Mùa chim - Tín hiệu vui
với thơ cho thiếu nhi hôm nay
Mùa chim là khúc ca trong trẻo của một người lần đầu tiên chạm ngõ tuổi thơ mình. Không khó để nhặt ra những ý tình đẹp tinh khôi trong từng bài, cùng với đó là sự đồng điệu chân thành của tác giả với bạn đọc. Gọn nhẹ nhưng kết lắng, tập thơ sẽ còn “bay” xa hơn trong hành trình chinh phục độc giả nhỏ tuổi
Tôi luôn luôn là người trẻ nhất trong làng…
và đồng thời cũng luôn luôn là người già nhất trong làng…
(R.Tagore)
1. Mùa trở lại tuổi thơ
Gần đây, dư luận rất quan ngại về tương lai văn học cho thiếu
nhi bởi so với sự bùng phát mạnh mẽ, sôi động của mảng sáng tác cho người lớn,
sáng tác cho lứa tuổi thiếu niên nhi đồng khá bình lặng, khiêm tốn. Thơ cho các
em lại càng yếu thế hơn. Vì thế, không ít người vui mừng xen lẫn e ngại khi thấy
Nguyễn Ngọc Phú đang yên lành ở “sân” thơ người lớn lại cắc cớ nhảy sang “sân”
thơ của thiếu nhi. Tuy nhiên, cùng với niềm vui lâu ngày mới được cầm trên tay
một tập thơ trình bày bắt mắt, cảm tình và niềm tin về sức sống của văn học cho
tuổi thơ ở người đọc càng tăng khi thực sự sống với thế giới đậm chất thơ trẻ
mà anh đã tạo ra bằng cả tấm lòng thương hiểu, trân quý độc giả nhỏ tuổi. Chỉ với
45 bài gói trọn trong 80 trang khổ nhỏ, vậy mà thông điệp giàu tính nhân văn của Mùa
chim(*), sự nghiêm túc, tận lòng trong sáng tạo của người viết đã vượt khỏi cái
hữu hạn của ngôn từ.
Hạnh phúc của người viết cho trẻ thơ là cùng lúc được sống
hai cuộc đời: một đứa bé hồn nhiên, ngộ nghĩnh và một người lớn thông tuệ, từng
trải. Đối với người bén duyên với văn học thiếu nhi ngay từ thuở sơ đầu, cái
khó chỉ là làm sao giữ cho đứa trẻ ấy sống mãi trong mình. Còn với người đã xa
sân ga tuổi trẻ, để đánh thức tuổi thơ, phục sinh cái nhìn xanh non về cuộc sống,
ngoài trữ lượng tình cảm dồn tụ, phải cần một cơ duyên, một cú hích đủ mạnh. Mùa
chim của Nguyễn Ngọc Phú là một trường hợp như thế. Những lời động viên
khích lệ của các bạn văn có “con mắt tinh đời” đã thành một “phút giây huyền diệu”
giúp anh vững bước về lại tuổi thơ với sự bồi hồi, hăm hở và đắm đuối hết mình.
2. Mùa của lòng con trẻ
Xoay quanh những mảng đề tài thường gặp trong thơ thiếu nhi
là Thiên nhiên, Đồ vật, Loài vật, Cây cối, Hoa quả, Bốn mùa, Đời sống của
bé, Mùa chim gửi đến các em một món quà bổ ích, hấp dẫn bằng những trải
nghiệm trong các môi trường học tập, sinh hoạt, giao tiếp, vui chơi… để tri nhận
thế giới khách quan qua những thi liệu vừa lạ vừa quen, sống động vô cùng. Đóng
góp của tác giả là ý thức tạo tính thống nhất trong sự đa dạng ở mỗi đề tài: Từ
cái nhìn chân thực, thiết thân về thế giới, anh đưa chúng ta đến với những chân
trời kì diệu, bay bổng của cuộc sống muôn màu qua lăng kính trẻ thơ. Biển, Mây, Sao, Rét…
không còn xa lạ; nhưng Tóc suối, Mắt bão, Hoa nắng, Cơn mưa
mặc áo… thì lạ lẫm, diệu vợi và độc đáo lắm rồi. Tương tự là Lá, Cỏ, Hạt, Hoa, Qủa, Cây
gạo,… với Tuổi cây, Xương lá, Quả đêm, Quả trăng, Quả
mùa thu,…; Cá, Mực, Chuồn chuồn, Ve sầu mùa hạ,… với Mùa
chim, Cào cào may áo, Cua Càng thổi xôi, Ngọn đèn Đom Đóm, Mẹ
gà con vịt,…; Hỏi, Ru, Đi xe lửa với Hạt điện, Đánh
giặc giả, Chạy thi với sóng, Bữa ăn: chiếc xe đạp v.v… Còn gì
thú vị hơn khi tung tẩy giữa hai miền hiện hữu và tưởng tượng, chân thực và kì ảo,
say sưa chiêm ngắm những mảng hiện thực đặc sắc này, trẻ bất ngờ nhận ra gương
mặt con người, cuộc sống và chân ảnh của mình. Có khi đó là chút hiếu thắng trẻ
con: Em chạy thi với sóng/ Sóng luôn luôn dẫn đầu/ Đến bờ rồi em vượt/ Sóng mệt
nhoài nằm sau (Chạy thi với sóng). Lúc khác, bằng nhãn giới nhi đồng, các em đã
tạo được phép màu – trẻ con hóa thiên nhiên kì vĩ: Con thuyền như cánh diều
cong/ Chơi trò “dung dăng dung dẻ”/ Bập bênh bên bờ em bé/Thử xem ai nhẹ hơn
nào? (Biển),…
Một đòi hỏi khe khắt – cũng là đặc trưng, là nét duyên riêng
có của văn học cho tuổi thơ là giữ được, thể hiện được cái nhìn trong veo về thế
giới, nụ cười hồn nhiên trước bao đắp đổi cuộc đời. Xuyên suốt tập thơ, người
viết đã bộc lộ nghệ thuật nắm bắt tâm lí trẻ thơ, thông hiểu cái lí và chiều
sâu trong những liên tưởng đột ngột, bất ngờ của các em: Cầu vồng bắc võng/ Sau
cơn mưa rào/ Con thuyền mắc võng/ Bồng bềnh sóng chao (Võng). Cùng với trí tưởng
tượng rộng mở không cùng, trẻ cũng khát khao tìm hiểu, giao cảm với vạn vật
xung quanh. Mỗi câu hỏi như là một cánh cửa để các em nhìn ra thế giới và nhìn
vào tâm giới của mình. Trẻ thơ mở trí nhìn đời/ Cho nên luôn hỏi những lời: Tại
sao? (Nguyễn Bảo Sinh).
Những cậu bé, cô bé trong thơ Nguyễn Ngọc Phú cũng thế: Không
ngừng cảm tri cuộc sống để lớn lên qua những câu hỏi thơ ngây nhưng cũng đầy
minh triết kiểu trẻ con. Vì thế, thật dễ hiểu khi tần xuất của những từ dùng để
hỏi như “sao”, “vì sao”, “gì”, “đâu”, “nào”, “không”… khá lớn. Chẳng những
vậy, sự thắc mắc còn lộ rõ ở nhan đề và nhất quán trong toàn bộ bài thơ: Sao, Hỏi, Hỏi
thuyền,… Hỏi rồi nghe, tự vấn rồi tự đáp, hướng ra khách thể và hướng vào chính
mình… – một chu trình trọn vẹn để trẻ hoàn thiện nhân cách: Chọn bạn chơi thân
thiết/ Sao gọi là cá Lầm (Cá); Sao gọi là sao Chổi/ Quét gì ở trên trời/ Sao gọi
là sao Hoả/ Chắc là nóng quá thôi (Sao); Sao tóc đèn lại đỏ/ Đèn kêu: Tớ ấm đầu!
