Chân Dung Nhất Linh
Lời Nhà Xuất Bản.
Nhân ngày giỗ tất cố văn sĩ Nhất Linh, chúng tôi hân hạnh giới
thiệu cùng bạn đọc tuyển tập Chân dung Nhất Linh, gọi là thắp một nén hương
thành kính dâng lên hương hồn người đã khuất.
Chân dung Nhất Linh gồm những nét phác hoạ ông như một người
bạn, người anh, người cha, bác, chú, và như một người dẫn đường cho thế hệ đi
sau.
Phần lớn những bài in trong tập này trước đây đã được đăng
báo. Những số báo đó nay đã trở thành hiếm có. Chúng tôi thiển nghĩ việc làm của
chúng tôi sẽ không là một việc thừa: nó sẽ cung ứng cho bạn đọc một số tài liệu
cần thiết để tìm hiểu thân thế và sự nghiệp của một nhà văn đã có một vị trí rõ
ràng trong văn học sử: một nhà văn mà tên tuổi chắc chắn sẽ còn được nhắc nhở tới
nhiều trong mai hậu.
Tạp chí Văn
Bùi Khánh Đản - Khóc Bạn.
Qua hai cõi, nếu giờ đây tôi còn có thể nói gì với anh thì chỉ
là những cảm nghĩ tự đáy lòng: thương anh thì ít, nhưng giận anh lại rất nhiều.
Tôi không giải thích được rõ ràng tại sao, nhưng chỉ biết đó là những cảm nghĩ
rất chân thật, rất tự nhiên, đã rung động lòng tôi không dứt. Trong cái bàng
hoàng lúc nghe tin anh đi, tôi cứ vò đầu bứt tai, dằn vặt mãi với câu nói thốt
ra một cách bực tức giữa đôi hàng nước mắt dàn dụa: “Vô lý quá! Thật là vô lý!
Sao lại đi? Ừ, sao lại có thể đi thế?”. Tôi không bao giờ muốn hỏi: “Tại sao
anh đã đi?”. Tôi bất cần những lý do “ngoại lai”, vì nếu tôi đặt bất cứ một câu
hỏi gì ngoài cái mật thiết giữa anh và tôi, tôi lại sợ nó giảm đi phần nào cái
rung động tự nhiên ấy. Tôi cần gì phải tự an ủi: như thế là tròn, là đạt, là
cao khiết, để nhẹ bớt nỗi đau, cũng như tôi không cần phải lý luận như: quốc
gia thiệt công dân gương mẫu, anh em mất người hướng dẫn cao cả, gia đình thiếu
người chồng người cha thân mến v.v… để tạo thêm những nỗi niềm chua xót đắng
cay. Những chua xó phát sinh bởi các sự kể lể ấy, tôi thấy nó có phần nào không
xứng đáng với chân thành. Tôi giận, vì anh đã tính toán kỹ quá, nhưng chỉ về một
mặt bản thân và xã hội còn quên hẳn mặt tình cảm đối với gia đình và bè bạn,
trong đó có tôi. Mất anh, tôi giận lây cả đến các công cuộc suy tôn tử hậu, cả
đến sự sùng bái anh hùng liệt sĩ mà tôi cảm như những cái gì giả tạo trừu tượng,
đâu có thể đánh đổi được sự tha thiết gần gụi một kẻ mến yêu. Sùng bái anh
hùng! Dù muốn dù không tôi vãn phải nghĩ đó là những trò người sống với công dụng
mang tính cách câu chuyện mua ngựa chết của kẻ xưa. Người ta đã mua đắt xác một
con ngựa để mong có những ngựa quý bốn phương đem lại bán. Kể cả lịch sử nữa
thì lịch sử cũng chỉ để cho người sống đọc, anh ơi. Anh có quan niệm chết là gì
không? Là cả một cái vực sâu vô cùng tận, là một “sự không” lớn hơn hết các “sự
không”, là xoá mình trong vạn cổ để rơi vào một cõi bao la vô tận, mênh mông
hơn cả vũ trụ mênh mông. Vậy mà anh đã đi vào đấy! Vợ anh, con anh, bạn anh và
tôi không thể tưởng tượng là trên cái ghế nằm từ nay sẽ không thấy anh, cái tẩu
thuốc trơ ở đó, những bao thuốc xanh bán đầy dẫy mọi nơi sẽ không có anh mua nữa!
Vài bộ sách tàn tạ – ôi mỉa mai, những gì còn sót lại của một cuộc đời văn
chương soi sáng cho nền quốc học – rồi ai sẽ đọc đây? Không! Không thể thế được!
Không ai dám nghĩ là anh đã mất hẳn. Tất cả những cái gì ràng buộc giữa người
thân đâu phải là sự nghiệp cao cả là danh tiếng huy hoàng…, mà chỉ là những cái
vặt vãnh trong cuộc sống, những cái gì tuy vô nghĩa nhỏ nho nhưng lại mang những
giá trị tâm tình rất lớn. Tôi nhất định quên anh ở địa vị cách mạng, chính trị
và văn chương, mà chỉ nhớ tới một con người mang những nét phong sương dầu dãi,
cặp mắt thường chìm giữa muôn vạn ưu tư, đôi lông mày rậm với bộ râu mép ít khi
cắt sửa… Nụ cười dịu dàng hiền hậu không-bao-giờ và cũng không-thể-bao-giờ tắt
được. Trong cái thời kỳ đen tối của thế sự, sống với nhau những thời gian đau
buồn ngắn ngủi, anh và tôi đã hết sức tránh không muốn đề cập tới những thắc mắc
ưu ái xa xôi mà chúng ta coi như những vết thương lòng ghê gớm không nên động tới.
Thảng hoặc lúc đàm đạo có vô tình đưa tới vấn đề ấy, tức thì cả anh lẫn tôi như
chợt tỉnh và tìm ngay những chuyện khác để che đi. Cái lần ngẩng lên thấy đôi
cuốn sách trinh thám bỏ góc nhà, tôi đã vội hỏi một cách vu vơ: “Anh thích
Simenon hay Peter Cheyney?”. Và anh cũng trả lời vu vơ không kém: “Agatha
Christie hơn cả”. Những câu chuyện “bình phong” đó thấm cảm lòng hai người nhiều
lắm. Tôi bỏ về phòng để phục xuống rấm rứt, lát sau nghe tiếng chân anh nhè nhẹ
tiến vào, nhìn rồi khẽ khép cửa đi ra. Chuyện ấy mới xảy ra hôm qua, không,
ngay hôm nay, ngay trước mắt tôi hiện giờ, tôi quên sao được. Cũng như tôi
không quên một đêm trừ tịch năm nào ở cao nguyên, sau hàng giờ ngồi với nhau
không nói, tôi cùng anh đánh xe vào rừng chơi, giữa cái giá buốt của ngoại cảnh
và nội tâm. Vẫn những nỗi ưu tư đồng tính làm hai ta không thốt nên lời, mãi
sau khi qua bốn quãng đường đèo anh mới nói: “Có loại lan rừng chỉ về đêm mới
toả hương thơm”. Thế là xe tìm lối nhỏ để thâm nhập ngàn sâu. Chúng ta bỏ xe,
và do anh dẫn đạo, vạch lá tìm đến những “vườn” lan thiên nhiên của anh trong rừng
thẳm. Sau một thôi đường dài vất vả, tôi với anh dừng chân giữa một mùi hương kỳ
ảo, vật vờ nhè nhẹ, phảng phất xa gần. Tất cả những gì quanh tôi bấy giờ đều
thành linh vật, từ lá cây ngọn cỏ, mô đá vòm sao, và trong đám ấy có những
“nàng lan” vô hình, đã chung họp với chúng ta để chia dòng thông cảm…
Giờ đây, mỗi khi đọc lại câu thơ:
Nhớ khi ném bút, quên tin tưởng
Lửa đốt rừng hoang, tôi với anh.
tôi lại ngửi thấy mùi hương cũ, lại trông thấy nét mặt suy tư
của anh qua ánh lửa rừng giữa cái cảnh giá lạnh của “nửa đêm đông và nửa đêm
xuân”.
Tôi đã nói những ràng buộc tha thiết của tôi với anh chỉ là
những cái vặt vãnh nhỏ nhặt không đâu. Kể cả các kỷ niệm khác, các chuyến đi
khác, đến nay tôi đều quên hết mục đích và dự định mà chỉ còn lưu lại những
hình ảnh nhỏ, những hành động tự nhiên, bất kỳ ở bờ biển sườn non hay trên dòng
sông lộng gió. Tôi rất thèm cái tình nặng của những bạn khác đối với anh, dù chỉ
trong nghĩa “đạm nhược thuỷ” mà sau khi anh đi, cũng thấy chứa chan hàng mươi
lăm kỳ báo. Tôi cũng thèm cả cái nghĩa lớn cả một số anh em cùng hướng, dù cả đời
chỉ đôi lần “đối diện đàm tâm” mà cũng có thể tiễn anh bằng những lời thống thiết
rung cả vạn tấm lòng trong những buổi truy điệu uy nghiêm. Còn tôi, với mối
tình rất đàn bà, lại thấy thù ghét những cái vòng xích tàn nhẫn của đời nó đã
lôi cuốn đến mất anh. Tôi tưởng chừng như con đường quá vãng đã đưa chúng ta
vào lầm lạc, vì chúng ta không hiểu được nghĩa “sát-na” của đạo Phật mà đánh
giá khác biệt giữa sự nghiệp chỉ huy muôn người của một ông tướng với công việc
cày mảnh ruộng nhỏ của một nông phu nuôi cả gia đình. Phải chăng ta không nên
quan trọng chuyện đời theo tầm lớn nhỏ mà chỉ nên đo giá trị bằng mức độ thành
tâm?
Ngày nay:
Vũ Hán Tô Châu, chuyện cũ rồi
Ván cờ thành bại, thế nhân ôi.
tất cả các việc xưa đều đi vào cõi mộng. Còn cái gì thực, có
chăng chỉ là cái ghế không người nằm, cái tẩu thuốc không người hút, vài cuốn
sách không người đọc và đôi vòng khăn trắng trên đầu vợ con anh. Còn cái gì thực,
có chăng chỉ là sự mất anh. Có lẽ tôi gàn, không truy niệm sự nghiệp anh bằng
những danh từ lớn. Nhưng tôi e ngại, cho đó là công việc tạo tác tình cảm, vả lại
như trên đã nói, tôi muốn rất chân thật chỉ nói lên những tâm tư phản ứng trực
tiếp trước sự mất anh. Nếu được bắc đồng cân đánh giá thì tức khắc tôi thấy
ngay sự sống của anh còn cần hơn muôn lần thêm danh tiếng.
Vì đôi ý đó mà tôi giận anh. Bữa đưa anh lần cuối, tôi thầm lặng
đi sau, chưa chắc đã phải là tiễn anh, nhưng là theo dõi để bực tức cùng anh. Rồi
sau đó, tôi xuống mộ, cũng không phải để viếng mà là để “cãi nhau” với anh. Sao
anh lại đi? Sao anh lại có thể đi như thế? Nếu cách mạng là cái nghiệp chung đi
nữa, thì sao anh không nghĩ là phải làm vì người sống, cho người sống, và lẽ cốt
yếu vẫn là: anh phải sống!
Khóc anh, tôi không muốn làm thơ, vì tự thấy bất tài không
tìm được những câu tuyệt bút để nói hết tâm tình bi thiết, và nếu gượng gạo thì
nỗi niềm sẽ bị gọt dũa thêm bớt, mất hết chân thành. Nhân chuyện hiển linh của
một bồ tát trên ngọn chân hoả, tôi được đọc những bài thơ nhiều đoạn hay, nhưng
rất tiếc lại kèm theo những đoạn mà kỹ thuật khắc khổ đã đem vào những tâm tình
giả tạo gượng ép làm chết cả thơ. Nếu tôi đã xót xa vì tiếng khóc nàng Kiều:
Ôi Kim Lang, hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.
thì tôi cũng rất khó chịu với những câu gọt dũa giả tạo:
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi.
hoặc với câu đối khóc vợ:
Đất chẳng phải chồng, đem gửi thịt xương sao đặng
Trời mà mất vợ, thử xem gan ruột mần răng.
Có lẽ khi làm xong câu này, tác giả đã rung đùi thú vị tự đắc
với mấy chữ đối tài tình mà quên hẳn hồn vợ hãy còn phảng phất bên linh vị.....................................
Một năm qua rồi. Đã bao lần đêm đêm tôi ngồi dậy để thấy lòng
nao nao như người bị hối hận vì mang một mặc cảm tội lỗi không thể tha thứ
trong sự vĩnh quyết của anh, vì có đôi lần bạn G. cho biết: do một bài thơ thúc
giục mà anh đã bỏ vườn lan cao nguyên để trở lại văn đàn, và từ chỗ đó dẫn dần
đến sự chia biệt ngàn thu. Anh ơi, tôi không chối cãi cái tội mà tôi coi như một
vinh dự ấy, nhưng thật ra tôi đâu có xứng. Tôi tin tấm lòng hoài bão trở lại
văn đàn, anh đã đeo nặng từ lâu, đó là lẽ tất nhiên của con người mang một thân
thế như anh. Nếu có chút khích động nào để anh cả quyết thực hành ý định thì
đôi lời thơ cũng chỉ như giọt cuối cùng làm tràn ly nước đã đầy.
Hôm qua đây, nhân ngày giỗ đầu của anh, trước bàn thờ nhỏ
trong một ngôi chùa vắng ở ngoại ô, tôi lại được nghe chị bảo: “Tại anh đấy!
Nhà tôi trở lại làm báo chỉ vì câu thơ:
Say sưa chi mấy tình vương giả
Mà để lòng quên nợ bốn phương.
Qua màn nước mắt, tôi lặng nhìn di tượng của anh mập mờ trong
cảnh âm u của Phật đài, không đáp thẳng chị, tôi nghẹn ngào thốt được một câu:
“Tôi bực lắm! Tôi giận anh lắm, chị ơi!”.
Nguyễn Hữu Phiếm - Nhớ Về Nhất Linh.
Người ta đã viết và nói nhiều về Nhất Linh trong khi anh còn
sinh thời cũng như sau khi anh mất.
Viết hoặc tổ chức những buổi nói chuyện để đề cao một chiến
sĩ cách mạng quốc gia đã noi gương Thượng toạ Thích Quảng Đức, tự huỷ mình để
chống lại một chế độ bạo tàn, để “cảnh tình những con người ác, làm đèn soi
sáng nẻo vô minh”, hoặc để đề cao một văn hào lỗi lạc, “một ngôi sao Bắc đẩu
trong nền văn hoá Việt Nam”, suốt đời chỉ biết phụng sự văn hoá, vì theo Nhất
Linh, chỉ có văn mới làm cho đời người đẹp hơn và đáng sống mà thôi.
Cũng có khi viết hay nói về Nhất Linh cốt để tự đề cao mình
lên, và theo tôi, cái đó cũng không lấy gì làm lạ, vì như văn hào Duhamel đã viết:
“Khi một người có danh tiếng nằm xuống thì có biết bao nhiêu người tự nhận là bạn
thân của người đó xuất hiện”.
Nói cho đúng ra, Nhất Linh có rất nhiều bạn – ngoài một số
đông độc giả mến tài anh qua những tác phẩm của anh – vì ai đã gặp anh không thể
không quý anh được. Nhưng trong mấy năm gần đây, nhất là từ sau ngày đảo chính
hụt 1-11-1960, anh bị chính quyền Ngô Đình Diệm lùng bắt, nhiều người xa lánh
anh, cũng như anh, không muốn cho ai vì mình mà phải liên luỵ, cũng chỉ lui tới
nhà một thiểu số bạn, rất thân của anh, trong đó có kẻ viết bài này.
Có người cho rằng, dù cho có giao du với Nhất Linh thì đã
sao, nhất là trong trường hợp tôi, vốn quen biết anh từ lâu, lại là thầy thuốc
của gia đình anh nữa; nhưng theo tôi, phải sống dưới chế độ độc tài, như chế độ
họ Ngô, mới thấy rằng người dân không có quyền gì hết đã đành, lại không có cả
cái quyền chơi với bạn nữa, nhất là khi người bạn đó lại đứng về phe đối lập
như Nhất Linh. Nếu không tất sẽ bị khủng bố, và nếu là một công chức, sẽ bị sa
thải, “nồi cơm sẽ bị bể” như ta nói. Điều bi đát này, chính tôi đã được tai
nghe một cựu công chức cao cấp của Ngô triều thuật lại.
Ở đây, tôi chỉ ghi những gì tôi biết về Nhất Linh trong những
giờ phút cuối cùng của anh. Trước hết, tôi dám quả quyết là Nhất Linh đã sắp đặt,
ít nhất là một tuần lễ trước, cái chết của mình. Bằng cớ là ngày 30-6-1963, anh
tới dự buổi họp của Trung tâm Văn Bút mà trước đó anh là chủ tịch, không phải
vì văn hoá, mà chỉ cốt để gặp mặt một lần chót các văn hữu của anh trước khi bước
sang bên kia thế giới.
Riêng một cử chỉ, “mối tình chân thành” đó cũng đủ cho chúng
ta quý mến Nhất Linh rồi.
Ở Trung tâm Văn bút ra, Nhất Linh có ghé lại thăm tôi, nhưng
tiếc rằng hôm ấy tôi đi vắng.
Chủ nhật sau, nhằm ngày 7-7-1963, Nhất Linh lại tới vào buổi
sáng hồi 10 giờ. Tôi đang ngồi trong phòng ăn bỗng anh lặng lẽ đi vào. Vẫn con
người dong dỏng cao ấy, vẫn vầng trán rộng và thông minh ấy, với đôi mắt tuy
tinh anh, sáng quắc nhưng đượm một vẻ buồn khó tả. Phải chăng, tôi nghĩ bụng,
anh buồn vì ngày mai anh sẽ phải ra toà để toà xử về vụ đảo chính ngày
11-11-1960?
Anh mặc rất đơn giản, không khác gì mọi bận anh lại thăm tôi:
sơ-mi trắng dài tay, hở cổ, quần tây màu xanh thẳm, và chân đi giày – vẫn đôi
giày duy nhất ấy – cũ kỹ đến nỗi không nhận được ra màu gì nữa. Nhất Linh lười
mặc lẫn lười ăn, lười uống… thuốc; trái lại, anh rất chăm làm việc, nhất là
chăm đọc, chăm viết. Chả thế mà chỉ trong có ba tháng trời, trong khi anh lẩn
trốn, mà anh còn viết, viết một mạch xong ba cuốn Dòng sông Thanh Thuỷ, rồi lại
vẽ, lại sửa bản thảo trước khi đưa in…
Cho hay, khi đời sống nội tâm của con người ta dồi dào, phong
phú thì tất cả những gì thuộc về ngoại vật, đều không đáng kể. Đó là trường hợp
của Nhất Linh.
Như trên vừa nói, Nhất Linh lại thăm tôi vào buổi sáng hôm
7-7-1963. Anh giơ tay bắt tôi. Chúng tôi im lặng nhìn nhau. Tôi đợi anh ngồi xuống
ghế mới cất tiếng hỏi thăm về sức khoẻ của anh. Anh khẽ gật đầu, và hai mắt chớp
chớp như mọi bận.
Tôi ngập ngừng đề cập tới việc hôm sau anh ra toà thì anh lạnh
lùng nói:
"Ông Diệm đã bảo xếp việc này đi rồi không hiểu tại sao
lại còn moi ra."
Tôi nói để cho anh yên lòng:
"Chắc chỉ để khủng bố tinh thần các anh mà thôi."
Rồi tôi nói một câu tiếng Pháp: “Leurs jours sont comptés”
(Ngày tàn của chúng cũng đến nơi rồi).
Vợ tôi đứng gần đấy hỏi anh:
"Mai ra toà anh sẽ khai ra sao?"
"Chị cứ yên trí, anh đáp, tôi sẽ không nói gì hết, y như
ông giáo sư ở trong phim Jugement à Nuremberg khi ra toà ấy.”
"Không sao đâu, chiều mai chúng tôi sẽ xuống thăm anh.”
“Anh chị lại không gặp tôi đâu.”
Thú thật, khi nghe Nhất Linh nói câu đó, với một giọng bình
thản vô cùng, tôi chỉ có thể đoán được rằng, có lẽ hơn ai hết, anh biết rõ tội
trạng (!) của anh, yên trí sau phiên toà anh sẽ bị kết án, chứ tôi không ngờ rằng
anh nói với ẩn ý là anh sẽ quyên sinh, không chịu để cho toà xử.
Đang lúc tôi còn phân vân không biết nói gì với anh thì vợ
tôi nói:
“Dẫu có thế nào thì chúng tôi vẫn luôn nhớ tới anh, vẫn coi
anh như người anh cả.”
Câu chuyện giữa anh và vợ chồng tôi, đáng lẽ còn kéo dài,
nhưng thấy tôi có khách, anh vội đứng lên và nói rất nhỏ nhẻ:
“Tôi đến để từ biệt anh chị.”
Khi ấy vào khoảng 11 giờ. Chúng tôi tiễn anh ra cửa, và hai
chúng tôi còn đứng trên vỉa hè để đợi tắc-xi trên 10 phút, lặng lẽ cầm tay
nhau, không ai nói với ai một câu, mỗi người có một ý nghĩ riêng, mỗi người có
một mối buồn cành cánh bên lòng. Nhưng thú thật là khi ấy, tuyệt nhiên trên nét
mặt của Nhất Linh, tôi không hề nhận thấy một dấu hiệu nhỏ nào cho biết chỉ
trong vài tiếng đồng hồ nữa, anh sẽ xa lánh cõi trần, xa tất cả mọi người thân
yêu của anh để đi vào lịch sử.
Tôi có thể nói tôi là người bạn cuối cùng mà anh đã hạ cố lại
thăm trước khi mất.
Ngay buổi chiều hôm ấy – vào khoảng 5 giờ – chúng tôi, có lẽ
do linh tính thì phải, dang bàn nhau xuống An Đông thăm anh, bỗng có anh bạn của
Nhất Linh và của tôi, anh K. xồng xộc chạy vào, với nét mặt hớt hải. Tôi đoán
là có việc chẳng lành đã xảy ra cho anh Tam. Quả nhiên, anh bạn đó tới để báo
tin anh Nhất Linh đã quyên sinh và hiện đang mê man, anh yêu cầu tôi xuống gấp.
Mười phút sau thì chúng tôi tới An Đông. Gặp chị Nhất Linh ở
dưới nhà, tôi không kịp chào hỏi, cứ cắm đầu chạy thẳng lên thang.
Thoáng nhìn nét mặt và nghe hơi thở của anh, rồi bắt mạch,
tôi biết ngay là anh đã quyên sinh với thuốc ngủ, mặc dầu lục lọi chung quanh
chỗ anh nằm không tìm thấy một viên hay một ống thuốc nào. Khi người ta đã cố
tình tự vẫn thì không khi nào để lại một vết tích gì và không chết bằng cách
này thì cũng chết bằng cách khác, đó là cảm nghĩ của tôi khi đứng trước Nhất
Linh.
Tuy nhiên tôi vẫn phải làm phận sự của người thầy thuốc, vẫn
phải chích cho anh một mũi thuốc hồi sinh, rồi cấp giấy giới thiệu với Bệnh viện
Grall để anh được vào nằm điều trị.
15 phút sau tôi cũng tới bệnh viện, vừa lúc bác sĩ thường trực
đến. Chúng tôi thảo luận với nhau một hồi về bệnh tình, có vẻ trầm trọng của bạn
tôi.
Đồng nghiệp của tôi lắc đầu thất vọng, và nói: “C’est
foutu!”.
Ông ta toan cho đưa anh xuống “Nhà xác”, nhưng thấy tôi khẩn
khoản quá ông đành ưng thuận cho lên nằm trên phòng bệnh để “còn nước còn tát”.
Mặc dầu có bao sự tận tâm săn sóc, Nhất Linh cũng trút hơi thở
cuối cùng trong đêm hôm đó. Anh đã được toại nguyện, đã được chết ngày 7-7-1963
là ngày “song thất” của kẻ đã phản dân hại nước.
Trong suốt thời gian nằm trong bệnh viện, anh vẫn mê man
không lúc nào tỉnh cả.
Tâm trạng của tôi, vừa là bạn, vừa là thầy thuốc của anh, tối
hôm đó, thật rối bời bời, và vô cùng phức tạp. Một mặt, tôi cầu chúc cho anh được
tai qua nạn khỏi, mặt khác, lại lo ngại, lo ngại lỡ ra anh sống, biết đâu mình
chả đắc tội với anh vì đã làm trái với chí nguyện của anh chỉ mong được chết để
chống lại những kẻ “chà đạp lên mọi thứ tự do”.
Nào chỉ có những ý nghĩ vẩn vơ ấy mà thôi! Trong khi anh mê
man, nằm thoi thóp trên giường bệnh, chúng tôi – mấy con anh Nhất Linh và một
anh bạn – bàn tính với nhau để giấu tờ di chúc chính trị do chính tay Nhất Linh
viết làm hai bản, rồi trao cho phóng viên của hai tờ tuần báo Time và Newsweek,
theo lời trối trăng của anh.
Tôi còn nhớ mãi cuộc thảo luận tối hôm đó ở ngoài hành lang bệnh
viện, đối diện với gian buồng bệnh của anh, chung quanh bản di chúc quan trọng
đó. Chúng tôi nhất định không để lọt mảnh giấy học trò kia vào tay nhà chức
trách. Tôi căn dặn mọi người là nếu họ có hỏi tra thì chỉ đưa ra hai tờ di
chúc: một gửi cho bạn bè thân thuộc, và một gửi cho chị Nhất Linh.
Trong tờ di chúc thứ nhất vẻn vẹn có mỗi một dòng:
Vĩnh biệt tất cả mọi người thân yêu.
Tờ di chúc thứ hai, gửi cho chị Nhất Linh, cũng chỉ vắn tắt
hai dòng:
Mình,
Mối tình của đôi ta đẹp đẽ lắm rồi. Mình không còn mong muốn
gì hơn nữa.
Ở đây tôi thấy cần ghi là chính bà Nhất Linh cũng không rõ nội
dung của tờ di chúc chồng gửi cho mình, vì sau khi được tin Nhất Linh từ trần,
nhà chức trách đã tịch thâu hết các giấy tờ – trừ bản di chúc chính trị nói
trên – và không chịu trả cho thân nhân anh. Cho đến mãi hai tháng sau ngày đảo
chính 1-11-1963 mới đòi lại được.
Cũng trong cái đêm lịch sử ấy, chúng tôi bàn nhau để loan tin
Nhất Linh tự vẫn cho các bạn đồng chí của anh, hôm sau phải ra toà, ngõ hầu gây
một xúc động lớn tại toà án.
Quả nhiên sáng hôm sau 8-7-1963, tin Nhất Linh tự huỷ mình để
chống lại chính quyền lan đi rất mau khác nào một vệt thuốc súng, khiến cho dư
luận các giới, nhất là giới trí thức, sinh viên, xôn xao, bàn tán, và ngay cả
chính quyền cũng phải sửng sốt hoang mang.
Bản án của Nhất Linh đương nhiên bị huỷ bỏ, còn đối với các
chính trị phạm sắp bị xử, toà có một thái độ bất ngờ. Đáng khen, theo lời tường
thuật của một ông bạn tôi cũng bị đưa ra xử hôm đó, là cử chỉ can đảm của ông
Phan Khắc Sửu, đã đứng ra xin toà cho một phút để mặc niệm Nhất Linh. Dĩ nhiên
là toà không cho phép, nhưng không vì thế mà không có phút mặc niệm kia.
Chả bù cho thái độ trái ngược hẳn của một chính khách, thường
được nhiều người coi như một nhà cách mạng, khi nghe thấy một số đông phạm nhân
đề nghị đeo băng đen để tang Nhất Linh, bèn từ chối đây đẩy và thốt lên câu nói
bất hữu này:
“Thôi mà, bày vẽ để tang làm gì họ lại phết thêm cho vài năm
tù nữa chả bõ.”
Nghĩ mà buồn và thương hại thay cho những hạng người thường vỗ
ngực là đồng chí của Nhất Linh.
Cái chết của Nhất Linh đã gây nhiều bối rối cho chính quyền
Ngô Đình Diệm, nhất là cho vợ chồng Ngô Đình Nhu, lồng lộn lên như con thú dữ.
Chúng sợ người sống đã đành, chúng sợ và thù ghét cả người chết nữa, những người
chết cồng kềnh (les morts encombrants) như chúng tôi nói.
Trước kia chúng sợ cái chết của Thượng toạ Thích Quảng Đức,
ngày nay chúng sợ cái chết của Nhất Linh, không những vì Nhất Linh là một chiến
sĩ cách mạng quốc gia có rất nhiều uy tín ở trong nước cũng như ở ngoại quốc,
mà lại còn là một văn hào có tên tuổi, được giới thanh niên, trí thức mến chuộng.
Tôi dám nói, không sợ nói ngoa, là từ lúc Nhất Linh nằm xuống
cho tới khi đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng ở Nghĩa trang Gò Vấp, chính quyền
Ngô Đình Diệm đã mất ăn mất ngủ, và tìm mọi cách để phá.
Bằng cớ là ngay sau khi anh mất, họ ra lệnh làm một cuộc phẫu
nghiệm tử thi (autopsie), mặc dầu không có sự ưng thuận của gia đình.
Tất cả là 12 người có mặt trong buổi phẫu nghiệm ngay hôm
9-7-1963, tại nhà xác của Bệnh viện Grall: 7 bác sĩ, trong đó có một bác sĩ giải
phẫu ngoại kiều của Grall, hai nhân viên Sở Giảo nghiệm, một viên phó cảnh sát,
hai biện lý và phó biện lý của Toà án Sài Gòn.
Dưới đây là kết luận của bản phúc trình pháp y về cuộc phẫu
nghiệm đó:
“Với những phương pháp khám nghiệm thông thường tại chỗ,
không thấy thi hài có triệu chứng nào có thể giải thích cái chết mau chóng của
Nguyễn Tường Tam, cần chờ xem kết quả việc tìm kiếm do các phòng và viện giảo
nghiệm”.
Nào chỉ có phẫu nghiệm tử thi mà thôi! Theo lời của một người
trong gia đình anh, có lần chúng toan cướp cả xác của anh, định đem ra khỏi
Grall, nhưng ban giám đốc bệnh viện không chịu.
Riêng về phần tôi, cũng vào buổi sáng hôm thứ ba 9-7-1963,
chính quyền cử một nhân viên công lực tới nhà để hỏi tôi những chi tiết về cái
chết của Nguyễn Tường Tam, trong trường hợp nào tôi quen anh v.v…
Sau đó ít lâu, lại một nhân viên khác của Sở Giảo nghiệm tới
tìm tôi ở Viện Pasteur để hỏi xem có biết ông Nguyễn Tường Tam đã dùng thuốc gì
để quyên sinh không.
Tôi không trả lời thẳng câu hỏi của người ấy mà chỉ cho biết
là ông Tam, hồi trẻ, đậu cử nhân khoa học, và như vậy, ông thông thạo hơn ai hết
về các chất hoá học. Huống hồ, ông lại còn là một nhà văn, và từng đọc rất nhiều
truyện trinh thám (mỗi lần Nhất Linh đi qua đại lộ Lê Lợi là anh khuân hàng chục
cuốn sách trinh thám, và anh đọc ngấu nghiến trong một đêm là hết), nhất là đã
từng viết trong tác phẩm cuối cùng là Dòng sông Thanh Thuỷ, cả một chương về một
vụ đầu độc. Như thế thì tôi, mặc dù là thầy thuốc, làm sao mà biết được ông đã
dùng thuốc gì để quyên sinh?
Sự thật là như thế!
Sau này, theo bản phúc trình của một phòng thí nghiệm công gửi
cho Toà án Sài Gòn, tôi mới rõ là người ta đã tìm thấy ở trong máu, trong bao tử,
và trong nước tiểu rất nhiều chất thuốc ngủ, loại véronal.
Nhất Linh đã mua và tích trữ thuốc này từ bao giờ, ngay đến
những người thân thích của anh cũng không hay biết.
Nhưng gay go nhất là việc định ngày để cất đám Nhất Linh.
Gia đình anh xin phép đưa vào buổi sáng chủ nhật, nhưng chính
quyền một mực từ chối, cái đó dễ hiểu, vì họ sợ đưa đám ngày nghỉ, thiên hạ sẽ
đi dự rất đông.
Xin phép đưa chiều thứ bảy, họ cũng từ chối nốt, vì chiều thứ
bảy, cũng là ngày nghỉ của các công sở. Họ chỉ ưng thuận, hoặc sáng thứ bảy,
đúng 8 giờ rưỡi, hoặc sáng thứ hai. Đành phải bằng lòng sáng thứ bảy vậy.
Lại còn một điều này nữa khiến cho chị Nhất Linh băn khoăn rất
nhiều là việc làm lễ cầu siêu cho anh ở chùa Xá Lợi.
Kẻ bàn ra người tán vào, phần đông không muốn làm lễ ở Xá Lợi,
vì dạo ấy như mọi người đều rõ, chùa Xá Lợi dưới con mắt của chính quyền Ngô
Đình Diệm, khác nào một cái gai trước mắt họ, là nơi công khai chống lại họ thì
làm lễ tại đó, tức là khiêu khích họ.
Tôi còn nhớ mãi nét mặt rầu rầu của chị Nhất Linh buổi trưa
hôm thứ tư 10-7-1963 đó, và vì thấy chị buồn thảm quá nên tôi đã không ngần ngại
đứng về phe chị để yêu cầu cho bằng được nhà chức trách cho phép làm lễ cầu
siêu ở chùa Xá Lợi. Tôi bảo với chị:
"Nếu họ từ chối thì chị cứ viện lý do tôn giáo ra họ phải
chịu. Quả nhiên Bộ Nội vụ và Toà Đô sảnh Sài Gòn – sau khi xin chỉ thị của phủ
Tổng thống – bằng lòng cho làm lễ cầu siêu tại chùa Xá Lợi."
Nhưng chúng ta còn lạ gì chính quyền Ngô Đình Diệm, luôn luôn
có thái độ ngoan cố, tuy rằng cho phép đấy nhưng cho phép miễn cưỡng, cho phép
để che mắt thế gian, để tỏ ra mình dân chủ, tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhưng kỳ
thực vẫn tìm đủ mọi cách để ngăn cản.
Tôi tuy là người ngoại cuộc, nhưng trong việc này tôi đã có đủ
bằng chứng về những cuộc vận động hoặc áp lực của chính quyền để cho buổi lễ cầu
siêu kia không thể thực hiện theo yêu mến của gia đình Nhất Linh được.
Tôi còn nhớ buổi chiều hôm thứ sáu 12-7-1963, hai vợ chồng
tôi sắp sửa vào Grall để dự lễ khâm liệm cho anh bỗng có ba nhân viên công lực
quận Ba, nhân danh ông Đô trưởng và ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ đến tìm tôi để yêu
cầu tôi can thiệp với bà Nhất Linh đừng làm lễ cầu siêu ở chùa Xá Lợi.
Tôi trả lời họ rằng tôi không có tư cách gì cả để can thiệp,
vì đối với gia đình ông Nhất Linh, tôi chỉ là bạn mà thôi. Nhưng mấy người đó
cho biết là bà Nhất Linh “chỉ nghe lời bác sĩ, và bác sĩ chỉ nói cho một tiếng
là được”.
Tôi đánh trống lảng và lại còn nửa đùa nửa thật bảo họ:
"Thì các ông cứ việc ra lệnh cấm cho rồi hà tất phải cho
phép."
"Chính phủ đâu có cấm tự do tín ngưỡng."
Những điều dự đoán của tôi thật quả không sai.
"Tôi không hiểu tại sao các ông lại không muốn cho tang
quyến làm lễ cầu siêu ở chùa Xá Lợi? Gia đình ông Tam, theo chỗ tôi biết, vốn
theo đạo Phật từ lâu, bà cụ thân sinh ông ta, xưa kia vẫn là một vị tu hành, và
sau khi mất đi vẫn để thờ tại đấy thì nay đến lượt ông Tam, làm lễ cầu siêu ở
Xá Lợi tôi nghĩ đó là một việc rất thường vậy."
"Chúng tôi được tin mật cho biết Việt cộng định khủng bố,
nên có bổn phận phải giữ gìn an ninh trật tự."
Họ đã viện ra lý do đó thì còn biết nói năng gì nữa? Để chấm
dứt tôi hứa sẽ can thiệp với bà Nhất Linh, nhưng được hay không, tôi không dám
chắc.
Khi vợ chồng tôi tới Grall thì lễ nhập quan đã cử hành xong rồi,
chúng tôi rất tiếc và ân hận vô cùng.
Tại Grall, tôi lại được chứng kiến một vụ can thiệp nữa không
ngoài mục đích trên.
Trong hai vị sứ giả của Bộ Nội vụ và Toà Đô sảnh Sài Gòn cử
đi để điều đình, có một bạn đồng nghiệp của tôi. Có lẽ vì là chỗ bạn đồng nghiệp
mà mặc dầu chưa được quen biết nên tôi mới hỏi ông ta bằng một câu tiếng Pháp:
"Pourquoi vous faites ce métier?" (Tại sao ông đi
làm cái nghề này?)
Bạn đồng nghiệp của tôi hơi bẽn lẽn đáp:
"Thiên lôi chỉ đâu đánh đấy, biết sao?"
Nghĩ tới những con người trí thức mà phải vì cơm áo sống dưới
chế độ của nhà Ngô cũng thương hại thật.
Tôi cho ông ta hay chị Nhất Linh bởi quá thương chồng, nên đã
mấy phen ngất xỉu, và nếu ông cứ trở lại vấn đề đó nữa, bà ta có mệnh hệ nào
thì ông sẽ phải chịu trách nhiệm.
Chị Nhất Linh nghe nói thế càng được thể khóc to hơn, và ông
bác sĩ nọ – nói cho đúng ra cũng là người biết điều, và nhất là có nhiều cảm
tình đối với Nhất Linh – đành phải rút lui, sau khi đã ngỏ lời xin lỗi tang quyến.
Ở Grall về – vào khoảng 10 giờ khuya – tôi đã thấy 2 nhân
viên khác của Toà Đô sảnh và quận Nhất, trong đó có một bạn đồng nghiệp (lại một
bạn đồng nghiệp), đang đợi tôi ở trước cửa nhà. Họ tìm tôi cũng không ngoài mục
đích nhờ tôi can thiệp bà Nhất Linh về buổi lễ cầu siêu, “muốn làm ở đâu cũng
được, miễn đừng làm ở chùa Xá Lợi”, nghe vẫn với một luận điệu như trên tôi trả
lời tôi không có thẩm quyền để định đoạt. Cùng lắm là tôi sẽ yêu cầu với tang
gia rút ngắn thời gian hành lễ ở chùa Xá Lợi mà thôi.
Hồi 11 giờ đêm tôi trở lại Grall thì gặp một tốp khác. Và lần
này thì họ doạ nạt chứ không van lơn nữa.
"Chúng tôi vừa được tin Việt cộng sẽ khủng bố đám tang
Nhất Linh, vậy tốt hơn hết là thay đổi lộ trình."
Rồi như để phân trần với mọi người, họ nói:
"Chúng tôi xin nói là Việt cộng định khủng bố chứ không
phải là chính quyền đâu."
Có người trong tang quyến cất tiếng hỏi:
"Nếu là Việt cộng thì ở đâu mà chúng không khủng bố được,
hà tất cứ phải ở chùa Xá Lợi?"
Cuộc vận động của mấy tai sai Nhu – Diệm, mặc dầu kéo dài gần
tới ba giờ sáng, đã hoàn toàn thất bại.
Ở đây tôi cũng cần nói là trong suốt thời gian linh cữu của
anh Nhất Linh quàn tại nhà xác, có ít ra hàng chục công an, mật vụ ngày đêm túc
trực để theo dõi từng người tới viếng. Có khi họ còn hỏi thẻ kiểm tra, tra khảo
lý lịch, đe doạ dẫn vào bót nữa, nhất là đối với các thanh niên, học sinh, sinh
viên. Giới này được chính quyền để ý nhiều hơn hết hôm thứ bảy 13-7-1963, ngày
đưa đám Nhất Linh.
Trên các ngả đường đưa tới bệnh viện Grall đều có rất nhiều cảnh
binh, công an canh gác, chặn đường không cho vào bệnh viện, hoặc xua đuổi những
ai lảng vảng gần đây.
Đã đến lúc chính quyền Ngô Đình Diệm bỏ rơi mặt nạ! Nhưng mặc
dầu có rất nhiều công an, mật vụ ở chung quanh đám táng, chúng cũng không cấm nổi
tang quyến treo ngay trên tường của căn nhà xác, và sau này đặt trên nóc xe
tang, bức trướng thật to, viết chữ trắng trên nền đen, do các đồng chí của Nhất
Linh kính điếu.
Nguyên văn bức trướng đó như sau:
Kính điếu lãnh tụ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam
Thương thay đối lập quốc gia
Mất cả tự do trong mấy lúc
Đối với thiêu thân Quảng Đức
Noi gương cảnh cáo giữa nghìn thu.
Các anh em đồng chí
7-7-1963
Thật chẳng khác nào một rồi vụt vào mặt chính quyền vậy.
Công an và mật vụ của Nhu – Diệm nhiều thật đấy, nhưng chúng
đâu có ngăn nổi các anh em sinh viên khiêng linh cữu Nhất Linh, từ nhà xác ra tận
xe tang. Mấy bạn đó vừa khiêng vừa sụt sùi khóc, khiến mọi người đứng gần đấy
cũng mủi lòng rơi lệ theo. Có người khóc Nhất Linh để thương tiếc một chiến sĩ
quốc gia chống cộng, suốt đời tranh đấu cho tự do, dân chủ thế mà lại bị những
kẻ đội lốt quốc gia bức tử. Hoặc khóc một văn hào đã có công lớn trong nền văn
học nước nhà mà đến khi nằm xuống không được chính quyền ngỏ một lời phân ưu.
Hoặc khóc một con người tài hoa, mặc dầu sống trong thử thách mà vẫn giữ một
tâm hồn nghệ sĩ, và còn giữ cho đến khi nhắm mắt.
Thật thế! Không có một tâm hồn nghệ sĩ như Nhất Linh mà trước
khi từ giã cõi đời, đôi mắt mỗi lúc một mờ dần, còn nói được một câu: “Bầu trời
hôm nay đẹp quá nhỉ!” thì thiết tưởng, trong thiên hạ ít có người nghệ sĩ như
anh.....................................
Đoàn xe tang đi qua các đường Mạc Đĩnh Chi, Phan Đình Phùng,
Bà Huyện Thanh Quan, để rồi ghé lại chùa Xá Lợi vào hồi 10 giờ 45.
Đám tang thật là đơn giản, nhưng vô cùng ảm đạm, trang
nghiêm. Khi khởi hành từ bệnh viện Grall, số người tham dự còn thưa thớt, nhưng
dần dần mỗi lúc một đông. Phần nhiều là thanh niên, học sinh, sinh viên, giới
trí thức. Có rất đông phóng viên, ký giả ngoại quốc, nam có, nữ có, có mặt
trong đám táng để chụp ảnh hoặc để quay phim. Họ chịu khó biên chép tất cả những
câu viết trên các đối trướng rồi nhờ người dịch sang tiếng Anh. Họ lại còn ghi
âm tất cả những lời khóc than kể lể của chị Nhất Linh.
Như vậy đủ rõ cái chết của văn hào Nhất Linh đã gây một tiếng
vang lớn, không riêng gì ở Việt Nam mà ở cả trên thế giới nữa.
Tại chùa Xá Lợi, ngoài một số đông đồng bào đã túc trực từ
sáng sớm – trong đó dĩ nhiên có cả công an, mật vụ của Nhu – Diệm – còn có khoảng
200 tăng ni có mặt để cầu siêu cho Nhất Linh.
Giữa cảnh khói hương nghi ngút, chùa Xá Lợi cất lên ba hồi
chuông trống, rồi thì những tiếng tụng niệm vang lên. Trong khi ấy, ở trước cửa
chùa có nhiều thanh niên, sinh viên phát băng tang cho mọi người, kể cả người của
chính quyền Ngô Đình Diệm.
Lễ cầu siêu cử hành không đầy 15 phút như đã ấn định từ trước,
rồi đoàn xe tang từ từ chuyển bánh, theo sau có 3 chiếc xe đò lớn chở những người
đi tiễn đưa.
Đoàn xe tiến về đường Phan Thanh Giản, rẽ sang đường Hai Bà
Trưng rồi chạy về Gò Vấp. Có hàng trăm chiếc xe, xe đạp lẫn xe gắn máy, trên mỗi
xe có hai người, phần đông là thanh niên, học sinh, sinh viên, có cả ký giả ngoại
quốc nữa, băng băng đi theo sau, hoặc đi trước, hoặc ở hai bên xe tang. Ngay cả
trên nóc xe hơi cũng có người nữa. Hàng phố, từ đường Hai Bà Trưng trở đi, đổ
xô ra xem. Một điều đáng ghi nhận là từ chùa Xá Lợi trở đi, không có một ngã tư
nào là không có nhân viên công lực đứng, không phải để giữ an ninh trật tự, mà
trái lại, để cố tình cắt quãng đoàn xe tang, làm sao cho số người tham dự đừng
đông đảo.
Và khi tới nghĩa trang Gò Vấp, liếc nhìn chung quanh, ai nấy
đều có một cảm giác nặng nề, ghê rợn, dường như bao phủ bởi một bầu sát khí đằng
đằng: chỗ này một tốp người vận quân phục, chỗ kia một tốp, với súng trường,
súng lục, tiểu liên, lựu đạn… Tôi tự hỏi, chẳng hay họ chuẩn bị như vậy để bảo
vệ ai, hoặc để giết ai ở một nơi hoang vu, tĩnh mịch và tôn nghiêm này?
Họ đề phòng Việt cộng khủng bố chắc? Phải ngây thơ lắm mới
tin được, mặc dầu trong khi hạ huyệt người ta đã phao tin bắt được quả tang một
gã – phu xe xích lô – trong người dắt một trái lựu đạn.
Còn một điểm này nữa thiết tưởng cũng cần ghi lại, là trên
con đường về, trời nắng chang chang và xa tắp có một số người đi đưa đám –
trong đó có kẻ viết bài này và một ông bạn già, ký giả Nguyễn Đắc Lộc – được một
phen cuốc bộ, vì gặp chiếc xe nào, tắc-xi hay xe gắn máy, tài xế cũng lắc đầu
lia lịa, rôi mắt trước mắt sau, như muốn bảo cho mọi người hiểu: đã có lệnh
trên, cấm chở những ai đi dự đám táng của Nguyễn Tường Tam.
Người ta bảo Nhất Linh đã chết. Riêng tôi, đứng trước cái chết
cao cả của anh, chết để cảnh cáo những người “chà đạp lên mọi thứ tự do”, chết
để chống lại bạo quyền, chết với niềm hy vọng sự hy sinh của mình sẽ đem lại tự
do cho người khác, như vậy là anh đã biết chết, đã chết thật đúng lúc, mặc dầu
anh không biết sống, nghĩa là theo tôi, sống như thiên hạ, một cách tầm thường,
hoặc sống cũng như chết, rồi khi đứng trước cái chết thì sợ sệt, hoặc chết
nhưng chết một cách nhục nhã thảm thương.
Ở trên tôi vừa nói đời sống nội tâm, đời sống tinh thần của
Nhất Linh rất phong phú.
Nhất Linh thường tâm sự với tôi: Ở đời anh ghét nhất là sự giả
dối, lừa lọc, xảo trá và phản bội. Và suốt đời anh không có một chiếc xe hơi.
Nhất Linh trong sạch. Điều đó ai cũng trông thấy rõ. Ở thời
buổi này, muốn xét người nào trong sạch, yêu nước thương nòi hoặc quốc gia hay
không, phải chờ cho người ấy vào trong chính quyền đã, rồi nhìn nếp sống của họ
sau khi rũ áo ra về. Hoặc chờ cho người đó nằm xuống, hình hài thể xác trở về
nơi cát bụi hãy hay.
Nhất Linh đã tham chính và Nhất Linh nay đã ra người thiên cổ.
Bởi vậy tôi có thể nói một cách chắc chắn rằng anh là một người thiết tha yêu
nước, đang đứng ngang hàng với những anh hùng dân tộc của chúng ta, như Trần
Bình Trọng, Hoàng Diệu, Nguyễn Thái Học v.v…. Anh cũng là một người trong sạch
hiếm có. Anh không có xe hơi, nhà lầu, nhưng nói cho đúng ra, anh có một căn
nhà gỗ thô sơ – có lẽ bây giờ đã hoang phế – do chính tay anh cất lấy, ở bên bờ
suối Đa-mê, cách Đà Lạt 30 cây số, trong một khu rừng hẻo lánh, có nhiều cây cỏ,
nhất là nhiều lan để anh ngắm và tìm cảm hứng để viết văn. Phí tổn để xây cất
căn nhà đó cả thảy là 20 đồng bạc, tiền mua danh.
Tôi vừa nói ở trên là Nhất Linh sống rất giản dị, từ cái ăn đến
cái mặc. Tôi còn nhớ trong những năm 60-61, sau ngày đảo chính hụt và oanh tạc
Dinh Độc Lập, tôi lại thăm anh vào bữa ăn, tôi thấy anh chỉ ăn có lưng chén cơm
với hai miếng đậu kho, có lần một đĩa nouille, anh và trong ba phút là xong, rồi
anh lên giường ngủ.
Trái lại, mỗi khi được tin có một biến chuyển nào đó, có thể
làm thay đổi cục diện, chấm dứt chế độ bạo tàn thì đôi mắt anh sáng quắc lên,
bao nhiêu bệnh não của anh – mà chúng tôi thường bảo là bệnh giá-cách – đều
tiêu tan hết, và khi ấy anh cười nói rất vui, ăn uống ngon lành lắm.
Nhất Linh không những là một chiến sĩ quốc gia, anh còn là một
văn hào lỗi lạc nữa. Về điểm này, các văn hữu của anh có nhiều thẩm quyền hơn
tôi đã phán xét. Riêng về phần tôi ở đây chỉ muốn ôn lại một vài kỷ niệm nhỏ giữa
Nhất Linh và tôi trên lĩnh vực văn hoá.
Trước hết tôi cần nói là không có một lĩnh vực nào mà anh
không thành công, và thành công rực rỡ nếu như anh muốn, dù là làm chính trị,
hay viết văn, hay vẽ, hay chơi âm nhạc, hay chơi lan, hay làm báo… Anh chuyên về
thứ nào thì anh say mê thứ đó, đến quên ăn quên ngủ.
Không những chỉ say mê mà thôi, anh dốc hết cả tâm trí vào việc
anh làm, và anh làm rất chu đáo. Khi anh viết được một trang nào hay, hoặc tìm
ra được một chữ nào, và chỉ có chữ ấy là đúng thôi, anh thích thú vô cùng, anh
sung sướng hơn bắt được một báu vật. Có lần anh bảo tôi: “Khi tôi dịch cuốn Les
Hauts de Hurle Vent, tôi tìm mãi mấy ngày mấy đêm mới ra câu: Đỉnh gió hú”.
Tôi còn nhớ bận tôi dịch một truyện trinh thám của Conan
Doyle, nhan đề: La bande mouchetée (tức con rắn), tôi tìm mãi không biết dịch
là gì. Anh nghĩ một lúc rồi bảo: Chiếc giải đốm hoa. Tôi cho câu dịch đó thật
tài tình.
Khi anh viết cuốn Dòng sông Thanh Thuỷ (hồi đó anh lẩn trốn ở
đường Trần Hưng Đạo) anh biên giấy nhờ một anh bạn của chúng tôi chuyển lại cho
tôi để hỏi có mỗi một câu về một danh từ y học, đủ rõ anh thận trọng như thế
nào trước khi hạ bút.
Đáng phục nhất là trong suốt thời gian anh bị chính quyền Ngô
Đình Diệm lùng bắt, anh phải lẩn trốn hết nơi này đến nơi khác, lấy ngày làm
đêm, đêm làm ngày mà anh vẫn còn có can đảm để viết văn, để phác hoạ ra cả một
chương trình: xuất bản sách để các bạn trẻ đọc, để giáo dục quần chúng, để phổ
biến tất cả những gì cao đẹp của loài người, của vũ trụ. Bởi theo anh, “đã đến
lúc loài người phải giở sổ soát lại vốn tư tưởng quá khứ để định hướng đi tương
lai, tìm chân lý là kim chỉ nam cho người đời giữa biển sóng gió”.
Hiện giờ, khi viết mấy dòng này, trước mặt tôi còn có một xấp
thư – những mảnh giấy học trò – của Nhất Linh gởi cho tôi hồi anh đang bị chính
quyền lùng bắt, chữ viết nhỏ li ti, yêu cầu tôi cho anh những tài liệu cần thiết
về: danh nhân thế giới, tình sử đông tây, kỳ quan vũ trụ, giáo dục phổ thông,
chính trị, khoa học v.v…
Những loại sách bỏ túi – 27 loại cả thảy – đó, anh định bán với
một giá rất rẻ, và in đẹp, nhằm mục đích nâng cao đời sống tinh thần của mọi tầng
lớp người trong xã hội, vì anh cho rằng “văn làm cho đời người đẹp hơn và đáng
sống”.
Thật là cả một chương trình vĩ đại, đáng khen mặc dầu chưa thực
hiện được, chứng tỏ sự nhiệt tâm của Nhất Linh trước tiền đồ của dân tộc, trước
trạng huống phức tạp và đảo lộn của xã hội ngày nay.
° ° °
Trên đây là một vài nét về nếp sống cùng những hoạt động của
Nhất Linh trên địa hạt chính trị xã hội văn hoá, đủ khiến cho ai nấy phải ngậm
ngùi trước sự hy sinh cao cả của anh.
Nhưng điều khiến cho một số bạn thân của Nhất Linh tiếc
thương anh hơn cả là tính tình hồn hậu và thuỷ chung của anh đối với bạn, nhất
là trong những lúc khó khăn, hoạn nạn.
Tôi còn nhớ Tết năm Tân Sửu, vào sáng hôm mồng hai, và trong
khi anh lẩn trốn, xa gia đình thân yêu, mà anh còn ngồi vẽ một bức tranh – bó
hoa oeilet – để tặng tôi, với hai câu thơ, câu đầu là:
“Tặng ai mười đoá hoa xuân”
khiến tôi cảm động vô cùng.
Tôi dám chắc, đối với một số đông bạn thân của anh, anh cũng
có những cử chỉ tế nhị và đẹp như thế.
Lại còn một điểm nữa khiến cho tôi quý Nhất Linh, là cách cư
xử của anh đối với mẹ già và gia đình nhỏ của anh.
Tôi còn nhớ hồi sinh thời của bà cụ thân sinh ra anh, thường
gọi là “Cụ Cẩm Giàng”, mỗi lần tôi lại thăm bệnh cho cụ, cụ móc túi ra cho tôi
xem một mẩu giấy nhỏ – nhỏ vừa bằng lòng bàn tay – trên có ghi mấy dòng chữ Nhất
Linh gửi cho mẹ, báo tin cho cụ biết cuốn tiểu thuyết này hay tiểu thuyết nọ đã
xuất bản rồi, để cho cụ mừng.
Cảm động nhất là hôm cụ đưa cho tôi xem cuốn Dòng sông Thanh
Thuỷ khi vừa mới in xong anh gửi tặng cụ, cụ mệt không đọc được, nhưng lúc nào
cụ cũng khư khư ôm trong lòng, không muốn rời ra.
Nhất Linh thường nói với tôi:
“Gia đình tôi đông anh em, nhưng mẹ tôi chỉ thương và nể có
tôi thôi. Tôi bảo gì mẹ tôi cũng nghe, nhưng… trăm tội ở đâu cũng đều đổ cả lên
đầu tôi, chỉ có tôi là bị rầy la nhiều nhất.”
Hôm cụ mất anh bị mệt và… cũng đang bị chính quyền để ý nên
không đưa cụ tới nơi an nghỉ cuối cùng được, anh rất đỗi khổ tâm.
Nhất Linh có một đời sống đẹp như vậy, thế mà sau khi anh mất
đi có kẻ dám công khai bôi nhọ anh, nào bảo anh “hút thuốc phiện, nghiện rượu,
không có chút công lao gì đối với nền văn học Việt Nam”, nào “phản đảng, phản
dân tộc, phản cả gia đình nữa”… 1 thì đủ rõ giữa Nhất Linh và đối lập đương nắm
chính quyền của anh, ai là quân tử, ai là tiểu nhân?
Thật thế! Nhất Linh, ngay cả đối với kẻ thù, lúc nào cũng
đàng hoàng, quân tử. Mỗi khi nói tới Hồ Chí Minh hay Ngô Đình Diệm, hay vợ chồng
Ngô Đình Nhu, tôi chưa từng nghe thấy anh có một lời nói nặng, một câu nào bất
lịch sự cả.
Cái chết của Nhất Linh không những là một thiệt thòi rất lớn
cho quốc gia, nhất là trong giai đoạn này, đã mất một chiến sĩ vừa có tài lại
có đức, vừa là một cái tang chung cho nền văn học nước nhà, lại còn gieo vào
trong lòng của các bạn hữu cũng như gia đình đầm ấm của anh, biết bao niềm
thương xót khôn nguôi với thời gian được.
Riêng về phần tôi, mỗi bận nhớ tới anh rồi nhìn chung quanh
mình chỉ thấy toàn những kẻ tranh giành nhau trên con đường danh lợi, những kẻ
lừa thầy phản bạn, tôi cảm thấy có một khoảng trống mông mênh, kinh khủng. Và
tôi chợt nhớ câu thơ bất hủ của thi hào Lamartine, tôi xin mượn câu thơ đó để
nói lên nỗi lòng của tôi đối với Nhất Linh:
“Thiếu mỗi một người và tất cả đều là hoang vắng”.
(Un seul être vous manque et tout est dépeuplé).
--------------------------------
1 Lời tuyên bố của Ngô Đình Nhu trong buổi họp Tổng đoàn
Thanh niên Cộng hoà ngày 18-7-1963
Nguyễn Mạnh Côn - Vĩnh Quyết Nhất Linh.
Ngày 8-7
Sáng hôm nay, khoảng 9 giờ, tôi qua thăm toà soạn nhật báo
Dân Việt, để cám ơn việc đăng cáo phó, cảm ơn vừa qua. Mới thoạt bước qua cửa
tôi đã thấy nét mặt anh Chu Tử có vẻ gì là lạ. Dzoãn Bình từ bên nhà chữ chạy
sang, kêu to:
"Anh biết gì không? Anh biết gì không? Anh Nhất Linh mất
rồi!"
Dzoãn Bình còn trẻ, nói to. Bình có lẽ còn nói gì nữa. Nhưng
có thể Bình không nói thêm câu nào. Vì căn phòng nhỏ hẹp của toà soạn Dân Việt
tự nhiên thấy rộng thêm ra. Căn phòng rộng đến đâu, tôi không có ý niệm đến hẳn
đâu. Nhưng tiếng máy chạy bên kia tường không còn rung trên nền gạch. Trong
không gian hình như có sự đổi khác, như một cái gì đang vận động bỗng ngừng lại.
Tôi có cảm giác có ai đã muốn nói gì lại thôi. Hay một giọt những đọng trên cửa
kính có thể bò xuống nữa, có thể đứng yên, rồi khô cạn ngay ở giữa con đường dốc.
Nhưng giọt nước chưa cạn mà không chảy trên tấm kính đứng thẳng thì thật vô lý.
Tôi muốn phản đối sự vô lý ấy. Giọt nước bỗng vỡ ra, nhiều giọt nhỏ bắn sang
chung quanh. Im lặng, xa xôi trên tấm kính ngay trước mặt. Thế là hết.
Gió ở đâu lành lạnh trong áo sơ-mi. Cơn sốt hôm qua váng vất
muốn trở lại. Tôi đứng dậy quên chào anh em, bước ra cửa. Bên ngoài toà báo nắng
còn xiên trên con đường vắng. Phía cuối đường, xe chạy nhộn nhịp trên đại lộ Lê
Văn Duyệt. Tôi thẩn thờ không biết nên đi về phía nào. Cảm giác rõ rệt như có vật
chường ngại chắn ngang lối đi, một cái hố sâu chẳng hạn. Phía bên trái lại khác
hẳn. Không gian hình như có từng lớp một, có ngăn cách nhưng có nối tiếp. Cảm
thông hay ảo ảnh, chưa chừng.
Ngày 9-7
Tôi mặc áo ngoài, thắt cà-vạt đen. Băng đen trên tay áo. Đã
lâu lắm không được gặp, tôi đi tìm Nhất Linh.
Chiếc xe Vespa vòng phía sau bệnh viện Đồn Đất. Đường vắng.
Không thấy bóng một công an viên hay nhân viên mật vụ nào. Người ta bảo tôi, từ
sáng, rằng lực lượng an ninh bao vây kín khu vực Nhà xác của bệnh viện. Tôi
cũng nghĩ có thể như thế lắm, nên tôi đã để ý tìm những người đứng không, những
người ngồi xổm trên vỉa hè, hay bán hàng trên con đường vắng. Nhưng con đường
quả thật vắng tanh. Cổng nhà xác sơn màu vàng nhạt đóng kín. Chúng tôi đập cửa.
Im lặng. Nhìn quanh quẩn, không có ai để hỏi thăm. Tôi nhìn Đỗ Tốn. Anh lắc đầu:
"Có lẽ chưa! Hay ta xuống dưới nhà?"
Tôi lưỡng lự, chỉ vòng tay ra phía trước. Chúng tôi đến cổng
lớn bệnh viện. Đỗ Tốn gửi xe, tôi lại gần hỏi người gác:
"Thưa ông, di hài ông Nguyễn Tường Tam có còn ở đây
không?"
Người gác gật đầu, nâng chiếc cần chắn ngang cổng. Chúng tôi
bước vào, đi bâng khuâng giữa những dải tóc tiên, dưới vòm cây. Không khí êm ả
có chút gì khác với không khí ngoài đường phố. Qua phía trước nhà thờ. Có ánh nến
lung linh dưới bóng cây thánh giá. Đỗ Tốn gạt nhẹ tôi rẽ tay phải. Đường dốc xuống
lượn sang tay trái. Có lẽ chúng tôi đang đi phía sau căn nhà bếp nên thoảng có
mùi thơm thịt nướng. Chung quanh chúng tôi hoàn toàn không có bóng người. Nhà
xác, phía dưới sân, cũng im lặng. Bên trong hai cánh cửa mở rộng có chiếc bàn
không để giấy tờ…
Tôi quay lại nhìn Đỗ Tốn. Anh gật đầu. Phải, anh Tam nằm
trong đó.
Chúng tôi quay quanh, tìm kiếm. Phía đối diện với nhà xác có
một cảnh sát viên ngồi với một thanh niên mặc bộ đồ lao động cũ kỹ. Họ không có
vẻ gì để ý đến chúng tôi, và tiếp tục nói chuyện dưới mái hiên lợp tôn rộng.
Tôi bước vào hiên, tự trong lòng thấy bực bội, tiếng nói gắt
gỏng vô cớ:
"Ai gác phòng lạnh ở đây? Tôi cần vào xem thi hài ông
Nguyễn Tường Tam!"
Một trong hai người, người công nhân đứng lên, một tay gãi
gáy, tay kia đu đưa:
"Dạ, ảnh mới đi khỏi."
Tôi buông thõng, hách dịch:
"Đi kêu!"
Người công nhân líu ríu quay đi ngay. Người gác đã trở lại.
Chắc anh công nhân có nói thế nào nên ông ta chạy thật vội, chiếc “kết” có vòng
đỏ bật ngửa trên đầu. Ông ta đến chỗ tôi:
"Thưa ông cho gọi tôi?"
Tiếng nói của miền trung châu Bắc Việt. Anh Nhất Linh người
huyện Cẩm Giàng. Tôi biết khó có thể giữ giọng cấp trên, bèn đấu dịu:
"Chúng tôi muốn phiền ông cho vào thăm di hài ông Nguyễn
Tường Tam."
Người gác đưa chúng tôi ra buồng ngoài, đến trước cánh cửa
trong, lấy sức rút chiếc then ngang. Cửa mở. Tôi thoáng có ý nghĩ thật nhanh: mồ
hôi, lạnh, cảm… Nhưng luồng gió tê tái đã ùa vào người tôi. Tôi rùng mình, sởn
gai ốc khắp thân thể. Tôi muốn lùi ra, nhưng chân cứ bước vào. Tiếng máy chạy ù
ù, hai hàng giường sắt chồng đôi, dọc đôi, sơn màu tiếng. Tất cả giống như căn
phòng ưỡp món ăn tươi dưới một chiếc tàu chiến của Mỹ.
Một cảm giác uất ức tràn vào tâm hồn tôi vì một thoáng so
sánh cái tinh anh thanh cao của Nhất Linh với một không khí kỹ thuật tàn nhẫn,
độc ác.
Người gác bước mấy bước về phía tay phải. Ông ta đến bên cạnh
một cuộn vải dường bâu gài gần hết ngăn giường dưới. Ông ta giơ tay chỉ. Bấy giờ
tôi mới hiểu. Tôi đến gần, tìm dầu mối tấm vải. Nhưng người gác nhanh hơn, đã
nâng góc chăn phủ mặt lên. Một chiếc sáo tre định rơi xuống đất. Tôi bước vội đến
đỡ lấy.
Anh Nhất Linh nằm đây, hai mắt nhắm. Vẻ thao thức và bồn chồn
tìm kiếm ở đôi mắt anh không còn nữa. Mũi anh cũng có vẻ ngắn hơn trước, bộ ria
mép thưa hơn. Miệng anh hé mở như có điều gì muốn căn dặn. Vầng trán rộng xuôi
xuống mái tóc đã rụng nhiều. Nét mặt anh, quái lạ, có vẻ tươi hơn ngày anh còn
sống.
Tôi để tay lên mép giường, định luồn dưới chăn tìm tay anh mà
từ biệt. Nhưng người gác ra hiệu không nghe. Bàn tay tôi co đặt lên ngực anh, nằm
ngang trên chiếc sáo. Ống tre và mặt vải lạnh buốt. Tôi vẫn tự phụ có sức sống
thiết tha đọng trong lòng tay, có thể truyền cho người đau nặng. Ý nghĩ ngông
cuồng của tôi lúc ấy là truyền sức sống cho người chết. Nhưng khí lạnh ấp vào
bàn tay tôi dồn hơi nóng lên cổ tay, cả năm ngón như đóng băng tê dại.
Tôi bàng hoàng rụt tay lại. Chiếc sáo tre rơi đánh cạch xuống
mép giường sắt. Tiếng động khô ngắn làm cho căn phòng có vẻ yên lặng hơn lên.
Tiếng quá khứ vang dậy: tiếng demi botte của Mỹ, đế cao-su đúc, đi trên sàn gỗ
nặng chình chịch. Tôi nhớ lại một hình ảnh qua đã lâu mà vẫn còn quen thuộc.
Hình ảnh một buổi họp của các cấp luận điệu Mặt trận Quốc gia, cách đây 18 năm.
Hai người ngồi xử tội hai người. Kết quả nguy hiểm trông thấy. Nhưng vị lãnh tụ
thứ ba vừa mới đến. Người mới đến mặc binh phục kaki có yếm bịt kín ngực. Dáng
điệu thong thả, hiền lành, không có vẻ gì là võ tướng. Người mới đến ngồi xuống.
Cuộc thảo luận tiếp tục, bằng tiếng phổ thông. Tôi không hiểu gì cả. Một lúc
sau người đó đứng lên, bắt tay tôi rồi ra khỏi phòng. Cụ Nguyễn hỏi tôi: “Anh
có biết ai đấy không? Ông Nguyễn Tường Tam đấy! Ông ấy bảo không được phép giữ
anh, vì anh là đại biểu Quốc hội”.
Quá khứ đến năm nay là mười tám năm. Mười tám năm trước, anh
không biết tôi là ai, ngoài danh nghĩa đoàn thể mà tôi là đại biểu. Tôi gây
truyện đổ vỡ, tính mạng chỉ còn treo trên sợi tóc. May mà anh đến vừa đúng lúc.
Hồi bấy giờ đảng lớn mới thống nhất lực lượng, cùng đồng ý bỏ hai chữ trên chia
rẽ, giữ ba chữ dưới hợp quần 1, cùng đồng ý bầu anh làm Bí thư trưởng, nghĩa là
làm lãnh tụ. Anh được bầu vì uy tín anh to lớn, đại biểu các đảng bạn quý trọng
anh hơn hết. Nhưng việc bầu bán xong rồi, ông Vũ Hồng Khanh cậy có quân lực mạnh,
các đảng khác đều phải nhờ bảo vệ, nên nhất định không trao quyền thực tế.
Nhưng dù sao, trước mặt cụ Nguyễn Hải Thần, anh vẫn có quyền. Anh không cho
phép bắt tôi, họ Vũ không dám công nhiên kháng cự.
Mười tám năm qua rồi. Bao giờ tôi đã nhiều tuổi hơn anh hồi ấy.
Có lẽ tôi còn lăn lóc nhiều hơn, còn chịu đựng nhiều hơn. Nhưng ba năm trước,
tôi đến thăm anh, đưa tặng anh cuốn Đem tâm tình viết lịch sử, anh đọc mấy câu
tôi viết còn mỉm cười nhớ lại quá khứ.
Thế rồi thôi. Từ ba năm về đây, tôi đau yếu luôn và nghe nói
anh cũng không được yên, không được mạnh. Vì thế nên muốn đến thăm anh lại lần
chần hôm nay để ngày mai. Đến tối thứ sáu tuần trước, luật sư Dương Kiền đến
tìm tôi, hỏi tài liệu về quá khứ của anh.
Theo lời Dương Kiền, các đồng chí của anh đều nhận có hoạt động
chống đối (hay đánh đổ?) chính phủ. Các đồng chí của anh đều chỉ anh là người
lãnh đạo. Nhưng chính anh lại không nhận. Tôi hỏi thêm, được Dương Kiền cho biết
những người kia không những nhận ở công an mà còn nhận cả ở dự thẩm, và có lẽ
ra toà cũng vẫn giữ lời khai. Dương Kiền có vẻ lo buồn nhiều, vì không đoán được
anh ra toà sẽ giữ thái độ thế nào để uy tín anh được trọn vẹn mà không thiệt hại
cho các đồng chí của anh. Anh có thể nhận cho họ được nhẹ tội. Vào trường hợp
này, luật sư thật khó biện hộ cho anh. Anh có thể phải gánh chịu một hậu quả nặng
cho tuổi tác và sức khoẻ của anh. Nhưng nếu ngược lại, anh phủ nhận lời khai của
các đồng chí của anh, thì uy tín của nhóm anh sẽ ra sao?
Dương Kiền cho rằng chỉ còn có một phương pháp là tìm lấy rất
nhiều tài liệu về cuộc đời tận tuỵ tranh đấu cho dân tộc của anh, để chứng minh
rằng sở dĩ nước Việt Nam ngày nay có được một chính quyền độc lập, với đầy đủ
chủ quyền, thì bất cứ ai cũng không được phép phủ nhận công lao to tát của anh.
Dương Kiền định không xin khoan hồng, mà còn đòi toà án phải cúi đầu trước một
nhà đại ái quốc, một vị anh hùng dân tộc. Tôi thấy Dương Kiền nghĩ rất đúng,
nên tôi hứa đi tìm Đỗ Tốn, đồng chí và cán bộ của anh từ dạo trốn sang Tàu lần
thứ nhất. Nhưng không kịp.
Tôi không ngần ngại mà nhận rằng, đối với tôi, anh vẫn còn là
vị thiên thần mà tôi chiêm ngưỡng hồi còn niên thiếu. Tinh thần khai sáng và đức
độ chân phương của anh nâng anh lên hàng cha, mẹ của tôi. Nhưng tính tự ái
ngông cuồng của tuổi trẻ xui khiến tôi tìm một khía cạnh nào của cuộc đời anh để
hạ giá thần tượng. Tôi không chấp nhận sự ngay thẳng mà anh dùng để đối phó với
các lực lượng đối thủ. Tôi cũng không chịu đi vào con đường không có lối thoát.
Tôi thèm có cái uy tín của anh để xuống đường, để làm việc này việc nọ. Tôi
nghĩ “Giá mình được như anh Nhất Linh, mình sẽ gần gũi hơn với bọn trẻ. Mình sẽ
nói với họ về cuộc đời của mình. Không! Mình không cần phải thúc giục họ chống
lại hay đánh đổ bất cứ ai. Mình chỉ cần làm gương… Rồi sẽ có một ngày, mình chỉ
nói một lần là đủ!
Nghĩ như thế, tôi có ý trách anh lìa xa tuổi trẻ đang muốn thấy
ở anh một ngọn đuốc soi đường. Tôi có ý trách anh không tham gia cuộc chiến đấu,
dù ở về bất cứ phe nào. Nhưng bây giờ anh nằm đây rồi, và như thế cũng xong.
Cơn giông tố đã lắng xuống. Nét mặt anh bảo tôi rằng anh đã tha thứ cho hết thảy
mọi người bạn, mọi đứa em lầm lỗi. Nét mặt anh bình thảnh, đôi môi hé mở còn có
vẻ bao dung hơn. Tôi nghiêng đầu, nhìn kỹ anh một lần cuối. Bao nhiêu câu từ biệt
rất văn chương tôi định nói với anh đều có vẻ vô nghĩa. Tôi muốn tìm một ý tưởng
có thể gọi là sâu sắc để đánh dấu sự vĩnh quyết một ân nhân, một thầy học, một
trưởng huynh…
Nhưng đầu óc tôi thật quả rỗng không trong khi tôi chầm chậm
xoay người ra phía cửa. Bao nhiêu sợi dây thần kinh nhạy cảm của tôi đã chết lặng
đi hết cả. Rỗng trong đầu, rỗng trong tim, tôi ra khỏi phạm vi bệnh viện lúc
nào cũng không để ý.
Từ bệnh viện, chúng tôi đến chợ An Đông. Cửa nhà dưới mở rộng.
Nhiều bà, nhiều cô đang cắt khăn, may áo trên tấm ngựa kê sát tường. Hai chiếc
bàn quay đầu vào nhau thành thước thợ, phía bên này có mấy cụ già, phía bên
kia: Duy Lam, Nguiễn Ngu Í.
Nguiễn Ngu Í đến thăm, còn Duy Lam gọi anh Nhất Linh là Cậu
(anh mẹ) ruột. Duy Lam cũng là sản phẩm của Nhất Linh. Sản phẩm lớn lên, muốn
vượt khỏi cương toả của con đường cổ điển. Nhất Linh giới thiệu Duy Lam như một
Dostoievsky. Lời giới thiệu có lẽ đi hơi xa quá, vì Duy Lam còn phải dọ dẫm nhiều
để tìm thấy một con đường mới, xứng đáng với Tự Lực Văn Đoàn.
Nhưng lời giới thiệu, đầy ắp một sự gửi gấm tha thiết, đủ chứng
tỏ Nhất Linh đã thấy rõ nhóm Đời Nay cần phải được tiếp tục, tiếp tục công việc
mở đường, bằng những khí cụ mới mẻ hơn, thích hợp hơn với thời đại nhiều bối rối
hơn suy tư, nhiều thú tính hơn tình cảm. Tâm hồn Nhất Linh đặt vào truyện thằng
cu Tý đánh lừa con lợn, truyện Thanh – Ngọc nằm bên nhau suốt một đêm mưa… chỉ
còn là những nét đẹp tuyệt nhưng xa vời. Người thầy học đánh lạc mất bầy trò
quá trẻ. Là nghệ sĩ anh không buồn sao được!
Tôi ngồi xuống cạnh Duy Lam, trao đổi vài ý nghĩ vụn vặt. Duy
Lam nhìn thẳng vào khoảng không, lộ rõ vẻ chiến sĩ. Nhưng tôi không tin những
tin tức về một sự tàn bạo một chiều và không cần thiết. Tôi có thói quen hay lý
luận, hay đem những nền nếp tâm lý quen thuộc để chứng minh hay phủ định những
lời đồn đại. Tôi cũng có tinh thần quốc gia cực đoan nên hay bênh vực người
mình chống những áp bức của người ngoại quốc. Có lẽ có phần nào suy tư ảnh hưởng
của dòng máu của cha tôi là một cựu công chức ngạch cai trị, tôi không tin ở những
lời hô hào của các chính khác, mà tin ở sự khôn ngoan của những nhà hành chính
lão luyện. Tôi không tin ở cách mạng, nếu cách mạng không có lý thuyết. Đời sống
một dân tộc khó có thể thay đổi nhờ phép lạ như trong truyện thần tiên… Tôi muốn
kéo câu truyện về phía văn nghệ. Cuộc đời của Nhất Linh tuy có phần làm cách mạng,
chống áp bức đế quốc. Nhưng tôi tiếp tục nghĩ như vậy, sự nghiệp quý giá vô hạn
của anh là sự nghiệp mở đường cho thế hệ chúng tôi có căn bản, và thế hệ Duy
Lam có thể vươn lên mà không bị đứt liên lạc với gốc tích.
Phải nhiều đời mới có một Nhất Linh thành lập nổi một văn
đoàn Tự lực, nuôi sống – về tinh thần – được hai tờ Phong hoá, Ngày nay. Tôi muốn
giữ hình ảnh của Nhất Linh văn nghệ sĩ.
Tôi định nói với Duy Lam như thế. Nhưng Thiết, rồi Nghị đã về.
Tôi đứng lên chào mà không chia buồn. Chị Nhất Linh cũng từ trên gác xuống. Chị
vốn đã gầy, chiều hôm nay tôi tưởng chị hốt nhiên già thêm mười tuổi. Chị khổ
tâm nói không thành lời. Tôi cúi đầu, ấp úng một câu khách sáo. Những người
thân yêu, dù quý trọng văn nghiệp của anh đến đâu vẫn không quý bằng con người
bắt đầu vắng bóng. Tôi nhìn Nghị và Thiết, hai anh em đều có con mắt sâu thẳm
mà thao thức vô cùng của bậc thân sinh ra họ. Nhất là Nghị lại càng giống anh
Tam lắm lắm.
Tôi ngồi lâu rồi đứng dậy xin về. Mắt đóng đinh vào mắt tôi,
Nghị nói:
"Ba tôi quý anh lắm, thường nhắc đến anh luôn…"
Tôi đợi nghe hết câu, quay ra xe, trèo lên yên sau. Chiếc
Vespa phóng như tên dưới những giọt mưa lác đác. Cơn lạnh tôi đã quên được một
lúc lâu lại trở lại, buốt trong người nhưng nóng rực ở tay chân. Tôi phải cố
nghĩ đến một việc quan trọng nào đó cho quên cái rét, rồi thở từng hơi dài để
điều hoà nhịp đập của quả tim.
Tôi nghĩ đến anh Nhất Linh. Tôi nhớ ra rằng anh đã mất. Ba
năm không được gặp anh rồi. Mà anh nhắc đến tôi luôn. Cố nhiên anh không biết
gì về con người của tôi. Vậy anh đã theo dõi tôi về văn nghệ. Tôi đoán mà biết
anh còn nhắc đến nhiều anh em khác. Tấm lòng chân thành đối với nền tương lai
văn học của chúng ta khiến cho anh tha thứ cho chúng tôi những hỗn xược, những
ghẻ lạnh hay quên lãng. Có thể vì chúng tôi ngu xuẩn hay chủ quan, nhưng cũng
có thể vì, đến với anh, dù sao chúng tôi cũng không thể tự nhiên như đối với
nhiều anh khác có khi còn nhiều tuổi hơn anh.
Đối với chúng tôi như cỏ non, anh rõ rệt là cây đại thụ. Cây
đại thụ đã cằn cỗi dần dần. Để một cơn giông nhỏ cũng làm được cho cây bật gốc.
Đám cỏ non chói nắng, xót thương. Giọt nước mắt không thành hình len xuống đau
trong sống mũi. Buổi chiều vừa qua, đứng trong phòng lạnh, ngay trước khi người
gác mở góc tấm dường bâu, tôi không ngờ còn có lúc, tuổi đã nhiều rồi, còn lạc
giọng nói thầm:
"Anh Nhất Linh! Anh Nhất Linh! Vĩnh biệt."
--------------------------------
1 Các đảng Đại Việt Quốc dân Đảng, Việt Nam Quốc dân Đảng, Đại
Việt Dân chính v.v… thống nhất lực lượng và lấy tên chung là Quốc dân Đảng.
Nguyễn Tường Thiết - Niềm Vui Chết Yểu.
Tôi ngó đồng hồ: 5 giờ kém 15. Chiếc xe sao chạy chậm quá vậy?
Người tôi nửa như xôn xao bồn chồn, nửa như bị du sâu vào trong một giấc mơ. Tiếng
động, tiếng sinh hoạt về chiều của thành phố, nghe xa vút hẳn đi. Những âm
thanh lâm râm, lao xao, mơ hồ như thuộc về một thế giới khác. Đường phố quen
thuộc của Sài Gòn, đâu đó một tiếng còi xe giật lại, tôi nghe ngắn và sắc hơn.
Chiếc xe chạy qua rạp Olympic, tôi quay người ngó lơ đãng vào mấy tấm vẽ quảng
cáo ở cửa rạp: “Cậu coi Jugement à Nuremberg chưa?”. “Rồi!”. “Đấy cậu chẳng cần
nói gì cả, cứ im lặng như viên Bộ trưởng Đức mà hay. Cũng chẳng cần viện cớ bệnh
không nói được ở Toà. Để tối con lại luật sư Ch. lấy mấy giấy bác sĩ. Con nghĩ
chẳng cần phải dùng cách ấy. Mình vẫn khoẻ như thường mà chả thèm nói gì cả,
cũng chẳng cần trả lời những câu của Toà, cứ im như hến thế mà hay!”.
Chiếc tắc-xi đến một khúc đường sửa, bị xốc, tôi thấy nặng ở
đùi: đầu cha tôi còn gối lên đùi tôi, miệng hé mở, ngả đầu về sau, một ít nước
bọt ở mép, cánh tay phải mềm xuội buông lỏng xuống sàn xe. Cách đây một giờ,
cha tôi uống thuốc độc thật mạnh để tự tử. Cha tôi đã đồng ý với tôi ở một điểm:
“Im như hến thế mà hay!”. Nhưng quả thật tôi không ngờ ông đã đi sâu đến như thế
để dọn một thái độ dứt khoát không phải chỉ im lặng ở Toà án mà là một im lặng
mãi mãi, một im lặng bi đát đến ghê rợn mà tôi không thể tưởng tượng nổi.
Tôi thò tay vào túi áo ngủ của cha tôi lấy ra một tờ giấy mà
lúc ở nhà tôi không kịp xem. Trên một vuông kẻ ô, cha tôi để lại những hàng chữ
cuối cùng trong đời ông. Đọc xong, gần như vô ý thức, miệng tôi cứ lặp đi lặp lại
mãi một câu “Đời tôi để lịch sử xử…”.
Anh T. ngồi ở đằng trước, giục tài xế chạy thật nhanh để
chóng đến bệnh viện, nhưng chiều chủ nhật đông xe, chiếc tắc-xi bị nghẽn đường
mấy lần và cuối cùng chỉ tới Grall lúc 5 giờ 10 phút. Chúng tôi xuống xe, trình
giấy giới thiệu khẩn cấp của bác sĩ Ph. cho viên quản lý thường trực và khiêng
cha tôi, lúc đó đang thiêm thiếp trong chiếc khăn len dày, xuống băng ca. Một
lát bác sĩ Gourillon tới, ông bảo mọi người lui ra ngoài rồi tiến vào phòng. 10
phút sau, trước sự chờ đợi nóng lòng của mẹ tôi, anh T. và tôi, viên bác sĩ
Pháp đẩy cửa bước ra, ông nhìn mẹ tôi trước nhất, khẽ nhún vai, buông xuôi hai
cánh tay xuống tỏ một dáng điệu thất vọng rồi nói với bác sĩ Ph. lúc ấy cũng vừa
tới nơi: “C’est foutu!”.
Tôi nhìn lên mấy hàng cây của khu công viên bệnh viện. Bầu trời
vẫn chưa lên cao sau một buổi chiều mưa rơi tầm tã. Những vũng nước nhỏ yên lặng
như những mặt gương, soi ngược mái dãy bệnh viện im lặng, gác nhà thờ nhỏ nằm
im lìm ở phía bên phải, những lá cây ướt nước trở nên sậm màu hơn, và ở đuôi những
chiếc lá, giọt nước mưa vẫn thi nhau nhỏ xuống, không gây một tiếng động nhỏ.
Buổi sáng ngày hôm ấy, cha tôi đi thật sớm. Ông mở ngăn kéo,
lấy mấy tập sách, tập bản thảo những tác phẩm cuối cùng, gói vào một tờ nhật
báo. Tôi đoán có lẽ cha tôi đi họp ở đâu vì cũng đúng vào chủ nhật tuần trước,
ông đã tới dự phiên họp đặc biệt của nhóm Bút Việt. Cha tôi có một thói quen dậy
rất sớm khoảng 5 giờ, rồi cùng mẹ tôi ngồi uống trà Tàu. Ngay cả trong những buổi
sáng giá buốt của Đà Lạt, thói quen đó cũng không bị bỏ. Nhiều lúc hứng trí,
cha tôi còn đánh thức chúng tôi dậy để cùng hưởng cái thú uống trà buổi sáng ấy.
Nhưng thường thì chúng tôi phản đối để ngủ lại. Cũng chính vì thức sớm nên đến
chơi nhà ai, cha tôi cũng đến vào lúc chủ nhân chưa ngủ dậy.
Khoảng gần 10 giờ, cha tôi về. Tôi đang ngồi ở đi-văng, mở
máy thu thanh nghe mấy bản tân nhạc trình diễn, cha tôi bước lên cầu thang,
dáng hơn mệt mỏi. Ông không thay quần áo ngay như mọi lần về nhà, cứ để nguyên
quần áo Tây ngồi xuống ghế xích-đu, bên cạnh tôi. Trong suốt buổi sáng hôm ấy
chỉ có cha tôi và tôi ở trên gác. Ông ngó quanh quất không thấy ai nữa, hỏi
tôi: “Anh T. mấy giờ về?”. Tôi trả lời: “Mọi tuần đêm thứ bảy đã ở Sài Gòn
không hiểu sao bây giờ vẫn chưa thấy về nhà”. Cha tôi lộ vẻ băn khoăn, chờ đợi,
bứt rứt, điếu thuốc lá rung rung ở trên đầu hai ngón tay. Ông mở bia, rót vào một
cái cốc nhỏ. Ánh nắng lọt qua khe cửa chiếu vào thành cốc dày loé lên những
ngôi sao sáng. Tự nhiên tôi nhớ đến một kỷ niệm cách đây bảy năm, ở Đà Lạt. Năm
1956, một buổi sáng chủ nhật đẹp trời, cha tôi, chị Th. và tôi tổ chức một buổi
pic-nic ở hồ Than Thở. Chúng tôi tìm một chỗ thật vắng vẻ ở cuối hồ, cha tôi và
chị Th. rải mấy tờ báo xuống đất, dưới mấy gốc thông, chỗ lá thông khô rụng phủ
dày làm cỏ không mọc được. Tôi nghĩ nơi này không có đường mòn dẫn tới chắc chẳng
có ma nào đến, nhưng khi xách súng cao-su đi bắn chim ở gần đó, tôi thấy rải
rác dưới đất có những hộp cá rỉ, một tờ báo cũ nát, mấy khúc cây cháy dở dang
(vết tích của một bữa ăn no say), tôi thấy nơi này không còn hiu quạnh nữa. Cha
tôi nghĩ ra một cách nướng lạp-xưởng rất giản dị. Lấy bông đổ alcool vào rồi đốt,
hơ khúc lạp-xưởng quăn queo lên trên ngọn lửa màu xanh nhạt. Cha tôi bày biện sắp
xếp thức ăn nom rất mỹ thuật, ngon mắt. Đặc biệt ông hay để ý đến màu sắc của
dĩa làm nổi những thức ăn bày ở trên, ông thường bảo đĩa màu vàng làm nổi những
thức ăn hơn những đĩa màu khác. Trong bữa có món trứng cá caviar cha tôi bảo ăn
rất ngon, nhưng chúng tôi chịu không ăn được. Dùng bữa trưa xong, cha tôi mở
bia rót vào mấy cái cốc nhỏ. Chúng tôi không quen uống, nhất là lại không có
đá, nhưng cha tôi không bao giờ cho đá vào và bảo uống như vậy nhạt. Tôi còn nhớ
nắng hắt vào thành cốc – vẫn cái cốc hôm nay ông dùng – làm loé lên những ngôi
sao nhỏ. Một giờ sau đó lúc trở về mang theo một con chim bị bắn chết, giơ khoe
trước mặt cha tôi thì ông đang ngả người hút thuốc, lưng dựa vào một gốc thông.
Những vệt ánh sáng yếu ớt lọt qua lá thông chạy loà xoà trên mặt cha tôi, một
tí nắng đậu yên ở trên sống mũi gần chỗ những đường gân đỏ bóng ở cuối mũi
trông như một viên cuội có những đường vân đẹp.
Cha tôi ho một tiếng ngắn. Tôi có cảm tưởng ông sửa soạn nói
với tôi điều gì. Nhưng ông chỉ im lặng. Từ lúc nãy một ban nhạc nào đó hát đi
hát lại mãi bản nhạc “Mừng ngày song thất”, tôi để ý thấy cha tôi chú ý nghe
nhưng không để lộ một thái độ nào. Tôi đem vấn đề ra Toà ngày mai ra bàn, xem
cha tôi đối phó ra sao. Tôi cũng đề nghị với cha tôi không nên có thái độ nào
khác ngoài sự im lặng. Nhưng ông chỉ ầm ừ như không muốn những câu hỏi của tôi
có thể làm loãng những điều ông đang xuất ngoại. Thỉnh thoảng có tiếng chân ai
lên gác, ông giật mình ngó về phía cửa. Tôi với tay lấy sấp Ronéo để trước mặt
ông. Đó là bản cáo trạng khá dày, trong đó có những lời khai của cha tôi ở cảnh
sát. Ở trang cuối, tôi chú ý đến những lời kết tội như “phản quốc”, “xâm phạm đến
an ninh quốc gia”. Trong suốt hơn một giờ đồng hồ, cha tôi vẫn giữ một thái độ
im lặng, suy nghĩ. Ông uống bia rất chậm. Dường như lại không biết mình đang uống
bia nữa. Khi ông để cốc rượu xuống bàn, chiếc ly rung rung lơ lửng vài giây sát
mặt bàn rồi mới hạ hẳn xuống một cách khó khăn, như giữa ông và cái bàn có một
sự xa cách đủ khiến ông phải gắng sức.
Khoảng 11 giờ, như vụt quyết định xong một điều gì, cha tôi
có vẻ thảnh thơi hơn, ông bỏ hẳn thái độ băn khoăn, thay quần áo ngủ, rồi quay
lại trả lời câu hỏi của tôi ban nãy: “Phải đấy, chẳng cần phải nói gì cả, chiều
nay con lại nhà luật sư Ch. lấy hết các giấy bác sĩ về. Biết địa chỉ không?”.
Tôi gật đầu. Ha tôi kéo ghế ngồi đối diện tôi, nhìn tôi rất lâu. Tôi nói: “Con
đoán họ chẳng làm gì cậu đâu, nếu họ muốn bỏ tù thì họ đã bắt từ lâu rồi. Việc
này họ đem ra xử cho có lệ, rồi kết mình vô tội để hạ nhục chơi. Vả lại nếu có
ra Côn Đảo thì cũng chả sao, chỉ làm giàu thêm cho cuộc đời tranh đấu của cậu.
Cứ coi đó như một dịp đi nghỉ mát, biết đâu lại chẳng có những tài liệu hay để
viết, phải không cậu? Ra ngoài ấy, gặp hai chú S., anh V., vui biết mấy! Sẵn dịp
đó cậu viết tiếp quyển Xóm Cầu Mới hay là con nghĩ thế này – tôi ngồi ngay lại
trên ghế – cậu có thể như Churchill về già viết lại quãng đời mình. Con nghĩ đó
cũng là một tài liệu quý lắm!”. Cha tôi nhìn ra ngoài cửa sổ đáp: “Cậu chẳng sợ
kết quả ngày mai ra sao vì ở nhà hay ở tù thì cũng mất tự do như nhau. Có điều
bực nhất là họ lấy tư cách gì mà lại đem xét xử những người quốc gia đối lập rồi
gán cho họ tội phản quốc. Còn cái việc viết hồi ký thì cầu cũng đã nghĩ đến hồi
1958 ở Đà Lạt. Cậu dự định viết 3 quyển: cuộc đời làm báo và viết văn của Nhất
Linh, cuộc đời làm cách mạng của Nguyễn Tường Tam và quyển thứ ba cậu nói về sự
sưu tầm hoa phong lan. Nhưng rồi về đây vì bận tờ Văn hoá Ngày nay nên chỉ viết
được cuốn Viết và đọc tiểu thuyết, sau đó lại bị dính vào những rắc rối chính
trị, không có tâm đâu mà viết”. Cha tôi cúi xuống đọc lại một lần nữa bản án kết
tội mình, khi ông ngẩng lên, tôi ngập ngừng đưa ra một câu hỏi: “Bây giờ nghĩ lại
tất cả những việc cậu đã làm, cậu thấy hãnh diện về những việc gì nhất?”. Cha
tôi cười: “Thật ra thì chẳng có việc gì đáng tự hào vì chẳng có việc nào cậu
cho là đến nơi đến chốn. Nhưng cậu vừa lòng nhất là việc thành lập được Tự lực
Văn đoàn. Đến bây giờ cậu vẫn tha thiết về vấn đề này nhất. Chuyện chính trị
nhiều khi cái không khí nó bắt buộc mình phải tham gia, như cái tình trạng hồi
Pháp thuộc, lúc đó, nếu cậu không đứng ra giúp nước thì trong lòng áy náy chẳng
làm được chuyện gì khác. Nhiều khi người ta bị đẩy tới guồng máy hoạt động một
cách rất giản dị đến nỗi chính họ cũng không ngờ tới sự quan trọng của việc họ
làm, rồi như những bánh xe ăn khớp nhau, họ bị đẩy dần vào vòng trách nhiệm.
Ngay cả những hồi lấy lan ở Đà Lạt, cậu vẫn bứt rứt vì thấy mình không thể đứng
ngoài vòng trách nhiệm ấy, nên phải về hoạt động lại ở Sài Gòn. Chính vì thế
làm chính trị, lúc nào tiến thì dễ, liệu lúc nào rút khỏi đúng lúc mới khó. Nếu
ông Diệm sau một năm đầu ổn định tình thế quốc gia từ chức ngay khi ban hành hiến
pháp có phải đẹp biết mấy”. Tôi sực nhớ ra một điều hỏi: “Còn đảng Việt Quốc ra
sao? Còn hoạt động gì nữa không?”. Cha tôi có vẻ buồn, ông chớp mắt mấy cái rồi
hạ giọng: “Lúc nào cậu cũng muốn có một sự đoàn kết thật sự các anh em, đến bây
giờ cậu còn muốn những đảng viên trẻ tiến lên hàng lãnh tụ, những tầng lớp già
rút lui đến nếu cần thì làm cố vấn thôi”.
12 giờ trưa, cả nhà đông đủ, mẹ tôi ở dưới nhà lên, anh T. mới
ở Biên Hoà về, chúng tôi dùng bữa trưa rất vui vẻ. Cơm xong, tôi ngủ trưa, cha
tôi khác với lệ thường không đi nghỉ. Trong giấc ngủ chập chờn tôi nghe mơ hồ
thấy cha tôi và anh T. nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp. Đến ba giờ trưa tỉnh
giấc, tôi vẫn thấy hai người đang nói chuyện, mẹ tôi đã xuống nhà dưới tự bao
giờ. Tôi hơi ngạc nhiên thấy hai người uống Whisky, thứ rượu mà cha tôi đã bỏ từ
nhiều năm nay. Nhưng xem dáng, tôi thấy cha tôi rất vui vẻ, ông sốt sắng hỏi
tôi về chuyện học hành, chuyện đi dạy học của tôi. Nhân dịp này tôi có hỏi ý kiến
ông về việc có một số người lạ tới gặp tôi trong những ngày gần đây rủ tôi vào
một đoàn thể thanh niên mưu chống lại chính quyền Diệm. Cha tôi có vẻ lưu tâm đến
vấn đề, ông khuyên tôi phải nên thận trọng vì từ sau vụ đảo chánh thất bại ngày
11-11-1960, những đoàn thể đó có thể của Nhu tung ra để gài bẫy những người muốn
chống lại họ. Trong câu chuyện ông rất bình tĩnh, vui vẻ, giảng giải khúc chiết
khác hẳn thái độ của ông trong mấy ngày qua. Điều đó làm tôi vui lây. Tưởng như
câu chuyện ra Toà ngày mai không còn làm cha tôi quan tâm nữa. Uống xong ly rượu
nhỏ, cha tôi đề nghị mua thêm rượu mạnh nữa. Chúng tôi nghĩ có lẽ rượu làm ông
quên được những sự thắc mắc khó chịu nên chúng tôi rủ nhau đi, hẹn cha tôi 15
phút sau trở về ngay. Lúc tôi sắp bước xuống cầu thang, cha tôi gọi giật tôi lại,
tôi nghe ông gọi tên tôi bằng một giọng xúc động, nhưng ngay lúc ấy tôi không để
ý. Ông nhìn lâu vào mắt tôi, ngập ngừng đưa một cánh tay về phía trước như muốn
nói điều gì lại thôi, chỉ hỏi: “Đi có 15 phút thôi à?”. Đến bây giờ nghĩ lại
tôi còn nhớ rõ cái nhìn của cha tôi lúc ấy, ánh mắt như gửi đến tôi những điều
mà ông không thể diễn tả bằng lời.
Tôi chở anh T. đến đường Đồng Khánh, lúc ấy khoảng 4 giờ chiều.
Trời âm u buồn như muốn mưa. Chúng tôi vào mấy tiệm để lựa thứ rượu nào cha tôi
ưa thích. Cuối cùng chọn được chai Johnnie Walker, vừa đi ra thì trời lại đổ
cơn mưa to. Chúng tôi trú ở mai hiên nhà hàng Arc-en-ciel. Trời tối sầm lại.
Người đi đường chạy dạt vào hai bên trú mưa. Anh T. lộ vẻ băn khoăn, nóng nảy,
bứt rứt. Tôi thấy anh đứng một chỗ như không yên. Một chiếc tắc-xi vút tới, những
giọt nước mưa màu vàng sáng đan nhau líu ríu trước hai vệt đèn pha. Tôi ngạc
nhiên thấy anh T. chạy vụt ra đón chiếc tắc-xi ấy, mặc dù mưa rất nặng hạt. Anh
chỉ kịp nói với tôi một câu: “Mày ở lại đây, tao về trước!”.
Tôi nhìn những giọt nước mưa bắn toé bọt trắng ở bên mặt lộ,
hơi nước trắng nhờ phủ kín mặt nhựa. Thỉnh thoảng một chiếc xe xẹt ngang rẽ nước
sang hai bên. Bên cạnh tôi, dưới mái hiên một cô bé chừng 15 tuổi dứng khép nép
vào sát tường, cô ta căng cái ô ướt sũng nước về phía trước, nhưng những giọt
nước mưa quái ác vẫn bắn toé vào hai gót chân. Mái tóc của cô ta mềm phủ dài
sau lưng, bụi nước mưa phủ trắng lấm tấm như những hạt sương nhỏ.
Tôi nghĩ miên man đến những chuyện riêng rồi cuối cùng trở lại
chuyện cha tôi ngày mai phải ra toà, không biết gia đình có được vào xem xử án
không. Dần dà tôi khám phá ra hình như thái độ gần đây của cha tôi có một cái
gì khác thường tất cả diễn ra như sắp xếp theo một nhịp ngăn nắp, một trật tự đặc
biệt. Mọi thái độ, lời nói, cử chỉ của cha tôi mấy hôm nay mơ hồ như có liên
quan với nhau như âm thầm, dan díu, mưu tính để cùng tiến tới một ý định duy nhất.
Sự khám phá đó nở dần trong tôi một mối lo sợ, đầu tiên là những gợn lo âu vớ vẩn
có xen chút hoài nghi như một bộ hành sợ mưa khi nhìn thấy vài áng mây đen trên
nền trời xanh. Nhưng sau đó, kiểm điểm lại, thấy quả thật mọi việc đều ăn khớp
với nhau mật thiết như một sợi xích, thì lý trí tôi đã tìm được lý do để thông
đồng bào chữa cho nỗi lo âu của mình. Từ đó, lo sợ biến thành một cảm giác bàng
hoàng xâm chiếm ồ ạt con người tôi như một dòng nước mạnh phá vỡ con đê. Nỗi
bàng hoàng toả ra, lan ra khắp người như cảm giác đang khi ở trong phòng lạnh
chợt mở cửa bước chân ra ngoài đường phố.
Tôi bắt đầu đi vào giấc mơ. Trí óc tôi vẫn tỉnh suốt. Nhưng cảm
giác lạc đi, tê dại. Mưa vẫn quất xối xả. Tôi nhìn xuống mái tóc cô gái đứng
trú mưa cạnh tôi, rồi quay đi. Nhưng trong trí tôi vẫn còn vương lại hình ảnh
những bụi nước nhỏ lấm tấm, những bụi nước ấy cứ lởn vởn ám ảnh một cách dai dẳng
vô lý. Từ đó, hiện lên rất nhiều những đốm trắng nhỏ nhảy múa trước mắt, chúng
nở ra nhoà đi, rung rinh trên một nền trắng; trong đó là hình ảnh của cha tôi
buổi chiều ngày hôm trước, lúc ông đang nằm trên nệm trắng, vòng tay gối đầu,
ngửa mặt lên trần. Hai mắt ông màu nâu đục, cái nhìn xa xăm buồn bã như suốt đời
đi tìm chẳng bao giờ toại nguyện. Tôi tiến lại, đưa cho ông một tờ giấy tôi vừa
nhận được, trên góc có đóng hai chữ “Thượng khẩn” màu đỏ: người ta buộc cha tôi
đúng 6 giờ chiều ngày 6-7-1963 phải trình diện tại Tiểu đội Hiến binh số 635 đường
Nguyễn Trãi vì “một lý do sẽ cho biết sau”. Cha tôi nhỏm dậy, chống một khuỷu
tay lên giường, ngước nhìn đồng hồ. Tiếng máy xe mô-tô của người hiến binh nổ
dòn ở dưới nhà, nhỏ dần, loãng đi rồi mất hẳn. Cha tôi đứng dậy, mở cửa sổ,
trông xuống đường. Chặp sau, suy nghĩ hồi lâu, ông quay về phía tôi, bảo: “Con
mặc quần áo đi với cậu đến nhà chú K.”. Tôi hơi bực mình, vì chiều thứ bảy nào
tôi cũng có mục riêng, không đến chơi nhà mấy thằng bạn thì cũng chui vào rạp
xi-nê, nhưng tôi không dám trái lời. Trên chiếc tắc-xi rời chợ An Đông hướng về
miệt Sài Gòn, tôi thấy cha tôi cứ chốc chốc lại ngoái về phía sau. Ông bảo tôi:
“Con xem có xe nào theo không? Lúc nãy cậu thấy có mấy người lạ đứng bên kia đường
nhìn vào nhà mình”. Tôi ra hiệu cho tài xế rẽ quặt sang đường Trần Bình Trọng.
Chiếc xe hơi duy nhất chạy phía sau vẫn tiến thẳng đại lộ Thành Thái. Tôi đáp:
“Không! Không có xe nào theo mình cả!”. Cha tôi ngồi bên cạnh, một tay chống
lên má, cúi đầu nhìn xuống mũi giày. Ông có vẻ thật buồn. Má ông tôi thấy hóp
hơn; cha tôi trở về thái độ đăm đăm khó hiểu có từ mấy ngày nay. Tóc ông bị rụng
khá nhiều trong những ngày sau cùng nhiều suy nghĩ, nom xơ xác hơn, mấy sợi bạc
phất lơ thơ theo gió. Một lát, ông hơi giật mình ngẩng lên nhìn ra ngoài rồi bảo
tôi: “Sao không đi xe Vespa của con?” – “Sợ cậu mệt, xe con đi xốc lắm!”. Cha
tôi nhăn mặt: “Ối dào! Cần gì!”. Ông im lặng một lát khá lâu rồi nói tiếp, giọng
thật nhỏ nghe như một tiếng thở dài: “Từ trước đến nay, cậu đã đi xe con lần
nào đâu!”.
Một chiếc tắc-xi ở đằng xa vụt tới, cô gái đứng bên cạnh tôi
giơ cao ô, bước ra khỏi hiên, tay ngoắc rối rít, nhưng chiếc xe trên có người.
Tôi lắng nghe tiếng mưa rào rào. Để ý thấy tiếng mưa đang reo to bỗng như hụt
xuống, âm thanh trầm hẳn kéo dài dật dờ trôi từng đợt nhỏ dần về phía cuối đường.
Ở đó, như vỡ ra, tiếng mưa lại ào ào ran lên từng nhịp. Tôi ngẩn ngơ nghe tiếng
mưa trôi dạt rồi bỗng nhiên bị hút trong những hình ảnh vô trật tự, những mẩu đối
thoại ngắn hỗn độn, đồng thời cảm giác lo âu, bàng hoàng lại trở về, rối loạn,
mãnh liệt. “Người ta sẽ giữ tôi lại!”. Cha tôi bấm vào vai chú K., ra hiệu cho
tài xế về nhà, lúc chiếc tắc-xi tới gần Tiểu đội Hiến binh. Hình ảnh ban trưa
cha tôi và anh T. rì rầm nói chuyện. Gương mặt thảng thốt của ông lúc gắt với
chị Th. tối qua!” – “Chết! Sao hôm nay anh nói gì lạ thế!”. “Ngày mai, tôi ra
Toà. Họ xử tôi không biết bao nhiêu năm, biết còn sống đến ngày về không?”.
Thái độ bỏ về hốt hoảng của anh T. đang lúc mưa rơi nặng hạt. “Không! Không ai
xử được tôi đâu!”. Ánh mắt kỳ dị của cha tôi nhìn tôi hồi nãy: “Đi có 15 phút
thôi à?”.
Tôi không dám nghĩ tiếp. Tim tôi như đứng lại. Một cái gì ghê
gớm đang chờ tôi ở nhà. Tôi quay sang bên, người con gái có mớ tóc dài đã bỏ đi
từ hồi nào. Mưa vẫn chưa dứt. Nhưng tôi vẫn băng ngang đường, mở khoá xe. Một
chiếc xe buýt màu vàng nặng nề trờ tới, đổ xịch thả một bà cụ xuống vỉa hè.
Lúc tôi nhảy hai bước một lên cầu thang, nhìn vào phòng, thì
mọi chuyện đã xong xuôi cả rồi. Căn buồng đóng kín cửa, tối mờ mờ. Một bầu
không khí yên lặng trang nghiêm. Mùi hương đâu đây phảng phất. Cuối phòng vẫn
trên cái ghế xích-đu buổi sáng ông ngồi nói chuyện với tôi, cha tôi ngồi gục đầu,
hơi ngoẹo về phía vai phải, một cánh tay buông lỏng thả quệt xuống sàn nhà.
Dáng điệu ấy thoạt trông thì khổ sở nhưng nhìn gương mặt thì tuyệt nhiên không
một nét đau đớn. Ông như người ngủ một ít nước bọt nhỉ ra ở khoé mép. Anh T. từ
lúc nãy vẫn ngồi cúi đầu yên lặng, tưởng như không có mặt anh trong phòng, ngẩng
lên, tưởng như không có mặt anh trong phòng, ngẩng lên, tôi thấy mắt anh không
còn làm cho tôi ngạc nhiên nữa: “Cậu đã bỏ chúng ta đi rồi!”. Mẹ tôi đang thắp
hương lâm râm khấn trước bàn thờ, quay lại nhìn tôi, mắt cũng đỏ nhưng không
khóc, cái nhìn của bà dại đi như không còn nhận ra tôi là ai nữa. Bà phác vài cử
chỉ thừa thãi, rồi như người miên du bà bỏ đi xuống nhà. Đèn cầu thang vẫn bật
sáng từ trước, nhưng theo một thói quen vô ý thức, bà giơ tay bật đèn, thành thử
cầu thang lại bị tối om.
Trong suốt thời gian trú mưa dưới mái hiên nhà hàng
Arc-en-ciel, bàng hoàng và lo sợ đã xâm chiếm lấy tôi. Xúc cảm của tôi như bị
dãn ra tê liệt. Tới nỗi bõng dưng giáp mặt trước cảnh tượng này, tôi giản dị
quá. Nó mở ra trước mặt tôi một cảm giác mơn man êm ả; như một giải thoát thoải
mái. Tôi nghĩ: “Xong rồi!”. Và tự nhiên thấy tâm hồn mình trở nên bình tĩnh.
Tôi hỏi anh T.: “Anh gọi bác sĩ chưa?”. “Chú K. đi gọi bác sĩ Ph. từ 15 phút rồi!”.
Tôi hỏi tiếp: “Chú K. đến từ hồi nào vậy? Mà tại sao lại đến đúng lúc vậy nhỉ?”.
Không óc tiếng trả lời câu nói của tôi.
Cha tôi vẫn ngồi đó, không ai đụng tới. Trên một bàn nhỏ trước
mặt ông, chai rượu đã vơi gần nửa. Quyển Wuthering Heigths của Brontë còn mở rộng
trước mặt. Thời khắc trôi qua rất chậm. “Phải làm một cái gì chứ”. Tôi nghĩ.
Nhưng không biết sao tôi vẫn ngồi bất động ở trên đi-văng. Căn phòng tự nhiên tối
tăm và yên lặng quá. Tiếng quạt trần quay chậm rì rầm, rì rầm. Căn nhà sát bên
vọng sang một tiếng quát mắng: “Cho mày chết!”. Rồi có tiếng guốc hấp tấp xuống
cầu thang, giận dữ. Im một lát. Tiếng một thằng bé oà lên khóc. Tiếng khóc thê
thảm kéo dài mãi không ngớt, tôi chú ý nghe mà gần muốn hụt hơi. Tôi nghĩ thầm
trong trí: “Thằng bé nào mà khóc dai vậy nhỉ?”. Rồi lắng tai chờ đợi, xem người
chị vừa bỏ xuống nhà khi nãy có trả lên dỗ nó không? Khung cảnh ấy thường xảy
ra từ bao nhiêu năm nay không bao giờ tôi chú ý, bỗng dưng vô lý lại ám ảnh tôi
quá đáng. Những tiếng động vang sang rất rõ, có lẽ là còn nét hơn cả mọi lần,
nhưng tôi nghe vẫn thấy như lạc đi, như tất cả cái sinh hoạt ấy thuộc về một thế
giới khác, một thế giới thực sự, quen thuộc nhưng xa xăm, không còn liên lạc gì
với tôi nữa.
Mẹ tôi bắt đầu sụt sùi. Tiếng anh T. gắt, nhưng vẫn cố đè giọng
thật nhỏ: “Mợ khóc làm gì? Có ích gì đâu?”. Anh đến sát bên, nhấc cánh tay cha
tôi lên, bắt mạch. Lát sau anh nói: “Mạch yếu lắm! Khiêng cậu lên giường mau!”.
Chúng tôi choàng một cái chăn lên dày lên người ông, phải khó khăn lắm mới mang
nổi cha tôi lên giường. Thân thể ông mềm ra, nên khi hai người khiêng, người
ông trũng ở giữa như một chiếc võng. Anh T. rút trong túi cha tôi một tờ giấy,
giơ tôi xem nói: “Di ngôn của cậu đấy! Giấu thật kỹ! Đừng để cho tụi mật vụ nó
cướp lấy!”.
Có tiếng nói lao xao ở dưới nhà. Tôi thở ra khi nhận được giọng
nói quen thuộc của bác sĩ Ph. và của chú K, bác Ph., tay xách cặp da y sĩ, bước
vội lên lầu. Tiếng bác nói rất lớn, tôi có cảm tưởng như ông vừa mang sự sống
cho căn phòng này: “Rõ khổ! Mới buổi sáng nay anh Tam còn lại nhà tôi mà! Khổ
quá!”. Bác bước vội lại bên giường giở chăn, áp sát tai vào ngực cha tôi nghe
ngóng. Ông hấp tấp mở cặp da, cưa ống thuốc, chích cho cha tôi một mũi vào gân
máu. Mẹ tôi lo lắng hỏi: “Thế nào?”. Bác thu mũi kim vào, tra vào cặp, lắc đầu
trả lời: “Phải chở gấp vào Grall! Để lâu thuộc độc ngấm vào máu không chữa được
đâu!”.
Cha tôi kể như đã mất lúc mang đến bệnh viện. Nhưng điều này
– ngay lúc ấy – không ai dám nghĩ tới. Câu nói của bác sĩ Gourillon không làm
cho chúng tôi hoàn toàn tuyệt vọng. Bác sĩ Ph. khẩn khoản: “Faites quand même
quelque chose pour lui”. Chú K. cũng tiến tới, xúc động còn in rõ trên nét mặt,
giọng chú lạc hẳn, tới nỗi tôi tưởng đâu chú đang xúc phạm viên bác sĩ Pháp:
“Fais l’impossible!”. Người ta chở cha tôi lên lầu. Trong một phòng nhỏ có máy
lạnh, viên y tá bơm dưỡng khí vào phổi cha tôi. Ngực ông thở nhấp nhô đều đều.
Mãi sau này, khi nghe bác Ph. trình bày lại là bác sĩ Gourillon đã tính cho chở
thi thể cha tôi vào phòng xác ngay sau cuộc khám xét sơ khởi ấy, tôi mới chịu
tin rằng cha tôi đã bỏ đi ngay từ buổi chiều hôm đó, ngày 7-7-1963, có lẽ vào
lúc mà tôi ngước nhìn lên những hàng cây của khu công viên bệnh viện đứng rũ
mình dưới bầu trời màu xám chì thảm đạm. Và tất cả những gì người ta đã làm
theo sự khẩn nài của chúng tôi – từ sau đó đến nửa đêm, với tất cả những phương
tiện tối tân của bệnh viện, là chỉ cốt gây cho cha tôi một sự sống giả tạo để
kéo dài hy vọng cho những người còn lại, cho những giọt nước mắt khoan chảy
trên gò má chúng tôi.
Khoảng 7 giờ hơn. Một màn tím thẫm phủ kín khu nhà thương. Cuối
con đường lát sỏi của khu vườn hoa, một cột đèn sắt gục đầu phả ánh néon lạnh lẽo.
Giờ thăm bệnh đã hết từ lâu. Người gác cổng khom lưng đẩy hai cánh cửa sắt nặng
nề. Cười, vì trường hợp đặc biệt, được phép suốt đêm ở lại bệnh viện. Trên một
chiếc ghế dài ở hành lang, anh T. và tôi từ lúc nãy không ai nói một câu. Anh để
hai tay lên đùi, nhìn xuống sàn. Lát sau, vẫn không ngẩng lên, anh nói: “Liệu
có qua được không?”. Tôi đáp: “Hy vọng lắm! Có gì trễ đâu! Cậu uống được vài tiếng
thì mình đã mang vào nhà thương rồi”. Ở đầu kia, một bác sĩ Pháp đẩy cửa phòng
cha tôi bước ra, ánh đèn hắt ra ngoài cắt một khoảng sáng trên nền hành lang tối
sâu thăm thẳm. Bác Ph. đứng ở cửa chặn lại hỏi thăm. Hai người thì thầm nói
chuyện rất lâu: “Lúc anh bỏ về thì cậu đã uống chưa?”. “Rồi! Có lẽ ngay từ lúc
tụi mình vừa đi khỏi, nhưng ông còn tỉnh lắm, vừa thấy tao là ông hỏi ngay: Đi
gì nhanh thế? Tao giơ chai Walker lên bảo ông: Rượu đây, cậu uống cho say rồi
quên cái ý tưởng muốn tự tử tối hôm nay đi, người ta chẳng đáng để cậu bận tâm
đâu! Ông không nói gì cả, rót rượu vào cốc, uống một hơi cạn liền. Uống xong
ông lại rót đầy một ly nữa, rôi cũng uống một hơi cạn. Kể thì cũng hơi lại,
nhưng thấy ông xuống buổi chiều nay vui quá tao cũng không để ý”. Tôi giơ tay
ngắt lời: “Sao anh biết tối nay cậu tự tử?” – “Chính ông nói mà, vào buổi trưa
lúc mày còn ngủ quên trên giường. Ông tin việc làm của mình là phải nên không
giấu. Ông bảo đêm nay 10 giờ cứ để ông ngủ như thường. Sáng mai, đánh thức dậy
là xong rồi. Tha hồ để cho người ta xử. Ý ông đã quyết như thế, ông bảo nếu
không xong hôm nay, thì vào khám cũng chết. Tao đã có kế hoạch đối phó cả rồi nếu…
tối nay ông tự tử thật”. Anh T. dừng lại, di một ngón tay lên đùi, lát sau anh
hạ giọng: “Nhưng không ngờ ông lại làm sớm thế…”. Tôi bất thần quay hẳn sang
phía anh tôi, hỏi: “Còn tờ di chúc cậu viết hồi nào vậy?” – “Có lẽ hồi sáng,
tao cũng chẳng biết, ông uống hết cốc thứ ba rồi thì thò tay vào túi rút ra cái
tờ giấy ấy đưa cho tao xem. Đến lúc ấy tao mới biết là ông tính làm thật. Tao
đã định chốc nửa ông ngủ sẽ lục túi ông lấy thuốc độc giấu đi; ông dặn tao là tờ
di ngôn này phải đưa cho ông Đặng Văn S., bác sĩ Đặng Văn S., và nhờ ông chuyển
đi ngoại quốc. Còn liệu có thể đưa cho ký giả Mỹ Pháp được thì khỏi cần. Lúc ấy
ông như sực nhớ ra điều gì, đi lại bàn viết. Tao thấy ông có vẻ mệt, ông ngồi
lên thế tay run run viết bản thứ hai giống hệt bản thứ nhất. Bản này chữ xấu lắm,
nét nguệch ngoạc rời rạc những dấu phẩy nằm bên cạnh nhau. Sau này nhìn kỹ tao
mới thấy hai bản khác nhau một chữ. Bản thứ nhất: Tôi không chịu để ai xử cả, bản
thứ hai thì: Tôi không chịu để ai xử tôi cả 1. Viết xong ông nói: Tí nữa thì
quên, phải viết hai bản thế này nhỡ nó tóm được một thì còn bản kia chứ. Ông
giơ tay che miệng ngáp một cái dài ròi nói: Gớm! Buổi trưa mải nói chuyện,
không ngủ, bây giờ mệt quá. Ông nhìn ra cửa sổ, nhìn bầu trời ướt sũng nước
mưa, rồi nói, rất nhẹ, nghe như hơi gió: Trời hôm nay đẹp quá… Tao quay lại thì
ông đã ngủ rồi. Đó là câu nói cuối cùng của ông. Tao cứ để yên ông ngủ, bỏ xuống
dưới nhà. Lát sau, lên nhà thì thấy ông nằm trên ghế có vẻ gì khác lạ dáng điệu
khổ sở quá, tao nhìn chai rượu vơi gần nửa rồi mới sực nhớ đến cử chỉ của ông
lúc nãy. Khi ông uống đến cốc thứ ba, ông như tọng rượu vào đầy người chứ không
có vẻ gì là ngon lành cả. Hình như có cái gì chặn tay ông lại khiến ông phải cố
gắng lắm mới nâng nổi cốc lên miệng. Ông hấp tấp uống như muốn để nén một cái
gì. Lấy làm lạ, tao thử lay lay ông dậy nhưng thấy người ông mềm hẳn ra. Tao
tái người vội vàng chạy xuống nhà gọi mợ lên. Tao nghĩ ngay đến việc gọi bác
sĩ, nhưng vừa mặc quần áo xong thì chú K. cũng vừa tới nơi”. Anh ngừng lại, nắm
chặt tay đập lên đùi: “Không hiểu sao tao không nghĩ là ông có thể tự tử ngay
trước mặt mình, tao cứ nghĩ người ta phải tự tử ban đêm, từ lúc tao về đến nhà
có đầy 15 phút đâu?”.
10 giờ đêm. Bác Ph. gọi riêng chúng tôi báo cho biết cha tôi
khó qua khỏi đêm nay. Chúng tôi bàng hoàng sửng sốt cả người. Mẹ tôi bảo chúng
tôi phải báo tin ấy cho những người thân. Trên chiếc xích lô máy rời bệnh viện,
tôi quay sang anh T. hỏi: “Cậu uống gì mà có thể chết nhanh vậy nhỉ?”. Anh đáp:
“Không biết, vừa rồi bác sĩ phân chất thấy không có thuốc ngủ trong nước tiểu.
Chắc là phải mạnh lắm, rồi lại thêm rượu vào nên mới nhanh thế!”. Tôi lại hỏi:
“Buổi trưa cậu nói gì với anh?” – “Ông dặn tao rất nhiều điều phải làm sau này.
Đầu tiên ông nói về phong trào đấu tranh của Phật giáo, tới vụ tự thiêu của Thượng
toạ Thích Quảng Đức, tới việc ngày mai ra Toà, rồi ông kết luận là ông phải chết
như Thượng toạ để đẩy mạnh thêm phong trào tranh đấu chống chính phủ Diệm. Tao
có nói rằng cậu hy sinh như vậy phí đi. Nhưng ông có vẻ giận tao về câu ấy lắm,
ông bảo cứ nghĩ như thế thì chẳng làm được gì cả. Nếu cái chết có thể cảnh cáo
được họ hay ít ra cũng có một tiếng vang thì còn tiếc gì thân mình nữa. Ở nhà
bác tôi trở về bệnh viện chúng tôi đi trên hai chiếc xe hơi. Dự định là sẽ họp
nhau lại tối nay để bàn kế hoạch đối phó, phân công. Nếu cha tôi mất đêm nay,
ngày mai sẽ mở ra đầy bất trắc. Người ta có thể xông vào nhà tôi cướp tờ di
ngôn ấy không? Làm sao cho tờ giấy ấy có thể lọt ra ngoại quốc, thoát các bàn
tay mật vụ? Lúc ấy 11 giờ đêm, hai xe đi cách nhau 50 thước, lướt trên những
con đường về đêm vắng ngắt. Một hồi đến ngã tư Duy Tân, Hồng Thập Tự, xe trước
đi mất hút. Anh L. làu nhàu gắt gỏng: “Thằng Q. đi gì mà kỳ cục vậy?”. Nhưng
vòng một lát gần đến bệnh viện thì bắt gặp lại xe đi trước. Tôi thốt nhiên chú
ý tới một xe traction mang số NBN màu đen đi lủi theo sát lấy xe của Q… Xe này
vừa quặt sang đường Nguyễn Du, xe traction bám theo liền. Anh L. chỉ tay cho
chúng tôi thấy, kêu lên: “Xe mật vụ!”. Rồi anh đập tay lên bánh lái, giận dữ:
“Tụi này nó thính mũi như ruồi!”.
Nửa đêm, tôi đứng tựa lan can, nhìn lên bầu trời lòng trĩu nặng.
Các bác sĩ Grall vừa báo cho biết cha tôi chỉ còn sống được 15 phút nữa. Tất cả
những căn phòng khác mấy khu bệnh viện đều rơi vào bóng tối và yên lặng. Chỉ trừ
phòng cha tôi đèn còn bật sáng. Người nữ y tá rời phòng đi ra, lặng lẽ cúi đầu
bước xuống cầu thang. Chừng hơn mười người thân thuộc đứng nói chuyện nhỏ tiếng
trước cửa phòng. Anh B. ngồi lẻ loi trên một chiếc ghế dài, buồn bã. Đèn phòng
hắt ra, đổ dài bóng anh trên nền hành lang lạnh lẽo. Có tiếng vài người khóc.
Tiếng mẹ tôi trong phòng lọt ra thảm thiết: “Anh Tam ơi! Anh bỏ…”. Tôi há miệng
ra, ngăn chận một xúc động đang dâng lên đầy ngực, nhưng không kịp. Hình ảnh
cha tôi nhoè ra, rạng rỡ tươi cười, hình ảnh ấy của 5 năm về trước, lúc ông vừa
xem xong một truyện ngắn của tôi tả về cái chết của ông. Trong đó tôi kể một buổi
đi chơi núi, cha tôi với một nhánh Huyết-nhung-lan ở bờ vực, rồi hụt chân ngã
xuống khe. Người ta vực ông về nhà nhưng đến bên dòng Đa-mê thì ông tắt thở,
sau khi mỉm cười nhìn lần cuối cùng vườn hoa của mình. Ông ưa nhất chuyện ấy. Mỗi
lần đọc ông lại mỉm cười thích thú. Nhưng ông không đưa cho ai xem, sợ người
khác không hiểu cho tôi bất hiếu. Thành thử mỗi lần khoe ai về chuyện ấy, ông
có vẻ bực tức khi thấy người đối diện lộ vẻ không tin. Một lần tôi hỏi ông: “Chết
rồi sẽ ra sao nhỉ?”. Ông nghỉ một hồi, cười trả lời: “Hồi bà Trưng chắc chắn là
mình chưa ra đời chứ gì? Thế mình ở đâu? Chết tức là trở về mình hồi ấy đó!”.
Có tiếng xôn xao. Mọi người đổ dồn vào phòng. Khi tôi chạy lại
bên giường thì vừa kịp thấy ngực cha tôi ngưng thở. Ngay lúc ấy, một cái gì thoảng
qua rất nhẹ trên nét mặt ông. Nhưng khi nhìn kỹ, thấy gương mặt không có gì đổi
khác tôi biết là mình đã quá giàu tưởng tượng. Hai ba người hỏi lao xao: “Mấy
giờ rồi? Mấy giờ rồi?”. Không ai trả lời. Mẹ tôi oà lên khóc ngất. Tôi bỏ ra
ngoài. Gió từ phía sau nhà thương thổi lạnh gây gây. Một lần nữa, tôi nghĩ thầm
trong trí: “Xong rồi!” và thấy chỉ còn trong người một mối uất hận man dại thấm
thía. Trước mặt tôi lơ lửng một cái màng mỏng phất phơ qua lại, tôi nhớ mình vừa
thấy đâu đây một cái màng nhện giăng ở góc tường. Bỗng nhiên trong người tôi nở
dần ra một cảm giác lan ran, một cái thú tê dại khổ sở đau thương như cái thú
nuôi nấng một mối căm hờn, cái thú sung sướng man dã khi bắt gặp một người bạn
thân mà mình bấy lâu đối xử tử tế bỗng dưng trở mặt lừa đảo lại mình.
Từ hồi sáng, cha tôi vẫn bận quần áo ngủ. Mẹ tôi đòi thay quần
áo Tây cho ông trước khi đưa vào phòng xác. Cánh tay ông lỏng lẻo quá, không thể
nào bỏ được vào ống tay áo, trừ khi nhét thật mạnh vào, nhưng tôi lại sợ ông
đau. Tôi phải cố nghĩ: Ông không còn biết đau là gì đâu, mới làm xong được việc
ấy. Lát sau trên chiếc xe hồng thập tự bít bưng của bệnh viện, mẹ tôi và chúng
tôi ngồi trên hai dãy ghế dài, yên lặng không nói một câu. Trên băng-ca đặt dưới
sàn, một mảnh vải trắng rộng phủ lên thi thể cha tôi. Chiếc xe lướt êm quanh co
trên những con đường nhỏ của khu nhà thương mênh mang. Đến trước cửa nhà xác,
xe ngừng lại; người gác-dan ngái ngủ, dụi mắt, mở cửa sau, phụ với viên tài xế
khiêng băng-ca xuống. Tôi bước vào nhà, dừng mắt trước một cánh cửa dày kẻ một
hàng chữ đỏ chói: “Buồng lạnh. Triệt để cấm vào”. Người gác-dan tra khoá vào ổ,
chiếc cửa nặng nề mở ra, có tiếng máy chạy ù ù. Bên trong, một làn ánh sáng nhợt
nhạt. Khí lạnh toát ra gai người, mấy dãy giường sắt khô khan. Một cái xác đã nằm
sẵn trong góc trái. Tôi hơi ghê sợ với ý nghĩ tối nay cha tôi phải nằm đây một
mình. Chúng tôi vén tấm vải lên, nhìn vào gương mặt ông, ghi nhớ hình ảnh ông một
lần cuối: Mắt ông đã nhắm lại. Từ nay chúng tôi không còn được thấy cái tật hay
chớp mắt của ông, cái nhìn buồn bã vô tận ấy nữa. Râu của ông lưa thưa màu muối
tiêu, riêng đôi lông mày vẫn còn rậm rạp. Tóc ông lưa thưa như hói phía trên, lộ
cái trán rộng mênh mang.
Anh T. bỏ tấm vải che mặt xuống. Tôi nhớ tới hình ảnh vui vẻ
của ông mới hồi trưa, tới niềm vui bèo bọt của tôi hồi chiều lúc ông bảo tôi đi
mua rượu, tới ánh mắt nhìn tôi rất lạ và câu nói sau cùng mà tôi được nghe thấy
ở ông: “Đi có 15 phút thôi à?”. Rồi quay sang phía mẹ, tôi nói: “Thôi! Cậu đã bỏ
đi thật rồi!”. Tôi chợt chú ý giọng nói của mình, âm thanh như đứng một chút ở
cửa miệng, ngỡ ngàng như giọng nói của một người khác. Rồi bỗng tôi thấy câu
nói của chính mình nghe tội nghiệp, thảm thương quá. Chữ “bỏ đi” nhắc nhở tôi một
cái gì mất đi hoàn toàn, một hình ảnh không còn nữa hay không bao giờ còn trở lại.
Một mối xúc động lại dâng lên chặn lấy ngực tôi nặng như một khối đá, tôi há miệng
ra, quyết chặn đứng một lần thứ hai không cho lên cổ, nhưng không còn kịp nữa.
Lúc ấy một giờ ba mươi. Khi tôi ngẩng lên, các vì sao lấp
lánh trên bầu trời đã lung linh nhoè nhoẹt cả rồi.
--------------------------------
1 Bản này sáng hôm sau chúng tôi mang đến 19 Ngô Đức Kế, đưa
cho Hãng Thông tấn U.P.I. làm photocopy và phổ biến trên báo Newsweek và Time.
Thế Uyên - Người Bác.
Đôi khi, sau buổi chiều ôm một tấm ván bơi lang thang khắp hồ
Tây tìm củ ấu nước, tôi ngồi nghỉ trên bờ cừ kể cho mẹ tôi cuộc phiêu lưu trong
nước vừa qua, bà ngừng giặt áo, nói với giọng giản dị: “Các bác ngày xưa bằng
tuổi mày, đâu có nghịch đến thế!”. Giọng của bà không có gì là trách móc nhưng
tôi cũng giận dỗi nhảy tùm xuống hồ,và chỉ lên khi trông thấy ba tôi xuất hiện
trên đường làng Yên Phụ. Đôi khi những ngày ngày-xưa được mẹ tôi nhắc đến qua
những hình ảnh làm tôi thích thú nghe hơn: “Cây liễu này chú Sáu trồng khi mới
tới ở đây. Du cùng tuổi với nó đấy”. Tôi nhìn cây cổ thụ thân nâu sần sùi nứt nẻ
cành mềm rũ xuống mặt nước, cảm thấy một hãnh diện, một liên đới thân mật mơ hồ.
Có sáng mùa đông, tôi lục tủ sách mang truyện ra, leo lên ngồi cạnh mẹ tôi đang
khâu vá. Mẹ tôi nhìn qua cửa kính, vẻ mặt buồn, tôi nhìn bà, tiếng thuyền chài
gõ trên nan tre qua cửa kính lọt vào phòng. “Chắc những ngày này bên Vân Nam có
tuyết. Chẳng biết các bác có áo ấm không…”. Tôi vứt sách, nằm gối đầu lên đùi
bà. Mẹ tôi mỗi lần nhắc tới các bác, giọng bao giờ cũng mang một nỗi buồn lo lắng
làm tôi nghĩ đến những hiệp sĩ lâm nguy trong những truyện cổ tích. “Du cũng
thích tuyết, bao giờ các bác về, me nhớ cho Du đi theo…”. Mẹ tôi cười, sang dĩ
vãng khác: “Mùa lạnh hồi trước, những ngày như thế này, các bác các chú thể nào
cũng về đây, đốt lò than để ngay giữa phòng, uống rượu với mực nướng, ngắm hồ
và cây liễu”. Tôi ngồi dậy dí mũi vào cửa kính lạnh, tò mò nhìn cây liễu trụi
lá, không hiểu nó có gì lạ để các bác phải ngồi ngắm.
Mùa hè, tôi và Lam suốt ngày bơi thuyền, lội dưới nước hái củ
ấu, tìm hoa sen. Buổi chiều, ba tôi ở toà báo về, ba bố con vác cần ra câu cá
cho mẹ tôi nấu canh buổi chiều. Mùa đông, hai đứa chạy trên những con đường lát
ạch đỏ, vác gậy săn thằn lằn, leo cây đa cổ thụ để tưởng tượng mình đang làm
thuyền trưởng trên tàu đi thám hiểm Bắc cực. Những khi thời tiết quá lạnh, bọn
tôi ngoài giờ học, cạy tủ sách lớn lục đọc trộm những cuốn tiểu thuyết ba tôi
chưa cho phép cầm tới. Vụ vi phạm này đến tai ba tôi, không biết hai ông bà quyết
định ra sao, chỉ biết hậu quả là thỉnh thoảng tôi dắt hai đứa lên Hà Nội, đến
toà báo, - thế giới thần tiên của tôi và Lam. Hai anh em đứng hàng giờ nhìn máy
in chạy, táy máy lấy chữ xếp tên mình cho tới khi ba mẹ tôi từ phòng các bác xuống,
dẫn bọn tôi ra Thuỷ Tạ. Hai ông bà ngồi uống rượu nóng pha chanh, hai anh em sốt
ruột ngồi trước đĩa lạc: chồng tiểu thuyết ba tôi trao cho Lam ôm từ lúc rời
toà báo đang nằm trên bàn chờ đợi. Tôi dùng thìa vớt những miếng chanh nóng, bỏ
vào miệng ngậm, luôn luôn giục mẹ uống mau hết rượu. Sau đó gia đình tới một hiệu
sách quen. Lam đặt chồng tiểu thuyết trên quầy, lúi húi biên những số tiền dài
trên một tờ giấy. Tôi để mặc Lam, chạy đi chạy lại ngắm những tập Truyền bá, Tuổi
thơ, những tập sách Pháp in hình Bạch Tuyết có đôi mắt to cắn quả táo đỏ bự.
Khi Lam và chủ hiệu đã cộng xong những con số, hai anh em bắt đầu chọn sách. Ba
tôi mang một số sách của Nhà xuất bản Đời Nay đến để bọn tôi đổi lấy những truyện
nhi đồng. Tôi xếp một chồng cao trước mặt, mở trang đầu, truyện nào bắt đầu bằng
hai chữ “Ngày xưa…” mới chọn. Khi trở về làng, trời lạnh cóng, tôi nhìn thấy từ
xa ánh điện lọt qua cửa sổ nhà, lòng đầy háo hức. Số truyện này đủ cho hai anh
em bận bịu một vài tuần mùa đông khỏi chọc phá các em hay chui vào bụi săn thằn
lằn. Đến khi số truyện nhi đồng đọc hết, khi Lam bắt đầu cạy tủ lớn tìm Hồn bướm
mơ tiên, là mẹ tôi sửa soạn quần áo dẫn hai anh em tới toà báo. Bà lại lên gác
gặp các bác, tôi và Lam lại đứng ngắm máy in. Lại những miếng chanh tẩm rượu
nóng bỏng, hiệu sách và ban đêm trở về, mong ngóng từ xa ánh đèn cửa sổ nhà.
Ba mẹ tôi có một quan niệm đặc biệt về giáo dục con cái:
không có một kiềm chế nào. Ba tôi làm quản lý báo Phong hoá, Đời Nay và Nhà xuất
bản Đời Nay, suốt ngày ở toà soạn. Còn mẹ tôi, ngay từ lúc Lam chưa tới mười tuổi,
đều coi hai con trai như đã lớn. Thỉnh thoảng, Lam được mẹ tôi sai về thăm bà nội
ở làng Bằng Hà Đông. Chỉ có một chiếc xe đạp nên chỉ có một mình Lam được đi.
Tôi ngơ ngẩn ngồi trên cây đa đầu làng, đợi Lam về. Chiếc xe đạp sau một chuyến
đi xa, lúc về bao giờ cũng mang đầy những món quà đồng quê. Tôi nhận thấy mỗi lần
Lam đi như vậy, mẹ tôi có vẻ bồn chồn lo lắng. Bà ngồi khâu trên bục gạch dưới
bụi tre, chờ đợi. Tuy thế không bao giờ bà tìm cách cản bọn tôi trong một cuộc
phiêu lưu dài ngắn mà óc tưởng tượng trẻ thơ của tôi và Lam có thể nghĩ ra được.
Có lần hai anh em mượn canoé của nhà thuyền gần nhà, chèo sang thăm gia đình
bác Long ở biệt thự làng Thuỵ Khê bên kia bờ hồ. Biệt thự bỏ không, chắc đã hết
hạn thuê, tôi và Lam trở về không được. Sóng to và gió ngược chiều. Những cánh
tay còn non của hai đứa không đủ sức chèo về, phải nằm lại đó tới chiều, ba tôi
cùng bác cai thuyền sang kiếm. Gần tắt nắng mới về đến nhà. Từ giữa hồ, tôi đã
thấy mẹ như một vệt trắng bất động dưới gốc cây liễu. Mắt bà đỏ hoe nhưng không
nói gì cả, ôm tôi, - lúc đó mệt nhoài, vào nhà. Bà đã tưởng bọn tôi chìm thuyền
ở đâu rồi. Sợ bị ba mắng, tuy ông cũng chẳng nói gì, bọn tôi chừa đi chơi xa được
ba hôm. Đến hôm thứ tư, Lam mua hai súng cao-su, rủ tôi mượn thuyền đánh cá
hàng xóm đi săn ven hồ, mẹ tôi lại cho đi.
Các bác các chú, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam… chưa hề xuất
hiện suốt thời thơ ấu của hai anh em trong làng nhỏ tứ bề nước bao quanh này.
Các người đó, chỉ như những hình ảnh tương tự các nhân vật thần thoại. Các bác
“làm báo”, viết văn, “làm cách mạng”… Những danh từ ấy chưa có nghĩa gì cả đối
với tâm hồn còn đơn sơ của tôi. Trong thời kỳ tản cư sau 1946, gia đình tôi
luôn luôn di chuyển. Mẹ tôi cắt nghĩa: “Tại các bác chống ông Hồ”. Tôi và Lam
cũng không hiểu rõ gì hơn, chỉ thấy phục các chú và bác như phục các anh hùng
trong truyện. Có vậy thôi, vì tới khi trưởng thành, hai anh em mới thực sự tiếp
xúc và biết mặt những người bác thần thoại ấy – những người dám chống các “ông
Tây” dám chống “bác Hồ”, những người làm thơ văn dưới gốc liễu và ngắm tuyết
rơi bên Tàu.
Tới năm 1945, 1946, tôi mới bắt đầu trông thấy các bác các
chú. Khoảng thời gian này ba tôi ít khi về nhà, hai ba ngày liền không rời toà
báo. Lam và tôi không yêu bố nên không khó chịu. Đôi khi Lam có hỏi, mẹ tôi trả
lời vắn tắt: “Ba bận làm việc với các bác”. Tuy nhận xét còn non nớt, nhưng tôi
cũng nhận thấy dân làng giành cho gia đình tôi nhiều kính nể hơn mức thường.
Tôi khoái trí vì leo vào vườn ông lý ăn trộm ổi không bị chủ thả chó ra đuổi,
mượn thuyền đi chơi hồ dễ dàng. Một buổi sáng, tôi và Lam đang leo lên nóc nhà
treo cờ đỏ sao vàng lớn kèm theo một chuỗi nhỏ cờ các quốc gia đồng minh, mẹ
tôi gọi: “Về giúp mẹ, chiều nay bác Tam đến ăn cơm”. Tôi và Lam chờ đợi cả buổi
trưa ở đầu làng người bác “làm cách mạng bên Tàu” mới về. Khi bác ngồi trong ghế
uống trà ngắm hồ, tôi ôm cột nhà ngắm bác. Dưới cái nhìn trẻ thơ hồi ấy, người
bác cao lớn mắt sáng không làm tôi thất vọng so với hình ảnh vẫn tưởng tượng.
Tôi chỉ tiếc một điều sao mũi bác đỏ quá. Hiệp sĩ anh hùng tôi đọc trong truyện
không ai có mũi đỏ bao giờ. Tôi đưa ý nghĩ ấy ra lời nói. Cả nhà cười và bác cắt
nghĩa lý do tại sao mũi lại đỏ. Tôi không nhớ rõ những cắt nghĩa, chỉ nhớ hình ảnh
bác ngồi trong ghế, ánh mắt nét mặt tươi sáng nhìn hồ Tây chiều hôm ấy. Cách một
thời gian, một buổi chiều lạnh, gia đình tôi đi uống rượu rồi lang thang trên
các vỉa hè Hà Nội. Một đoàn xe dừng lại trước một toà nhà lớn ngay chỗ gia đình
tôi sắp đi qua. Bác Tam bước xuống, trông thấy chúng tôi. Bác lại gần bắt tay
ba tôi, nói vài câu. Tôi đứng sững nhìn người bác cao lớn mặc áo blouson da đen
bóng loáng. “Bác làm Bộ trưởng.” Trong ý thức trẻ con, tôi chỉ biết bác không
kém gì bác Hồ tụi nhi đồng ca tụng hằng ngày. Còn ngoài ra, tôi không hiểu gì
hơn. Đó là lần chót tôi gặp bác trong tuổi ấu thơ. Gần sáu năm sau, tôi mới gặp
lại con người phiêu bạt ấy.
Vài tuần hay vài tháng sau, tôi không nhớ – đối với tuổi thơ
thời gian chưa có nghĩa gì cả, chú Bách về thăm. Trong các bác các chú, chỉ có
Chú Bách, em trai út mẹ tôi, là chúng tôi biết rõ nhất. Chú từng về ở với gia
đình tôi mỗi vụ hè. Đêm chú học để đèn sáng. Nhiều lần tôi cương quyết thức cho
tới khi tắt đèn. Nhưng mắt tôi bao giờ cũng cụp xuống rất nhanh, chưa lần nào đợi
được để biết chú thức đến mấy giờ. “Chú học thuốc”, mẹ tôi nói vậy. Lũ chúng
tôi, Lam, tôi, Lan và Liên rất yêu chú. Chú hay dẫn bọn cháu đi chơi xa, kể
chuyện ma cho nghe. Những chuyện ma đại loại: “Ngày xưa có một con ma lưỡi dài
17km, chân dài 90km…” Tôi và Lam đã lớn không thích thú, nhưng Lam bao giờ cũng
đứng bám vào thành ghế, nhìn chú, mắt tròn xoe nghĩ đến con ma “có lưỡi dài
17km” của ông chú trẻ tuổi. Chiều chiều, chú tổ chức chơi cá ngựa. Chú, Lam,
Liên và tôi mỗi người một chuồng. Liên bé nhất, ngựa bao giờ cũng về bét, và
bao giờ thấy thế cũng khóc nên chú đặt giải thưởng: về nhất ba hào, về nhì một
hào, về bét hai hào. Giải thưởng kỳ cục như vậy có lý do: Lam và tôi bao giờ
cũng tranh giải nhất và chú thì chỉ thích đá ngựa của tôi và Lam. Mỗi lần xúc xắc
ra số phải đá ngựa Liên, chưa cầm quân, Liên đã rưng rưng nước mắt nên chú đặt
thêm lệ: “Ai đá ngựa Liên phải bồi thường một hào!”. Bàn cá ngựa với những luật
lệ kỳ khôi ấy làm bốn chú cháu say mê suốt những chiều hè. Hết hè, chú lên Hà Nội
học tiếp. Thỉnh thoảng nhớ quá, Lam dắt tôi và Liên lên chơi. Đến chú là một
phiêu lưu nhỏ. Có khi leo cầu thang, Liên đụng đầu với một con rùa to bự đang
thò đầu ra nhìn Liên ngạc nhiên. Lần sau đến, thêm ba con rùa nhỏ xíu. Chú bảo:
“Con rùa lớn đẻ ra đấy”. Chú vẫn vui tính, nhưng thôi không kể chuyện con ma
“có lưỡi dài 17km” cho nghe nữa và cũng không đưa bọn tôi đi chơi phố. Chắc chú
thấy lũ cháu không hấp dẫn bằng những cô gái chúng tôi gọi bằng chị mà mỗi lần
tới, lại thấy một chị khác. Bẵng đi một thời gian lâu, đến hôm nay chú mới trở
về làng trong một không khí, tuy còn ít tuổi tôi cũng nhận thấy, nhiều đe doạ.
Chú đi với hai người hộ vệ. Khi thọc tay vào túi áo blouson để tìm kẹo, tôi lôi
ra toàn đạn súng lục. Chú đưa tôi và Lam coi súng, tặng mỗi đứa một viên kẹo đặc
biệt đó. Không biết chú nói gì, mẹ tôi im lặng nghe, vẻ mặt buồn bã. Khi chú về,
Lam và tôi tiễn chú đến đầu làng, không thể ngờ có lẽ đó là lần chót chúng tôi
gặp chú trên đời.
Chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ, ít lâu sau, gia đình chúng
tôi tản cư về vùng Hà Đông. Ba mẹ tôi không hề nhắc, và cũng cấm chúng tôi nhắc
tới các bác các chú, và luôn luôn thay đổi chỗ ở. Một lần, mới đến một làng ít
lâu, Lam, Liên và tôi được mời vào ban nhạc của huyện. Đêm liên hoan đang vui,
bọn tôi vừa ca xong một bản, thì xướng ngôn viên giới thiệu màn hài kịch “Nguyễn
Tường Tam ăn cắp hai triệu”. Tôi chưa có ý nghĩ nào, Lam đã lôi cả hai đứa về.
Và ngày hôm sau gia đình gồng gánh đi làng khác.
Sau khi hồi cư, một buổi trưa ở Hải Phòng, nơi ba tôi đang
làm việc, tôi nhận được thư Lam từ Hà Nội gởi về, báo tin bác Long đã chết ở trấn
Thạch Long, Quảng Châu. Trong những bác chú, bác Long là người trước sau tôi
chưa bao giờ gặp. Nhưng ba mẹ tôi luôn luôn nhắc tới, nhắc tới nhiều hơn bác
Tam nữa. Do đó tôi hấp tấp leo cầu thang đánh thức mẹ tôi dậy: “Bác Long đã chết
bên Tàu”. Mẹ tôi oà lên khóc. Ba tôi tỉnh dậy cầm thư đọc. Và ba tôi ngồi trên
giường, tay cầm tờ thư, nước mắt giàn giụa. Tôi đã có lần thấy mẹ khóc, nhưng mắt
chỉ đỏ chứ không như lần này. Còn ba tôi, thì chưa bao giờ. Trước cảnh ấy tôi sợ
sệt bỏ xuống nhà. Hình ảnh ấy ám ảnh tôi, cho tới bây giờ, tôi còn có thể nhớ lại
được cả một khoảng nắng chiếu vào tờ thư trên tay ba tôi. Lớn hơn, tôi mới biết
rõ trường hợp chết của bác: ông đi họp về một mình, tàu đang chạy, ông gục xuống
chết vì bệnh tim. Trưởng tàu đưa xá xuống ga Thanh Long để đó. Ngày hôm sau chú
Bách mới tới được nhận xác và chôn ngay tại đó. Lúc ấy vào mùa đông, tuyết rơi
phủ miền Nam Trung Hoa.
Tôi nhớ ba tôi có nói với mẹ tôi: Anh Long chết, chắc anh Tam
sẽ bỏ chính trị. Lời dự đoán đúng vì một hai năm sau, bác Tam trở về nước và
tuyên bố từ bỏ chính trị. Tôi gặp lại bác một lần khi rủ Th., anh họ đi bơi
ngoài sông Nhị giữa mùa nước lớn. Khi trở về phố hàng Bè, vưa leo lên gác, bác
gái đã la: “Thằng Du lại rủ thằng Th. đi bơi sông phải không?”. Bọn tôi chùi vội
phù sa còn bám đỏ trên mặt nhưng không ích gì. Bác Tam gái cùng gia đình ngồi
trên xe hóng mát đã thấy bọn tôi chui từ lòng sông lên, mệt nhoài. Không biết
bác Tam gái nói gì, chắc là kết tội tôi… “Cái thằng quỷ sứ ấy, cứ lôi thằng Th.
đi suốt ngày, có phen chết cả hai”. Bác trai vào phòng, lúc ấy tôi đã 15 tuổi,
đủ óc nhận xét để nhận thấy tuy ông nhìn tôi không nói gì, nhưng ánh mắt không
có chút thiện cảm nào với đứa cháu “quỷ sứ nhất họ”.
Cuốn năm 1954, gia đình di cư vào Nam, bác Tam đã lên Đà Lạt
và tôi bắt đầu vào tuổi trưởng thành. Tôi bắt đầu tìm hiểu các bác các chú qua
ba mẹ tôi và qua sách vở. Lúc ấy tôi mới biết chú Sáu, người trồng cây liễu cổ
thụ là nhà văn Thạch Lam, bác Long là Hoàng Đạo, bác Tam là Nhất Linh. Cũng đã
lớn lắm tôi mới biết các bác các chú là anh em ruột của mẹ chứ không phải của
ba tôi, sở dĩ xưng hô như vậy là vì ở nhà đã gọi bố mẹ là cậu mợ và ba tôi là
người chót của dòng họ Cát làng Vân đình. Và cũng chỉ trên hai mươi, tôi mới bắt
đầu thích thú khi biết ngoài dòng máu họ Nguyễn Tường, tôi còn thuộc một dòng họ
Cát miền xa xôi nào đó. Niềm thích thú này làm ba tôi hãnh diện nhưng vì những
lý do khác về sau, đi sâu vào quá khứ, tôi mới hiểu nguyên nhân.
Càng lớn dần, tôi càng hiểu rõ các bác các chú hơn. Tôi biết
bác Tam là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên trong chính phủ đầu tiên của Việt Nam
sau Pháp thuộc, bác Long là Bộ trưởng Kinh tế trong chính phủ thứ hai, chú Bách
phụ trách trong phong trào Thanh niên Ngũ xã chống Việt Minh năm 45, 46. Tôi
cũng biết các bác làm báo Phong hoá lúc đầu ra sao, gặp những trở ngại gì, vai
trò của ba tôi, của bà tôi.
Về con người công cộng, tôi biết bằng những tài liệu lịch sử
và văn học (không bao giờ tôi thấy Nhất Linh nhắc tới quá khứ về bất cứ phương
diện nào). Còn con người thực, con người khi sống với chính mình, với người
thân của các bác chú, tôi biết qua mẹ tôi trong những buổi uống trà, những đêm
canh bánh chưng ngày Tết, hay qua những sự việc giản dị hằng ngày. Giọng kể êm
đềm của bà gợi lên những quá khứ kỳ ảo, khó khăn của những ngày ngày-xưa, những
ngày bà còn là một cô gái bé sống giữa bốn ông anh và hai em trai ở phố huyện Cẩm
Giàng nằm ven đường thiết lộ Hà Nội – Hải Phòng. Tôi lắng nghe những dĩ vãng ấy
dần dần với năm tháng. Những kỷ niệm, những truyện xưa trở lại cách khoảng nhau
hỗn độn mơ hồ làm tôi đôi khi muốn hồi tưởng, muốn tạo một mạch lạc, tôi vẫn gặp
những khoảng trống chỉ dĩ vãng sâu kín của mẹ tôi lấp được.
Gia đình mẹ tôi xưa nghèo, và trở thành khốn quẫn sau khi ông
mất bên Lào. Theo mẹ tôi, ông là một kẻ sĩ thanh bình, đứng đắn, đúng mực. Cái
chí bất khuất và thái độ can đảm tinh thần với cuộc đời của các con sau này có
lẽ thừa hưởng của người mẹ. Bà buôn bán tần tảo nuôi bầy con ở cái phố huyện buồn
thiu, cái không gian sau này xuất hiện tràn đầy trong tác phẩm của Thạch Lam.
Các anh em trai đi học, mẹ tôi là con gái độc nhất nên ở nhà thay mẹ lo việc nội
trợ. Một người con gái giữa sáu người anh em trai, sự kiện này cắt nghĩa thái độ
chịu đựng, khoan dung tài tình của mẹ tôi sau này đối với Lam và tôi, nhất là
tôi, đứa tinh nghịch, hay gây rắc rối từ nhỏ. Mẹ tôi bảo tính nết các bác các
chú lúc nhỏ ra sao, lớn vẫn thế. Chú Thạch Lam mơ mộng, tế nhị, đa cảm, thì thuở
nhỏ đã thế. Bác T. anh cả, bác C. anh thứ hai đúng đắn đúng mực, lúc lớn và tới
giờ vẫn giữ đúng cái đứng đắn đúng mực của những người thanh bình trong xã hội
như ông ngày trước. Mẹ tôi thân với bác Tam hơn cả. Khi mẹ tôi ngồi giã vừng,
bác thường đến làm giúp, rồi lấy cơm trộn vào vừng trong cối ăn luôn. Không biết
tại bác giúp mẹ tôi, thấy vừng thơm trộn cơm ăn luôn hay là tại ý riêng, nhưng
mỗi khi lấy vừng khỏi cối, mẹ tôi để lại một ít, lấy cơm nóng đổ vào cho bác. Lối
ăn cơm này đã tạo cho bác cái biệt hiệu “Tam cối”. Bác mang biệt hiệu này cho tới
khi lên Hà Nội học.
Bà tôi nhất định cho các con đi học, học thật cao. Kẻ cả mẹ
tôi nữa nếu không cần người săn sóc các anh em trai thay bà. Bà tôi đi cân gạo.
Nhân vật và Nhì mẹ Trinh và cả không gian miền quê trong tiểu thuyết Ngày mới của
Thạch Lam đều xuất nguyên từ thời này. Có lúc buôn bán khó khăn, bà tôi vẫn nhất
định cho các con tiếp tục học nên đã phải chịu nhiều vất vả nguy hiểm. Lúc đó,
người Pháp giữ độc quyền bán thuốc phiện cho dân. Thuốc phiện bán chính thức
này cũng như rượu Văn Điển, không được ngon nên người dân nấu lấy bán cạnh
tranh. Dĩ nhiên cơ quan thuế Đoan hoạt động tìm bắt những kẻ đã dám “cạnh tranh
bất chính” với chính quyền bảo hộ, trong số đó, vào một vài tháng, có bà tôi.
Bà tôi lao vào nghề với mục đích kiếm nhiều lãi cho các con ăn học, nhưng các
con lại coi đó như là một trò chơi kỳ thú, một hành động chống lại các “ông
Tây”. Những kinh nghiệm đầu tiên chống Pháp có lẽ bắt đầu có vào thời gian này!
Nấu thuốc phiện, dụng cụ không phải là dễ giấu. Do đó một hệ thống báo động được
tổ chức chu đáo. Con đường hương lộ dẫn tới phố huyện Cẩm Giàng, thiết lộ mỗi
khi tàu hoả đến đều được các bác thay phiên canh chừng mỗi khi bà tôi làm.
Nhưng có một lần, tàu hoả đỗ ở ga vào phiên canh của Thạch Lam. Chú đứng ở sân
ga ngó một lượt, không thấy Tây Đoan xuống, thì la chú yên trí lên đầu đoàn xe,
nằm dài ra ngắm đầu tàu. Trong khi Tây Đoan xuống phía bên kia đoàn tàu từ từ
theo đường tiến vào bổ vây, Thạch Lam còn ngẩn ngơ các cơ phận của đầu máy. Tuy
vậy mọi sự vẫn ổn thoả vì hệ thống “ngăn chặn địch” được tổ chức chu đáo. Bác
Tam xông ra hỏi tíu tít người Tây Đoan, trong khi bác C., anh thứ hai trong gia
đình, bê tang vật chạy ra vườn giấu vào bụi tre. Kết quả phái đoàn quan thuế thất
bại ra về, nhưng bà tôi cũng chấm dứt công cuộc buôn bán nguy hiểm này, trở về
đi cân gạo. Dĩ nhiên vẫn nghèo và các con vẫn cứ tiếp tục đi học. Thời kỳ vất vả
này cũng như không gian phố huyện miền trung du cùng các dân cư, về sau xuất hiện
đầy đủ trong các truyện ngắn dài của các bác, nhất là trong những tác phẩm của
Thạch Lam. Khi đã hồi cư, trở về Cẩm Giàng, tôi còn được mẹ tôi chỉ cho biết
đây là nhà bác Lê, một bà cụ hay mua rượu của hai chị em Liên trong một truyện
ngắn… Khung cảnh cũ không thay đổi là bao. Đứng bờ sông, chỗ bến Tiên, cũng
thoáng tò mò muốn qua bên kia sông như Thạch Lam ngày trước để gặp một cô gái
da trắng hồng trong một ngôi nhà tranh nào đó.
Trong thời kỳ nghèo khổ ấy, một tối hè nóng bức, bà tôi nói:
“Sau này có tiền sẽ làm một cái nhà ở tít ngoài cánh đồng kia để hứng gió một
mình!”. Nỗi bực tức này dễ hiểu vì những người trong phố huyện mong gia đình bà
tôi sẽ suy sụp hẳn, các con phải trở về làm nông phu như các con cái họ. Sự cố
gắng vượt lên làm họ ghen ghét khó chịu. Nhưng hai anh trai lớn lần lượt đi dạy
học xa, kẻ Thái Bình, người Phú Thọ lấy tiền giúp mẹ và các em học tiếp. Rồi
hai em trai đỗ, đi làm để hai anh dễ dàng học nữa. Cứ luân phiên làm việc và học
như vậy. Sau cùng, chú Sáu vừa đỗ bằng tuyệt đối với Trung học phổ thông bây giờ,
thấy các anh học cao hơn quá, bực mình nói với mà tôi mời ông lý trưởng một chầu
rượu để đổi tên, đổi khai sinh tăng thêm tuổi thi nhảy Tú tài và đỗ năm 16 tuổi.
Tuy thông minh nhất nhà, nhưng cũng lãng mạn nhất nên chú bỏ, không học cao
hơn.
Dần dần nhờ các con lớn đỗ đạt, giúp đỡ và nhờ uy tín gia
đình các con học cao, bà tôi giao thiệp dễ dàng hơn, buôn bán khá hơn. Khi vượt
khỏi cảnh nghèo, bà tôi thực hiện ngay ước muốn một chiều nóng nực ngày xưa: bà
mua ba mẫu ruộng cách xa phố huyện và làm nhà ở đó để “hứng gió một mình”. Dần
dần, từ một căn nhà trơ vơ ngoài cánh đồng, với sự trợ giúp của các con, và
kiên nhẫn thường nhật, bà tôi đã lập thành một cái trại xinh đẹp mà ai hay sử dụng
thiết lộ Hà Nội – Hải Phòng thời tiền chiến cũng biết tới. Trại này đã giữ một
vai trò quan trọng trong nếp sinh hoạt thông thường cũng như văn nghệ của Tự Lực
Văn Đoàn và tập đoàn Phong hoá Ngày nay, căn trại đã được dùng làm bối cảnh cho
một truyện trinh thám của Thế Lữ sau này.
Cái quá khứ nghèo khổ chật vật này, hầu như về sau không ai
biết tới. Các nhà phê bình văn học thường hay cho rằng thái độ của Nhất Linh,
Hoàng Đạo, Thạch Lam đối với dân nghèo cùng đinh là thái độ của kẻ ở trên nhìn
xuống, là thái độ của người trưởng giả sung túc đoái thương dân đói khổ. Đó là
một ngộ nhận. Các bác các chú thực sự đã sống trong cảnh nghèo khốn thôn quê,
và đã vượt lên khỏi là do sức mạnh tinh thần của người mẹ và tinh thần cầu tiến
của các con. Nếu muốn cắt nghĩa bằng lý thuyết giai cấp, cũng chỉ có thể nói rằng
các bác các chú thuộc giai tầng KẺ SĨ, truyền thống kẻ sĩ của Việt Nam. (Mọi
phê phán phân tích của cộng sản và giai cấp tiểu tư sản đều không thể áp dụng
cho tầng lớp kẻ sĩ này bởi vì một lý do giản dị: kẻ sĩ không phải là tiểu tư sản
như họ gán ghép một cách máy móc theo quan điểm Tây phương). Ngộ nhận này chính
tôi cũng đã có bởi vì từ lúc bắt đầu lớn đôi chút, tôi đã “thấy” bà tôi trong
căn trại lớn, “thấy” các bác các chú trong những bộ âu phục, trong những căn
nhà ở đủ tiện nghi, trong nhà in toà báo đồ sộ. Và tôi chắc cũng tiếp tục ngộ
nhận như vậy mãi nếu không có tiếng nói về dĩ vãng của mẹ tôi. Giọng nói của bà
đưa Lam và tôi trở về căn nhà tranh xơ xác phố huyện Cẩm Giàng, trở về những
ngày túng thiếu lo tiền học, tiền ăn. Nhờ có bà, hai đứa chúng tôi mới tin chắc
tình thương mến, sự liên đới của Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam với đồng quê với
những người nghèo bị áp bức không phải, và cũng không thể là một sự kẻ trên
sung túc nhìn xuống đoái thương (như một bố thí).
Cũng nhiều người khác đã ngộ nhận về cả chủ trương của Tự lực
Văn đoàn (trong cuốn văn học sử chính thức dùng trong các lớp trung học) là quá
cực đoan với cái cũ, bất cứ cái gì cũ cũng đòi phá huỷ. Sự thực đối với tục lệ
cũ, các bác các chú tôi không hề có thái độ cực đoan như vậy. Các ông đã chỉ
làm một chọn lựa lại: xét lai tất cả các tục lệ bắt nguồn từ văn hoá cũ, chỉ đả
phá những gì thực sự là hủ tục. Không những thế, trên thực tế còn đề cao, còn
phục hồi những tục lệ thuần chất dân tộc. Thái độ đã được biểu lộ qua nếp sinh
hoạt thường xuyên của căn trại nói trên. Bà tôi, khi các con đã lớn, lập gia
đình riêng, lui về ở hẳn quê cũ coi sóc trại, đồng ruộng. Bà thuộc lớp người
cũ, rất trọng ngày giỗ ngày tết. Nếu Nhất Linh đả phá cúng tế tại đình làng,
thì đối với vấn đề thờ cúng tổ tiên, lại là người chu đáo nhất. Nếu giỗ tạp, để
vợ con mang đồ cúng về. Nếu là giỗ cha, ông bà, các bác các chú đều về đủ mặt.
Mẹ tôi không nói rõ các bác có lễ trước bàn thờ hay không nhưng nói bà tôi chưa
bao giờ trách cứ các con về khía cạnh này. Các ông có tin ở hiện hữu của linh hồn
hay không vào quãng chót của đời sống, tôi không được biết. Nhưng mẹ tôi kể rằng
bao giờ bày mâm ngũ quả, mẹ tôi cũng thu xếp bày hai mặt nhiều như nhau. Bày
phía trước đầy đủ dễ hiểu vì là lẽ thông thường. Còn bày phía sau như phía trước
thì lý do “…để cho các bác lấy ăn mà bà không biết”, mẹ tôi nói vậy. Tôi không
biết mẹ tôi nói đùa hay thật, nhưng tôi biết chắc một điều: tôi tin các ông coi
việc thờ cúng tổ tiên chỉ có một biểu lộ cho lòng biết ơn và nhớ tới những người
đã khuất. Còn ngày Tết Nguyên đán, có lẽ là Tự lực Văn đoàn lại ăn Tết với đủ tục
lệ hơn ai hết. Ngoài thân thuộc, các ông mời cả ban biên tập Phong hoá, Ngày
nay về trại. Kể từ 23 tháng chạp (ngày bọn cháu chúng tôi bắt đầu về) tới ngày
mồng 3 hoá vàng, quản trị cái trại này là một công việc vất vả nhất cho bà tôi
trong năm. Về đồ ăn, bà tôi, các bác gái muốn làm gì thì làm. Các ông chỉ đòi một
khoản bất di bất dịch: bánh chưng. Dĩ nhiên không phải thích ăn mà thích sự kiện
gói bánh và tụ họp quanh nồi bánh sôi sùng sục trong đêm cuối năm. Nếu chỗ mổ
heo được bọn trẻ con chúng tôi chiếu cố nhất thì nơi gói bánh chưng tụ họp đông
đảo nhất thành phần các ông. Sau này chúng tôi khó tưởng tượng một Thế Lữ hay
Xuân Diệu ngồi bên phản gỗ dưới nhà ngang, cạnh những đống lá dong, những rổ gạo
nếp. Nhưng trên thực tế, điều này đã xảy ra.
Lễ giao thừa được cử hành theo đúng tục lệ cổ truyền. Bao
nhiêu năm tôi dặn mẹ đánh thức dậy dự lễ, nhưng trời lạnh và giường ổ rơm êm ấm
làm tôi mở mắt không được. Đêm Giao thừa đầu tiên tôi thức dậy được cũng là
giao thừa chót ở trại. Sau đó là chiến tranh, cách mạng và phân tán. Tôi mặc áo
lên dày cộp, co ro chạy qua vườn lên nhà trên. Hình ảnh tôi còn nhớ được là
toàn thể người lớn mặc quần áo trịnh trọng đứng trên thềm. Bàn thờ đặt ngoài
hiên, bà tôi đứng trước cùng mẹ tôi. Nhất Linh cầm đồng hồ coi giờ. Cạnh đó là
cái trống lớn và người cầm dùi là ba tôi, - ông đánh trống giao thừa hay có tiếng
nên năm nào cũng đảm nhận việc này. Đúng 12 giờ, tiếng trống bắt đầu. Đứa bé là
tôi đứng dưới thềm nhìn lên, tâm hồn đầy náo nức. Cây liễu ở sân đình đầy đèn xếp
lập loè muôn màu, khói trầm nghi ngút, tiếng pháo nổ kế tiếp hồi trống trên xà
mái hiên… Sáng mồng một, lũ chúng tôi bị lôi dậy từ sớm, rửa mặt với nước cây cỏ
thơm hắc, quần áo trịnh trọng tập trung lên nhà trên. T.H. với tư cách cháu
đích tôn, thay mặt tất cả họ chúc mừng bà tôi.
Giỗ tổ tiên, trọng banh chưng hơn các sơn hào hải vị, lễ giao
thừa, chúc thọ bà tôi, tất cả những cái đó không có nghĩa gì hơn là một biểu lộ
thái độ chọn lựa đối với những tục lệ, văn hoá cổ truyền. Các ông đã giữ lại
cái cần giữ và đáng giữ. Sau này lớn lên, tôi và Lam bàn lại, mới biết tới giá
trị của sự chọn lựa ấy. Gần đây, sau khi ba tôi chết rồi, Lam và tôi đồng ý là
sau cuộc chiến tranh này, khi được giải ngũ, hai đứa sẽ chung tiền mua một khoảng
đồi nhỏ ở Đà Lạt, làm nhà tranh, mời mẹ tôi lên ở lập “trại Cẩm Giàng” mới.
Chúng tôi mỗi đứa một nơi, nhưng ngày giỗ, nhất là ngày Tết, toàn thể sẽ tập
trung về đó. Sẽ tiếp tục canh bánh chưng, lễ Giao thừa, và các con chúng tôi sẽ
có đứa nửa đêm trừ tịch cố mở mắt ngái ngủ chạy lên ngó bàn thờ khói hương, bịt
tai nghe tiếng pháo. Bây giờ bà tôi, ba tôi, phần lớn các bác đã chết, chúng
tôi hiểu rõ hơn bao giờ hết rằng chính trại Cẩm Giàng, với tất cả nền nếp sinh
hoạt của nó, đã mang lại cho chúng tôi những khái niệm đầu tiên về gia đình,
gia tộc, và từ đó phát khởi lòng yêu dân tộc và đất nước.
Ở tuổi trên dưới hai mươi, tôi là một anh chàng mới lớn, hăng
hái hết chỗ nói với tất cả những gì thuộc địa hạt lý tưởng của đời sống, và
cũng vụng về hết chỗ nói trong xử thế hằng ngày. Không khí truỵ lạc tại Sài
Gòn, lòng hăng hái với lý tưởng của tuổi trẻ và ý thích muốn trở thành những
người như các bác, dần dần đưa tôi đến những hoạt động chính trị đảng phái. Đảng
phái tôi gia nhập dĩ nhiên chỉ có thể là Việt Nam Quốc dân Đảng. Tôi cùng B., một
anh họ, tới nói với Nhất Linh. Ông giới thiệu chúng tôi tới giáo sư N.T.V. và
T.B.S. Dưới sự chứng kiến của hai người này, tôi và B. làm lễ tuyên thệ. Nhưng
ngay khi nhìn khẩu súng lục nhỏ han rỉ đặt trước di ảnh Nguyễn Thái Học và lá cờ
sao trắng, tôi đã cảm thấy Việt Quốc không phải là môi trường hoạt động thích hợp
với cá tính và lý tưởng riêng. Tuy thế tôi cũng đã hoạt động, sinh hoạt với Việt
Quốc một thời gian với tất cả hăng hái của tuổi trẻ.
Những người chung quanh thường có thành kiến: các bác là những
cách mạng gia, vậy chắc chắn khuyến khích dẫn dắt tất cả con cháu đi vào hoạt động
cách mạng. Sự thực Nhất Linh trước sau không hề khuyên các con cháu lớn, dù lớp
này đông trên hai mươi kẻ, đi vào cách mạng. Ông thường chỉ khuyên: “Lo học đi
đã!”. Đối với tôi, B. và sau này thêm con trai Hoàng Đạo, vì thấy quá hăng hái,
ông mới giới thiệu với Việt Quốc. Giới thiệu một cách bình thản như giới thiệu
một bác sĩ quen chữa giỏi hay một nơi trọ tốt tại Đà Lạt. Khi tôi rời bỏ Việt
Quốc, ông cũng không nói gì. Có thể nói suốt thời gian từ 1954 tới khi chết,
chưa bao giờ Nhất Linh nói chuyện nhiều với tôi. Đối với B., Tường Hùng và Lam,
ông không có thái độ tách biệt ấy. Hình như ông coi tôi như một đứa cháu ngoại
khổ, có những tư tưởng cư xử hành động ông không thể chịu nổi, hiểu nổi. Có thể
nói trong các cháu lớn thân cận, tôi là đứa Nhất Linh không ưa nhất.
Cũng nhiều người ngộ nhận cho rằng Nhất Linh hoạt động cách mạng
liên tục cho tới khi chết. Đó là ngộ nhận lớn nhất về con người ông. Khi đổ
xong cử nhân khoa học ở Pháp về, Nhất Linh chỉ chủ trương làm một cách mạng văn
hoá trước đã. Tất cả nỗ lực trong thời kỳ 1930-1940 đều thu lại trong khuôn khổ
này. Hoạt động cách mạng tới sau, có thể nói ngoài ý định nguyên thuỷ. Lối nhập
thế của ông làm tôi liên tưởng đến một kẻ sĩ văn võ toàn tài, thấy thế nước
nghiêng một nửa, dân tình cực khổ, không đành lòng nên phải vác gươm lên ngựa
diệt tà khử bạo. Theo lời ba mẹ tôi, Nhất Linh không đi sâu vào cách mạng, và
nhất là chính trị nếu không có Hoàng Đạo. Ba tôi nói rằng các anh em đồng chí
trọng Nguyễn Tường Tam nhưng mến Nguyễn Tường Long hơn. Chính Nguyễn Tường Long
mới là người có tài quy tụ người, khuyến khích, giữ vững tinh thần đồng chí những
lúc hiểm nghèo. Đặc biệt là Hoàng Đạo mãi về sau mới gia nhập đảng phái. Theo lời
ba tôi, Nhất Linh đứng với Hoàng Đạo ở gần cầu tiêu của toà báo, và Nhất Linh
nói: “Chú gia nhập chứ?”. Hoàng Đạo gật đầu. “Chú tuyên thệ đi…”. Hoàng Đạo giơ
tay tuyên thệ trước một vài người thân. Không nghi lễ, không đảng kỳ, không bàn
thờ toàn quốc. Cũng theo ba tôi, Hoàng Đạo mới thực là linh hồn của đảng. Nhất
Linh, với những khả năng đặc biệt của một thủ lãnh, chỉ là người chỉ huy tổng
quát đôi khi quá cứng rắn. Bao nhiêu mưu lược, kế hoạch phần lớn phát xuất từ
Hoàng Đạo. Một thứ Khổng Minh đối với Lưu Bị. Vì thế khi nhận được tin Hoàng Đạo
chết, ba mẹ tôi nhất định tin rằng: “Anh Tam sẽ từ bỏ chính trị… Lời giải thích
của ba mẹ tôi có thể đúng, có thể sai, nhưng thực tế đã chứng tỏ ông bà không lầm.
Năm 1950, Nhất Linh rời Hồng Kông về Hà Nội, tuyên bố từ bỏ chính trị. Và ông
đã từ bỏ thật tới gần 10 năm. Sau này suy nghĩ lại quá khứ, tôi cho rằng lối giải
thích của ba mẹ tôi chỉ đúng một phần. Thực ra bản chất Nhất Linh là bản chất kẻ
sĩ Nguyễn Công Trứ, với lối nhập thế của một hiệp sĩ thời trung cổ Tây phương,
chỉ cho phép ông làm cách mạng và chỉ có thể là nhà cách mạng thôi. Khi gia nhập
trực tiếp chính trị, ông có Hoàng Đạo lo cho phần mưu lược, thủ đoạn chính trị,
nhưng thâm tâm vẫn ghê sợ chính trị. Cái chết của Hoàng Đạo, người em thân nhất,
cũng là bạn văn, đồng chí, người phụ tá mật thiết, chỉ là một cái cớ để Nhất
Linh rút ra khỏi mọi hoạt động cách mạng lúc đó đã mang nhiều tính chất bẩn thỉu
của chính trị. Mẹ tôi có thuật lại đã có lần Hoàng Đạo, Nhất Linh đã họp cùng
các lãnh tụ lưu vong khác, trong đó có cả ông Nhu ông Diệm tại Hồng Kông. Mẹ
tôi, nhất là ba tôi, còn luôn luôn tin rằng nếu Hoàng Đạo không chết năm 1947,
chưa chắc Bảo Đại đã thành bù nhìn cho Pháp, và sau này chưa chắc hai anh em
ông Diệm đã nắm được chính quyền tại Việt Nam. Dĩ nhiên đó chỉ là một giả thuyết
cho quá khứ, nhưng một giả thuyết có tính cách khuyến khích nâng đỡ lũ cháu
chúng tôi trong thời kỳ khó khăn nhất dưới thời Nhu - Diệm.
Suốt thời kỳ hoạt động với Việt Quốc, tôi chỉ nói chuyện
chính trị với Nhất Linh một lần, - lần đầu và cũng là lần chót. Các đảng phái
lúc đó phân tán, N.T.V. trao cho tôi nhiệm vụ lên Đà Lạt nói với Nhất Linh “hạ
sơn”, trước hết để củng cố và thống nhất Việt Quốc, sau để tiến tới một liên hiệp
các đảng phái quốc gia đối lập với chế độ Diệm đang bắt đầu tiến sâu vào độc
tài. Đà Lạt là một thành phố đẹp, tôi nghe nói tới từ nhỏ nhưng chưa có dịp đến.
Bởi vậy tôi thích thú lên đường, náo nức nh ìn cảnh rừng núi, còn thâm tâm tôi
không hề tin tưởng là tôi có thể nói cho Nhất Linh nghe bất cứ điều gì, chứ đừng
nói tới việc triệu thỉnh ông “hạ sơn”. Năm đó Đà Lạt còn nằm trong tình trạng của
một thành phố mới ra khỏi chiến tranh, người ít, cỏ mọc lan trên bờ hè, những
cây tùng ven hồ còn tự do cho gốc rễ lan xuống bờ nước. Không khí mát lạnh, chiếc
xe ngựa cọc cạch leo dốc đồi, quán cà-phê Tùng nhỏ, sương mù lên sớm, ánh đèn mờ
ảo, tất cả làm tâm hồn chìm đắm nên đêm khuya trở về cùng T., con trai thứ Nhất
Linh, leo cầu thang tối đen, tôi quyết định chỉ thi hành “sứ mệnh” vào sáng hôm
sau. Nhưng cửa phòng Nhất Linh còn đang mở, T. bảo tôi: “Du cần phải nói gì,
vào nói luôn đi. Sáng mai chắc cậu tôi đi chơi sớm lắm”. Căn phòng tối, ánh điện
nhiều đường hắt vào yếu, tôi chỉ trông thấy đốm lửa đỏ đầu điếu thuốc Nhất Linh
hút dở. Tôi nói một mạch tất cả những điều N.T.V. dặn, rồi ngồi im. Nhất Linh
trả lời giản dị: “Cháu về nói với các anh là bác đã suy nghĩ kỹ rồi… Cháu đã
nói những điều các anh dặn rồi, bây giờ ở lại Đà Lạt vài hôm chơi cho vui”. Tất
cả buổi hội kiến của “thuyết khách” và nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam chỉ có vậy.
Chiều hôm sau, đứng ngoài bao lơn nhìn ũo đường, T. chỉ một cây thông cổ thụ
phía bên kia đường: “Cậu tôi thích cây thông này nhất, có khi ngồi ngắm hàng giờ.
Bảo nó có một vẻ đẹp tuyệt hảo”. Tôi tò mò ngắm nghía. Vỏ cây nâu sần sùi, cành
gãy vươn lên cao trong vẻ cổ sơ giản dị của một bức tranh thuỷ mạc. Bầu trời
chiều không nắng, không gió, lá cành đứng im như một khối chìm lắng từ dĩ vãng
lại. Tôi nhìn cây thông rồi nhìn Nhất Linh ngồi trên ghế xích-đu bao lơn bên cạnh,
và tôi liên tưởng đến một thời kỳ hoang đường có những đạo sĩ ngồi đánh cờ ven
núi và những dòng suối như phát nguồn từ đỉnh non cao.
Những năm về sau, vì môn học và nghề nghiệp, tôi phải tham khảo
sách vở tại thư viện. Qua tài liệu, nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, nhà cách mạng
Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Long bắt đầu trở thành những nhân vật có công
nghệ rõ rệt. Toàn bộ báo Phong hoá, Ngày nay làm tôi hiểu dĩ vãng, một thứ dĩ
vãng thời bình có khiêu vũ, có hát quan họ, có hội làng Lim và cũng là dĩ vãng
nhiều hoạt động cách mạng. Vào thời kỳ này tôi mới đọc hết sách của Tự Lực Văn
Đoàn. Những cuốn Gánh hàng hoa, Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên từng làm tôi
say mê buổi thiếu thời, bây giờ đọc lại thấy nhạt nhẽo, vai đoạn kỳ dị vì quá cổ
kính hoặc quá ngây thơ. Những cuốn nổi tiếng thời trước như Đoạn tuyệt bây giờ
xa lạ như một mái tóc đuôi gà. Những cuốn lúc mới ra đời bị thờ ơ như Bướm trắng
lại có giá trị hơn. Điều quan trọng tôi nhận thấy là Thạch Lam viết hay hơn cả
trong Tự Lực Văn Đoàn. Tôi có nói nhận xét này với mẹ tôi và tôi chưng hửng khi
nghe bà trả lời: “Bác Tam cũng nói thế từ lâu. Bác thường nói chính chú Sáu mới
là nhà văn có tài nhất của Tự Lực Văn Đoàn dù sách in ra bán ế nhất!”. Và Thạch
Lam cũng là người lười viết nhất trong tất cả, luôn luôn trễ hẹn đưa bài cho
các toà báo. Một lần Nhất Linh tức, xuống căn nhà có cây liễu ở hồ Tây, thấy Thạch
Lam ngồi trầm ngâm ngắm hồ. Hỏi: “Chú sao không viết?”. Đáp: “Chưa thể viết được!”.
Nhất Linh tức giận bỏ về và quyết định cúp nguyệt cấp của Thạch Lam cho tới khi
có bài. Thạch Lam tức, lại càng không cầm đến bút. Xích mích giữa hai anh em
ngày càng trầm trọng, sau cùng mẹ tôi phải triệu thỉnh bà tôi ở trại lên mới
dàn hoà nổi.
Tìm hiểu quá khứ văn nghệ của Nhất Linh, Hoàng Đạo tương đối
dễ dàng. Tôi vất vả hơn khi tìm hiểu sự nghiệp chính trị và phải tìm mượn những
cuốn sách ngoại ngữ không có bán ở Việt Nam. Càng hiểu rõ quá khứ, tôi càng thấy
lòng kính trọng dành cho Nhất Linh gia tăng. Tôi bắt đầu thấy hãnh diện là cháu
những người đó, và từ đấy đi tới tìm ở Nhất Linh hình dáng con người lý tưởng
thích hợp cho tôi. Cũng trong thời kỳ này, tâm hồn thể xác tôi bị lôi cuốn vào
nếp sống đô thị như trăm ngàn thanh niên khác cùng lứa. Đôi khi mệt mỏi ngồi
trước chồng sách, tôi mơ màng nghĩ tới những điều sẽ làm sau này khi đã thành
tài. Còn trên thực tế, tôi không làm một cái gì hơn là tán gái, yêu, học, dạy học,
chơi gái và lang thang. Một buổi chiều, tôi nhận được thư T. gửi từ Đà Lạt xuống:
“Du có nhớ Đà Lạt, lên chơi gấp. Cậu tôi đang chơi phong lan. Ông vào rừng kiếm
lan suốt ngày. Những cuộc phiêu lưu ngắn, hẳn thích thú cho Du”. Đọc thư, tôi
ngạc nhiên. Hình ảnh chót của tôi về Đà Lạt và Nhất Linh là bầu trời mưa ướt
sũng, sương mù bao kín thung lũng, những ánh đèn mờ, tiếng sáo của T. buổi chiều
trong biệt thự nằm khuất trên sườn đèo Prenn, và Nhất Linh nét mặt mỏi mệt, đau
ốm thường xuyên, hầu như không ăn uống gì hơn một bát mì suông mỗi bữa và ngồi
trầm ngâm như một bức tượng trên ghế… Bởi thế tôi khó tưởng tượng một Nhất Linh
vượt rừng đi tìm lan. Và ngay cả việc chơi thứ hoa hiếm này cũng làm tôi khó hiểu.
Tôi không ngạc nhiên khi biết ông ngồi ngoài sân ăm cơm trộn vừng trong cối,
theo gánh hát vẽ phông kiếm tiền học, học mỹ thuật trước khi học khoa học, ở
Pháp về đi đến đâu cũng chê người Việt ở bẩn, và khi ở Trung Hoa về, di đến đâu
cũng khen người Việt sạch sẽ… Nhưng tôi thực sự ngạc nhiên khi nghĩ tới hình ảnh
người hùng Nguyễn Tường Tam ngồi vun xới chậu lan như một ông đồ già hay một ẩn
sĩ thời xưa. Nhưng trên cư vượt đèo Blao, một cây thông trơ trọi làm tôi nhớ lại
cây thông cổ thụ Nhất Linh từng ngồi ngắm hàng giờ, và từ lúc đó tôi bắt đầu chấp
nhận được hình ảnh một Nhất Linh chơi lan nhưng không thể ngờ tới thái độ của
ông với loài hoa rừng này, - một thái độ đam mê kỳ dị.
Tôi xách va-li tới đèo Prenn vào buổi chiều. Ngồi hút điếu
thuốc đầu tiên với T. tôi ngắm những cây phong lan cành lá khác nhau dính trên
các thân cây, vách tường. “Phong lan có hoa cậu tôi để trong vườn và trong
phòng khách…”. Tôi từ nhỏ tới giờ chỉ biết phong lan qua vài truyện ngắn lãng mạn
của Khái Hưng và Nhất Linh. Khi bước chân vào phòng khác, tôi không thất vọng
vì trong thực tế, phong lan đẹp hơn trong truyện đã tả. T. dẫn tôi đến từng loại:
“Nhất điểm hồng, nhất điểm hoàng, thứ này gọi là Phi điệp vì hoa đỏ như phượng
lại chuyên môn ở trên những cành cao nhất… Cành cây khô mềm như liễu có những nụ
xám xì này là Phi hạc. Khó tìm lắm vì lúc chư hoa, trông lẫn với cành khô.
Nhưng khi nở, rồi Du sẽ biết. Cậu tôi dự đoán mai sẽ nở…”.
Buổi chiều, ngồi trên thành cửa sổ trên lầu ngắm sương mù bốc
từ thung lũng lên, tôi nghe thấy tiếng hắc tiêu từ phòng khách phía dưới âm điệu
buồn điệp khúc bản “Je vais à ton mariage”. “Cậu tôi thổi cho lan nghe đấy…”.
Tôi ngồi ngớ ngẩn nghe âm thanh buồn như bắt nguồn từ một quá khứ nhiều đau đớn
chán nản. Đêm khuya đi uống cà-phê về, từ phía ngoài đường lộ, tôi đã ngửi thấy
một mùi hương phảng phất. T. cắt nghĩa: “Hương mặc lan đấy. Thứ lan hoa đen như
mực cậu tôi tìm thấy ở các hốc đá ven thác. Hoa xấu xí nhưng mùi hoa ban đêm toả
xa vô cùng…”. Tôi đi vào giấc ngủ đêm đó như một đứa trẻ lạc lõng vào một thế
giới khác lạ, thế giới những vị tiên còn chung sống với người trần.
Đêm thức khuya, nắn chói mắt tôi mới thức dậy. Đang lười biếng
kéo chăn lên tận cằm nằm ngắm những trái thông khô ướt sương dưới nắng, T. lên
gọi tôi: “Xuống xem Phi hạc… Cậu tôi đoán đúng. Nở hết sáng nay”. Căn phòng
khách chan hoà ánh nắn từ vách kính lớn vào. Nhất Linh ngồi trên ghế giữa hoa
nói với tôi như với một người vẫn sống thường trực bên nhau: Cháu uống bia
không?”. Nước bia làm tôi tỉnh ngủ, trên cao mây quang làm nắng tươi hẳn lên,
tôi nhìn thấy cạnh ông, cành cây khô xám chiều hôm trước đã như có những con bướm
cánh tím trong bám vào. Một thứ tím trong vắt, dịu như một giấc mơ đẹp không nhớ
rõ. Tôi ngồi đó rất lâu, cạnh hoa, tâm hồn trống trải dần, chỉ còn niềm bâng
khuâng và rung động nhè nhẹ. Tôi bắt đầu biết yêu hoa như người xưa.
Thời kỳ này tôi như tách biệt với không gian thường sinh hoạt
“dưới kia”. Tôi say mê những phút sau khi mở to mắt, hếch mũi tìm xuất xứ một
mùi hương lẩn khuất, ngẩng đầu nhìn ngọn cây đến sái cổ, tôi đụng đầu thật bất
ngờ với chùm hoa ngay ngang mặt, tưởng như hoa mới hiện ra để đáp lại công tìm
kiếm. Cái không khí huyền ảo này đã tạo ra tình yêu của tôi với Vương, một thiếu
nữ có loại nhan sắc bình thường tôi không ưa. Nhưng tôi nhìn thấy nàng lần đầu ở
ven suối Đa-mê với nụ cười trẻ thơ trong màu áo vàng nở ra trong khoảng nắng
chiều, như một loài hoa hiếm. Tình yêu này bắt nguồn từ không gian huyền ảo của
hoa rừng, của tiếng sáo, sương mù, nắng chiều nên tôi không ngạc nhiên khi thấy
tan vỡ một năm sau trong bụi và nóng của Sài Gòn.
Tôi cũng không tiếc hận gì cả. Điều tất nhiên là phải như thế.
Bây giờ, mỗi khi hồi tưởng thời kỳ này, tôi thường luyến tiếc vì đó là khoảng
thời gian độc nhất trên đời tôi sống với phần tâm hồn mơ mộng và trong sáng nhất.
Và tôi không khỏi muốn nói cám ơn Nhất Linh, người bác không những đã mang cả
cuộc đời phác hoạ cho tôi một mẫu người lý tưởng mà còn làm tôi hiểu một phần
nào nghệ thuật sống thuần tuý nhất, cao sạch nhất của con người Á Đông.
° ° °
Một buổi chiều đi học về, Lam ngập pipe ngồi ngoài cửa, vui vẻ
báo tin: “Bác sắp về Sài Gòn, ra báo”. Cả hai chúng tôi đều ngạc nhiên về quyết
định này. Ông rời bỏ Đà Lạt, rời bỏ những lan rừng tinh khiết xuống gia nhập
cái thế giới đầy bụi của chúng tôi, hẳn phải do một cớ nào quan trọng. Óc suy
luận phân tích của lớp trẻ hoạt động quá trớn nên cứ tìm những nguyên do rắc rối.
Có lẽ Nhất Linh bỏ núi bỏ lan chỉ vì một lý do thật giản dị: ông không thể ngồi
yên, bất động trước thời thế nữa. Tình hình lúc đó thật khó thở, do đó, dù có
nhiều nhân vật của Thông tin hết sức giúp đỡ, bác tôi không sao xin được giấy
phép một tạp chí. Sau cùng, ông đành chọn ra giai phẩm không định kỳ, làm xong
số nào, đưa kiểm duyệt như một tiểu thuyết xin xuất bản. Làm văn nghệ báo chí
kiểu này thực vất vả. Nhất Linh đặt toà soạn luôn ở căn phòng nhỏ xíu nằm phía
sau biệt thự của người anh cả. Ăn, ngủ, làm việc, họp nhân viên biên tập đều tại
đó. Và lối làm việc lần này khác hẳn với thời Phong hoá, Ngày nay. Trước kia
ông là người đứng đầu, vạch đường lối, coi tổng quát, còn bài vở cũng rõ rệt. Với
giai phẩm Văn hoá ngày nay, ông bao thầu tất cả mọi công việc, từ vẽ bìa, trình
bày, trả lời thư độc giả cho tới sửa bản in thử. Ông làm Văn hoá ngày nay y như
ông chơi lan vậy. Không muốn ai cáng đáng hộ việc gì dù lớp cháu chúng tôi đã lớn.
Nếu Nhất Linh không bao giờ để ý tới việc khuyến khích con
cháu làm cách mạng, thì về văn nghệ, trái lại ông rất chú trọng. Năm 1953, Lam
bắt đầu viết nhiều, thắc mắc không biết có đủ văn tài để đi vào văn nghệ hay
không, nên gửi một truyện ngắn cho Nhất Linh (lúc đó ở Sài Gòn) đọc và yêu cầu:
“Nếu bác thấy cháu có tai hãy khuyến khích. Còn nếu không, xin bác nói thẳng để
cháu đi đường khác. Xin bác đừng khuyến khích kiểu “có mầm, nên cố gắng!”. Một
tuần sau khi truyện gửi đi, Lam nhận được một bức điện tín của Nhất Linh, tôi
còn nhớ nguyên văn: “Viết được lắm. Bác nhắc lại: chắc chắn viết được”. Sau Tết
năm đó, Lam nhận được một bản viết tay trong đó Nhất Linh tuyên bố Đỗ Đức Thu
gia nhập Tự Lực Văn Đoàn và Lam, Tường Hùng, Nguyễn Thị Vinh là nhân viên dự bị.
Bản này Nhất Linh chép làm năm bản, một giữ lại, bốn gửi cho đương sự. Hầu hết
mọi người không biết tới bản văn này nên đã ngạc nhiên khi thấy những sách của
Đỗ Đức Thu thời tiền chiến, khi Phượng Giang tái bản đều ghi: Đỗ Đức Thu trong
Tự lực Văn đoàn. Sự kiện này đã gây khó khăn và thắc mắc cho các nhà biên khảo
văn học những năm về sau vì thủ tục gia nhập Tự Lực Văn Đoàn phức tạp và có nhiều
điều kiện, và quyết định của mình Nhất Linh – người đứng đầu Văn Đoàn, không đủ
để chính thức hoá. Dĩ nhiên Nhất Linh cũng đã nghĩ đến điều đó vì trong bản văn
ông có ghi: vì nhiều người đã chết, nhiều người còn ở ngoài kia, nên sự gia nhập
của Đỗ Đức Thu, cũng như trường hợp Duy Lam, Tường Hùng, Nguyễn Thị Vinh sẽ được
hợp thức hoá theo đúng thủ tục của Văn Đoàn khi nào thuận tiện.
Khi họp ban biên tập trong căn phòng bé xíu đó trước khi phát
hành Văn hoá ngày nay số 1, Nhất Linh dự đoán sẽ bán được năm ngàn số. Lam lạc
quan hơn, đưa con số tám ngàn. Tất cả đều đoán sai. Tám ngàn là con số bán hết
trong mấy ngày đầu, sau đó phải in đi in lại nhiều lần. Tôi lúc đó không biết
viết văn là cái gì nên không có mặt trong buổi họp ấy để đưa một con số lớn hơn
của Lam, vì dù sao đã đi dạy học rồi, tôi biết uy tín Nhất Linh tăng như thế
nào trong quần chúng học sinh sinh viên kể từ khi chương trình Việt được áp dụng
trong miền Nam từ đệ thất tới đệ nhất. Với mười lăm ngàn số báo bán được trung
bình cho mỗi tập, tài chính tờ báo dĩ nhiên không gây bận tâm nào. Trái lại, có
những phê bình chỉ trích kỳ cục làm Nhất Linh bực mình không ít. Thí dụ một ký
giả nào đó trên một nhật báo (hay tuần báo in khổ như nhật báo, tôi không nhớ
rõ), “phê bình văn nghệ” đại khái như sau: “Nhất Linh bịa nhiều refoulement!
Nhân vật cô Mùi mới mười hai tuổi mà đã muốn được hôn!”. Sau đó ký giả mạt sát
thậm tệ. Riêng chúng tôi, căn cứ kinh nghiệm các em gái chị gái và nhất là các
bạn gái, biết chắc rằng con gái mười hai tuổi muốn được một chàng trai mình bắt
đầu yêu hôn không phải là sự kiện lạ lùng. Cũng ký giả đó, căn cứ vào một đoạn
văn khác tả nhân vật cậu Ấm mũi dính dầu lau súng, lừa h ôn vợ để dầu dính sang
mũi vợ, kết luận là: Nhất Linh không biết hôn, chưa hôn môi ai bao giờ vì hôn
môi mũi không bao giờ chạm nhau! Đọc bài báo đó, lũ cháu chúng tôi vừa tức cười
vừa buồn cười vì thấy chính ký giả đó có lẽ mới là người chưa hôn bao giờ, đi
xem chiếu bóng thấy các tài tử hôn không chạm mũi nên vội vã kết luận. Còn bọn
chúng tôi mới lớn, bạn gái nhiều, đều biết rằng chỉ tài tử ciné điêu luyện
trong nghệ thuật biểu diễn yêu đương, mới có thể “chính xác” trong khi hôn. Còn
thông thường, vừa vụng về vừa xúc động, chúng tôi hôn nhầm lên mũi người yêu là
chuyện rất thường, và hai mũi chạm nhau không phải là hiếm. Những phê bình loại
này chỉ làm Nhất Linh bực mình thôi. Nhưng có một thứ phê bình làm ông suy
nghĩ: “Nhất Linh không nên làm báo văn nghệ nữa. Nhất Linh đã có một địa vị lớn
trong văn học sử, bây giờ làm Văn hoá ngày nay dở hơn Phong hoá, Ngày nay trước,
chỉ thêm mất uy tín!”. Luận cứ này được rất nhiều người tán đồng, kể cả con
cháu trong họ. Có thể nói chỉ còn Lam và tôi là tán đồng sự trở lại hoạt động
văn nghệ của ông. Hai đứa cho rằng thái độ đó của ông đáng kính phục vì làm người
không phải là tạo cho mình một danh vọng chức phận, để rồi yên trí thụ hưởng, gối
lên cái danh cái phận đó như một cái gối êm ái cho quãng chót của đời sống. Có
thể nói thứ can đảm hào hùng ấy của Nhất Linh lam hai đứa cháu ngoại chúng tôi
phục hơn cả trong những đức tính của ông.
Tuy phục, nhưng chính trong thời kỳ này, hai đứa, về phương
diện bài vở, lại chê trách người bác hơn cả. Cả hai đứa đều không chịu nổi những
bài khảo luận linh tinh, những bức thư Nhất Linh viết trả lời độc giả. Đọc loạt
bài này đôi khi thấy cũ kỹ và lẩm cẩm. Về văn, tuy vẫn phục nghệ thuật phân
tích tâm lý, nghệ thuật trình bày nhân vật, nhưng tôi đã cảm thấy Nhất Linh
không còn là nhà văn của thế hệ trẻ. Trường giang tiểu thuyết Xóm cầu Mới có những
nhân vật đặt trong một không gian thật xa cách. Đọc, như thấy đi vào một dĩ
vãng, trong khi những người trẻ đang mang một tâm trạng không khí lo âu khác, với
cuộc đời đang ở trước mặt đòi hỏi phải chọn một thái độ thích ứng. Nhất Linh, với
những tác phẩm sau không mang lại, không đáp lại một chút nào những khát vọng của
thế hệ chúng tôi – thế hệ “nói sự thật bị coi như mạ lị, quân tử bị coi như gàn
dở, anh hùng bị coi như ngu đần”. Về sau, nhóm Sáng Tạo có làm ầm ĩ (làm ầm ĩ,
chứ không phải là phê bình) về Nhất Linh “tiền chiến”, Lam và tôi không đồng ý
với họ về cái thái độ bắt đầu xây dựng văn nghiệp bằng cách phủ nhận tất cả quá
khứ, nhưng hai đứa đồng ý với họ ở điểm: nhà văn Nhất Linh không còn là nhà văn
của thế hệ trẻ hiện đại. Và điều đó cũng không quan trọng (ít nhất riêng cho Nhất
Linh và văn học sử) vì không phải lúc nào thời nào cũng phải đáp đúng tâm trạng
của thế hệ trẻ mới được là văn hào. Riêng hai đứa chúng tôi thán phục Nhất Linh
tiền chiến và chấp nhận Nhất Linh hậu chiến. Có Nhất Linh, như một dĩ vãng đẹp,
như một căn bản, chúng tôi vững tâm hơn đi vào tương lai.
Sau khi Văn hoá ngày nay số 8 phát hành, Nhất Linh tuyên bố với
người thân: “Thôi, không làm nữa!”. Quyết định này đột ngột, y như trước đó mấy
tháng, ông bỏ lan, bỏ Đà Lạt xuống Sài Gòn làm báo. Bạn bè xúm lại can. Nể người
thân, ông chịu để Tường Hùng và Lam tiếp tục. Ra tiếp hai số, ông cương quyết kết
liễu Văn hoá ngày nay. “Nó đã làm xong nhiệm vụ!”, ông giải thích vậy. Đình chỉ
hoạt động văn nghệ, ông vẫn tiếp tục ở Sài Gòn, không lên Đà Lạt “tu tiên” như
lũ cháu tưởng, và ông bắt đầu vào một thời kỳ đau ốm (đau dạ dày) và suy nhược
thần kinh. Thỉnh thoảng ông lên cơn loạn trí, đứng trong nhà đường Lý Thái Tổ,
móc giấy tờ trong ví đưa cho mọi người, miệng nói lảm nhảm: “Lấy hết đi. Xin
các ông lấy hết đi! Đừng áp chế tôi tội nghiệp!”. Các người thân hết sức lo lắng.
Chỉ riêng mẹ tôi, sau một lần chứng kiến cơn loạn thần kinh, về nói riêng với
tôi và Lam: “Bác điên khôn ghê! Chỉ thấy bác đưa, vứt giấy tờ lẩm cẩm. Chẳng thấy
bác vứt tiền ra bao giờ cho mẹ con mình nhặt tiêu!”. Nhận xét bí mật này của mẹ
tôi làm hai anh em đâm nghi ngờ “sự loạn trí của Nhất Linh”. Nhất là tôi, vì được
mẹ tôi kể lại những thủ đoạn chống Pháp của ông thời trước: hoá trang làm ăn
mày, ông già, người say rượu, mê thổi kèn để che giấu hoạt động cách mạng.
Hoàng Đạo còn bị bắt giam, chớ Nhất Linh, suốt đời tranh đấu, chưa bao giờ để đối
thủ bắt được. Pháp, sau đó Cộng sản, đều bó tay. Hơn nữa, chúng tôi để ý thấy mỗi
lần nhắc tới chính quyền, ông không còn dùng câu: “Cái gì mục nát thì tự nó nó
đổ!” (Câu ông thường hay dùng trước kia mỗi khi bị mời xuống núi). Căn cứ và sự
kiện mơ hồ như vậy, chúng tôi bắt đầu chờ đợi… Trong thời kỳ này, Lam và tôi
hay suy xét tìm hiểu về con người của Nguyễn Tường Tam. Căn cứ vào hoạt động
cũ, tác phẩm và con người hằng tiếp xúc, chúng tôi đi đến kết luận: “Bác chỉ
làm cách mạng, không thể làm chính trị”. Chế độ Nhu – Diệm đang vững vàng,
nhưng không thể tồn tại lâu. Theo ý riêng của lũ cháu, sau Ngô Đình Diệm, vai
trò lãnh đạo quốc gia sẽ là của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam vì không ai đủ uy
tín hơn. Lam nhiều lần đặt giả thuyết: “Nếu bác làm Tổng thống, mọi sự sẽ ra
sao?”. Các con cháu có người đã hỏi thẳng, Nhất Linh không đáp. Điều độc nhất
ông nói ra về vấn đề này, có lẽ vỏn vẹn có một câu nói với gia đình: “Nếu làm Tổng
thống, tất cả gia đình sẽ ở ngoài dinh. Cấm không ai được vào. Khi nào nhớ gia
đình, sẽ về thăm”. Sau mỗi lần bàn tới giả thuyết “Tổng thống Nguyễn Tường
Tam”, chúng tôi thường đi đến kết luận nhiều lo ngại vì cho rằng với cá tính Nhất
Linh, những người phụ tá giỏi đã chết, Nguyễn Tường Tam không thể làm một Tổng
thống giỏi. Trên thực tế và trong lịch sử, chỉ có nhà văn Nhất Linh và nhà cách
mạng Nguyễn Tường Tam chứ không có Thủ tướng hay Tổng thống Nguyễn Tường Tam để
lũ cháu chúng tôi có dịp biết rõ những lo ngại đó đúng hay sai.
Đêm 11-11-1960, binh chủng nhảy dù đảo chính. Lam và tôi lên
chợ An Đông tìm gặp Nhất Linh. “Việc này chắc có bác quá!”, Lam đoán vậy. Trên
căn gác nhìn xuống chợ, Nhất Linh quần áo chỉnh tề, sắp sửa cùng B. ra đi. B.
nói: “Tiếp xúc lại các nhân sĩ để củng cố và hoạch định đường lối chung của Mặt
trận”. Tuần trước lên thăm, Nhất Linh là một ông già đau ốm đầy vẻ suy tàn.
Sáng hôm nay, ông mắt sáng quắc, cử động linh hoạt và nụ cười luôn luôn có trên
môi. Tôi ngạc nhiên không thể ngờ khi lao đầu vào hoạt động quý tộc, ông bác
cao tuổi này lại có được vẻ mạnh mẽ và sáng suốt như vậy. B. nói: “Đã chuẩn bị
từ lâu vụ này, nhưng bên chính trị chỉ được biết trước có 24 giờ. Lý do bên
quân sự đột nhiên làm gấp vì mụ Nhu sắp đi ngoại quốc”. Khi B. bảo tôi: “Du
sang gặp anh N.T.V. đi. Đang cần Du đó”, Lam ngỏ ý cũng đi cùng, Nhất Linh im lặng
có vẻ không bằng lòng. Sau này ông nói với Lam: “Phải biết tiết kiệm người. Đừng
bao giờ lao đầu tất cả vào một vụ. Thua thì kẹt hết”. Tôi từ bỏ Việt Quốc đã
lâu nhưng lúc đó không thể từ chối lời mời của B. Tại một trường tư bên Khánh Hội,
ban chấp hành đặc biệt đang hoạt động dưới sự điều hành của N.T.V. Sau khi dự một
buổi họp, Lam và tôi đều thất vọng vì mọi nhược điểm của các đảng quốc gia đều
có đủ nơi đây. Tôi và Lam cố gắng làm việc với tất cả mọi khả năng dù cả hai đứa
cũng chẳng có bao nhiêu kinh nghiệm về hoạt động cách mạng bạo động. Toàn chạy
theo tình hình, không sao tạo được thế chủ động. Ngày hôm sau, quân ủng hộ ông
Diệm Nhu tiến vào thành phố, buổi trưa, N.T.V., B., Lam và tôi ra chợ ăn cơm,
nghe đài phát thanh bắt đầu mạt sát phe đảo chánh và dĩ nhiên suy tôn Ngô Tổng
thống. Tôi đi bộ về, ngừng lại trước thành Cộng hoà, chứng kiến tiểu đoàn dù
rút ra, trao trả thành cho Lữ đoàn Phòng vệ Tổng thống phủ. Toán quân được giải
thoát, cởi trần trùng trục, cầm súng chạy, la hét vang trời: “Hoan hô Ngô Tổng
thống, cứu tinh dân tộc”. Đoàn nhảy dù tập trung trên xe ngoài đường, từ sĩ
quan đến lính nét mặt rầu rĩ. Có lẽ đây là lần đầu tiên binh chủng kiêu hùng
này nếm mùi thảm bại.
Hai ngày sau ở Câu lạc bộ Văn hoá, tôi được người cho biết đảng
viên Cần Lao và phong trào Cách mạng Quốc gia đang định lợi dụng tình thế lộn xộn,
cho người tìm giết Nhất Linh. Tôi đến tìm ông đang ở nhà bà ngoại. Trong căn
phòng nhỏ giữa nhà, ánh sáng của ngọn đèn dầu chiếu sáng bà tôi và Nhất Linh
đang ngồi trên chiếu trải dưới đất. Tôi báo tin, ông lầm lì rót thêm bia vào một
ly, đưa tôi: “Cháu đến đây có ai theo không?”. Tôi trả lời: “Không có ai. Cháu
đi cẩn thận, ngay quanh nhà cũng chưa có ai canh chừng cả”. Tôi châm thuốc hút,
căn phòng im lặng đến độ tưởng như nghe được tiếng khói bay. Bà tôi, mặc cà-sa
nâu, nét mặt gần như bình thản. Không biết đó là hiệu quả những năm tu hành,
hay là bà tôi quá quen với những đứa con trai suốt đời làm cách mạng, tổ chức
bí mật, thất bại và trốn tránh. “Bác cho cháu theo bác. Cháu khá nhanh nhẹn, có
thể giúp ích khi cần…”. Nhất Linh im lặng hút thuốc. Tôi chờ đợi đợi. Ông đẩy
ly bia về phía tôi: “Cháu uống hết đi rồi về. Cháu lo cho các bạn cháu đi. Còn
bác, bác đã có cách”. Tôi uống hết bia, hút hết điếu thuốc, chào bà, chào bác rồi
tới tìm Thi và bắt đầu sống một thời kỳ lẩn trốn như một con chuột thành phố.
Có lẽ quá mệt mỏi vì lối sống này, tôi tới nhờ cha Cras, một thầy dạy và cũng
là người thứ hai sau Nhất Linh, tôi kính mến trong đời, giúp cho vượt biên giới.
Nhưng khi tới sát biên giới, tôi lại trở về. Có lẽ tôi bị ám ảnh bởi sự kiện Nhất
Linh sau khi rời bỏ chính trị năm 1950, có qua Paris ở với con cả một thời
gian, nhưng chỉ một thời gian ngắn thôi. Ông không thể ở lại, vì ông là một người
dụ ngôn đích thực, sinh ra, sống và tranh đấu ở miền đất này, để rồi sẽ chết
cũng tại đó.
Sau một thế gian im lặng, Nhất Linh tung ra một bộ tiểu thuyết
gồm ba cuốn viết trong thời gian ẩn trốn. Dĩ nhiên là chúng tôi vội vã tìm đọc,
và cũng thất vọng nhanh chóng. Bộ Dòng sông Thanh Thuỷ diễn tả cuộc đời làm
cách mạng của một người mang vóc dáng Nhất Linh, nhưng không diễn đạt được.
Nhân vật Ngọc thật xa cách với nhân vật chúng tôi kỳ vọng phải có. Lam cắt
nghĩa: “Bác sẽ không thể viết được nữa. Quá khứ dầy đặc đã đè bẹp tâm hồn bác rồi…”.
Tuy không hiểu rõ Lam định nói gì, nhưng nghe câu đó tự dưng tôi có cảm tưởng
Nhất Linh sắp đi đến quãng chót của đời mình. Khi ông về căn gác trông xuống chợ
An Đông, tôi hay đến thăm hơn xưa. Nhiều khi tôi tới, cúi chào, ông gật đầu rồi
im lặng, tôi lục một cuốn sách ngồi đọc cho tới lúc muốn về. Vào thời kỳ này,
tương đối ông có vẻ cảm tình với tôi hơn. Có lần gần ngày thi, chưa có tiền nộp
lệ phí, ông bỏ tiền vào một cuốn sách, kín đáo đưa cho. Nhưng giữa hai bác cháu
bao giờ cũng có một ngăn cách khó xác định. Một buổi sáng, cửa đóng kín che nắng,
tiếng ồn ào của chợ họp phía dưới vang lên, tôi nhìn người bác già, thấy như đã
thuộc vào dĩ vãng hay một thế giới khác. Cũng trong khoảng thời gian này, bà
ngoại tôi mất. Lúc biết tin, bác đang đau, nhờ người vực tới, ngồi bên xác mẹ rồi
trở về. Cái chết này, tôi tin đã làm ông chìm sâu hơn trong đau buồn. Từ lúc
các con lập gia đình riêng, bà tôi thân và yêu Nhất Linh hơn cả. Và dù người
già khó tính ghê gớm, trong các con, không kể mẹ tôi là gái, Nhất Linh cũng là
người chịu đựng những trái tính của mẹ già tài hơn cả. Trên bàn thờ chính của họ
Nguyễn Tường, còn để một bức minh hoạ bà tôi do Nhất Linh vẽ bằng bút chì, nét
thật nhỏ và mờ.
Tôi đi dạy học xa, rồi bị động viên nên lâu lâu mới tới chợ
An Đông một lần. Thường thường hai bác cháu cũng chẳng nhiều lời hơn. Có khi buổi
viếng thăm thu gọn lại trong hai cái chào: khi tới và khi về. Một buổi sáng thứ
sáu, tôi rời Sài Gòn đi đơn vị. Chiều thứ bảy đọc báo có tin Nguyễn Tường Tam sẽ
bị đưa ra toà vào sáng thứ hai 7-7, ngày Song thất của Diệm, người tôi như căng
ra vì chờ đợi một biến cố: không một quốc gia nào đưa một con người như Nhất
Linh ra toà mà không xảy ra một biến cố nào. Tôi hình dung, tưởng tượng tới
thái độ Nhất Linh sẽ có: ông sẽ im lặng hoàn toàn trước tất cả mọi câu hỏi, lời
kết tội? Ông sẽ chỉ nói một câu nhận hết trách nhiệm cho các đồng chí cùng bị xử?
Ông sẽ rút vào bóng tối, sẽ vượt biên giới? Tôi nghĩ tới đủ các giả thuyết,
nhưng tôi không thể ngờ ông đã chọn cái chết phản kháng như vậy. Một người bạn
nghe đài B.B.C. báo tin cho tôi biết. Ngồi bất động trong một quán tới trưa,
tôi ra bưu điện gửi điện tín cho Thi: “Mai đi P.K. Em đưa đám bác hộ anh”. Rồi
lang thang trong thị trấn tới khuya, chỉ trở về phòng trọ đủ thời giờ thu xếp
quân trang. Đi chuyến xe đầu lên cao nguyên.
Nhất Linh Nguyễn Tường Tam chết, dĩ nhiên không thể đơn giản.
Những nhân vật quan trọng trong chính quyền ùa tới, theo chỉ thị của ông Nhu,
ép buộc đe doạ tang gia phải mai táng gấp. Lam ở Đà Lạt về và cùng Thi, luôn
luôn có mặt ở căn nhà chợ An Đông cùng các con lo đối phó. Quyết định đầu tiên
là đợi chủ nhật mới đưa đám, viện cớ con cả còn ở Pháp chưa về kịp, sự thực chỉ
cốt để thực hiện cho tới mức chót ý muốn sau cùng của Nhất Linh: một phản kháng
kiêu hùng và bi thảm. Mật vụ bổ vây kín dòng họ và chính tang gia sau cùng cũng
không còn phân biệt được đâu là người đến viếng, đâu là mật vụ nữa. Chính sách
của ông Nhu dùng khủng bố để đàn áp nên những người đến viếng gồm đàn bà nhiều
hơn đàn ông, - đàn ông ở nhà tránh bắt bớ để còn “làm một cái gì cho cái chết của
Nhất Linh khỏi trở thành vô ích”, một đồng chí lão thành một đảng kỳ cựu nói vậy.
Chính quyền từ chối không cho mang quan tài đến chùa làm lễ cầu siêu, bắt đám
tang phải đi theo một giờ nhất định và lộ trình nhất định. Tang gia dùng tiếng
khóc cổ truyền của đàn bà Việt Nam làm lợi khí. Lan và Thi, ngoài việc dịch những
câu phúng viếng, dịch cả ý nghĩa những tiếng khóc kể lể của các bà trong dòng họ
cho thông tín viên, gây những xúc động cần thiết tại ngoại quốc. Sau cùng chính
quyền chịu để đám tang ghé chùa Xá Lợi làm lễ cầu siêu nhưng không được mang
quan tài vào. Ông Nhu đã nhượng bộ dù đã bực tức nói với các thuộc viên: “Hắn sống
có đi lễ chùa bao giờ, bây giờ đòi cầu siêu!”. Đáng tiếc các thuộc viên này
không đủ can đảm nói cho ông Nhu biết người thân sinh ra Nhất Linh đã là một cụ
sư sau những năm tu hành cả quãng chót của cuộc đời, và dù chẳng mấy khi đến
chùa, Nhất Linh chưa bao giờ tỏ vẻ coi thường bàn thờ Phật có thường trực trong
nhà. Rồi đám tang cũng cử hành với sự hộ tống đầy đủ của Mật vụ và Cảnh sát chiến
đấu. Chỉ có một vòng hoa đi đầu. Ảnh Nguyễn Thái Học, một người cháu mang đi
trước, bức hình chụp lại chân dung Nhất Linh do Nguyễn Gia Trí vẽ, một người
cháu cầm đi kế tiếp. Một đảng viên Việt Quốc, có nhiệm vụ mang đảng kỳ tới huyệt,
sợ Mật vụ tịch thu, nên trao cho Thi mang hộ. Lá cờ sao trắng, lá cờ tôi đã rời
bỏ bốn năm về trước, tôi không thể ngờ có ngày chính Thi lại là người mang tới
huyệt, phủ lên quan tài người đã khuất. Thi đã làm đúng lời dặn, nàng đã thay
tôi kẹt ở một ngọn đồi cỏ, đưa người bác kiêu hùng đến nơi yên nghỉ cuối cùng.
Một tháng sau, tôi xin được phép về Sài Gòn. Tôi cùng Thi xuống
nghĩa trang Giác Minh thăm mộ bà tôi, ba tôi và người bác. Tàn hương ra về, tôi
gặp Lam. Hai đứa nhìn nhau, mặt Lam sắt lại, răn cắn chặt lấy chiếc pipe. “Đã đến
lúc phải làm mlọt cái gì!’. “Đã đến lúc phải làm một cái gì!”… câu nói ám ảnh
các con cháu, và tới cả những người, khi Nhất Linh còn sống, không đồng ý hoàn
toàn với cả đời sống của ông. Chiều 26 tháng 10, Lam từ Đà Lạt về và tôi từ
Pleiku gặp nhau tại Sài Gòn. Ngồi trong khu vườn mía um tùm của mẹ tôi, Lam bàn
về cuộc đảo chính đang chuẩn bị. Mật vụ bổ vây khắp nơi xiết chặt đến nỗi cả
tôi lẫn Lam đều đồng ý: “Trong một tuần nữa không đảo chính, họ cho mình vào tù
hết”. Chiều 28, an ninh cá nhân mỏng manh đến độ Lam quyết định: “Thôi, Du đi
đi. Bác dặn phải tiết kiệm nhân lực. Để mình anh ở lại. Có thua, đến lượt Du lần
sau”. Sáng sớm hôm sau, tôi lên đường trở về đơn vị, suốt ngày quanh quẩn quanh
chiếc máy phát thanh. Hai ngày sau đảo chính, tôi nằm ôm máy phát than cho tới
sáng. Bởi vì nếu lần này thất bại, hẳn trong nghĩa trang Giác Minh sẽ thêm mộ
Lam. Và không hẳn chỉ thêm một mộ mà thôi. Đảo chính thành công và một cách mạng
thành hình. Khi con thứ Nhất Linh bước vào phòng họp ở Tổng Tham mưu, Trung tướng
Dương Văn Minh yêu cầu toàn thể Hội đồng Quân nhân Cách mạng đứng mặc niệm một
phút nhà văn Nhất Linh và cách mạng gia Nguyễn Tường Tam. Và cuộc cách mạng chấm
dứt sau phút ấy. Sau đó, chính trị bắt đầu, thứ chính trị mà chính người được mặc
niệm đã bao lần chối bỏ trong đời.
Tường Hùng - Người Chú.
Roma yên lành, yêu đời, có trời xanh ngắt, đường phố thái
bình, mọi người hình như chỉ vội vàng vui vẻ sống để hưởng hết cái đẹp của tỉnh
đẹp này.
Buổi sáng hôm đó một người bạn tôi gọi dây nói và báo tin Nhất
Linh mất. Tự tử. Tin đến dữ dội như sét đánh, rồi bỗng biến đi, yên lặng. Tôi vội
vã đi xuống đường, lẫn vào đám đông, và trong cái tiếng xa lạ và quen thuộc này
tôi dần dần thấy Nhất Linh.
Sau khi chính quyền Pháp bị lật đổ, Nhất Linh – Nguyễn Tường
Tam thì đúng hơn – trở về Hà Nội. Ông tới nhà chúng tôi. Rất hiên ngang, to lớn,
mặc áo da phi công, chân đi giày ống, trên mép có hàm râu đen nhánh. Con người
cách mạng, cương quyết, sau bao năm tranh đấu, trở về mang theo tất cả sự quyến
rũ của cuộc đời hùng mạnh, như Dũng trong truyện Loan và Dũng.
Tôi còn nhớ đôi mắt nhìn thẳng dưới đôi lông mày rậm (điểm đặc
biệt của gia đình chúng tôi), nụ cười rộng lượng phô hàm răng trắng, đều.
Rồi bao nhiêu biến đổi, Việt Minh cướp chính quyền. Tản cư.
Loạn lạc. Khi tôi vào Sài Gòn tôi lại gặp Nhất Linh.
Đối với tôi, Nhất Linh bé nhỏ hẳn đi, tóc đã muối tiêu, đi đứng
nhẹ nhàng, như một nhà ẩn dật, và giống một văn sĩ. Nhưng vẫn nụ cười ngày xưa
rộng lượng và tha thứ tất cả mọi sự.
Có đôi mắt Nhất Linh làm tôi ngạc nhiên: đôi mắt trở thành
màu xám đục. Cũng như mắt của bà tôi khi trở về già, đôi mắt không đen.
Và việc hoạt động cho văn nghệ bắt đầu. Nhất Linh vẫn thường
nói văn hoá có sức mạnh thay đổi lâu bền hơn chính trị. Làm chính trị có ích
trong một thời, làm văn hoá – nếu thành công – sẽ còn lại mãi mãi. Điểm này
cũng giống như câu châm ngôn của báo Văn hoá ngày nay: “Văn chương vượt không
gian và thời gian”.
Nhất Linh có sức làm việc phi thường. Làm việc cả ngày không
mệt. Những hôm bận việc Nhất Linh chỉ ngủ hai ba tiếng đồng hồ. Khi làm báo có
khi hàng tuần Nhất Linh làm việc như vậy. Vì đã tìm ra triết lý tuyệt hảo, Nhất
Linh đã áp dụng triết lý này vào tất cả mọi việc trong đời Nhất Linh. Khi làm
gì thì làm với tất cả tâm hồn, làm cho tới mức tuyệt hảo. Và Nhất Linh nói tới
chuyện rửa bát ở bên Tàu. Nếu ta rửa bát một cách qua loa cho xong việc thì ta
ngại rửa bát, nhưng nếu ta coi việc đó như một nghệ thuật cần phải làm tới cùng
thì việc rửa bát tự nhiên trở nên hứng thú. Cuộc đời Nhất Linh hứng thú vì Nhất
Linh sống cuộc đời của mình đến tận cùng.
Khi còn ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong căn nhà có vườn cỏ xanh
bao bọc, phòng tôi ở ngay cạnh phòng của Nhất Linh. Nhiều đêm tỉnh giấc vào
quãng ba bốn giờ sáng, tôi thấy bên phòng Nhất Linh còn đèn sáng. Tôi sang thăm
và cảnh làm việc làm tôi sợ hãi.
Trong căn phòng đầy sách vở, giấy tờ, Nhất Linh cặm cụi soạn
bài, sửa bài, vẽ, một mình làm gần hết tờ báo. Trong phòng khói thuốc trừ muỗi
bay mờ mịt. Trên trần cái quạt quay nhanh, không khí lành lạnh làm tôi rùng
mình nghĩ đến sức khoẻ của Nhất Linh.
“Chú không ngủ, nhỡ ốm thì ai làm Văn hoá ngày nay?”
Tay run run châm điếu thuốc, Nhất Linh nhìn tôi, mỉm cười:
“Cháu đang còn sức trai, cần phải ngủ nhiều.”
Những điểm gì đã làm Nhất Linh trội hơn nhiều người trong những
phạm vi ông hoạt động? Tôi cho rằng đó là sự ham mê, hay nói một cách khác đi,
triết lý tuyệt hảo. Ông có tài lôi cuốn nhiều người vào công việc làm của ông
vì thế. Ngày xưa khi ông ở Hưng Yên, ông đã làm cả tỉnh hăng hái tập thể thao.
Khi ở trên Đà Lạt, tôi thấy nhiều người chơi hoa lan theo Nhất Linh. Đó chỉ là
một vài việc nhỏ, để chứng tỏ sức lôi cuốn đám đông của ông. Còn những việc to
lớn hơn mà tôi không nói đến như chính trị văn hoá. Trong tất cả các hoạt động
này Nhất Linh không kém ai, vì ông đã làm với tất cả tâm hồn của ông.
Và thêm vào đó – một điều rất quan trọng: Nhất Linh có một khối
óc phi thường, luôn luôn có những ý kiến mạnh mẽ. Ông nhìn rất xa, bao trùm cả
vấn đề, rồi giản dị hoá tất cả. Có thể nói Nhất Linh là một tâm hồn phức tạp –
một người ưa hoạt động và thực tế.
Ông thường nói ông bị giằng xé nhiều năm bởi hai khuynh hướng
đó. Ông đã hoạt động về xã hội làm nhà Ánh Sáng, về chính trị chống Pháp, chống
cộng sản. Ông đã trở về tu tiên ở Đà Lạt để chỉ sáng tác văn nghệ. Việc mà đã
điều hoà được cả hai khuynh hướng, đó làm báo làm báo. Và Nhất Linh đã làm những
tờ báo nổi tiếng: Phong hoá, Ngày nay.
Trong các tiểu thuyết của Nhất Linh, người ta cũng thấy sự hiện
diện của hai sức mạnh đó. Ngày trước, thời của các cuốn Đôi bạn, Đoạn tuyệt, tiểu
thuyết của Nhất Linh là một phương tiện tranh đấu. Nghệ thuật chỉ đứng sau,
nhưng cũng rất rõ rệt, đủ để chứng tỏ ông là một văn sĩ có tài. Và dần dần nghệ
thuật trở nên quan trọng, trong Bướm trắng chẳng hạn.
Trong các tác phẩm cuối cùng của Nhất Linh như Xóm cầu Mới,
Cô Mùi, thì Nhất Linh trở nên hoàn toàn văn sĩ.
Nguyễn Du nói tạo hoá ghen ghét những người tài hoa. Nhưng
làm gì có tạo hoá theo nghĩa của Nguyễn Du! Những người tài hoa đã tự lựa chọn
cuộc đời của họ. Và vì nhân cách không giống tất cả mọi người, họ thường phải đối
chọi với xã hội và chết một cách khác thường, nhiều khi vô lý. Tại sao
Hemingway nhét khẩu súng vào mồm, bắn nổ tung óc, để tự tử? Tôi không bao giờ
nghĩ rằng Nhất Linh tự tử, tự tử một cách giản dị như bước đi một bước, một bước
sang thế giới bên kia. Giản dị và tự nhiên như câu thơ của Nhất Linh nhẹ nhàng:
“Hạt muối tan trong bát nước lã”. Tôi chưa bao giờ được nghe Nhất Linh nói đến
sự chết. Đôi khi Nhất Linh nói đến triết lý, một thứ triết lý thấm nhuần sự
bình thản của đạo Phật, sự hoà hợp với thiên nhiên của đạo Lão. Nhất Linh viết
về sự chết, để tả cái gì xảy ra sau khi chết: người ta sẽ “phiêu diêu” trong sự
sung sướng, thân thể sẽ tan đi mất như trong một giấc mơ. Nhưng Nhất Linh tự tử!
Có lẽ người ta rất sung sướng khi được biết sự bí mật cuối
cùng cuộc đời dành cho ta: SỰ CHẾT.
Ở Đà Lạt Nhất Linh thường ngâm câu thơ:
Người đi lâu chửa thấy về
Nhớ người lòng suối Đa-mê gợn buồn.
Tôi vẫn thường tự hỏi có phải Nhất Linh nhớ dòng suối Đa-mê
thực hay không. Trời Đà Lạt lạnh, lòng suối trong suốt, nước cũng lạnh buốt nằm
trơ giữa cỏ cây, cô đơn trong rừng núi, nếu thực suối có nhớ ai thì suối có
khung cảnh ảm đạm, nỗi buồn của suối sẽ thấm thía. Bây giờ trở lại nơi cũ, cạnh
dòng suối, người ta tìm hình bóng Nhất Linh trong chiếc võng treo giữa hai cái
cây. Lan rừng vẫn tung hương cho gió, như những câu văn của Nhất Linh vẫn còn nằm
trên giấy, vẫn nói bằng giọng nói của Nhất Linh. Tôi không khỏi xao xuyến khi
giở tập truyện của Nhất Linh ra đọc. Hình như người vẫn còn lẩn quất đâu đây, gầy
gò, thanh đạm chơi lan, cặm cụi viết văn và đôi khi mỉm cười rộng lượng tha thứ
tất cả.
Nhất Linh đã mất nhưng tâm hồn của Nhất Linh còn mãi mãi. Và
khi đọc cuốn trường thiên tiểu thuyết Xóm cầu Mới”, người ta sẽ thấy, qua cảnh
khốn khổ nhưng khôi hài của một đám dân trong xóm nhỏ, người ta sẽ thấy Nhất
Linh mỉm cười. Phải giấu lòng yêu nhân loại mới có nụ cười đó.
Một vài nét về chân dung Nhất Linh
Con người
Ít khi tôi gặp một người bình dân như Nhất Linh. Dù ông nói
chuyện với một văn sĩ trứ danh, một anh bán phở, một lãnh tụ chính trị hay một
cậu bé con, ông vẫn giữ thái độ giản dị, hoà nhã.
Hồi còn báo Văn hoá ngày nay, Nhất Linh bàn cãi với Duy Lam
và tôi – chúng tôi rất trẻ tuổi – coi chúng tôi ngang hàng. Trong những buổi họp
ở Trung tâm Bút Việt, Nhất Linh bảo tôi gọi ông bằng “anh”, bởi vì theo Nhất
Linh cùng là văn sĩ thì không còn coi nhau như chú cháu nữa. Khi đi đến nhà báo
hay đến nhà in, Nhất Linh thường ngồi đằng sau cái xe Lambretta của tôi. Ông
không thích xe hơi, không thích lái.
Nhưng Nhất Linh rất ghét xã giao, ghét lạc vào một phòng
khách nói những chuyện thù tiếp. Trong những bữa tiệc đông người, Nhất Linh thường
chỉ yên lặng cười và uống rượu.
Bề ngoài Nhất Linh tuy rất bình thản, hoà nhã, nhưng bên
trong – theo lời Nhất Linh – thì nhiều lúc chứa những bão táp ghê gớm, những tư
tưởng mà chính Nhất Linh cũng không ngờ tại sao ông lại có. Có lẽ vì có một tâm
hồn dễ xúc động quá mực thường nên đôi khi Nhất Linh nổi giận một cách khác thường.
Dễ xúc động cũng tùy lúc. Có lần Nhất Linh tự dưng ôm mặt
khóc, vô cớ, như để thoả mãn một nỗi ấm ức không tên. Nhưng ở hội nghị Pháp -
Việt tại Đà Lạt, khi Pháp ra những điều kiện gắt gao để bắt chẹt Việt Nam, khi
hội nghị tan vỡ và viễn tượng chiến tranh hiện rõ, Nhất Linh đã nhỏ những giọt
nước mắt yêu nước.
Một buổi trưa sau bữa cơm, hồi Nguyễn Tường Tam còn uống rượu,
Nhất Linh đã trở vào buồng nằm, cửa đống. Lúc đó thì một bà mà chúng tôi vẫn gọi
là cô vì thân với gia đình, đến chơi. Bà tính ồn ào, vui vẻ, lúc nào cũng cười
nói. Sau khi tán chuyện với chúng tôi, bà hỏi:
“Anh Tam đâu rồi? Chắc lại vào buồng nằm.”
Nói rồi bà vào phòng Nhất Linh, không gõ cửa như lệ thường ở
nước mình, đẩy cửa vào.
Một lúc sau chúng tôi nghe thấy tiếng quát tháo của Nhất Linh
rồi tiếng chai bị ném vỡ trên sàn nhà.
Nhất Linh nổi giận vì cô chúng tôi vào không gõ cửa! Mọi khi
vào phòng Nhất Linh có bao giờ chúng tôi gõ cửa đâu!
Nhưng Nhất Linh quên giận rất nhanh chóng.
Hờn dỗi là một tính cố hữu của một vài người trong họ chúng
tôi. Tôi còn nhớ hồi nhỏ chơi đùa với Duy Lam, nếu lỡ làm Duy Lam giận thì
chúng tôi lại mất công dỗ Duy Lam cả ngày. Nhất Linh tuy không tỏ ra hờn dỗi
ai, nhưng trong truyện của Nhất Linh các nhân vật hay hờn dỗi nhau. Họ thường hờn
dỗi nhau vì họ yêu nhau. Có bao nhiêu xen Trương dỗi Thu, Thu dỗi Trương trong
truyện Bướm trắng. Ngay trong cuốn Xóm Cầu Mới (chưa in) có nhiều đoạn Mùi dỗi
ông anh họ Siêu, rớm máu trên da và để lòng nhẹ đi. Ngay cả Triết, em Mùi, cũng
dỗi Mùi. Chắc Nhất Linh cũng cảm thấy tình cảm đó một cách thấm thía nên mới
hay nhắc lại trong truyện của ông.
Làm việc
William Faulkner đã nói về người viết văn: “Văn sĩ có tài cần
phải có 90% tài, 90% kỷ luật và 90% làm việc… Không bao giờ hoàn toàn hài lòng
về cái mình viết vì lúc nào mình cũng có thể viết hơn được. Bao giờ cũng nhìn
lên cao. Không để ý đến phải hơn các văn sĩ khác cùng thời hay các văn sĩ ngày
xưa, chỉ cần phải hơn mình là đủ. Một nghệ sĩ là một nhân vật bị lôi cuốn bởi một
con quỷ…” – tôi thấy câu này thực hợp với Nhất Linh khi ông làm việc.
Một hôm trời đẹp Nhất Linh tươi cười đưa cho tôi một chồng bản
thảo cuốn truyện dài Xóm Cầu Mới. Những trang giấy trắng không kẻ hàng đóng
thành từng tập dày, bìa đen, chứa đầy những dòng chữ nhỏ li ti, viết bằng mực
xanh lá cây, xanh da trời, những chữ bị cắt thành từng gạch nhỏ, như ai đã cầm
kéo cắt vụn và trải trên giấy, như đã bị những tư tưởng dồn dập và xao động đã
đập tan, kéo dài thành những con đường chứa các hình ảnh, những băn khoăn muốn
chạy mau về một nơi nào. Và những dòng chữ dó nhiều nơi bị dập xoá, viết chồng
lên, nhiều đoạn được viết lại.
Cuốn truyện này Nhất Linh đã viết năm sáu lần, bản thảo đã có
khi bị mất nên Nhất Linh phải nhớ lại và viết lại. Theo tôi biết đó là tác phẩm
cuối cùng của Nhất Linh. (Những lúc xa Nhất Linh tôi không được biết ông có
sáng tác chuyện nào không).
Tôi yên chí đó là hình thức cuối cùng của cuốn truyện, tôi tưởng
viết như thế là đã tới sự thăng bằng của tư tưởng, của văn, của chữ. Khi Nhất
Linh trích những đoạn trong Xóm Cầu Mới để đăng thành truyện ngắn, tôi ngạc
nhiên vì ông đã viết lại, thêm bớt, gọt dũa không biết bao nhiêu lần nữa. Và
khi đã xếp chữ tại nhà in, Nhất Linh còn sửa đi sửa lại, cặp kính trắng hơi trễ
trên mũi, tay run run cầm cái bút Parker 61, viết ngoằn ngoèo và nhanh. Ông thường
khuyên tôi: “Chỉ cần thêm bớt một chút là truyện trở nên khác hẳn, nhưng cái
khó là tìm ra phải thêm gì, phải bớt gì”. Tôi nghĩ có lẽ cũng như một bức
tranh, một phong cảnh đẹp, nếu các phần tử hoà thuận với nhau, sẽ gây cho chúng
ta những rung động. Văn sĩ dàn xếp các tiếng như một nhạc sĩ điều khiển âm
thanh. Các tiếng, và cả các nhân vật nữa, khi gặp nhau sẽ có phản ứng, phản ứng
mà văn sĩ đoán trước, nhưng không bao giờ biết trước được rõ ràng. Đó là một
trong những cái bất ngờ thú vị khi viết văn.
Nhất Linh thường làm việc rất khuya, có khi đến rạng đông. Nhất
Linh làm việc một cách say mê, gần như quên hết các việc khác, quên khung cảnh
chung quanh. Nhưng ông cũng hay dậy sớm ngồi hút thuốc lá trên cái ghế vải, nhấm
nháp chén trà tàu. Ông thích viết trên giấy trắng không kẽ hàng, nhưng dòng chữ
của Nhất Linh vẫn chạy thẳng chứ không bay lên hay chúi xuống. Ít khi ông viết ở
bàn viết, ông hay viết ngồi trong cái ghế vải.
Ông thường suy nghĩ rất nhiều về một truyện muốn viết, suy
nghĩ một cách đại cương, về một vài xen, nhân vật. Rồi khi viết thì ông chỉ việc
thả các nhân vật, đã được định rõ ràng, muốn sống ra sao thì sống, vì vậy có
nhiều biến chuyển bất ngờ có khi đổi hẳn cốt truyện. Những điều này Nhất Linh
đã viết thành sách để dựng một lý thuyết về cách viết văn.
Nhất Linh có những sáng kiến bất ngờ và những sáng kiến đó dồn
dập đến. Một hôm bị giục gấp quá, tôi đưa cho Nhất Linh một mẩu mà tôi định làm
thành truyện ngắn, mẩu đó không có đầu không có đuôi. Nhất Linh đọc xong, cầm
bút viết thêm một chút để cho có kết cục, sửa vài đoạn để cho có mạch lạc, rồi
đặt thành một mục mới cho Văn hoá ngày nay: mục “Chàng và Nàng”. Đó chỉ là một
mục vui vui, nhưng sau nhờ tài hài hước của Duy Lam mục đó đã được nhiều nữ độc
giả viết thư đến “chửi” lại bọn con trai chúng tôi.
Những sáng kiến của Nhất Linh giúp rất nhiều về các truyện mà
Nhất Linh sữa. Chỉ vài câu đặt lại, vài đoạn cho lên cho xuống, truyện tự nhiên
đổi khác hẳn đi, rõ ràng hẳn lên.
Thường Nhất Linh rất ghét các câu quá “Tây”, những câu bí hiểm
đầy chữ khó hiểu, những câu sáo rỗng. Ông chủ trương một lối văn hoàn toàn Việt
Nam và thực giản dị.
Vài tài nhỏ
Nhất Linh có tài leo núi, kiếm lan. Ông thấy leo lên thì dễ
mà xuống thì khó. Tuy đã lớn tuổi nhưng ông còn rất nhanh nhẹn, nhiều người trẻ
tuổi không theo kịp ông. Ông có con mắt tỉnh, tuy phải đeo kính, tìm thấy những
cụm lan đẹp một cách nhanh chóng.
Đem lan về ông còn bày hoa vào những chậu, cho hoa mọc trên
những mảnh gỗ mà ông đã chọn mãi để có một hình đẹp. Rồi ông treo tất cả ở
trong phòng. Chỗ thì có lan thấp nhỏ, chỗ thì lan mọc thành những dây dài lòng
thòng xuống, tất cả họp lại thành một khung cảnh cảnh lan thực đẹp.
Nhất Linh vẽ cũng khá. Ông đã thi đỗ đầu vào Trường Mỹ thuật
Hà Nội mà ông theo học một năm để đổi sang học về khoa học ở Pháp. (Ông đổ cử
nhân khoa học sau một năm học nhờ trí thông minh và cũng nhờ một sự cho phép đặc
biệt nhảy qua năm học. Nhưng Nhất Linh không dùng tài vẽ của ông để thành hoạ
sĩ. Ông chỉ dùng trong báo chí. Tất cả bìa Văn hoá ngày nay đều do Nhất Linh vẽ.
Cũng có lần nhờ tài vẽ để kiếm ăn: khi Nhất Linh lưu lạc ở Cao Miên và Sài Gòn,
ông đi vẽ phông các rạp hát.
Nhất Linh có nói là Nhất Linh biết nấu mấy món ngon. Tôi chưa
được Nhất Linh cho thưởng thức tài làm bếp của ông. Nhưng tôi có được biết tài
rửa bát của Nhất Linh. Bát nào cũng sạch sẽ, khô ráo và sáng tinh.
Trí nhớ và sự khiêm tốn không cho tôi nói nhiều về một người
chú mà tôi kính mến. Đáng lẽ tôi phải nói vài tật xấu để cho rõ chân dung Nhất
Linh hơn, nhưng tôi xin thú thực sau bao nhiêu năm ở gần Nhất Linh tôi chưa được
biết một tính xấu nào của Nhất Linh. Đã có một dạo cứ mỗi buổi chiều Nhất Linh
lại say rượu. Nhưng ông uống rượu chỉ để cho dễ ngủ, và lúc say ông chỉ ngồi im
nghĩ ngợi trong căn phòng không có ánh sáng. Nhưng ông cũng bỏ được thói xấu đó
và thay rượu bằng một buổi tập thể dục trước cửa sổ.
Thời gian sẽ xoá dần kỷ niệm con người Nhất Linh. Nhưng qua
các tác phẩm của ông, qua các dòng chữ nói những câu quen thuộc, qua những nhân
vật sống, yêu, ghét nhau, qua những tư tưởng trong các trang giấy, người ta sẽ
biết một phần chính Nhất Linh, một phần mà tôi mong sẽ bền Meursault.
Tuyết Hương - Gieo Hạt.
Người ta bảo tôi may mắn, mới ra đời đã được người giúp cho nổi
tiếng ngay. Cũng đúng, và cũng không đúng. Nếu ở đời này muốn thành công cần phải
kiên nhẫn, thì muốn được người giúp cũng cần có kiên nhẫn vậy.
Thuở nhỏ, chả có gì tỏ ra tôi có khiếu về văn chương. Làm luận
văn tôi có biệt tài về dùng những chữ thì, là. Câu nào cũng tìm được cách cho
được một chữ vào. Bài luận văn dài chưa đầy một trang, cô giáo đếm được hơn một
tá “thì”. Tôi còn nhớ một hôm phải làm đơn trình ông cò đêm qua nhà mất trộm.
Cô giáo đã đọc câu: “Đang thiu thiu ngủ bỗng nghe tiếng động tôi vội chồm dậy”.
Cả lớp cười. Người ta ngỡ tác giả là một chú khuyển. Người thì ngồi nhổm dậy,
chứ ai lại “chồm dậy”!
Không có khiếu về văn chương, tôi lại mộng làm thi sĩ. Ấy thế
mới tội! Trong khi các bạn nô đùa, chạy nhảy, tôi chỉ mãi dạo tha thẩn dưới gốc
cây, trông mây bay nghe chim hót mà tìm vần. Tới khi thơ chép đã đầy cả mấy cuốn
vở, đọc lên tự nghe đã… thấy hay, lại hàng ngày xem báo thấy thơ thẩn đăng nườm
nượp, tôi nảy ra ý gửi đăng và chọn một bài gửi tới một tờ nhật báo. Từ hôm đó,
ngày nào tôi cũng mong giờ phát báo, mở vội ra xem có thấy thơ của mình. Đêm
nào tôi cũng mơ màng thấy tên mình in đậm nét trên trang văn chương.
Chờ mãi, đợi hoài. Hồi hộp hy vọng chán cái mộng tên in trên
báo đã thành sự thật. Nhưng người ta in tên tôi để nhắn rằng thơ dở lắm, không
đăng được. Và thành thực khuyên tôi nên chọn một nghề gì thích hợp hơn. Đừng để
mất thời giờ với thơ thẩn mà xao nhãng việc học.
Lần đầu tiên tôi hiểu thất vọng là thế nào. Trời như tối lại.
Tôi muốn chui vào lòng trái đất nằm im lặng mà gậm nhấm cái sầu này. Tôi có cảm
tưởng như lối tới tương lai của mình đã bị hai cánh cửa sắt đen ngòm khép kín,
không bao giờ mở ra nữa.
May sao tuổi trẻ là tuổi dễ quên, là tuổi dồi dào sức quật khởi.
Cho nên buồn chán rồi, một hôm tôi nghĩ:
“Không có khiếu về thơ, thì viết văn cần chi!”
Lần này có bao nhiêu tiền túi tôi đem hết ra mua báo. Tất cả
các báo hiện phát hành: nhật báo, tuần báo, bán nguyệt san… Tôi muốn xem tờ nào
có cảm tình với hạng văn sĩ tập sự nhất để gửi gấm tác phẩm của mình.
Đã cẩn thận thế mà bài của tôi cũng bị từ chối. Có lẽ trái
tim đã “dày dạn” vì lần thất vọng trước, lần này đã không buồn tôi lại nghĩ:
“Đã thế không thèm làm văn sĩ nữa!”
Trên đời này đâu phải chỉ có nghề viết văn. Thiếu gì thứ sĩ
khác nhỉ!
Không may chưa được bao lâu tôi bị ốm nặng. Lần này tương lai
coi bộ đen tối thật. Trong những ngày đen tối nhất, không thể làm gì khác, tôi
lại tìm đến giấy bút. Tôi viết một truyện buồn, lấy nhan đề “Sống với đối với”.
Đúng dịp tờ Văn hoá ngày nay ra đời. Và tôi đã gửi truyện ngắn này tới tờ báo
quy tụ nhiều cây bút lão luyện nhất. Thật đúng là liều!
Gửi bài đi mà không mong được trả lời. Bị mấy lần thất vọng,
tôi cũng yên trí mình không có khiếu về văn chương. Cứ tin chắc bài của mình lại
vào sọt giấy, không chờ đợi nữa cho tâm trí yên ổn mà viết bài khác. Nhờ kinh
nghiệm từng trải tôi đã trở nên “khôn ngoan” như vậy. Với lại làng báo hàng
ngày còn phải nửa tháng mới biết bài không được đăng. Văn hoá ngày nay mỗi
tháng ra có một kỳ, ít ra phải chờ sáu tháng.
Đã chắc như vậy nên tôi vô cùng ngạc nhiên khi bài gửi đi
chưa được hai ngày đã được trả lời. Lại thư riêng. Chính ông Nhất Linh viết! Thật
quả tôi không ngờ hạng văn sĩ tập sự mà được cái vinh dự ấy.
Thú thật tôi không thể tưởng tượng văn của mình sẽ được khen,
lại được khen “hay vô cùng”. Ông lại khuyên tôi rất nên viết nữa, viết thật nhiều.
Chỉ có vài dòng thôi. Nhưng ông đã viết thêm rằng với văn của tôi ông cần gặp để
nói chuyện nhiều. Ông đã mời tôi tới toà soạn.
Lẽ dĩ nhiên tôi không thể tới. Tuy tôi rất muốn gặp ông cho
biết người, biết mặt. Trong thư phúc đáp tôi đã nói rõ lý do. Và tôi đã được
ngay thư ông yêu cầu tôi nên yên trí tĩnh dưỡng, ông sẽ tới thăm. Vài hôm sau
ông đã thân hành tới gặp tôi thật. Cuộc gặp gỡ chả có gì là đặc biệt. Hồi đó đã
đang ốm, tôi lại hãy còn rất nhút nhát.
Sau khi hỏi thăm về bệnh tình, sức khoẻ của tôi, ông đã an ủi
rằng ở thế kỷ XX, khoa học tiến bộ thế này, bệnh phổi chỉ như những bệnh tầm
thường khác, chẳng có gì đáng bi quan. Chắc chắn tôi sẽ bình phục một ngày gần
đây. Tới chuyện văn chương, ông cho biết vì sao bài của tôi được đọc trước những
bài khác. Và ông mời tôi cộng tác, sẽ được trả nhuận bút cao nhất.
Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi ấy giúp tôi lấy lại tin tưởng, trở nên
vô cùng phấn khởi. Vừa hôm nào đây tôi còn tưởng mình là kẻ vô tài, chả có văn
sĩ, thi sĩ nào thèm đếm xỉa tới. Làng văn đối với tôi như một thế giới bất khả
xâm phạm. Thế mà hôm nay, một nhà văn kỳ cựu, lão thành, đã thân hành tới thăm,
khen văn tôi, mời cộng tác. Tôi tưởng đâu mình mơ ngủ. Song sự thật rành rành.
Mấy tập báo với hàng chữ đề tặng dưới ký tên, chính ông vừa đưa cho, còn để
trên bàn kia.
Tiếc rằng tờ Văn hoá ngày nay cũng như ông Nhất Linh không được
thọ. Song nếu tôi được biết tới, tên tôi được xuất hiện trên những báo khác, và
nếu rồi đây tôi sẽ có một sự nghiệp văn chương, chính là nhờ ông vậy. Chứng cớ
là những bài xưa kia bị từ chối nay lại được khen hay!
Phương ngôn ta có câu: “Uống nước nhớ nguồn”. Biết ơn là một
trong những đặc tính thiên nhiên của con người. Song đối với người làm ơn không
mong được trả, tôi chỉ biết tự hứa sẽ cố gắng mãi. Khi giúp tôi, chắc ông cũng
như người gieo hạt. Người gieo hạt mong hạt mình gieo sau này sẽ trở nên cây tốt
đẹp. Tôi tin rằng ông cũng mong tôi sẽ trau giồi cho văn tiến nữa, đẹp hơn.
Tài văn chương chắc không phải chỉ có một ông Nhất Linh. Song
nếu những văn tài khác cũng thực tâm nâng đỡ bọn trẻ, tôi dám chắc sẽ còn tìm
ra nhiều Tuyết Hương khác.
Thế Uyên - Nguyễn Mạnh Côn
Theo http://vnthuquan.net/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét