chết?”
Lạ kỳ nối tiếp lạ kỳ, “Trắng” càng tăng thêm sức hút trong lòng người đọc, kéo họ vào, để họ được ngao du trên một mảnh đất mang bóng hình hoặc được gắn mác tiểu thuyết nhưng ẩn sâu trong đó còn có cả những tấc đất mang tên tự truyện, thơ ca và ẩn nấp đôi dòng luận lý.
Nơi ngôn từ mang sức mạnh lễ nghi
Từ những dòng đầu tiên, trong những trang đầu tiên, Han Kang đã nhanh chóng đẩy người đọc vào điểm cuối cuộc đời, nơi cái chết gần hơn bao giờ hết. Bà để họ rảo bước nhanh qua sự sống chỉ trong mấy mươi từ ngắn ngủi, mở đầu là “tã quấn” và kết thúc bằng “áo liệm”. Một kiếp người xa đó mà gần đó. Một đứa trẻ vừa mới chào đời, chưa kịp cảm nhận hơi ấm của áo sơ sinh, của vòng tay người mẹ, của những tiếng nói quây quần bao bọc lấy mình thì đứa trẻ ấy đã phải rời đi trong một mùa đông lạnh giá. Đứa trẻ là người chị, người mà Han Kang luôn nhắc đi nhắc lại rằng “nếu chị còn sống thì em không được phép có mặt trên đời này. Nếu em đang sống thì chị không được phép tồn tại.”
Với Han Kang, mỗi thiên thần đến với thế giới này đều có sự hy sinh của một thiên thần khác, và đâu đó còn có cả sự tái sinh – phục sinh trong đấy. Và việc viết ra, để Trắng phủ khắp mọi ngõ ngách, trên từng trang văn là cách mà Han Kang đã chọn để triệu hồi linh hồn của chị mình, triệu hồi cả quá khứ của chính mình. Nhà văn muốn chị được sống trong thân thể của mình, muốn chị cảm nhận thế giới mà mình đương cảm nhận, “muốn cho chị thấy những thứ thanh sạch – những thứ chỉ dành riêng cho chị, trước khi mọi tàn khốc, buồn đau, tuyệt vọng, thống khổ” ào ạt vồ lấy xác thân mình. Ở chiều ngược lại, thông qua thứ nghi lễ góp từ ngôn từ ấy, chính nhà văn cũng được sống trong thân thể chị “khi nhìn bằng đôi mắt của chị, em nhìn theo cách khác. Khi bước đi bằng cơ thể của chị, em bước đi theo cách khác.” Vì lẽ đó mà nhân vật “tôi” hay “cô ấy”, nói đúng hơn là chính Han Kang được sống hai cuộc đời chỉ bằng một thân xác. Cách sống này không hề ích kỷ mà hơn cả, đó là sống thay cho người đã chết, vì người đã chết mà đẩy đưa cuộc đời mình lên tầm đủ đầy và trọn vẹn hơn.
Thứ nghi lễ (ritual) làm nên từ “trắng” của Han Kang còn đưa người đọc sống trong “những ký ức không hề tổn hại bởi thời gian. Cả những thống khổ cũng vậy” của tác giả, nơi bà luôn bị ám ảnh bởi một nỗi đau thầm kín về mất mát, tổn thương, nơi níu giữ bà phải nhớ về những điều xa xăm, những niềm hoài cổ. Từ đó, người đọc đi từ chạm trán cái riêng – của chỉ mỗi tác giả đến cái riêng của mình và lại tiến thêm một bước, bắt nấc thang để đến gặp cái chung – của một dân tộc rồi nhân ra của nhiều dân tộc và có chăng ở phía cuối kia là của toàn nhân loại.
Đúng thật nghi lễ mà Han Kang tạo nên từ ngôn từ của bà chỉ toàn màu trắng, xoay quanh những thứ, những gì màu trắng nhưng đó không chỉ là màu trắng của tang tốc, không dừng lại ở niềm tiếc thương mà đó còn là màu trắng của khai sinh, của sự sống. Suy cho cùng, nghi lễ triệu hồn linh hồn và quá khứ mà Han Kang lập nên trong Trắng vừa mang sức mạnh của cái chết vừa mang sức mạnh của sự sống.
Cái sức mạnh nghi lễ ẩn chứa trong một ngôn từ “trắng” mang hai thái cực tưởng chừng là đối lập nhưng lại là quyện hòa, tưởng chừng là hai nhưng là một ấy càng khiến tác phẩm như xa mà gần, như nói về quá khứ nhưng hóa ra lại nói về thực tại, mà có chăng là cả tương lai. Người đọc, đi qua từng trang sách, có những trang chỉ vỏn vẹn mấy câu, tưởng là hiểu nhưng vẫn thật khó hiểu, tưởng Han Kang đang nói về chia ly nhưng có khi lại chất chứa cả màu đoàn tụ.
Thế mới thấy, văn Han Kang không dễ đọc, và cũng chính thứ văn này đưa bà đến giải Nobel Văn học năm 2024. Chỉ một từ Trắng nhưng mang sức mạnh của cả một lễ nghi, cái lễ nghi mà người ta khó có thể bắt gặp trong trang sách nào khác mà chỉ có thể thấy ở tác phẩm gói gọn trong một trăm trang nhưng không đặc sệt con chữ của bà.
23/12/2024
Nguyễn Hoàng Thi Thơ
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Hà Nội, con thuyền, phù sa Đôi khi tôi tự hỏi cái ngày Lý Công Uẩn đến vùng bờ bãi phù sa ven sông Hồng, thấy những ráng mây vàng như mộ...