(Tóc đèn); Em hiểu rồi: hạt điện/ Nằm trong vỏ nhựa xanh/ Chạy thi giành giải
nhất/ Đóng điện là sáng nhanh (Hạt điện) v.v… Có những câu hỏi mà lời đáp còn bỏ
ngỏ, nhưng ba động của nó thì mãi thao thiết trong lòng con trẻ. Sự tri ân,
thương cảm cho những nhọc nhằn tháng năm hằn in dấu vết trên tấm lưng còng của
bà, mái tóc pha sương của mẹ sẽ không ngừng nhắc nhở các em về bổn phận, về ân
nghĩa sinh thành, dưỡng dục:
Bao nhiêu cánh võng
Đều mắc hai đầu
Lưng bà võng xuống
Biết mắc vào đâu
(Võng)
Giàu tưởng tượng, lại linh hoạt, tự do trong nhận thức, tư
duy, thế giới trẻ thơ trong Mùa chim cũng khu biệt tuổi mình qua những
liên tưởng hồn nhiên bất tận. Nhiều bài thơ có cách liên tưởng ngộ nghĩnh,
thông minh, không ngô nghê, ngớ ngẩn hoặc tinh lõi kiểu người lớn. Thêm nữa,
liên tưởng cũng không đơn điệu mà đa dạng về kiểu loại, cấp độ: xa – gần, có –
không có từ dùng để liên tưởng, hình dáng bên ngoài – phẩm chất bên trong,… như
thế giới diệu kì của trẻ thơ: Cơn mưa mặc áo tơi/ Bằng đám mây màu xám/ Gặp
ngày nắng phải phơi/ Áo tơi thành lụa trắng (Cơn mưa mặc áo); Có một chùm chim
lửa/ Sà xuống màu áo nâu (Cây gạo); Chiếc vó thùng thình vớt ruốc/ Hình như vớt
cả chiều lên (Biển),… Đặc biệt, liên tưởng thường xuất hiện ở cuối bài khiến
hình tượng thơ toả sáng, kết đọng trọn vẹn trong tâm hồn người đọc: Em ngồi xâu
chỉ/ Bà mặc tuổi già/ Vá vào tấm áo/ Đắp bồi phù sa (Áo).
Đi xa hơn nữa là sự trùng phức, gấp bội liên tưởng – một
kiểu tâm lí, nhận thức đặc hữu của trẻ thơ mà người lớn chúng ta, vì những va
xát sinh tồn, đã sạn chai hoặc hoàn toàn tắt nghỉ. Đó là loài mực viết chữ trên
trang giấy – mặt biển, “chẳng phải soi bằng đèn” (Mực), là muôn loài cá dưới đại
dương và mắt cá của chân em (Cá), là lửa bếp và lửa lòng của bé khi về thăm bà
ngoại (Đi xe lửa), là những hạt thóc vàng – những chiếc thuyền chở niềm vui của
vụ mùa bội thu (Hạt), là pháo hoa – hoa pháo rực rỡ sắc màu trong đêm trừ tịch
(Hoa) v.v… Nhờ cách liên tưởng phong phú, độc đáo này, tác giả đã mở rộng chiều
kích tưởng tượng của trẻ thơ (vốn đã rộng hơn nhiều so với người lớn), khơi gợi
để trẻ liên hệ, đối chiếu với cái quen thuộc thường ngày, từ đó phát hiện thêm
bao điều thú vị. Ảo mà vẫn thực, đầy mộng mơ nhưng vẫn thấm đậm vị đời. Cách lạ
hoá cái nhìn như thế rất phù hợp với điệu hồn và suy cảm của trẻ. Bằng khả năng
thiên phú ấy, trẻ có được những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội, con người
cùng với những rung cảm vi tế trước hiện thực khách quan. Đó là cơ sở để các em
phát triển toàn diện cả hai mặt lí trí và tình cảm.
3. Mùa trao gửi tin yêu
Để được làm và làm được thơ cho thiếu nhi, như đã nói ở trên, người viết phải biết nói bằng lời, bằng cách nghĩ của trẻ, không chỉ nhìn khách thể bằng con mắt trẻ thơ mà bằng cả tấm lòng của các em. “Người ta chớ tưởng lầm là viết cho trẻ con thì viết thế nào cũng được. Chúng ta chớ quên trẻ con có những lí luận và quan sát riêng của nó, nhiều khi xác đáng và tinh tường hơn người lớn… Hơn những nhà văn khác, các nhà văn viết cho trẻ em phải yêu mến câu chuyện của mình và kính trọng những độc giả ít tuổi hơn mình… Viết cho trẻ đọc, trước hết là đứng thay vào chỗ trẻ, là tự làm cho mình trẻ lại, tìm lại cái trí tò mò tỉ mỉ, cái lí luận thẳng thắn và nhất là cái độc lập tự do lạ lùng của trí não trẻ con” (Thạch Lam).
Đọc Mùa chim, ta thấy Nguyễn Ngọc Phú đã thực sự hiểu trẻ,
yêu các em thật nhiều mới có được sự hoá thân, nhập vai “ngọt” vậy. Chỗ này,
anh trực tiếp tham gia đánh trận giả cùng các bé với sự tinh thông
các loại vũ khí tự tạo, am tường tâm lí của từng chiến binh cả hai phe ta – địch.
Chỗ khác, anh xắn tay vào bếp để cùng làm bữa ăn : chiếc xe đạp với
đầy đủ các vật dụng, các món ăn: bánh, mỡ, nồi, đĩa, đũa, xích, cá, dầu, tăm.
Chỉ trẻ thơ mới có một bữa tiệc lạ lùng đến thế. Và lần đầu tiên, trong “thực
đơn” Việt, có một “món độc” mà nguyên liệu và cách chế biến không gì khác là sự
thương hiểu, trân quý hết mực các “thượng đế” nhỏ tuổi của “đầu bếp” tài hoa
Nguyễn Ngọc Phú. Hiểu biết mà nhà thơ dành cho các em là sự hiểu biết thông
minh xuất phát từ sâu thẳm của một tấm lòng quyến luyến trẻ thơ. Phải có rung cảm
thực sự, hơn thế, rung cảm ấy phải cùng tần số với điệu hồn con trẻ thì trong
khoảnh khắc, người thơ mới phác hoạ thần tình những bức tranh sinh động về một
đề tài không dễ nói – đó là tính cách muôn thuở của trẻ con: Trưa nay bé chực
rình/ Ngắt một chùm hoa nắng… (Hoa nắng); Nắng như gà mổ thóc/ Em nhặt về
ươm cây (Tuổi cây). Không đơn giản chỉ là làm thơ cho các em, anh còn làm việc
với chính tuổi thơ nhiều trải nghiệm của mình.
Chẳng phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Ngọc Phú lại viết nhiều về
làng quê với sự gần gụi và thanh bình đến thế, bởi đó cũng là cách anh lưu giữ
truyền thống dân tộc để trẻ thơ không đứt văn hoá, cội nguồn. Làng quê ấy hiện
hình trong “cây rơm không có lá/ nở một giấc mơ vàng”, qua khúc giao hưởng
trong những đêm mùa hạ: Lửa thắp vào cánh/ Đom Đóm vào nhà/ Dẫn đường lũ Dế/
Hoà tấu đồng ca (Ngọn đèn Đom Đóm), qua những bức tranh thu đầy thanh sắc và dậy
hương đồng nội: Mùa thu vít vào chùm quả/ Ríu ran chim đến hội hè/ Thơm cả giấc
nồng của bé/ Sim đồi tím cả chiều quê (Quả mùa thu). Rồi những đàn chim trong
ngày mùa no đủ, những cánh chuồn chuồn dệt nắng bờ ao, tiếng võng quyện với lời
ru chan chứa yêu thương của bà, của mẹ… Như người giữ hồn cho làng Việt, làng
quê, qua trang viết của anh, vừa gần gụi vừa rất đỗi nên thơ, nhắc nhớ, gọi mời
tha thiết. Từ sự thích thú, ngạc nhiên và quý mến chân thành trước cảnh vật
bình dị của quê hương, anh chưng cất thành những vần thơ giàu chất tươi trẻ tặng
bạn đọc nhỏ tuổi, khơi gợi cho các em cách nhìn, cách cảm mới lạ để phong phú
hoá cuộc sống của mình.
Nhà thơ viết cho tuổi thơ vừa là bạn vừa là người hướng đạo
tin cậy của trẻ. Khác với văn học cho người lớn, thơ và truyện cho lứa tuổi này
thường giàu tính giáo dục. Hạnh phúc được góp phần ươm giữ những hạt mầm nhân
cách là sự đền bù không nhỏ cho người viết nhưng đó cũng là thử thách nghiệt
ngã đối với họ, bởi giáo dục trẻ thơ nói chung, giáo dục bằng thơ nói riêng, muốn
đạt hiệu quả, không thể dùng những lời răn dạy công thức, khô khan mà cần phải
vui tươi, hồn nhiên dí dỏm, biên độ tưởng tượng phải rộng mở đến vô cùng. Nhờ
những bài học nhẹ nhàng nhưng cũng không kém phần ý vị, thơ Nguyễn Ngọc Phú dễ
tạo được cảm tình với các em. Đó là sự ghi khắc công ơn chở che đùm bọc trong lặng
thầm năm tháng của cha mẹ, người thân để các em được sướng vui từng ngày qua mối
quan hệ khăng khít giữa quả và hạt: Bao nhiêu thứ quả/ Lấy hạt làm nhân/ Vỏ xù
xì bọc/Hạt đang rì rầm… (Hạt). Đó còn là tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất
nước, tình yêu thương loài vật, tình bạn bè thắm thiết,…
Nhờ cách thể hiện rất sát hợp với “đôi mắt”, “con tim” của trẻ
thơ, những thông điệp giàu thương yêu và trách nhiệm của người viết đã mang lại
tri thức mới cho trẻ, khơi gợi rung động, đánh thức những tình cảm tốt đẹp ở
các em. Cua càng thổi xôi – một bài thơ chiếm được nhiều cảm tình của
đa số học sinh tiểu học hiện nay – là bức tranh sống động về thế giới loài vật.
Mỗi loài một đặc điểm, một thần thái: cua thì cõng mai như cõng nồi để giữ chân
“bếp trưởng”, bà Còng thì chậm chạp bởi tuổi tác chất nặng tấm lưng còng, bác
Dã Tràng móm mém do “rụng hai chiếc răng” v.v… Tất cả đều xác hợp với logic
nhìn – nghĩ của trẻ, tạo ấn tượng khó quên cho độc giả nhỏ tuổi. Cùng với niềm
vui được hiểu thêm về thế giới xung quanh, trẻ càng dễ thấu cảm hạnh phúc của sự
sum vầy bè bạn, của lòng nhân hậu, trân trọng con người: Trong niềm nôn nao đi
hội, chú Tôm vẫn về chậm bởi bận dắt tay bà Còng; li trà ngát thơm chỉ dành để
riêng mời ông Dã Tràng cao niên nhất,…
Dẫu ít nói đến con người, nhưng họ, đặc biệt là trẻ em, vẫn
là trung tâm của thơ anh từ cách nhìn, cách nghĩ và là cái đích cuối cùng mà mỗi
bài thơ hướng đến. Biển sẽ muôn đời vắng rợn cô đơn nếu tiếng thuyền – bạn thân
quý của biển – không phải là tiếng hồn con trẻ: Oa… oa… oa… oa… oa… oa… oa/ Là
lời thuyền bay trong gió (Hỏi thuyền). Bên cạnh trẻ thơ, dẫu gần gũi, thiết
thân nhưng người bạn – thiên nhiên vẫn không khỏi khiêm nhường trước vẻ đẹp
tinh khôi của những thiên thần nhỏ: Từ con thác bạc lưng chừng/ Lượn thành tóc
Suối ngập ngừng… trước em (Tóc Suối). Nhãn giới và thi giới ấy cũng là một xác
tín cho cái nhìn thượng tôn, nâng niu con trẻ của tác giả Mùa chim.
4. Mùa chín trong quả chữ
Nếu sức ám gợi của thơ cho người lớn là sự đằm sâu trong tình
cảm, sự minh triết trong những suy nghiệm về lẽ sống, nhân tình thì thành công
của thơ viết cho thiếu nhi đến từ sự kết hợp hài hoà giữa chất thơ và chất trẻ
thơ. Chất thơ đòi hỏi nhà văn phải nghiêm túc lao động chữ để tìm những sáng tạo
hình thức hấp dẫn độc giả; chất trẻ thơ giúp người viết tự trẻ hoá, nhập vào đời
sống các em một cách tự nhiên, tránh được tình trạng già hoá hoặc biến trẻ con
thành những cái loa phát ngôn dị dạng cho ý tưởng của mình. Những dụng công
trong thi pháp ngôn từ thêm một lần nữa khẳng định thành quả đáng trân trọng mà
Nguyễn Ngọc Phú tạo được ở Mùa chim. Có cảm giác như nhà thơ đang cùng với
các em say sưa trong trò chơi ú tim đầy bất ngờ, hào hứng qua những biến hoá về
hình ảnh, liên tưởng, thể loại, thi liệu… Đây không phải là trò ú oà nhàm nhạt,
lấy lệ mà thực sự cuốn hút độc giả vào trong niềm vui bất tận. Nó là cái duyên,
cái tài, nét tinh nhạy của người làm thơ cho thiếu nhi – một hướng đi hiệu quả
trong hành trình khảo nghiệm tâm hồn con trẻ.
So sánh, nhân hoá, điệp,… là những biện pháp tu từ nghệ thuật
ưu trội của thơ thiếu nhi và Mùa chim cũng không là ngoại lệ. Chất ảo
diệu, bay bổng mà chúng tạo ra có thể mê dụ trẻ, để các em đi từ kinh ngạc, sững
sờ bối rối đến phấn khoái, thú vị vô cùng: Biển to hơn cái ao nhà/ Không thấy
ai ra gánh nước (Biển); Da buồm ăn muối/ Mồ hôi bạc người/ Đất là biển mặn/ Gió
là sữa tươi (Cây buồm); Hình như thuyền đang tập viết/ Cột buồm – cây bút lung
lay/ Tính thuyền thường hay… xấu hổ/ Gặp ai cũng gật đầu chào (Hỏi thuyền); Quả
thức khi em ngủ/ Mới gọi là: quả đêm (Quả đêm); Mái tóc Suối chảy thật mềm/
Không bao giờ rụng xanh thêm tuổi rừng (Tóc Suối) v.v… Cùng với thể thơ bốn chữ
giàu nhịp điệu, nhiều động tính, những biện pháp tu từ này khiến thơ anh đậm chất
đồng dao, đồng thoại – lối dụng ngôn rất gần với tâm lí ngôn ngữ, tư duy của trẻ.
Đây là một lựa chọn thông minh để đưa tác phẩm đến gần với các em (Cá, Mực, Chuồn
Chuồn, Cào Cào may áo, Ve Sầu mùa hạ, Ngọn đèn Đom Đóm, Cua
Càng thổi xôi,…). Cái tài, sự lao – động – chữ nghiêm túc, nhiệt tâm với thiếu
nhi của tác giả dễ nhận thấy qua việc làm mới, tái sinh những từ ngữ quen thuộc
nhờ hệ thống nghĩa chuyển, nghĩa bóng. Bằng cách ấy, anh hướng trẻ vào hành
trình khám phá vẻ đẹp của tiếng nói dân tộc.
Từ nghĩa gốc, người viết đưa người đọc vào trò đồng dao hóm hỉnh
để mở rộng, tích cực hoá vốn từ; và rồi, giữa bất tận niềm vui, trẻ bất ngờ nhận
ra mối quan hệ mật thiết giữa các sự vật khách quan – cũng là cái làm nên chân
giá trị của sự sống thân quen mà vô cùng lạ lẫm xung quanh các em – để tự điều
chỉnh hành vi, thái độ: Có cỏ thì quả đồi mới xanh sức sống, có những cọng rơm
bé nhỏ thì cánh đồng sau mùa gặt mới còn chút thi vị nhờ sắc vàng và chút hương
mùa vương lại; tương tự là nước với dòng sông, cột buồm với con thuyền: Quả đồi
mặc cỏ/ Cánh đồng mặc rơm/ Dòng sông mặc nước/ Thuyền trôi mặc buồm (Áo). Kiểu
thổi hồn cho chữ như thế cũng dễ tri nhận khi nhà thơ kì công mô phỏng tiếng
kêu loài vật bằng hệ thống từ ngữ gần âm, chẳng hạn: Không biết hỏi: đâu đâu/ Vẫn
gọi là cá Chó! (tiếng chó sủa gâu gâu); Hè ơi! Hè ơi! (tiếng ve: Vè
ve! Vè ve!), Tớ no! Tớ no! (tiếng tàu hoả: Tí toe! Tí toe!)… Đây là cách
“nghịch” chữ vẫn thường gặp trong thơ thiếu nhi (Gọi bạn – Định Hải, Xe
chữa cháy – Phạm Hổ, Tắc kè hoa – Phạm Đình Ân, Gà mẹ đẻ trứng –
Nguyễn Châu,…). Nhưng mô phỏng bằng hình ảnh, nhịp điệu là một sáng tạo của
Nguyễn Ngọc Phú. Từ sự nhấp nháy sinh học của loài đom đóm, người thơ liên tưởng
đến tiếng gọi tha thiết của những con người lặng thầm làm việc vì cuộc sống
bình yên của đồng loại: Đêm về Đom Đóm:/ Chờ tôi! Chờ tôi! (Ngọn đèn Đom Đóm).
Cái vui lạ, độc sáng trong kiểu sử dụng âm thanh, nhịp điệu này dễ tạo được hiệu
ứng bắt mắt người đọc.
Biện pháp miêu tả là yếu tính của truyện. Nhưng đó lại là vấn
đề thứ yếu của thơ bởi không khéo sẽ thành kể lể, văn xuôi hoá. Với thơ thiếu
nhi, do đặc trưng tâm lí và năng lực tiếp nhận của lứa tuổi, yếu tố truyện, mà
tiêu biểu là sự kể và tả, thường xuất hiện để trẻ dễ lưu giữ thế giới hình tượng
mà người viết tạo ra. Cái khó ở đây là làm sao vẽ cảnh, hoạ vật thật ấn tượng
mà vẫn không dềnh dàng, vẫn giữ được hồn cốt của thơ. Điều đó buộc người thơ phải
có con mắt xanh để bắt lấy cái thần, cái hồn của đối tượng, khuôn chúng vào những
câu chữ hữu hạn mà vẫn không quá hàm súc, bí bức vượt khỏi tầm đón của trẻ thơ.
Nhiều bài thơ trong Mùa chim, Nguyễn Ngọc Phú đã giải quyết rất đạt yêu cầu
này. Chỉ bằng vài nét gợi thần tình về tên gọi, ngoại hình, hành động, lời nói,
tính cách,… chân ảnh của sự vật được lột hiện sống động, khó lẫn. Kết hợp khéo
léo giữa tả và gợi khiến hình tượng thơ lung linh, đa nghĩa: Nhóng nhánh Chuồn Ớt/
Nhấm khói cay cay/ Chuồn Kim thì bận/ Vá may suốt ngày (Chuồn chuồn); Bão đi đủng
đỉnh/ Tính được từng giờ/ Mặt trăng mất ngủ/ Thâm quầng âu lo (Mắt bão); Đầu đội
chiếc nồi đất/ Xương sống – cọc – tre – vườn/ Cây rơm nuôi bếp lửa/ Qua bao mùa
bão giông (Cây rơm),…
K.Tsu-cốp-ski đã nêu lên hai nguyên tắc lớn trong công việc
sáng tác cho thiếu nhi: Một là học tập vốn cổ, hai là học tập các em (tức tìm
hiểu đời sống tâm hồn của trẻ để nghĩ và cảm như chính đối tượng này). Nguyễn
Ngọc Phú đã thực sự ý thức điều đó trong tập thơ thiếu nhi đầu tay của mình. Đắm
đuối cùng trẻ thơ hôm nay nhưng tác giả vẫn không quên gắn nối các em với nguồn
cội dân tộc. Không chỉ phục dựng vẻ đẹp của làng quê giữa lốc xoáy đô thị hoá,
nâng niu những thể thơ truyền thống, anh còn mang vào thơ hơi thở của ca dao, tục
ngữ trong ý hướng mới hoá vốn cũ qua cái nhìn trong trẻo, tinh khôi của các em:
Rau Răm ở lại với đời/ Cho lá Cải Bẹ lên trời… làm Vua (Lá); Vườn em trĩu quả
la đà/ Bồ Hòn thì ngậm – luống Cà thì sây… (Quả),… Bằng cách tiếp biến diệu nghệ
này, cái cay đắng, ngậm ngùi thân phận của thơ xưa đã hoàn toàn nhường chỗ cho
sự hồn nhiên, tinh nghịch và rất đỗi yêu đời của trẻ.
Khác với người lớn, thiếu nhi hôm nay ít chú trọng “ăn chắc mặc
bền” mà nghiêng về “ăn lạ mặc đẹp”. Đối với các em, sức lôi cuốn của hình thức
bao giờ cũng đến trước, đôi khi còn là chủ yếu nữa, kế đó mới đến nhu cầu hiểu
biết nội dung. Hình thức đẹp của bài thơ, từ nhịp điệu, ngôn ngữ, nhạc tính, hoạ
tính,… cũng là nội dung của sự giáo dục, đặc biệt là giáo dục thẩm mĩ. Năng lực
tưởng tượng dồi dào, tấm lòng gắn bó, yêu thương con trẻ khiến tác giả Mùa
chim luôn dụng công tìm cái mới lạ cùng với những cách thức ấn tượng sinh
tạo những sáng phẩm tinh thần phù hợp với tuổi thơ, để trong vỏ chữ, ta nghe
tình người, hồn quê toả hương, xáo động.
5. Và một mùa hi vọng…
Công bằng mà nói, không phải bài nào trong Mùa chim cũng
hay, dòng thơ nào cũng phù hợp với cách nhìn, cách nghĩ của trẻ. Một số chỗ,
cái nhìn, giọng điệu, cách liên tưởng chưa thực đúng là thi ngữ của các em (Hỏi
thuyền, Từ hạ vào thu). Ở đôi bài, ta không tránh khỏi cảm giác hụt hẫng,
tiếc nuối bởi sự kiệm lời cho hợp với trẻ thơ, kích gợi bạn đọc tiếp tục đồng
sáng tạo mà phải dứt mạch, kết thúc đột ngột, làm cho bức tranh thiếu vẻ tường
minh, toàn bích (Mây, Mùa đông, Biển và mặt trời). Mặt mạnh của Nguyễn
Ngọc Phú là những cảnh vật, sinh hoạt của thiên nhiên, làng quê được anh trẻ
con hoá qua nhãn quan, tâm giới của một con người nhiều nặng nợ với quê hương xứ
sở. Cũng chính vì thế mà đề tài về cuộc sống trẻ em hôm nay, hiện thực xã hội
thời các em đang sống còn khá ít. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là những
mảng hiện thực khách quan được nhà thơ tái hiện mà chính là khả năng gợi cảm
xúc của bài thơ. Đáng mừng hơn nữa là người viết đã khắc phục hạn chế này bằng
sự đa dạng trong cách xây dựng hình tượng, lối sử dụng ngôn ngữ,… Nhờ thế, tập
thơ vẫn rất hợp với “khẩu vị” đọc của thiếu nhi đương đại, góp phần hình thành
mĩ cảm, nhân cách cho thế hệ măng non – những công dân tương lai của đất nước.
Mùa chim là khúc ca trong trẻo của một người lần đầu
tiên chạm ngõ tuổi thơ mình. Không khó để nhặt ra những ý tình đẹp tinh khôi
trong từng bài, cùng với đó là sự đồng điệu chân thành của tác giả với bạn đọc.
Gọn nhẹ nhưng kết lắng, tập thơ sẽ còn “bay” xa hơn trong hành trình chinh phục
độc giả nhỏ tuổi. Nếu ở mảng sáng tác cho người lớn, Nguyễn Ngọc Phú tạo dấu ấn
bằng một bút pháp hiện đại thì với thơ cho thiếu nhi, anh chinh phục chúng ta bằng
lối viết giản dị, trong sáng nhưng cũng đầy trí tuệ. Điều đó không có gì mâu
thuẫn bởi nó là hệ quả tất yếu của sự quy định nghiêm nhặt về đối tượng tiếp nhận,
sự thống nhất trong đa dạng của phong cách nhà thơ. Lao động nghiêm túc, tấm
lòng với trẻ thơ và nhất là khả năng trẻ hoá tâm hồn, hoà tắm trong thế giới
muôn màu của các em,… là những cơ sở mang lại sức hút cho tập thơ, giúp anh dẫu
là người đi sau nhưng lại về trước trong địa hạt văn học dành cho tuổi nhỏ. Từ
sự mở đầu suông sẻ này, chúng ta chờ đợi và tin tưởng những “mùa chữ” mới mà
người thơ, bằng tâm huyết và tình yêu của mình, sẽ tiếp tục mang đến cho tuổi
thơ khắp mọi miền Tổ quốc. Và đó thiết nghĩ cũng là kinh nghiệm quý, nguồn động
viên, khích lệ không nhỏ đối với đội ngũ viết cho thiếu nhi hôm nay.
Chú thich:
(*) Nguyễn Ngọc Phú: Mùa chim, Nxb Hội Nhà văn,
2013.
31/5/2023
Bùi Thanh Truyền
Theo https://vanvn.vn/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét