Như các bạn đã thấy, trên đây vua Quang Trung đã đưa tờ biểu sang nhà Thanh cầu hôn Công chúa Tàu.
Nhưng sự thực việc ấy ra sao, mỗi thuyết một khác.
Theo nhiều sách chép thì năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung có sai sứ bộ sang Thanh định yêu sách nhà Thanh hai việc: cầu hôn và đòi đất Lưỡng Quảng. Nhưng khi sứ bộ sang đến nơi thì được tin vua Quang Trung ở nước thăng hà, họ bèn dìm tờ biểu “khiêu khích” ấy đi mà đổi làm tờ biểu cáo ai báo tin buồn cho triều Thanh biết.
Mà Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, quyển 30, tờ 41b cũng chép:
Năm Nhâm Tý (1792). Huệ sai làm biểu sang nhà Thanh, cầu hôn để dò ý vua Thanh, cũng muốn mượn chuyện ấy làm mối khởi binh; nhưng rồi bị bệnh, nên không làm trọn được.
Đó là thuyết thứ nhất. Còn thuyết thứ 2 như có chép trong gia phả họ Vũ405 do Vũ Vĩnh Thứ, cháu ba đời của Vũ Văn Dũng, soạn năm Bính Ngọ, niên hiệu Tự Đức thứ 22 (1870), thì đại khái như thế này: Nguyên từ ngày rằm tháng tư năm Quang Trung thứ 4 (1791) nhà vua có phái trung sứ đi từ Phượng Hoàng Trung Đô (Nghệ An) đem sắc mệnh này cho Đại đô đốc Vũ quốc công Vũ Văn Dũng trong khi đang nghỉ giả hạn ở nhà:
勅
海陽招遠大都督大獎軍翊運功臣武國公進加領北使正使兼全應奏請東西兩廣以窺其心公主一位以激其怒慎之慎之其用兵形勢盡在此行他日前鋒卿其人也欽哉勅命
光中四年四月十五日
Dịch âm:
Sắc Hải dương Chiêu viễn Đại đô đốc Đại tướng quân dực vận công thần Vũ Quốc công tiến gia lĩnh Bắc sứ chính sư kiêm toàn ứng tấu thỉnh Đông Tây Lưỡng Quảng dĩ khuy kỳ tâm, Công chúa nhất vị dĩ kích kỳ nộ. Thận chi! Thận chi! Kỳ dụng binh hình thế tận tại thử hành Tha nhật tiên phong: Khanh kỳ nhân dã Khâm tai! Sắc mệnh!
Quang Trung tứ niên tứ nguyệt thập ngũ nhật.
Dịch nghĩa:
“Sắc sai Hải Dương Chiêu Viễn Đại đô đốc Đại tướng quân dực vận công thần Vũ Quốc công được tiến phong làm chức Chính sứ đi sứ Tàu kiêm toàn quyền trong việc tâu thưa xin lại hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây để dò ý, cầu hôn một vị Công chúa để chọc giận. Cẩn thận đấy! Cẩn thận đấy! Tình thế dụng binh ở như chuyến đi này cả. Ngày khác làm tiên phong chính là khanh đấy! Kính thay lời sắc sai này!
Ngày rằm tháng tư, năm Quang Trung thứ 4 (1791).”
Cứ như ý trong lời sắc mệnh trên đây thì ra vua Quang Trung chỉ mượn hai việc đòi đất và cầu hôn ấy làm cớ để dò ý và chọc giận vua Thanh. Vì nếu vua Thanh nổi giận mà cự tuyệt thì cuộc giao thiệp giữa hai nước Việt Thanh sẽ nổi lên những trận giông tố quyết liệt, Bắc Nam sẽ nói chuyện với nhau bằng gươm lớn, súng dài: bấy giờ cuộc chiến tranh sẽ ngả ra một trong hai thế: một là vua Quang Trung tự làm binh thủ, cho Vũ quốc công Vũ Văn Dũng làm tiên phong, đường đường trống giong cờ mở, kéo binh sang tận đất Tàu mà vấn tội vua Thanh; hai là lừa cho vua Thanh nhân lúc quá giận, không kịp suy nghĩ sâu xa, hấp tấp sai tướng xuất quân sang Nam để mua lấy cuộc thất bại đau đớn nhục nhã như trận Đống Đa ngày trước. Bấy giờ bên ta lại đứng vào thế nghinh địch, ứng chiến. Mà chuyến đi đòi đất và cầu hôn này, Vũ Văn Dũng phải đóng một vai chính trị tối quan trọng: vừa làm Chính sứ trong cuộc ngoại giao, vừa làm trinh thám chuyên môn về quân sự. Vì có phải chỉ chuyên một việc uấn ba tấc lưỡi để giao thiệp với triều đình Mãn Thanh thôi đâu, Dũng lại còn phải dò xét núi sông hiểm dễ thế nào, đường sá gần xa thế nào, thủy lục tiện nghi thế nào và binh lực nhà Thanh thực, hư, mạnh yếu thế nào, nhất nhất phải nhận xét cho tinh tường, ghi nhớ cho rành mạch, rồi đem những tài liệu quân sự ấy để dâng vua Quang Trung để ngài tính kế, bày mưu liệu cơ chế thắng.
Nhưng kết cục việc Dũng đi ấy ra sao?
Cứ theo như gia phả họ Vũ mà ông Hòe đã thuật ấy, thì khi vào bệ kiến vua Thanh Càn Long, Vũ Văn Dũng có tâu xin hai việc:
Việc thứ nhất là cầu hôn, vì phối sất là việc quan trọng, quốc vương hiện nay đã to tuổi, mà hôn nhân chưa định xong bởi chưng trong nước thì toàn là hạng thần tử, các phiên phong láng giềng thì lại không được quốc vương ưa thích, nên muốn vua Thanh xét tình cho.
Việc thứ hai là xin đất đóng đô, vì lấy cớ rằng quốc vương ở một nước hẻo lánh, thủy bộ không tiện, mà vượng khí trong nội địa thì hết mất rồi!
Hai việc ấy tâu lên, vua Thanh châu phê giao cho đình nghị.
Nhưng trong khi đình thần nhà Thanh chưa kịp bàn xét thì liền hôm sau, bọn Vũ Văn Dũng nhận được bệ kiến ở Ỷ Lương các, lại dâng tấu chương thứ hai xin vua Thanh ban cho hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây làm đất đóng đô và ly giáng một vị Công chúa để gây cho nước biên thùy cái phong hóa của Trung Quốc.
Thì may sao hai việc ấy đều được vua Thanh chuẩn y cả. Nhưng vua Thanh chỉ ưng cho một tỉnh Quảng Tây để làm đất đóng đô thôi.
Việc đòi đất mới đến đây. Còn việc ly giáng Công chúa thì đã đi được bước dài hơn:
Sau ngày tiếp Nam sứ ở Ỷ lương các, vua Thanh liền sai bộ Lễ sửa soạn nghi lễ việc cưới gả, định ngày cho Công chúa sang Nam đẹp duyên với quốc vương.
Nhưng chẳng may, sau đó mấy hôm, Vũ Văn Dũng nhận ngay được tin chẳng lành: Vua Quang Trung băng! Vì vậy, mọi việc đều lỡ làng lỡ dở, bọn Dũng đành ôm mối hận mà trở về.
Rồi từ đó, việc thôn tính Lưỡng Quảng chỉ là câu chuyện mỹ đàm trên trang lịch sử Đại Việt, mà cơ đồ vua Quang Trung cũng dần dần tan theo giấc xuân mộng của nàng Công chúa Tàu!
MA BỊNH CƯỚP ANH HÙNG
Dưới triều Quang Trung, võ công, văn trị, nội tu, ngoại nhương, mọi mặt đều có vẻ khả quan cả. Một vị Hoàng đế anh hùng mới 40 tuổi, cái tuổi đương hăng hái, đầy hứa hẹn, phải gánh vác một công cuộc phi thường, bỗng bị thần Chết đến nạt rồi cướp đi há chăng phải là một cái hận nghìn thu còn ngậm?
Một buổi chiều thu, gió heo may vi vút nhả khí tiêu sơ trong lùm thông núi Ngự, hơi lạnh lay gợn làn sóng yếu đuối trên mặt sông Hương… Vua Quang Trung đang ngồi, bỗng hoa mắt, sầm tối mặt mũi, đâm mê man.
Chứng bịnh ấy, sử chữ nho chép là “huyễn vận” (眩暈). Mà “huyễn vận” là một thứ bịnh do thiếu máu, bộ tiểu não bị tổn thương và thần kinh suy yếu mà sinh ra. Khi phát thì, trong một lúc, mắt hoa, tri giác mờ tối không biết gì cả.
Rồi từ đó bịnh ngày một tăng thêm, khó có hy vọng qua khỏi!
Khi bịnh xoay nặng, ngài triệu Trần Quang Diệu, trấn thủ Nghệ An, về triều, bàn việc thiên đô về Nghệ An, nhưng việc đó chưa quyết định xong thì bịnh tình nhà vua ngày một nguy kịch.
Ngài có trối trăng cùng bọn Diệu: “Sau khi ta mất, việc tang chế chỉ nên sơ sài thôi, nội trong một tháng phải liệu mà chôn cất. Các ngươi phải nên hiệp sức giúp Thái tử (Quang Toản), sớm thiên đô về Nghệ An để khống chế thiên hạ…”406
Qua ngày hai mươi chín, tháng chín, năm Nhâm Tý407 niên hiệu Quang Trung thứ 5 (1792), Thái Tổ Võ hoàng đế thăng hà bỏ dở công cuộc định đánh Mãn Thanh, khôi phục lấy Lưỡng Quảng!
LỜI KẾT
Trước khi hạ lời kết thiên lịch sử ký sự này, tôi hẵng xin dịch một bài bằng chữ Hán của một nhà báo ngoại quốc viết về “Nguyễn Huệ”, trước để thay lời tóm tắt ôn lại suốt cả hai tập sách của tôi đã ghi chép về lịch sử, sự nghiệp vua Quang Trung (1788-1792), sau để giới thiệu với các bạn đọc thân mến: “người lịch sử” ấy của chúng ta đối với con mắt người ngoài ra thế nào. (Chỗ nào tôi có phụ chú hoặc có tỏ ý dị đồng với nguyên tác thì chua ở dưới. Còn lời chú của bài báo ấy thì tôi nói là “lời chua của nguyên tác” cho khỏi lẫn).
Nguyễn Huệ
Hồi thế kỷ XVIII, Việt Nam nảy một vị anh chúa, cưu hùng, cương nghị, chiến công rực rỡ, oai danh ngang với Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh và Lê Lợi cùng được người đời xưng tụng: Ấy là vua Quang Trung408 Nguyễn Huệ, triều Tây Sơn.
Nguyễn Huệ, người làng Tây Sơn, thuộc Quy Nhơn, năm 1774 cùng anh em409 là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ dấy binh, một keo mà đánh đổ được họ Cựu Nguyễn (Sử chép hậu duệ Nguyễn Hoàng là Cựu Nguyễn, họ Nguyễn Huệ là Tân Nguyễn)410.
Năm 1786, Nguyễn Huệ vào thành Thăng Long, nhất thống được cả bờ cõi ba kỳ.
Năm 1789411, vua Càn Long sai Tôn Sĩ Nghị đem hơn hai mươi vạn quân Lưỡng Quảng và Vân Quý ang Nam; thế mạnh như sóng xô lướt!
Huệ chỉ có mười vạn quân, nhưng hăng hái xông ra, đánh nước lạ, nắm phần thắng412, chia quân làm ba đạo, nhân đêm trừ tịch413 đổ ra đánh úp, huyết chiến hàng sáu ngày đêm: quân Tôn Sĩ Nghị bị thua một cách thảm hại, chết và bị thương đến quá nửa.
Trận ấy, Nguyễn Huệ cưỡi voi lớn, thân ra tận tiền tuyến414 đốc chiến, không nghỉ một chút nào. Chiếc Hồng bào Huệ mặc bị khói thuốc súng hun ám thành ra sắc đen.
Nguyễn Huệ, suốt đời khéo biết dùng binh, liệu việc như thần. Bộ hạ văn võ như Trần Văn Kỷ, Ngô Thì Nhậm, Vũ Nhậm, Nguyễn415 Văn Sở và Trần Quang Diệu… đều là những tay khai quốc tuấn kiệt cả.
Huệ từng hai lần vào thành Thăng Long416, bốn lần hạ Gia Định. Hùng tài như Nguyễn Phúc Ánh cũng vẫn không sao chống nổi.
Tiếc rằng trời không cho sống lâu, ở ngôi mới được 5 năm đã bị bịnh mất, khiến người bằng điếu bùi ngùi mất một anh hùng rồi vận mệnh triều Tây Sơn cũng do đó mà sụp đổ!
(Thần Long – Việt Nam danh nhân dật sử, IV – Nam Phong, Chợ lớn, tập 2, số 6, trang 23).
Sau 21 năm (1771-1792)417 tung hoành trên mảnh đất ngót 32 vạn thước vuông, mấy trận đánh bạt quân Xiêm, dăm ngày quét sạch hai mươi vạn quân Tôn Sĩ Nghị, sự nghiệp anh hùng ấy ngoài chút oai thừa ở mộ giả Linh Đường (thuộc huyện Thanh Trì), nắm xương nằm không yên ở phía nam sông Hương, nay còn gì để lại?
Dẫu vậy, còn chút dấu vết ở Đống Đa, võ công oanh liệt của vua Quang Trung vẫn còn trơ trơ ở bia miệng!
Mồng 5 tháng giêng, ngày giỗ trận, ta thử cùng nhau bằng điếu cổ nhân.
Vào chùa Đồng Quang, ta tham thiền: Thuyền từ đâu? Cành dương đâu? Nước cực lạc đâu? Phật ngồi tự tại, nào hay nông nỗi chúng sinh!
Lên đền Trung Liệt418 ta vãn cảnh: Hoàng Diệu đâu? Đoàn Thọ đâu? Nguyễn Tri Phương đâu? Bia đá đứng im, phó mặc bụi bay, gió thổi!
Ta không khỏi, bùi ngùi…
Loa Sơn, tức Đống Đa kia ơi! Có phải chính mi đã nuốt xác quân Thanh để ghi chiến công phi thường của vị anh hùng hoàng đế?
Vậy, mi hãy cùng cỏ xuân, hoa xuân, cây xuân hát khúc thiên lại để ca tụng cái sự nghiệp bất hủ của “chàng áo vải” con nhà nông dân ở ấp Kiên Thành, mẹ tên là Nguyễn Thị Đồng, cha tên là Nguyễn Phi Phúc!
Phụ Lục: Quang Toản.
Nguyễn Quang Toản
Lấy hiệu Cảnh Thịnh (1793-1800)
Lại đổi Bảo Hưng (1801-1802)
LỆ NGÔN
1) Phần phụ lục này là dịch theo Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 30, tờ 43b-56b.
2) Theo lệ phiên dịch, lẽ tất nhiên người dịch phải giữ đúng từng chữ từng câu trong nguyên văn. Vậy từ cốt truyện đến lời văn người dịch không có quyền được sửa đổi.
3) Quốc sử quán xưa vì theo quan niệm triều đại, nên mới dùng những chữ như “ngụy”, “tiếm” và “nhuận” để chỉ về “thắng triều” (triều đã bị người ta đánh thắng tức là cái triều đã bị diệt). Lại vì ngày xưa theo lệ tị húy (kiêng tên nhà vua) nên trên sử sách hễ gặp những chữ quốc húy thì đều bớt nét hoặc tránh hẳn mà viết ra chữ khác, hoặc bỏ hẳn chữ “đệm” ở trên tên người ta đi.
Nay, chúng ta chỉ đứng về phương diện sử học, cần tìm lấy sự thật để tiện học hỏi cho nên, khi dịch xin lược bỏ những chữ “ngụy” ở trong nguyên văn cho dễ hiểu và phàm những tên người, tên đất mà, khi dịch, biết là vì kiêng húy mới in khác đi thì đều xin chép theo tên thật cho khỏi lầm lẫn. Cử lệ:
Nguyên văn chép là Ngô Nhâm, xin cứ dịch là Ngô Thì Nhậm; nguyên văn chép là Thanh Ba, xin cứ dịch là Thanh Hoa...
4) Phàm những năm ghi bằng can chi, khi dịch đều chua thêm dương lịch cho dễ tính.
5) Phàm những lời chua của nguyên thư thì khi dịch đều ghi trong hai cái ngoặc đơn nói là “nguyên chú” còn những chỗ nào không đề “nguyên chú” thì tức là lời chua thêm của người dịch.
6) Muốn cho dễ hiểu và đúng văn pháp khi dịch, một đôi chỗ xin thêm chủ ngữ hoặc bổ túc từ vào câu văn cho người đọc nhận ngay thấy nghĩa.
***
Quang Toản tên là Trát. Mẹ họ Phạm, người phủ Quy Nhơn, cùng Hình bộ Thượng thư Bùi Văn Nhật và Thái sư Bùi Đắc Tuyên là chị em cùng mẹ khác cha, tuổi 30, được sách phong hoàng hậu, sinh 3 trai, 2 gái. Toản là con cả.
Trước kia, khi giả vương sang triều cận, vua Thanh sắc phong Quang Thùy là An Nam quốc vương Thế tử; sau biết Thùy là con thứ, bèn đổi phong Toản làm Thế tử, cho thêm ngọc như ý, gấm và hà bao.
Năm Nhâm Tý (1792) Huệ mất, Toản mới 10 tuổi, đổi năm sau, Quý Sửu (1793) làm Cảnh Thịnh nguyên niên, sai lũ Ngô Thì Nhậm419 sang Thanh báo tang và thỉnh mệnh nối ngôi. Bọn Nhậm, chưa ra khỏi cửa ải, vua Thanh đã biết tin do Lưỡng Quảng Tổng đốc tâu báo trước, liền xuống chiếu chỉ phong Toản làm An Nam quốc vương, sai Quảng Tây án sát Thành Lâm sang Bắc Thành (Thăng Long) tuyên phong. Toản cũng mượn người khác đứng nhận. Sứ Thanh trong bụng cũng biết là giả dối.
Toản, sau khi đã tập phong, lấy em là Quang Thùy làm Khang Công, tiết chế các doanh thủy bộ mạn Bắc, kiêm coi quản quân dân mọi việc: Quang Bàn làm tuyên công, lĩnh Thanh Hoa420 Đốc trấn, Tổng lý quân dân sự vụ; cậu là Bùi Đắc Tuyên làm Thái sư, đốc thị các viên cơ mật trong ngoài; Thái úy Phạm Công Hưng đồng chưởng quân quốc trọng sự; trung thư phụng chính Trần Văn Kỷ làm mọi việc cơ mật ở viện Trung thư, được ủy thác hết các văn thư, từ lệnh và hiểu thị; Thiếu phó Nguyễn421 Quang Diệu, hộ giá Nguyễn Văn Huấn, Nội hầu Nguyễn Văn Tứ và tư lệ Lê Trung cùng trấn Nghệ An; đại tư khấu Vũ Văn Dũng, đại tư cối Nguyễn Văn Dụng, thiếu bảo Nguyễn Văn Danh422, Đại tư mã Ngô Văn Sở. Hình bộ Thượng thư Lê Xuân Tài, tuần kiểm Chu Ngọc Uyển và Tiết độ Nguyễn Công Tuyết cùng trấn Bắc thành. Bãi bỏ cái lệnh bắt dân đeo tín bài, thôi việc sai bắt dân ẩn lậu.
Toản tuổi nhỏ, chỉ chăm chơi đùa, phàm việc đều quyết định ở Đắc Tuyên. Đắc Tuyên tự do làm oai, làm phúc: trong ngoài đều oán.
Năm Quý Sửu (1793), quân ta423 vây Quy Nhơn; Nhạc sai người cáo cấp, Toản sai lũ Phạm Công Hưng đến cứu. Quân ta đã rút về, bọn Hưng bèn bức bách Nhạc mà chiếm cứ lấy thành Quy Nhơn. Nhạc tủi thẹn tức bực mà chết. Toản phong con của Nhạc là Bảo làm Hiếu Công, phái người canh giữ.
Năm Giáp Dần (1794), Toản sai hộ giá Nguyễn Văn Huấn và điểm kiểm Trần Viết Kết đánh úp Diên Khánh424: quân thua, phải quay về. Toản lại sai tổng quản Nguyễn Quang Diệu, Nội hầu Nguyễn Văn Tứ lại đem quân vào vây Diên Khánh; cầm cự nhau đến hàng tháng.
Mùa đông năm ấy (Giáp Dần, 1794) Đắc Tuyên sai Ngô Văn Sở thay Vũ Văn Dũng điều bát quân sự ở Bắc thành, và triệu Dũng về. Dũng về đến trạm Mỹ Xuyên. Bấy giờ phụng chính Trần Văn Kỷ có tội, bị phát phối ở nơi trạm ấy. Kỷ mật bảo Dũng rằng: “Thái sư (chỉ Đắc Tuyên) ở ngôi cao tột của kẻ làm tôi, thiện tiện làm việc uy phúc, sẽ bất lợi cho xã tắc. Nếu không sớm tính đi thì sau hối sao kịp!”
Dũng bèn mật mưu với Phạm Công Hưng và Nguyễn Văn Huấn425: thanh ngôn đi Nam dã để tế cờ, nhưng nhân lúc ban đêm, đem đồ đảng vây Đắc Tuyên ở chùa Thiền Lâm426.
Đêm đó, Tuyên vì tình cờ có việc, ngủ lại trong phủ của Toản. Dũng vây phủ đòi bắt Tuyên. Toản bất đắc dĩ phải bắt Tuyên đưa cho Dũng. Dũng bỏ Tuyên vào ngục.
Ngô Văn Sở là đảng của Tuyên. Dũng kiểu chiếu sai Tiết chế Quang Thùy đóng gông Sở lại, điệu đến kinh thành. Lại sai Nguyễn Văn Huấn đem binh vây Quy Nhơn, bắt Đắc Trụ, con Tuyên, giải về, thêu dệt thành phản trạng, rồi dìm xuống nước mà giết chết cả. Toản không thể chế trị nổi chỉ khóc lóc mà thôi.
Quang Diệu đang vây Diên Khánh, hay tin ấy, cả sợ, nói với bộ hạ rằng: “Chủ thượng thì không có đức cứng mạnh, đại thần thì giết hại lẫn nhau: thế là biến cố lớn rồi. Không dẹp yên nội biến, còn chống cự gì được người ngoài?” Ngay hôm ấy, Diệu cởi vây rút về.
Dũng cho rằng Diệu có nhân nghị với Đắc Tuyên427, sẽ xảy ra sự biến, bèn ủy cho Công Hưng đem binh đón Diệu, điều đình việc ấy428.
Bấy giờ Nguyễn Văn Huấn đang giữ Quy Nhơn, hay tin Diệu về, vội trước đến tạ tội; Diệu chẳng buồn hỏi đến.
Diệu kéo quân đến An Cựu, đóng đồn ở bờ phía nam sông (sông Hương).
Bọn Dũng và Nội hầu Tứ đóng quân ở phía bắc sông (sông Hương) lấy nê mang lệnh vua mà chống cự lại.
Quang Toản lo sợ, không biết làm thế nào, sai người đi lại úy dụ và hòa giải cả hai. Diệu mới đem kẻ chiêu đăm429 vào yết kiến, giảng hòa với bọn Dũng. Diệu xin lấy Lê Trung thay Huấn giữ Quy Nhơn mà vời Huấn về.
***
Bấy giờ Quang Toản đã thân chính: 5 ngày một lần thiết triều. Năm ấy (Giáp Dần 1794), Thái úy Công Hưng bị bệnh mất, Toản bèn lấy Diệu làm Thiếu phó, Huấn làm Thiếu bảo, Dũng làm Đại tư đồ, Nguyễn Văn Danh430 làm Đại tư mã: gọi là tứ trụ đại thần.
Có người gièm với Toản rằng: “Diệu uy quyền quá trọng, sắp có chí toan tính khác!” Toản mê hoặc lời nói ấy, bèn thu lấy binh quyền của Diệu, chỉ cho Diệu giữ bản chức mà phụng thị nhà vua.
Diệu đem lòng ngờ sợ, thường cáo bệnh không vào chầu, cho vài trăm thủ hạ ngày đêm cầm binh khí để tự về. Quang Toản hằng sai quan trung sứ đến úy lạo và dụ bảo Diệu.
Mùa hạ năm Định Tỵ (1797), quân ta đánh Quy Nhơn, chưa hạ được; lại tiến vây Quảng Nam, Đà Nẵng, Câu Đê và Hải Vân. Toản sai Nguyễn Văn Huấn đem hết quân ra chống cự. Lại khởi phục binh quyền cho Diệu để chặn giữ cửa bể Noãn Hải.
Mùa thu (Đinh Tỵ, 1797) quân ta kéo về.
Năm Mậu Ngọ (1798). Tiểu triều Bảo431 đánh úp lấy Quy Nhơn, sai người đến thông khoản với ta432. Quân ta chưa đến, Toản đã ra quân vây thành Quy Nhơn, bắt Bảo đem về, giết chết bằng cách bắt uống thuốc độc. Rồi sai Đại Tổng quản Lê Văn Thanh433 giữ Quy Nhơn.
Thái phú Lê Văn Ứng434 nói với Toản rằng: “Cuộc biến Tiểu triều là do Lê Trung gây thành ra đó!” Toản vời Trung đến, sai tráng sĩ trói lại mà chém Trung.
Lại tin lời gièm vu của Thượng thư Hồ Công Diệu. Toản giết chết Thiếu bảo Nguyễn Văn Huấn.
Từ đó, tướng tá lìa lòng, ai cũng ngơm ngớp ngờ sợ!
Đại đô đốc Lê Chất là con rể của Lê Trung, từng lập được nhiều chiến công, bấy giờ sợ vạ lây đến mình, liền theo về với bên ta.
Năm Kỷ Mùi (1799), quân ta lại tiến đánh Quy Nhơn. Lê Văn Thanh đóng cửa thành cố chết để giữ. Quang Diệu và Văn Dũng đem binh thuyền đến cứu. Khi tới Quảng Ngãi, nghe quân ta đã đổ bộ, giữ chỗ hiểm, Diệu ở ngoài núi Thạch Tân; Dũng đem quân đi theo đường tắt Chung Xá, mưu đánh úp đằng sau quân ta.
Đêm đến, có một con nai, xổng chạy, quân tiền đạo của Dũng ồn ào la ó, truyền lầm là quân “Đồng Nai” bèn sợ hãi tan vỡ. Quân ta thừa dịp, tiến vào: quân Dũng giày đạp lẫn nhau, chết mất nhiều lắm.
Quân cứu đã tuyệt, Văn Thanh bèn cùng Thượng thư Nguyễn Đại Phác, Thiếu úy Trương Tiến Thúy đem thành xuống hàng.
Quân ta đã được Quy Nhơn, bèn đổi tên thành ấy rằng thành Bình Định, để chưởng Hậu quân Vũ Tinh, Lễ bộ Ngô Tòng Chu ở lại trấn giữ.
Toản hay tin Quy Nhơn đã thất thủ, cả kéo binh đến. Khi tới Trà Khúc, Toản giục các tướng ra quân, Trần Viết Kết nói: “Nay, phong sắc không tiện, xin hẵng kéo quân về!” Toản bèn lưu Diệu và Dũng giữ Quảng Nam, Nguyễn Văn Giáp giữ Trà Khúc, còn mình thì quay về.
Trước đó, trận Thạch Tân, quân Dũng không đánh đã tự vỡ, Dũng sợ, cầu xin Diệu giấu kín sự ấy đi. Từ ấy, hai người cố kiết rất chặt chẽ, hẹn làm đôi bạn sống chết có nhau.
Lũ Trần Việt Kết, Hồ Công Diệu và Trần Văn Kỷ vốn ghét Quang Diệu. Họ lấy cớ để nói Quang Diệu về việc Quy Nhơn thất thủ, Diệu đóng binh ở một chỗ, không làm được công cán gì. Rồi họ kiểu chiếu sai Dũng bắt Diệu mà giết đi. Dũng được thứ ấy, đưa cho Diệu xem.
Diệu cả sợ, bèn kéo quân về Phú Xuân, cắm rào ở bờ phía nam sông Hương, thanh ngôn lên rằng đem binh đến để giết bọn giặc ở bên cạnh vua.
Toản sai người đến vời: bọn Diệu đều không vâng chịu mệnh lệnh.
Kỷ đổ tội cho Trần Viết Kết và Hồ Công Diện. Kết trốn. Toản bắt Công Diệu đưa cho Quang Diệu. Bấy giờ Quang Diệu mới cởi binh, vào triều cận.
Toản dụ bảo: “Các khanh là trụ thạch của quốc gia, nên vì nước mà đồng lòng gắng sức để trừ ngoại loạn, bất tất phải đem lòng nghi ngờ.” Lũ Quang Diệu đều khóc tạ, xin lại đem quân vào lấy Quy Nhơn. Toản ưng cho.
Năm Canh Thân (1800), bộ binh của Diệu vây dưới thành Quy Nhơn, thường thường khiêu chiến. Vũ Tính đóng chặt vách thành tự giữ lấy. Diệu ở ngoài, đắp cái lũy dài bao quanh bốn mặt để xây thành.
Dũng lấy hai chiếc thuyền “Định quốc đại hiệu” và hơn trăm chiếc chiến thuyền chận ngang cửa bể Thi Nại. Lại dựng hai cái đồn, trong đặt súng đại bác, ở Nhạn Châu về phía tả cửa bể và ở núi Tam Tòa về phía hữu cửa bể, để đứng cao mà bắn ra. Phòng thủ rất là nghiêm nhặt.
Mùa hạ (Canh Thân, 1800). Thế tổ435 ta đem đại binh đến cứu Bình Định (Quy Nhơn); bộ binh đóng ở Thị Dã; thủy binh án ngữ ở ngoài cửa bể Thi Nại. Quân ta thủy lục không thông được với nhau. Vũ Tính cũng ở trong thành cố giữ, đợi quân cứu. Hai bên cầm cự đã lâu.
Bấy giờ lũ Lưu Phúc Tường, điển quân thượng đạo bên ta, liên kết với các xứ Vạn Tượng (Ai Lao), Trấn Ninh, khuấy rối thành Nghệ An. Từ Thanh Hoa436 trở ra, thổ tư437 các trấn đều dấy nghĩa binh hưởng ứng. Các cố đạo Tây cũng khua đám tín đồ người Nam ở sở tại nổi lên như ong. Nhều người trung nghĩa ở Bắc thành cũng vượt bể, thật lòng vào đầu hàng, vì quan quân (bên chúa Nguyễn) mà trổ sức. Nhân dân các trấn hễ thấy gió nồm bốc lên, thì mừng với nhau rằng: “Chúa Nguyễn thuận buồm kéo ra!”
Tình thế Quang Toản ngày một cùng quẫn, Toản sai người đem đồ hậu tệ đến vời Nguyễn Thiếp (tức Thiệp).
Khi Thiếp đến, Toản đem việc nước ra hỏi. Thiếp nói: “Hỏng rồi!” Thiếp lại hỏi: “Ai theo?” Toản nói: “Trao cho gươm, ấn, ai dám không theo?” Thiếp nói: “Nếu vua không theo thì làm thế nào?” Toản im lặng.
Thiệp lui, nói với người thân rằng: “Đôi cá nước cạn, họ Nguyễn về quê. Non sông của chủ cũ, chẳng bao lâu, chung quy lại thuộc chủ cũ” Rồi Thiệp bảo Toản lui giữ Vĩnh438 đô, ngõ hầu hoặc còn có thể thư được chăng. Toản cũng do dự, không quyết định.
Năm Tân Dậu (1801), Thế tổ ta thân đốc chu sư, thẳng vào cửa bể Thi Nại, sai Nguyễn Văn Trương và Tống Phúc Lương lĩnh quân tiền đạo xông vào trước đốt đồn thủy của Toản; Lê Văn Duyệt và Vũ Di Nguy tiếp nối tiến vào.
Dũng đốc thúc các quân chống đánh, đạn súng đại bác bắn ra như mưa: Di Nguy ngồi ở đầu thuyền, lăn xuống nước chết. Quân ta chết và bị thương khá nhiều, Văn Duyệt thúc đánh càng hăng. Rồi nhân thuận chiều gió, đánh hỏa công, thiêu hết chiến thuyền bên Tây Sơn: khói bốc mù trời! Dũng chỉ chạy được thoát thân.
Thủy quân đã đổ bể, Diệu lại đắp thêm lũy đất, núi đất để đối vào trong thành mà bắn; dựng nhiều đồn và rào làm chước chống giữ lâu dài. Quân ta đánh Diệu: luôn mấy tuần không hạ được. Thế tổ ta bèn lưu bộ tướng Nguyễn Văn Thành giữ Thị Dã, cầm cự với Diệu. Còn ngài thì thân cầm chu sư để đánh thẳng vào Phú Xuân (Huế).
Mồng 1 tháng năm, mùa hạ, (Tân Dậu, 1801), ngài vào đến cửa bể Tư Dung. Phò mã Tây Sơn Nguyễn Văn Trị giữ núi Rùa439, dựng rào gỗ440 để chống lại.
Quân tiền đạo (bên Nguyễn) tiến đánh không hạ được, Lê Văn Duyệt và Lê Chất đang đêm, đem vài mươi chiếc chiến thuyền vượt bãi cát vào eo bể Hà Trung đánh úp ở đằng sau, rồi chia quân nhổ hết rào gỗ mà tiến lên. Văn Trị sợ, vỡ, chạy.
Đại binh (bên Nguyễn) tiến đến Trừng Hà, bắt được Trị và Đô đốc Tây Sơn Phan Văn Sách chiêu hàng được 509 tên quân của họ, bèn tiến vào cửa sông Noãn Hải.
Toản rốc hết quân ra chống giữ. Quân ta thừa thắng tiến lên. Quân Toản sợ bóng, sợ gió, đã vội vỡ trước.
Đại binh (bên Nguyễn) kéo thẳng đến kinh đô (Phú Xuân).
Ngày mồng 3 (tháng năm năm Tân Dậu, 1801), Toản đem của bán chạy ra ngoài Bắc, bỏ cả sắc, ấn do triều Thanh đã ban cho. Vừa ra khỏi cầu Phú Xuân vài dặm, quân lính đã tan đi bốn ngả, Toản bèn cùng em là Thái tể Quang Thiệu, Nguyên súy Quang Khanh, và lũ Đại tư mã Tứ, Đô đốc Trù tế ngựa ngày đêm nhằm lũy Động Hải mà chạy.
Ngày tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng năm năm Tân Dậu, 1801), Toản qua đò sông Gianh (Linh Giang), quân ta đuổi theo không kịp. Đến Nghệ An, Toản ở lại vài ngày, giấu bặt công chuyện, không tuyên bố. Lại cưỡi ngựa trạm chạy ra trấn Thanh Hoa441. Phi báo cho em là Quang Thùy đem quân đến đón.
Quân ta đã khắc phục kinh đô, sai Lê Văn Duyệt, Lê Chất, Tống Viết Phúc vào cứu Bình Định (Quy Nhơn). Quân chưa đến thì trong thành đã hết lương ăn, Lưu trấn Vũ Tính và Hiệp trấn Ngô Tòng Chu đều chết theo thành.
Diệu và Dũng lại giữ lấy thành, sai Đại đô đốc Trương Phúc Phượng và Tư khấu Định442 đem quân do đường thượng đạo về cứu Phú Xuân. Phượng hết lương, đến Tả Trạch Nguyên, xuống hàng quân ta. Định xuống Cao Đôi, đánh thua, chạy vào trong Mán rồi chết.
Hạ tuần tháng năm (Tân Dậu 1801), Toản đến Bắc thành, đóng ở phủ của Quang Thùy. Bấy giờ luôn tuần mưa dầm, trước sân ngập nước đến hơn một thước. Khi nước cạn, thình lình đất sụt sâu và rộng mỗi bề đến hàng vài thước. Cái lầu ba từng ở Nghệ An vô cớ cũng đổ. Người ta đều cho là cái điềm chẳng lành443.
Tháng ấy (tháng năm Tân Dậu, 1801), đổi hiệu làm Bảo Hưng nguyên niên, Toản hạ chiếu nhận lỗi, vỗ về nhân dân các trấn, lấy Thị trung Đại học sĩ Ngô Thì Nhậm444 làm Binh bộ Thượng thư, hiệp biện Đại học sĩ Nguyễn Huy Lịch làm Lại bộ Thượng thư, Thị trung Ngự sử Phan Huy Ích làm Lễ bộ Thượng thư; ngoài ra, mọi người khác đều được phong thưởng theo thứ bực cả. Lại đắp gò tròn ở ngoài cửa ô Chợ Dừa, xây bó trầm vuông ở hồ Tây để Hạ chí và Đông chí thì chia ra mà tế tự Trời, Đất.
Toản thân đến Quốc Tử giám để khảo hạch học trò: ai vào hạng ưu thì thưởng cho tiền.
Toản sai lũ Nguyễn Đăng Sở sang nhà Thanh đưa tuế cống, và xin cứu giúp.
Bấy giờ sứ giả của ta, Trịnh Hoài Đức, đã sang Quảng Đông nộp sắc ấn của nhà Tây Sơn. Vua Gia Khánh (nhà Thanh) dung nạp sứ ta và đuổi lũ Đăng Sở về.
Tháng tám (Tân Dậu, 1801), Toản sai em là Quang Thùy điểm binh mã, trước đến đóng đồn ở trấn Nghệ An.
Tháng mười một (Tân Dậu, 1801), Toản để Quang Thiệu, Quang Khanh giữ Bắc Thành, thân đốc ba vạn quân ở bốn trấn và Thanh, Nghệ, tự mình làm tướng mà kéo vào Nam. Bùi Thị Xuân, vợ Quang Diệu cũng đem 5.000 thủ hạ đi theo. Tiết chế Thùy và Tổng quản Siêu445 phạm lũy Trấn ninh446; Tư lệ Tuyết và Đô đốc Nguyễn Văn Kiên phạm lũy Đâu Mâu; Thiếu úy Đặng Văn Đằng và Đô đốc Lực447 liên kết với giặc Tể ngôi, dàn hơn trăm chiếc thuyền ở ngoài bể Linh Giang: binh thế thịnh lắm.
Quân ta lui giữ Động Hải.
Ngày 30 tháng mười hai448. Toản lùa hết quân qua đò sông Gianh.
Thế tổ ta thân chinh449, đóng ở Động Hải, sai Phạm Văn Nhân và Đặng Trần Thường đốc suất bộ binh, Nguyễn Văn Trương đốc suất thủy quân, chia đường chống cự.
Mồng 1 tháng giêng, mùa xuân năm Nhâm Tuất (1802) quân Quang Thùy bức lũy Trấn Ninh. Quân ta mở cửa lũy, cố sức đánh lui được.
Toản lại đem hết quân vây lũy Đâu Mâu: bám vào như kiến mà trèo lên. Quân ta bắn đại bác ầm ầm và ném đá lớn xuống: quân Toản bị thương và chết nhiều lắm.
Toản sợ, muốn rút lui, Thị Xuân níu ngựa, cố xin đánh Toản lại vẫy quân thúc đánh: từ sáng sớm đến chiều cả chưa chịu lui. Chợt nghe thủy quân bị Nguyễn Văn Trương (bên Nguyễn) đánh bại, quân Toản kinh, vỡ.
Ngày mồng 2 (tháng giêng Nhâm Tuất, 1802) Toản chạy đến Động Cao vội qua đò sông Gianh để chạy ra Bắc: kẻ đi theo không còn tới một, hai phần mười, 50 chiếc thuyền lương và quân nhu khí giới đều bị quân ta bắt được cả.
Quang Thùy đến sông Gianh bị quân ta cản lại, không qua đò được phải đi theo đường sơn cước, hơn một tuần450 mới tới Nghệ An: gặp Toản ở đấy. Rồi lại chạy ra Bắc thành.
Trận ấy, Toản cuốn hết lực lượng mà đến đánh, rồi thua một chuyến hết sạch sành sanh.
Từ đó, rủn chí, ngã lòng, Toản chỉ ở trong thành, thi bắn và ngâm thơ thôi.
Diệu, Dũng ở Bình Định (Quy Nhơn), hay tin ấy, bèn đem đồ đảng là lũ Từ Văn Chiêu451, Nguyễn Văn Miên, Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Văn Điểm và Lê Công Hưng đem 3.000 quân, 80 thớt voi trận theo đường thượng đạo sang Lào, đi ra Nghệ An.
Bấy giờ đại binh bên ta đã qua sông Gianh, tiến đánh đồn Tam Hiệu ở Bố Chính, và hạ được rồi. Thủy quân của Nguyễn Văn Trương đến cửa bể Đan Nhai, đánh phá các thành chắn bằng đất và gỗ, bộ binh của Lê Văn Duyệt và Lê Chất đến sông Thanh Long, cướp được kho Kỳ Lân.
Nghệ An trấn thủ Nguyễn Văn Thận, Hiệp trấn Nguyễn Chiêm, Thủy quân thống lĩnh Đại, Thiếu úy Đằng (bên Tây Sơn) đều bỏ thành, chạy đến đồn Tiên Lý452. Chiêm tự ải chết. Thận chạy đi Thanh Hoa453.
Đại binh (bên Nguyễn) đã lấy được Nghệ An, liền bổ đặt quan lại.
Diệu từ Quỳ Hợp xuống Hương Sơn, nghe tin Nghệ An đã bị phá, bèn qua Thanh Chương, vượt sông Thanh Long (thuộc Nghệ An). Tụng giả dần dần tan đi. Diệu và vợ là Bùi Thị Xuân đều bị quan quân bắt sống.
Văn Dũng cũng bị thổ dân Nông Cống (thuộc Thanh Hoa) bắt được, giải nộp.
Đại binh (bên Nguyễn) đến Thanh Hoa454, Đốc trấn Quang Bàn và Thận, Đằng đều xuống hàng.
Quân ta thừa thắng tiến ra, không còn ai dám chống cự nữa.
Ngày 16, tháng sáu (Nhâm Tuất, 1802) Quang Toản tự liệu thế không chống nổi, bèn cùng các em là Quang Thùy, Quang Thiệu và lũ Tư mã Nguyễn Văn Dụng, Nguyễn Văn Tứ, Đô đốc Tú qua đò sông Nhị, chạy lên mạn Bắc. Đến Xương Giang (thuộc Bắc Giang) đêm đóng lại, bị dân quê mưu cướp bắt. Quang Thùy tự ải, Tú và vợ cũng tự thắt cổ chết. Toản bị dân Phượng Nhỡn (thuộc Bắc Giang) bắt được, đóng cũi đưa đến Bắc Thành.
Ngày 23 (tháng sáu, Nhâm Tuất, 1802), Xa giá (vua Gia Long) vào thành Thăng Long. Quan lại văn võ các trấn tranh đến cửa quân đầu thú.
Mùa đông năm ấy (Nhâm Tuất, 1802), Xa giá (vua Gia Long) về kinh (Huế) làm lễ cáo nhà thái miếu, dâng tù binh, trừng trị một cách tận pháp: đào phá mả Nhạc, mả Huệ, tán xương ném đi, giam đầu lâu vào nhà ngục, đổi tên ấp Tây Sơn gọi là ấp An Tây.
Năm Minh mạng thứ 12 (1831), tiếp tục bắt được con Nhạc là Văn Đức, Văn Lương và cháu Nhạc là Văn Đâu455 đều khép vào tội chém ngang lưng cả.
Họ hàng dòng giống Tây Sơn thế là hết tuyệt.
Cẩn án456 – Anh em Tây Sơn phân trị, không thống nhiếp nhau.
Nhạc khởi từ năm Mậu Tuất (1778) đến năm Quý Sửu (1793): gồm 16 năm.
Huệ khởi từ năm Mậu Thân (1788) đến năm Nhâm Tý (1792): gồm 5 năm.
Toản khởi từ năm Quý Sửu (1793) đến năm Nhâm Tuất (1802): gồm 10 năm.
Cộng 25 năm tất cả.
Nhưng từ năm Kỷ Dậu (1789), Lê mất, Huệ mới giữ nước. Cứ tính từ năm ấy (Kỷ Dậu, 1789) đến năm Nhâm Tuất457 (1802) là năm Quang Toản bị bắt thì chỉ được 14 năm thôi.
VĂN NÔM ĐỜI CẢNH THỊNH
(1793-1800)
Xưa kia, ta đối với văn nôm, thường chỉ chuyên chú vào văn vần, mà ít luyện tập đến văn xuôi. Cho nên, trong khi ta đã có những câu lục bát hoặc bài hàn luật rất điêu luyện, rất bóng bẩy, rất nhẹ nhàng, thế mà, về tản văn, ta hãy còn chập chững trong bước ấu trĩ! Đó vì trước triều Tây Sơn, phàm những văn thể như hiểu văn, dụ văn, chiếu văn này khác, ta thường viết bằng chữ nho, chứ ít khi dùng đến tiếng mẹ đẻ.
Không “năng học” thì không bao giờ “hay” được: đó là cái nhẽ tất nhiên.
Nhân khảo về đoạn sử Tây Sơn, tôi có tìm được ít nhiều văn nôm – cả tản văn lẫn vận văn – ở đời ấy. Tựu trung tôi thấy văn vần ở đương thời vẫn tiến hơn văn xuôi, đó càng tỏ rằng vì xưa ta ít chịu rèn luyện văn xuôi, nên bấy giờ dầu đã là cuối thế kỷ XVIII, vậy mà văn xuôi hãy còn thô sơ và lủng củng đến thế!
Vậy xin cử một bài chiếu văn từ năm Giáp Dần (1794) đời Cảnh Thịnh làm lệ, để các bạn thấy cái trình độ văn xuôi của ta cách đây 150 năm nó ra thế nào: nó lủng củng những chữ Hán! Nó không được chải chuốt, sáng sủa, gẫy gọn, rõ ràng, khúc chiết và dễ hiểu như văn xuôi bây giờ.
DỤ NHỊ SÚY458 QUỐC ÂM CHIẾU VĂN
(Phiên âm theo bản chữ Nôm trong Giụ am văn tập, sách viết trường Bác Cổ, số A 604 quyển thứ 5, tờ 5b-7b)
Lời dẫn
Như các bạn đã thấy ở truyện Nguyễn Quang Toản, từ năm Giáp Dần (1794) các tướng nhà Tây Sơn nhân dịp Tự quân thơ ấu, quốc gia lắm việc, chèn bẩy lẫn nhau, tàn hại lẫn nhau để tranh chiếm lấy quyền bính. Trần Quang Diệu đang vây Diên Khánh, hay tin Vũ Văn Dũng làm mưa làm gió ở triều đình, giết chết cha con Bùi Đắc Tuyên, bắt giam Ngô Văn Sở, bèn lật đật rút quân kéo về đóng quân ở phía nam sông Hương để uy hiếp Văn Dũng.
Vua Cảnh Thịnh phải sai người đi lại úy lạo phủ dụ, hòa giải cả đôi.
Dưới đây là bài chiếu do nhà vua bảo Phan Huy Ích làm để dụ hai tướng Diệu, Dũng.
Nguyên văn bằng chữ Nôm, nay tôi phiên ra quốc ngữ và giải nghĩa những chỗ khó hiểu.
***
Chiếu Thiếu phó Diệu Quận công Trần Quang Diệu, Tư đồ Dũng Quận công Vũ Văn Dũng khâm tri:
Nhị khanh459 là huân cựu đại thần460, Quốc gia trụ thạch461, người thì phụng tuân cố mệnh462, bảo dực trẫm cung463, người thì chuyên chế Bắc thành, bình hàn vương thất464. Trẫm vốn lấy làm cổ quăng tâm lữ đãi dĩ chí thành465.
Khoảnh nhân biên sự khổng cức466, trụng lao khanh đẳng đổng binh vu ngoại467. Như nay thố trí đồn ngữ đã rồi, mà hồi triều nghị sự, cùng lo tính thủy bộ cơ nghị dĩ đồ hậu cử468, để cho thượng hạ chi tình tương đạt469 thì cũng là phải. Dầu là chưa có triện mệnh, mà đã thiện hồi470, cũng chẳng qua cấp ư quốc kế, lược ư lễ văn471, trẫm cũng chẳng hà trách những điều tế quá472.
Bỗng nay nhị khanh tự hoài nghi cụ, cách hà ủng binh, bất lai triều yết473. Tằng dĩ lũy ban dụ chỉ, hãy còn suy thác trì hồi474! Trong quân thần phận nghĩa, mà tự xử dường ấy, khanh đẳng nghĩ đã yên lòng hay chưa?
Trẫm thanh niên lãm chính475, đường thành tín ngự hạ có điều chưa được tố phu476, khiến tới nỗi những kẻ huân cựu dường ấy còn phải quải ngại vu tâm477, ấy cũng là trẫm chi quá thất478.
Tưởng nay đương buổi tông thành nhất thủ, kình địch tại tiền, dẫu quân thần đồng tâm mưu lự còn e phất cập479, bỗng lại gây nên nội hoạn480, thì nữa quốc sự làm sao!
Ví như trẫm chẳng suy lượng bao hàm481, lại có lòng tường hại tướng thần482, ấy là tự tiễn kỳ vũ dực, thế ắt nguy vong lập kiến483. Mà khanh đẳng dĩ binh hiếp chế khiến cho chủ bính hạ di, đại cương vẫn xuyễn484 thì cũng chung quy loạn vong. Thử nghĩ hai nhẽ ấy, trẫm an nhiên vi chi hồ? Khanh đẳng an nhiên vi chi hồ485?
Dầu như khanh đẳng còn ngại tiếng “phạm thượng” mà lại bất năng thích nghi486, thiên tương nội đạo viên quân tầm lộ tha khứ487, để đến nỗi nhân tính hung động488, địch quốc ngoại thừa489 thì tận khí tiền công, thùy nhậm kỳ cữu490?
Trẫm thừa tông miếu xã tắc chi trọng491, nhị khanh vi triều đình đống cán chi thần492, nhẽ đâu lưỡng tương nghi trở493, sự biến hoạnh sinh494, chẳng là di tiếu thiên thu495 vậy du!
Sổ nhật lại phản phúc tư duy496, tẩm thiện câu giảm497, tưởng chưng quốc gia đại kế hệ tại tư tu498. Vậy đã khai thành trì dụ499, mà khanh đẳng còn chưa khai thích, trẫm vưu bất an vu tâm500!
Vả, kinh lãm khanh đẳng biểu nội501: sở chư thố trí các điều cũng là đương hành sự nghi502, song khanh đẳng còn đối khuyết liệt binh, vị lại triều yết503, thì quân thần chi nghĩa chưa được minh chính504. Như trong nước mà chưa thuận đạo, quân thần hầu dễ lo đường chính sự làm sao!
Dù như khanh đẳng muốn rằng tiên y tấu biểu, hậu thủy xu triều505 thì ra quân nhược thần cường506, cương thường điên đảo, dầu có chính sự cho hay, thi hành sao đặng? Như lấy thế làm binh gián507, e chưa hợp trong sự thể.
Khanh đẳng đã thực lòng ái quốc, thì tua508 giữ đạo tôn thân, thể lòng trẫm suy thành đãi ngộ509, sớm nên thích kỳ hiềm nghi510, qui triều tạ quá mà hãy phu trần sự lý511. Như việc binh nhung nên khu xử những làm sao, trong quan liêu tiến thoái những làm sao, cùng triều thần thương nghị rồi thì thỉnh chỉ phụng hành.
DIỆU QUẬN QUÂN THỨ QUỐC ÂM HIỂU VĂN
Phiên âm theo bản chữ Nôm trong Giụ am văn tập (sách viết trường Bác Cổ, số A 604), quyển 5 tờ 13a-14b
LỜI DẪN
Bài hiểu văn dưới đây là của Giụ am Phan Huy Ích vâng theo chỉ dụ vua Cảnh Thịnh (1793 -1802) làm từ mùa xuân năm Canh Thân (1800) dán yết ở nơi quân thứ Quy Nhơn để hiểu dụ nhân dân và quân lính.
Nguyên Quy Nhơn trước là địa bàn của Nguyễn Nhạc.
Năm Quý Sửu (1793) quân bên Cựu Nguyễn512 vây bức thành Quy Nhơn. Nhạc sai con là Bảo chống cự lại nhưng quân vỡ, Bảo phải thua chạy, Nhạc bấy giờ đang đau ốm, sai ruổi thư ra Phú Xuân để cáo cấp.
Chúa Cảnh Thịnh sai lũ Thái úy Phạm Công Hưng, Hộ giá Nguyễn Văn Huấn, Đại tư lệ Lê Trung và Đại tư mã Ngô Văn Sở đốc suất 17.000 bộ binh, 80 thớt voi và Đại thống lĩnh Đặng Văn Chân đem hơn 30 chiếc chu sư chia làm 5 đường vào cứu.
Quân Cựu Nguyễn cởi vây, rút lui. Bọn Hưng vào thành Quy Nhơn. Nhạc sai đem một mâm vàng, một mâm bạc ra để khao quân, Hưng bèn tịch biên kho đụn thu lấy giáp binh, chiếm cứ lấy thành ấy. Nhạc uất tức, hộc máu ra mà chết513.
Từ đó Quy Nhơn lại thuộc dưới quyền thống trị của chúa Cảnh Thịnh.
Qua năm Mậu Ngọ (1798). Bảo nổi cuộc phản công, bắt tù Thanh Uyên hầu514 là tướng của triều đình Phú Xuân lưu lại để kiềm chế Bảo, rồi Bảo chiếm giữ thành Quy Nhơn, sai Đô đốc Đoàn Văn Cát và Nguyễn Văn Thiệu giữ Phú Yên; sau lại đưa thư xin xuống hàng chúa Nguyễn.
Nhưng quân Cựu Nguyễn chưa đến thì binh Phú Xuân đã kéo tới vây thành bắt Bảo rồi.
Năm Kỷ Mùi (1799), sau trận Thạch Tân, Diệu, Dũng đều thua, Quy Nhơn lại bị bên Cựu Nguyễn
lấy được.
Từ năm ấy, cái tên “Bình Định” do chúa Nguyễn Ánh đặt cho để thay vào hai chữ “Quy Nhơn” mới bắt đầu thấy trên sử sách.
Cuộc chiến tranh ở thành Quy Nhơn này bước sang thời kỳ kịch liệt cũng từ khi thành ấy bị đổi tên làm Bình Định, do Chưởng hậu quân Vũ Tính và Lễ bộ Ngô Tòng Chu bên Cựu Nguyễn cùng gánh trọng trách trấn thủ.
Để đi giựt lại Quy Nhơn, Trần Quang Diệu, Thiếu phó bên Tây Sơn, từ ngày 21 tháng chạp năm Kỷ Mùi (1799), tiến quân vào mặt nam, qua ngày 29 (tháng mười hai Kỷ Mùi, 1799), Diệu đến đèo Bến Đá chia quân làm ba đạo, lách núi non, vượt hiểm trở mà thẳng tiến. Đến ngày mồng 2 tết Canh Thân (1800) Diệu bức thành Quy Nhơn bao vây bốn mặt515. Rồi kết quả trận này ra sao, chắc các bạn đã thấy rõ ở truyện Nguyễn Quang Toản như trên đã chép đó.
Sau khi nhận được tờ biểu của quận Diệu để trong ống tre, cẩn niêm, dâng lên từ nơi quân thứ, khi đã vây thành Quy Nhơn, chúa Cảnh Thịnh như đã nói ở trên, có sai Phan Huy Ích làm bài hiểu văn bằng nôm này niêm yết nơi quân thứ của Diệu tại Quy Nhơn để vỗ về yên ủi lòng quân lính.
Có xét lai lịch việc Quy Nhơn như thế, ta mới hiểu thêm một đoạn lịch sử ở đương thời và khỏi bỡ ngỡ những chỗ dụng ý trong bài hiểu văn dưới đây (viết theo văn thể biền ngẫu đối nhau) của tác giả.
***
Nhất hiểu Quy Nhơn phủ quan, quân, dân thứ đẳng tri:
Tướng vâng quyền chế ngoại516, dẹp lửa binh mà giúp lấy dân lành.
Người sẵn tính giáng trung517, cởi lưới ngược lại noi về đường thuận.
Mấy lời cặn kẽ.
Đòi chốn sum vầy,
Quý phủ ta: cội gốc nền vương,
Giậu phên nhà nước.
Miền thang mộc518 vốn đúc non gây (?) bể, mở mang bờ cõi bởi từ đây519.
Hội phong vân520 từng dìu phượng vin rồng, ghi tạc thẻ quyên521 đành dõi để.
Dấu cờ nghĩa đã sáng công dực vận522.
Buổi xe nhung thêm dóng sức cần vương.
Mấy phen gió bụi nhọc còn đòng523, giúp oai võ cũng đều nhờ đất cũ.
Ba huyện đá vàng bền tấc dạ, căm cừu thù chi để đội giời chung.
Tiệc ca phong524 châm nhạn vừa yên,
Vời Tĩnh Hải tăm kình lại động525.
Đoàn ngoại vũ lung lăng quen thói, nương thế đèo, đường Bến Đá chia ngăn526.
Kẻ khổn tư527 giáo giở bên lòng, phụ ơn nước, chốn thành vàng phút bỏ528!
Nơi trọng địa xảy nên gai góc.
Lũ lương gia529 lây phải lầm than.
Kẻ thì sa vào thế hiếp tòng530, trót lỡ bước dễ biết đâu tránh thoát;
Kẻ thì quá nghe lời khua dụ531, dẫu căm hờn nào có kịp nàn than.
Giận vì địch thế bãi buông tuồng.
Xót đến dân tình càng áy náy.
Trong một cõi, nỗi hoành ly532 là thế, đầu tên, trước đạn, nghĩ cỏ cây âu đã đổi màu xưa.
Trên chín lần niềm chắc ẩn là bao, sớm áo, đêm cơm533, mong đệm chiếu lại cùng êm nếp cũ534.
Chước điễn khấu ngửa vâng tiếng ngọc535.
Việc đổng nhung xa chỉ ngọn đào536.
Bản chức537 nay: chịu mạng đền phong538.
Buông oai trướng liễu539.
Thế phân đạo gấu giồ (?), hùm thét, suối rừng pha đồn lũy đã tan tành;
Cảnh sơ xuân540 hoa rước, oanh chào, đất nước thấy quan quân càng hớn hở.
Súy mạc vốn quyết bài tất thắng541.
Tông thành âu hẹn buổi phục thu.
Ngẫm chúng tình542 đà quay quắt bấy lâu, sự biến ấy hoặc có người nghi cụ543.
Vậy tướng lệnh phải đinh ninh đòi nhẽ, thân cố ta cho biết nẻo tòng vi544.
Nghiệm cơ giời đành thu góp về nhân.
Vâng nơi thánh lấy chở che làm lượng.
Bao nhiêu kẻ trót theo đảng dữ, như đã thích mê hồi thiện545, thì đều noi chức nghiệp cũ cho yên.
Hoặc mấy người riêng bấm (?) chí cao, mà hay nỗ lực lập công, ắt lại chịu ân thưởng nay càng hậu.
Dẫu trước có hà tỳ546 nào xá trách.
Ai sớm hay hối ngộ547 thảy đều dung.
Hội thanh ninh548 đành trên dưới đều vui.
Người Bái quận549… móc mưa hiệp sái550
Phương tị tựu vi kíp chầy chưa tỏ551,
Thủa Côn Cương ngọc đá khôn chia552.
Nghĩa cả mà lầm,
Lòng ngay xá giữ,
Nay hiểu.
Lời bạt
Viết cuốn Quang Trung này tôi có ý muốn đem ra ánh sáng chút ít sử liệu bấy nay đã tốn bao công mới tìm tòi nhặt lượm được. Rất mong các bậc cao minh trong giới sử học đoái đến mà nhã chính cho những chỗ sơ sót, thiếu thốn.
Tiếc rằng, vì trình độ, vì hoàn cảnh, tôi buộc lòng phải dùng một phương tiện thích ứng mà trình bày sách này cho “vừa tầm” với tiếng đòi hỏi của
thời đại.
Với nỗ lực, tôi còn mong có một bộ Quang Trung “như ý” ở một ngày mai tươi sáng.
***
Có nhiều bạn hỏi về chân dung vua Quang Trung.
Nay xin đáp chung: Tấm ảnh người cưỡi ngựa, mặc nhung phục mà nhiều sách báo gần đây rập theo một tờ tạp chí trước kia không phải là di tượng vua Quang Trung thật đâu, vì đó chỉ là một người do họa sĩ vẽ theo tưởng tượng. Bởi vậy, trong Quang Trung553 tôi có cho đặt tấm hình bán thân mà nhiều người đã nhận lầm là chính ảnh vua Quang Trung đó vào cuối phần thứ hai cho vui mắt, cho mỹ quan, nhưng không hề dám nói là ảnh của ai cả.
Hoa Bằng – Hoàng Thúc Trâm
Chú Thích 1.
1. Thái tử Duy Vỹ, từ bé thông minh, lanh lẹ, đọc rộng kinh sử, ưu đãi và kính lễ sĩ phu; thần dân ai cũng ngưỡng mộ. Chúa Trịnh Doanh (1740-1767) rất quý trọng ông và đem trưởng nữ là Tiên Dung Quận chúa mà gả cho. Ông thường căm nỗi nhà Lê mất quyền bính, khảng khái có chí thu lấy quyền cường. Khi làm Thế tử, Trịnh Sâm vốn ghen ghét vì ông tài giỏi. Một hôm, ông và Trịnh Sâm cùng ở trong phủ chúa. Chúa Trịnh ban ăn và bảo cùng ngồi. Song bà phi của Trịnh Doanh gạt đi mà rằng: “Đối với Thái tử, Thế tử còn có cái phận vua tôi, há nên ngồi cùng?” Rồi sai dọn riêng làm hai mâm. Trịnh Sâm sầm mặt lại, đi ra, nói với người ta rằng: “Trong hai chúng tôi, phải một sống, một thác, chứ quyết không thể cùng đứng với nhau được!”
Kịp khi nối ngôi, Sâm cùng bọn hoạn quan là Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Huy Đĩnh ngầm mưu phế Thái tử, nhưng chưa có cớ để nói. Sâm bấy giờ mới vu Thái tử tư thông với nàng hầu trong phủ Trịnh Doanh, rồi đem tội trạng ấy tâu với Lê đế, xin bắt hạ ngục.
Thái tử biết nạn đã xẩy đến, bèn vào ở tại nơi tẩm điện của vua Lê.
Huy Đĩnh xông vào nơi Đông cung trước, tìm khắp không thấy, bèn vào thẳng trong điện, kể tội trạng của Thái tử, và nói: “Nghe Thái tử ẩn ở tẩm điện của Bệ hạ, vậy xin Bệ hạ bắt giao cho thần.” Vua Lê ôm lấy Thái tử hồi lâu không nỡ rời ra. Huy Đĩnh quỳ dài ở sân rồng.
Tư liệu không thoát, Thái tử khóc lậy vua Lê, rồi rảo bước đi ra chịu trói để điệu về phủ Trịnh. Huy Đĩnh bảo Thái tử bỏ mũ đợi chịu tội. Thái tử không nghe, nói: “Phế lập, thí nghịch là việc nhà ngươi quen làm! Ta có tội gì? Đã có sử xanh nghìn thu ở đó.” Sâm giả mạo mạng lệnh vua Lê, phế Thái tử làm dân thường, giam vào ngục – Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 43, tờ 23-24.
2. Theo Đại Nam nhất thống chí.
3. Quân Tam phủ, cũng gọi là Ưu binh. Nguyên từ hồi trung hưng, nhà Lê chỉ lấy binh đinh ba phủ ở Thanh Hóa và mười hai huyện ở Nghệ An làm lính, đối đãi họ rất ưu hậu (sẽ nói kỹ ở dưới).
4. Hơn nữa. (BT)
5. Theo sự khảo cứu của Biệt Lam Trần Huy Bá thì phủ chúa Trịnh ở khoảng chỗ nền cũ đình làng Trung Phụng gần chợ Khâm Thiên (Hà Nội) bây giờ.
Toàn bộ chú thích ký hiệu BT là của người biên tập.
6. Nay là thôn An Khê (ở vùng Hòn Một, gần đèo An Khê, trên đường đi Pleiku – Kontum) thuộc huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định.
7. Có thuyết cho rằng tổ tiên Nguyễn Huệ vốn họ Hồ, nên có sách chép là Hồ Phi Phúc.
8. Sau đổi là An Tây, rồi sau đổi là thôn An Khê thuộc huyện Bình Khê tỉnh Bình Định ngày nay.
9. Nay là phủ Hoài Nhân thuộc tỉnh Bình Định.
10. Nay là thôn Phú Lạc thuộc huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định.
11. Nay là phủ Tuy Phước thuộc tỉnh Bình Định.
12. Không rõ họ của Hiến là gì.
13. Trích trong một bài văn ở hồi Lê Mạt.
14. Trích dịch nguyên văn chữ Hán trong Hạnh am thi tập.
15. Thúc bách. (BT)
16. Tức vùng “Trong Mán” (Man – Trung).
17. Chữ 樁 này có 2 âm: Thung (thư dung thiết) và Đang (đô giang thiết).
18. Lê dân. (BT)
19. “Ó” nghĩa là la ó.
20. Tức là Hạ đạo ấp Tây Sơn.
21. Sau, Thung bị Nhạc giết.
22. Sau, cả hai cũng đều bị Nhạc giết chết.
23. Gióc: kết nhiều sợi nhở thành sợi to.
24. Khâm định Việt sử, quyển 44, tờ 23; Đại Nam chính biên truyện, sơ tập, quyển 30, tờ 4a.
25. Hay Đàng Trong.
26. Người làng Phụng Công, huyện Yên Dũng, xứ Kinh Bắc (nay làng ấy thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh).
27. Khâm định Việt sử, quyển 44, tờ 11 b.
28. Khâm định Việt sử, quyển 44, tờ 11.
29. Khi bị bắt nộp, Loan sai con đem vô số vàng lót cho Ngũ Phúc, song vẫn không được tha. Qua mùa đông năm Bính Thân (1776), Loan phải ra Thăng Long (nay là Hà Nội), chết ở dọc đường. Truyện Trương Phúc Loan nay có chép kỹ ở Đại Nam tiền biên liệt truyện quyển VI, tờ 35, 36.
30. Đút lót. (BT)
31. Thi đỗ về hàng võ gọi là Tạo sĩ, theo chế độ võ cử thời Lê.
32. Khởi xướng một phong trào (chính trị, văn hóa). (BT)
33. Người Kinh Bắc (hay Bắc Ninh, Bắc Giang).
34. Người làng Trung Cần, huyện Thanh Chương (Nghệ An).
35. Theo Bùi Văn Lăng: “Thành Đồ Bàn”, Tri Tân số 12, trang 4 và 21.
36. Danh từ “Chính phủ” này, theo nghĩa thời đó, là “Vương phủ cầm quyền chính”.
37. Khâm định Việt sử quyển 44, tờ 28b.
38. Khi còn quận Việp Hoàng Ngũ Phúc, triều đình Nam Hà có dâng mấy bức thư, do Trương Phúc Loan chủ trương, yêu cầu quận Việp rút quân để thực hành cái ý vào cứu họ Nguyễn, đánh dẹp Tây Sơn mà Phúc đã hứa từ lúc mới cất quân vào Nam, song quận
Việp không nghe, (theo Nam Hà tiệp lục), nay làm hẳn ra mặt thôn tính chiếm giữ.
39. Theo Khâm định Việt sử thì, để kế chân Hoàng Ngũ Phúc, chúa Trịnh bổ Bùi Thế Đạt và Nguyễn Đình Đống làm Trấn thủ; Phan Lê Phiên, Uông Sĩ Điển, Nguyễn Lệnh Tân làm Tá nhị. Rồi lại bổ Lê Quý Đôn và Nguyễn Mậu Dĩnh làm Hiệp đồng để kinh lý công việc trong quân. Cứ 10 ngày lại một lần đệ trình mọi việc.
40. Lịch triều hiến chương, Bính chế chí, quyển 39.
41. Lịch triều hiến chương, Bính chế chí, quyển 39.
42. Lịch triều hiến chương, Bính chế chí, quyển 39.
43. Có tên nữa là Tố Lý, vừa là cháu, vừa là con nuôi của Hoàng Ngũ Phúc.
44. Về sau, Duy Chi bị Tây Sơn giết.
45. Tên cũ là Duy Kiêm.
46. Tức mai mối.
47. Khâm định Việt sử quyển 44, tờ 33b-34a.
48. Trong Việt sử tổng vịnh truyện Nguyễn Hữu Chỉnh chép là Tố Lý, cũng tức Đình Bảo.
49. Xuất xứ ở Việt sử tổng vịnh, mục Gian thần, truyện Nguyễn Hữu Chỉnh.
50. Nguyên từ tháng tám, năm Bính Thân (1776), Trịnh Sâm thấy Quảng Nam chưa yên mà nhân tình Thuận Hóa lại chưa thiếp phục, bèn triệu bọn Bùi Thế Đạt, Lê Quý Đôn và Phan Lê Phiên về; đồng thời lại triệt về hết cả cơ đội 13 hiệu. Rồi sai Sơn Nam trấn thủ Tạo Quận công Phạm Ngô Cầu vào thay, lĩnh chức trấn thủ Thuận Hóa, được phép tiện nghi làm việc lưu bọn Nguyễn Mậu Dĩnh, Nguyễn Lệnh Tân làm phò tá: đổi cơ đội 10 doanh vào đóng làm thủ binh. (Khâm định Việt sử, quyển 44, tờ 33a)
51. Còn có tên khác là Quyền, đỗ Tạo sĩ, người thôn Hoàng Nghĩa, huyện Hưng Nguyên, trấn Nghệ An.
52. Trong Khâm định Việt sử quyển 46, tờ 15b chép là thư phản gián của Nguyễn Hữu Chỉnh.
53. Đại Nam liệt truyện, quyển 30, tờ 18b chép rằng “nước sông bỗng dềnh lên dữ dội”, nhưng không nói rõ cái cớ tại sao. Thiết tưởng: chắc là sau mấy trận nước lũ nên nước sông mới lên to, giúp cho Tây Sơn cái dịp thuận lợi để bắn vào thành.
54. Một con tên là Đình Vị, một con không rõ tên là gì.
55. Đỗ Tạo sĩ, người làng Hà Hoàng, huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh).
56. Đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu đời Lê Cảnh Hưng, người làng Trung Cần, thuộc huyện Thanh Chương.
57. Trong Khâm định Việt sử quyển 46, tờ 16a chép Ngô Cầu mở cửa thành, xe quan tài, xuống hàng.
58. Ở địa phận xã Ái Tử, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị.
59. Thuộc huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
60. Không rõ họ Liên là gì. Khi Liên nổi lên, có lực lượng ở ngoài bể rồi, thì tên Sơn, người huyện Thần Khê thuộc trấn Sơn Nam (nay thuộc Hưng Yên) đem đồ đảng đến quy phụ. Vì thế, khí diễm của Liên càng thêm bùng bùng mạnh mẽ. Miền duyên hải phía đông nam phải rối ren, dân không được yên ổn. (Khâm định Việt sử quyển 46, tờ 14a).
61. Ở phía đông bắc, cách huyện Đăng Xương 26 dặm thuộc đạo Quảng Trị. Đến năm Minh Mạng thứ nhất (1820) đổi làm Việt An.
62. Đỗ Tạo sĩ, con Bùi Thế Đạt, người Tiên Lý, thuộc Đông Thành.
63. Mỗi hộc độ 60 lít (litres).
64. Nghĩa là: Tào Tháo, sau khi phá được Kinh Châu, thuận dòng nước, từ Giang Lăng xuôi xuống mạn đông: thuyền mành đằng giăng hàng nghìn dặm, cờ quạt che rợp một góc trời… thật là một tay hào hùng một đời vậy.
651. Nghĩa là quan liêu làm việc bên Trịnh phủ.
66. Là dòng dõi Đinh Văn Tả, Liễn Trung hầu Đinh Tích Nhưỡng, người làng Hàm Giang, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, vốn nổi tiếng là một tướng giỏi thủy chiến.
67. Thuộc huyện Nam Xương, giáp hai huyện Tiên Lữ và Hưng Nhân ở Hưng Yên.
68. Người làng Vẽ (Đông Ngạc), huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông.
69. Hạ lưu sông Nhị Hà, thuộc địa phận xã Phù Sa, huyện Đông An, tỉnh Hưng Yên.
70. Gió thổi hơn một tháng không ngừng.
71. Loại thuyền chiến cỡ nhỏ, bên trái và bên phải mở lỗ để luồn mái chèo, phía trước và phía sau đều mở lỗ bắn nỏ và đâm giáo (BT).
72. Có sách chép là Khản.
73. Chỉ biết tên được 5 người là Thụ, Bồi, Truyền, Tình, Gia còn không rõ tên là gì.
74. Tức đầm Vạn Phúc ở làng Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông.
75. Ở địa phận bãi Thúy Ái, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông.
76. Ở địa phận thôn Hậu Lâu, huyện Thọ Xương, Hà Nội. Có sách chép là Tây Long. Tục gọi là Tây Luông.
77. Thuộc địa phận làng Nam Dư, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông.
78. Trong truyện Phan Thị Thuấn, mục Liệt nữ ở Việt sử tổng vịnh chép là Ngô Phúc Hoàn; Trong Lê quý kỷ sự chép là Ngô Phúc Mai, người làng Trảo Nha, huyện Thạch Hà, trấn Nghệ An.
79. Có sách chép là Mai Thế Dương, người làng Thạch Giản, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa.
80. Người làng Linh Đường, huyện Thanh Trì, Hà Đông.
81. Theo Việt sử bổ di.
82. Chỉ vua Lê.
83. Chỉ Nguyễn Hữu Chỉnh, vì bấy giờ Chỉnh đương làm Hữu quân bên Tây Sơn.
84. Người làng Thanh Lệ, huyện Chân Định, (nay đổi Trực Định thuộc Thái Bình).
85. Đỗ Tiến sĩ khoa Bính Tuất, đời Lê Cảnh Hưng, người làng Vân Canh, huyện Từ Liêm, Hà Đông.
86. Về việc này, Khâm định Việt sử, quyển 46, tờ 21 chép:
Trịnh Khải đến làng Hạ Lôi thuộc Yên Lãng thì quân gia tản hết. Thiêm sai tri lại phiên Lý Trần Quán, trước đó, vâng hịch triệu nghĩa binh, vừa chợt ở đấy; hai bên gặp nhau. Trần Quán nói lừa môn sinh là Nguyễn Trang rằng: “Đây là quan Tham tụng họ Bùi nhân lánh nạn đến đây dựa ta. Ngươi khá hộ vệ đưa người qua địa giới huyện nhà.”
87. Bên mình Trịnh Khải bấy giờ, ngoài một viên nội thị Tập Trung ra, không còn lấy một tên quân nào cả.
88. Việt sử bổ di chép tên Ba lại tranh tuần Trang, bắt chúa Trịnh đem nộp.
89. Trang là môn sinh của Quán.
90. Có sách chép, sau khi Khải chết được hai ngày, thì Lý Trần Quán chết theo.
91. Việc này, trong Lê triều dã sử nhật ký chép hơi khác: khi Quán thấy Trịnh Khải bị bắt, liền nói một câu hình như phân bua: “Tôi vốn thực lòng đến đón tiếp chúa, không ngờ hóa ra lại làm hại chúa!” Rồi Quán tự mổ bụng ngay ở trước mặt chúa Trịnh để tỏ lòng trung. Trong Việt sử bổ di cũng chép Lý Trần Quán mổ bụng mà chết.
Theo tài liệu của Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố tiên sinh đã dịch trong Nam sử tập biên quyển 16, tờ 16a -17a; đăng ở Tri Tân số 75, ngày 19 Décembre 1942, thì Lý Trần Quán là người giản dị, chất phác, tính rất hiếu… Quán bảo quán chủ rằng: “Tôi là bề tôi mà làm nhầm chúa, tội nên chết: không chết, không lấy gì tỏ được lòng này với giời đất!” Nói rồi, xin quán chủ sắm cho một cỗ áo quan và một chỗ đất chôn, ngảnh hướng nam, lạy hai lạy; xong xuôi vào nằm trong áo quan, miệng đọc rằng: “Tam niên chi hiếu dĩ hoàn, thập phần chi trung vị tận” (nghĩa là hiếu ba năm đã trọn vẹn, trung mười phần chưa làm được). Rồi bảo chủ quán rằng “phiền đem câu này dặn lại con ta, dán ở gia tư để thờ ta. Đa tạ chủ nhân. Đậy áo quan hộ ta.” Bấy giờ là ngày 29 tháng sáu, năm Bính Ngọ, 1786.
92. Việt sử bổ di chép:
Khi Trang và Ba bắt được chúa Trịnh Tông (tức Khải), lên yết Nguyễn Huệ, Huệ hỏi Ba:
– Có phải là Trịnh Tông thật không?
Ba thưa:
– Phải!
– Sao mi biết?
– Tôi từng làm gia thần.
– Là tôi mà bắt chúa thì tội đáng chết, chứ còn công gì mà thưởng?
Rồi Nguyễn Huệ sai lôi Ba ra chém. (Có sách chép Hữu quân Nguyễn Hữu Chỉnh sai chém Ba Chúc, tức tên Ba này).
Còn Nam sử tập biên chép:
Về sau, vua Lê Chiêu Thống (1787-1788) truy phong Lý Trần Quán làm Thượng thư, sai xé xác Nguyễn Trang tế ở trước mộ Trịnh Khải.
93. Theo Việt sử bổ di.
94. Trong Khâm định Việt sử quyển 46, tờ 23b-25b đại lược chép:
Khi Văn Huệ đánh được Vị Hoàng, mật đem cái ý tôn phù tâu với vua Lê; lại trước sai viên tỳ tướng đem một cánh quân đợi khi đại binh kéo đến Thăng Long thì vào hộ vệ ở cung điện nhà vua. Bấy giờ vua Lê đang se mình, các hoàng tử đang thị bịnh ở nội điện, thấy ngoài điện có lính và voi, ngờ rằng “giặc” đến bức bách, bèn nâng đỡ vua dậy, toan lánh đi, thì vừa gặp viên tỳ tướng đệ dâng tờ tấu, trong nói trước xin vấn an, rồi xin chọn ngày khác vào yết kiến. Vua Lê thấy tâu như thế, bấy giờ mới yên lòng.
95. Người làng Yên Vỹ, tổng Yên Cảnh, huyện Đông Anh, phủ Khoái Châu, Hưng Yên.
96. Người làng Đông Ngạc (Vẽ), huyện Từ Liêm, Hà Đông.
97. Có sách chép là Sĩ Lãng, người làng Võ Nghị, huyện Thanh Quan.
98. Mẹ là Nguyễn Thị Huyền, người xã Phù Ninh, tổng Hạ Dương, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
99. Là con Nguyễn Thế, Thời Thấu từng làm quân sư cho hai ông Hoàng Duy Chúc, Duy Mật, dấy quân ở Ninh Trấn, chống lại họ Trịnh.
100. Chúa Tiên là cái mỹ hiệu mà trong cung nhà Lê bấy giờ quen gọi Ngọc Hân.
101. Có sách chép là ngày 18.
102. Về việc này, Lê quý kỷ sự chép hơi khác: Tự tôn (Duy Kỳ) không nói trước với Nguyễn Huệ, đã vội lên ngôi ngay trước cữu vua Hiển Tông, lại tự tiện phát tang rồi mới nói cho Nguyễn Huệ biết. Huệ giận; Công chúa Ngọc Hân phải mật sai người bảo Duy Kỳ. Duy Kỳ phải tạ lỗi lại, bấy giờ Nguyễn Huệ mới thôi.
103. Trong Histoire moderne du Pays d’Annam của Charles B. Maybon cũng có nói đến việc này.
104. Lễ Ninh lăng: đưa đi an táng (BT).
105. Người làng Vân Trình, huyện Phong Điền.
106. Đại ý trong thư nói đã lấy được Phú Xuân, nay cùng Hữu tướng (Nguyễn Hữu Chỉnh) ra Bắc, xin Vua trời (Nguyên Nhạc) đem quân đi tiếp ứng.
1071. Trong sách Lê kỷ (dã sử) chép, Nhạc đi từ Phú Xuân đến sông Gianh, tới đâu lấy hết dân đinh làm lính đến đó, cộng được hơn 10 vạn lính.
108. Chùa Tiên Tích ở xóm Nam Ngư, tổng Vĩnh Xương, huyện Thọ Xương (nay ở phố Hàng Lọng, Hà Nội).
109. Có sách chép: khi Chỉnh ra đến bờ sông, không một chú lái nào chịu chở thuyền cho Chỉnh cả. Chỉnh bực mình ngâm chơi mấy câu:
Đi cùng bốn biển chín chu
Trở về xó bếp chuột chù gậm chân!
Mãi sau mới vớ được một chiếc thuyền câu, Chỉnh mới đi thoát.
110. Có sách chép là “Nguyễn”.
111. Vua Thái Đức đóng ở Quy Nhơn, coi giữ Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên và Nha Trang. Đông Định vương Nguyễn Lữ quản trị Bình Thuận, Đồng Nai, Ba Lạt và Hà Tiên. Bắc Bình vương Nguyễn Huệ thống trị Quảng Nam, Phú Xuân (Huế) và khống chế cả Bắc Hà (Sử ký Đại Nam Việt do Giáo hội xuất bản tại Sài gòn, năm 1898, trang 59).
112. Đỗ Hương cống, người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, Hà Đông.
113. Đỗ Hương cống, người làng Xuân Quan (nay thuộc huyện Văn Giang, Bắc Ninh).
114. Đôn đáo, lao nhanh. (BT)
115. Lại có sách chép:
Khi Duệ và Đức nghe biết, trong Nam, anh em Tây Sơn có cuộc nội biến, họ bèn viết mật thư, âm mưu với Chỉnh: cùng họp binh lại, kéo thẳng về Nam, nổi loạn. Khi thành công, sẽ cắt cho Chỉnh cái địa giới từ sông Gianh trở ra Bắc. Nhưng Chỉnh bấy giờ ngần ngừ chưa quyết, nên việc này không thành sự thực.
116. Sau đổi là Thước, người làng Yên Vĩ, huyện Đông An (Hưng Yên) đỗ Tiến sĩ, bấy giờ làm Đồng bình Chương sự.
117. Người làng Tri Chỉ, huyện Phú Xuyên, (Hà Đông), đỗ Tiến sĩ, bấy giờ làm Hộ khoa cấp sự trung.
118. Có sách viết là Lê Duy Án. Duy Hiên là con thứ 6 vua Lê Ý Tông và là ông chú (tụng tổ thúc) vua Lê Chiêu Thống, bấy giờ làm Đại tông chánh.
119. Nay là Vinh.
120. Phản thần, phản nghịch. (BT)
121. Theo Việt sử tổng vịnh, quyển 5, mục Trung nghĩa”, truyện Trần Công Thước và Đông An huyện, Yên Vĩ xã, Nhâm Thìn khoa Tiến sĩ Trần Công Sán sự trạng.
122. Hồi bấy giờ, nhà Lê ngoài Bắc coi Tây Sơn như người “nước” khác, nên tự xưng là “tệ quốc”, kêu Tây Sơn là “quý quốc”.
123. Hòa thuận với nước láng giềng.
124. Nay là ba huyện Bình Chính, Minh Chính, và Bố Trạch thuộc Quảng Bình.
125. Nay là hai huyện Minh Linh và Do Linh thuộc Quảng Trị.
126. Một ngọn núi ở Tuy Hòa, Quảng Nam.
127. Một ngọn núi ở Khánh Hòa.
128. Từ cũ, nghĩa là “mạch rừng” (BT).
129. Xưa thuộc huyện Gia Lâm, trấn Kinh Bắc.
130. Xưa thuộc huyện Gia Lâm, trấn Kinh Bắc.
131. Xưa thuộc huyện Gia Lâm, trấn Kinh Bắc.
132. Nay đổi làm làng An Xá, thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
133. Người làng Nộn Liễu, huyện Nam Đường, Nghệ An.
134. Nay thuộc huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông.
135. Nay thuộc tỉnh Thái Bình.
136. Thuộc huyện Quế Dương, Bắc Ninh.
137. Thuộc huyện Thanh Quan, Thái Bình.
138. Tức huyện Cổ Lũng, từ Lê đổi làm Hữu Lũng, đến Nguyễn vẫn nói theo; nay đổi làm châu, thuộc tỉnh Bắc Giang.
139. Quận Thạc Hoàng Phùng Cơ.
140. Đinh Tích Nhưỡng.
141. Sông này thuộc địa phận làng Trinh Sơn, huyện Mỹ Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
142. Sông Thanh Quyết thuộc địa phận làng Thanh Quyết, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
143. Không kể Hữu Du và cơ thiếp đương ở Thăng Long với Chỉnh.
144. Sông Tất Mã ở khoảng tiếp giáp ba huyện Thụy Nguyên, An Định và Vĩnh Lộc thuộc tỉnh Thanh Hóa.
145. Thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
146. Thuộc địa phận làng Gián Khẩu. Nay người ta quen kêu là bến đò Gián Khẩu (Ninh Bình).
147. Thuộc trại Nghệ, làng Đại Hữu, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
148. Một làng thuộc Gia Viễn, Ninh Bình.
149. Có lẽ là Quỳnh Ngọc Hầu.
150. Tục gọi Sơn Miêng. Nay thuộc phủ Ứng Hòa, Hà Đông.
151. Tức làng Châu Cầu thuộc huyện Kim Bảng (nay thuộc huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam).
152. Về trận Hữu Du thua này, Khâm định Việt sử chép hơi khác: Hữu Chỉnh “lại sai Hữu Du đem hơn 50 chiếc chiến thuyền, chở hết súng lớn, hỏa khí và các chiến cụ để cả cửa sông, đối ngang với quân địch ở bờ bên kia. Hữu Du dựa theo bờ sông mà đậu thuyền, không hề phòng bị gì cả. Ban đêm quân địch lặn nước ngầm qua sông, lấy thừng dài buộc thuyền của quân Du rồi kéo về bờ bên Nam. Người trong thuyền sợ hãi luống cuống không biết xoay xở ra sao, tranh nhau nhảy xuống nước để chạy. Chiến thuyền và đại bác của quân Bắc đều bị Tây Sơn bắt được cả. Hữu Chỉnh bàn với chư tướng lui giữ Châu Kiều. Nửa đêm nổi trống thu quân. Chư quân kinh sợ một cách vô cớ, bèn tan vỡ lung tung: tranh nhau, giầy đạp nhau chạy trốn. Khí giới và nghi trượng quăng bỏ đầy đường. Chỉnh và Du chỉ còn vài trăm quân chạy về Thăng Long.” (Quyển 47, tờ 14b 15a)
153. Tức làng Bằng thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông.
154. Còn gọi là sông Nhị Hà (BT).
155. Về việc này, Khâm định Việt sử quyển 47, tờ 15b-17a chép như vầy:
Hay tin quân Hữu Chỉnh tan vỡ, vua Lê bàn muốn chạy về phía tây: do thượng đạo đi Thanh Hoa giữ hiểm để tính cuộc hưng phục. Nửa đêm, Hữu Chỉnh về từ Thanh Quyết. Vua sai người vời gọi đến mấy lần mà Chỉnh không tới. Rồi Chỉnh mật sai Tham tri chính sự Nguyễn Khuê vào tấu xin vua chạy về phía bắc:
- Nguyễn Cảnh Thước ở Kinh Bắc là người dũng lược đáng tin cậy. Vả, nương thành kiên cố, có sông lớn cách trở để giữ vững, rồi kíp gọi quân cần vương, thì trên từ Thái Nguyên, Sơn Tây, dưới đến Hải Dương, Sơn Nam, cùng thông khí mạch ở các nơi ấy, chẳng mấy ngày có thể chiêu tập được đại binh. Rồi sau xem thời cơ mà hành động, mới mong có cơ hưng phục được.
Vua Lê ưng theo.
Tảng sáng hôm sau vua Lê sai Hoàng đệ là Duy Lưu hộ tống Hoàng thái hậu, Hoàng phi, Nguyên tử và cung tần đi trước. Khi sắp ra đi, vua Lê vào nơi tẩm miếu khóc lạy. Bấy giờ các thị vệ đều lén tản đi cả. Vua Lê vừa lo vừa sợ, không biết tính chước ra sao. Thị thần Bùi Dương Lịch rảo bước tới trước mặt vua, tâu rằng:
- Hữu Chỉnh tuy vỡ quân, thua trận, nhưng thủ hạ còn nhiều người vẫn e sợ. Xin nhà vua truyền chỉ, ngự sang nhờ Chỉnh, ép Chỉnh đi theo ngự giá. Rồi lâm thời kêu gọi, chắc không đến nỗi quạnh quẽ trơ trọi đâu.
Vua Lê cho là phải. Dương Lịch lại sai người đứng trong sân rồng, lớn tiếng tuyên chỉ. Thị vệ dần dần lại nhóm lại. Vua Lê và nội thần là bọn Nguyễn Quốc Đống, Nguyễn Khải đi sang nhà Hữu Chỉnh. Chỉnh vội vã khóc lạy đón ngự giá, mời ngồi nơi ghế bành đặt ở khoảng chính giữa. Nhà vua vào dụ bảo Chỉnh đi theo giá.
Hữu Chỉnh nhân sai Hữu Du đi trước hỗ tụng. Giây lát Hữu Chỉnh thu nhặt được vài nghìn quân tản mát, ủng hộ vua Lê vượt sông chạy sang Bắc…
156. Thuộc tỉnh Bắc Ninh.
157. Tục gọi là núi Tam Từng, nay thuộc huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
158. Trong Bắc Giang địa chí của Nhật Nham Trịnh Như Tấn, trang 24b-24c có chép:
… Tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Hòa đem binh lên đánh. Vua Chiêu Thống chạy về núi Bảo Lộc nương náu ở đất Lạng Giang; còn Hữu Chỉnh thua, chạy đến địa phận xã Quế Nham (nay thuộc phủ Yên Thế, tỉnh Bắc Giang) đường cùng phải trá hình chui vào cống (Cống Trụng ở xã Quế Nham), nhưng không may có người tố giác, nên bị tướng Tây Sơn bắt đem về làm tội ở Thăng Long.
Trong Lê kỷ (dã sử) chép Nhậm chém Chỉnh.
159. Tang thương ngẫu lục, quyển dưới, tờ 18.
160. Phiên bản theo âm chữ Nôm chép trong sách Lê kỷ (dã sử).
161. Về cớ anh em Tây Sơn bất hòa ấy, trong tập Trần Công Sán sự trạng (sách trường Bác Cổ, số A 2136) chép như thế này:
Sau khi ở Bắc về, Nhạc về thẳng quốc thành, Huệ đến Phú Xuân, đóng binh lại, không tiễn nữa: sửa đắp thành lũy, thân nghiêm hiệu lệnh, giữ lấy hết cả những quân khí và của báu mà khi Bắc chinh lấy được, Nhạc hằng sai sứ vời gọi, song Huệ thoái thác rằng mặt Bắc chưa yên; không chịu về chầu. Phàm những sự phong thưởng đều chuyên quyết cả chứ không bẩm mệnh với Nhạc. Nhạc sai sứ đem ấn sắc phong Huệ là Bắc Bình vương và hỏi các hóa bảo được ở phủ Trịnh. Bắc Bình vương chống mệnh, không chịu dâng, bảo sứ giả về thưa với vua anh rằng: “Tấc đất tấc vàng Bắc Hà còn nhiều, cứ ra mà lấy, còn hỏi cái gì?”
162. Lê kỷ (dã sử) chép:
Nhậm, sau khi đã dẹp yên bốn trấn ở Bắc Hà, uy quyền lớn lao lừng lẫy, có ý muốn đánh vua Thái Đức và Bắc Bình vương để phục thù nhà Lê và tôn phù chúa Nguyễn.
163. Có sách chép Bắc Bình vương đem theo những 3 vạn tinh binh.
164. Về việc này, Khâm định Việt sử quyển 47, tờ 28b-29b chép:
Trước đây, Huệ sai Văn Nhậm ra Bắc, song trong lòng vẫn ngờ lắm, nên sai Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân làm Tham tán để chia bớt quyền của Nhậm. Huệ mật bảo Văn Sở rằng: “Nhậm là con rể của Vua anh. Ta và Vua anh có hiềm khích; Nhậm tất không yên lòng. Chuyến đi này, hắn cầm nắm trọng binh để vào nước người ta, thì sự biến không thể liệu trước được. Điều ta lo lắng không ở Bắc Hà, mà chỉ ở Văn Nhậm thôi. Ngươi nên xét kỹ hắn từ chỗ kín nhiệm để mách bảo ta.
Kịp khi thừa thắng ruổi ra Bắc, vào Thăng Long, bắt được Hữu Chỉnh, Nhậm tự cho rằng oai võ đủ phục được người, lại càng không kiêng nể gì nữa. Nhậm làm nhiều việc trái phép: tự đúc ấn chương, tự ý chuyên chế.
Văn Sở vốn có hiềm khích với Nhậm, liền dâng mật thư vu Nhậm làm phản, Huệ bèn tự cầm thân binh ruổi ra Thăng Long. Nhậm ra đón Huệ vỗ về yên ủi bằng lời ôn tồn rồi sai nhường ngựa mình đang cưỡi, lọng mình đang che cho Nhậm đi vào thành.
Đến nơi, Huệ sai người trói Nhậm đem ra tra hỏi. Tuy xét không đủ chứng cớ là Nhậm phản nghịch, nhưng Huệ vẫn nói cách quyết đoán rằng: “Không cần phải nói nhiều lời! Tài ngươi trội hơn ta, thì ngươi không phải là người ta dùng được.”
Huệ bèn sai chém Nhậm. Rồi nhắc ngay Văn Sở lên làm Đại tư mã, thay coi quân sĩ và kiêm chức trấn thủ Thăng Long.
165. Có sách chép là Hô Hổ hầu.
166. Phan Huy Ích, người làng Thày, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây. Khi Ngô Thì Nhậm đắc dụng với Tây Sơn, thì Nhậm tiến cử Ích và các bạn khác như Trần Bá Lãm và Vũ Huy Tấn… Ban đầu Ích được dùng ngay làm Thị trung Ngự sử, sau Ích và Nhậm cùng đóng vai trọng yếu trong cuộc ngoại giao với nhà Thanh. Cái ấn “sắc mệnh chi bảo” in ở trong tập này là rập trong đạo sắc của Phan Huy Ích do vua Quang Trung phong cho ngày 18, tháng tư nhuận, năm Quang Trung thứ 5 (1792).
167. Thuộc phủ Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
168. Thuộc Bắc Ninh.
169. Ở giữa hai huyện Vũ Giang (Bắc Ninh) và Việt Yên (Bắc Giang).
170. Thuộc Hải Dương.
171. Nay thuộc huyện Nam Xương, tức Nam Xang, tỉnh Hà Nam.
172. Sước hiệu là cách gọi khác của “biệt danh”, thường do người khác đặt cho, mang ý trêu chọc (BT).
173. Về việc vua Lê bôn ba này, Khâm định Việt sử, quyển 47, tờ 29b-30b chép rằng: Trước đó, vua Lê đến Vị Hoàng, nương tựa vào Viết Tuyển. Đến bấy giờ tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở đem binh từ Thăng Long xuôi dòng xuống đánh. Viết Tuyển đem chu sư đón đánh ở cửa sông Hoàng Giang. Khi quân hai bên giao chiến, Văn Sở đem cha và vợ Viết Tuyển trói ở đầu thuyền đề cho Tuyển biết. Tuyển trông thấy, khóc rưng rức, không dám đánh nữa, rút quân về sông Vị Hoàng.
Vua Lê hay tin Viết Tuyển thua, vội dời thuyền lại đóng ở Quần Anh (thuộc huyện Nam Chân, tỉnh Nam Định). Tối đến Viết Tuyển cũng đem chu sư đến liền. Đêm ấy, gió to, bão lớn, trời tối mờ mịt, thuyền bè tròng trành trôi dạt, cùng nhau lạc lõng hết cả. Thuyền vua Lê trôi vào bến Thiết Giáp (thuộc huyện Nga Sơn) ở Thanh Hóa… Thuyền Tuyển cũng giạt vào cửa Cần Hải (thuộc huyện Quỳnh Lưu) ở Nghệ An.
Sau Viết Tuyển đến Thăng Long, xuống hàng Tây Sơn, bị Tây Sơn giết chết.
174. Thuộc tổng Cao Bằng, phủ Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
175. Trong An Nam nhất thống chí nói 64 người.
176. Theo tờ bẩm của Lục Hữu Nhân, Tri phủ ở phủ Thái Bình bên Tàu (Đông Hoa toàn lục, quyển 107, tờ 37b).
177. Đông Hoa toàn lục, quyển 107, tờ 38b.
178. Đông Hoa toàn lục quyển 107, tờ 39b.
179. Đông hoa Toàn lục, quyển 107, tờ 39b.
180. Theo Bắc hành lược biên của Lê Quýnh thì bọn Túc do ải Đẩu Áo chạy sang Tàu. Chiều mồng 9 tháng năm năm Mậu Thân (1788), Lê Quýnh và Hoàng Ích Hiểu cố chống giữ ở trên cái gò nhỏ trong sông Phất Mê thì quân Tây Sơn kéo đến vây mặt tây nam, mà lính giữ ải bên Thanh thì chống lại ở mặt đông bắc. Bọn Quýnh tiến thoái cùng đường, chỉ chực liều đánh mà chết. Thình lình mưa to, gió nổi, bọn Quýnh, giữa đêm mờ tối, lần theo tia sáng chớp giựt, lội sông tìm lên một con đường nhỏ, sang lọt được đất Tàu. Bấy giờ gia đinh của bọn Lê thần chỉ còn 7 mống!
181. Theo Thanh triều sử lược quyển VI, tờ 19b.
182. “Giấu ta lâng”, trong Kinh Thánh chỉ việc phụng sự không hết mình (BT).
183. Người Quảng Nam.
184. Trong bản gốc, tác giả dùng cả hai chữ Càn Long và Kiền Long, ở đây chúng tôi dùng thống nhất là Càn Long. (BT)
185. Đông Hoa toàn lục, quyển 107, tờ 38b-39a.
186. Xưa, địa bàn Tuyên Quang gồm cả đất Hà Giang, Lao Kay, Yên Bái.
187. Đông Hoa toàn lục, quyển 108, tờ 22a chép là Trương Triều Long, còn sử sách ta thường chép là Trương Sĩ Long.
188. Theo điều thứ 8 trong quân luật bát điều của Tôn Sĩ Nghị.
189. Người Yên ấp, huyện Hương Sơn.
190. Chức quan giữ tài chính, trông coi thuế má.
191. Tức là bến Đông Tân ở sông Nhĩ Hà ngày nay.
192. Tức núi Yên Ngựa ở xã Mai Sao, Chân Ôn, tỉnh Lạng Sơn.
193. Núi Tam Điệp, tức đèo Ba Dội là một dãy núi ở chỗ phân địa giới hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa (ngọn cao nhất được 118 thước tây) chạy đến Thần Phù và Điên Hô có các đèo Yên Ban, Tam Điệp, Đông Giao và Phố Cát…
194. Ở khoảng giữa hai huyện Vũ Giang (Bắc Ninh) và Việt Yên (Bắc Giang).
195. Đời Trần là huyện Long Nhãn, đến Lê mới gọi là Phượng Nhãn, nay thuộc tỉnh Bắc Giang.
196. Ở huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
197. Khâm định Việt sử, quyển 47, tờ 34a chép là Trương Sĩ Long.
198. An Nam nhất thống chí chép:
… Lân lùa quân vượt sông để khiêu chiến, tướng sĩ vốn sợ oai Lân phải liều rét lội bừa. Đến lòng sông, những người bị rét cóng không lội qua được đều chết đuối cả. Còn những quân đổ bộ được lên bờ thì lại bị lính vận tải của Thanh giết chết. Lân liệu chừng không thể đánh được, liền rút quân chạy lui. Dư đảng tan vỡ trốn vào nơi dân gian lại bị dân bắt đem nộp quân Thanh. Lân phải một người một ngựa chạy về.
Sách Lê kỷ (dã sử) chép:
Khi quân Thanh đến núi Tam Tằng, thì Nội hầu Lận (tức Lân), tướng Tây Sơn, lùa hết binh mã ở năm trấn Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ và Sơn Tây cộng được 12 vạn, đêm vượt sông Thương, đến bình minh hôm sau, giao chiến với quân Tàu ở dưới núi. Quân Thanh đứng trên cao, giương cung vặn súng bắn xuống liền liền, tên đạn rào rào như mưa trút. Lân thua lớn: quân lính chết đuối ở sông Thương kể hàng vạn người. Lân chạy về Thăng Long chỉ còn 28 quân kỵ.
199. Nay thuộc tổng Văn Quan, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
Chú Thích 2.
200. Nay là một huyện thuộc tỉnh Ninh Bình.
201. Nay là một tổng thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
202. Đàng Ngoài.
203. Nay thuộc tổng Thuốc Sơn, châu Hữu Lũng, tỉnh Bắc Giang.
204. Việc này, An Nam nhất thống chí chép vào ngày 11 tháng mười một năm Mậu Thân (1788).
205. Nay là chỗ đền Tây Luông của Hoa kiều thờ Quan Công ở Hà Nội. Cổng đền có 4 chữ (Tây Long cổ miếu) mở ra phố Trippenbach, phía trước đền thì trông ra phố Hồng Phúc, ở gần bờ sông Nhĩ Hà.
206. Đại Nam chính biên liệt sơ tập quyển số 30, tờ 32 chép là ngày 21 tháng mười một năm Mậu Thân (1788).
207. Theo An Nam nhất thống chí, sách viết Bác Cổ, số A22, tờ 31b-32a.
208. Khâm định Việt sử, quyển 47 tờ 39.
209. Ngoài ra, vua Lê còn cách tuột Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích mà bắt hoàn làm dân, bãi tước Quận công của Nguyễn Hoản, giáng Phan Lệ Phiên làm Đông các Học sĩ và Mai Thế Uông xuống chức Tư huấn.
210. Khâm định Việt sử quyển 47, tờ 89.
211. Gia thăng cho bầy tôi hỗ tụng: Phan Đình Dữ lên Lại bộ Thượng thư Bình chương sự, Lê Duy Đản và Vũ Trinh lên Tham tri chính sự, Nguyễn Đình Giản lên Binh bộ Thượng thư tri Khu mật viện sự, Nguyễn Duy Hiệp và Chu Doãn Lệ lên Đồng tri Khu mật viện sự, Trần Danh Án lên Phó đô Ngự sử, Lê Quýnh lên Trung quân Đô đốc Trường Phát hầu…
212. Cháu gọi vua Quang Trung bằng cậu.
213. Có sách chép là Hám Hổ hầu.
214. Đây theo Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 30, tờ 32b. Có chỗ chép vua Quang Trung khi ra đến Nghệ An, Thanh Hoa, tuyển thêm được 8 vạn quân, rồi duyệt binh ở Thọ Hạc thuộc huyện Đông Sơn (Thanh Hoa) – Trận Đống Đa của Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, Tri Tân, xuân Nhâm Ngọ (1942), Số 34.
Còn An Nam nhất thống chí thì chép: khi tuyển lính ở Nghệ được “thắng binh” hơn 11.000 người.
215. Xem chú thích trang 255 cúa tác giả. (BT)
216. Theo Lê triều dã sử quyển dưới.
217. Quay về phía nào đó.
218. Theo bức thư của vua Quang Trung gửi cho vua Càn Long nhà Thanh trong Tây Sơn bang giao tập.
219. Theo bức thư của vua Quang Trung gửi cho vua Càn Long nhà Thanh trong Tây Sơn bang giao tập.
220. Theo bức thư của vua Quang Trung gửi cho vua Càn Long nhà Thanh trong Tây Sơn bang giao tập.
221. Khâm định Việt sử, quyển 47, tờ 37b.
222. Khâm định Việt sử, quyển 47, tờ 40b.
223. Nay thuộc tỉnh Hà Nam.
224. Nay là làng Nhật Tựu, tổng Nhật Tựu, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
225. Thuộc tỉnh Hà Đông.
226. Theo bức thư của vua Quang Trung gửi cho vua Thanh.
227. Người tỉnh Nghệ An, đỗ Hương cống hồi cuối Lê. Tôi sẽ nói kỹ về Nguyễn Thiệp ở sau.
Nhiều sách thường chép là Nguyễn Thiếp. Đây viết Nguyễn Thiệp là theo trong bản chỉ truyền của Bắc Bình vương gửi cho Nguyễn Thiệp ngày mồng 1 tháng sáu năm Thái Đức XI (1788). (Trần Liệt phẩm của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn bày tại khu lịch sử ở hội chợ Hanoi Décembre 1941-janvier 1942).
228. Một đạo của Lê Duy Cận, một đạo của quần thần và một đạo của nhân dân.
229. Theo bức thư của vua Quang Trung gửi cho vua Thanh Càn Long.
230. Theo bức thư của vua Quang Trung gửi cho vua Thanh Càn Long.
231. Theo bức thư vua Quang Trung gửi cho vua Thanh Càn Long.
232. Theo bức thư vua Quang Trung gửi cho Thang Hùng Nghiệp, Quảng Tây phân tuần Tả giang binh bị đạo.
233. Tên gọi khác của sông Nhị Hà. (BT)
234. Khâm định Việt sử, quyển 47, tờ 40b-41a.
235. Hô Hổ hầu, làm đến Đô đốc. Sau này, Hầu có đóng vai trung gian đưa thư của vua Quang Trung cho Thang Hùng Nghiệp nhà Thanh, rồi lại nhận thư của Nghiệp về việc bang giao mà chuyển đạt ý Nghiệp lên vua Quang Trung. Bức thư của Nghiệp đề ngày 18 tháng giêng năm Càn Long 54 (1789) chính là gửi cho Hô Hổ hầu này. Tiếc rằng không rõ tên họ hầu là gì.
236. Nay thuộc tỉnh Bắc Giang.
237. Nay thuộc tỉnh Bắc Giang.
238. Trong Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, quyển 30, tờ 33b chép “Đô đốc Mưu”. Đây theo bản An Nam nhất thống chí.
239. Tức là đồn quân Sầm Nghi Đống. Đồn Điền Châu (Tầu) tri phủ đóng ở trong khu chùa Bộc bên Đống Đa (Đống Đa ở phía đông bắc cách chùa Bộc độ vài trăm thước, thẳng trước mặt chùa Đồng Quang trông ra và ở ngay đằng sau cái Khâm tứ nghĩa địa bên con đường Hà Nội đi Hà Đông, thuộc địa phận làng Khương Thượng, Hà Đông).
240. Tục gọi là làng Vồi, thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông.
241. Thuộc tổng Cổ Điển, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông.
242. Theo Đào khê nhàn thoại do ông Bất Ác thuật trong số Xuân Trung Bắc, năm Kỷ Mão (1989).
243. Nhất thuyết nói Đống Đa ở ngay chỗ dựng đền Trung Liệt. Nhưng theo sự khảo cứu của tác giả thì Đống Đa ở ngay bên cạnh chùa Bộc, về phía đông bắc, như trên đã chua. Cố lão ở vùng ấy nói rằng bên Đống, trước có cây Đa nên mới gọi là Đống Đa; cách nay (1943) vài mươi năm, cây ấy đã bị đẵn bỏ. Hiện ở trong đất Đống Đa vẫn còn nhiều xương người.
244. Cứ theo tài liệu trong Đào khê nhàn thoại mà ông bạn Sở Bảo thuật cho tôi nghe thì, khi vua Quang Trung trảy quân đến làng Ngọc Hồi, dân làng này có làm cỗ bàn bánh trái đem ra khao lạo quân Quang Trung, và để tỏ ý hoan nghênh, họ có viết bốn chữ ở chỗ thết đãi ấy: “Hậu lai kỳ tổ”, nghĩa là một khi vua đến thì dân được sống lại.
Vua Quang Trung, trước lòng cung thuận và nhiệt thành ấy của dân làng Ngọc Hồi hết sức vỗ về và úy lạo, nhưng không muốn làm phiền nhiễu dân, nên ngài chỉ chọn lấy một thứ bánh có cái đặc tính của cái Tết Bắc Hà là thứ bánh chưng mà thôi.
Rồi ngài có ban cho làng Ngọc Hồi bốn chữ “Hiếu nghĩa khả gia” (đáng khen tấm lòng chuộng nghĩa) để khuyến khích thưởng tưởng họ.
245. Trong Lê kỷ (dã sử) chép:
Nội hầu Lận (tức Lân) lùa voi ra trận, voi bị tên bắn (của giặc Thanh) cắm vào đầu tua tủa như lông rím, Đại tư mã Sở bèn bầy kế: truyền lệnh cho các đội, mỗi đội làm một cái mòng xung, bề ngoài thì tròn và bịt kín, trong đựng cỏ rơm cao 5 thước, dài 15 thước, hễ ra trận thì mang theo đi che ở đằng trước để chống tên đạn. Đó có lẽ tức là đội quân vác ván gỗ bọc rơm này mà mỗi chỗ chép một khác chăng.
246. Khâm định Việt sử, quyển 47 tờ 41b.
247. Sử ta chép là “Đề đốc”, còn Tàu thì kêu là “Đề trấn”.
248. Trong bức thư ngày tháng năm, năm Càn Long 54 (1789) vua Thanh có nói đến cái chết của “Đề trấn”, tức là chỉ về Hứa Thế Hanh.
Về việc đề trấn Hứa Thế Hanh chết trận này, nhà Thanh lôi thôi mãi với Tây Sơn. Trong bức thư của vua Càn Long trên đây có yêu cầu rằng: “… Còn bọn Đề trấn chết, dẫu vì đi trận mà nên nỗi chứ không phải do vô tâm lỡ lầm làm hại. Song xét kỹ: sở dĩ xảy ra như thế, là vì nhà ngươi (!!!) (chỉ vua Quang Trung) gây chuyện với họ Lê. Vậy cũng nên lập giùm cái đền ở An Nam để xuân thu cúng tế cho…” Nhà Thanh lại yêu cầu vua Quang Trung phải trị tội hai người đã giết chết Hứa Thế Hanh. Sau, Tây Sơn muốn cho êm chuyện cũng đem luật pháp mà xử hai người ấy. (Không rõ ai: Nhưng có lẽ người ta đem xử hai tên tù phạm tội chết nào đó rồi nói là đã “chánh pháp” hai người giết Hanh: ai biết đâu và ai còn dám hạch hỏi nữa?)
249. Trong Lê kỷ (dã sử) chép:
Thái thú Điền Châu nhà Thanh đóng đồn ở Đống Đa, cố giữ không chịu hàng: suốt từ đêm trước đến sáng sau, thuốc đạn hết nhẵn, viên ấy mới tự tử. Tây Lệnh công (tức vua Quang Trung) sai làm lễ chôn cất cho, không giết một người nào cả.
250. Nay thuộc tổng Vĩnh Ninh, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông.
251. Nay thuộc tổng Cổ Điển, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông.
252. Sách Lê kỷ (dã sử) chép: giờ Thân (khoảng 4, 5 giờ chiều) đại đội binh sĩ và 80 thớt voi kéo vào Thăng Long.
253. Lê kỷ (dã sử) chép: ông hoàng Ba (em vua Lê Chiêu Thống) đánh gãy cầu phao: quan quân Nam Bắc chết đuối vô số!
254. Xưa, địa bàn Sơn Tây gồm cả đất Phú Thọ và Vĩnh Yên.
255. Có chỗ chép rằng: Khi quân Tây Sơn ăn tết, họ rất bất mãn về bữa tiệc khao quân ấy xoàng, nên có câu này luân truyền khắp miệng quân nhân: “Một là thết, hai là đừng chi hết, các quân lính phải sạch lòng cùng ta!” Vua Quang Trung nghe được câu họ mát mẻ đó, liền sai giết thật nhiều trâu bò để thiết đãi họ.
Nhưng, lấy lý mà xét: chuyện này không chắc đã có. Vì vua Quang Trung là người rất khéo ăn ở với quân sĩ, nên bộ hạ đều hướng lòng về với ngài (Bộ khúc giai chúc tâm yên. Coi Đại Nam chính biên liệt truyện quyển 30 tờ 17b). Và sau khi quét sạch được giặc Thanh, giang sơn Bắc Hà thuộc dưới quyền chi phối của ngài, thiếu gì sơn hào hải vị mà ngài không cho làm được bữa tiệc rất linh đình để thết hạng người bấy lâu vẫn cùng mình chia cay, sẻ đắng?
256. Trong cuộc Việt Thanh chiến tranh này, ai được ai thua sử thực sờ sờ là thế. Vậy mà trong sách Vạn quốc sử ký quyển IV, trang 8 tác giả là Cường Bản Giám Phụ chép rằng: “Năm 1789, người Thanh đem quân sang đánh Nguyễn Huệ, Huệ thua chạy… đổi tên là Quang Bình, tạ tội với nhà Thanh, xin hàng…” Thế là không đúng sự thực. Những sử liệu chúng tôi chép đây mong rằng sẽ cải chính được trang sách sai lầm ấy.
257. Theo bức thư vua Quang Trung gửi cho vua Thanh.
258. Theo bức thư vua Quang Trung gửi cho vua Thanh.
259. Trong An Nam nhất thống chí chép:
Trong khoảng một tuần bắt được quân Thanh còn sót lại có đến một vài nghìn người. Nhưng theo bức thư vua Quang Trung gửi cho vua Càn Long và bức thư ngài gửi cho Thang Hùng Nghiệp thì chỉ có hơn 800 người thôi.
260. Tỉnh Phúc Kiến
261. Quảng Đông, Quảng Tây.
262. Thuận Hóa.
263. Quảng Ngãi.
264. Quảng Nam.
265. Nghệ An.
266. Thanh Hóa.
267. Trong Khâm định Việt sử, quyển 47, tờ 42 chép là Lê Quý Thích.
268. Thuộc châu Hữu Lũng, tỉnh Bắc Giang.
269. Một tên khác của vua Quang Trung.
270. Thuộc tỉnh Quảng Tây bên Tàu.
271. Tỉnh trị Quảng Tây.
272. Trích bài Bắc sở tự tình phú của Lê Quýnh.
273.Trích bài Bắc sở tự tình phú của Lê Quýnh.
274. Tự Giao Lâm, họ Phú Xát, người Mãn Thanh (Theo Thanh triều sử lược của Tá Đằng Sở Tài, quyển 7, tờ 28).
275. Nghe phong thanh. (BT)
276. Bức thư của Nghiệp này và bức thư của vua Quang Trung, dưới đây đều là những bản sao lục, viết tay, chép trong Tây Sơn bang giao tập (sách trường Bác Cổ) chữ tháu tít, có nhiều chữ rất khó xem. Tôi phải lựa ý mà dịch. Trong có ít chữ lặt vặt chắc cũng xê xếch đôi chút, nhưng tinh thần và nguyên ý thì quyết đúng không sai.
277. Nguyên văn bằng chữ Hán do Phan Huy Ích làm, đại thể thì giống bài Kỷ Dậu xuân thông khoản biểu chép trong Giụ am văn tập, đệ nhất sách (sách viết trường Bác Cổ số A, 604) tờ 23a-25a, nhưng bản chép trong Giụ am văn tập chừng là bản sau sửa lại cho khỏi có giọng khiêu khích – Bản dịch đây tham bác cả sách trên và Tây Sơn bang giao tập, cùng Đại Nam chính biên liệt truyện.
278. Đây theo Tây Sơn bang giao tập. Còn theo Giụ am văn tập (tờ 25a) thì chuyến đem đồ cống và đệ bức biểu văn này sang Tàu có hai vị sứ giả là Nguyễn Hữu Chù và Vũ Huy Phác.
279. Vua Lê Hiển Tông (1740-1786) mất ngày 17 tháng bảy năm Bính Ngọ (1786).
280. Bọn lính tuần dương này là người của nhà Thanh. Chẳng hay khi vua Quang Trung đã tha, giao trả Tôn Sĩ Nghị rồi, tại sao Nghị lại giết chết đi thế? Có lẽ vì Nghị muốn gây sự với Đại Việt nên mới làm việc khiêu khích ấy để gieo ác cảm giữa vua Càn Long và vua Quang Trung chăng?
281. Nguyên văn là “viên mục”.
282. Chuyến cống này có các đồ phương vật và 10 dật vàng, 20 dật bạc (mỗi dật ăn 24 lạng).
283. Sau khi giảng hòa với nhau, anh em Tây Sơn lấy Bản Tân (ở chỗ giáp giới huyện Bình Sơn thuộc Quảng Ngãi và huyện Hà Đông thuộc Quảng Nam) làm địa giới. Quảng Ngãi trở vào Nam thuộc phần quản trị của vua Thái Đức. Thăng, Điện trở ra Bắc thuộc dưới quyền chi phối của vua Quang Trung. Nhưng Nhạc về tuổi già, kém chí tiến thủ. Từ năm Mậu Thân (1788) đến năm Nhâm Tý (1792), Nhạc chỉ bo bo giữ được Quy Nhơn, Quảng Ngãi và Phú Yên thôi. Vì thế, thế lực chúa Nguyễn Ánh mới dần dần phát triển ở Nam được.
284. Người Mãn Châu thuộc doanh Hoàng kỳ, do chân ấm sinh vào làm quan trong các.
285. Theo bức thư ngày tháng năm năm Càn Long 54 (1789) của vua Thanh.
286. Theo bức thư ngày tháng năm năm Càn Long 54 (1789) của vua Thanh.
287. Sẽ nói kỹ ở phần cuối.
288. Theo Đông hoa toàn lục, quyển 111, tờ 2.
289. Theo Đại Thanh thực lục, quyển 1348, tờ 14.
290. Chỉ việc sắp sang triều cận vua Thanh.
291. Chỉ việc mua sâm để tẩm bổ cho mẹ già.
292. Chỉ vua Quang Trung.
293. Đại Thanh thực lục, quyển 1348, tờ 5.
294. Đại Thanh thực lục, quyển 1348, tờ 14.
295. Chuyến Quang Hiển đi Tàu trước cũng có Ngô Văn Sở cùng với Nguyễn Văn Danh và các vệ sĩ đi theo. Khi vua Thanh hay tin Sở cũng muốn tiến kinh với Hiển, thì truyền bảo Sở nên quay về vì nghĩ rằng bây giờ nước Nam vừa mới tân tạo mà Sở thì là một bề tôi đắc lực, nên cần để Sở lo việc trấn thủ trong nước. Đó là vua Thanh tỏ ý thể tất và săn sóc đến việc nước cho Tây Sơn.
296. Trong An Nam nhất thống chí chép khác: cử Nguyễn Quang Thực người làng Mạc Điền, huyện Nam Đường (Nghệ An) dung mạo đoan chỉnh, giả làm quốc vương. Đây theo Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, quyển 30, tờ 39a.
297. Dịch theo Đông hoa toàn lục, quyển 111, tờ 2.
298. Đại Thanh thực lục, quyển 1347, tờ 10.
299. Nguyên văn chữ Hán có chép trong Giụ am ngâm tập. Mười bài này thuộc về lối văn “ngoại giao” cố nhiên toàn một giọng tán dương chúc tụng cả.
300. Tình sa kỷ hành thi tập, bản viết, sách trường Bác Cổ số A. 603, tờ 46a-49a.
301. Lời dẫn ở bài “Canh Tuất niên tiến cận, tấu đạt Thiên triều biểu” trong Giụ am văn tập, (sách viết trường Bác Cổ A 604) quyển 1 tờ 30 b-31 a nói là ngày 29 tháng giêng.
302. Sách dẫn trên tờ 11a.
303. Nguyên văn cả bài chế này có in trong sách Đại Thanh thực lục, quyển 1358, tờ 13, 14. Đái ý nói: Quang Toản là người tư chất thuần túy, ôn hòa, anh hoa, khôi vĩ và kỳ đặc. Nghe tiếng hạc con họa lại, biết ngay Quang Toản là hạng con quý báu như chi lan ngọc thụ. Giống như Lý Ngư ngày xưa được hưởng thụ giáo dục thi lễ nên sớm thấy cành tốt, giò tươi. Quẻ Chấn ví như con cả, được cha mẹ lo liệu chu đáo, có phương pháp. Làm chư hầu, giữ nước được yên ổn, có vẻ tiến tới như tượng quẻ Tấn, Quang Toản biết nối chí giữ nghiệp nhà.
Và:
Trong lòng đừng trễ nải: phải nghĩ hiếu với nhà và trung với nước. Nên sửa mình, giữ bổn phận cho khỏi mắc lỗi, học đạo làm con, làm tôi.
304. Túi lá sen của vua dùng. (BT)
305. Đông hoa toàn lục, quyển 111, tờ 3.
306. Chỗ để ngủ đỗ.
307. Chỗ để nghỉ chân, ăn, uống ở dọc Đường Trong khi lữ hành.
308. Nguyên văn chữ Hán:
三番耆定匪佳兵 Tam phiên kỳ định phỉ giai binh,
昨歲安南重有征 Tạc tuế An Nam trọng hữu chinh;
無柰復黎黎厭德 Vô nại phục Lê, Lê yếm đức,
翻教封阮阮輸城 Phiên giáo phong Nguyễn, Nguyễn thâu thành
守封疆勿滋他族 Thủ phong cương, vật tư tha tộc,
傅子孫恆奉大清 Truyền tử tôn, hằng phụng Đại Thanh,
幸沐天恩欽乆道 Hạnh mộc thiên ân khâm cửu đạo,
不遑日鍳凜持盈 Bất hoàng nhật giám lẫm trì doanh.
Bài thơ này có chép trong Hoa trình tùy bộ tập của Vũ Huy Tấn.
309. Tiểu nhã trong Kinh thi có thiên Hoàng hoàng giả hoa, là thơ vua tiễn sứ thần bằng lễ nhạc. Ý nói xa xôi mà có quang hoa. Nhân thế, đời dùng thơ Hoàng Hoa làm lời xưng tụng sứ thần.
310. Tinh sa kỷ hành, tờ 27a-28a.
311. Chỉ bóng về hàng bực quan liêu.
312. Minh Đường là nhà tỏ chính lệnh và giáo hóa. Xưa thiên tử dùng nhà Minh Đường để thờ Thượng đế, tế tiên tổ, triều chư hầu, nuôi kẻ già tôn người hiền, phàm những sự gì thuộc điển lệ lớn đều làm ở đấy cả.
313. Thiều hộ tên thứ nhạc do vua Thang nhà Ân làm ra. Cũng gọi là nhạc “Đại hộ”. “Thiều”, ý nói vua Thang có thể nối noi vua Đại Vũ. “Hộ”, có ý là phòng giữ che chở cho nhân dân.
314. Phan Huy Ích.
315. Vũ Huy Tấn.
316. Quan trong nội các.
317. Thành khẩn, kính nghĩa.
318. Cũng như nói “khuê chương”, chỉ về văn chương của nhà vua.
319. Tên thứ nhạc do vua Ngu Thuấn chế ra.
320. Đông Hoa toàn lục, quyển 112, tờ 19.
321. Đông Hoa toàn lục, quyển 112, tờ 33a.
322. Triều củng sao bắc thần, thật lòng theo về với.
323. Sang chúc phúc, tỏ ý hết lòng tôn thân, ghi tạc vào lòng son lâu dài không bỏ.
324. Thân đi triều cận, được ban ân sủng, xét suốt sử xanh trước giờ, chưa hề thấy có sự ưu đãi như thế.
325. Nước phiên ngoài biển vào chúc phúc, gặp lúc ta đương đi tuần thú phải thì. Mới gặp nhau lần đầu mà thân mật y như quen biết đã lâu. Từ xưa chưa nghe nói chính vua nước Nam thân đến triều cận bao giờ. Nhà Thanh cho việc triều trước đã bị diệt đòi cống người vàng là đáng bỉ. Đạo vỗ về người xa (như viễn nhân) làm việc quốc gia thiên hạ. Nhà Thanh rất kính trọng sự thông sứ. Gặp vận hội gia hanh như ngày nay, nước Nam nên cố gắng thể theo lòng nhân của ta. Thuận theo đạo trời, ta xếp việc võ, sửa việc văn. Tộ vận nhà Đại Thanh được lâu dài hàng muôn nghìn xuân.
326. Lên nơi quan tái sang triều cận gặp lúc nhà vua ngự xe ngọc lộ đi tuần thú. Tấc lòng tôn thân của chúng tôi thành thật như cây quỳ hướng về phía mặt trời. Bể Quế (chỉ bóng nước Nam) được lặng sóng (nghĩa là thái bình), chúng tôi giữ theo cái pháp độ làm một nước chư hầu. Chúng tôi được thấy thánh nhân, khi đến chỗ thềm mọc cỏ minh giáp (thứ cỏ báo điềm lành) dưới bóng mặt trời ấm áp. Muôn dặm trèo non vượt biển để quy phụ nhà vua. Mưa móc xuống từ chín từng trời cây cỏ được tăm gội trong bầu “nhất thị đồng nhân” (lòng nhân coi muôn vật đều đáng thương cả). Ngửa thấy nhà vua thể theo tượng Kiền (Trời), vận hành không nghỉ, ngài tất hưởng thọ vô cùng. Khắp dưới gầm trời, suốt đến bãi biển, đâu đâu cũng được hả hê trong bóng xuân của đời Đế.
327. In mộc bản năm Canh Thân (1800) đời Cảnh Thịnh (1793-1800). Bảo Chân quán tàng bản.
328. Tinh Sà Kỷ Hành, tờ 39.
329. Theo Đông Hoa toàn lục, quyển 112, tờ 19.
330. Theo Đông Hoa toàn lục, quyển 113, tờ 15.
331. Sửa việc hòa hiếu. (BT)
332. Hai cháu của vua Xiêm.
333. Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 30 tờ 11b dịch ra tên chữ nho là “Xuy Miệt”.
334. Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 30 tờ 11b dịch ra tên chữ nho là “Sầm Giang”.
335. Tháng tư, năm Ất Tỵ (1785) chúa Nguyễn Ánh sang thành Vọng Các Xiêm. Vua Xiêm hỏi cớ tướng Xiêm bị thua. Chúa Nguyễn kể rõ sự trạng Tăng, Sương tàn bạo, làm dân ta oán, cho nên mới phải đại bại. Vua Xiêm nổi giận, toan chém Tăng Sương; nhưng nhờ có Nguyễn vương can ngăn, nên bọn ấy được tha.
336. 暹人自甲辰敗衂之後口雖大言而心憚西山如虎.
Tiêm nhân tự giáp thìn bại nục chi hậu, khẩu tuy đại ngôn, nhi tâm đạn Tây Sơn như hổ. (Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập quyển 32, tờ 6a).
337. Đông Hoa toàn lục, quyển 111, tờ 4b-5b.
338. Chỉ nước Miến Điện (Myanmar). Chúng tôi giữ nguyên bản gốc. (BT)
339. Đặt quan hệ ngoại giao hữu nghị giữa các nước. (BT)
340. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, (sách in của trường Bác Cổ, số A, 2771) quyển 33, tờ 27a-28b và An Nam nhất thống chí.
341. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, (sách in của trường Bác Cổ, số A.2771) quyển 33, tờ 27a–28b và An Nam nhất thống chí.
342. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 33, tờ 2a.
343. Có tài liệu chép là Duy Chỉ. (BT)
344. Theo bức thư “Thanh báo bộ tiễu Duy Chi sự thể” trong Bang giao hảo thoại (Ngô Gia Văn Phái).
345. Có sách chép là họ Nguyễn.
346. Sách Lê kỷ (dã sử) chép việc đi đánh Bảo Lạc này do Khang công Quang Thùy (con thứ 2 vua Quang Trung) sai Điều Bát Lợi đem 6 vạn tinh binh theo tay chỉ điểm của quận Diễn đi đánh hoàng Ba. Sau khi thành công, Điều Bát Lợi đang uống rượu ăn mừng, bỗng sai tru di cả họ quận Diễn: chém hết 113 người kể cả trai, gái lớn bé già trẻ.
Sau, Điều Bát Lợi được thăng làm Đại tuần kiểm.
347. Dìm xuống sông.
348. Tức là sông Luống.
349. Người làng Mộ Trạch (Trầm), tổng Tuyển Cử, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, Huy Tấn có tập thơ nhan đề là Hoa trình tùy bộ thi tập.
350. Trương Quán khi còn nhỏ làm bài thơ vịnh hòn núi voi, có câu:
Trời sinh ra đó, không ai quản,
Đất mọc lên đây, có đá rèo.
351. Nguyễn Thiệp đỗ hương cống và ngồi tri huyện Thanh Chương hồi cuối Lê. Sau khi Lê mất Thiệp về ẩn ở núi Nam Hoa bên lục niên thành, huyện La Sơn (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh). Sau vua Cảnh Thịnh (1793-1802) lại sai trấn quan mang sính lễ đến cố đón Thiệp ra. Thiệp không nhận những đồ tệ sính nhưng cũng theo sứ giả đi vào chầu. Khi Thiệp đến nơi, vừa gặp có quốc tang Thái Tổ Võ Hoàng đế miếu hiệu vua Quang Trung. Thiệp suýt bị chém đầu vì cớ không thay y phục mà cứ vào triều. May vua Cảnh Thịnh gạt đi, không cho chém, nên Thiệp mới thoát, Vua Cảnh Thịnh hỏi ông về việc nước, ông nói: đại thế đã hỏng mất rồi, không thể gỡ được nữa! Rồi ông từ về nhưng không được; nên phải lưu lại ở Phú Xuân. Tác phẩm ông có La Sơn tiên sinh thi tập, Hạnh Am ký, và các thư biểu dâng vua Quang Trung. Ông tên tự là Khải Chuyên tên hiệu là Nguyệt Úc, biệt hiệu là Hạnh am, thường được người đời kêu là Lục Niên tiên sinh hoặc La Sơn phu tử (Đại Nam nhất thống chí. Nghệ An tỉnh, mục nhân vật, tờ 59).
352. Giụ am ngâm lục (sách viết trường Bác cổ số A 603), quyển 3, tờ 6.
353. Nouvelles lettres édifiantes tập thứ 6, trang XV-XVI.
354. Theo Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, Tao đàn số 1, ngày 1er Mars 1989, trang 21.
355. Trong Nouvelles lettres édifiantes, tập thứ 6, trang XI–XII chép Lang Bac xứ.
356. Theo bài Ban bố Bắc Thành các điều chép trong Giụ am văn tập, (sách viết trường Bác Cổ, số A 604), quyển 5, tờ 9b–10a, thì “Bắc thành dưới triều Tây Sơn gồm có 7 nội trấn và 6 ngoại trấn.
Bảy nội trấn là: Thanh Hoa ngoại, Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương và Phụng Thiên.
Sáu ngoại trấn là: Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên và Yên Quảng.”
357. Nouvelles lettres édifiantes, tập thứ 6, trang XV-XVI.
358. Nouvelles lettres édifiantes, tập thứ 6, trang XV-XVI.
359. Nouvelles lettres édifiantes, tập thứ 6, trang XV-XVI.
360. Nouvelles lettres édifiantes, tập thứ 6, trang XV-XVI.
361. Theo tờ chiếu của Bắc Bình vương gửi cho Nguyễn Thiệp ngày mồng 1 tháng sáu năm Thái Đức thứ 11 (1788).
362. Theo bức thư “Trình Phúc đại nhân” trong Bang giao hảo thoại của Ngô Thì Nhậm.
363. Theo bài “Ban bố Bắc thành các điều” trong Giụ am văn tập quyển thứ 5, tờ 9b-10a.
364. Mỗi bát độ nửa litre.
365. Theo Lê kỷ (dã sử).
366. Bài chiếu này có chép trong tập Hàn các anh hoa của Ngô Thì Nhậm.
367. Tam quán sinh đồ.
368. Trần liệt phẩm (collection) của ông Hoàng Xuân Hãn bày ở khu lịch sử trong hội chợ Hanoi năm 1941-1942. Nguyên văn có nhiều câu xen lẫn chữ Hán tưởng nên diễn nghĩa cho rõ ý như sau này:
Chiếu truyền cho thày La Sơn Nguyễn Thiệp kính cẩn biết rằng:
Ngày trước phó thác thày về Nghệ An xem đất kinh đô để cho ta kịp lúc này về ngự, sao khi ta về tới đó, chưa thấy thày làm xong việc ấy nhỉ? Vậy nên ta hẵng phải trảy về kinh Phú Xuân (Huế) để ngự và cho quân lính nghỉ ngơi.
Vậy nay thấy chiếu này ban xuống, thầy sớm nên cùng trấn thủ Thận công sự: lo liệu công việc kinh doanh. Nên xem đất mà sửa dựng kinh đô, cắm chỗ chính địa phỏng vào khoảng dân gian ở, sau phía hành cung Phù Thạch gần về mạn núi, hoặc giả chỗ nào là nơi đất tốt có thể đóng đô được thì tùy như con mắt đạo pháp của thày định liệu, miễn là sơm sớm làm cho chóng xong. Rồi giao cho trấn thủ Thận sớm lập cung điện, hạn nội ba tháng thì hoàn thành để ta được tiện về ngự. Thày chớ nên coi thường việc ấy. Kính thày lời đặc chiếu này!
Ngày mồng 1 tháng sáu năm Thái đức thứ 11 (1788).
369. Giụ am văn tập quyển 5, tờ 13a-14b.
370. Giụ am văn tập quyển 5, tờ 5b-7b.
371. Giụ am văn tập quyển 7, tờ 10b-11a.
372. Quân đức: Vua nên theo cái đạo Thánh Hiền mà trị nước. Dân tâm: Vua nên làm yên lòng dân bằng nhân chính. Học pháp: Vua nên mở học hiệu để giữ gìn nhân tâm thế đạo bằng tam cương ngũ thường.
373. Nouvelles lettres édifiantes, trang 214.
374. Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim, nhà in Vĩnh và Thành, Hà Nội, in lần thứ 2, năm 1928) quyển hạ, trang 124.
375. Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim, nhà in Vĩnh và Thành, Hà Nội, in lần thứ 2, năm 1928) quyển hạ trang 124.
376. Năm Mậu Thân, niên hiệu Thiên Tư Gia Thụy thứ 3 (1188), vua Lý Cao Tông đi thăm các núi sông, hễ thặng dư đi đến đâu thì ban phong hiệu cho thần kỳ và sai lập miếu thờ cúng đến đó – Khâm định Việt sử quyển 5 tờ 23b.
377. Tức là thiên thần, địa thần và nhân thần.
378. Đạo sắc này có trưng bày trong khu lịch sử ở Hội chợ Hà Nội năm 1941-1942.
379. Đến năm Cảnh Thịnh thứ nhất (1793), Nguyễn Quang Toản bãi bỏ tín bài.
380. Trong tờ bẩm về việc “biện đại nạp kim nhân” ở tập Bang giao hảo thoại của Ngô Thì Nhậm có nói: Xét ra lệ ấy bắt đầu từ năm người Nguyên đánh nhà Trần. Nước Tàu thấy vua Trần kiếm cớ bị bệnh từ chối không chịu vào triều cận, bèn bảo phải đúc người vàng làm hình dáng quốc vương để thay vào chầu, nhưng vua Trần cãi rằng việc ấy không phải là lệ từ xưa, nên được miễn.
381. Có âm nữa là Thụ người Thanh Hoa.
382. Khâm định việt sử, quyển 18, tờ 34.
383. Người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, Hải Dương.
384. Nguyên văn bài biểu bằng chữ hán, có chép ở mục Sách phong chi lễ trong loại Bang giao chí sách Lịch triều hiến chương của Phan Huy Chú; Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 14 tờ 22b-24a có dẫn đại lược, tôi đã dịch đăng ở Tri Tân tạp chí, số 103, ngày 15 Juillet 1943, trang 57.
385. Theo lịch triều hiến chương, loại Bang giao chí, phần Cống sính chi lễ.
386. Nhờ sức họ Trịnh, vua Lê đuổi được nhà Mạc, lấy lại được Thăng Long từ năm Quang Hưng 16 (1593).
387. Tự Hoằng Phu hiệu Nghị Trai, người làng Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây.
388. Trong sử sách chữ Hán của ta xưa vẫn quen gọi đời Lê phục quốc là Tiền Lê (1428-1526), đời Lê trung hưng là Hậu Lê (1533-1787).
389. Chữ “Công” ngày xưa là tiếng tôn xưng. Chẳng hạn, khi chép về Nguyễn Hãng, các cụ xưa thường viết là Nguyễn Công Hãng thì tức như bây giờ viết là ông Nguyễn Hãng. Vậy thiết tưởng nhiều chữ “Công” trong tên người xưa phần đông không phải là chữ đệm.
390. Trong lệ cống, có món nước ở giếng Cổ Loa để rửa hạt châu. Chuyến ông Nguyễn Hãng đi sứ (1718) này cũng phải đem cống cả nước rửa hạt châu ấy, nhưng dọc đường, đánh đổ mất cả, ông bèn múc nước giếng Ba Sơn để đem đi. Khi người Thanh thử dùng, thấy không nghiệm nữa họ có vặn hỏi ông. Ông trả lời: “Cái khí đã đến lâu ngày thì tất biến đi!” Vì vậy, lệ cống “nước rửa châu” này cũng nhờ ông mà được thôi.
391. Tham khảo chuyết tác: Vấn đề cống người vàng đăng ở Tri Tân tạp chí những số 101, 103, 104.
392. Nguyên gốc được đọc từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, ở đây đã đổi lại theo cách đọc thông thường để tương ứng với phần dịch âm Hán Việt. (BT)
393. Nguyên văn có chép trong tập Bang giao hảo thoại của Ngô Thì Nhậm.
394. Nguyên văn toàn bài có in trong Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập quyển 30 tờ 39b và Đại Thanh thực lục.
395. Trích trong bức thư “Trình Phúc đại nhân” chép ở tập Bang giao hảo thoại.
396. “Giả ngã sổ niên, dưỡng uy, sức nhuệ, ngô hà úy bỉ tai!” Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập quyển 30, tờ 40a.
397. Toàn văn bằng chữ Hán có chép trong tập Bang giao hảo thoại (Ngô Gia Văn Phái).
398. Phúc Kiến.
399. Quảng Đông, Quảng Tây.
Chú Thích 3.
400. Giang Tô (?)
401. Triết Giang.
402. Trích dịch nguyên văn chữ Hán trong Bang giao hảo thoại (Ngô Gia Văn Phái).
403. Trích dịch nguyên văn chữ Hán trong Bang giao hảo thoại (Ngô Gia Văn Phái).
404. Tên một núi ở phía nam tỉnh Cát Lâm cao 8.900 thước Tàu.
405. Do ông Lê Văn Hòe giới thiệu trong bài “Phải chăng vua Càn Long nhà Thanh đã bằng lòng trả vua Quang Trung tỉnh Quảng Tây làm nơi đóng đô và gả Công chúa?” Đăng ở trong “Trung Bắc chủ nhật” số tết Quý Mùi (1943) trang 20, 21, 28
406. Để chứng thực việc vua Quang Trung (1788-1792) bị bịnh rồi mất như thế nào, tôi xin trích dịch đoạn sử chữ nho sau đây:
“… Một hôm, buổi chiều, đang ngồi, Huệ chợt huyễn vận (nghĩa là hoa mắt, sa sầm choáng váng vả người)…(lược)…rồi sầm tối gục xuống, hồi lâu mới tỉnh, bèn đem chuyện đã mê ấy nói với Trung thư Trần Văn Kỷ. Từ đó bịnh trở nặng. Bèn vời Nghệ An trấn thủ Nguyễn (hoặc Trần) Quang Diệu về bàn thiên đô ra Nghệ An. Việc thương nghị ấy chưa ngã ngũ thì bấy giờ vua Thế tổ (miếu hiệu vua Gia Long) ta đã khắc phục Gia Định thu lại được Bình Thuận, Bình Khang và Diên Khánh: thanh thế lừng lẫy vang động. Huệ nghe biết tin đó, đâm lo buồn, bịnh thế ngày một nguy kịch vời bọn Diệu vào trối trăng rằng: “Ta mở mang bờ cõi, khai thác đất đai, có cả cõi Nam này. Nay đau ốm tất không dậy được, Thái tử (Nguyễn Quang Toản) tư chất hơi cao, nhưng tuổi còn nhỏ, bấy giờ mới 10 tuổi. Ngoài có quân Gia Định là quốc thù; mà Thái Đức (Nguyễn Nhạc) thì tuổi già, ham dật lạc cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang làm lạo thảo thôi. Lũ ngươi nên họp sức mà giúp Thái tử sớm thiên về Vĩnh đô (tức Vinh ngày nay) để khống chế thiên hạ. Bằng chẳng, quân Gia Định kéo đến, thì các ngươi không có chỗ chôn đâu!”( Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 30, tờ 42).
407. Đây theo Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập quyển 30 tờ 42b.
Trong Giụ am ngâm lục chép vua Quang Trung băng vào ngày hối (30) tháng chín. Có lẽ tháng chín năm Nhâm Tý ấy thiếu nên hôm 29 bắt làm 30 chăng. Trong Lời phát doan (introduction) ở cuốn Nouvelles lettres édifinates nói vua Quang Trung băng vào tháng Septembre 1792 (P. IXIV).
408. Nguyên văn chữ hán chép chữ “trung” là trung tín.
409. Đây dịch theo nguyên văn, đáng lẽ phải nói là “hai anh” mới đúng.
410. Lời chua của nguyên tác.
411. Việc vua Càn Long sai Tôn Sĩ Nghị sang Nam là từ năm 1788 kia.
412. Nguyên văn là “xuất kỳ chế thắng”.
413. Đêm ba mươi tết.
414. Tức là mặt trận ở phía trước.
415. Chính họ Ngô, chứ không phải Nguyễn.
416. Nếu kể cả lần ra giết Vũ Văn Nhậm thì là ba lần.
417. Kể từ năm Tân Mão (1771). Nguyễn Huệ quật khởi ở Tây Sơn thượng đạo đến năm Nhâm Tý (1792) thăng hà vừa được 21 năm.
418. Đền Trung Liệt trước do ông Tống khê Nguyễn Hữu Đô dựng ở thôn Văn Tân huyện Thọ Xương (Hà Nội), đến năm Canh Dần (1890), công Thái Xuyên Hoàng Cao Khải thiên xuống ấp Thái Hà.
419. Nguyên thư chép là Ngô Nhậm.
420. Nguyên thư chép là Thanh Ba.
421. Hoặc chép là họ Trần (nguyên chú).
422. Họ tông thất Tây Sơn (nguyên chú: ngụy tộc).
423. Quân chúa Nguyễn Ánh. Từ đây trở đi, phàm những chỗ Quốc sử quán chép rằng “quân ta” thì đều chỉ về quân chúa Nguyễn cả.
424. Địa bàn trong Nam Kỳ, trước đấy chúa Nguyễn đã lấy được.
425. Tức Nguyễn Văn Hóa (nguyên chú).
426. Tuyên lấy chùa làm nhà ở (nguyên chú).
427. Bùi Thị Xuân vợ Diệu, là cháu gái của Tuyên (nguyên chú).
428. Chỉ việc đem binh bắt giết cha con Đắc Trụ.
429. Những người ở bên tả hữu mình.
430. Hoặc chép là Nguyễn Văn Tứ (nguyên chú).
431. Từ năm Quý Sửu (1793). Toản phong con Nhạc là Bảo làm Hiếu Công, cắt cho một huyện Phù ly làm ấp ăn lộc gọi là Tiểu triều.
432. Tức bên chúa Nguyễn Ánh. Sau đây cũng cùng một lệ ấy.
433. Có chỗ chép là Đại Tư võ Tuấn (nguyên chú).
434. Có chỗ chép là Thái phú Mân (nguyên chú).
435. Miếu hiệu của vua Gia Long sau này, bấy giờ còn là chúa (Nguyễn Ánh).
436. Vì kiêng húy chữ “Hoa” nên nguyên chữ chép là “Thanh Ba”.
437. Người giữ đất, tức là quan chức địa phương.
438. Thuộc Nghệ An (nguyên chú). Vĩnh đô tức là Vinh doanh ở đời Lê và là Vinh bây giờ.
439. Tức là núi Linh sát (nguyên chú).
440. Nguyên văn là “mộc sách”.
441. Nguyên văn chép là “Thanh Ba”.
442. Không rõ họ Định là gì (nguyên chú).
443. Đối với bây giờ, những sự đó đều là chuyện rất thường. Vì ngày xưa chưa có xi măng cốt sắt, một khi làm lâu đài cao quá mà vôi vữa không kỹ thì gặp ngặp lụt lâu ngày, nước nong, móng lún tất đến sụp đổ.
444. Nguyên thư chép là Ngô Nhâm.
445. Thiếu họ (nguyên chú).
446. Tức ải Quảng Bình ngày nay (nguyên chú).
447. Thiếu họ (nguyên chú).
448. Nguyên văn in lầm là tháng 13.
449. “Thân chinh” nghĩa là “chính mình đi đánh trận”.
450. Tuần ngày xưa gồm những 10 ngày khác với tuần trong tiếng “tuần lễ” ngày nay, vì “tuần” ngày nay chỉ có 7 ngày.
451. Nguyên thư, vì kiêng húy, chép là “Triệu”.
452. Tức phủ thành Diễn Châu ngày nay (nguyên chú).
453. Nguyên thư chép là “Thanh Ba”.
454. Nguyên thư chép là “Thanh ba”.
455. Con của Văn Đức (nguyên chú).
456. Lời xét kính cẩn của Quốc sử quán.
457. Nguyên thư in lầm là Canh Tuất.
458. Hai tướng: Diệu và Dũng.
459. Hai người.
460. Bậc đại thần cố cựu và có công lao.
461. Vị đại thần gánh trọng nhậm nhà nước, như cái cầu có cột trụ, cột trụ để đỡ đá.
462. Chỉ về Trần Quang Diệu, vì vua Quang Trung khi sắp băng, có trối trăng dặn Quang Diệu phải cùng các tướng tá họp sức lại mà giúp Thái tử. “Phụng tuân cố mệnh”nghĩa là vâng giữ lời nói của nhà vua khi sắp chết còn ngoái lại mà dặn bảo.
463. Giữ gìn vùa giúp cho bản thân của “ta”.
464. Cầm quyền coi giữ thành Thăng Long làm phên giậu che chắn và cội gốc vững chắc cho nhà vua.
465. Ta coi hai ngươi như chân, tay, trái tim và xương bả vai, lấy tình rất thực mà đối đãi.
466. Gần đây, vì việc biên thùy rất gấp rút.
467. Làm lũ ngươi lại phải khó nhọc cầm quân ở ngoài.
468. Mưu tính công việc xếp đặt phòng thủ mặt thủy mặt bộ ra sao để liệu làm ở sau này.
469. Cái tình trên dưới được thông đạt với nhau.
470. Chưa có mệnh vua đến vời, đã tự tiện kéo quân về.
471. Kíp vì mưu kế lo việc nước, nên mới rút bỏ hình thức lễ nghi.
472. “Tế quá” nghĩa là lỗi nhỏ.
473. Hai ngươi tự mình mang lòng ngờ sợ, cách sông đóng quân, không đến ra mắt nhà vua.
474. Kiếm cớ thoái thác mà chậm đến.
475. Ta tuổi trẻ cầm quyền chính.
476. Đối với việc giá ngự kẻ dưới, lòng tin thực của ta còn có chỗ chưa được phu phỉ một cách mộc mạc.
477. Thắc mắc lo ngại ở trong lòng.
478. Điều lỗi của ta.
479. Vua tôi đồng lòng mưu toan lo nghĩ còn sợ không kịp...
480. Cuộc biến loạn ở trong.
481. Nếu ta không đem độ lượng rộng rãi mà bao dong…
482. Giết hại bầy tôi làm tướng.
483. Tự mình cắt lông cánh của mình, lý thế tất thấy phải nguy khốn và luân vong lập tức.
484. Quyền của ông vua dời xuống kẻ dưới, đại cương phải rối ren, lộn xộn.
485. Ta há yên tâm mà làm thế ư? Các người há yên tâm mà làm thế ư?
486. Không thể trút bỏ nỗi nghi ngờ.
487. Riêng đem quan quân thuộc đạo binh của mình tìm đường đi nơi khác.
488. Lòng người sôi nổi náo động.
489. Nước bên địch nhân dịp mà dòm dỏ.
490. Bỏ hết công lao từ trước, ai chịu cái lỗi ấy cho?
491. Ta gánh cái trách nhậm nặng nề đối với tông miếu, xã tắc.
492. Hai ngươi là hạng bầy tôi trọng yếu như cái gỗ nóc, cái thân cây của triều đình.
493. Hai bên cùng ngờ vực và làm ngăn trở lẫn nhau.
494. Biến cố ngang ngửa xảy ra.
495. Để tiếng cười lại nghìn năm.
496. Vài ngày nay, giăn giở suy nghĩ.
497. Ăn, ngủ đều kém.
498. Vận mệnh quốc gia quan hệ ở trong chốc lát này.
499. Sai sứ ruổi ngựa đến dụ bảo một cách thành thực.
500. Lũ ngươi còn chưa cởi lòng, trút bỏ điều ngờ thì ta lại càng không yên tâm.
501. Đã xem trong biểu của lũ ngươi.
502. Mọi điều xếp đặt cũng là những việc nên làm.
503. Lũ ngươi còn dàn quân lính ở đối cửa cung khuyết, chưa vào chầu hầu.
504. Tình nghĩa vua tôi chưa được rõ ràng, chính đáng.
505. Trước hãy ưng theo lời biểu đã tâu, rồi sau mới chịu vào chầu.
506. Vua yếu, tôi mạnh.
507. Lấy binh quyền hoặc binh khí uy hiếp nhà vua can ngăn việc gì.
508. “Tua” nghĩa là “nên phải” “Tua giữ” cũng như nói “nên giữ”…
509. Đem lòng thành thực mà đối đãi.
510. Trút bỏ những điều hiềm khích, nghi ngờ.
511. Tâu bày lý do mọi việc.
512. Dòng dõi chúa Nguyễn Hoàng là Cựu Nguyễn, họ Tây Sơn là Tân Nguyễn.
513. Theo truyện Nguyễn Văn Nhạc trong Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập quyển 30 tờ 15b-16a
514. Không rõ tên họ.
515. Theo “lời đầu” bằng chữ Nho đặt trên bài hiểu văn của tác giả Phan Huy Ích.
516. Ông tướng vâng mệnh vua, cầm binh quyền ở ngoài biên cương.
517. Người ta sinh ra, được Giời phú bẩm cho tấm lòng biết giữ đạo thường.
518. Do chữ “thang mộc ấp” mà ra. Nguyên xưa, theo chế độ phong kiến, thiên tử cho chư hầu cái ấp thang mộc (nghĩa đen là tắm gội) khiến chư hầu lấy cái lợi thu được ở trong ấp ấy dùng vào việc tắm gội để tiện trai giới mà giữ được sự thanh khiết cho mình. Sau dùng rộng ra, “thang mộc” là chỗ đất phát tích của đế vương.
519. Chỉ vua Thái Đức và vua Quang Trung, ban đầu, đều dấy lên từ thành Quy Nhơn.
520. Hội gió mây gặp gỡ. Do chữ trong kinh Dịch: “Vân tòng long phong tòng hổ…” (mây gặp rồng, gió gặp hổ…) ý nói tao phùng đẹp hội, chính là dịp tốt để tài trai bay nhảy.
521. Do chữ “danh thùy giản bạch” mà ra. Nghĩa là tên được ghi vào thẻ tre, mặt lụa (vì xưa chưa có giấy viết), để thơm về sau.
522. Công tôn phò giúp đỡ nhà vua.
523. Cái giáo lưỡi nhọn.
524. Do điển vua Hán Cao khi qua ấp Bái (nay là Bái huyện thuộc Giang Tô bên Tàu) đặt tiệc gõ dịp hát Đại Phong. Ý nói nhà Tây Sơn vừa mới mừng cuộc thành công ở Quy Nhơn là chỗ quê nhà.
525. Cá kình là tượng trưng về biến loạn giặc giã.
526. Vì bấy giờ thành Quy Nhơn thất thủ có quân đóng án ngữ nên đường lối từ đèo Bến Đá đến Quy Nhơn không liên lạc với nhau được.
527. Kẻ giữ đất đai ở nơi cửa ngõ một nước.
528. Chỉ việc Bảo đem thành Quy Nhơn xuống hàng.
529. Bọn dân lành.
530. Vì bắt ép mà phải gượng theo.
531. Lời khua giục, dụ dỗ.
532. Nông nỗi xa mắc vào vòng đau khổ.
533. Do chữ “tiêu y cán thực” mà ra. Ý nói gặp lúc quốc gia đa sự, nhà vua chín lần: cửu trùng bao xiết thương xót nhân dân. Nhà vua vì bận rộn quá sớm đã phải thay áo, đêm mới được ăn cơm.
534. Mong nhân dân được đặt yên lên trên đệm chiếu (nhẫm tịch) êm ấm như thủa trước.
535. Trên vâng lời vua phán dạy, lo tính mưu trước dẹp giặc.
536. Coi giữ việc binh, thẳng trỏ ngọn cờ đào.
537. Chỉ Trần Quang Diệu.
538. Do điển: trong cung điện nhà Hán trồng nhiều cây phong, nên về sau người ta dùng chữ “đền phong” để chỉ về triều đình.
539. Do điển: Chu Á Phu đời Hán làm tướng đóng quân doanh ở Tế Liễu. Nhân thế đời sau dùng “trướng liễu” hay “dinh liễu” để chỉ về chỗ quân doanh.
540. Quận Diệu tiến vào Quy Nhơn bấy giờ nhằm buổi đầu xuân.
541. Ông tướng ở nơi màn trướng (ngày xưa, khi hành binh, ông chủ súy và các tướng tham mưu thường vây màn để bàn bạc quân sự cho nên gọi là súy mạc).
542. Cũng như nói “lòng người”.
543. Ngờ và sợ.
544. Ta cho kẻ thân tình, người cố cựu biết rằng có hai đường đấy: theo đằng nào, tránh đằng nào thì chọn lấy đi.
545. Bỏ điều mê man quay về đường thiện.
546. Dấu vết không lành.
547. Biết tỉnh ngộ, ăn năn lỗi trước.
548. Vận hội thái bình.
549. Bái quận nguyên là nơi quê hương của Hán Cao tổ. Sau dùng rộng ra, là nơi rau rốn của một nhà đế vương. “Người Bái quận” đây, chỉ về người ở Quy Nhơn, chỗ quê quán của nhà Tây Sơn.
550. Rẩy ơn huệ khắp cả mọi người.
551. Nếu không sớm muộn biết chọn lấy con đường tránh dữ theo lành thì…
552.... Khi ta nổi giận, thẳng tay trừng trị, bấy giờ các ngươi sẽ như tình cảnh núi Côn Sơn bị thiêu, không cứ là ngọc hay là đá thảy đều cháy rụi hết.
553. Bản gốc. (BT)
Tác Giả Hoa Bằng.
Tiểu sử
Ông sinh năm Nhâm Dần (1902) tại làng Hạ Yên Quyết (về sau gọi là làng Cót), phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thuộc phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội).
Cha là Hoàng Thúc Hội (1870 - 1938), hiệu Cúc Hương, đỗ Cử nhân khoa Bính Ngọ (1906), nhưng không ra làm quan. Sinh thời, đạo đức và tài văn chương của Hoàng Thúc Hội được nhiều sĩ phu kính trọng[2].
Lớn lên, Hoàng Thúc Trâm có được một số vốn Hán học uyên thâm và các tri thức lịch sử sâu rộng, chủ yếu là nhờ sự tự học của mình [3].
Từ những năm 1920, bút hiệu Hoa Bằng (bút hiệu chính của ông) đã lần lượt xuất hiện trên các báo, như Nước Nam, Thế giới, Tân văn, Tiểu Thuyết thứ Bảy, Tri tân, Thực nghiệp dân báo, Trung Bắc tân văn, Thanh Nghị,... (ở Hà Nội), Tân văn, Thế giới (ở Sài Gòn), v.v...Đặc biệt là trên tờ Tri tân mà ông là Chủ bút, ông đã để lại ngót trăm bài viết về văn học, sử học.
Từ Cách mạng tháng Tám (1945) cho đến khi Kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) kết thúc, ông ở lại Hà Nội tiếp tục làm báo và viết sách[3]. Sau đó, ông lần lượt công tác tại Ban Văn sử địa, Viện Sử học, và cuối cùng là ở Ban Hán Nôm thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Trong khoảng thời gian ấy, ông có trên 30 luận văn in ở các tạp chí Nghiên cứu văn sử địa, Nghiên cứu văn học, Nghiên cứu lịch sử...Vì những công trình rất có giá trị ấy, ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam và Hội sử học...[4].
Ngày 16 tháng 2 năm Đinh Tỵ (5 tháng 3 năm 1977), nhà nghiên cứu Hoàng Thúc Trâm từ trần, hưởng thọ 75 tuổi.
Tác phẩm
Theo Từ điển văn học (bộ mới), tác phẩm của Hoa Bằng (Hoàng Thúc Trâm) hiện có:
Về văn học
Tư tưởng đại đồng trong cổ học tinh hoa (1949)
Gia Linh công chúa (tiểu thuyết lịch sử, 1949)
Văn chương quốc âm đời Tây Sơn (biên khảo, 1950)
Hồ Xuân Hương, nhà thơ cách mạng (biên khảo, 1950)
Dân tộc tính trong ca dao (biên khảo, 1952)
Lý Văn Phức (biên khảo, 1953)
Khảo luận về truyện Thạch Sanh (biên khảo, 1957).
Về sử học
Quang Trung - Anh hùng dân tộc, I và II (biên khảo, 1944)
Năm Kỷ Mùi (1799), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 7, công chúa Lê Ngọc Hân mất, hưởng dương 29 tuổi. Lễ bộ Thượng thư Ðoan Nham hầu Phan Huy Ích phụng chỉ soạn bài văn tế cho Hoàng đế Cảnh Thịnh đích thân đọc trước linh sàng Hoàng thái hậu họ Lê. Bà được truy tặng là Như Ý Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu. Bài văn tế này đã được Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm tìm thấy và công bố trên tạp chí Tri Tân vào năm 1943 tại Hà nội.
Lịch sử xã hội Việt Nam (biên khảo, 1950)
Trần Hưng Đạo (biên khảo, 1950).
Về dịch thuật
Lê quý kỷ sự (ghi chép những việc cuối đời Lê, 1974)
Lịch triều tạp kỷ (Ghi chép tản mạn về các triều đại, 2 tập, 1975).
Ngoài ra ông còn dịch chung với nhiều người khác trong các tập Thơ Đường, Thơ Lục Du, Thơ Tống, Thơ Cao Bá Quát; và các pho sử lớn: Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Lịch triều hiến chương loại chí...[5].
Ghi nhận công lao
Trước sau trên 50 năm cầm bút, bằng niềm say mê và với một phương pháp nghiên cứu nghiêm túc, thận trọng; Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm đã có những đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu văn hóa Việt Nam. Hai công trình nổi bật của ông đó là Quang Trung - Anh hùng dân tộc và Hồ Xuân Hương, nhà thơ cách mạng. Cho đến nay, có nhiều luận điểm trong hai cuốn ấy vẫn còn giữ nguyên giá trị, và qua đó cũng đã cho thấy cách nhìn khá cấp tiến của ông so với thời đại [3].
Ghi nhận công lao của Hoàng Thúc Trâm, ở quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội có phố Hoa Bằng, và quận Hải Châu (thành phố Đà Nẵng) có con đường mang tên Hoàng Thúc Trâm.
Hoa Bằng
Theo http://vnthuquan.net/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét