Một mùa xuân bị che
khuất của Quang Dũng
Đọc “Nhớ những mùa xuân” của Quang Dũng sau gần bảy mươi
năm thi phẩm ra đời, ta có dịp sống lại cùng thi sỹ cái cảm giác khác lạ của
mùa xuân hòa bình đầu tiên, sau nhiều mùa chinh chiến đã trải. Theo một nghĩa
nào đó, bài hát “Mùa xuân đầu tiên” mà nhạc sỹ Văn Cao viết khoảng hai mươi năm
sau đấy cũng có sự lặp lại vài trải nghiệm nghệ thuật mà Quang Dũng từng có khi
ông viết bài thơ “Nhớ những mùa xuân”. Số phận của hai tác phẩm khác nhau rất
xa, dù tác giả của chúng đều là những tài năng sáng tạo nghệ thuật lớn. Nhưng
đành vậy, Thượng đế vẫn thường không công bằng với tất cả.
Nhà thơ Quang Dũng (1921-1988) thuộc vào số tác giả viết không nhiều, nhưng lại có nhiều thi phẩm đã và sẽ còn sống lâu dài với lịch sử thơ ca Việt Nam hiện đại, như các bài “Tây Tiến”, “Mắt người Sơn Tây”, “Đôi bờ”, “Mây đầu ô”, “Quán bên đường” v.v… Tuy nhiên trong di sản thơ Quang Dũng lại cũng có những bài phải chịu số phận khá bất hạnh. Vì nhiều lý do, chúng bị che khuất trong một thời gian dài, và sau này, dù có được đưa vào trong vài tuyển tác phẩm Quang Dũng thì chúng cũng vẫn ít được biết đến. Bài thơ có tên “Nhớ những mùa xuân” là một ví dụ.
“Nhớ một xóm rừng/ Hoa mai nở trắng/ Xuân về…/ Áo người mới
nhuộm chàm xanh/ Bên bếp lửa sàn/ Than đầu năm hồng rực/ Khẩu hiệu trên bàn thờ
Tổ quốc:/ “Kháng chiến nhất định thành công, trường kỳ thắng lợi”/ Tiệc vào
xuân/ Thịt rừng bày trên lá chuối/ Rượu uống sừng trâu/ Tiếng hú tung “còn”/
Chiêng vang vách núi.// Nhớ một ven đồi/ Hành quân tạm nghỉ/ Bóc bánh chưng hậu
phương/ Lá dong thả trôi theo dòng suối/ Hát bài ca chiến thắng đông xuân/ Mắt
đen em nhỏ đến gần/ Vỗ tay hòa nhịp/ Làng bản xa xôi vẳng tiếng khèn/ Mùa xuân…
Mùa xuân…/ Rừng thay áo đẹp.// Nhớ một con đường biên giới/ Nằm chờ giặc qua/
Mũi súng kề bên nhành cúc dại/ Sương rung rinh/ Nặng ý mùa thơm xanh/ Tươi tốt
đang về/ Tiếng chim trong bụi/ Lao xao đời muông thú thanh bình/ Ca ngợi bình
minh vừa đến.// Nằm xa heo hút mà nhớ trung du/ Nhớ sông Hồng chảy/ Làng quê
đôi bờ/ Bóng những cây đào/ Trên dòng phù sa/ Nhớ những vườn hoa/ Chèm Vẽ – Tây
Hồ/ Những vườn rau/ Luống cày mời đất// Mùa xuân mong đợi mười năm/ Đã về phấp
phới cờ xanh/ Thêu cánh hòa bình/ Cờ dựng trên cổng chào/ Lá dừa tươi mát/ Cổng
cuốn bằng rơm/ Còn thơm mùa gặt/ Cổng chào dựng bằng tôn sắt/ Những mảnh cầu
phao/ Lấy trong đồn giặc ngổn ngang/ Mùa xuân thức dậy đồng bằng/ Mười năm ác mộng/
Quê của ta:/ Xuân đầu giải phóng/ Sân đình đứng chật mít tinh/ Chúc Cụ Hồ trường
thọ/ Xúng xính áo quần em nhỏ/ Bắt chước văn công xòe quạt/ Cây du trên bãi lại
trồng…/ Thôn nữ thở hơi trầu ấm áp/ Hẹn tìm nhau chiều hội đốt bông// Mùa xuân
mong đợi mười năm/ Đã về cờ xanh phấp phới/ Mùa xuân đồng bằng/ Lại nhớ rừng
xanh/ Những mùa xuân thắng lợi”.
Chúng ta biết Quang Dũng đã hoàn thành bài “Nhớ những mùa
xuân” vào khoảng đầu năm 1954, là nhờ một tiểu dẫn ông đặt dưới chính văn: “Những
ngày đồng bằng giải phóng, 1954”, nghĩa là chỉ vài tháng trước khi diễn ra chiến
thắng Điện Biên Phủ, kết thúc chín năm trường kỳ chống Pháp. Thế nhưng phải đợi
đến hơn ba năm sau nữa, bài “Nhớ những mùa xuân” mới được xuất bản lần đầu tiên
trên tờ “Giai phẩm” của NXB Văn nghệ, Hà Nội, xuân 1957. Số phận bất hạnh của
bài thơ và đời lận đận của người thơ Quang Dũng kể từ ấy, có lẽ chính bởi cái sự
ra mắt chưa đúng chỗ này. Nhưng nói sao mặc lòng, đọc lại “Nhớ những mùa
xuân”, ta vẫn thấy nó hoàn toàn hợp thức để được xem là một bài thuộc dòng
thơ cách mạng Việt Nam giai đoạn chống Pháp, và mặt khác, là một thi phẩm xuân
có dư vị vừa quen vừa lạ.
Bởi vì, không giống những thi phẩm xuất sắc như “Tây Tiến”
hay “Mắt người Sơn Tây” mà Quang Dũng viết hồi đầu kháng chiến – những
thi phẩm được đặc trưng bởi giọng điệu thơ trữ tình lãng mạn thấm đẫm chất bi
tráng hoặc bi thương – “Nhớ những mùa xuân”, trước hết, là bài thơ của niềm vui
sống, niềm vui đời, vui chiến thắng, tràn đầy lạc quan và tin tưởng. Dường như
thực tế chiến đấu dài lâu và những thắng lợi dồn dập của cuộc kháng Pháp cho đến
lúc ấy rốt cuộc cũng đã gột sạch ở anh Vệ quốc quân trẻ ngày nào những tình cảm
mộng mơ, những suy nghĩ vẩn vơ, nặng căn trí thức tiểu tư sản. Thay vào đấy là
sự cảm nhận hiện thực bình dị, mộc mạc, chắc khỏe của con người công nông, con
người lý tưởng của cách mạng, con người mà cách mạng rất cần. Vẫn là Quang Dũng
nhớ, nhưng không còn bồng bềnh phiêu lãng như: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến
ơi/ Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi” (Tây Tiến), không còn thăm thẳm da diết
như: “Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm/ Em có bao giờ em nhớ thương?” (Mắt
người Sơn Tây). Mà là cái nhớ sự sinh động, rực rỡ sắc màu của cuộc sống kháng
chiến, và rất thực, như: “Nhớ một xóm rừng/ Hoa mai nở trắng/ Xuân về/ Áo
người mới nhuộm chàm xanh/ Bên bếp lửa sàn/ Than đầu năm hồng rực”, hay
như: “Nhớ một ven đồi/ Hành quân tạm nghỉ/ Bóc bánh chưng hậu phương/ Lá dong
thả trôi theo dòng suối/ Hát bài ca chiến thắng đông xuân”.
Cuộc lột xác thơ và cải tạo người thơ Quang Dũng, nếu có thể
nói như vậy, còn tạo được ấn tượng mạnh hơn đối với người đọc từng mê “Tây Tiến” và “Mắt
người Sơn Tây”, ở việc ông đã mạnh dạn đưa nội dung tuyên truyền chính trị
vào thơ, kiểu như: “Khẩu hiệu trên bàn thờ Tổ quốc: Kháng chiến nhất định thành
công, trường kỳ thắng lợi”, hoặc là: “Quê của ta/ Xuân đầu giải
phóng/ Sân đình đứng chật mít tinh/ Chúc Cụ Hồ trường thọ”. Quang Dũng
cũng đưa luôn vào bài thơ cả cái chất sống đời thường của văn xuôi tả chân thật
thà, như: “Cờ dựng trên cổng chào/ Lá rừng tươi mát/ Cổng cuốn bằng rơm/ Còn
thơm mùa gặt/ Cổng chào dựng bằng tôn sắt/ Những mảnh cầu phao/ Lấy trong đồn
giặc ngổn ngang”. Nhìn khái quát về cả một giai đoạn của thơ Việt Nam, đây có lẽ
là một hiện tượng mang tính phổ biến, một lựa chọn mỹ học chung cho các nhà thơ
vốn xuất thân học sinh, sinh viên, trí thức tiểu tư sản lên đường đi theo kháng
chiến, chứ không phải là trường hợp cá biệt, mang cái đặc sắc chỉ của riêng
Quang Dũng. (Ta hãy nhớ tới các trường hợp: “Đèo Cả” của Hữu Loan, “Viếng
bạn” của Hoàng Lộc, “Nhớ” của Hồng Nguyên, “Nhớ máu” của Trần Mai
Ninh, “Nhà tôi” của Yên Thao… và rất nhiều trường hợp khác nữa).
Tuy nhiên, Quang Dũng vẫn là Quang Dũng, là hiện thân cho tài
năng thơ, cho sự tài hoa mà có giấu đi hoặc cố tình làm khác đi, thì rồi cuối
cùng nó cũng vẫn xuất lộ. Hãy đọc những câu: “Nhớ một con đường biên giới/ Nằm
chờ giặc qua/ Mũi súng kề bên nhành cúc dại/ Sương rung rinh/ Nặng ý mùa thơm
xanh/ Tươi tốt đang về/ Tiếng chim trong bụi/ Lao xao đời muông thú thanh bình/
Ca ngợi bình minh vừa đến”, và những câu: “Nằm xa heo hút mà nhớ trung
du/Nhớ sông Hồng chảy/ Làng quê đôi bờ/ Bóng những cây đào/ Trên dòng phù sa/
Nhớ những vườn hoa/ Chèm Vẽ – Tây Hồ/ Những vườn rau/ Luống cày mời đất”. Vẫn
là nỗi nhớ, vẫn là mùa xuân, nhưng từ cái sinh quyển trong tâm tưởng đến cái
sinh quyển trong trời đất ấy đều chỉ là sự biểu đạt cho cái sống, cho sức sinh
sôi đang lan tỏa giao hòa giữa con người với vạn vật, giữa vạn vật với nhau,
khi xuân về. Ở đoạn trích đầu, ta hoàn toàn có thể nghĩ rằng mũi súng thép đang
chờ nhả đạn vào quân địch kia cũng cảm nhận được hương thơm tinh khiết của
nhành cúc dại; nó thở, làm sương rung rinh, đánh thức chim muông, làm dậy lên
những thơm xanh tươi tốt từ mặt đất lúc bình minh. Còn ở đoạn trích sau, chỉ mấy
chữ thôi nhưng cũng đủ thấy: không có con người – con người bị làm cho vắng mặt
– mà chính dòng sông và phù sa, những cây đào, những vườn rau và luống cày vừa
lật để chờ vào vụ, mới đích thực là những nhân vật chính trong không gian sinh
thái này.
Đọc “Nhớ những mùa xuân” của Quang Dũng sau gần bảy mươi năm
thi phẩm ra đời, ta có dịp sống lại cùng thi sỹ cái cảm giác khác lạ của mùa
xuân hòa bình đầu tiên, sau nhiều mùa chinh chiến đã trải. Theo một nghĩa nào
đó, bài hát “Mùa xuân đầu tiên” mà nhạc sỹ Văn Cao viết khoảng hai mươi năm sau
đấy cũng có sự lặp lại vài trải nghiệm nghệ thuật mà Quang Dũng từng có khi ông
viết bài thơ “Nhớ những mùa xuân”. Số phận của hai tác phẩm khác nhau rất xa,
dù tác giả của chúng đều là những tài năng sáng tạo nghệ thuật lớn. Nhưng đành
vậy, Thượng đế vẫn thường không công bằng với tất cả.
11/3/2023
Hoài Nam
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét