Nhà văn Tô Hoàng với một
lần "Ngửa mặt kêu trời"
“Dễ thấy một điều, dường như tiểu thuyết của Tô Hoàng không có nhân vật nào hoàn toàn xấu, vậy mà câu chuyện vẫn không rơi vào hời hợt dễ dãi. Dù hành lạc trắng trợn và trần tục như Bỉnh, Liên, dù vị tha phần nào thánh thiện như Phương hay dù gian truân vật vã khi đánh mất mình rồi tìm lại được mình, để cuối cùng vĩnh viễn mất mình trong cái chết êm ái mà oan khiên định mệnh như Duy, những nhân vật của Tô Hoàng đều rất thành thực với chính mình, thành thực đối diện với bản thân mình. Vì thế bên dưới cái dòng chảy tự sự của những câu chuyện sinh hoạt đời thường dung dị, có lúc tục tĩu, là một mạch ngầm xiết xoáy những nỗi niềm day dứt, thảng thốt như là sám hối” – Tiến sĩ Bùi Khởi Giang nhận xét về Tiểu thuyết “Ngửa mặt kêu trời” của nhà văn Tô Hoàng do NXB Hội Nhà văn in lần đầu vào năm 1991.
Lần ấy, Tô Hoàng cầm bút viết liền một mạch cuốn tiểu thuyết
của mình. Không biết tiếng kêu có thấu trời hay không nhưng quả nó đã thấu được
tấc lòng người đọc, đã đồng vọng trong những lương tri biết cả tự hào lẫn hổ thẹn
khi một lần cúi đầu suy ngẫm.
Cuốn tiểu thuyết của Tô Hoàng không phải là cuốn đầu tiên viết
về những người Việt Nam làm việc và học tập ở Liên Xô (cũ) như một vài nhận xét
lầm lẫn. Trước anh đã có bốn, năm người khai thác đề tài này. Thành công, đóng
góp của Tô Hoàng là ở chỗ anh đã vượt qua được nỗi bức xúc mang tính tân văn,
thời sự và cái mầu sắc hiếu kỳ viễn xứ của đề tài, vượt qua được sự trang trải
có tính chất tự nghiệm của bản thân cho những năm tháng du học của mình, để thực
sự đem lại cho người đọc một nỗi ám ảnh lo âu và những dự cảm bất
an về những mảnh đời, những thân phận của những nhân vật trong tác
phẩm. Những cảm xúc khi tiếp nhận ấy của người đọc, lâu nay thường vẫn là một
trong những dấu hiệu mách bảo một sức sống lâu bền của một tác phẩm văn học .
Để ý một tý ta sẽ thấy các nhân vật người Việt trong tác phẩm
của Tô Hoàng đều có một vẻ lạc loài day dứt, tồi tội. “Biết thân đến
bước lạc loài” (Kiều), nhưng lạc loài không phải chỉ vì họ bị bứt khỏi đời sống
cộng đồng ở quê hương để rồi phải “tha phương cầu thực nơi đất khách quê người”
trong một cộng đồng người Việt mới ở hải ngoại, trong một cuộc lựa chọn dù có
phần hợp lý nhưng vẫn là bất đắc dĩ. Ngay như “ông Bỉnh đã xấp xỉ năm mươi, dạo
còn ở bên nhà nghe đâu cũng đã thuộc hàng cán bộ cấp vụ cấp cục. Ông ta ở bên
này giữ chân đại diện tại SEV đâu đó đã ba nhiệm kỳ, như thể trong nước không
tìm được ai xúng đáng hơn thay thế ông ta nữa” (tr.61), nhà ngoại giao chuyên
nghiệp ấy đã biết tạo cho mình một cuộc sống thoải mái cả trong công việc
lẫn đời sống riêng tư.
Trong công việc, với “những gì ông ta đang thực thi tại SEV”,
ông tự nhận thấy “mọi trù liệu hoạch định mà bản thân ông cùng các đồng sự của
ông đang nặn óc ta từng ngày từng giờ , so với hiện tình mà dân ta đang phải đối
mặt chỉ là trò “mèo cào sân gạch”. Vì vậy, “không chịu chết chìm cả lũ với
nhau”, ông tìm ra một giải pháp mà cũng là một triết lý sống cho riêng mình:
“thì ai có điều kiện, có hoàn cảnh cứ bơi vào bờ đã. Để con thuyền Nôe
kia vơi nhẹ đi. Còn hơn là cứ dăng díu, co quắp lấy nhau cho sóng biển nhận
chìm cả sao?”. Vì vậy ông ta “lạc loài”, buôn lậu.
Ông ta thoải mái “không cần che đậy vờ vịt”, quan hệ bất chính với Liên “hệt như một cặp vợ chồng”, bởi “ông chồng của bà này thì hám quyền lực, còn bà vợ tôi thì chỉ hám tiền thôi… Họ biết bám lấy những giá trị thực, còn hai chúng tôi chỉ bám lấy những giá trị giả, tức thú tiêu dao tháng ngày”(tr.63). “Tiêu dao” như thế nhưng ông ta vẫn cảm thấy lạc loài khi nhớ mình “vẫn là thằng dân của nước Việt Nam” trong những chuyến công cán đây đó, với tư cách nhà ngoại giao nơi hải ngoại, khi chợt nhớ đến cái thân phận phải đóng một lúc mấy vai trong quan hệ với Liên: “Một anh chồng hờ, một chàng đầu bếp, một con vú em”. Nói chi đến những Phương, những Liên, những Duy, những con người ngơ ngác lạc loài thực sự trong truyện. Liên lạc loài giữa hai nỗi chán chường vô vọng. Khinh bỉ chồng vì thói bon chen, dốt nát đớn hèn “nhưng lại muốn cưỡi đầu cưỡi cổ thiên hạ”, chán chồng ví “cái cảnh miếng ăn chưa vào miệng đã bị giật ra” trong đời sống chăn gối, cô bỏ sang đây “bồ bịch cho nó đã đời”. Bậm trợn, huỵch toẹt như thế nhưng rốt cuộc Liên đã phải bật lên nức nở, tức tưởi: “Tôi chán ngấy tận cổ cuộc sống vạ vật ở bên này rồi, nhưng về nước tôi còn ghê tởm khủng khiếp hơn”.
Cô lạc loài giữa sự bất lực mà hãnh tiến của người đàn ông ở
nhà và sự phá bĩnh đàng điếm của Bỉnh, người đàn ông ở đây. Lạc loài
trong nỗi cô đơn của một chuyến ra đi không thành, cô tìm an ủi trong một lần lạc
loài cuối cùng, vô vọng ở “mười bốn giờ lơ lửng giữa không trung chả là người của
quốc gia nào cả” trong chuyến bay về nước với chồng con, khi bước qua barie cuối
cùng ở sân bay Seremechievô và trước khi tới Nội Bài (tr.177).
Thông minh nhưng nhẫn nhục, cam chịu, Phương, cô bạn gái cùng
phòng của Liên cũng từng thấm thía nỗi cô đơn lạc loài như thế, nhưng không “
sang trọng phù phiếm” như Liên, mà nhọc nhằn trong mối toan lo miếng cơm manh
áo đời thường. Khác với Liên, cô sang đây để “làm kinh tế”, để cứu vớt nền kinh
tế ọp ẹp của gia đình.Vì chồng con, cô tự nguyện lấy những chiếc nồi hầm, những
viên thuốc kháng sinh, những chậu nhôm làm mối mối quan tâm lo lắng thường nhật
của mình. Khi gặp Duy, người tình đầu đời dang dở, cô lại tình nguyện
gánh vác thêm cái gánh nặng kinh tế của gia đình Duy bên nhà.
Thông minh tháo vát và chủ động là thế, “nhiều lúc Phương cảm
thấy ngoài những ngày tất tưởi đi lùng sục hàng ra, còn hệt như chị bị cắt đứt
mọi mối dây dợ gắn bó chị với cuộc đời, chị như người sa chân rơi xuống đáy sâu
của một khe hẻm thật ắng lặng, thật yên tĩnh, chị nằm dưới đáy mồ chờ cái chết
đang đến dần dần”… (tr.76) . Và thật khủng khiếp, cô đơn lạc loài tột đỉnh, khi
một lần đi mua hàng với Duy, lúc hai chồng chậu nhôm đứt dây buộc, “những chiếc
chậu bắt ánh nắng sáng loang loáng nhảy tâng tâng trên nền gạch lát
nghiêng ở công viên rồi lăn đi tứ phía”, ngượng và nhục, anh chàng họa sỹ đã
túm lấy tóc chị, mắng chị vô lối và oan ức “Cút mẹ nó đi cho khuất mắt, thật là
vô sỉ”( tr.30).
Tô Hoàng dừng lại ở đấy, kể sang chuyện khác, không để cho
Phương phải khóc. Nhưng người đọc, nhất là những ai đã từng có dịp qua Liên Xô
hay những nước XHCN Đông Âu trong những năm qua, hẳn không khỏi thấy cay nhức
nơi sống mũi.Thương cho Phương, thương cả cho mình. Và thương cho Duy nữa, cái
anh chàng họa sỹ lạc loài “ lúc nào cũng khép kín, im lặng trong nỗi cô đơn của
mình”, như lời nhận xét của giáo sư Nataxon. Anh đã mắc phải căn bệnh nguy hiểm
nhất của thời buổi này” là “không chịu giao tiếp, cứ khép kín những mắc cảm
riêng tư lại”, vẫn như lời giáo sư Nataxon nói với Phương. Anh lạc loài, lủi thủi
trong “ngôi mộ Tào Tháo” (tr.51) của mình vì những mắc cảm tự ti, thấy mình
không đủ điều kiện hội nhập với nền văn hóa nghệ thuật chung của nhân loại.
Anh chưa được chuẩn bị đầy đủ cho cái ngày hôm nay, để được thoải mái ngang ngửa
với đám sinh viên Hy Lạp, Bắc Âu, A Rập bạn mình.
Anh đã lỡ nhịp bởi tuổi trẻ và niềm say mê nghệ thuật của anh
đã dành cho chiến tranh, cho những tháng ngày nghiệt ngã. Những ngày đó, khi
người ta ký lệnh để anh mang tranh tham dự triển lãm hội họa toàn quân, lẫn khi
quyết định điều anh vào sâu trong chiến trường vì anh thật thà bày tỏ sự lựa chọn
giữa hai khả năng sang nước ngoài học tập hội họa hay tiếp tục chiến đấu, bằng
nguyện vọng muốn được trau dồi hội họa, cả hai lần đó, chiến tranh và những gì
tăm tối của chiến tranh đều đã có những lý do để bỏ rơi nghệ thuật. Lần này
trái tim quả cảm của người lính vừa bước ra khỏi cuộc chiến cũng không khỏi ngại
ngần tìm một giới hạn bình an trong sự “ngưỡng thiên”nghệ thuật của mình.
Khi nghe giáo sư, người thầy bằng tuổi mình tỏ thái độ phẫn nộ
trước quan điểm xô vanh nước lớn, muốn áp đặt mô hình xô viết lên các nền văn
hóa nghệ thuật của những nước gửi sinh viên sang học tập ở Liên Xô, Duy đã nhận
xét đượm buồn: Ví như nhà trường Xô viết có đặt ra những mục tiêu như vậy,
nhưng vị tất đám sinh viên Hy Lạp, Bắc Âu, Ả rập của giáo sư đã tiếp thu khi
mùa hè nào họ cũng đủ tiền bạc để sang chơi bên Ý bên Pháp, bên Mỹ. Còn chúng
tôi sang đây là cùng đường rồi. Sự “ngưỡng thiên” của chúng tôi cũng chỉ
giới hạn ở đây”(tr.170 – chúng tôi nhấn mạnh). Như vậy là rốt cuộc, Duy còn bị
lạc loài ngay trong cái sự ngưỡng thiên của mình. Điều thú vị là, giáo sư
Nataxon, người thầy bằng tuổi Duy, người đã nhìn thấy bằng tấm lòng cảm thông,
sự lạc loài của Duy giữa đám học trò quốc tế của ông, đến lượt mình , hình như
cũng là con người lạc loài ở xứ sở của ông bởi những quan điểm và ý tưởng nghệ
thuật của mình.
Dễ thấy một điều, dường như tiểu thuyết của Tô Hoàng không có
nhân vật nào hoàn toàn xấu, vậy mà câu chuyện vẫn không rơi vào hời hợt dễ dãi.
Dù hành lạc trắng trợn và trần tục như Bỉnh, Liên, dù vị tha phần nào thánh thiện
như Phương hay dù gian truân vật vã khi đánh mất mình rồi tìm lại được mình, để
cuối cùng vĩnh viễn mất mình trong cái chết êm ái mà oan khiên định mệnh như
Duy, những nhân vật của Tô Hoàng đều rất thành thực với chính mình, thành thực
đối diện với bản thân mình. Vì thế bên dưới cái dòng chảy tự sự của những câu
chuyện sinh hoạt đời thường dung dị, có lúc tục tĩu, là một mạch ngầm xiết xoáy
những nỗi niềm day dứt, thảng thốt như là sám hối. Chiều sâu triết luận
của câu chuyện nằm ở chính cái mạch ngầm sám hối này. Cái đêm không ngủ trần
truồng của Liên trước ngày về nước là gì nếu không phài là một lời sám hối
đau đớn?
Sự chăm sóc muộn màng và cảm động của Phương dành cho Duy những
ngày ở Liên Xô như muốn bù đắp cho người yêu đầu đời của mình những thiếu thốn
do sự vắng mặt trước đây của mình, hành động ấy khi điềm đạm khi cuồng nhiệt,
nhưng vẫn chỉ là một lời sám hối dịu dàng khắc khoải vì vô vọng. Còn mối tình của
Duy với Nadia, cô gái Nga “lạc loài”có tên là Hy vọng, mối tình đạt tới tuyệt đỉnh
của niềm ao ước và sự mãn nguyện ấy cũng có gì khác hơn lời sám hối tuyệt vọng
trong cơn hấp hối của Duy. Có một lời sám hối nữa, như chung cho cả Duy lẫn
Phương, và phần nào cho cả những người như Liên: “Tựa như họ chưa từng sống,
chưa từng yêu, chưa từng bao giờ được thanh thản nhẹ nhõm trong những dự định,
những ý nguyện riêng tư. Tựa như họ sinh ra trên cõi đời này là để trù liệu những
biến cố dữ dằn, những mất mát chia ly họ phải gánh chịu, tiếp đến là những phấp
phỏng âu lo… những phấp phỏng âu lo quá đỗi tầm thường suy cho cùng cũng chỉ để
cốt có miếng ăn đổ đầy miệng, manh áo đắp lên thân…” (tr.84)
Hãy yên nghỉ, anh Duy. Đừng giật mình vì tiếng thét của Igor
tốt bụng khi thấy nhân viên hải quan Nga ở sân bay lạnh lùng, tàn nhẫn dốc ngược
chiếc bình đựng đám tro thân xác anh: Đồ man rợ, chúng mày mất hết nhân tính rồi
sao?… Hãy yên nghỉ, đừng giật mình, vì Phương dịu dàng, thông minh và quả cảm của
anh đã ở bên anh, đưa anh về với Đất Mẹ.
Hãy yên nghỉ, vì cái chết của anh đã là lời sám hối cuối cùng, day dứt ám ảnh và đau đớn của những con người trung thực, “biết thân đến bước lạc loài”!.
15/6/2023
Bùi Khởi Giang
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét