Người về bên bến sông
Xóm biển heo hút, xóm biển nghèo xác xơ theo từng cơn gió,
người ta sống với nhau vì tình, vì nghĩa. Người ta thấy ái ngại vì cô giáo cứ dạy
không công. Người xóm biển trả vài đồng tiền chắt chiu được cô không lấy chỉ dặn
ráng sắp xếp thời gian cho các em học bù là cô vui. Rồi củ khoai, con cá họ năn
nỉ cô nhận cho lòng họ đở áy náy. Xứ biển, cá thiếu gì đâu cô đừng ngại. Tình
nghĩa cứ đong đầy theo năm tháng.
Dòng sông Cà Ty được xem là thơ mộng nhất, xinh đẹp nhất của
thành phố Phan Thiết, Lan từng qua lại ngắm nó không biết chán bao nhiêu lần
không nhớ. Đó là một buổi chiều nhạt nắng, người ấy nói lời xin lỗi Lan rồi ra
đi tưởng chừng như mãi mãi. Lan chông chênh nhiều ngày tháng sau đó, thành phố
này không phải quê hương của Lan sao Lan cứ nấn ná ở lại. Lan chờ đợi cái gì vu
vơ không định hình, để mỗi lần ra bến sông lại ngẩn ngơ nhớ. Nhớ người, người
đã ra đi. Nhớ quê hương nơi xứ xa mà sao không cất nổi bước quay về. Nhớ mẹ,
Lan ra bến sông Cà Ty nhìn nước trôi. Lan khóc cho vơi nổi nhớ. Mẹ mất từ khi
Lan còn rất nhỏ nên cô không nhớ trọn vẹn khuôn mặt mẹ. Nhớ ba, nhưng ba đã có
tổ ấm mới, đến nhà ba chỉ để thấy ánh mắt xót xa của ba trước cái nhìn đố kỵ của
mẹ kế. Đành đưa hết những nỗi nhớ xuống dòng Cà Ty băng băng nước chảy cho vơi
hết nỗi niềm.
Căn phòng tập thể nhỏ trong trường đã cho Lan an yên bên lũ học
trò nhỏ tinh nghịch. Dần rồi lũ học trò cũng quen chất giọng miền Tây của cô
giáo Lan. Làng biển nhỏ, ngôi trường nhỏ, học trò da đen cháy vì gió biển, nắng
biển. Nhưng tấm lòng của chúng thơm thảo, trong veo như nước biển xanh thẩm
ngoài kia. Người xóm biển chân chất, hiền lành, họ bám biển để sống. Mùa biển,
chỉ có đàn bà, con nít ở nhà, đàn ông đi biển hầu như gần hết. Mới đầu Lan chưa
quen, mùi tanh nồng của cá biển phơi làm khô lẩn quất trong gió biển rít rắm.
Mùa nắng nhiều hơn mùa mưa, nắng gì khô khốc, gió biển cứ ào ạt, sóng cứ rì rầm
với bãi bờ xa.
Người ấy xin việc cho Lan về Phan Thiết. Họ đã từng mong sống
trọn đời bên nhau nơi xứ biển. Một chút giận hờn, một chút trách móc của Lan,
người ấy vơ hết lỗi lầm cho mình xin Lan đừng hờn giận. Vậy rồi người ấy đi vào
lòng biển không trở về, mù mịt ngoài khơi xa không một tia hy vọng. Người ta
nói với Lan, bão biển cuồng nộ đã nhấn chìm tất cả, không dấuvết. Người ta
khuyên Lan hãy trở về nơi đã sinh ra ở đồng bằng. Lan ở lại, không có cái gì chờ
đợi Lan ở quê hương. Lan về ba sẽ rất khó xử, ba luôn thương yêu con gái của
mình. Nhưng ba cũng thường xuyên phải nhường nhịn người đàn bà ấy.
Cô giáo Lan thường hay đi vào xóm biển dạy kèm cho lũ học
trò. Dáng Lan đi nghiêng nghiêng trong nắng, trong gió, riết rồi như một hình ảnh
không thể thiếu của xóm biển. Lâu dần mặc nhiên Lan như thành viên của xóm. Những
ngày tàu cá trở về, học trò theo mẹ ra bãi lựa cá bỏ lớp. Lớp có bao nhiêu trò
Lan dạy bấy nhiêu, chiều muộn Lan vào xóm gọi từng em gom lại nhà phụ huynh nào
tương đối rộng kê vài cái ghế, cô Lan dạy lại cho trò bài buổi sáng trên lớp.
Lan vui vẻ đi dạy ngược giờ không nề hà công sức, miễn sao học trò hiểu bài, nắm
được cơ bản, không mất bài là Lan vui rồi. Lúc đầu có phụ huynh nói cô hơi đâu
làm vậy, dân xóm biển phải bám biển mà sống thôi. Lớn lên rồi tụi nó cũng phải
đi biển, học chi cho nhiều. Lan cười tươi giải thích cho họ hiểu, phàm đã làm
việc gì thì phải làm cho tới nơi tới chốn.
Học trò vì mưu sinh đành phải bỏ buổi, cô giáo thương học trò
đành dạy kèm ngược giờ. Lâu dần người ta thấy thương, thấy quý cô giáo Lan. Xóm
biển heo hút, xóm biển nghèo xác xơ theo từng cơn gió, người ta sống với nhau
vì tình, vì nghĩa. Người ta thấy ái ngại vì cô giáo cứ dạy không công. Người
xóm biển trả vài đồng tiền chắt chiu được cô không lấy chỉ dặn ráng sắp xếp thời
gian cho các em học bù là cô vui. Rồi củ khoai, con cá họ năn nỉ cô nhận cho
lòng họ đở áy náy. Xứ biển, cá thiếu gì đâu cô đừng ngại. Tình nghĩa cứ đong đầy
theo năm tháng. Lan dần quên việc phải về nhà chỉ trừ giỗ mẹ. Cô quen ăn cá biển
hơn cá đồng, cô quen với nước mắm nấu từ cá biển. Mùi nước mắm cá đồng mỗi khi
về nhà ba kho khô cá hủng hỉnh cho Lan ăn đã dần đi vào nỗi nhớ xa xăm.
Người đàn ông ấy về xóm biển nghe chuyện cô giáo Lan vì mãi
trông chờ người chồng sắp cưới mà đến giờ chưa lập gia đình. Cô giáo quanh năm
cứ lẩn quẩn dạy lũ học trò hết lớp này đến lớp khác và coi đó là niềm vui sống.
Hỏi ra người yêu cô giáo Lan là Tuấn con bà Sáu Cheo xóm ngoài. Người đàn ông
đó là Chín Tâm đã sinh ra và lớn lên ở xóm biển này sau theo vợ về Lâm Đồng làm
trang trại nuôi bò sửa, trồng rau sạch. Gia đình vợ đất mênh mông mà chỉ có ba
cô con gái. Mỗi người con khi lập gia đình nhà vợ chia cho mấy héc ta đất đồi
làm vốn. Vợ Chín Tâm thấy sống ở xóm biển mấy năm chẳng khấm khá gì nên rủ chồng
về quê làm trang trại.
Ngày ghe cá về xóm biển vui rộn ràng, lúc mọi người đang đông
vui ngoài bãi cá, cô giáo Lan lại ra dặn học trò chiều nhớ về nhà bà Tám Têm cô
ôn bài cho thi học kỳ kẻo trễ. Chín Tâm nhìn cô giáo một lúc rồi hỏi: Cô có chắc
thằng Tuấn nó mất tích vì bão không? Cô giáo Lan nhìn thật lâu người đàn ông vừa
hỏi rồi sẽ sàng trả lời: Em không biết, vì sau bão nghe người ở xóm biển nói
chiếc tàu đó không ai trở về. Nếu có phép màu em cũng mong anh Tuấn đang sống
yên ổn đâu đó em cũng cam lòng. Ông Chín Tâm nhìn thật sâu vào mắt cô giáo Lan:
người khác thì tôi không biết nhưng thằng Tuấn thì tôi không nhìn lầm, nó đang
làm công nhân cho một trang trại rau tại Đà Lạt. Cô có muốn đi một chuyến vô đó
thì tôi chỉ đường cho, đó là một trang trại chuyên cung cấp hạt giống, cây giống
mà các trang trại nhỏ quanh vùng hay đến mua.
Tôi đã gặp Tuấn lúc nó đang làm trong đó và khi tôi hỏi nó phải
con bà Sáu Cheo không nó gật đầu. Lan như khụy xuống, một cái gì đó nghèn nghẹn
trong cô.
Lan chạy, chạy thật nhanh ra biển, nước biển mặn chát đầu môi
hay nước mắt mặn không biết nữa. Khi bình tỉnh lại Lan đi ra xóm ngoài đến nhà
bà Sáu Cheo. Người đàn bà già nua, da đen sạm, mắt trũng sâu vì khóc nhớ con từ
mùa bão năm ấy. Hai người phụ nữ ôm nhau khóc: Bác Sáu ơi! Anh Tuấn còn sống.
Bà Sáu Cheo cũng gạt nước mắt: Bác hay rồi! Lạy trời có mắt, má khấn nguyện mỗi
đêm Tuấn ơi! Lời khấn nguyện của bác chắc ông trời nghe thấy cho nó còn sống.
Đi nghe con, ngày mai đi liền với bác vô Đà Lạt.
Tuấn không nhớ nỗi vì sao mình đến được Đà Lạt. Trong mơ hồ
tiềm thức của Tuấn khi ngũ luôn mơ màng có tiếng rì rào sóng vỗ của biển. Khi
giật mình tỉnh giấc chung quanh là cao nguyên lộng gió. Tuấn làm công cho trại
rau và ăn ngủ tại đây luôn. Một ngày mùa đông lạnh giá Tuấn vào trang trại xin
cơm ăn và rụt rè hỏi ông chủ có việc gì đó cho Tuấn làm chỉ để có chỗ ăn, chỗ
ngủ. Ông chủ trang trại nhìn dáng vẻ rắn rỏi, khuôn mặt hiền lành nên gật đầu.
Tuấn làm việc theo sự chỉ bảo sắp đặt của ông chủ rất chăm chỉ. Có điều hỏi Tuấn
quê ở đâu? Tuấn lắc đầu không nhớ. Tuấn không nhớ gì của quá khứ mà chỉ biết hiện
tại. Duy nhất chỉ còn nhớ tên má mình là bà Sáu Cheo. Nếu ai hỏi mày con ai? Tuấn
ngớ ra thật lâu rồi lập bập hai từ Sáu Cheo. Nhưng hỏi nữa bà Sáu Cheo ở đâu?
Tuấn không biết.
Đó là những gì bà Sáu Cheo và Lan khi dừng lại bên một con dốc
nghỉ chân uống nước và hỏi thăm đường vào trang trại, hỏi về người công nhân
tên Tuấn. Người chủ cái quán cóc bán vừa cà phê, vừa tạp hóa đã nói về Tuấn như
vậy. Cậu Tuấn hiền lắm thi thoảng vẫn hay ra đây mua đồ giúp ông chủ. Nói tiếng
là mua nhưng thực ra Tuấn cầm tờ giấy trong đó ghi những thứ cần mua rồi cứ vậy
chủ tiệm soạn đồ. Xong đâu đó Tuấn chỉ việc khuân về, ông chủ sẽ ghé tiệm tạp
hóa trả tiền sau. Trong trại cậu Tuấn thật thà chăm chỉ nên mọi người cũng
thương. Đôi lúc Tuấn lơ ngơ nói gì đó về một làng biển xa xôi nào đó thoáng qua
rồi thôi. Cuộc sống nhiều thứ phải lo toan, dần rồi người ta quen có Tuấn trong
trang trại. Sự có mặt của Tuấn hàng ngày là một điều mặc nhiên không thể thiếu
trong trang trại này, dù anh có ngáo ngơ, ngây thộn gì cũng vậy.
Bà Sáu Cheo và Lan gặp ông chủ trang trại và kể hết sự tình.
Ông rất ngạc nhiên nếu đúng là con bà Sáu Cheo thì không hiểu sao từ làng biển
xa xôi Tuấn lại lưu lạc đến tận đây. Ông chủ sai người đi ra chỗ làm gọi Tuấn về.
Giáp mặt rồi Tuấn nhìn hai người ngơ ngác cười. Bà Sáu Cheo òa khóc khi nhận ra
con mình, Lan sững sờ nhìn người yêu của mình chờ đợi bao lâu nay, mong một tiếng
reo vui. Nhưng nụ cười ngây ngô của Tuấn làm cả hai hụng hẩng chơi vơi. Bà Sáu
Cheo đánh tiếng: má nè con, má là má Sáu Cheo của con đây. Tuấn cười: đúng rồi
má Sáu Cheo là má tui đó. Vậy rồi thôi, Tuấn không có biểu hiện gì mừng rở hay
vồ vập khi gặp má. Gạt nước mắt bà Sáu Cheo và Lan xin ông chủ đón Tuấn về lại
quê nhà. Người chủ lấy một số tiền đưa cho bà Sáu Cheo coi như đây là tiền
lương hai năm qua Tuấn ở đây đã phụ giúp ông việc trang trại.
Về lại xóm biển Tuấn như tỉnh lại hơn trước. Có những ngày Tuấn
ào ra biển vẫy vùng trong nước cho thỏa thích xong lại nằm xoài ra bãi cát nghịch
ngợm như con nít. Lớp học ngược giờ của cô giáo Lan giờ thỉng thoảng có một học
viên già ê a theo từng con chữ. Bà Sáu Cheo ra bãi lựa cá, Lan rủ Tuấn đến lớp
cùng cô học bài. Tuấn không được các chủ ghe cho đi biển thì Tuấn làm việc tại
bãi cá. Tàu về, Tuấn phụ bốc cá từ ghe lên bờ, rồi khi các cô, các bà lựa cá
xong Tuấn lại phụ cân và bốc cá lên xe cho thương lái. Người ta trả công bao
nhiêu Tuấn lấy bấy nhiêu, cười vui ngây ngô rồi cầm tiền về đưa hết cho bà Sáu
Cheo. Bao nhiêu lần cầm tiền từ tay con trai bà đều rớt nước mắt, nó còn sống
trở về bên bà, nhưng nó trở lại là một đứa trẻ chưa lớn. Thôi thì có con bên cạnh
cũng vui rồi, bù lại những ngày khóc hết nước mắt tưởng nó chết như bao người
cùng tàu trong chuyến biển năm ấy.
Lan vẫn đi về từ ngôi trường nhỏ và xóm biển, vẫn miệt mài dạy
ngược giờ cho lũ học trò theo kịp chương trình. Bà Sáu Cheo biết con mình không
như xưa nên nhận Lan làm con gái nuôi. Ba con người dựa vào nhau mà sống bình
yên bên xóm biển. Cái chuyện không hiểu vì sao Tuấn còn sống sống và lưu lạc
lên tận Đà Lạt mãi là một ẩn số không ai lý giải được.
Chiều về bên bến sông Cà Ty thơ mộng tôi gặp người em gái
cùng quê, em mừng rở khi gặp tôi đang tìm những góc độ ghi lại hình ảnh đẹp đầy
lưu luyến của dòng sông, cây cầu, tháp nước. Hỏi thăm gia cảnh, em kể tôi nghe
chuyện của mình, rồi em sẽ sàng dặn tôi: chị về gặp ba em đừng nói gì về tình
hình của anh Tuấn hiện nay. Cứ để ba coi như ảnh mất tích vì bão không về, ba
biết ba sẽ lo lắng nha chị. Tôi nhìn theo dáng em bước dứt khoát xa khuất dần
theo con đường dọc sông Cà Ty. Em gái quê tôi đã chọn cho mình quê hương thứ
hai đang đầy ắp tình người.
Kim Thanh
Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét