Quang Trung 1
Giới thiệu
Nguyễn Huệ, còn được biết đến là Quang Trung Hoàng đế hay Bắc
Bình Vương, là vị hoàng đế thứ 2 của nhà Tây Sơn, bên cạnh Thái Đức Hoàng đế
Nguyễn Nhạc. Ông là một trong những vị tướng lĩnh tài giỏi với nhiều cải cách
xây dựng quân sự xuất sắc trong lịch sử Việt Nam.
Tháng 9/1792, vua Quang Trung đột ngột từ trần.
Cuộc đời của vua Quang Trung là một thiên anh hùng ca đặc sắc,
nhưng đương thời còn thêu dệt thêm nhiều điều bí ẩn, diệu kỳ nên sau ngày vua
Quang Trung mất đi một bức màn bí mật lại bao phủ lên người ông.
Góc nhìn Sử Việt là dự án sách nhằm tái bản những tài liệu,
thư tịch cổ của những tác giả vang bóng một thời, và hơn hết xây dựng một nguồn
tài liệu đa dạng và chất lượng dành cho những người yêu thích nghiên cứu, tìm
hiểu lịch sử, văn hóa của dân tộc.
Lời Nhà Xuất Bản.
Bạn đọc thân mến!
Lịch sử văn hóa của một dân tộc không phải của riêng cá nhân
nào, chính vì vậy, việc bảo tồn, gìn giữ và phát triển lịch sử văn hóa cũng
không phải riêng một người nào có thể gánh vác được, nó thuộc về nhận thức
chung của toàn xã hội và vai trò của từng nhân tố trong mỗi chặng đường lịch sử.
Lịch sử là một khoa học. Lịch sử không phải là việc thống kê sự kiện một cách
khô khan rời rạc. Bởi mỗi sự kiện trong tiến trình đó đều có mối liên kết chặt
chẽ với nhau bằng sợi dây vô hình xuyên suốt không gian và thời gian tạo nên lịch
sử của một dân tộc.
Dân tộc Việt Nam trải hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần trăm
năm dưới ách cai trị của thực dân, đế quốc, nhưng con cháu bà Trưng, bà Triệu,
Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung... vẫn kiên trì bền chí, tin
tưởng ở quá khứ hào hùng, không ngừng tranh đấu hướng tới tương lai rộng mở vì
độc lập tự do của đất nước.
Một dân tộc, một quốc gia muốn trường tồn và phát triển,
ngoài việc đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật, điều quan trọng
hơn nữa là phải có một nền tảng giáo dục vững chắc. Trong đó, giáo dục về lịch
sử và lòng tự hào dân tộc là cần thiết để ghi khắc trong tâm trí các thế hệ, đặc
biệt là tầng lớp thanh niên, ý thức về nguồn gốc dân tộc, truyền thống văn hóa
và nội lực quốc gia, đồng thời giúp định hình góc nhìn thấu đáo về vai trò của
từng giai đoạn, triều đại và nhân vật - dù gây tranh cãi - tạo nên lịch sử đó.
Chính vì những giá trị to lớn đó, vấn đề học tập, tìm hiểu lịch
sử nước nhà hiện đang là mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước và toàn xã hội. Hội
Khoa học Lịch sử Việt Nam, Quỹ Phát triển Sử học Việt Nam, Tạp chí Xưa và
Nay... và rất nhiều những tổ chức khác đã và đang kiên trì con đường thúc đẩy sự
phát triển của nền khoa học lịch sử quốc gia, phổ biến tri thức lịch sử, góp phần
giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc tới toàn xã hội.
Đồng hành với mối quan tâm của toàn xã hội, Công ty Cổ phần
Sách Alpha - một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, với tôn chỉ
“Tri thức là sức mạnh” - đặc biệt quan tâm tới việc góp phần nâng cao hiểu biết
của người dân về truyền thống văn hóa lịch sử đất nước.
Theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu của bạn đọc cho
thấy, “lỗ hổng lịch sử” ở không ít người trẻ hiện nay hoàn toàn có thể bù lấp một
phần dựa trên nhiều nguồn tư liệu, công trình nghiên cứu, sách cổ sách quý hiện
đang được các Viện nghiên cứu, các tổ chức, cá nhân lưu giữ. Để chung tay tái
hiện một cách rõ nét những mảnh ghép lịch sử dân tộc, Công ty Cổ phần Sách
Alpha đã triển khai dự án xuất bản mang tên Góc nhìn sử Việt với mục đích xuất
bản lại và xuất bản mới một cách có hệ thống các công trình, tư liệu, sách
nghiên cứu, sách văn học có giá trị… về lịch sử, bước đầu hình thành nên Tủ
sách Alpha Di sản.
Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một trong những sản phẩm đầu
tiên của dự án này.
Xin trân trọng giới thiệu.
Công ty CP Sách Alpha
Lời Tác Giả.
Ở đời, muôn sự của chung,
Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi!
Lê đổ! Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh.
Thả sít bắt sộp, người Thanh chực đớp nước Nam, chứ yêu gì
Lê, ghét gì Nguyễn (Tây Sơn)! Giá bấy giờ không có vua Quang Trung, thì nước ta
ra sao?
Vậy, công giết Nghi Đống, đuổi Sĩ Nghị, quét 20 vạn quân
Thanh, tranh giữ tự do và chủ quyền cho Đại Việt thật chẳng kém Trần phá
Nguyên, Lê đánh Minh thuở trước.
Vả, muốn mạnh thế nước, rộng bản đồ, vua Quang Trung lại mài
nanh, giũa vuốt, luyện tướng, rèn binh, định khôi phục lấy đất Lưỡng Quảng (Quảng
Đông, Quảng Tây). Giá ngài thêm thọ, đừng vội ôm chí mà thác, thì nước Nam sẽ lại
ra sao?
Ôi, là người đồng thời và ngang hàng với Nã-phá-luân
(Napoléon 1er), Quang Trung cũng có thiên tài về quân sự, cũng có thủ đoạn thần
tốc trong việc hành binh, cũng có chí hăng, hoài bão lớn… Vậy mà Nã được gửi nắm
xương trong đền Invalides để cho người sau viếng thăm ca tụng! Còn Quang Trung?
Sự nghiệp oanh liệt phải vùi sâu trong vực thẳm thời gian!
Trèo lên Đống Đa (ở ấp Thái Hà, Hà Đông), trông ra bốn mặt:
nào gái, nào trai, nào áo, nào mũ, nào ngựa kéo xe, trâu cày ruộng, gió bụi
lưng trời mờ mịt… Vua Quang Trung nào đâu?
Cảm vì thế, tôi viết lại trang sử Quang Trung.
Cẩn chí
TÁC GIẢ
Phần Thứ Nhất: Quật Khởi.
Thời loạn
Thời cục nước ta hồi cuối thế kỷ XVIII: một mớ tơ rối đương
phủ xã hội mục nát; một bầu không khí nặng nề đương vây bọc nhân dân nghẹt
ngòi!
Nguyên từ năm Quang Hưng thứ 16 (1593), nhờ sức vùa giúp của
Bình An vương Trịnh Tùng (1570-1623), vua Lê Thế Tông (1573-1599) tuy khôi phục
được Thăng Long, nhưng ngọn đèn “trung hưng” của Lê từ đó ngày một hắt hiu lèo
lẹt! Đến đời Hiển Tông (1740-1786), dầu gần cạn, bấc hầu tàn. Dân chúng bấy giờ
âm thầm sống trong cơn lờ mờ, hồi hộp!
Ngoài Bắc Hà, từ hồi tháng ba năm Kỷ Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng
thứ 30 (1769), việc chúa Tĩnh Đô Trịnh Sâm (1767-1782) bắt giam Hoàng thái tử
Lê Duy Vỹ1 đã làm xao xuyến tâm thần nhân dân, hạng người bấy lâu vẫn ngấm ngầm
ghi nhớ công ơn bình Ngô của vua Lê Thái Tổ (1428 -1433). Qua hai năm sau, cái
chết của Duy Vỹ lại lấy được bao giọt nước mắt của mọi người ở phố phường, chợ
búa!2
Vả, sau cuộc “đảo chính” (tháng mười, năm Nhâm Dần, 1782) của
quân Tam phủ (Hà Trung, Thiệu Hóa và Tĩnh Gia)3, cái ngai chúa của nhà Trịnh từ
đó càng thêm lung lay!
Gia dĩ4, từ khi Đoan Nam vương Trịnh Khải (1782-1786) giết hại
con em quận Huy Hoàng Đình Bảo, một tay quyền thần đã từng dan díu với Đặng Thị
Huệ, mẹ Trịnh Cán, mầm loạn đã ngầm ẩn trong tòa vương phủ lộng lẫy nguy nga.5
Phải, thực lực bên Trịnh bấy giờ rỗng tuếch: tướng tá lười biếng,
sợ trận mạc. Quân lính, từ hồi lộng quyền phế lập đến nay, ngày một kiêu căng
rông rỡ, lồng lộn như ngựa bất kham, không chịu cương khớp.
Dân chúng, sống dưới chế độ phiền hà, chính sự nhũng nhiễu,
đã “dám” phê bình các nhà cầm quyền bằng giọng hài hước nhưng kín đáo giấu giếm
trong lời đồng dao:
“Trăm quan có mắt như mờ!...”
Để chứng thực cái trạng thái mục nát của xã hội Bắc Hà thời ấy,
xin mời các bạn hãy đọc thêm đoạn này của ông Tùng Niên, trong Tang thương ngẫu
lục, truyện Bùi công Huy Bích:
Năm Nhâm Dần (1782), đời Cảnh Hưng (1740-1786). Điện Đô vương
(Trịnh Cán) lên cầm quyền trong tuổi thơ ấu; gần xa đều nao nao… Ngày 25 tháng
mười (Nhâm Dần, 1782), binh Tam phủ làm loạn, ủng lập Trịnh Tông (tức Khải),
con cả của cố vương (Trịnh Sâm): ấy là Đoan Nam vương…
… Bấy giờ kẻ dưới thì lăng loàn, người trên thì suy đốn, rường
mối triều đình ngày một sa sụt hư hỏng. Ông Bùi Huy Bích lo âu về nỗi ấy, thường
thường than thở trong khi đứng ở triều đình. Ông từng làm bài văn khóc ông Hồ
Sĩ Đống chức quyền phủ, có câu rằng: “Trên chốn triều đình, việc chính trị
không ra sao, lại thêm nỗi: nào nước lạt, nào hoàng trùng!...” (Tang thương ngẫu
lục, tập dưới, tờ 46).
Xem đó đủ biết cục diện bên Trịnh bấy giờ đã dần dần đi đến
bên hố diệt vong.
Trong Nam Hà, một danh từ hồi đó đối với Bắc Hà mà nói, vùng
Thuận Quảng sống dưới trị quyền chúa Nguyễn từ năm 1588, bấy giờ cũng khặc khừ
kêu rên trên giường bệnh!
Chúa Định vương (1765-1778), mới 12 tuổi, đeo cái “bung xung”
lên ngôi “làm vì”. Chính quyền nắm cả trong tay Trương Phúc Loan!
Phúc Loan, một con dân, khoác áo “quốc phó” làm giàu bằng nghề
bán quan buôn ngục. Xây biệt thự Phấn Dương trên đống mồ hôi, nước mắt và máu
thịt của nhân dân, Loan dùng nó làm nơi chứa của. Sau trận nước lụt, Loan sợ của
“mục”, phải sai phơi vàng dưới ánh nắng tưng bừng trên sân biệt thự. Vàng đỏ, lấp
lánh dờn ánh dương, làm quáng cả mắt thèm thuồng những tôi tớ hắn. Ấy là chưa kể
các động sản khác như trâu, ngựa, châu ngọc, gấm vóc và các bất động sản như
nhà cửa, ruộng, vườn…
Dân đã khổ lại khổ thêm, khó cầm hơi nổi trước cơn mất mùa
đói kém! Bức tranh “cơ cận” treo khắp dân gian. Những thân hình đói rạc kheo
khư do nét bút thần “Hung niên” đã phác vẽ, trưng bầy trên cái biệt thự huy
hoàng lộng lẫy ở làng Phấn Dương, thật là một cảnh mâu thuẫn mai mỉa!
Phần khổ vì chính sự bất lương, phần cơ cực vì ma đói ám ảnh,
dân chúng ngắc ngoải dưới bàn tay sắt của Trương Phúc Loan, biết tìm đâu lấy
chút sinh thú!
Sống không hi vọng, lòng họ lạnh như băng, tan nát như cám,
ngấm ngầm ôm mối “tư loạn”.
Nói tóm lại, ngoài Bắc, trong Nam vào khoảng mấy năm cuối đời
Lê Hiển Tông (1740-1786) đương lụng bụng đau đắng như mắc cái ung độc, tất phải
chích ra cho vỡ mới mong lành mạnh được.
Thần Chiến tranh đứng rình trước thời cục nghiêm trọng. Thùng
thuốc súng chỉ chực tàn lửa rớt xuống tức thì nổ bung.
Chàng áo vải
Dưới mái một nhà bình dân trại Tây Sơn6 thành Quy Nhơn (nay
là Bình Định), năm Quý Dậu (1752), cậu bé Nguyễn Huệ ra đời rồi lớn lên trong cảnh
khổ sở nheo nhóc như trăm nghìn dân quê khác. Thật không ai biết trước bằng cậu
bé ấy sẽ có những thủ đoạn phi thường, tương lai oanh liệt sẽ làm một trang anh
hùng dân tộc, lật đổ Nguyễn, diệt tan Trịnh, đánh bại Mãn Thanh, thống nhất cả
Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ XVIII.
Trước cửa nhà Nguyễn Huệ, róc rách một con suối ấm đêm ngày
kêu. Tiếng kêu có lúc ai oán như giọng hậm hực bất bình của lũ dân đen bấy giờ
đương bị nghẹn ngào đè nén nhưng có lúc hùng tráng hăng hái như tiếng kèn của
toán nhạc binh thúc giục người ta phải tranh lấy quyền sống còn.
Là con Nguyễn Phi Phúc7 và Nguyễn Thị Đồng. Nguyễn Huệ, tóc
quăn, da sần, tiếng nói sang sảng như tiếng chuông, cặp mắt hùng thư mà sáng
như chớp, có thể thấy rõ mọi vật trong đêm tối.
Về gốc tích nhà Tây Sơn, có nhiều thuyết khác nhau:
Theo Lê kỷ là một cuốn dã sử, thì anh em nhà Tây Sơn bấy giờ
đương ở trong hàng ngũ quân dân dưới triều Nguyễn Định vương, thấy Trương Phúc
Loan hại nước tàn dân, bèn lui về nơi thảo dã khởi nghĩa, mưu việc đánh đổ Phúc
Loan, tên quốc tặc.
Theo Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập (quyển 30, tờ
1a-b), thì tổ tiên Nguyễn Huệ vốn người huyện Hưng Nguyên, trấn Nghệ An. Khoảng
niên hiệu Thịnh Đức (1653-1657), nhà Lê chung số phận với đám dân chiến bại ở bảy
huyện xứ Nghệ, sau một trận Nguyễn, Trịnh giao tranh, tổ bốn đời của Nguyễn Huệ
bị bên chúa Nguyễn bắt đi, an sáp ở Tây Sơn Nhất8, huyện Quy Ninh9 thuộc Quy
Nhơn để khai khẩn đất hoang, ruộng cỏ.
Khi ông tổ bốn đời ấy mới bị đi vào ở Quy Nhơn thì ở tại ấp
Tây Sơn Nhất thuộc huyện Quy Ninh, đến đời cha là Nguyễn Phi Phúc mới dời đến ở
ấp Kiên Thành10 thuộc huyện Tuy Viễn11.
Theo Tây Sơn liệt truyện (sách viết của trường Bác Cổ) thì tổ
bốn đời của Nguyễn Huệ bị chúa Nguyễn khoảng năm 1653-1657 đem vào phía nam.
Tây Sơn lược thuật (sách viết của trường Bác Cổ) cũng chép: tổ tiên Nguyễn Huệ
là người huyện Nghi Xuân (Nghệ An). Năm 1672-1673, chúa Nguyễn lấy được bảy huyện
Nghệ An, di dân vào Nam; tổ của Huệ cũng ở trong số di dân ấy.
Trong gia đình đó, Nguyễn Huệ thường gọi là chú Thơm. Em thứ
3 dưới Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ.
Thụ nghiệp Giáo Hiến12, anh em Nguyễn Huệ, từ trẻ, dắt nhau
cùng đi học, được Giáo Hiến ngó bằng cặp mắt riêng.
Giáo Hiến? Một môn khách nhà Trương Văn Hạnh, ngoại hữu dưới
triều Định vương (1765-1778). Vì sợ vạ lây sau khi Hạnh bị Phúc Loan giết chết,
Hiến phải trốn vào Quy Nhơn, mở trường ở ấp Yên Thái, dạy cả văn võ.
Thấy Nguyễn Huệ nhanh nhẹn, khỏe mạnh, can đảm, mắt như chớp
sáng, tiếng như chuông vang, Hiến biết ngay là một thanh niên lỗi lạc có cái
tương lai phi thường!
Hằng ngày, chắc Huệ cũng được nghe những lời Giáo Hiến thúc
giục Nguyễn Nhạc bằng câu sấm: “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công”. Rồi Hiến lại nói
sát sạt: “Anh là người Tây Sơn, cứ cố đi!”
Không hay những lời Giáo Hiến kích thích Nguyễn Nhạc đó có
làm rung động trái tim Nguyễn Huệ? Nhưng một cớ hiển nhiên khiến Huệ từ trại
Tây Sơn phất cờ cách mạng chính là tiếng gọi của thời thế: Thời thế tạo anh
hùng! Phải, ta thấy cái động cơ này đã đẩy Nguyễn Huệ lên vũ đài chính trị:
Vả bây giờ thần nịnh, chúa hôn, gương bình trị lòng trên ắt
muốn.
Lại gặp hội binh kiêu, dân oán, sửa kỷ cương tài cả phải
ra13.
Cái hoài bão muốn cứu sinh linh ấy lại tỏ rõ trong bức thư
sính La Sơn Phu Tử đề ngày mồng 10 tháng tám năm Thái Đức thứ 10 (1787), khi
Nguyễn Huệ làm Đại nguyên súy Tổng quốc chính Bình vương… “Thiên hạ loạn thế
này, nhân dân lầm than thế này! Vậy mà nhà thầy cứ nằm cao không vùng dậy, thì
đối với thiên hạ nhân dân ra sao?”14
Đứng bên anh
Đối với xã hội hồi đó, việc võ trang bạo động của bọn Nguyễn
Huệ, về cận nhân, chính làm đại biểu cho cuộc phản kháng ngấm ngầm cái chế độ bất
lương đang sôi nổi trong đáy lòng dân chúng. Về viễn nhân, nó lại làm đại biểu
cho cái khuynh hướng phản đối cuộc nội tranh kéo dài từ năm 1627 đến năm 1672
và mãi về sau còn rớt lại những khí âm ỉ gườm ghè, hằn học, cuốn bao máu thịt
vào vòng khói lửa để làm vững cái “ngai” chúa cho hai nhà: Trịnh và Nguyễn!
Khi dân chúng cần nhà Tây Sơn để thực hành cho họ cái tinh thần
mạnh mẽ, cái nguyện vọng thiết tha (nguyện vọng của họ bấy giờ là tìm lấy đời sống
tốt đẹp hơn, sung sướng hơn), thì họ ủng hộ ngay lúc bọn ông nhẩy lên nắm quyền
chính, đem binh ra Bắc Hà. Nhưng, về sau, thấy Quang Toản (1793-1802) tỏ ra bất
lực, không làm cho đời họ được thay đổi sáng sủa hơn, họ liền lìa bỏ, nên triều
đại Tây Sơn (1788-1802) phải sụp đổ!
Vậy có thể nói Quang Trung (1788-1792) chỉ là con đẻ của thời
đại. Cuộc quật khởi của nhà Tây Sơn chỉ là đại biểu cho khuynh hướng của phái
nông dân bấy giờ.
Năm Tân Mão (1771), niên hiệu Cảnh Hưng thứ 32 đời vua Lê Hiển
Tông, tức năm thứ 6 đời chúa Nguyễn Duệ Tông (Định vương), một năm tối quan trọng,
ghi bằng chữ máu trên trang sử Nam Bắc phân tranh!
Từ một anh tuần biện lại ở Vân Đồn, Nguyễn Nhạc, được hai em
Huệ và Lữ đứng bên nâng đỡ trong 7 năm trường, nhẩy một bước lên chiếc ngai
Thái Đức Hoàng Đế (1778): một cái “phi thường” trong “sổ” các nha lại xưa nay!
Làm tuần biện lại, Nhạc đóng vai thu thuế trong một đồn để
sung vào công khố. Nhưng vụ thuế năm Tân Mão (1771) đó thu được bao nhiêu, Nhạc
nướng vào cuộc đỏ đen hết sạch!
Dưới quyền Đốc trưng Đằng, Nhạc trước còn bị thằng thúc15 “đổ”
thuế, sau bị truy tố và lùng bắt riết.
Túng phải tính, Nhạc xoay qua chiến lược: chẳng những không
phải đền, không phải tội, mà lại “phất to” là khác.
Thế rồi, trên nóc trại ở Thượng Đạo16 ấp Tây Sơn bỗng phấp phới
bay lá cờ cách mệnh.
Thì ra Nguyễn Nhạc, quăng lại đằng sau cái chức “lại quèn”,
ngầm kéo hai anh em, vào núi, dựng trại, lập đồn, xưng hùng với oai rừng thẳm!
Thế là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đặt được viên đá đầu tiên để
dần dần xây thành lâu đài triều đại Tây Sơn từ đó.
Núp dưới bóng cờ Tây Sơn, bọn vong mạng có, tụi mường mán
cũng có. Thủ hạ Tây Sơn bấy giờ đã lên đến con số đáng kể: Vài nghìn người.
Sẵn quân gia, khí giới, Tây Sơn cứ việc tung hoành.
Các nhà giầu, hồi đó, trong những đêm trường rùng rợn, sống
trước cảnh hồi hộp âm thầm!...
Mỗi lần có tiếng trống ngũ liên, là một lần nhà giầu mất cướp!
Nhưng trong số mất cướp đó toàn là những nhà giầu cay nghiệt, ăn kết quả của nước
mắt bồ hôi kẻ khó, xây cơ nghiệp trên nền “bất nhân”.
Sau bất cứ một đám cướp nào ở vùng đó, người ta cũng thì thầm:
“Lại quân gia Tây Sơn.”
Quả thế, cứ mỗi lần “làm tiền” anh em Tây Sơn lại được những
tiếng ca tụng ra từ miệng dân nghèo sống dưới phạm vi thế lực của họ:
Người ta khen vì được phân phát cho tiền của.
Người ta cảm phục vì thấy đó là một động tác có tính cách
nghĩa hiệp.
Tài chính là vấn đề cần nhất trong việc chiến tranh: “Làm tiền”
bằng cách cướp bóc tuy có cận hiệu, nhưng trong trại Tây Sơn bấy giờ vẫn không
đánh thăng bằng được số chi thu. Thành thử họ lại phải gõ mạnh vào những cửa
lòng khinh tài, trọng nghĩa.
Huyền Khê, một tay giầu lớn ở hạt Quy Nhơn bấy giờ đáp ngay
tiếng gọi của Tây Sơn, ngấm ngầm giúp họ về mặt tài chính.
Nhờ có bầu sữa của Huyền Khê, Tây Sơn cứ hăng hái xông pha
trên đường tiến thủ: mộ lính, sắm khí giới, nhằm theo cái đích lật đổ Trương
Phúc Loan.
Đồ đảng ngày thêm nhiều, lại được thổ hào Nguyễn Thung17 giúp
sức, thanh thế Tây Sơn càng lâu càng mạnh mẽ; kéo đánh các ấp xung quanh, đến
đâu được đó.
Như ngọn lửa càng bốc to càng cháy dữ, lại gặp luồng gió thuận
tiện thổi thêm, Tây Sơn mặc sức bén ngang, lém dọc, không còn sợ tắt dưới tay dập
tưới của quan địa phương.
Anh em Tây Sơn thấy gian thần Trương Phúc Loan đương đóng vai
Tần Cối trên sân khấu chính trị, biết rằng cơ hội đến rồi, quyết gãi ngay vào
chỗ ngứa của dân chúng: một mặt kể tội Phúc Loan: nào buôn tước bán quan, thay
đen đổi trắng trong việc hình ngục, nào hút dầu mỡ dân để nuôi béo nhà… Một mặt
định đón lập Hoàng tôn Dương để gây cảm tình với lê thứ18.
Làm theo phương lược đã định, Tây Sơn truyền hịch đi khắp
nơi, tuyên bố cái cớ phải đánh đổ Trương Phúc Loan và tỏ việc đón lập chúa mới:
Hoàng tôn Dương! Thế là giang sơn chúa Nguyễn bấy giờ bỗng chia hai phe: Phe Quốc
phó Trương Phúc Loan đội cái “bung xung” bằng chúa Định vương; phe Tây Sơn đeo
cái chiêu bài bằng Hoàng tôn Dương, khiến nhân dân không còn biết phe nào là
triều, phe nào là giặc nữa. Người ta phải dùng mấy tiếng sau này để phân biệt của
hai phe đó: một là “quân Quốc phó”; một là “quân Hoàng tôn” (Tây Sơn). Cho nên
tục ngữ bấy giờ có câu: “Quân Triều, quân Quốc phó; quân Ó19, quân Hoàng tôn.”
Tấn công
Gió heo may dào dạt lướt qua những đợt cỏ tranh tiêu điều. Một
vài chiếc lá chảu đã lốm đốm vàng úa. Cảnh vật năm Quý Tỵ (1773) bấy giờ đã đượm
màu thu.
Sẵn cái đà bước đầu thắng lợi, Tây Sơn đem quân tiến đánh,
chiếm lấy ấp Kiên Thành20.
Phạm vi thống trị đã hơi mở rộng, họ tính ngay đến việc sắp đặt
các cơ quan hành chính.
Nguyễn Nhạc làm chúa trại Nhất, quản trị hai huyện Phù Ly và
Bồng Sơn.
Nguyễn Thung chúa trại Nhì, coi quản huyện Tuy Viễn21.
Huyền Khê đóng vai chúa trại Ba, cung cấp lương thực.
Họ cũng không quên gây lấy vây cánh bên trong và liên lạc lực
lượng với nước ngoài: chiêu dụ những tay lục lâm như Nhưng Huy và Tứ Linh22 ở
An Tượng Nguyên (thuộc huyện Tuy Viễn).
Họ lại bí mật ước hẹn với nữ chúa Chiêm Thành đem quân ập
sang, đóng trại ở Thạch Thành, làm thế ỷ dốc.
Thế là Tây Sơn xây vững được địa vị và thế lực từ đó.
Cách hành động của họ như thế rất có phương pháp. Song công
việc sắp đặt và mưu mô bày vẽ trong lúc này là do óc ai nghĩ ra? Nguyễn Nhạc!
Nhạc là tay cơ trí, mà lại đóng vai chủ động trong bước khởi đầu, nên chi những
việc đó đều ra từ cơ mưu của chú “tuần biện lại”. Còn Nguyễn Huệ, hồi đó, hãy
còn là phụ động, chắc phải ở dưới quyền sai phái của anh. Nhưng con người trí
dũng có thừa kia tất phải là một cánh tay mặt của Nhạc.
Hạ thành Quy Nhơn
Tây Sơn bấy giờ đã có một lực lượng mạnh mẽ. Trông về tương
lai, họ có vẻ lạc quan vô cùng.
Lại được Nguyễn Huệ là tay thiện chiến, Nguyễn Nhạc là người
cơ mưu, nên họ có thể làm được sự nghiệp lớn lao bằng hai bàn tay trắng.
Với cái tướng tài và cơ trí đó, Tây Sơn hạ phủ lỵ Quy Nhơn chỉ
nội một đêm.
Tại sao họ làm được nhanh chóng đến thế?
Nguyên bấy giờ phủ lỵ Quy Nhơn đương thuộc dưới quyền quản trị
của Nguyễn Khắc Tuyên, Tuần phủ bên Nguyễn. Chắc Tuyên là người vô tài, kém
trí, nên bị Tây Sơn đạp đổ cái ghế Tuần phủ dễ dàng như trở bàn tay.
Bữa đó, sau một cuộc mật bàn cử sự, Nguyễn Nhạc cất đặt mọi
việc cho quân gia với một mệnh lệnh nghiêm minh. Rồi tự vào ngồi trong cũi, Nhạc
sai thủ hạ, mặc bộ đồ lù khù nhưng trong ngầm giấu mỗi người một thanh đoản
đao, lễ mễ khiêng “ông tướng trá hàng” lên phủ lỵ. Những tiếng luân báo truyền
từ miệng người nọ đến người kia rồi lọt đến cửa tai Tuần phủ họ Nguyễn: “Bắt sống
được Biện Nhạc rồi! Đem nộp quan Tuần để lĩnh thưởng!”
Cửa thành mở. Trước bộ dạng bệ vệ và dưới cặp mắt khinh khỉnh
của Khắc Tuyên, Nguyễn Nhạc, bấy giờ như con cọp lâu năm bị nhốt trong chuồng sắt,
đã làm cho người ta có thể đọc lầm những nét “ngoan ngoãn hiền lành” phủ trên
khuôn mặt giả dối tâm ngẩm.
Thế là không phải khó nhọc, Nhạc đã vào lọt trong thành với mấy
tên đồ đảng.
Màn tối từ từ buông phủ. Cảnh vật thành Quy Nhơn dần dần chìm
đắm trong cơn khuya khoắt
rợn rùng.
Dịp may đã đến! Phá phăng cũi, Nhạc nhẩy phứt ra, mở toang cửa
thành, đón cái tương lai rần rần rộ rộ đến…
Nghe rõ tiếng pháo hiệu do Nhạc từ trong thành báo ra, một
cánh quân Tây Sơn do Nguyễn Thung cầm đầu ở ngoài ập vào, đốt dinh trại, giết
tướng sĩ, làm cho cả thành tan vỡ vì một trận đánh không ngờ!
Trong cơn hoảng sợ, Khắc Tuyên không kịp đóng ngựa, vội vã
nheo nhóc chạy trốn, bỏ lại đằng sau cho Tây Sơn một thành trì mà mình có nghĩa
vụ phải sống chết với nó.
Nhân dịp đắc thắng đó, Nhạc kéo quân đánh dốc đến Càn Dương
và Đạm Thủy, hai nơi này đều thuộc thành Quy Nhơn. Đốc trưng Đằng và Khâm sai
Lượng theo gót Khắc Tuyên cũng chạy ráo!
Một mặt tịch thu hết kho tàng thóc lúa ở Càn Dương và Đạm Thủy,
một mặt Nhạc đuổi theo giết chết cả Lượng lẫn Đằng. Vì thù viên Đốc trưng Đằng
này đã làm khó dễ với mình trong cơn thiếu thuế độ nọ, Nhạc chu di cả họ Đằng.
Lá cờ Tây Sơn, từ đó, đường hoàng phấp phới trên thành Quy
Nhơn. Năm đồn Trung, Tiền, Hậu, Tả, Hữu, dưới tay chỉ huy của Nhạc, đằng giăng
nghiêm mật đóng từ thành ấy đến tận địa phận Quảng Nam (1773).
Thành Quy Nhơn thất thủ! Một tin sét đánh đã đến tai Trương
Phúc Loan! Nhưng Loan vẫn mơ màng những chuyện làm giàu bằng cách bán quan,
buôn ngục!
Trận thắng ở Thạch Tân
Quân Tây Sơn có cái khẩu hiệu riêng: hễ kéo đến đâu cũng hò
reo la ó đến đó. Kẻ hú, người thưa, rầm rộ, ầm ĩ, làm cho thanh thế mạnh mẽ
hăng hái như sóng vỗ bờ đê, gió khua hang núi. Vì vậy nhân dân hồi đó dùng hai
tiếng “quân Ó” để chỉ về quân gia Tây Sơn.
Sau khi hạ được Quy Nhơn, Tây Sơn đang hát khúc khải ca, thì
có một tin báo bên Nguyễn sai hai Chưởng cơ Nguyễn Cửu Thống, Nguyễn Cửu Sách,
Tổng nhung Tống Sùng và Tán lý Đỗ Văn Hoảng kéo quân đến Bản Tân (giáp ranh huyện
Bình Sơn thuộc Quảng Ngãi và huyện Hà Đông thuộc Quảng Nam) để quyết một phen
“ăn thua” trên mặt trận.
Sắp đặt phương lược đối phó, Nguyễn Nhạc, dặn sẵn quân gia cứ
làm theo mưu kế mình định, một khi đụng nhằm quân Nguyễn.
Kịp khi quân Nguyễn kéo đến bên trại, từ ngoài đánh vào, quân
Tây Sơn phải lùi chạy sau một trận dựa đồn lũy chống cự lại.
Lui giữ Thạch Tân, Tây Sơn nhử cho quân Nguyễn quen mui đắc
thắng kéo dài đến. Chẳng dè quân phục đổ ra, hăng hái đánh riết, kết liễu tính
mệnh Sùng và Hoảng ở ngay mặt trận và làm cho bọn Nguyễn Cửu Thống phải đại bại
dưới bóng cờ quân Ó!
Từ đó, thế lực Tây Sơn ngày một bồng bột như mầm cây tơ dưới
ánh dương xuân, tưng bừng rực rỡ như mặt trời mới mọc buổi sớm!
Họ lại lợi dụng bọn giặc khách là Tập Đình gọi là Trung nghĩa
quân và Lý Tài gọi là Hòa nghĩa quân làm vây cánh.
Để mập mờ đánh lận với toán giặc khách kia, Tây Sơn lại lựa
thêm những người Nam ta cao lớn lực lưỡng, cũng cho mặc quần áo xanh, cũng cho
gióc23 tóc kết bím, lập thành một toán quân Tàu “giả hiệu”. Mỗi khi ra trận,
chúng uống rượu thật say, cởi trần trùng trục, đầu quấn khăn đỏ, cổ đeo tầu
vàng lá bạc, tay cầm cái khiên và thanh đại đao. Chúng đánh khỏe và liều chết24.
Dùng đội cảm tử đó làm quân tiền xung, xông pha trước trận,
Tây Sơn quả nhiên hái được bông trái tốt tươi: quân Nguyễn không sao địch nổi với
lưỡi đại đao của chúng.
Gió bắc dào dạt thổi. Cây cỏ ngủ yên trong giấc mùa đông li
bì. Một cái thủ cấp hãy còn đẫm máu bỗng làm ngạc nhiên trước mắt quân Tây Sơn!
Té ra đó là đầu lâu viên Tiết chế bên Nguyễn: Tôn Thất Hương!
Nguyên tháng Chạp năm Quý Tỵ (1773) đó, Hương đem nội quân và
các toán thân binh đi tiễu, khi đến núi Bích Kê thuộc huyện Phù Mỹ tỉnh Bình Định,
bị phục binh của bọn Tập Đình và Lý Tài xông ra giết chết. Còn quân sót lại của
Hương thì tan vỡ hết! Đó là trận thắng lợi đầu tiên do Tây Sơn lợi dụng bọn người
Thanh.
Lấy Quảng Ngãi, Bình Thuận
Sau một trận giao chiến với Tôn Thất Bân, cai cơ bên Nguyễn,
Tây Sơn chiếm được Quảng Ngãi. Rồi nhân cái đà thắng trận này, Nhạc lại thúc
quân đánh luôn lấy hai phủ Diên Khánh và Bình Khang. Thế là Tây Sơn cứ việc kéo
buồm trước cơn gió thuận, nghiễm nhiên làm chủ nhân ông từ Quảng Ngãi đến Bình
Thuận! Sau lại tiến đánh Quảng Nam, họ thường được thắng lợi, trừ ra một trận bị
cai đội Nguyễn Cửu Dật, bên Nguyễn đánh úp nên thua.
Trương Phúc Loan bấy giờ vẫn cứ mơ màng ôm chân nấp bóng nhà
Thanh, mong nhờ thế lực ngoại quốc để chống họ Trịnh ngoài Bắc. Loan sai sứ đi
đường tắt, sang Thanh dâng biểu xin làm “thần tử” phiên thuộc và hiến đồ cống.
Rồi từ đó, Loan đặt triều nghi, đổi phục sắc, thay pháp độ, lập
thành khuôn khổ một nước riêng, không chịu “lép vế” với chúa Trịnh nữa (1774).
Nhưng cơn thất bại vẫn rình ở sau lưng, vì Loan chỉ lo “trả miếng” với Trịnh ở
ngoài Bắc, chứ quên lửng Tây Sơn đương tung hoành ở trong!
Tây Sơn bấy giờ tuy có vẻ “đáng sợ” dưới con mắt Tôn Thất
Thăng đến nỗi Thăng phải bỏ quân, luôn ban đêm chạy trốn về, mặc dầu chưa hề
giao phong lấy một trận; nhưng sau khi bị thua bởi tay Nguyễn Cửu Dật từ năm
ngoái (1773), Tây Sơn đã phải lui giữ thế thủ ở Thiên Lộc (thuộc phía nam chợ Củi
mà chữ nho dịch là Sài thị). Qua mùa hè năm nay (1774), lại bị thua luôn dưới
bóng cờ của tướng sĩ năm dinh là các đạo quân ứng nghĩa do Tống Phúc Hiệp và
Nguyễn Khoa Thuyên cầm đầu. Thành thử ba phủ Bình Thuận, Diên Khánh và Bình
Khang kế tiếp mất cả! Rồi Phú Yên cũng lọt vào tay quân Nguyễn nốt! Song, những
trận thất bại đó mới chỉ là cái bất lực của từng cánh quân một chứ đại doanh của
Nguyễn Nhạc đóng ở Quảng Nam vẫn vững, không núng.
Dịp may cho họ Trịnh
Tình hình nội biến trong Nam do một người “Đường Trong”25 cáo
tỏ với viên Trấn thủ Nghệ An Bùi Thế Đạt. Viên này bèn viết thư cho chạy ngựa
trạm về Thăng Long nói với Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm (1767-1782) cái tình hình có
thể lấy Thuận Hóa được.
Quyền thần Phúc Loan làm mưa làm gió ở trong: một cái ung độc
của triều Nguyễn!
Lá cờ Tây Sơn phấp phới ở ngoài: lại một cái gai mắt của triều
Nguyễn!
Nhưng bao nhiêu những cái không may, không lợi của họ Nguyễn
lại chính là dịp tốt để “thả câu” của nhà Trịnh ở Bắc Hà.
Quả thế, khi hay tin trong Nam đương “đục nước” như vậy, Trịnh
Sâm mừng quýnh: “Với Trịnh, Nguyễn vốn là thế thù. Sở dĩ bấy nay Trịnh phải làm
thinh, chẳng qua chỉ cốt đợi thời. Bây giờ dịp may đã đến, Trịnh sao lại chịu
bó tay ngồi nhìn để cho họ Nguyễn ngang nhiên tranh hùng mãi!”
Phải trị!
Rồi Hoàng Ngũ Phúc26 và Nguyễn Nghiễm lại tán thành thêm vào.
Sau một mệnh lệnh từ vương phủ, quận Việp Hoàng Ngũ Phúc (do
hoạn quan xuất thân) cầm ấn thượng tướng, kéo ba vạn quân, thẳng trảy vào Đường
Trong.
Khi Ngũ Phúc đã đi, Trịnh Sâm lại sai đưa cho bức thư chính
tay mình viết: “Ông đến Nghệ An, nên tùy cơ mà liệu định, trước hãy đưa thư cho
biên tướng bên Nguyễn, nói giả tảng rằng chuyến đi này chỉ cốt đề phòng quân
Tây Sơn tràn xổng để dò xem tình ý đã. Nếu Tây Sơn đã yên thì lại đưa thư cho
Nguyễn bày tỏ ý ấy rồi kéo quân về, chứ đừng để họ sinh nghi, lại gây ra sự hiềm
khích ở nơi biên giới…”27
Ban bố 40 điều quân lịnh, Phúc tỏ ra một tay lão tướng cầm
quân có kỷ luật nghiêm minh.
Bấy giờ Thuận Hóa luôn mấy năm mất mùa đói kém, không còn rờ
vào đâu mà làm quân lương được. Bên Trịnh phải trù tính cách vận lương và chia
lập ba chỗ lương trường:
1) Lương trường Sơn Nam lập ở Mỹ Lộc: chi tiền cho bốn trấn
đong thóc trong bản hạt, xay giã làm gạo, chứa vào kho, rồi do đường thủy tải
vào Nghệ An.
2) Lương trường Nghệ An lập ở Hà Trung: đong thóc gạo của nhà
giầu trong vùng, rồi hợp với lương ở trường Sơn Nam kia, tùy tiện đi đường thủy
hay đường bộ mà vận tải vào Quảng Bình.
3) Lương trường Quảng Bình lập ở Động Hải: phải liệu tính cho
điều độ để cấp phát lương thực cho quân gia.28
Xem bên Trịnh khó khăn về việc quân lương như vậy, đủ biết
Đàng Trong hồi đó đói kém đến đâu! Dân chúng bấy giờ nheo nhóc điêu đứng đến
đâu!
Tướng Trịnh lót miệng bằng những tiếng “đạo đức sáo”: nào Trịnh
với Nguyễn vốn có họ ngoại, nay đem quân vào giúp “bà con” trong cơn nguy biến;
nào cốt trừ tên gian thần Trương Phúc Loan, cứu nhân dân khỏi vòng nước sôi, lửa
nóng; nào không có tâm địa gì nhân dịp người ta có tai nguy mà mình kiếm lợi…
Thế rồi Phúc kéo quân vào châu Bố Chính (coi bản đồ) hồi tháng chín năm Giáp Ngọ
(1774).
Qua tháng mười năm đó, Phúc vượt sông Gianh (Linh Giang), chiếm
được Lũy Thầy (tên chữ Hán là Sài Lũy, do Đào Duy Từ xây đắp), tóm lấy chìa
khóa cửa ngõ của bên Nguyễn, đường hoàng vào đóng quân ở Quảng Bình.
Trong có nội loạn, ngoài có ngoại xâm, triều Nguyễn bấy giờ bị
cuốn vào vòng sóng gió đầy ghê khiếp!
Muốn êm chuyện, chúa Nguyễn sai trói Trương Phúc Loan29 đem nộp
cho Hoàng Ngũ Phúc; làm vậy tưởng có thể đẹp lòng chúa Trịnh, dập được ngọn lửa
binh tranh. Ngờ đâu tướng Trịnh dầu tóm được con mọt dân Phúc Loan, dầu nhận
“vi thiềng”30 của tên quốc tặc này hàng nghìn vàng rồi, vẫn cứ một mực hăng hái
tiến binh, không còn nghĩ gì đến tình “họ ngoại” như lời thanh minh khi mới kéo
quân vào Nam nữa!
Phúc lại đưa thư cho triều Nguyễn, xin đem binh đến họp ở Phú
Xuân (nay là Huế) để giúp sức đánh dẹp Tây Sơn cho yên bờ cõi. Đó chỉ là một
cách bên Trịnh mượn cớ để thực hành cái kế hoạch xâm lược giang sơn của “người
bà con họ ngoại” thôi!
Van lơn không xong, bên Nguyễn phải cương quyết động binh để
đối phó với tình thế: Tôn Thất Nghiễm, nội hữu chưởng doanh, bấy giờ đang cầm đại
binh ở Quảng Nam, đương đầu với Tây Sơn, được triệu về để chống quân Trịnh.
Tây Sơn khởi thế công
Từ khi quân Trịnh Nam xâm, Tây Sơn lại đứng vào tình thế mới.
Phải cầm cự với Nguyễn Cửu Dật, một tay tướng tài bên Nguyễn
vừa đến thay chân Tôn Thất Nghiễm, Tây Sơn thua luôn vài mươi trận, phải rút
lui giữ Bản Tân để đợi dịp sau.
Mùa đông năm Giáp Ngọ (1774), thấy quân Trịnh tiến đến Phú
Xuân, Nguyễn Duệ Tông (1765-1778) phải chạy đi Quảng Nam, Tây Sơn khấp khởi mừng,
nhấp nhẩy lại muốn đoạt động.
Con thuyền Tây Sơn đương mắc cạn, cơ hội bỗng đâu đem đến cho
họ dòng nước xuôi, cơn gió thuận để họ cứ việc ung dung mở lái, giương buồm…
Trịnh cứ thắng!
Nguyễn thua hoài!
Nguyễn Duệ Tông phải chạy đi Giá Tân!
Nguyễn Cửu Dật phải triệu về hành tại để nghị sự.
Đó là những dịp tốt thúc giục Tây Sơn nhẩy múa trên trường
quân sự, nảy những hi vọng mơn mởn như đóa hoa hồng dưới bóng xuân non.
Tây Sơn chia việc: bọn Lý Tài đem quân thủy lén ra cửa biển Đại
Áp; Nhạc cầm bộ binh, đi men núi, sấn đến phía đông Thu Bồn. Hai đường thủy bộ
cùng nhằm một đích: ập đánh quân Cửu Dật!
Quả nhiên, Tây Sơn đại thắng, Cửu Dật phải chạy bạt về Trà
Sơn (1775).
Trước đây, Hoàng tôn Dương thừa cơ trốn thoát khỏi tay lợi dụng
của Tây Sơn, về với chúa Duệ Tông, được lập làm Đông cung (xuân Ất Mùi, 1775),
rồi phải lui giữ Câu Đê (thuộc huyện Hòa Vinh) sau khi Duệ Tông chạy đi Gia Định.
Bấy giờ Đông cung Dương lại thành một cái đích để cho Tây Sơn ngắm kỹ mà chộp lấy,
mà hành động… Cuộc chia cắt quân gia sau đây chỉ là một bước tấn tới để họ làm
đạt mục đích ấy.
Thống suất Diện và Tiên phong Tường đem hai nghìn người đóng ở
Thúy Loan và Bồ Bản làm quân Thượng đạo.
Tập Định và Lý Tài đốc suất hai nghìn người đóng ở Ba Độ làm
quân Trung đạo.
Đốc chiến Phong và Hổ tướng Hãn dẫn hai nghìn quân đóng ở Hà
Thân làm quân Hạ đạo.
Một giải “đánh cuộc” treo giữa ba cánh quân đó: hễ ai bắt được
Đông cung Dương nấy chiếm công
to nhất.
Bọn Diện và Tường giựt được kỷ lục trước nhất. Nhưng vì nghe
lời Đông cung, họ định theo vào Nam, nên dọc đường bị bọn Lý Tài giựt lại. Rồi
Dương bị ép phải về Hội An (thuộc huyện Diên Phúc, tỉnh Quảng Nam).
Chạm trán quân Trịnh
Tháng tư năm Ất Mùi (1775), quận Việp Hoàng Ngũ Phúc kéo quân
qua Hải Vân sơn (thuộc địa phận hai huyện Phú Lộc và Hòa Vinh), tiến vào Quảng
Nam, chỗ đất Tây Sơn đang tranh hùng với họ Nguyễn.
Cờ bí nước! Mặt trước có quân Trịnh, phía sau có quân Nguyễn:
Tây Sơn bị kẹp bằng hai lưỡi kìm, nhưng cứ đánh…
Nhạc cất Tập Đình làm tiên phong, Lý Tài làm trung quân, còn
mình tự làm hậu đội, đón đánh quân Trịnh ở Cẩm Sa (thuộc huyện Hòa Vinh).
Toán quân Tập Đình xông đánh rất hăng, làm cho đội tiền xung
của Ngũ Phúc không sao địch nổi và một viên nha hiệu bên Trịnh phải chết trận!
Bên Trịnh thấy quân Tập Đình đánh rát như vậy, hai Tạo sĩ31
Hoàng Đình Thể và Hoàng Phùng Cơ bấy giờ làm tướng tiền xung, vội thúc đội phi
kỵ xông vào đánh giết toán quân Tập Đình một trận rất kịch liệt. Rồi Ngũ Phúc lại
hô quân tiến lên, xô xát một chặp nữa. Toán quân người Tàu bên Tây Sơn này, phần
bị chém chết, phần bị giày đạp, chết và bị thương đến quá nửa.
Trước tình thế bất lợi đó, Nguyễn Nhạc không chống đánh nữa,
nhưng kéo bọn Lý Tài rút lui, giữ lấy Bản Tân, rồi đem Đông cung Dương về thành
Quy Nhơn (1775).
Sau trận đắc thắng này, Hoàng Ngũ Phúc bên Trịnh kéo quân vào
đóng ở Quảng Nam. Còn bên Nguyễn thì tướng Tống Phúc Hiệp đóng giữ ở Phú Yên.
Tình hình trong Nam bấy giờ hơi giống “cuộc cờ” Tam quốc:
Nguyễn giống Ngụy, Phúc giống Ngô, Tây Sơn hãy còn là Lưu Bị lẹt đẹt.
Tạm hàng Trịnh
Để chống “Tào Tháo” phía bắc, Tây Sơn tất phải đông hòa “Tôn
Quyền”.
Kế đã định. Anh em Nguyễn Nhạc dọn sạch vàng bạc, của báu đem
về chứa ở Tây Sơn thượng; thiên Đông cung Dương về Hà Liêu và An Thái để làm
“món hàng buôn bán” sau này.
Trời tháng sáu. Một dải Hoành Sơn đã hun người bằng thứ nóng
như rang, lại nhả ra cái khí nặng nề độc địa kết hợp bằng lam chướng rừng núi
và hơi hướng người chết trong khi nạn binh đao đương khắp nơi xung xích!
Thần Ôn dịch tha hồ hoành hành! Quân lính sống sót nơi sa trường
nay một số lớn lại phải làm mồi cho vị hung thần đó (1775).
Sợ oai dịch lệ hơn sợ chiến tranh, Hoàng Ngũ Phúc không dám
tiến, phải triệt binh về nghỉ.
Tây Sơn dùng chước hoãn binh, sai bọn Phan Văn Tuế đi mua
lòng Hoàng Ngũ Phúc bằng vàng bạc, của báu. Lại đưa thư đến tướng Trịnh, xin
hàng phục, xin triều cống, xin làm chân tiểu tướng coi giữ ba phủ Quảng Ngãi,
Quy Nhơn và Phú Yên, xin tình nguyện làm tên tiền khu32 theo Trịnh đi đánh chúa
Nguyễn đương long đong ở Gia Định.
Phần muốn cho quân yên nghỉ sau trận tàn sát của thần Dịch lệ,
phần muốn lợi dụng Tây Sơn làm mũi tên độc để bắn lại nhà Nguyễn là kẻ thế thù
của họ Trịnh, Phúc dằn lòng ưng thuận, quyền phong Nguyễn Nhạc làm Tây Sơn Hiệu
trưởng, Tráng tiết Tướng quân. Rồi sai gia khách, chưởng thư ký Nguyễn Hữu Chỉnh,
tức Cống Chỉnh, đem ban cho Tướng quân “trá hàng” này: gươm, cờ, ấn, sắc luôn với
áo, mão và ngựa. Chẳng dè chuyến Cống Chỉnh đi này lại mở cho Tây Sơn một đường
tương lai rất mới mẻ, rất rộng rãi và rất may mắn!
Cất nhắc cho Tây Sơn đã êm, Phúc chia quân đóng các phiên trấn,
giữ từ Hải Vân sơn đến Thuận Hóa.
Ở Thuận Hóa hai năm, Phúc tỏ ra một tay khéo chinh phục “thuộc
địa”: sửa đồn lũy, khai hào trì, đặt quan lại, chia định sưu thuế, đổi lại
phong tục cho “đồng hóa” với bên Trịnh ngoài Bắc.
Nói tóm, Phúc cải cách hết mọi mặt để xóa nhòa hẳn cái dấu vết
một “triều đình” nó đã biệt lập một cách rõ rệt từ ngày Đào Duy Từ xây đắp Lũy
Thầy đến giờ.
Sau đó, Trịnh Tĩnh Đô vương triệu Phúc về Bắc cử các viên này
lên thay giữ Thuận Hóa:
Hoàng Phùng Cơ33, Phạm Ngô Cầu làm Đại tướng.
Hiệp giúp ba viên ngạch võ đó, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Đang34
đóng vai đốc thị…
Thế là cuộc cờ Thuận Quảng bấy giờ lại xoay nước mới. Nước đi
mới này rất lợi cho Tây Sơn tấn công, vì bọn Ngô Cầu vô tài, kém xa lão tướng
Hoàng Ngũ Phúc và không phải địch thủ của Nguyễn Huệ, nên một khi Huệ kéo quân
đánh thành, họ phải đắng cay dốc chén “thất bại”.
Lại trá hàng Nguyễn
Chẳng những trước đã hàng Trịnh, bây giờ lại sai người đến
xin hàng tại nơi quân thứ Phúc Hiệp bên Nguyễn, Tây Sơn tỏ ra “biết điều” và
“ngoan ngoãn” quá. Nhưng “binh bất yếm trá”, chiến thuật khôn khéo này đã đem lại
cho Tây Sơn một cái lập trường vững chắc để làm đạt tới mục đích tranh bá, đồ
vương.
Nhạc lại đem Đông cung Dương về Bồng Giang, ghép duyên với
con gái mình là Thọ Hương. Rồi ép Dương phải lên ngôi vua mặc dầu chúa Duệ Tông
bấy giờ hãy còn sờ sờ. Nhưng, Dương không chịu để cho Tây Sơn lợi dụng, cứ bai
bải từ chối cái chức “vua hờ” đó.
Nhân sứ giả của Phúc Hiệp sắp tới, Nhạc lại được dịp thi hành
cái kế hoạch đã định ấy.
“Bày” Đông cung Dương ngồi chững chạc trên sập kê ở gian giữa,
ngảnh mặt về hướng nam, bọn Nhạc đứng bên tả, cho Tôn Thất Chất đứng bên hữu.
Đó là cuộc trần thiết để đón tiếp sứ giả bên Nguyễn.
Đó cũng là một lễ sắp đặt để Nhạc “phong” Dương làm vua.
Rồi Nhạc dõng dạc cất giọng nghiêm nghị:
– Năm dinh tướng sĩ thật đã hết lòng trung nghĩa trong việc cần
vương. Chừ (bây giờ) đã trị được tên gian thần (chỉ Trương Phúc Loan), đã cứu
được nạn nước, chính là lúc chúng ta nên lập Hoàng tôn lên ngôi cho yên nghiệp
lớn. Cái công muôn đời bất hủ này ta quyết không nên bỏ qua. Chư tướng tính
sao?
Sứ giả bên Nguyễn dè dặt:
– Minh công có lòng dực đới như vậy, nghĩa thanh lừng lẫy, ai
chẳng nghe theo? Song le, chừ (giờ) tướng sĩ năm dinh kéo đến, ngài truyền cho
đóng ở mô?
Ngẫm nghĩ hồi lâu, Nhạc bảo Đông cung Dương:
– Việc đó xin để điện hạ khuôn xếp, chi chi chúng tôi cũng
vâng.
Dương đáp:
– Tùy các ông, liệu mà làm.
Im lặng…
Sau khi hạ màn tấn kịch “thiết trào” này, Nhạc viết các điều
kiện giảng hòa giao cho sứ giả đem về đưa Phúc Hiệp.
Tiền phong Tướng quân
Đối với Nguyễn Huệ, một người em đã từng dày công giúp mình,
nhất là nay lại đánh được Phú Yên, Nhạc muốn tỏ ý đền bồi cái công ra tử vào
sinh ấy.
Khi Hoàng Ngũ Phúc chưa ra Bắc, Nhạc đã đem cái chiến công hạ
được Phú Yên của Huệ nói với tướng Trịnh, để nhờ cất nhắc cho em.
Trước khi đi, Phúc không quên làm một ơn huệ không tốn kém
gì: quyền phong Huệ làm Tây Sơn hiệu Tiền phong Tướng quân.
Đó chẳng qua là một thuật anh em Tây Sơn dùng để phỉnh gạt tướng
Trịnh, chứ hoài bão của họ nào có phải chỉ nhằm cái chức Hiệu trưởng hay Tướng
quân quèn ấy đâu!
Tây Sơn hạ được Phú Yên vào lúc nào mà nhanh thế?
Nguyên, sau cuộc tiếp đón sứ giả của Nguyễn Phúc Hiệp ở Bông
Giang, Nhạc không bỏ lỡ cơ hội: sai ngay Tôn Thất Chất vào Phú Yên, dụ Hiệp
giúp lập Hoàng tôn Dương cho yên xã tắc.
Rồi nhân lúc bên Hiệp không phòng bị, Nguyễn Huệ, vâng mệnh
anh, đem binh đánh úp Phú Yên; giết ngay cai đội Nguyễn Văn Hiền ở mặt trận và
bắt sống cai cơ Nguyễn Khoa Kiên. Thế là, nhanh như chớp, Phú Yên đã lọt vào
tay Nguyễn Huệ.
Sau, Khoa Kiên bị giết vì không chịu hàng; Nguyễn Huệ được
phong làm Tiền phong Tướng quân như trên đã nói.
Từ đó, công cuộc chinh chiến của chúa Trịnh cũng chết theo
Hoàng Ngũ Phúc ở dọc đường, nhường chỗ cho sức phát triển bồng bột của Tây Sơn.
Mùa đông năm Ất Mùi (1775). Tây Sơn đứng trước một tình thế
đáng lo ngại:
Sau khi hạ được Phú Yên, họ cắt Lý Tài đóng quân chống giữ,
chẳng ngờ Lý Tài bỗng trở mặt, xuống hàng Phúc Hiệp vì một chuyện bất bình với
Tây Sơn!
Nay hai phủ Thăng, Điện ở Quảng Nam lại mất vào tay nghĩa
binh bên Nguyễn là bọn Tôn Thất Quyền và Tôn Thất Xuân.
Theo nạn binh đao, ma đói ác nghiệt cứ rần vật hành hạ dạ dầy
thằng dân hoài!
Dân Quảng Nam đã khổ vì nội chiến, lại khổ vì đói kém trong
cơn mất mùa!
Dưới ảnh hưởng cơ cận này, quan Tôn Thất Quyền sút hẳn tinh
thần hăng hái vì thiếu lương thực.
Một dịp tốt cho Tây Sơn. Nhạc hết sức thúc quân đánh phá,
quét sạch toán quân Tôn Thất Quyền. Giao lại Quảng Nam cho Nguyễn Văn Duệ đóng
giữ, Nhạc kéo quân về Quy Nhơn.
Để lật đổ Nguyễn, Tây Sơn gọi hết nhân dân ra lính. Số binh
đã tăng nhiều (1776), họ theo đuổi chương trình tấn công đến triệt để.
Không chống nổi đội thủy quân của Tiết chế Nguyễn Lữ, chúa Duệ
Tông bên Nguyễn phải bỏ Gia Định, chạy đi Trấn Biên (nay là Biên Hòa). Thành
Sài Gòn từ đó nằm nép dưới bóng cờ Tây Sơn. Sau nó lại trở về chủ cũ vì có Đỗ
Thanh Nhân dấy binh giúp Nguyễn. Nhưng nó chỉ còn cái vỏ xơ xác, chứ bao nhiêu
thóc lúa trong kho là ruột và mạch máu của nó đều bị Nguyễn Lữ rút về Quy Nhơn
hết rồi (Bính Thân, 1776).
Bước lên chiếc ghế phụ chính
“Chọc trời, khuấy nước, mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai!”
Câu đó của thi sĩ Nguyễn Du dường vì anh em Tây Sơn mà đặt ra
vậy.
Từ khi được Trịnh phong cho cái “chức suông”, Tây Sơn tự làm
lấy về mặt thực tế: Theo chỗ đất cũ của Chiêm Thành, họ đắp thành Đồ Bàn cho
cao và to gấp bội. Thành này phía tây có Kim Sơn đứng trấn, phía đông có tháp Cảnh
Tiên hộ vệ, phía nam có Tam tháp triều củng, phía bắc có Thập tháp đỡ che. Gia
dĩ, núi Phong Sơn ở bên hữu làm lũy, bể Thi Nại ở bên tả làm hào, phía trong có
long bàn là núi Cù Mông, phía ngoài có hổ cứ là đèo Bến Đá: Thật là một cảnh
thiên nhiên hiểm trở35.
Bấy giờ Tây Sơn tu tạo lại: giữa nơi thành lũy kiên cố đó nổi
lên những tòa cung điện đồ sộ xây bằng đá ong.
Tháng hai năm Bính Thân (1776), Nhạc xưng là Tây Sơn vương,
đúc ấn vàng.
Tổ chức thành cái triều đình mới, Nhạc phong Huệ làm phụ
chính, Lữ làm thiếu phó và tùy công ban thưởng cho các đồ đảng theo mình.
Từ đó chúa Tây Sơn trữ lương thực, luyện binh lính, điểm duyệt
tướng sĩ, dung nạp và thu dụng những tên dân vong mạng và các tay hào kiệt bất
đắc chí. Chính vì cửa thành Đồ Bàn rộng mở như thế, nên sau này Cống Chỉnh đem
đến cho Tây Sơn cái đề nghị đánh Thuận Hóa và cái phương sách diệt Trịnh, phò
Lê.
Bấy giờ Lý Tài lại phản nhà Nguyễn, chiếm giữ Chiêu Thái Sơn.
Nghe tin Đông cung Dương từ Tháp Mười vượt biển trốn vào Gia Định (tức Sài
Gòn), Lý Tài bèn đem quân hạ Sài Gòn, lập Dương làm Tân Chính vương và tôn Duệ
Tông làm Thái Thượng vương.
Muốn dựa sức Trịnh để vật lại Nguyễn, Nhạc sai Đỗ Phú Tuấn ra
Bắc, xin Trịnh cho mình coi quản toàn xứ Quảng Nam (1777).
Chúa Trịnh bấy giờ đã chán chối việc binh vì gặp nhiều cơn thất
bại trong cuộc Nam xâm, nên muốn cho xong chuyện, phong ngay Nguyễn Nhạc làm Quảng
Nam Trấn thủ tuyên úy đại sứ Cung Quốc công.
Triều Nguyễn vẫn là cái đối tượng để Tây Sơn tấn công, sau
khi Nhạc đã yên tâm, tạm gác việc đối phó với Trịnh.
Hai đường thủy bộ của quân Tây Sơn, do Huệ và Lữ cầm đầu, rần
rộ cùng tiến vào Gia Định.
Bị đánh, quân Lý Tài thua vỡ, Dương phải chạy về Trà Tân (thuộc
Định Tường).
Thừa thắng, anh em Nguyễn Huệ cứ tiến, hạ được Ba Vạc (thuộc
Vĩnh Long); luôn dịp lại đuổi Dương và Duệ Tông đến Long Xuyên (thuộc Hà Tiên),
rồi ám hại cả hai ở đó (1777). Vết thương này đâm suốt trái tim nhà Nguyễn, nên
mối thù oán giữa Nguyễn và Tây Sơn càng ngày càng sâu, càng buộc càng chặt!
Hát bài khải ca, anh em Nguyễn Huệ kéo về Quy Nhơn, để lại bọn
Tổng đốc Chu, Hổ tướng Hãn và Tư khấu Oai đóng giữ Gia Định.
Giúp anh nhảy lên ngai vàng
Năm Mậu Tuất (1778), cái năm đáng ghi bằng những nét tối quan
trọng trên trang sử Tây Sơn, cũng là cái năm rắc rối trên tờ niên biểu của bộ
Việt sử.
Lê còn chính sóc.
Trịnh còn quyền hành.
Nguyễn chưa mất hẳn ngôi chúa
Nguyễn Nhạc nay lại nhẩy lên chiếc ngai Thái Đức Hoàng đế.
Trên mảnh đất chữ S này thật chưa bao giờ có nhiều vua, lắm
chúa đến thế!
Người ta tranh nhau cái ngai vàng, nhưng người ta quên lửng
đám dân đen là cái đệm, cái kê của chiếc ngai kia, nên họ không ngần ngại đem
chúng làm mồi cho súng đạn, cho dịch lệ, cho đói kém!
“Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết”
Dẫu vậy, con muỗi của nhà ngụ ngôn La Fontaine có lúc còn làm
cho sư tử phải nguy khốn thay, huống chi là trâu với bò!
Thấy chúa Tây Sơn Nguyễn Nhạc đặt niên hiệu là Thái Đức, có
người háo sự đoán chiết tự rằng: “Ba người tranh một nước (tam nhân tranh nhất
thủy: chiết tự chữ “Thái” 泰), mười bốn năm nữa sẽ mất!” (Thập tứ
niên vong: chiết tự chữ “Đức” 德). Song đó là loài sấm vĩ, nay hãy
gác ra một bên.
Kể từ năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nhạc khởi binh đến năm Mậu
Tuất (1778) nhảy lên chiếc ngôi Hoàng đế này: tám năm thấm thoắt qua!
Thế là tôi đã dẫn các bạn đi khúc đường lịch sử khá dài rồi.
Trước đây tám năm, anh em Tây Sơn chỉ có hai bàn tay trắng,
thế mà một bước nhẩy lên vương, hai bước nhẩy lên đế, quát thét một dải Hoành
Sơn!
Các bạn nên nhận biết: trong khoảng tám năm ấy, trên con đường
sáng nghiệp của Tây Sơn, tuy có Nguyễn Huệ – Long Nhương Tướng quân (1778),
giúp sức khai phá, nhưng nó hãy còn chật hẹp, nhỏ nhen và phần nhiều chỉ quan hệ
quanh cái ngai vàng
“Thái Đức”.
Nay về sau, xin mời các bạn cùng tôi đi thăm một con đường
khác. Con đường này của riêng Nguyễn Huệ, tay mai, tay cuốc, mở rộng từ Trung
ra Bắc, rồi lại từ Bắc chực mở sang Quảng Đông, Quảng Tây. Nó rộng rãi, thênh
thang, in lại nhiều vết oanh liệt…
Khi dọn đường này, chính vai chủ động – Nguyễn Huệ – lắm phen
đã phải phấn đấu với thú dữ, rắn độc, phấn đấu với mưa, nắng, chông gai. Nhưng
kết cục, vì can đảm, vì nghị lực, vì thiên tài, người khai phá đó đã cao giọng
hát bài đắc thắng!
Vật ngã Xiêm
Trước khi thuật võ công của Nguyễn Huệ, tôi xin mượn lời Gia
Luân Tướng quân mà tặng ông: “Người có thiên tài về quân sự.”
Phải, Nguyễn Huệ quả có thiên tài, quả có thể gọi là
Nã-phá-luân Đại Việt!
Binh cơ? Rất thần tốc!
Hiệu lịnh? Rất nghiêm minh!
Ra trận? Bao giờ Huệ cũng đi đầu các tướng sĩ!
Đối với quân lính? Ông sẵn lòng chia ngọt, đắng, sẻ vui, buồn.
Ông là Ngô Khởi: “Ăn chung mặc chạ với hạng lính hèn mọn nhất,
hút mủ cho tên quân đau nhọt đáng thương.”
Ông là “chú cai con” Nã-Phá-Luân: “Cho mọi người tự do đến gần
mình, phân lao với kẻ khó nhọc, khuya sớm thăm nom sĩ tốt ở bên lều, san sẻ với
họ từ một thìa súp.”
Phủ khắp bộ thuộc một bầu không khí êm ái…, Nguyễn Huệ chiếm
được trái tim của quân nhân!
Dầu vậy, ông không nhãng bỏ chữ “oai”. Chính cái ân oai nhằm
đường đó đã tặng ông đóa hoa chiến thắng và dẫn ông đến bước thành công:
Bốn lần vào đánh Gia Định, quân Nguyễn thảy đều kinh sợ khi
thấy bóng ông tướng “tóc quăn, da sần, cặp mắt hùng thư” mà sáng như chớp đó!
Năm Nhâm Dần (1782), ông đem mấy trăm chiếc thuyền vào cửa biển
Cần Giờ, đánh với quân Nguyễn ở Ngã Bảy (chữ nho dịch là Thất Kỳ giang): Quân
Nguyễn phải đại bại dưới bóng cờ ông tướng “thiện chiến” ấy.
Có lần ông kéo quân đến Lữ phụ, bày trận ngảnh lưng xuống nước,
công kích rất hăng (tháng tư năm Nhâm Dần, 1782), làm cho chúa Nguyễn Ánh, tức
vua Gia Long tương lai, phải chạy ra đảo Phú Quốc.
Qua năm Quý Mão (1783), ông và anh là Lữ lại vào Cần Giờ, ngược
dòng, lên đánh tan quân Chu Văn Tiếp bên Nguyễn vì toán quân này, hồi tháng tám
năm ngoái (1782), từ Phú Yên vào cứu Gia Định để đón chúa Nguyễn Ánh do đảo Phú
Quốc quay về nội địa.
Trận đó, quân Tây Sơn bắt được Nguyễn Hoàng Đức, tướng đi chận
hậu cho chúa Nguyễn, và làm cho Nguyễn vương phải chạy đi Côn Lôn. Phò mã Tây
Sơn Trương Văn Đa, đuổi theo, suýt bắt được chúa Nguyễn Ánh. Nhưng vì bấy giờ
trời mưa như trút, cơn dông tố ầm ầm nổi lên, mặt nước mờ tối, lôi thuyền Tây
Sơn xuống nơi thủy phủ rất nhiều, nên chúa Nguyễn Ánh lại chạy ra Phú Quốc được.
Lại để Văn Đa đóng giữ Gia Định, Nguyễn Huệ trở về Quy Nhơn với
vòng hoa thắng trận.
Trong cuộc nội chiến giữa Nguyễn và Tây Sơn này có một việc tối
quan trọng đã xảy ra năm Giáp Thìn (1784):
Đó là việc chúa Nguyễn rước Xiêm sang cứu giúp.
Đó là keo Việt – Xiêm đọ sức trên chiến trường.
Nước Xiêm tức Tiêm La, kêu theo chữ Hán, ngày nay đang đứng
ngang hàng với liệt cường thế giới. Nhưng, trước đây ngót một trăm sáu mươi
năm, Xiêm sánh với Đại Việt ra sao? Các bạn đọc qua mấy hàng sử ký sau đây khắc
biết.
Năm Giáp Thìn (1784), Chiêu Tăng, Chiêu Xương, hai tướng
Xiêm, kéo hai vạn thủy binh và 300 chiến thuyền sang Đại Việt!
Trảy đi đến đâu, quân Xiêm nhũng nhiễu đến đó: dân gian phải
uống những “hớp” khổ sở, đắng cay!
Quân Xiêm tuy đánh bại được Văn Đa (tướng Tây Sơn), tiến đóng
tận Long Hồ, nhưng không phải là tay đối địch của Nguyễn Huệ.
Quả thế, Nguyễn Huệ, khi hay tin quân Xiêm kéo đến, Văn Đa đã
thua, lập tức đem quân vào Gia Định, quyết vật một keo với ngoại binh.
Thoạt giao chiến, quân Tây Sơn lùi... và cứ lùi… nhử quân
Xiêm đến Mỹ Tho. Một ám hiệu nổi dậy, toán kính binh (quân cứng mạnh) mà Huệ đã
sai phục ở Xoài Mút (thuộc Định Tường) bên Rạch Gầm, thình lình xông ra đánh giết.
Quân Xiêm đang khốn đốn vì gặp phục binh của Tây Sơn, lại bị hai mặt quân thủy,
lục do Huệ thúc đến công kích rất dữ, đành phải ở nơi đất khách làm bao con quỉ
cụt đầu! Sau trận đại bại này, bên Xiêm chỉ còn vài nghìn tàn binh nheo nhóc
điêu linh vừa chạy về vừa thom thóp sợ oai Nguyễn Huệ.
Ấy đó, ngay đời Nguyễn Huệ, địa vị Tiêm La hãy còn thấp kém,
sức lực Tiêm La hãy còn bé mọn, binh bị Tiêm La hãy còn không địch nổi Tây Sơn,
thế mà bây giờ:
“Trần ai, ai đã biết ai?”
“Tôi già rồi! Ai địch nổi!”
Nhắc lại: năm Ất Mùi (1775), Hoàng Ngũ Phúc, tướng Trịnh, khi
còn đóng quân ở Châu Ổ (thuộc Quảng Ngãi) có nói với tướng tá ở bộ thuộc mình,
lúc Phúc mới bắt đầu vướng phải bàn tay ác nghiệt của thần Dịch lệ: “Tây Sơn
bây giờ đang như ngọn lửa bốc mạnh! Tôi già mất rồi! Còn các tướng, tôi e,
không phải là tay đối địch với họ được!” Lời “biết người, biết mình” của viên
lão tướng đó dường vì sau đây mấy năm, cảnh cáo Phạm Ngô Cầu.
Bị chúa Trịnh triệu về, Ngũ Phúc để Bùi Thế Đạt đóng giữ Thuận
Hóa, đem binh trảy ra Bắc, nhưng mất ở dọc đường.
Xưa, người mình mê tín địa lý, hễ thấy ai quật cường nổi lên,
thì cho ngay là “đất phát nghịch”, nhà nào xây lâu đài lộng lẫy trên nền “hàn
vi” thì cho là “hòn đất đã dậy!” Rất đỗi đối với quân quốc trọng sự, người ta
cũng dùng đến cái “chiến thuật” đào mả hoặc đoạn tuyệt long mạch để chực “triệt”
nhau. Cái cử động vô ý thức đó thường diễn trên sân khấu tranh vương đồ bá của
người mình.
Trình độ đời Lê bấy giờ cũng không vượt khỏi cái nấc “mê tín”
ấy.
Tây Sơn vùng dậy với tiếng hùng cường, chẳng những là cái sợ
riêng cho triều Nguyễn trong Nam, mà lại là cái lo lớn cho Chính phủ36 Bắc Hà nữa.
Chả thế, có nhà đương đạo bên Trịnh phải xét đến mả nhà Tây
Sơn mà nói với triều đình Bắc Hà rằng:
– Cứ theo kiểu đất Tây Sơn, thì thập nhị niên cường, kỳ cường
mạc ngữ! (mạnh 12 năm, cái mạnh ấy không ai chống nổi!) Vậy xin triều đình phải
sớm dẹp đi, ngõ hầu sau mới khỏi lo…
Nhưng mạt vận đương tràn ngập vua Lê, chúa Trịnh! Ai người đi
dẹp Tây Sơn? Chẳng những không dẹp nổi, mà hai phủ Thăng (Thăng Bình), Điện (Điện
Bàn) thuộc Quảng Nam bấy giờ lại bị Tây Sơn chiếm cứ37, nên Trịnh Sâm cũng phải
nới tay: phong nước cắt đất cho họ để mong êm chuyện (1777).
Sau khi lật đổ họ Nguyễn, chúa Trịnh giựt lấy miếng đất Thuận
Hóa, phái 3.000 đồn binh, 30.000 thú binh đóng giữ38. Cầm nắm cơ quan chính trị
và quân sự ở đó, một đại tướng, một phó tướng và hai viên chánh, phó đốc thị.
Ngồi ghế trọng trấn Thuận Hóa, sau Hoàng Ngũ Phúc là Bùi Thế
Đạt39, sau Đạt là Phạm Ngô Cầu.
Ngô Cầu? Con người vô tài, vô năng, tham lam, nhút nhát, mà lại
đa nghi. Cầu, tay cầm cái ấn Đại tướng ở biên cương, chỉ cốt kiếm lợi bằng cách
vơ vét đục khoét, chứ không có một chủ trương gì tỏ ra là người xứng đáng cả.
Đối với phó tướng Hoàng Đình Thể, một người có tư cách hơn Cầu,
Cầu vẫn nhìn bằng con mắt
ghen ghét.
Cái chân tướng bất xứng chức đó của Cầu đã bị lột trần dưới mắt
“củ soát” của quyền Phủ xứ Hồ Sĩ Đống. Nhưng cái đề nghị xin cử người khác thay
Cầu chưa được triều đình Bắc Hà làm theo, thì Đống đã chết, nên Cầu vẫn cứ ngồi
vững trên ghế trọng trấn miền Nam: làm anh bù nhìn giữ “dưa” cho chúa Trịnh và
làm cái “bàn đạp” cho Nguyễn Huệ nhảy lên để phóng ra Bắc Hà…
Đế vương trong tay chúng tôi!
Lê chưa “vong”, Trịnh đã đến lúc sắp “bại”!
Tướng đóng ngoài biên: Phạm Ngô Cầu, một người đớn kém như
trên đã nói.
Quân ở trong? Một tụi lính tráng kiêu căng, rông rỡ, ngang ngạnh!
Họ “úp sọt” cả vua lẫn chúa, ngang nhiên rờ mó đến cái thần khí xưa nay vẫn coi
là thiêng liêng.
Cây “Trịnh”, bấy giờ, rễ đã lũa, ruột đã sâu, quyết không sao
khỏi đổ khi gặp một trận gió “Tây” lay giựt!
Đầu thiên “lịch sử ký sự” này, tôi đã nói sơ đến thói kiêu hoạnh
của chư quận bên Trịnh, nay cần thuật thêm cho rõ nguyên ủy:
Nguyên từ hồi trung hưng (từ năm 1533 trở đi), nhà Lê chỉ lấy
binh đinh ở ba phủ Thanh Hoa và mười hai huyện ở Nghệ An. Vì nhà Lê dấy lên từ
Thanh Hoa, binh lính ở hai nơi Thanh Nghệ đã từng chia sẻ với quốc gia những nỗi
gian lao vất vả, nên được triều đình coi hạng lính ở đất căn bản ấy như móng vuốt,
ruột rà, đối đãi một cách ưu hậu40. Vì vậy, bấy giờ họ được mang cái danh hiệu
rất đẹp đẽ là “quân Tam phủ” hoặc
“Ưu binh”.
Được làm “con cưng” của vua chúa, họ dần dần được đằng chân
lân đằng đầu.
Năm Lê Gia Tông Dương Đức thứ 2 (1673), quân Tam phủ, vì thấy
việc thuyên thụ (thuyên bổ và cho phẩm trật) có hơi kém, bèn nổi dậy làm loạn,
giết Bồi tụng Nguyễn Quốc Hòe, đốt nhà quốc lão Nguyễn Công Trứ rồi cướp của cải41.
Qua năm Cảnh Hưng thứ nhất (1740), họ ức vì việc Tham tụng
Nguyễn Quý Kính (có âm nữa là Cảnh) hơi đè nén một cách trái lệ, liền hò nhau đến
phá nhà Quý Kính, cướp hết của cải và đồ vật42.
Năm Nhâm Dần (1782).
Tháng chín, Trịnh Tĩnh Đô vương, trước khi nhắm mắt, giao phó
việc giúp lập con là Trịnh Cán vào tay bảy người tâm phúc là bọn Hoàng Đình Bảo.43
Nhưng vì Đình Bảo chuyên quyền và Trịnh Cán không được lòng
người, gây thành một cuộc phế lập “tháng mười” do quân Tam phủ đứng làm chủ động.
Nay Ưu binh, sẵn võ khí trong tay, tự do làm việc họ muốn:
Lập Trịnh Tông (tức Khải) làm Đoan Nam vương (1782-1786).
Phế Trịnh Cán làm Cung Quốc công.
Giết Đình Bảo.
Lung tung cướp phá nhà Đình Bảo và các nhà thân thuộc của Đặng
Thị Huệ (mẹ Trịnh Cán) luôn với các nhà phe đảng Đình Bảo!...
Chư quân còn thanh ngôn muốn giết cả vương cữu nữa. Thái phi
nhà Trịnh phải ra kêu khóc xin tha, họ mới thôi.
Luôn mấy ngày, kinh thành sống trong cơn khủng bố rối loạn!
Đình thần im tiếng.
Sau việc “đảo chính” này vài ngày, chư quân lại kéo đến nơi
ngục thất, trả lại tự do cho các con của cố Thái tử Lê Duy Vỹ là Duy Lưu và Duy
Chi44.
Còn Duy Kỳ45 cũng con của cố Thái tử nhà Lê, được họ thả ra từ
hôm phế lập.
Lần thứ nhất họ đã được vua Lê Hiển Tông trọng thưởng tiền bạc
và “chức tước” như biện lại hoặc cai quản,…
Lần sau họ lại đến “vòi” Lê đế về việc buông tha được hai
Hoàng tôn ra khỏi nhà tù.
Không thiết 2.000 lạng bạc của ông vua nghèo, họ trả lại bạc
nhưng đòi xin “danh phận” lần nữa.
Sẵn “cây nhà lá vườn” vua Lê lại sai làm sắc phong cho họ:
trong đám chư quân, kẻ nào đã được phẩm trật lần trước rồi, nay không muốn nhận
nữa, thì họ lại nhường cho bà con hoặc người quen thuộc họ.
Cũng chiều theo ý họ, triều đình bèn “chế tạo” ra một thứ sắc
gọi là “Dực đới tương nhượng sắc” để ban cho kẻ nào mà chư quân muốn nhường.
Bởi chư quân, Trịnh Tông đang bị truất bỗng được lên ngôi
vương.
Cũng bởi chư quân, các cháu vua Hiển Tông nhà Lê đang bị xiềng
xích bỗng được thở hút không khí tự do.
Trách nào họ chẳng tự phụ: “Các ngôi đế vương đều tự trong
tay chúng tôi mà ra cả!”
Thế là, từ đó, họ như đàn ngựa không cương khớp: Họ cất! Họ
đá! Triều đình là một “sân quần” của họ. Họ, động một tí, đánh mõ inh ỏi, tụ họp
lại, kéo thành đàn hàng chục hàng trăm: nhông nhông giong lượn, kêu gọi la ó ầm
ĩ…
Họ yêu cầu Nhà nước cho họ hưởng các lợi quyền ở nơi quan ải,
bến đò, đầm, hồ, bãi sông, chợ búa (1783).
Ấy là không kể vụ tháng mười năm Nhâm Dần (1782), nhiều nhà
giầu trong thành đã bị vạ lây vì họ cướp bóc phá phách, sau lúc đánh đổ phe đảng
Hoàng Đình Bảo.
Mà từ đó trở đi, họ càng “vòi” được các mối lợi của Nhà nước
bao nhiêu, thì dân gian lại càng bị họ khuấy nhiễu bấy nhiêu. Vì mối lợi họ được
có đụng chạm đến dân gian: một khi chợ búa, bãi sông… đã lọt vào tay họ, thì
dân quê lẽ tất nhiên bị họ bóc lột tàn nhẫn!
Vì thế, mối căm hờn ngày một ăn sâu vào xương tủy dân gian.
Giữa dân và lính đào sâu một hố cừu thù.
Ngay những cố lão ở hồi Thành Thái (1889-1907) gần đây hãy
còn hay dùng câu này để chỉ những cử động nhũng nhiễu của kẻ không giữ kỷ luật:
“Làm gì như quân Tam phủ ấy thế!” Đủ biết cái nạn Ưu binh ở đương thời ghê gớm
là chừng nào!
Nội tình bên Trịnh bấy giờ là thế (1782-1783).
Con diều biển!
Trước khi thuật việc Nguyễn Huệ hạ thành Phú Xuân, ta không
thể không nói đến một nhân vật đã đóng vai tối qua trọng trên sân khấu chính trị
bấy giờ.
Người ấy là một vai “công kênh” để Nguyễn Huệ “trèo” vào
thành Phú Xuân.
Người ấy là một dịp cầu bắc để Nguyễn Huệ từ Phú Xuân nhảy một
bước ra Bắc Hà.
Người ấy là anh “dàn cảnh” để vua Lê Hiển Tông sống lại một
ngày oanh liệt.
Người ấy là anh chàng “đánh hôi”: đạp đổ cái ngai chúa Trịnh
Kiểm (1545-1570) đến Trịnh Khải (1782-1786).
Người ấy lại là một bác “mai dong”46 khiến Ngọc Hân Công chúa
nhà Lê được đẹp duyên với anh hùng Nguyễn Huệ.
Nói tóm, người ấy là một tay núp sau Nguyễn Huệ, xoay trở thời
cục hồi cuối Lê một cách ngửa nghiêng điên đảo…
Người ấy là ai?
Nguyễn Hữu Chỉnh, tức Cống Chỉnh!
Chỉnh, người Đông Hải, huyện Chân Phúc, trấn Nghệ An, vốn
thông mẫn và có tài năng từ thuở bé. Mới ít tuổi đã đỗ Hương cống. Sau tập võ
nghệ, Chỉnh lên kinh sư, thi Tạo sĩ, nhưng không đỗ.
Tức mình, xoay phá ngang, Chỉnh vào yết kiến quận Việp Hoàng
Ngũ Phúc, kiếm một con đường tiến thân ngoài lề lối thường.
Thấy Chỉnh là người kỳ kiệt. Phúc dùng làm môn khách: giắt
nghiên cài bút theo đi tòng quân.
Năm Giáp Ngọ (1774), nhân có việc Ngũ Phúc quyền phong Nguyễn
Nhạc làm Tráng tiết Tướng quân, Chỉnh được sai đem đến cho Tây Sơn sắc, ấn, cờ,
kiếm: Lần thứ nhất Chỉnh chạm trán với anh em Tây Sơn. Khi về, Chỉnh có nói với
Ngũ Phúc: “Anh em Tây Sơn là tay ngấp nghé khác thường, chắc không chịu ở lâu
dưới ai đâu.”
Nhưng trong khi đang mải miết tìm một lập trường trên mảnh đất
chính trị ấy, Chỉnh có biết đâu rằng dân chúng ở tầng lớp dưới đương chết đói
vì hạn hán, mất mùa. Nguyên, bấy giờ thóc đang kém, gạo đang cao, nhân dân đang
thiếu đói; thế mà đến tháng Bảy mùa thu năm Bính Thân (1776) lại gặp cơn đại hạn,
đồng ruộng cháy khô, nhà nông không sao làm được công việc. Những người nghèo
khó hết qua cửa quyền nọ lại đến nhà sang kia cũng không sao kiếm được một chân
làm thuê, làm mướn. Vì vậy, trộm cướp nổi lên như rươi, khuấy nhiễu chốn dân
dã, làm cho người ta không sống yên được47.
Sau khi Ngũ Phúc qua đời, Chỉnh nương tựa nơi con nuôi Phúc
là quận Huy Hoàng Đình Bảo48.
Hồi Đình Bảo đóng ở Nghệ An, Chỉnh được sung chức võ, làm hữu
tham quân. Giữ việc điều khiển các thủy thủ chống giữ mặt biển, Chỉnh tỏ ra là
một tay nhanh nhẹn giỏi giang về nghề thủy chiến.
“Con Diều biển” (Hải diêu)! đó là cái tước hiệu người ta kêu
Chỉnh để khen tặng Chỉnh trong hồi bấy giờ49.
Chẳng bao lâu “Con Diều biển” đó được quản Tiền Ninh cơ ở Nghệ
An và được phong làm Bằng Lĩnh hầu.
Cuối đời Cảnh Hưng, Trịnh Sâm phế con trưởng là Trịnh Tông, lập
con nhỏ là Trịnh Cán. Và, để giữ vững địa vị cho con nhỏ này, Trịnh Sâm giao
quyền bính và việc gửi gắm vào tay Hoàng Đình Bảo.
Nhưng, như trước đã nói, sau khi Sâm mất, chư quân nổi cuộc đảo
chính (tháng mười, năm Nhâm Dần (1782): Phế Trịnh Cán! Lập Trịnh Tông! Giết hại
phe đảng Đình Bảo!
Tin biến động đó do biền sinh Hoàng Viết Tuyển, thủ hạ Chỉnh,
từ kinh báo đến Nghệ An: Cống Chỉnh sợ!
Đứng trước thời cục gay go đó, giải quyết thế nào đây?
Có hai cách: Một là kéo cờ độc lập, thoát ly hẳn triều đình,
Hai là… trốn!
Một ý nghĩ vụt nảy trong óc, Chỉnh vội sang bàn với trấn thủ
Vũ Tá Giao:
– Nguy đến nơi rồi! Chi bằng ta kết hạp với phó tướng ở Thuận
Hóa là Hoàng Đình Thể và đồn thủ ở Động Hải là Khôi Xuân, xui họ giết đại tướng
(chỉ Phạm Ngô Cầu), chiếm giữ lấy thành, đứng làm một tay cứu viện. Còn ông (chỉ
Vũ Tá Giao), ông cứ giữ lấy trấn Nghệ An này, gây thế “thần xỉ” (môi và răng) với
các tướng Thuận Hóa, rồi chẹn đường Hoàng Mai, đóng trọng binh ở Quỳnh Lưu. Như
vậy có thể giữ vững được lâu dài. Còn việc phòng giữ mặt biển thì chính Chỉnh
này xin cáng đáng hết. Ông tính sao?
Tá Giao lắc đầu:
– Việc ấy tôi không làm nổi.
Kế thứ nhất đó không thành. Chỉnh phải tính đến chước thứ
hai: chạy!
Chạy vào Quy Nhơn (1782), sau khi Chỉnh từ giã Tá Giao về
nhà.
Chạy vào Quy Nhơn, Chỉnh được anh em Tây Sơn hoan nghênh nhiệt
liệt!
Nguyên vì từ ngày vâng mệnh Hoàng Ngũ Phúc đem sắc, ấn, cờ,
kiếm vào cho Tây Sơn Hiệu trưởng, Chỉnh đã được anh em Tây Sơn biết là con người
thế nào rồi. Nay Chỉnh túng bước, cùng đường, phải dắt gia quyến và Hoàng Viết
Tuyển vượt biển vào đây chính là dịp tốt cho Tây Sơn lợi dụng.
“Cô gái làm đỏm vì người yêu.” Chỉnh, có thể nói, trổ tài vì
tri kỷ.
Sau khi về với Tây Sơn, Chỉnh hết lòng làm việc: nào bày mưu,
vạch kế, nào diễn đồ pháp để luyện binh lính. Nào lập phép thi để lựa chọn nhân
tài… Một việc này làm cho Tây Sơn càng thêm thân tín: Chỉnh thẳng tay giết luôn
người em rể (lấy em gái Chỉnh) khi người này vâng lịnh chúa Trịnh vào Quy Nhơn
chực dụ Chỉnh về.
Năm Bính Ngọ (1786), Phạm Ngô Cầu50 tướng Trịnh, đóng ở Thuận
Hóa, muốn dòm nội tình hư thực của Tây Sơn, có sai bọn Nguyễn Phu Như và Võ
Vĩnh Thành đi “thuyết” anh em Nguyễn Nhạc. Nhưng ngờ đâu Phu Như lại là cố nhân
của Chỉnh, trở thành một chiếc tên độc bắn lại Ngô Cầu! Bao nhiêu tình hình Thuận
Hóa, Phu Như mách bảo Cống Chỉnh hết cả, và không quên kết luận một câu: “Thực
trạng Thuận Hóa như nay, có thể lấy được lắm.”
Ngoại tình bên Trịnh bấy giờ đã nguy ngập là thế, nội tình lại
càng nhiều nỗi gay go: Từ tháng ba năm Bính Ngọ (1786), giá gạo cao lên vùn vụt,
trong kinh kỳ và bốn trấn Đàng Ngoài bị nạn cơ cận giày vò: dân đói, chết như
ngả rạ. Bấy giờ chỉ có bát gạo là đáng quý, chứ chẳng ai – dù là người giầu –
thiết đến chức tước gì cả. Một chứng cớ: Chúa Trịnh Khải ra lệnh cho dân hễ ai
quyên tiền thì được ban chức, nhưng không ai đáp theo tiếng gọi của triều đình,
đến nỗi chúa Trịnh phải đem sắc lệnh ép gán cho nhà giầu để lấy tiền mà phát chẩn.
Hạ thành Thuận Hóa
Thuận Hóa vẫn là miếng mồi ngon trước mắt thèm thuồng của Tây
Sơn.
Nội tình bên Trịnh đã đem lại cho Tây Sơn cái dịp có thể giựt
được miếng mồi ấy.
Lời Chỉnh khuyên lấy Thuận Hóa lại càng làm cho Tây Sơn quả
quyết và mau chóng thực thành ý định ấy.
Trước hết Tây Sơn sai một tay thuật sĩ đến Thuận Hóa, đem
chuyện họa phúc hăm dọa Ngô Cầu.
Sợ lời “truật” đó của tay sai bên Tây Sơn, Cầu ra lệnh cho tướng
sĩ lập đàn làm chay: chực chờ giọt nước cành dương rảy mát tâm hồn “hèn nhát”.
Chuông trống nổi...
Đàn chay linh đình…
Chẳng dè lẩn bên khói hương “cầu nguyện” kia quân sĩ Tây Sơn ầm
ầm kéo đến!
Ngày 18, tháng năm, năm Bính Ngọ (1786), dưới quyền cắt cử của
Nguyễn Nhạc, Huệ làm Long Nhương Tướng quân, tiết chế các quân thủy bộ, Võ Văn
Nhậm (người Quảng Nam, rể Nhạc) làm Tả quân Đô đốc, Nguyễn Hữu Chỉnh làm Hữu
quân. Hai đạo thủy, lục bên Tây Sơn cùng tiến nhằm theo một đích: đánh thành
Thuận Hóa.
Quân thủy đi đường biển. Quân bộ đi đường Hải Vân quan.
Ngày 24 tháng đó, quân bộ Tây Sơn qua Hải Vân quan, bốn mặt
đánh thúc vào đồn An Nông: Thủ tướng bên Trịnh là Hoàng Nghĩa Hồ51 thế cô, sức
kiệt, thuốc đạn hết, phải tự vẫn trên mình voi sau khi cố chết chống đánh một
cách anh hùng.
Đàn chay của Phạm Ngô Cầu tưng bừng rộn rịp trong bẩy ngày
đêm: lời cầu nguyện dường theo khói trầm, triện hương bay sang Thiên Trúc…
Thì tin quân khẩn báo làm choáng váng Cầu!
Lật đật từ trai đàn trở về, Cầu bàn tính việc đem quân chống
giữ.
Nhưng, quân sĩ đóng ở Thuận Hóa bấy giờ chịu ảnh hưởng xấu của
chư quân ở kinh đô, cũng kiêu rông, cũng khinh lờn kỷ luật, làm nhiều điều tàn
ngược tai hại cho nhân dân, gieo vào lòng họ một mối căm hờn vô hạn! Vả, phần
vì mỏi mệt vì binh đao đã lâu, phần vì đi xa nhớ nhà, quân lính chẳng còn bụng
dạ nào thiết đánh chác nữa!
Một bức mật thư lạc vào vòng quân Ngô Cầu. Cầu nghĩ bụng: “Thể
và Chỉnh, trước kia, đều là môn hạ Hoàng Ngũ Phúc, bây giờ, chúng bí mật thông
nhau, chắc có chuyện bất lợi cho mình! Vả, quân Tây Sơn đương như nước lụt ầm ầm
đổ đến, Đình Thể nếu lại đứng trong làm nội ứng thì ta hơi sức đâu chống nổi với
họ? Chi bằng xoay theo chiều gió, ta kéo cờ hàng là hơn…”
Bức thư gì có sức mạnh hơn trăm cây súng, nghìn lưỡi gươm thế?
Bức thư “ly gián” theo chiến thuật của Nguyễn Huệ!52
Nguyễn Huệ biết Cầu, đối với Hoàng Đình Thể, bấy nay vẫn đem
lòng ghen ghét hằn học; mà Thể bất bình trước cách đối đãi ấy của Cầu, nên Huệ
quyết dùng chiến thuật “tháo tung bó đũa ra, rồi sẽ bẻ gãy từng chiếc một”; mật
sai Chỉnh viết bức thư kín phong trong sáp, hẹn Đình Thể làm nội ứng, nhưng giả
đò bắn lạc vào nơi Ngô Cầu.
Quả nhiên kế đó đem lại cho Tây Sơn cái kết quả đẹp.
Cầu chưa tính xong nước cờ bí; Nguyễn Huệ đã kéo hai mặt thủy
bộ đến rồi!
Bất đắc dĩ Cầu phải làm việc “bổn phận”: sai Đình Thể đem
quân ra ngoài thành nghinh chiến.
Sừng sững đứng ngay bờ sông, vách thành Thuận Hóa bấy nay vẫn
ngạo nghễ với sương ghê, gió lạnh.
Chân thành cách mặt sông độ hơn 2 trượng. Một cái khó cho
quân thủy Tây Sơn, vì không tiện ngửa lên bắn vào được.
Thình lình phát đại bác bên Trịnh bắn ra: một chiếc chiến
thuyền Tây Sơn chìm lỉm!
Thủy binh Tây Sơn hơi lùi.
Sau, nước sông lên to53, nâng thuyền Tây Sơn lên cao ngang với
mặt thành.
Súng Tây Sơn theo dịp may đó, cứ đùng đoành bắn vào thành, ngốn
nuốt quân dân Thuận Hóa trong vòng khói đạn!
Các cửa thành bị quân bộ Tây Sơn rần rộ bổ vây và ầm ầm đánh
phá.
Hết sức xông pha, chống chọi, Đình Thể và hai con54 cùng quân
bản bộ đã thịt được vài trăm quân Tây Sơn. Nhưng bây giờ thuốc đạn đã hết.
Thuốc đạn hết? Tướng tài đến đau cũng đành phải bó tay!
Thuốc đạn hết? Mặc! Phạm Ngô Cầu cứ bịt tai giả điếc trước những
tiếng Đình Thể gấp rút đòi xin tiếp tế đạn dược và cầu cứu thiết tha!
Không thể nhịn tức trước thái độ tàn nhẫn đó của Cầu, Thể định
quay về thành, giết phăng Ngô Cầu trước đã, rồi lại ra quyết “ăn thua” với quân
địch sau. Nhưng Thể thấy trên thành đã kéo cờ trắng: đầu hàng rồi!
Thể vừa căm giận, vừa tức bực, nhưng vẫn không quên làm phận
sự đến phút cuối cùng:
Thể, tay cầm đoản đao, thúc quân cứ tiến, vùng sang tả, quật
sang hữu, chém giết một hồi, làm rụng đến vài mươi chiếc đầu của quân địch.
Hai con của Thể đã chết vì bị trọng thương!
Tỳ tướng Vũ Tá Kiên55 lại chết ở vòng trận!
Thể cũng tự vẫn trên mình voi, chết vì nghĩa vụ sau khi sức lực
đã kiệt và thuốc đạn đã hết nhẵn.
Bên Trịnh, đốc thị Nguyễn Trọng Đang56 và nhiều tướng khác hoặc
bị dấp dáy trong vòng loạn quân, hoặc bị vùi dập nơi hào nước, sẽ theo những hồn
cô trung âm thầm rên rỉ trên bãi sa trường trong những đêm gió mưa ảm đạm!
Nguyễn Huệ ung dung kéo binh vào thành giữa những tiếng hò
reo thắng trận của ba quân.
Để xin hàng, Cầu sợ cuống, vội sai trói mình đem nộp57 trước
gót chân nhà chiến thắng. Nhưng, van lạy người ta cũng không xong, Cầu phải làm
một tên tù binh điệu về Quy Nhơn, rồi bị giết chết tại đó!
Trước khi xảy ra trận chiến này, Thuận Hóa đã kéo bao người
Nghệ An đến để chực kiếm ăn vì Nghệ có nạn mất mùa đói kém. Ai ngờ chưa tránh
khỏi thần Cơ cận, họ lại gặp ngay con quỷ Binh đao! Họ, một hạng dân quê vì đói
phải tha hương cầu thực, bỗng bị chết oan vì khói lửa: thây xác lấp nghẽn cả
sông! Không những họ chết, ngay những tướng sĩ và “kiều dân” Bắc Hà cũng chỉ
còn được vài trăm người sống sót chạy về thôi.
Về số người chết vì trận này, Đại Nam chính biên liệt truyện
sơ tập, có chép:
Nguyễn Huệ lùa quân vào thành, tha hồ giết gióc: Vài vạn quân
Bắc ở trong thành đều bị thịt ráo! Còn những tên lính nào chạy trốn ra ngoài
thành thì lại bị nhân dân tranh nhau giết chết! (Quyển 30, tờ 19).
Còn trong Khâm định Việt sử quyển 46, tờ 16a thì chép:
Tây Sơn “ồ ạt kéo binh vào thành, tha hồ giết gióc. Trong số
hơn vài vạn tướng sĩ đóng đồn ở đấy chỉ còn vài trăm người qua sông về Bắc được
thôi.
Nhưng trong Lê quý kỷ sự chép:
… Quân Bắc vài vạn người đóng ở trong thành, bị chết không biết
bao nhiêu mà kể!
Sau khi hạ được Phú Xuân, Nguyễn Huệ sai thiên tướng (cũng
như tì tướng) là Nguyễn Lữ đánh hãm hai đồn Cát Doanh58, Động Hải59. Tướng Trịnh
đóng ở Động Hải là Ninh Tốn bỏ thành chạy. Các tướng ở đồn Cát Doanh cũng theo
gót trốn hết. Thế là mảnh bản đồ mà Trịnh Sâm trước đây đã nhọc công tốn của giựt
được khỏi tay triều Nguyễn, nay lại lọt vào trong “túi” Tây Sơn!
Tiếng ca đắc thắng vang dậy một bầu không khí Thuận Quảng.
Nguyễn Huệ hội họp chư tướng, bàn định lại sai quân lính sửa sang trường lũy ở
Động Hải, cứ giữ mốc cũ La Hà, lấy con sông đó làm giới hạn ngăn chia Nam, Bắc.
Nghe lời Chỉnh, Nguyễn Huệ ra lệnh tha về hết cả mọi người
các nơi đến nơi cư trú ở Thuận Hóa đã sống sót sau trận chiến tranh này.
Cờ chiến thắng của Tây Sơn đã cao bay ở thành Thuận Hóa, bên
Trịnh hãy còn lúng túng trầm trọng trong cơn tê liệt!
Phải, tê liệt cả mặt nội chính lẫn mặt quân sự. “Người ốm yếu”
đó sao đứng vững nổi trước sức tiến công hăng hái của Tây Sơn?
Tình hình ngoài Bắc sau khi Phú Xuân thất thủ!
Giặc!
Bên Trịnh đương loay hoay dẹp giặc.
Nhưng Thiêm Liên60, với vài trăm chiếc thuyền, vẫn tung hoành
ở hải phận Quảng Yên! Sử Thục vẫn vẫy vùng khuấy nước ở Kinh Bắc!
Hết quân nọ đi tiễu đến tướng kia đi càn, rút cục góc đông
nam ngoài Bắc Hà vẫn ngụt ngạt mùi thuốc súng và nhân dân miền đó vẫn bị các tướng
lục lâm giày vò!
Binh lực rỗng không.
Nước rỗng không.
Họ Trịnh đương dắt nhà Lê lảo đảo bên vực rỗng không!
Ngày 24, tháng năm, năm Bính Ngọ (1786), quân Nguyễn Huệ đã
vượt Hải Vân quan; biên thùy mới có tin báo đến triều đình.
Vấn đề “phòng thủ” được triều đình bệ vệ, khệnh khạng, rề rà
bàn đi xét lại.
Quyến, một hoạn quan đắc sủng với Trịnh Đoan Nam vương, tiến
cử người con nuôi tên là Mãn (có bản viết là Câu) làm Đô thống, chực cầm quân
đương đầu với Long Nhương Tướng quân.
Nhưng bàn xét một lần, hai, ba lần: việc đó đình nghị vẫn
chưa ngã ngũ!
Quân lính? Bấy giờ quen rông rỡ, sợ đi xa, không coi kỷ luật
ra gì, họ chỉ có thể làm hạng quân nhân phế Trịnh Cán, giết Đình Bảo, chứ không
thể xông pha mưa tên, rừng đạn, chống chọi với Tây Sơn!
Thuận Hóa đã ngoan ngoãn nép dưới bóng cờ của Long Nhương Tướng
quân, triều đình ngoài Bắc, ngày mồng 3 tháng sáu, mới được dịch thư (thư chạy
bằng ngựa trạm) do trấn Nghệ An mật báo đến!
Tin chẳng lành nhưng bí mật ấy, triều đình định bưng bít
không cho dân biết.
Dẫu vậy, tiếng đồn đại mất Thuận Hóa, theo gió đông nam, cứ
thổi thổi khắp dân gian!
Họ rùng rợn trước cuộc thế đổi thay! Họ cõng trẻ dắt già, nhốn
nháo bỏ kinh thành, tìm nơi
lánh loạn!
Họ, khi gặp cơn chiến tranh, cảm thấy mình bị bỏ rơi: từ tính
mệnh đến tài sản, không có gì gọi là được bảo đảm lấy một chút xíu!
Phần Thứ Hai: Bắc Tiến.
Cưỡi gió đông nam
Ngô Cầu đã rụng đầu!
Bản đồ Thuận Quảng đã bôi lại màu sắc.
Keo thứ nhất vật Trịnh đã hái được những tiếng hò reo đắc thắng
lẫy lừng!
Nguyễn Huệ, từ đây, tự do nhẩy múa quát thét trên vũ đài quân
sự và chính trị…
Đứng bên Huệ, Cống Chỉnh “lên dây cót” cho “đồng hồ thời cục”
một phen xoay chuyển…
Chỉnh nói với Nguyễn Huệ:
– Việc binh, cốt quý thần tốc. Tướng quân mới đánh một trận
đã lấy được Thuận Hóa: cái oai thần võ ấy làm cho mảnh đất Bắc Hà đã phải rung
động! Tình thế dễ dàng như giương thẳng dao chẻ tre! Tướng quân nên thừa thắng,
cứ đánh dấn đi, thì lấy thiên hạ chắc dễ như trở bàn tay. Vả, hành binh có ba
điều: “thời”, “thế” và “cơ”. Nếu gặp dịp có đủ ba điều ấy thì đâu chẳng nắm được
phần thắng? Ngoài Bắc bây giờ: tướng biếng nhác, quân kiêu rông, triều đình
không có kỷ cương gì cả! Ta nhân dịp đại thắng này mà kéo quân ra diệt kẻ loạn
vong, có khó gì? Xin Tướng quân đừng bỏ qua “cơ”, “thời”, “thế” này!
Huệ trầm ngâm:
– Bắc Hà nhân tài còn nhiều, coi khinh thế nào đặng?
– Nhân tài ngoài Bắc chỉ có một Chỉnh này thôi. Chỉnh đã đi rồi,
thì nước rỗng không! Xin Tướng quân đừng ngờ.
Huệ cười:
– Chẳng đáng ngờ người nào khác, có chăng chỉ đáng ngờ ông.
Chỉnh thất sắc, xin lỗi:
– Ý tôi muốn nói quá đi như thế: Chỉnh đã là một tên ngu đần
hèn mọn, vậy mà ngoài Bắc không ai hơn Chỉnh, đủ biết trong nước vô tài đến thế
là cùng!
Huệ lại ngọt ngào yên ủi:
– Chốc lát đi giựt lấy cái nước đã vài trăm năm kia, người ta
sẽ cho quân mình là vin vào cái danh nghĩa chi mà làm vậy?
– Nay, Bắc Hà đã có vua, lại có chúa: thật là việc đại biến
xưa nay chưa từng có. Họ Trịnh tiếng rằng phụ chính, nhưng kỳ thực hiếp đáp nhà
vua! Người trong nước, từ lâu vẫn cho làm thế là quấy! Sở dĩ họ không dám cựa
lên chẳng qua vì sức không nổi. Tướng quân quả hay vin lấy cái danh “phò Lê, diệt
Trịnh” mà hiệu triệu thiên hạ thì ai người chẳng hưởng ứng? Nghìn năm mới có một
dịp này.
– Ông nói phải lắm! Song le mang tiếng là kiểu mạng thì sao?
(Ý nói chưa được Nguyễn Nhạc sai đi, mình đã tự tiện đem quân ra Bắc: bị cho là
mạn phép làm liều thì sao?)
– Trong Xuân Thu truyện có nói: “Kiểu là chuyện nhỏ, nhưng lập
được công lại là việc lớn.” Thế là có công, sao lại gọi là “kiểu” được? Huống
chi ngài không nghe nói ư: “Ông tướng cầm quân ở ngoài dù có mạng lịnh nhà vua
truyền ra cũng mặc?”
Cuộc trao đổi ý kiến này là một chương trình, một phương lược
xoay lại thời cuộc hồi cuối Lê trung hưng, là những nhát thuổng, nhát cuốc sắp
bổ trên nền tảng mà chúa Trịnh Kiểm đã xây bằng những viên đá “tái tạo nhà Lê”
rất kiên cố, cũng lại là cái thang để Nguyễn Huệ từ nấc Long Nhương Tướng quân
trèo lên bực Bắc Bình vương, rồi leo lên cái nấc Quang Trung Hoàng đế.
Bốn chữ “phò Lê diệt Trịnh” thật là cái lá nhãn “chính trị” để
Tây Sơn lợi dụng mà diễn tấn hài kịch “thay họ đổi ngôi!”
Cái động cơ Chỉnh khuyên Huệ kéo quân ra lấy Bắc Hà, có người
bảo, là do Chỉnh muốn báo thù cho Hoàng Đình Bảo và muốn tiện bề quay về cố
hương nên mượn thế lực Tây Sơn để đạp đổ Trịnh Tông, diệt phăng họ Trịnh.
Nói vậy không phải là người biết Chỉnh. Chỉnh là một tay gian
hùng. Cái gì có lợi cho Chỉnh thì Chỉnh mới làm, chứ có nghĩ gì đến tình với
nghĩa. Cái khẩu hiệu “phò Lê” của Chỉnh chỉ là chuyện nhân nghĩa hão để phỉnh gạt
dân chúng Bắc Hà bấy giờ đấy thôi. Chứng cớ: sau được vua Lê Chiêu Thống vời Chỉnh
vào kinh hộ vệ, Chỉnh lại theo gót chúa Trịnh, hết sức hiếp đáp vua Lê. Chỉnh,
đối với vua Lê còn thế, huống chi Đình Bảo? Vậy có thể nói: Việc Chỉnh vạch đường
“Bắc tiến” cho Tây Sơn quyết không phải vì lòng muốn đền bồi Đình Bảo, cố đánh
Trịnh Tông để trả thù cho chủ nhân xưa nay vậy!
Nguyễn Huệ, sau khi bị Chỉnh uốn lưỡi thuyết siêu, không ngần
ngại gì mà không gươm, cờ thẳng chỉ ra Bắc.
Công việc Bắc tiến tức thì sắp đặt: Chỉnh làm thủy quân tiên
phong, sửa soạn chiến thuyền, đem thủy quân vượt biển đi trước. Huệ hẹn với Chỉnh:
khi đến Vị Hoàng (nay là Nam Định) thì cướp lấy kho lương ở đó, rồi đốt lửa làm
hiệu để báo tin cho Huệ biết.
Để Nguyễn Lữ đóng giữ Thuận Hóa, Huệ viết thư về Quy Nhơn báo
cáo cho Nhạc biết, rồi gươm sai, cờ vía, Huệ đốc suất hai mặt thủy lục ầm ầm rần
rộ kéo ra.
Chỉnh đem quân đi, trước ra cửa Việt Hải61, rồi vào bến Nghệ
An. Đến đâu cũng sai vài trăm du binh lên bộ đánh phá ở đó, làm cho quân thanh
thêm mạnh, chiến khí thêm hăng và khiến dân tình bên Trịnh càng thêm xao xuyến,
khiếp sợ.
Chậy! Chậy! Bọn Bùi Thế Tụy62, Tạ Danh Thùy, là những trấn tướng
ở Thanh, Nghệ đều bỏ thành chạy!
Chỉnh đến Vị Hoàng trước nhất, lấy được trăm vạn hộc63 thóc
dùng làm quân lương, (ngày mồng 6 tháng sáu năm Bính Ngọ, 1786).
Đồn binh bên Trịnh đóng ở đấy cũng theo mấy tướng Thanh, Nghệ
mà chạy trốn nốt!
Xa xa thấy lửa hiệu bốc lên từ khoảng sông Vị, non Côi, Nguyễn
Huệ biết quân Chỉnh đã hái được bông hoa “thắng lợi” đầu mùa, lại càng nức lòng
hăng hái, tức thì dẫn một nghìn chiến thuyền, vượt biển ra Bắc.
Gió đông nam thổi… thổi mạnh!
Cưỡi gió thuận, lướt dòng xuôi, đại đội chiến thuyền cứ vùn vụt
tiến.
Trên trời, dưới nước mênh mông, cái nhuệ khí của quân Tây Sơn
bấy giờ có lẽ đánh bạt cả loài thủy tộc!
Viết đến đây, kẻ cầm bút này lại chạnh nhớ đến mấy câu của
nhà văn Tô Thức tả cái hào hùng của Tào Mạnh Đức trên sông Xích Bích đầy oai
thanh:
“… Phương kỳ phá Kinh Châu, hạ Giang Lăng, thuận lưu nhi Đông
dã: Trục lư thiên lý, tinh kỳ tế không… cố nhất thế chi hùng dã!...”64
Mấy câu này, không ngờ ngót ngàn năm sau lại hợp như in vào cảnh
anh hùng Nguyễn Huệ khi cưỡi gió đông nam, kéo thủy binh từ Nam ra Bắc dưới những
bóng cờ rợp trời và giữa những tiếng hò reo vui vẻ của toán hùng binh đắc thắng.
Kéo quân đến Vị Hoàng, Nguyễn Huệ họp binh với Chỉnh: thanh
thế càng thêm mạnh lắm.
Thực lực bên Trịnh?
Bao nhiêu những cái ươn hèn, đớn kém của các tướng trấn thủ ở
biên thùy đã kéo hết tấm màn “màu mỡ” để lộ cho người ngoài trông thấy những
cái ẩn tình “thối nát” ở trong mà bấy nay họ vẫn giữ rất bí mật.
“Đùng! đùng! đùng…” Tiếng súng quân Tây Sơn đã ầm ĩ ở cửa
ngõ!
“Loạn to! Loạn to! Loạn to…!” nhân dân nhìn nhau bằng con mắt
kinh hoảng, thất vọng! Họ là hạng người sống không được bảo đảm. Bấy lâu họ, đối
với triều đình, chỉ phải làm nghĩa vụ chứ không được hưởng quyền lợi tí gì!
Trông về tương lai, ai sẽ là người nâng đỡ họ?
Trước đó, vấn đề “Phú Xuân” là một việc rất quan trọng trong
chương trình nghị sự của Chính phủ.
Trong đám phủ liêu65 nhiều người đề nghị:
– Thuận Hóa xa xôi vốn không phải là bờ cõi của triều đình,
Tiên triều vì không suy kỹ, nghĩ sâu, nên mới nay đi chinh phạt, mai đặt thú
binh (quân đóng canh giữ), rầm rầm rộ rộ, rút cục chỉ hao công, tốn của, chẳng
được ích gì! Bây giờ phe địch lấy mất Thuận Hóa cũng là một cái may cho ta, vì
ta khỏi phải đặt thú binh cho thêm nhọc nữa. Thiết tưởng nay ta chỉ nên định rõ
cái cương giới cũ, rồi cắt quân đóng giữ từ Nghệ An trở ra Bắc là hơn. Vì Thanh
Hoa có lăng tẩm cần phải giữ và ở đó có địa hiểm có thể giữ vững được. Ta cho mất
Thuận Hóa là may, thì họ chắc cũng lấy sự xâm lấn ta làm gương răn lại. Vả,
“quân mọi phản nghịch” kia được ăn miếng ấy đã no nê rồi, nó đâu dám đột nhiên
xông ra nữa?
Luận điệu đó đánh ngay vào chỗ yếu của những bộ óc lười biếng
nhút nhát và cầu an, được cả triều đình tán đồng.
Từ đó, ai nấy yên tâm trong giấc mơ màng: hình ảnh Tây Sơn bị
xóa nhòa trong trí nghĩ.
Nay?
Trấn Nghệ An đã tan!
Trấn thủ Bùi Thế Tụy đã chạy trốn sau khi đốt cháy dinh trại.
Nguyễn Như Thái đã được Nguyễn Huệ đặt lên ngồi ghế trấn thủ
Nghệ An. Trấn Thanh Hoa cũng vỡ: Thùy Trung hầu Tạ Danh Thùy, trấn thủ ở đó,
cũng chạy nốt!
Những tin sét đánh đó choáng tai Trịnh Khải.
Làn sóng “kinh hoàng” tràn ngập khắp cả đô thành!
Để đối phó với tình hình gắt gao, Trịnh Khải sai Thái Đình hầu
Trịnh Tự Quyền làm thống lĩnh, đem quan quân trong 27 cơ hiệu đi Thanh Nghệ
nghinh chiến.
Quyền, chùng chình hơn 10 ngày, mới gắng gượng cất quân ra
đi. Khi Quyền vừa kéo quân lìa khỏi Hoàng Thành được 30 dặm, quân Tây Sơn đã
kéo gió đông nam, “bay” đến Vị Hoàng với cái thắng lợi oanh liệt (Bính Ngọ,
1786).
Chúa Trịnh phải đổi lại mệnh lệnh điều khiển:
Ra giữ Sơn Nam: Trịnh Tự Quyền.
Đốc suất thủy đạo: Đinh Tích Nhưỡng66.
Để gây thế “ỷ dốc” với lục quân của Quyền, Nhưỡng đem các đội
thuyền Vệ tả, Vệ hữu, Ngũ hầu, Ngũ thiện và Ngũ Trung trạch đến đóng ở cửa sông
Lục Môn67.
Hoàng Tư Quyền đóng đại đội ở Kim Động (nay thuộc Hưng Yên).
Chướng Trung hầu Đỗ Thế Dận68 trấn thủ Sơn Nam, đem bộ binh
dàn ở bờ sông Phù Sa69.
Đinh Tích Nhưỡng dàn chu sư trong sông Lỗ Giang, bày thành trận
thế chữ “nhất”.
Gió đông nam dào dạt thổi70.
Nước lụt mới rút cạn.
Đội tiền phong Tây Sơn giương buồm thẳng tiến…
Theo sau năm chiếc thuyền mông xung71, đại quân “Đàng Trong”
cứ mạnh mẽ lướt sóng.
Thấy thuyền mông xung bên địch xông đến, Nhưỡng hô quân nạp đạn
vào súng “bảo lân” ùa ạt bắn…
Để tránh trận mưa đạn, quân Tây Sơn tạm lui vào bến sông.
Đàn dơi chao chát đớp muỗi trên mặt sông.
Màn tối cuốn cảnh vật vào trong đêm trường rùng rợn.
Khác với lúc thường, khúc sông Lục Môn đêm nay “sống” trong cảnh
tượng hoạt động dưới bóng đèn đuốc lập lòe.
Lừ đừ vài mươi chiếc thuyền, nghênh ngang kẻ vác giáo, người
cầm kích, thuận buồm cứ tiến… tiến bức đến tận tiền đội bên quân Trịnh.
Nhưỡng thúc quân hăng hái bắn. Xa xa nhận thấy một chiếc thuyền
Tây Sơn bị đắm chìm.
Nhưng còn các thuyền khác? Càng bắn, càng thấy im lặng, im lặng
như tờ, không một ai bắn lại. Cũng không một ai theo giọng chế giễu của quân
Đông Ngô xưa mà hô lớn: “Tạ ơn Thừa tướng cho tên”!
Trời đã sáng. Trí Nhưỡng bấy giờ mới sáng.
Mấy chục chiếc thuyền ấy? Rặt thuyền không!
Bọn quân bơi chèo, cầm binh khí kia? Toàn bồ nhìn!
Thôi, mắc mưu Nguyễn Huệ rồi! Đinh Tích Nhưỡng đã hi sinh hết
cả thuốc đạn để đổi lấy mớ xác “bồ nhìn”!
Phải bỏ thuyền, quân Nhưỡng chạy lên cạn!
Đại đội binh thuyền Tây Sơn kế tiếp sấn đến.
Đạn súng đại bác vèo vèo bay.
Nhiều cây cổ thụ trên bờ răng rắc gẫy!
Trước cái sức mạnh đó của súng đạn Tây Sơn, quân Nhưỡng hoảng
sợ.
Nguyễn Huệ thúc toàn quân lanh lẹ xông lên bờ, hăng hái đuổi
đánh…
Quan quân Bắc Hà chết như ngả rạ! Người nọ gối lên người kia!
Đinh Tích Nhưỡng? Chiếc thân chạy thoát!
Quân Đỗ Thế Dận? Bỏ trận chạy trốn!
Quân Trịnh Tự Quyền! Chưa đánh chác gì đã tự tan vỡ trước!
Thuyền Tây Sơn cứ tiến và tiến mãi đến Hiến doanh.
Thế là trấn Sơn Nam hoàn toàn lọt vào tay Nguyễn Huệ (ngày
24, tháng sáu năm Bính Ngọ, 1786).
Vấn đề “chiến thủ” lại được Trịnh phủ rối rít gấp rút bàn.
Một phương sách sau này nếu được ứng dụng có lẽ Long Nhương
Tướng quân Nguyễn Huệ chưa chắc đã cắm cờ thắng trận trên thành Thăng Long một
cách dễ dàng:
Nguyễn Lệ72: cựu Tham tụng! Hớt hải đến từ Nghệ An dâng kế
cho Trịnh Khải:
– Nên cắt tướng giữ lấy kinh thành. Còn chúa thì hộ giá Lê
Hoàng lánh đi Sơn Tây: nắm giữ lấy miền thượng du để tính nước đi về sau. Ở
khúc sông bên bãi Tự Nhiên nên thả chông chà để át thuyền bè bên địch. Bổ đồn
đóng bộ binh ở hai bên bờ sông để giữ cho khỏi xổng xểnh. Lại dùng và ban quan
tước cho bọn thủy phỉ (giặc cướp trên đường thủy) khiến chúng khuấy rối mặt sau
thủy quân của Tây Sơn. Tây Sơn mượn tiếng tôn phù, nếu không níu được vua Lê
thì lui tới đều bất lợi. “Quân mọi”, lương hết, thế tất không ở lâu được. Ta
nên truyền hịch cho các hào mục ở miền Thanh, Nghệ dấy binh chẹn lối họ về. Như
thế dù không bắt sống được Nguyễn Huệ, cũng làm Tây Sơn phải bị trọng thương.
Chứ giờ đánh với họ thì tất nhất bại đồ địa, vì tụi kiêu binh của ta không thể
dùng được.
Chiến thuật ấy của Nguyễn Lệ suýt được chúa Trịnh làm theo
nhưng lại bị kiêu binh phá đám!
Vu vạ cho Lệ dắt “giặc”về nhà, bọn kiêu binh tụ họp lại, ồn
ào, rầm rĩ, thả hơi huyên náo vào bầu không khí rối ren. Rồi chúng sùng sục chực
bắt giết Lệ. Lệ phải chạy lên Sơn Tây.
Tình hình Bắc Hà càng phút càng trầm trọng!
Nhân dân ngong ngóng đón ngày tương lai, tốt đẹp hơn…
Một lá hịch giết một đời vương
Nguyễn Huệ, sau khi hạ được Sơn Nam, truyền hịch đi khắp các
lộ, tỏ bày công việc diệt Trịnh, phò Lê.
Như mưa trút, gió giựt, tin quân tấp nập từ biên thùy bay về
Trịnh phủ, làm cho các “ngài” mão cao áo rộng trống ngực thình thình!...
Chiến?
Thủ?
Tính sao đây?
Chẳng một ai dám thò tay gỡ mối tơ vò ấy! Cũng chẳng một ai
muốn đeo đá vào mình!
Quan võ cũng như quan văn, thảy đều bối rối hoảng sợ, tất tả
lo việc gia đình: giữ vợ gìn con, chôn tiền, giấu của… Quân sự? Mặc! Việc dân,
việc nước? Cũng thây!
Chạy loạn!...
Dân chúng nhôn nhao chạy loạn! Cõng trẻ, dắt già, rình rịch
luôn mấy ngày, họ bỏ thành chạy trốn. Nhưng trốn vào đâu? Vào lối tiền đồ tối
tăm, không đảm bảo!
Trong cơn gấp rút, Trịnh Khải cố đi một nước để gỡ thế cờ bí:
với quận Thạc Hoàng Phùng Cơ đem năm trăm quân nghĩa dũng từ Sơn Tây về kinh hộ
vệ.
Mấy lời hăng hái của quận Thạc, khi vào ra mắt, làm cho chúa
Trịnh càng thêm phấn khởi tinh thần:
– Chín cha con nhà tôi xin đem cái chết để đền ơn nước, chứ
quyết không chịu cùng sống với giặc!
Trầm trồ khen, rồi chúa Trịnh ban cho 5.000 lạng bạc để Phùng
Cơ dùng vào việc binh.
Lấy tư cách vị lão tướng, gánh công viêc “phi thường”, Cơ
xách túi bạc ra, lo việc binh bị. Trong một ngày “bạo vì tiền”, Cơ mộ được hơn
nghìn thủ hạ.
Quận Thạc, cùng tám con (kể cả rể)73, đem binh ra đóng ở hồ Vạn
Xuân74.
Tứ thị thủy sự dàn thuyền ở bến Thúy Ái75.
Còn chúa Trịnh? Mặc nhung phục, cưỡi voi, đem hết binh lính
trong thành ra ngoài cửa Tây Long76, bày trận ở dưới Ngũ Long lâu: hỏa pháo bắc,
binh trượng bày, quân hộ vệ san sát… (ngày 25, tháng sáu, năm Bính Ngọ, 1786).
Gió đông nam vẫn lộng!
Mặt thủy vô cùng xung yếu!
Đánh tan chu sư của Đinh Tích Nhưỡng, Tây Sơn làm chủ suốt cả
một dải trường giang.
Thừa thắng, Nguyễn Huệ kéo quân thẳng tiến kinh kỳ.
Cờ rợp trời. Trống trận lay động sóng. Quân Tây Sơn cặp bến
Nam Dư.77
Bỏ thuyền, lên cạn, họ đánh úp quân tứ thị thủy hiệu của Trịnh
ở cửa sông Thúy Ái (ngày 26, tháng sáu, năm Bính Ngọ, 1786).
Trận đánh úp này cực kỳ thần tốc, nên quân Trịnh không kịp trở
mình, phải đại bại dưới bóng cờ Long Nhương Tướng quân.
Số là, lầm tưởng quân Tây Sơn vẫn còn ở xa, quân Trịnh không
để ý đề phòng, cứ việc phóng tâm: neo thuyền, lên bãi, tỏ vẻ ung dung trong lúc
đáng phải cơ cảnh cẩn mật. Chẳng dè đại đội chu sư “Đàng Trong” ập đến, đánh rốc
vào chiến tuyến Thúy Ái ở Thanh Trì. Quân Trịnh bối rối hoảng hốt, không kịp xuống
thuyền, tán loạn chạy!
Quân Nam vặn súng cự thuần ầm ầm bắn… bắn chết được người chiến
sĩ can đảm nhất bên Trịnh: Ngô Cảnh Hoàn78, quản tiền phong cơ.
Thuận dao chẻ tre, Tây Sơn bắt được hết cả thuyền mành và khí
giới của Trịnh.
Trước đó, thấy đồng bạn tan vỡ, tình thế nguy ngập, Ngô Cảnh
Hoàn cứ làm phận sự đến phút cuối cùng: tay cầm thanh đao, đứng ở đầu thuyền
Trung Trạch, cự chiến hơn một khắc. Sau thế cô, sức kiệt, trúng đạn của súng cự
thuần bên Tây Sơn, Ngô phải gửi mình xuống dòng Thúy Ái trong mát.
Trận thua! Chồng chết! Một cái tang đau đớn cho Phan Thị Thuấn,
ái thiếp của Ngô.
Nhưng nàng Phan cứ trấn tĩnh với can đảm và nghị lực, âm thầm
trong cảnh sinh hoạt quê mùa, nàng vẫn bận thường phục, có khác chăng chỉ kém
lúc thường cái vẻ diêm dúa, óng ả và trau chuốt. Nàng cười nhạt trước những tiếng
mai mỉa nông nổi và những cái ngấm nguýt lố lăng! Nàng trả lời họ bằng việc làm
sau khi quân Tây Sơn rút khỏi Bắc Hà: Mặc đồ tang, nàng đến bên sông Thúy Ái, tế
một tuần, khóc một đêm rồi lênh đênh một chiếc thuyền con, dưới vòm trời âm u
thảm đạm, nàng tìm bạn trăm năm nơi Thủy phủ!
Thanh danh nàng đã rửa mặt cho quân Trịnh: cái nhục thua trận
ở sông Thúy Ái này.
Sau khi bắn chết được Ngô Cảnh Hoàn, quân Tây Sơn đổ xô lên cạn,
xông đánh vòng trận Phùng Cơ.
Quân Phùng Cơ, bấy giờ, đang ăn. Thấy quân Nam ập đến, ai nấy
kinh khiếp rụng rời, không kịp xếp thành hàng ngũ, chạy hoảng như đàn cừu trước
miệng sói hung hăng!
Xông ra chận đường quân Tây Sơn, Mai Thế Pháp79, thuộc tướng
của Phùng Cơ, vác đao, thúc ngựa, tỏ gan mật trên chiến trường. Pháp vẫn đánh
và cứ đánh mặc dầu bộ thuộc đều tan vỡ cả.
Giết được hơn 10 người quân “Đàng Trong” bằng cái khí lực vụt
hăng vì sắp tàn tạ, Pháp túng thế quá, phải nhảy tùm xuống sông với thanh đại
đao vẫn khư khư vác.
Quận Thạc, thấy quân Tây Sơn đánh rát tới nơi, sáu con đã phải
làm mồi cho đạn súng và mấy chục thủ hạ cũng đã chết tại trận rồi, bất đắc dĩ
phải cùng con trai là Hoàng Phùng Gia và con rể là Nguyễn Trọng Thu80 cố sống
chết, cướp lấy một đường chạy về Hưng Hóa.
Không đuổi theo Phùng Cơ, quân Tây Sơn được thể, cứ việc xông
pha chém giết: quân Trịnh làm mồi cá trong hồ Vạn Xuân không biết bao nhiêu mà
kể.
Phá được quân Phùng Cơ rồi, Tây Sơn, trống đánh vang trời, rần
rộ kéo thẳng đến bến Tây Long bắn “hỏa hổ” ầm ầm dữ dội…
Trịnh Khải, tay cầm cờ lịnh, cố thúc chư quân xông vào chống
đánh, song chẳng ma dại nào dám liều mạng hi sinh!
Tây Sơn bỏ thuốc súng vào ống, đốt lửa ném ra: Quân Trịnh
không sao đương nổi.
Họ lại lấy hỏa hổ đốt voi bên Trịnh: voi sợ, chạy cuống81!
Cơn thất bại đang hầm hầm trút xuống! Trịnh Khải thúc voi
quay về thành, chực vào vương phủ, nhưng đến cửa Tuyên Võ thì thấy cờ Tây Sơn
đã ngạo nghễ bay trên sào huyệt “nhà chúa” rồi. Lật đật do cửa An Hoa, Khải chạy
về phía tây. Theo sau chúa Trịnh còn có hơn trăm quân tàn (ngày 26, tháng sáu,
năm Bính Ngọ, 1786).
Ngai “chúa” họ Trịnh cũng theo gót Khải đổ từ đây!
Trận này Nguyễn Huệ càng tán thán cái sức hùng cường của quân
mình, càng phải ngạc nhiên trước cái bất lực của quân Bắc: đánh chác toàn nhờ
Nghĩa binh, còn Ưu binh và Nhất binh ăn hại công khố, bấy lâu đến nay chỉ là
đàn vịt chạy dài!
Đắc thắng! Nguyễn Huệ kéo quân vào thành Thăng Long với cái
triêu khí đang hăng hái.
Thần Tàn phá đang lù lù xông đến: bao nhiêu nhà cửa quanh Trịnh
phủ, sau một cơn khói lửa, chỉ còn mảnh vụn tro tàn.
Để thưởng tướng sĩ cái công vào tử ra sinh, Nguyễn Huệ, nhà
chiến thắng, đem phân phát cho họ hết các gấm, vóc và vàng báu trong Trịnh phủ.
Rồi lại đó, Nguyễn Huệ đóng quân, sống những phút huy hoàng xán lạn của đời
vương giả.
Kho Hữu viên mở rộng: nhân dân ở xung quanh kinh thành nhờ
bàn tay “Đức Lệnh” Tây Sơn, được hưởng cái ơn chẩn tế.
Trật tự trong thành hoàn toàn khôi phục, sau khi lệnh chiêu
an ban bố khắp nơi.
Bá cáo với dân nước? Nguyễn Huệ, muốn tỏ ý phò Lê, vẫn dùng ấn
“Ngự tiền chi bảo” của vua Hiển Tông. Còn hiệu lệnh trong quân, Tây Sơn dùng
riêng ấn chương đề chữ “Phụng Thiên thảo tội”.
Những nhà còn lại trong thành, muốn tránh sự cướp phá, đều tỏ
ra không phải về phe với Trịnh. Mấy chữ này đề ở cổng ngõ dùng làm cái bùa hộ
thân: “Nội điện82 gia thần” hoặc “Hữu quân83 gia thuộc”.
Giữ kỷ luật và theo quân lệnh; quân Tây Sơn rất nghiêm, không
hề xâm phạm của dân một mảy tóc.
Khi quân Tây Sơn mới đánh đến Vị Hoàng, nhiều tay trung thần
của chúa Trịnh vội ôm hai chữ “Cần vương” đi kêu gào thiên hạ: Chính thần
Trương Đăng Quỹ84 và Thiêm Sai tri lại phiên Lý Trần Quán85 đều chạy theo cái mục
đích đó.
Nhưng quân Cần vương chưa mộ xong, “vương” (chỉ chúa Trịnh Khải)
đã bị bắt làm tù binh và tự
chết rồi!
Nguyên, sau ngày 26, tháng sáu, năm Bính Ngọ (1786), Trịnh Khải
thua trận cuối cùng ở Tây Long, phải chạy lên Sơn Tây. Định ẩn náu ở làng Giao
Cốc, Khải sẽ liệu tính nước gỡ lại sau này.
Khi qua làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, chư quân đã trốn hết, Khải
vào ngồi trong một cái quán, nói vờ là quan Hành tham long đong chạy loạn86.
Rồi người cho gọi Lý Trần Quán đến để bàn việc vì Khải biết
Quán đương hoạt động ở vùng đó.
Bái quỵ! Một thứ lễ đã làm cho Khải thêm oai trong bình thì,
chẳng dè chính nó lại làm cho Khải bấy giờ – thời loạn – phải chết uổng!
Quả thế, cái lễ nghi “bái quỵ” đã giết Trịnh Khải trong khi
chạy loạn!
Nguyên, Lý Trần Quán được triệu đến, thấy Khải đang diễn cái
cảnh “mạt lộ” của hạng “vua thua chạy dài”87 tức thì thụp xuống toan làm lễ lạy
chào: tỏ lòng “tôi con” trung nghĩa.
Khải tinh ý, vội đưa mắt gạt đi vì sợ người ta nhân đó biết
ngay rằng mình là ông “chúa” bại trận.
Món buôn có lời đây! Một dịp làm nên phú quý đây!
Cái cử động giữa Quán và Khải đó đã lọt vào mắt thèm thuồng
danh lợi của bọn Nguyễn Trang (tức tuần Trang) và Nho Liễu, người làng Hạ Lôi.
Họ sau khi biết đích “quan Hành tham giả hiệu” ấy chính là
chúa Trịnh, tức thì đem vài chục đồ đảng ập đến vây bắt Trịnh Khải khi vừa rời
khỏi địa phận làng Hạ Lôi một chút.
Trịnh Khải bấy giờ là một “mối lợi” đối với bọn người hám “miếng
lập công”: Tên Ba, người làng Vân Điềm88 cũng xông xáo vào chực cướp lấy chúa
Trịnh nhưng không được!
Hay tin chúa Trịnh bị bọn Trang bắt sống, Quán lật đật chạy đến,
lấy nghĩa lý khuyên bảo họ, song Trang giội ngay thùng nước lạnh vào lòng sốt sắng
của Quán bằng câu tàn nhẫn này:
– Sợ thầy89 không bằng sợ giặc. Yêu chúa không bằng yêu mình.
Lời đạo đức của Quán đã không thuyết nổi Trang!
Giọt nước mắt, tiếng van lơn của Quán lại không xiêu được
lòng Trang!
Giữa đêm tối mò mò, khí nóng nồng nàn bức bối, bọn Trang điệu
Trịnh Khải xuống thuyền, định trở lên kinh đô Thăng Long để nộp lấy thưởng.
Khi chưa đến bến Tây Long, trong lúc mọi người không để ý, Khải
biết cơ không thoát được, liền rút dao tự đâm vào cổ. Vết thương còn nhỏ, sợ
chưa chết ngay được, Khải lại thò ngón tay vào móc thêm cho toạc rộng ra (đêm
28, tháng sáu, năm Bính Ngọ, 1786).
Qua ngày 2990, Lý Trần Quán cũng sửa soạn tự chôn sống.
Trước khi chết theo Khải, Quán còn cầm bút viết: “Nước vỡ (!)
nhà tan, mình làm chức phủ dụ, chẳng được việc gì, thà chết còn hơn! Chỉ hận một
nỗi: không chết trước chúa, lại chết sau chúa!”
Huyệt đã đào xong.
Quan tài đã lù lù đặt.
Lý Trần Quán áo mão chỉnh tề, khảng khái đi tìm cái chết91.
Đậy nắp quan tài rồi! Người ta định luận: Lý Trần Quán chết
theo Trịnh Khải!
Xác Khải đã bị nộp. Nguyễn Huệ cho đặt ở ngoài cửa Tuyên Võ,
rồi vỗ thây Khải: “Tiếc dữ! Một trang nam nhi như thế này can chi mà phải vội
chết! Giả sử biết đàng lui tới, mang mình về với ta đây, đi đâu chẳng giữ được
phú quý?”
Quan ván và đồ khâm liệm Trịnh Khải được Nguyễn Huệ lo liệu
cho một cách chu đáo. Qua hai ngày sau, Huệ cử hoàng điệt Duy Quyết trông coi
việc tang, theo lễ vương giả, táng Trịnh Khải tại đồng Dịch Vọng (thuộc phủ
Hoài Đức, tỉnh Hà Đông).
Đến đây, họ Trịnh hoàn toàn thất bại, người Bắc Hà đua nhau
truyền tụng bài hịch do Cống Chỉnh đã thảo dưới cái danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh”,
trong có những câu sau như:
“Cơn gấp khúc chẳng thương lòng ngoại tộc, đã không rừng đuổi
thú thì thôi;
Dấu cưỡi rồng còn đợi đức Tiên quân, lại cuốc lỗ cày sân sao
phải!”
Còn Nguyễn Trang? Được bổ làm trấn thủ lộ Sơn Tây, phong
Tráng Liệt hầu (hoặc Tráng Nghĩa hầu)92.
Chúa đã chết, nhưng chưa hết chuyện triều đình!
Trận thay nhà đổi họ này là một tai vạ lớn trút trên đầu trên
cổ thằng dân thời đó!
Trong khi hỗn quân, hỗn quan, trật tự chưa lấy lại được, dân
chúng hạng người không tên, không tuổi phải rốc cạn bao chén cay đắng trong cuộc
biển dâu:
Họ kéo nhau xô bồ chạy ra khỏi thành, đi tìm nơi ẩn náu trong
cái tương lai đầy bất trắc!
Nhưng, vừa rời khỏi kinh đô Thăng Long, là lò sát sinh chỉ chực
làm thịt những kẻ vô tội, họ gặp ngay “hung thần” cướp bóc đứng chận đường: Rắn
bắt nhái, chim sẻ mổ bọ ngựa! Bọn “chạy loạn” nay là cái mồi ngon cho những kẻ
hung tàn ở phụ cận quanh thành nổi lên như nấm!
Xóm cạnh làng bên tàn phá lẫn nhau.
Quần áo bị bóc lột.
Tiền nong bị cướp giựt.
Tiếng kêu khóc như ri vang động một góc trời đầy sát khí.
Đường xá vắng tanh nhuộm sắc chết.
Gia dĩ, bọn tàn binh, sau cơn thua trận, chạy tản khắp nơi.
Chúng cầm gươm, vác súng, kéo đi từng đàn hàng trăm hàng nghìn đứa. Chúng là
cái tai vạ ghê gớm cho nhân dân. Trẻ chăn trâu bò hễ thấy chúng kéo đến, thì sợ
hãi rụng rời, bỏ của chạy trốn.
Bức tranh loạn ly treo khắp dân gian! Người ta, từng giây, từng
phút hồi hộp trong cơn khủng bố kinh hoàng!...
"Đừng lung lạc ta bằng cái danh hão!"
Sau khi thành Thăng Long hoàn toàn lọt vào tay quân Tây Sơn
và Trịnh Khải đã cuốn hết cơ đồ vương bá xuống nơi ở cuối cùng, Nguyễn Huệ sai
chư tướng đem quân đóng giữ Hoàng Thành, lấy lại trật tự. Quân lính Tây Sơn rất
nghiêm, không lấy của ai một mảy tóc. Người Bắc Hà bấy giờ gọi họ là “cha” vì
“cha” là tiếng dân tục đương thời dùng kêu quân lính93.
Ngày 26, tháng sáu (Bính Ngọ 1786), Nguyễn Huệ cho người vào
nói với vua Lê Hiển Tông: xin đến ngày mai, sẽ vào bệ kiến.
Qua bữa sau, Huệ dẫn các tướng bộ hạ là bọn Cống Chỉnh vào điện
Vạn Thọ, xin yết kiến vua Lê94.
Vị quý khách đó được mời lên điện thượng.
Thấy Nguyễn Huệ làm lễ, vua Hiển Tông vội sai người đỡ dậy, rồi
mời ngồi ở một cái sập riêng kê ở bên giường ngự. Vua Lê thăm hỏi bằng giọng ôn
tồn.
Nguyễn Huệ trước còn rụt rè không dám, sau vì cố ép, mới ghé
ngồi vào cuối chiếu.
Nguyễn Huệ nói nhún:
– Tôi vốn là kẻ mặc áo vải ở Tây Sơn, nhân thời thế mà nổi dậy.
Bệ hạ tuy không cho cơm ăn, áo mặc, nhưng tôi ở cõi xa xôi, bấy lâu vẫn kính mến
thánh đức. Bữa nay được nhìn thấy mặt trời, đủ giãi được tấc lòng khao khát. Họ
Trịnh vô đạo, hiếp đáp hoàng gia, nên trời mới mượn tay tôi: một trận phá triệt
ngay đặng. Ấy là nhờ oai đức Bệ hạ hết thảy.
Vua Lê úy lạo:
– Ấy là võ công của Tướng quân cả, chứ quả nhân nào có tài đức
gì!
– Tôi chỉ cốt tôn phò, chứ dám kể đâu tới công lợi. Việc ngày
nay đã xảy ra như thế thiệt bởi lòng trời xui nên hết thảy. Kể đến việc binh
thì tôi cất đặt đặng quân lính, điều khiển đặng chiến thuyền; song lẽ tôi có sức
chi khiến được nước lụt phải cạn, gió đông nam phải thổi ào ào? Thế là trời có
ý xui Bệ hạ phấn chấn kiền cương, thống nhất bờ cõi. Từ giờ xấp đi, Bệ hạ cầm
cương, nảy mực, khiến cho trong êm, ngoài ấm, thì tôi đây cũng được ơn nhờ.
Nói dứt, Nguyễn Huệ trỏ Cống Chỉnh mà rằng:
– Người này là cố thần của Bệ hạ! Tôi được tới đây chính là
nhờ người này giúp sức đó.
Vua Lê nói lấy lòng:
– Nhưng, Chỉnh được đến đây cũng là nhờ Tướng quân làm thành
cho chứ!
Nghe vua Hiển Tông nói vậy, Chỉnh liền khấu đầu lạy tạ.
Chén trà thơm phức bốc một khí nóng hôi hổi, dấu hiệu một cuộc
thân thiện đằm thắm nhưng chóng phai tàn.
Nguyễn Huệ nhắp chút hương vị của chén trà “đế vương”, nhưng
không nhuần thấm được lòng dục vọng khát cái tương lai vĩ đại.
Nói chuyện hồi lâu, Huệ mới từ tạ lui gót.
Sau cuộc bệ kiến này, Đức Lệnh Tây Sơn không khỏi cười thầm
những cách cử động nhỡ nhàng, thưa gửi dớ dẩn của bọn gia thần hậu chực ở điện
thượng
vua Lê.
Cái cớ làm cho vị quý khách ấy phải cười? Chỉ vì, trong khi
kinh thành tan vỡ, bách quan chạy trốn, không còn ai là người đủ tư cách xứng
đáng ứng tiếp vị thượng tân nhà vua!
Vì vậy, sau cuộc hội đàm này, vua Hiển Tông nghe theo lời Chỉnh,
phải gọi đến các cựu thần như Trần Công Sán95, Phan Lê Phiên96, Uông Sĩ Điển97…
Đến làm gì?
Sung chân chi hậu, ứng tiếp chủ súy Tây Sơn.
Tia hy vọng ấm áp đã rọi vào lòng lạnh điếng của dân chúng.
Từ đây, lòng người đã yên: chợ lại họp, ruộng lại cầy. Cơn khủng
bố bối rối không còn vây phủ trong triều, ngoài nội như trước nữa. Các ông “triều”,
mão cao, áo rộng, bấy giờ mới lại mon men đến dần.
Chỉnh nói với chủ tướng Tây Sơn:
– Đức Lệnh đến đây đã lấy tiếng là tôn phù thì phải nên làm
cho ra sự thực. Chuyến vào ra mắt vua Lê hôm nọ chỉ là một buổi tư yết. Việc
làm ấy còn chưa tỏ rõ với đời. Vây, tôi tưởng Đức Lệnh nên lựa ngày làm lễ triều
kiến, khiến cho cả nước đều biết, mới là cử động quang minh.
Mồng 7 tháng bảy năm Bính Ngọ (1786), ngày tươi lại trẻ lại của
cây “Lê” đã già cỗi! Ngày oanh liệt nhất của một ông vua 70 tuổi, ôm cái ngai mốc
ngồi làm vì trong 47 năm! Nhưng cái tươi đó, cái trẻ đó, cái oanh liệt đó không
phải tự tay mình làm nên được, nên chẳng mấy chốc, nó cũng vạc dần rồi tắt theo
cái sinh lực hầu tàn của vua Lê Hiển Tông.
Ngày đó, chủ tướng Tây Sơn Nguyễn Huệ xin Hiển Tông Hoàng đế
nhà Lê thiết lễ đại trào ở điện Kính Thiên.
Dưới bóng cờ quạt la liệt và giữa những tiếng chuông trống
inh ỏi, chủ súy Tây Sơn, cầm đầu chư tướng, từ cửa Đoan Môn, bước vào điện Kính
Thiên với cái trịnh trọng nhưng ngầm chứa vẻ “ngạo nghễ” của con nhà chiến thắng.
Lễ “Ngu bái tam khấu” của Nguyễn Huệ làm tăng vẻ oai nghiêm
hách dịch của cái triều đình đương khặc khừ!
Sổ quân dân do Tây Sơn đệ trình trước vua Hiển Tông bỗng làm
cặp mắt lờ đờ yếu đuối của cụ già gượng bịnh này vụt nảy tia sáng vui mừng: ngọn
đèn cạn dầu bật sáng phừn phựt trước khi tắt ngấm!
Quang cảnh ngoài cửa Đại Hưng ngày đó bỗng khác hẳn mọi khi:
Phá tan cái vẻ âm thầm vắng ngắt bấy lâu, bản chiếu thư “nhất thống” ban cho
thiên hạ kéo được nhiều người đến xem, đọc hoặc thì thầm…
Đó là cái kết quả đẹp đẽ nhưng chóng “thui” sau khi chủ tướng
Nguyễn Huệ làm lễ triều yết và vua Lê Hiển nhận quân dân bạ tịch của Tây Sơn.
Qua hôm sau, Nguyễn Huệ được vua Lê Hiển Tông sai người sang
tận nơi quân thứ Tây Sơn, tức bên Trịnh thuở trước, phong làm Nguyên súy Dực
chính Phù vận Uy Quốc công (元帥翊正扶運威國公) (có sách viết là Nguyên súy Phù
chính Dực võ Uy Quốc công, lại có sách chép là Đại nguyên súy Phù chính Dực vận
Uy Quốc công).
Nhận xong, Nguyễn Huệ sai người sang hoàng cung tạ ơn vua Lê.
Rồi xẵng tiếng nói với Cống Chỉnh:
– Ta mang vài vạn quân ra đây, một trận dẹp yên Bắc Hà. Vậy
thì một thước đất, một người dân, bây giờ không phải là của ta thì là của ai
vào đây nữa? Dầu ta muốn xưng đế, xưng vương chi chi, coi ai còn dám làm gì ta
đặng? Thế mà ta còn nhường nhịn không làm, chẳng qua ta hậu đãi nhà Lê đó thôi!
Cái danh mạng Nguyên soái Quốc công nó có làm cho ta hơn gì! Các đình thần Bắc
Hà muốn lấy nước miếng cho cái danh hão, chực lung lạc ta sao? Đừng bảo ta là
mán mọi được thế đã lấy làm vinh rồi đâu! Ta không nhận lấy, chắc người ta bảo
ta là thất lễ; ta nhận mà không nói ra, người ta lại cho ta là không biết gì!
Dứt lời, chủ súy Tây Sơn “nổi xung”: hầm hầm trừng trợn…, dường
muốn phá phách cho hả cơn nóng giận…
Nhưng mấy lời can khéo của Chỉnh làm nguôi lòng Huệ dần dần.
Anh hùng với giai nhân
Nguyễn Huệ, sau khi nhận được cái tước hão của vua Lê phong
cho, trong lòng bất mãn, nói toạc cho Nguyễn Hữu Chỉnh biết rằng ông không chịu
để người ta lung lạc bằng cái Nguyên súy hay Quốc công ấy được, vì nó, thực ra
đối với ông, chỉ là một cái “tẹp nhẹp”, không làm cho ông thêm danh giá gì!
Chỉnh biết Huệ không thỏa lòng dưới trận mưa móc “giỏ giọt”
đó của vua Lê, lật đật sang bên hoàng cung tâu bày dàn xếp, tìm hết cách làm đẹp
lòng một người đương cầm vận mệnh cả triều đình, cả xã tắc, cả thành quách
giang sơn của nhà Lê.
Sau một cuộc trao đổi ý kiến với Chỉnh, vua Lê Hiển Tông thuận
gả cho chủ soái Tây Sơn Nguyễn Huệ cô gái thứ 21, Ngọc Hân Công chúa98, mới 16
cái xuân tơ, yêu kiều và diễm lệ.
Đức Lệnh Tây Sơn đưa đồ sính lễ rất hậu: 10 thỏi vàng, 1.000
thỏi bạc, 100.000 quan tiền. Nguyễn Thời Thấu99 người đời bấy giờ, có một bài vận
văn ký thuật sự trạng đương thời, trong có mấy câu này chỉ việc nhân duyên của
Ngọc Hân Công chúa:
…Ngựa thồ(?) thay mối xích thằng,
Ông Tơ, bà Nguyệt dẫu giằng chẳng ra,
Một ngày một vắng quê nhà,
Sáng từng từng nhớ, tối tà tà trông…
Bữa làm lễ cưới “chúa Tiên”100, vua Lê đương “se mình”, cũng
phải gắng bịnh thiết trào nhận mừng, vui gượng trước cái tương lai đầy bấp
bênh.
Qua bữa sau, bệnh tình nhà vua quá nặng, Công chúa Ngọc Hân
giục phò mã Nguyễn Huệ vào hỏi thăm, song ông từ chối: “Tôi, chẳng sớm thì chầy,
rồi cũng về Nam; việc nước, không dám dự đến. Vả, tôi xa lạ tới đây, chắc người
ngoài Bắc hãy còn chưa tin mấy. Nếu vô nội viếng vua cha, muôn một xa giá chầu
trời, chẳng hóa ra tự mình chác lấy cái tiếng hiềm nghi không bao giờ giãi tỏ đặng?”
Bầu trời sầm tối. Suốt đêm 17, dân thành Thăng Long sống
trong cảnh “chờn chợn”, mưa như trút! Gió rợn rùng!
Trong thành ngập nước đến một thước!
Với 70 tuổi thọ, vua Lê Hiển Tông băng nhằm ngày 17101 tháng
bảy, năm Bính Ngọ (1786) sau khi trối lại mấy lời cho Hoàng tôn Duy Kỳ: “Khách
binh đương đóng ở đấy; truyền nối là việc quan trọng, cháu nên bàn cùng Nguyên
súy (chỉ Nguyễn Huệ), chứ đừng tự tiện làm một mình.”
Suốt 47 năm ngồi làm vì trên ngai vàng, vua Lê Hiển Tông cứ
nhắm mắt, cứ che tai, cứ thản nhiên tự tại.
Chúa Trịnh làm trời? Mặc! Làm đất? Cũng thây! Vì vua theo
đúng câu “châm ngôn” này của ngài đã đặt: “Vương (chỉ chúa Trịnh) mang lấy cái
lo; ta hưởng lấy cái sướng, can gì chẳng vui?” Vậy mà nhân dân đương thời không
biết tự trông vào mình, tự giúp lấy mình, song cứ mơ hồ trách vọng vào ngài, chẳng
những oan cho ngài lắm?
Một vấn đề khó giải quyết “lăn lóc” giữa đình thần và tôn thất
nhà Lê sau khi vua Hiển Tông thăng hà: lập Tự quân!
Trái với phái muốn lập Hoàng tôn Duy Kỳ, Công chúa Ngọc Hân hết
sức phản đối, lấy cớ rằng Duy Kỳ không đủ tư cách. Ngọc Hân muốn lập Duy Cận, hết
lời khen Duy Cận là người hiền.
Nghe vợ ngăn, Nguyễn Huệ muốn hoãn lễ đăng cực.
Cả triều nao nao. Bầu không khí “ngờ vực” phủ khắp Hoàng
Thành.
Các tôn thất nhà Lê đổ riệt cho Công chúa Ngọc Hân cái tội
“làm lỡ việc lớn”!
Ngọc Hân sợ, lật đật nói với Nguyễn Huệ thu xếp cho Duy Kỳ được
nối ngôi ngay102.
Làm lễ đăng quang Duy Kỳ lấy niên hiệu là Chiêu Thống (sau mất
ở Tàu, tên thụy là Mãn Đế) vì đang có tang vua Hiển Tông, nên mọi việc đều tỉnh
giảm cả.
Đèn sáp lèo lẹt, khói trầm xen khói hương, tỏa mờ gian nội điện
thâm nghiêm, u ẩn. Chủ súy Tây Sơn lấy tư cách con rể, mặc áo tang trắng, đứng ở
nơi điện tả, dự lễ tế thành phục vua Hiển Tông.
Một viên tiểu lại, trong bọn người chấp sự, hơi mủm mỉm cười
khi hành lễ. Nguyễn Huệ liếc mắt bắt gặp, cho thế là khinh mạn, bất kính, liền
truyền lính lôi ra chém ngay103.
Triều đình, từ đó, len lét khiếp oai!
Ngày 25, đưa tử cung xuống thuyền để đem đi làm lễ Ninh
lăng104 ở Thanh Hoa, Nguyễn Huệ cũng mặc tang phục, thân đi hộ tang đến tận bên
sông. Lại sai bộ tướng là Nguyễn Văn Kỷ105 và Nguyễn Hữu Chỉnh, mặc áo trắng,
đi hộ tống đến Bàn Thạch lăng (thuộc huyện Lôi Dương, trấn Thanh Hoa), nơi ở cuối
cùng của ông vua được hân hạnh làm bố vợ một trang anh hùng cái thế.
Làm xong mọi việc với vua Hiển Tông rồi, Nguyễn Huệ, với giọng
tự phụ, nói nửa thật nửa bỡn với Ngọc Hân: “Tiên đế có 30 người con, thế mà
không một người nào bằng một mình mình là gái! Trong việc tang Tiên đế, mình với
các anh em, chị em khác, ai hơn nào?”
Ngơ nhau!
Sau khi Huệ đã kéo quân ra Bắc. Nguyễn Nhạc, ở Quy Nhơn, nhờ
bức thư của Huệ106 đưa về, mới hay tin “đại cử Bắc phạt” đó. Trước cái cử động ấy
của Huệ, Nhạc rất không đẹp lòng vì cho rằng Huệ tự tiện làm việc như thế, là
Huệ tỏ ra không thèm đếm xỉa đến vua anh. Nếu Huệ thành công, tất vua anh không
thể kiềm chế được nữa. Hối hả, Nhạc sai người đến Phú Xuân để ngăn lại. Nhưng
đã muộn rồi! Khi được tin Huệ đã hạ xong thành Thăng Long, Nhạc đâm lo sợ quá.
Huệ vốn là tay ngang tàng sắc sảo, nay lại đóng binh ở ngoài
sau một trận thành công lớn, Nhạc biết không thể gọi về bằng cách viết mấy chữ
trên mảnh giấy được.
Tháng tám, năm Bính Ngọ (1786), Nhạc đem 500 thân binh và 100
voi, lật đật từ Quy Nhơn trẩy ra Phú Xuân, lựa lấy thêm quân tinh nhuệ107, rồi
lại đi gấp ra Thăng Long, lót miệng bằng tiếng đem quân ra tiếp ứng chú Thơm
(tên tục của Huệ) đương ở
Bắc Hà.
Tin đó rung động gần xa: ai nấy nao nao, vừa ngờ, vừa sợ! Có
người khuyên vua Chiêu Thống, để giữ vững chiếc ngai Hoàng đế, nên đưa biểu xin
hàng.
Việc còn chùng chình, gót ngựa Thái Đức (Nguyễn Nhạc), sau bảy
ngày đêm, đã từ Phú Xuân lộp cộp nên trên mảnh đất đế đô.
Vua Chiêu Thống, cầm đầu bách quan, thân ra tận ngoài cửa Nam
Giao, đón tiếp với thái độ của một kẻ “lép vế”: mặc!
Tụng quan quỳ đón ở bên đường: cũng mặc!
Thái Đức sai người mời vua Lê hãy cứ về cung, rồi ruổi quân
đi thẳng, bỏ lại đằng sau cái khí ngạo nghễ lạnh lùng!
Tuy được Thái Đức hẹn đến bữa khác sẽ tương kiến, nhưng, qua
hôm sau, vua Lê đã phải lóp ngóp sang tận chỗ vua Thái Đức đương đóng để tỏ
cảm tình.
Nghe lời Chỉnh khuyên, Thái Đức tiếp Chiêu Thống bằng lễ “hai
vua tương kiến”, chứ không “lậy lục” theo lễ hạ thần.
Thoạt thấy Chiêu Thống đến nơi, Thái Đức đứng trên thềm, sai
em là Nguyễn Huệ xuống thềm đón.
Rồi Thái Đức ngự ở ghế giữa, mời Chiêu Thống ngồi ghế bên
tây. Nguyễn Huệ ngồi ghế bên đông.
Giữa bầu không khí thân mật nhưng giả dối, Chiêu Thống nói lấy
lòng khách bằng những lời yên ủi và cảm ơn.
Thấy vua Lê tỏ ý muốn cắt đất để làm lễ khao quân, Thái Đức vội
gạt: “Giận họ Trịnh chuyên chính, anh em chúng tôi mới làm việc tôn phù này. Đất
đai, nếu của họ Trịnh, một tấc chúng tôi không để; nhưng nếu của nhà Lê, một tấc
cũng không lấy. Chúng tôi chỉ mong Tự hoàng cầm vững kiên cường, giữ yên bờ
cõi; hai nước chúng ta đời đời hòa mục giao hiếu với nhau: thế là phúc!”
Hai nhà “ngoại giao” lại diễn một trò giả dối trong sự chèo
kéo mời mọc nữa:
Chiêu Thống mời Thái Đức ở lại ít lâu để giúp mình.
Thái Đức nhận lời và hứa cột chặt hai nước bằng sợi dây liên
lạc mật thiết.
Bấy giờ tướng sĩ Tây Sơn đóng lâu ở Thăng Long, lòng quê ai nấy
không khỏi gửi đám mây xa những tứ nhớ nhung man mác.
Tả quân Vũ Văn Nhậm, vì ghét Hữu Chỉnh là người tráo trở, hay
vơ lấy quyền bính, nhân gièm Chỉnh ở trước mặt Nguyễn Huệ rằng:
– Chỉnh là kẻ bô thần, cùng đường phải về với ta. Hắn muốn
cam tâm với cố quốc, nhờ sức ta làm được thành công. Nay ta lại phí hàng vài vạn
người để làm vây cánh cho hắn thì còn gì bất trí hơn nữa! Vả, hắn thường nói: Ở
Bắc Hà, chỉ có một mình hắn là nhân tài. Bây giờ chi bằng ta kéo về bỏ hắn lại.
Người Bắc oán hắn đến tận xương tủy; ta mượn tay họ để giết hắn đi. Khi Chỉnh
chết rồi, ta sẽ lấy Bắc Hà cho rảnh.
Nguyễn Huệ lấy làm phải, đã ngầm có ý bỏ Chỉnh rồi, lại gặp
Nguyễn Nhạc vừa ở Nam ra, bèn ngày đêm mật tính đường về, mà Chỉnh bấy giờ
đương đóng ở chùa Tiên Tích108, say sưa trong cảnh tôn vinh, vẫn mơ màng không
biết.
Về phần Chỉnh, thấy Nguyễn Nhạc sai chọn ngày tốt, sắm lễ vật
để yết nhà Thái Miếu, Chỉnh cứ đồ chừng rằng anh em Tây Sơn chắc chưa rút lui.
Trong khi anh em Tây Sơn cùng ở Thăng Long, họ nhường nhịn
nhau rất khôn khéo. Phàm việc, Nhạc muốn làm thế nào thì nên thế ấy. Huệ nhất
nhất thuận nghe và các tướng sĩ cũng đều vâng theo mệnh lệnh của Nhạc.
Suốt ngày 17, tháng tám, năm Bính Ngọ (1786), Huệ với thái độ
vồn vã niềm nở, giữ Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại trong dinh, nói chuyện lan man,
không hề hở ra cho biết sắp lìa non Nùng, sông Nhị.
Nhưng, giữa trống canh ba đêm hôm đó, một ám hiệu truyền ra,
quân gia Tây Sơn nai nịt đâu đấy, cả thủy lẫn lục thẩy đều lặng lẽ kéo đi. Lẽ cố
nhiên là bao nhiêu của cải trong kho đụn đều cuốn đi sạch.
Sai người từ giã vua Chiêu Thống, anh em Tây Sơn vội vã về
Nam, bỏ Chỉnh ở lại đất Bắc.
Qua sớm sau, Chỉnh có cái cảm giác như một cô gái “theo trai”
bỗng bị tình lang phụ bạc! Rất bối rối bâng khuâng, Chỉnh chưa biết xoay trở ra
sao cả.
Vì không dám ở lại Thăng Long sợ chác oán mua thù với người Bắc,
Chỉnh liền “dày mặt” quyết theo để bám lấy anh em Tây Sơn.
Lập tức sáng sớm 18, Chỉnh cùng với vài mươi thủ hạ lật đật
chạy ra bến sông, cướp được một chiếc thuyền buôn, quẳng hết đồ đạc của người
ta đi, giương buồm để vô Nghệ109.
Trong khi đó nhiều người Kẻ Chợ đuổi theo, tranh nhau lấy gạch
ngói ném Chỉnh. Chỉnh phải chính tay giết chết vài người mới đi thoát được.
Dọc đường, anh em Tây Sơn lần lượt dập tắt được những ngọn lửa
“biến cố”.
Số là, khi quân Tây Sơn kéo đến Nghệ An, có gặp mấy cuộc tập
công của những phần tử phản động.
Lê Hân, cựu quản Hậu thắng cơ ở Nghệ An và Lê Đình Hoán, cựu
quản Hữu uy cơ ở Nghệ An, đứng lên chiêu mộ binh phu ở Nộn Liễu huyện Nam Đường
(Nghệ An), chận đường, cứ hiểm, chẹn đánh ở núi Đại Huệ thuộc địa phận làng Sa
Nam, huyện Nam Đường. Nhưng Tây Sơn dong quân tràn qua núi: quân bọn Lê Hân
thua lớn, bị giết đến 8, 9 phần 10.
Rồi ung dung đem quân vào trấn doanh Nghệ An, Nguyễn Huệ đóng
lại hơn mười ngày, thu xếp mọi việc: giao trách nhiệm đóng giữ trấn đó cho bộ
tướng là Nguyễn Văn Duệ. Lại cắt đô đốc Vũ110 Chiêu Viễn đóng ở Hà Trung, Vũ
Văn Nhậm cầm trọng binh đóng ở Đông Hải, làm thế ỷ dốc với Duệ.
Khi Chỉnh theo kịp đến Nghệ, Nguyễn Huệ bề trong tuy không bằng
lòng, nhưng ngoài mặt vẫn vồn vã yên ủi. Huệ bảo Chỉnh:
– Hiện nay tướng Trịnh là Hoàng Phùng Cơ và Đinh Tích Nhưỡng
hãy còn, thì ngoài Bắc không có ông ở lại không xong.
20 lạng vàng, 200 lạng bạc, Huệ dùng món quà đó tặng Chỉnh và
khuyên đóng lại ở Nghệ An cùng làm việc với Nguyễn Văn Duệ.
Để trinh thám những hành động của Chỉnh, Nguyễn Huệ dặn ngầm
với Vũ Văn Nhậm:
– Chỉnh vốn là tên vong mạng. Túng thế, hắn mới chịu về với
ta. Hắn quyệt lắm! Không thể tin cậy đặng. Vả, người Bắc oán giận hắn dữ. Ta muốn
bỏ hắn cho họ thịt đi, nên chi lúc về Nam, giấu bặt không cho hắn biết. Chẳng
dè hắn lại trốn chết, theo về tận đây. Kể về tình nghĩa, ta không lẽ không dung
hắn. Giờ ta cho hắn ở lại Nghệ An là quê hương hắn. Vậy thì các ngươi phải hiệp
lòng, đậu cật, phòng giữ cho cẩn thận. Hễ hắn làm chi, và lòng người yêu hay
ghét hắn ra sao, các ngươi phải dò xét cho kỹ. Thấy có sự chi khác, thì phải tức
tốc báo cho ta hay.
Diều biển xổ lồng
Sau khi về Nam, Nguyễn Huệ được Trung ương Hoàng đế Nguyễn Nhạc
phong làm Bắc Bình vương (Đinh Mùi, 1787), đóng ở Quảng Nam, một trong ba chân
kiềng đối lập với Quy Nhơn, địa bàn của Nhạc và Gia Định, đất phân phong của
Đông Định vương Nguyễn Lữ. Anh em một nhà chia ba non nước111: một thời kỳ rất
thịnh trong bộ lịch sử Tây Sơn!
Bắc Bình vương, thân ở Quảng Nam, nhưng tai mắt vẫn nghe
ngóng ở Nghệ An, nơi thả lỏng con “Diều biển” Nguyễn Hữu Chỉnh.
Quả như Bắc Bình vương đã liệu trước, Chỉnh từ khi ở lại Nghệ
An, không quên kiếm cách để phá lồng để bay nhảy.
Bị Bắc Bình vương “ly dị”, Chỉnh, một mặt thu dùng bọn lưu
vong, một mặt luyện tập quân hương dũng, ngấm ngầm có chí chiếm lấy Nghệ An.
Ở Thăng Long, sau khi quân Tây Sơn rút khỏi, tình hình trở
nên nghiêm trọng. Vua Lê vội vời các triều thần bàn rằng: bây giờ trong nước hư
không, nếu có biến động cần kíp gì thì lấy chi mà trị được? Vua Lê bèn bay thư
đi các nơi, triệu các cố thần trong các thế gia dấy binh vào vệ. Các hào mục
các nơi đều chiếm giữ từng địa bàn, chiêu tập binh mã, lót miệng bằng tiếng bảo
vệ nhà vua. Các cựu thần họ Trịnh cũng ló ra, hoạt động về chính trị và quân sự.
Nhân dịp ấy, bọn vô lại cũng nổi lên đánh giết lẫn nhau, làm ồn
ào rối ren cả một nước.
Có hai đảng tranh nhau giựt lại ngôi chúa: ấy là đảng Trịnh Lệ
và đảng Trịnh Bồng.
“Công kênh” Trịnh Lệ, Dương Trọng Tế đem binh từ Kinh Bắc
sang Thăng Long, hiệu triệu bách quan lập Trịnh Lệ lên nối ngôi chúa.
Trịnh Bồng với một số đông thủ hạ, từ Chương Đức về kinh, xin
vua Lê Chiêu Thống cho nối nghiệp vương.
Trước tình hình ấy, vua Chiêu Thống vốn nhu nhược và lép vế,
rất khó xử.
Lá chiếu vặn hỏi Trịnh Lệ tự tiện làm chúa vừa ban ra, liền bị
Trọng Tế xé bỏ trước mặt sứ giả.
Tình thế găng!
Sau vua Lê phải liệu chiều lui tới: phong Trịnh Bồng làm
Nguyên súy Yến Đô vương vì nhà vua bị uy hiếp bởi Đinh Tích Nhưỡng và Hoàng
Phùng Cơ.
Còn Trịnh Lệ, sau trận đại bại ở Cầu Muống (ở gần Khâm Thiên,
Hà Nội), phải chạy về mạn Bắc.
Trịnh Bồng từ bữa được lên làm chúa, lại đi theo vết chân của
các chúa trước, vơ nhặt cho kỳ hết các quyền chính mà vì khúc ngoẹo trên lịch sử,
tình cờ đã lọt qua tay vua Chiêu Thống nhà Lê.
Vào hồi này, theo như các giáo sĩ đã tả trong quyển Sử ký Đại
Nam Việt thì dân gian, bấy giờ, phải sống trong cảnh rối ren mất trật tự và ngoắc
ngoải hoặc chết chóc vì cơ cận, dịch lệ:
Làng nọ đánh làng kia, chẳng biết cậy ai cứu giúp… Đâu đó
cũng có kẻ cướp, người ta giết lộn nhau… Vả lại, năm ấy, phải đại hạn, đoạn phải
bão cùng lụt cả thể. Các đảng đê… về xứ Nam Định vữa (vỡ) hết, hai huyện Quỳnh
Lưu và Đông Thành thì càng khốn nạn hơn nữa. Bão lớn lắm, cửa nhà sập hết; cây
cối cùng sanh hoa đẳng vật hao hại tận tuyệt chẳng còn giống gì… Nước biển tràn
ra làm hư hỏng lúa, còn bao nhiêu khỏi lụt hư thì lại phải sâu keo (hoàng
trùng). Năm ấy chẳng có ai gặt được, mà lúa năm trước còn lại ít nhiều thì kẻ
cướp lấy hết, cho nên thiên hạ đói khát quá lẽ. Dầu có tiền bạc cũng chẳng biết
liệu làm sao mà mua ăn, vì chẳng còn đồ ăn gì nữa. Kẻ đã chết đói thì vô ngần
vô số kể chẳng xiết. Người ta chỉ ăn cỏ như bò (?) hay là ăn những rễ cây, gốc
chuối, thì lại sinh bịnh dịch mà càng thêm chết hơn nữa… Trong xứ Nghệ An có xã
chẳng còn sót người nào, hoặc chết đói, hoặc chết bịnh hết. (Sử ký Đại Nam Việt,
trang 60, 61).
Dẫn nguyên văn đoạn Sử ký trên, tôi muốn tỏ cho độc giả biết
rõ những trạng thái về chính trị, về kinh tế và về xã hội ở xứ ta hồi đó đương
thối nát và tối tăm là thế nào! Các nhà đương cục bấy giờ chỉ chuyên tâm chú ý
vào cuộc nội tranh, nhìn đâu đến nỗi đau khổ ở nơi hang cùng, ngõ hẻm!
Càng lầm than thảm đạm, dân chúng càng khát khao một cuộc đời
sung sướng hơn. Lẽ tất nhiên họ phải mong tìm cho được bàn tay “tế độ” cứu họ
ra khỏi biển khổ.
Nguyễn Huệ đại biểu cho cái khuynh hướng ấy của dân gian, nên
dễ thành công trong những công cuộc phi thường: diệt Trịnh, thay Lê, quét sạch
20 vạn quân Tôn Sĩ Nghị.
Đáp lại tiếng gọi của Lê Chiêu Thống, Chỉnh đem binh từ Nghệ
An vào kinh Thăng Long hộ vệ, để đồ đảng là Lê Duật ở lại làm việc với Duệ.
Chỉnh tỏ ý quyến luyến Duệ bằng lời đường mật; Duệ nâng chén
tiễn chân Chỉnh bằng cái thái độ ân cần. Cảm tình trong cuộc khứ lưu này đã
gieo cái mầm thông đồng âm mưu vào lòng phản trắc của hai người đó.
Chỉnh phất cờ “hộ vệ” đến đâu, thế lực và địa vị Trịnh Bồng đổ
bẹp đến đó. Ngai vương tôn quý của họ Trịnh, sau cơn bại vong của ông chúa cuối
cùng này, phải nhường chỗ cho con “Diều biển”!
Vì có công đuổi Trịnh Bồng, Chỉnh được Lê Chiêu Thống phong
chức Bình chương Quân quốc Trọng sự, Đại tư đồ, Bằng Trung công.
Từ đó, lộng lẫy uy quyền, Chỉnh đem vây cánh chia giữ các yếu
chức trong triều đình và ngoài các trấn. Phàm việc, Chỉnh cứ tự tiện quyết định,
chẳng cần bàn hỏi vua Lê.
Chỉnh đi theo vết chân họ Trịnh còn in lại: lập trại quân Võ
Thành, đóng tướng doanh ở Trịnh phủ, cho con là Nguyễn Hữu Du lập phủ “Thế tử”ở
phía đông dinh mình. Chỉnh sống một thời hách dịch, lẫm liệt.
Thấy Chỉnh lăng bức như vậy, vua Chiêu Thống phát chán, bèn mật
mưu với bọn nội hàn Ngô Vi Quý112 định vời Hữu Chỉnh vào tiện điện (đền tư để
vua ngự trong lúc bình cư) để bàn việc rồi nhân dịp đánh thuốc độc mà giết đi.
Một hôm, Vũ Trinh113 vào yết kiến; vua Lê đem việc đó nói với
Trinh. Trinh giật mình, tâu rằng: “Ai bày mưu ấy cho Bệ hạ thế? Thần trộm lấy
làm nguy lắm đấy. Vì nay cường địch (chỉ Tây Sơn) đương lăng bức, tin cảnh báo
ngoài biên thùy đương gấp rút, triều đình chưa hòa, lòng người chưa yên, chính
là lúc Bệ hạ nên dựa vào Chỉnh mà dùng làm móng vuốt, chứ Chỉnh chưa lộ hình
tích là người gian trá và bất tín, sao Bệ hạ lại vội đón trước, đoán phỏng mà
chực giết kẻ cường thần? Muôn một thủ hạ của Chỉnh nổi dậy làm biến thì xã tắc
sẽ ra sao?”
Chiêu Thống nghe ra, bấy giờ mới thôi.
Nghe biết việc đó, Chỉnh từ đấy trở đi, luôn bỏ lễ triều yết,
cứ buông rộng thả dài cho bọn thủ hạ muốn làm gì thì làm.
Hào kiệt bốn phương ai cũng ôm mối thất vọng. Nơi này chốn
khác lồng dậy, bốc lên, đâu cũng nêu cao một danh nghĩa: khôi phục Trịnh, diệt
Nguyễn Hữu Chỉnh.
Cầm quyền ở Thăng Long, Chỉnh thường trao đổi thư từ với Duệ
và, để mua lòng Duệ, Chỉnh hay dùng quà “ngoại giao” biếu bạn rất hậu.
Muốn dò tình thế Tây Sơn và ý hướng của Duệ, Chỉnh lại mật gọi
Lê Duật, tay sai, vào kinh.
Dịp tốt đã đến với Chỉnh:
Ở Bắc, Chiêu Thống, ông vua quá nhu nhược, tha hồ dễ vần như
quả lăn tròn!
Ở Nam, anh em Tây Sơn bất hòa, xáo thịt nhau bằng nồi da, nứt
một khe hở cho người dòm dỏ!
Chỉnh lại tiếp đươc thư Duệ báo tin cho biết cái ngày vô Nam
khởi sự: chực vật Tây Sơn.
Mừng! Chỉnh mừng phen này quyết bỏ Nghệ An vào “túi”!
Chỉnh liền sai Duật đem biếu Duệ 10 lạng vàng, 10 tấm gấm và
dặn thuyết Duệ bằng cách dụ dỗ lợi, hại, họa, phúc để Duệ trở giáo, chiếm lấy
Nghệ An, chận đường Chiêu Viễn kéo ra. Một khi làm được thành công, Chỉnh sẽ
noi theo dấu cũ tiền triều đã vạch: đắp lũy ở Hoành Sơn, chia sông Gianh (Linh
Giang) làm giới hạn, diễn lại tấn tuồng “Nam Bắc phân trị” như xưa.
Khi đó, Vũ Văn Nhậm, một tướng thân tín của Tây Sơn, đã dò biết
hết câu chuyện. Nhậm dùng binh phù (ấn tín của nhà binh) gọi Duệ, song bị Duệ cự
lại:
– Ông tướng cầm quân ở ngoài, dầu có mạng lệnh nhà vua cũng
không theo. Khi Đại vương (chỉ Nguyễn Huệ) về Nam giao ta đóng giữ đất này, vậy
không thể lìa bỏ mà đi đâu được.
Trước khi về Nam, anh em Tây Sơn có để Nguyễn Duệ ở lại đóng
giữ Nghệ An. Đến nay, Tây Sơn có việc “huých tưởng”, là một dịp để cho Nguyễn
Duệ ngờ, sợ. Đó vì Duệ thấy mình là tướng cũ của Nhạc, e chuyến này sẽ không được
Huệ dùng chăng.
Duệ bèn mật kết với Tiền tham nghị Nguyễn Đình Viện và bảo Viện
ngầm thông với Hữu Chỉnh, hẹn nhau họp sức cùng đánh Bắc Bình vương: nếu việc
xong xuôi thì Duệ sẽ giao trả đất Nghệ An, đời đời cố kết cái tình lân hiếu.
Đình Viễn đem việc đó vào nói với Chỉnh. Chỉnh còn ngần ngừ
chưa trả lời, thì tin mưu phản ấy của Nguyễn Duệ đã lọt đến tai Vũ Văn Nhậm.
Vũ Văn Nhậm lập tức báo thư vào Nam, trình bày sự biến ấy với
Bắc Bình vương: “Ngày trước dùng Chỉnh, khác nào chứa cọp trong nhà; nay lưu dụng
Duệ, cũng tựa nuôi ong tay áo! Xin Đại vương kíp đem binh ra Bắc: trước giết Duệ
ở Nghệ, sau bắt Chỉnh ở Thăng Long. Thật là một dịp dẹp loạn, yên nước, xin Đại
vương đừng bỏ qua…”
Bấy giờ Nguyễn Huệ đương đứng “giữa hai luồng lửa”: Chỉnh phản
ở ngoài Bắc; gia biến xảy ở trong Nam! Phải dùng toàn lực để giữ bên trong, lẽ
tất nhiên không thể trì khu114 ra ngoài ngay được.
Dẫu vậy, từ mùa đông năm ngoái (1786), hay tin Cống Chỉnh đem
quân vào phò vua Lê, Bắc Bình vương đã phải hành động để đề phòng trước: Sai
Nguyễn Văn Đức kéo binh ra đóng Diễn Châu, cùng gánh công việc trấn thủ với Duệ115.
Nay tiếp được thư Nhậm, Bắc Bình vương vội sai người ra bảo
Nhậm: “Hãy ập ra Nghệ An, bắt sống Duệ, tịch thu lấy quân và lương, rồi chia
binh đóng giữ những nơi hiểm yếu. Bấy giờ mới đưa thư hỏi Chỉnh về tội thông
mưu với Duệ, xem Chỉnh nói sao. Nếu Chỉnh còn biết sợ oai, kiếm lời chối chữa,
thì hãy để sau sẽ liệu, không cần trị vội làm gì. Bằng hắn chống lại, thì vin cớ
đó kéo quân ra đánh lập tức!”
Được lệnh, Nhậm đem đại binh đi gấp, một ngày đêm đến trại Kỳ
Hòa.
Khi Nhậm sắp đến, bọn Duệ, vì biết tin trước, đã vội bỏ xứ
Nghệ, đi đường tắt, trốn về với Nhạc, và dặn Đình Viện chiếm giữ lấy Nghệ An.
Bộ tướng của Duệ là Nguyễn Thuyên ở làng Sa Nam (thuộc huyện
Nam Đường, trấn Nghệ An) không theo Duệ, lại đánh Đình Viện. Viện thế côi, cùng
với mấy con là Ngọc Liễn, Ngọc Triệu, Ngọc Chấn và rể là Thiều Tôn Hiệp đều chết
vì đánh trận.
Còn Đức là đồng đảng của Duệ, khi thấy Duệ đã về Nam rồi, liền
trốn sang Xiêm.
Tới Nghệ An, Nhậm điểm binh, thu thuế, sửa khí giới, kinh lý
mọi nơi, xếp đặt mọi việc thiện hậu.
Sứ bộ đi đòi đất Nghệ
Nguyễn Hữu Chỉnh, từ khi vào kinh hộ vệ, sống một mẩu đời
“ông chúa” đầy oai quyền.
Đường trời mở rộng thênh thênh,
Ta đây cũng một triều đình, kém ai?
Người ta cho hai câu đó là của ông Cống Chỉnh “trả lời” Bắc
Bình vương sau khi bị bỏ ở Bắc.
Cuộc nội tranh của nhà Tây Sơn hé một kẽ hở cho Chỉnh ngấp
nghé nom dòm!
Sứ bộ Bắc Hà, gồm có Trần Công Sán116, Ngô Nho117 và Hoàng
thân Lê Duy Hiên118, mạo hiểm vô Nam, “đòi” đất tỉnh Nghệ (Đinh Mùi, 1787).
Khi sứ bộ đi, Chỉnh tiễn Công Sán, ngủ một đêm ở chùa Thịnh
Liệt (Sét).
Công Sán bảo Hữu Chỉnh rằng:
– Nguyễn Huệ là người sâu hiểm và tráo trở, rất khó dò lường.
Đi chuyến này tôi dù cố nói cũng chưa chắc ông ta chịu nghe đâu. Nhưng tôi xin
gắng tranh biện ráo riết, dù chết cũng cam. Sau khi tôi đi, ngài nên để ý càng
hơn, chứ đừng coi thường. Những miền giáp núi ở vùng Thanh Hoa, nên chia quân
đóng đồn để át bộ binh, và các nơi cửa bể ở mạn Sơn Nam, nên đóng cọc cắm rào để
chặn quân thủy bên địch. Nếu họ bội ước đến đánh thì ta đã có sẵn sàng để chế
trị rồi. Như vậy không đến nỗi nước đến chân mới nhảy, lâm khi có việc, cuống
quít vội vàng.
Chỉnh đáp
– Xin cứ đi, đừng lo ngại. Từ lệnh của tiên sinh nói ai mà chẳng
chuyển? Bằng việc chẳng xong thì cái ngón trị quân lữ của tiểu sinh đây tưởng
chưa mấy kẻ đã ăn đứt! Muôn một có biến thì tiểu sinh há lại không làm được một
phen sấm vang, chớp bủa, biển lệch, non nghiêng cho hả lòng? Nguyễn Huệ dẫu kiệt
hiệt đến đâu, cũng chưa dễ đã giở được thủ đoạn gì. Tiên sinh chẳng cần phải
căn dặn kỹ quá.
Khi Sán đến huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An), Vũ Văn Nhậm bên Tây
Sơn sai đồn tướng kiểm soát các phẩm vật của sứ bộ, chỉ cho đi 3 vị sứ thần, 18
người hành giới; còn vàng, đoạn, lụa, vải này khác đều bắt đem trở về cả.
Tại Vĩnh Doanh119, Nhậm đặt tiệc thết sứ bộ, rồi bảo Công
Sán: “Văn võ ngoài Bắc Hà có mấy người được như lão ông? Lê Tự quân giao nước
cho bạn thần120, Chỉnh, chẳng hay ý nghĩ thế nào? Bản chức cầm binh phù, vác
gươm ra Thăng Long, sẽ chém đầu Chỉnh và hỏi Lê Tự quân cớ sao lại bội đức,
dung nạp kẻ bạn thần! Rồi bảo rõ cho thân sĩ Bắc Hà biết cái bản ý phải dụng
binh là thế. Tự quân không giữ nổi quốc gia, thì đến cả Thanh Hoa trở ra Bắc, nếu
ta không lấy, chung quy cũng đến lọt vào họ khác mất thôi! Nghệ An là ấp cỏn
con, có cắt hay không cũng chẳng quan hệ gì đến đại cục còn mất. Các ông từ xa
đến kêu xin chẳng qua chỉ chác lấy cái khổ lặn lội! Chỉ e chim đã lìa tổ, khi
bay về, không còn cành nào đậu nữa!”
Ngô Nho cả sợ, bàn với Công Sán: đổi quốc thư đòi đất Nghệ An
làm bức thư cầu Tây Sơn cho vua Lê được tập phong, song Sán không nghe121.
Khi đến Phú Xuân, sứ bộ Bắc Hà vào yết kiến Bắc Bình vương và
dâng trình “quốc thư” một cách trịnh trọng.
Với vẻ ghẻ lạnh, Bắc Bình vương cầm xem lá thư của vua Lê
Chiêu Thống do Chỉnh nấp sau xúi làm.
Đại ý:
Nghệ An, đất căn bản trong đời trung hưng của bản triều, liền
nối với Thanh Hoa như chân với tay. Tại đó nảy được nhiều tay văn võ. Cũng tại
đó, lựa chọn và rèn luyện được quân túc vệ. Nếu dùng người, bỏ đất, để đến nỗi
họ hàng phải chia lìa, quê hương phải xa cách thì thật không hợp với lòng người!
Quý quốc vương122 vốn giàu lòng tin thực, trọng tình mục
lân123. Suy bụng ta ra bụng người, dẫu việc nhỏ nhặt đến đâu cũng còn soi xét
biết được; huống chi việc này rõ rệt sờ sờ là thế.
Lại nghĩ: hồi mới ra Bắc, Quý quốc vẫn lấy việc “tôn phù” làm
nghĩa cốt nhất. Tiên đế (chỉ vua Lê Hiển Tông), khi còn, đã từng mời Quý vương
ngồi chơi ở sập, cầm tay nói chuyện ân cần. Tiếng ngọc hãy còn văng vẳng bên
tai, đã quên sao được?
Kịp khi dựa ghế trối trăng, Tiên đế áy náy chỉ lo quả nhân trẻ
người non dạ, nên muốn nương tựa Quý quốc để nhờ chút phúc.
Gần nay, nghe thấy Quý quốc sai tướng ra giữ Nghệ An, nhiều người trong nước đem lòng ngờ vực. Có lẽ là do biên thần gây sự, chứ không phải thật ra từ ý Quý vương.
Quý quốc vin cớ mùa thu năm ngoái (Bính Ngọ, 1786) tệ quốc muốn cắt đất khao quân, nên nay Quý quốc mới làm ra sự thật.
Quả nhân mới lên trị vì, không rõ nguyên nhân ngày trước ra sao. Vậy đã sai đình thần xét lại bản ước nhường đất, thì thấy chỉ là hai châu Bố Chính124 và Ma Linh125 thôi, chứ không dính dáng đến bờ cõi xứ Nghệ. Khi đó, Quý vương đã dạy: đất đai nếu của nhà Lê thì một tấc cũng không lấy.
Nhưng, khao quân bằng đất sao bằng khao quân bằng tiền? Vậy xin tính theo số đất, xem tổng số mỗi năm thu được bao nhiêu, bèn đùng làm lễ khao lạo. Rồi hằng năm cứ dâng nộp Quý quốc, giữ thành lệ lâu dài.
Xin Đại vương lượng xét, khiến cho tình nghĩa hai nước được vẹn tuyền…
Bắc Bình vương xem sơ một lượt, cả giận, ném thư xuống đất, quát ầm: “Đứa nào làm cái thư này thế? Nói ròng những lời vô nghĩa, vô lý! Có phải tự mưu thằng Chỉnh không? Hắn là một tên cùng đinh lạc phách, nhờ ta tô mày vẽ mặt mới được ra người. Chừ (giờ) hắn bay nhảy ở Bắc Hà, hiệu lệnh một nước, nghiễm nhiên làm như chúa Trịnh xưa. Nay hắn lại dám chống nghịch cùng ta, muốn tranh lấy cả xứ Nghệ. Không giết thằng cha này, còn trị đặng ai nữa? Hắn chỉ quen múa mép lừa người! Ta có phải là con nít đâu mà các ngươi chực phỉnh gạt đặng?”
Cộng Sán không biến nét mặt, ung dung thưa:
– Xin Đại vương chớ vội nóng. Để tôi nói cạn một lời, rồi muốn giết tôi, tôi xin chịu chết.
Bắc Bình vương nhớ lại, khi ở Thăng Long, vào yết kiến vua Lê Hiển Tông, được nhà vua cho quần thần theo thứ tự đến ra mắt. Vương đã lấy làm lạ trước những cử chỉ ung dung và tự nhiên của Công Sán. Lúc bấy giờ, vương luôn hỏi Công Sán về việc Bắc Hà: hễ hỏi đến đâu thì Sán tùy liệu mà đối đáp đến đó với những giọng rào đón biện luận, không hề chịu khuất một chút nào.
Vốn trọng Công Sán từ đó, nên nay Bắc Bình vương mới đấu dịu:
– Xưa ta vượt biển ra Bắc: phá Thăng Long, diệt họ Trịnh, cả trào suốt nước, ai cũng sởn ốc, bó tay hết, có dám làm chi đặng ta đâu! Khi đó nếu ta chiếm lấy cả nước, xưng đế, xưng vương, muốn chi chẳng được? Song ta chỉ kính mến ân đức Tiên đế (chỉ vua Lê Hiển), nên mới trao lại hết cả bờ cõi cho nhà Lê. Bản đồ nhất thống chính ta tái tạo cho đó, triều đình nhà Lê hòng báo đáp ta bằng cái danh hiệu hão: tước Thượng công! “Thượng công” là cái chi? Đeo cái “Thượng công”, ta có hơn chi hả?
Bắc Bình vương cứ tiếp:
– Rồi đến Tiên đế (chỉ vua Lê Hiển) thăng hà, ta phải lo liệu cho lễ Ninh lăng; Tự vương (chỉ vua Chiêu Thống) nối ngôi, ta lại phải thu xếp cho việc sách lập. Nay nhà Lê đã không biết đền ơn trả nghĩa, lại còn thu dùng tên bạn thần (chỉ Cống Chỉnh), hằn học, tranh giành, chực đòi lấy đất xứ Nghệ! Các ngươi làm vậy, có ai nhịn đặng không? Ta đã phái hai vạn binh mã ra tuột Thăng Long để lấy đầu cha con thằng Chỉnh đó! Thấy quân ta kéo tới, có lẽ Chỉnh đã bức bách Tự tôn (Chiêu Thống) rồi! Trong chỗ tên bay đạn lạc, ngọc đá xô bồ, chẳng hay Tự tôn có hề chi không. Người nước chẳng rõ, không khéo lại oán giận ta đấy!
Với vẻ trấn tĩnh, lý sự và khảng khái, Công Sán phản đối lại từng khoản một:
– Xưa vua Lê Thái Tổ đánh đuổi giặc Ngô, khôi phục đất Việt: công đức to như núi, cao như giời. Truyền đến vua Thánh Tông: giời Nam một dải, tô điểm thái bình, làm rạng công nghiệp thuở trước, mở rộng đường lối cho đời sau. Từ Thạch Bi126 lên Bắc, Đại Lĩnh127 về Nam, thần dân một nước ai cũng một dạ yêu mến kính tôn cả.
Sau đó hơn trăm năm, họ Mạc tiếm nghịch, người nước thảy đều đau lòng. Tiên vương (chỉ ông Nguyễn Kim) bèn liên hiệp đồng chí, lập lại nhà Lê. Về sau, họ Trịnh nổi lên, cũng lót miệng bằng tiếng phù Lê, nên mới hiệu lệnh được bốn phương, khiến cho ai cũng hưởng ứng.
Vài đời sau dẫu bị họ Trịnh hiếp đáp, song chính sóc vẫn chính sóc Lê, non sông vẫn non sông cũ.
Đại vương (chỉ Bắc Bình vương) một phen lên ngựa, đến thẳng kinh thành. Đó dẫu bởi ngài có danh lớn, oai to, nhưng cũng vì Ngài vin vào nghĩa cả tôn phù, nên lòng người mới chịu tin phục. Bằng chẳng, bước chân vào đất nước người, sao được dễ thế?
Đức Tiên đế tiếp đãi Đại vương, lễ mạo rất long trọng: trước phong công, sau phong vương, đó là điển lễ vốn có của bản triều. Đền bồi như thế, không phải không hậu. Xin Đại vương đừng coi rẻ.
Một nước cũ hơn ba trăm năm đã được giời tựa, người mến, Đại vương lấy rồi trả lại đất đai, chính là làm một việc thuận ý giời, theo lòng người, chứ sao kể là ơn đức được?
Khi Tiên đế sắp băng. Tự hoàng lên trị vì, mọi việc đều bẩm bạch ngài. Vậy Đại vương không chủ trương, còn để ai vào đấy? Đã đến bước không sao đừng được thì cũng là lý thế tất phải như thế. Quả tôi không dám bợ đỡ nói khen Ngài đâu.
Vẫn giọng trôi chảy và mạnh dạn ấy, Công Sán cứ cãi lý:
– Hồi đại quân về Nam, Nguyễn Hữu Chỉnh đi theo, được Đại vương để cho ở lại Nghệ An, sao gọi là phản bạn được? Nghệ An vốn là đất cũ của bản triều, sao gọi là tranh giành được? Đại vương phái binh mã ra Bắc để tiện thỉnh an, thì bản triều vẫn có điển lễ đón tiếp. Nếu không, người xưa đã nói: nước nhớn có quân chinh phạt, thì nước nhỏ cũng có cách chống giữ. Tôi đã ra khỏi bờ cõi, sự đó không dám biết đến. Tự hoàng nước tôi đã có chân mệnh đế vương thì tên đạn tưởng cũng phải kiêng nể. Xin Đại vương đừng lo.
Đại vương làm theo chiều thuận: cứu lúc nguy, giúp khúc gấp, phù tá cho nhà Lê, thì thần dân trong nước ai chẳng kính mến? Công đức còn chẳng dám quên, dám đâu oán giận?
Nếu không thế, thì cuộc đời xoay chuyển, công việc đổi thay, rồi sau sẽ ra thế nào, ý chúng tôi thật không thể đoán trước được.
Uốn lưỡi hùng biện, Công Sán hết sức chống cãi, đón trước, rào sau, không chịu lún một lời nào.
Hoàng hôn! Vạn vật dần chìm trong bóng tối.
Bắc Bình vương bảo Sán bằng giọng dìu dịu.
– Vậy thì ông hãy cứ vô quán khách nghỉ ngơi, để ta nghĩ kỹ ba lần, rồi sẽ liệu định.
Níu được câu ấy của vương, Công Sán đánh ngay vào chỗ yếu:
– Nghĩ một lần cũng đã đủ chán. Nghĩ đến ba lần, e lại lẫn chăng. Tôi đây xin liều một chết cho rồi chuyện.
Bắc Bình vương cả giận, truyền nhốt Công Sán vô khám.
Còn Hiên và Nho? Hai viên Phó sứ này cũng chịu chung một số phận như Chánh sứ Công Sán, song mỗi người bị giam một nơi.
Bề ngoài tuy ra oai nộ nạt, nhưng trong lòng vốn trọng Công Sán là người trung trực, dũng cảm, Bắc Bình vương vẫn muốn thu dùng, nên sau khi truyền giam Công Sán, ngài luôn cho người dò xét động tĩnh của viên Chánh sứ ây.
Thì một câu đối của Công Sán đề ở nhà giam đã tỏ được lòng sắt son, chí khảng khái làm tiêu biểu cho sĩ phu Bắc Hà:
達德有三縱未能之願學
小心無二行其素也何尤
Đạt đức hữu tam, túng vị năng chi, nguyện học.
Tiểu tâm vô nhị, hành kỳ tố dã, hà vưu?
Dịch:
Ba đức được tôn, dẫu chưa hay, xin thử học.
Một lòng không đổi, cứ để mộc, dám trách ai?
Một cuộc hội đàm giữa Bắc Bình vương và Tư mã Ngô Văn Sở. Sở xin giết Công Sán. Song vương còn ngần ngừ vì tiếc Sán là người có tài, muốn giữ lại để trọng dụng.
Sán đương nằm thừ trong cùm, nhưng vẻ mặt vẫn trấn tĩnh, tự nhiên, bỗng thấy Trung thư Trần Văn Kỷ và Lễ bộ Vũ Văn Trụ vâng mật lệnh của Bắc Bình vương, đến “thuyết” Công Sán. Họ nói khích:
– Cụ ơi, sao cụ tự làm khổ mình thế?
Sán nghiêm nghị:
– Thôi, thế nào cũng là số mệnh cả.
– Đã là người quân tử, tự mình phải liệu cơ xoay xở, chứ sao lại chịu bó tay phó mặc số mệnh? Ví như đánh sóc đĩa, có chẵn, có lẻ; ta phải nghe chiều mà đánh “mặt dền” mới là tay “lõi bạc”.
– Thế là mánh khóe con bạc, chứ không phải là đạo người quân tử. Sán này nghe người xưa có nói: “Làm tôi phải chết vì trung.”
Biết không thể dỗ nổi, Kỷ và Trụ trở ra, nói với nhau: “Trần Công Sán nhà Lê khác nào Tô Tử Khanh nhà Hán: đáng ghét nhưng cũng đáng thương!”
Nhà Tây Sơn bấy giờ đương có nội chiến. Bắc Bình vương sợ sứ bộ nhà Lê ở lâu, tai vách, mạch giừng128, biết rõ nội tình, ngộ họ bày kế phản gián, gây chuyện rối ren thì cũng đáng ngại! Nếu thả bổng cho về, họ sẽ làm lộ công chuyện Đàng Trong, chẳng cũng mang tiếng với Đàng Ngoài? Chi bằng thả họ ra biển, rồi liệu bài tính đi là hơn hết.
Nét hồng tía trong vườn hoa đã phai tàn; cây đào xanh rờn những lá non và đã kết trái li ti bằng khuy áo một. Nay đã là cuối xuân Đinh Mùi (1787).
Bắc Bình vương căn dặn sứ bộ nhà Lê với vẻ mặt niềm nở: “Các ông hãy cứ về trước, đợi khi ra Bắc, ta sẽ liệu khu xử việc này… Trăm lạng bạc đây là đồ lễ của Công chúa (Ngọc Hân) gửi tặng, xin chớ từ chối.”
Gió xuân già dào dạt thổi.
Vũ Văn Nguyệt, Đô đốc Tây Sơn, giương buồm vài chiếc thuyền biển, bắt đầu vào hồi tháng ba, đi từ cửa biển Tư Dung, “tiễn đưa” sứ bộ về Bắc. Dưới vòm trời xanh lợt, con thuyền “cô trung” của Công Sán lướt sóng vèo vèo trôi… Những lúc “nắng mới” phản chiếu ánh chiều xuống từng đợt nước trong trắng, chói lòa, dễ gợi lòng viên Chánh sứ muốn phơi gan dạ sắt son dưới bóng thanh thiên bạch nhật!
Đi được mươi ngày, thuyền đến cửa biển Đan Nhai thuộc Nghệ An, bỗng dưng cả đoàn sứ bộ nhà Lê Công Sán và 20 người ôm bầu máu nóng, theo thuyền chìm lỉm xuống dòng biển trong!
Đã làm tròn phận sự ngầm đục thuyền, giết sứ bộ rồi, Nguyệt, với vẻ tươi cười của phái đắc thắng, quay chiếc thuyền giả đò sống sót lên bờ, nhưng không quên nói phao phao những lời đã soạn thành bài sẵn: “Sứ bộ đi biển, gặp bão, không may chết đuối mất cả!”
Bấy giờ Cống Chỉnh mới phục lời Công Sán nói từ giã Chỉnh khi cầm cờ tiết đi sứ: “Minh công nên lưu tâm đến việc nước. Tôi chỉ có đi, không có về!”
Những biến cố xảy ra sau vụ Công Sán
Sau khi sứ bộ Công Sán bị hại, Bắc Hà có xảy mấy biến cố, xin ghi chép ra đây để các bạn thấy rõ những tấn tuồng rối loạn trước khi Tây Sơn ra Bắc lần thứ 2.
1) Việc Dương Trọng Khiêm, tức Trọng Tế, mưu khôi phục họ Trịnh, nhưng thất bại, bị giết hồi mùa hạ năm Đinh Mùi (1787).
Nguyên trước đây, Trọng Khiêm từ Bình Vọng chạy đến làng Lạc Đạo129 cùng với cháu Dương Vân, học trò Nguyễn Mậu Nễ mộ binh ở huyện Gia Lâm, đắp lũy từ làng Như Kinh130 đến làng Phú Thị131 chia quân đóng giữ. Rồi Trọng Khiêm truyền hịch đi các huyện, hẹn cùng khôi phục họ Trịnh.
Hữu Chỉnh sai tướng Hoàng Viết Tuyển đem binh đi đánh Khiêm. Viết Tuyển lùa quân rần rộ tiến lên, bốn mặt cùng bắn. Khiêm thua, đang đêm phải chạy trốn, bị dân làng Ngọc Xá132 bắt sống, đưa về kinh sư. Vua Lê Chiêu Thống hạ chiếu kể tội Trọng Khiêm, đại lược: “Là tội mà phản vua, tội ấy thực khôn dung trong giời đất; làm giặc đã có tiếng, tên này đáng giết chết bởi quốc dân.” (Nguyên văn chữ Hán là: Dĩ thần bạn quân, vô sở dung ư thiên địa; kỳ danh vi tặc, đắc cộng chu vu quốc nhân.)
Rồi vua Lê sai giết Trọng Khiêm ở nhà Thái Học.
2) Việc Hoàng Phùng Cơ mưu cắt quân bảo vệ, nhưng bị Hữu Chỉnh đánh bại rồi giết chết hồi tháng tám năm Đinh Mùi (1787).
Bấy giờ Phùng Cơ ở trấn Sơn Tây, truyền hịch đi các lộ Quảng Oai và Quốc Oai, mưu kéo quân vào Thăng Long để giết Hữu Chỉnh.
Chỉnh sai tướng Nguyễn Duật133 đón đánh ở làng Đại Phùng134, còn mình thì đốc suất đại quân tiếp chiến.
Mới giao phong với Phùng Cơ, Duật đã rút binh kéo lui. Con Cơ là Gia khuyên Cơ nên thừa thắng, ruổi dài, thẳng đến kinh thành cho khỏi bỏ lỡ dịp tốt; song Cơ không nghe. Khi quân Phùng Cơ tạm nghỉ và đang ăn, thì Duật thu quân quay lại, kết trận xông lên mà phản công, làm cho quân Phùng Cơ trở tay không kịp, cuống quýt tan chạy. Cơ và con trơ trọi trên mình voi, cố sức chiến đấu, trong khi quân Duật bốn mặt bổ vây.
Bấy giờ Hữu Chỉnh ập đến, thúc quân thiết kỵ bắn dồn vào chỗ Phùng Cơ. Cơ từ trên bành voi ngã xuống, bị bắt đưa về Thăng Long: Sắp sửa đem chém, thì vua Lê cho Cơ được uống thuốc độc để tự tử vì lấy cớ rằng trước đây Cơ có công đánh lui Mậu Nễ.
3) Việc Trịnh Bồng mưu lấy lại quyền vị, nhưng bị Hoàng Viết Tuyển và Hoàng đệ Lê Duy Lưu đánh bại ở huyện Đông Quan135 hồi cuối thu, năm Đinh Mùi (1787).
Trước đây, Trịnh Bồng chạy đến làng Quế Ổ136 cùng bọn Nguyễn Trọng Mại chia đồn cố giữ để mưu toan khôi phục lấy quyền vị của nhà chúa xưa. Bồng lại sai thuộc tướng là Đắc Võ (không rõ họ của Võ là gì) giữ lũy Đông Triều để làm phên giậu che đỡ cho được củng cố.
Thấy vậy, Hữu Chỉnh sai bọn Nguyễn Như Thái tiến công Trịnh Bồng.
Bồng thua, chạy về Hải Dương, được Đinh Tích Nhưỡng ủng hộ bằng một lực lượng khá mạnh.
Sau Hữu Chỉnh sai Hoàng Viết Tuyển, trấn thủ Sơn Nam, tiến đánh. Tích Nhưỡng đại bại, chỉ chạy được thoát thân, bỏ lại Trịnh Bồng cho Lân Dương hầu Phạm Đình Thiện đem đến huyện Đông Quan rồi lại vào đóng đồn ở ấp Bái Hạ137.
Trải mấy tháng tiến công, bọn Hoàng Viết Tuyển không hạ được Đông Quan. Sau nhân thấy Hoàng đệ Duy Lưu đem cấm vệ thân quân đi đốc chiến, Viết Tuyển bèn họp binh với Nguyễn Như Thái cùng giáp công, rồi rong quân đốt phá Đông Quan: Trịnh Bồng trước còn lẩn ở Yên Quảng, rồi trốn lên Lạng Sơn, rồi chạy đi Hữu Lũng138, sau không biết đi đâu và kết cục ra sao.
Vì những cuộc thắng trận ấy đã đem lại cho Bằng Trung công bao cái vẻ vang rực rỡ, nên Chỉnh lại càng dương dương “ta đây”; nhưng cũng vì những trận nội chiến ấy đã làm cho Bắc Hà càng thêm mục nát liệt tê, nên rồi ra, quân Tây Sơn ra đánh lại càng dễ dàng như vào cái thành “bỏ ngỏ”.
***
Chỉnh đang đắc chí, bỗng tiếp được thư Vũ Văn Nhậm hạch hỏi về tội âm mưu với Duệ. Chỉnh phải phúc đáp bằng giọng trần tình và tạ lỗi:
Trước kia vào Nam qui phụ, tôi được Đại vương (chỉ Nguyễn Huệ) quá yêu, cất dùng ở bên màn trướng, cho theo đòi cung kiếm trải bốn, năm thu. Mùa thu năm ngoái (Bính Ngọ 1786), Đại vương rút quân về Nam, không cho tôi biết. Chính ý Đại vương muốn thử xem tôi lui tới thế nào đấy. Khi đó, người Bắc cố nèo tôi ở lại, nhưng tôi cũng cứ quyết tâm đi theo. Tấm lòng trung thành này, tưởng bậc cao minh cũng đã xét thấu.
Khi theo đến Nghệ An, tôi vào ra mắt Đại vương ở Vĩnh Doanh, xin đi tòng quân, thì Đại vương lại dạy: Các tướng bên Trịnh là bọn Thạc139, Nhưỡng140 hãy còn khuấy rối, thế tất phải trừ. Vậy hãy cho ở lại để trị tiệt bọn họ đi. Lẽ nào tôi dám trái mạng?
Dâng thân hèn mọn, hết sức xông pha tên đạn, tôi quyết “sống mái” với bọn Thạc, Nhưỡng, nào dám quản ngại gì đâu? Chỉ mong trị xong hai tên giặc đó, tôi sẽ một người, một ngựa, vào Nam tỏ tình.
Ngờ đâu, tháng trước, đánh vùng Sơn Tây, mới bắt được quân Thạc. Còn Nhưỡng hãy còn vùng vẫy ở miền Hải Dương, chưa dẹp yên được; nên tôi chưa kịp về hầu đó thôi.
Thấy tôi ở lại Bắc Hà, lắm kẻ đem lòng ghen ghét, nói vu thế nọ, thế kia…
Xin xét tình cho: sau khi Đại vương về Nam, tôi ở lại Nghệ có hơn mười ngày, rồi ra Bắc ngay, còn kịp đâu âm mưu với Duệ? Vả, từ đó trở đi, kẻ Nam người Bắc, mỗi đằng một việc, có từng đi lại với nhau nữa đâu?
Tình thật, lòng ngay tưởng cũng không cần phải cãi. Huống chi tôi với Tướng quân (chỉ Vũ Văn Nhậm) đồng sự đã lâu, nếu có lòng nào thì giấu sao được?
Xin nhờ, Tướng quân thưa giùm với Đại vương cho, tôi đội ơn lắm.
Đọc kỹ bức thư trên, Nhậm thấy lời lẽ khiêm tốn, biết Chỉnh còn có ý sợ. Để làm cho Chỉnh yên lòng, Nhậm viết phúc thư yên ủi Chỉnh bằng lời ôn tồn thân mật. Nhậm lại khuyên Chỉnh cố đánh dẹp nốt Nhưỡng, khi nào thành công thì kéo quân vào Nam để tỏ lòng ngay thật.
Hỏi tội Cống Chỉnh
Ai mang con sáo sang sông?
Để cho nay sáo xổ lồng bay cao!
Bay cao thì mặc bay cao,
Lưới giời đã rộng thoát nào được đâu?
Bốn câu đó, người ta nói là chỉ về việc Bắc Bình vương căm hờn Cống Chỉnh, một “con sáo” đang bay nhảy trên đất Bắc Hà!
Cuộc giảng hòa trong Nam đã hàn lại vết thương “cốt nhục” giữa Nhạc và Huệ.
Rảnh việc trong, Bắc Bình vương, từ đây, có thể dùng toàn lực để đối phó với việc ngoài.
Một kỳ quân sự hội nghị nhóm giữa Quảng Nam
Ngồi ghế chủ tịch, Bắc Bình vương kể tội Cống Chỉnh trước mặt các tướng chân tay:
– Chỉnh là một thằng sa cơ lỡ bước. Nhờ tay ta, hắn mới ra người. Giờ hắn được ôm chân vua Lê, vẫy vùng ở đất Bắc Hà, hắn dám mưu mô tranh lấy Nghệ An, chực đặt trọng trấn tại đó, hòng lại Nam xâm như chúa Trịnh xưa! Thằng giặc này, ta phải giết chết mới đặng. Chẳng hay hắn có bao nhiêu binh mã? Liệu có chọi nổi một trận với ta?
Ý định giết Chỉnh đó liền được thực hiện.
Vâng lệnh Bắc Bình vương, bọn Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân đem quân ra Nghệ An, họp bàn với Vũ Văn Nhậm, viên tướng trấn thủ xứ ấy, lo việc Bắc phạt.
Khi bọn Văn Sở đi, Bắc Bình vương dặn ngầm họ: “Nhậm là một tay tướng tài, song ta vẫn không tin hắn. Chuyến này cho hắn giữ ấn Tiết chế, cầm trọng binh, coi chư tướng, gánh vác quân quốc trọng sự, chưa chắc không khỏi sinh biến đâu! Ta chỉ ngại một mình hắn, chứ có lo gì Bắc Hà. Các ngươi nên xét nét cho thật kỹ, hễ có điều chi, phải lập tức mật báo cho ta biết.”
Gió đông vi vút thổi. “Bột” mưa đòi cơn rây rắc ngang mày chinh phu!
Vũ Văn Nhậm kéo quân trảy qua Thổ Sơn, thuộc xã Văn Trai, huyện Ngọc Sơn (Thanh Hoa) (tháng mười một, năm Đinh Mùi,1787) để tiến công đất Bắc.
Lê Duật thủ hạ của Chỉnh, bấy giờ đang đóng ở Thanh Hoa, không dám chống cự, đã vội thu quân lui giữ Trinh Sơn giang, thuộc địa phận làng Trinh Sơn, huyện Mỹ Hóa (Thanh Hoa).
Đang ngự trên ngôi quyền quý, thánh thần Nguyễn Hữu Chỉnh, trong một ngày, 9 lần nhận được tin gấp rút từ biên thùy mặt Nam báo đến!
Ngựa trạm tấp nập, rình rịch ngoài đường!
Kinh đô Thăng Long bị cuốn vào luồng “nước xoáy” kinh động!
Lòng người càng giờ càng nôn nao!
Tấn náo kịch “dắt díu, bồng bế chạy loạn” cảnh nọ tiếp cảnh kia, cứ diễn ra một cách đau khổ ê chề trên các đường nối đô thành với các làng mạc!
Màu tang nhuộm đẫm đế đô. Các cửa hàng im ỉm đóng, âm thầm, rùng rợn, khép nép trước oai thần Chiến tranh sắp xông vào!
Phố xá dần dần vắng tanh: không mấy người còn can đảm dám qua lại. Chỉ các đương chức, vì công việc bó buộc, phải ở lại trong các tòa, các dinh.
Để đối phó với tình hình nguy ngập, vua Chiêu Thống nhóm quân sự hội nghị ở trong dinh quận Bằng Nguyễn Hữu Chỉnh.
Mọi người bàn:
– Văn Nhậm đem toán cô quân thình lình kéo đến như thế, ta nên kíp điều khiển lấy trọng binh mà quyết chiến với chúng. Thành hay bại, là ở chuyến này. Có điều cần là ta chớ đem binh lương mà nuôi béo chúng để gây thành thế lực cho bên địch.
Chỉnh, với vẻ nhơn nhơn, ung dung nói: “Cần phải trấn tĩnh, đừng nên bối rối kinh hoàng, làm cho lòng người náo động. Lê Duật giữ đất, thấy giặc đến, phải phi báo, đó là phận sự của hắn ta. Nhưng hắn cũng là một tay tướng tài, Văn Nhậm chưa dễ đã nuốt được nổi. Vả, hai sông Trinh Giang141 và Thanh Quyết142, lòng sâu, nước cả, dầu có muôn ngựa ngàn binh cũng khó vượt qua được! Phương lược đánh giữ, tự tôi đã định liệu cả rồi; can chi phải sợ hãi, cuống quýt?”
Bề ngoài Chỉnh tuy nói thế để cố trấn tĩnh lòng người, nhưng thực ra, Chỉnh vẫn sợ sệt Văn Nhậm. Vả, vì vợ con Chỉnh bây giờ còn ở bên Tây Sơn143, khác nào một loạt con tin bị giữ làm vật đảm bảo, nên Chỉnh chỉ muốn ủy khúc hòa nghị cho xong chuyện thôi.
Sau một chập thảo luận việc lựa tướng đi ứng chiến, Chỉnh nhất định cử Nguyễn Hữu Thái làm thống lĩnh. Mà Thái cũng nghị nhiên xin đi. Còn Ninh Tốn được cử làm Tham tán quân vụ, cùng Thái đem quân vào Thanh.
Bên Tây Sơn, quân Văn Nhậm kéo đến đóng ở phía nam sông Trinh Giang, sau khi đã dồn được Lê Duật rút lui tới đó.
Nhậm mật phái Ngô Văn Sở đem một toán quân đi men núi, lén qua sông Tất Mã144 để đánh tập hậu Lê Duật.
Duật bấy giờ, tuy đã phòng thủ cẩn mật, song vẫn không khỏi chột dạ trước sức tấn công mãnh liệt của các tướng Tây Sơn. Duật rất phân vân đối với mấy lời kiêu ngạo trong chiến thư của tướng Văn Nhậm: “Ngày mai, quân ta sẽ qua sông. Ngươi có dám đánh thì cho bày trận trước mà đợi. Nếu không thì bó tay trước mà hàng đi!” Nào ngờ, trong khi Duật còn đương bối rối ngờ sợ ấy, thì quân Văn Sở đang đi để ập đến sau lưng mà chẹn Duật đấy.
Dưới vòm trời vẩn đục cẩn một vài nét sao mờ, quân Lê Duật, vì tự liệu không giữ nổi Trinh Giang, phải lật đật trong bóng tối, trốn lên con đường đầy gian nan! Nhưng sau đêm rùng rợn, lại tiếp luôn đến ngày khủng khiếp: Vừa chạy đến Cao Động, đã thấy quân Văn Sở đóng đầy ở cả đó rồi! Duật trước mặt sau lưng đều thụ địch, bị giết chết ngay trong vòng loạn quân! Còn quân gia? Tan vỡ trong cơn hoang mang kinh khiếp. Khí giới và quân nhu của phái chiến bại ấy đều bị Tây Sơn chiếm được ráo.
Nguyễn Như Thái, được quận Bằng Nguyễn Hữu Chỉnh phát cho quân tinh nhuệ ở bản đạo và điều bát binh các đạo khác tất cả được hơn hai vạn người. Kéo quân đến Châu Cầu, hay tin Lê Duật đã chết trận, Thái vội họp Ninh Tốn bàn việc quân cơ.
Tốn nói: “Theo Binh pháp, hễ ai tranh được núi, chiếm được hiểm thì tất thắng lợi. Núi Tam Điệp (đèo Ba Dội) ở Thanh Hoa là một bức rào ngăn cách trong, ngoài có bề hiểm yếu thiên nhiên do bàn tay thợ Tạo xếp đặt. Ta nên kíp đem binh đến đóng giữ núi đó, đừng để bên Tây Sơn chiếm mất. Nếu được thế, thì từ Tràng Yên145 trở ra Bắc hãy còn là địa phận của ta. Nhược bằng bỏ mất cái địa lợi ấy thì một dải Sơn Nam, đất phẳng, đường liền, khó lòng tranh hùng với chúng được nữa. Muôn một rủi ro ra sao, việc nước tất hỏng bét!”
Trước lý luận ấy, Thái thấy làm phải.
Quân Bắc bị khua lùa thúc giục, kiền kiệt suốt đêm, gấp đường thẳng tiến. Tảng sáng đã qua đò Gián Khẩu146 rồi.
Thái sai một viên tướng giữ bến đò Gián Khẩu; còn mình dẫn đại quân do đường tắt đến bến đò Nghệ147, chực đánh úp vào đằng sau quân địch. Nhưng đến Điềm Sá148 thì gặp Quỳnh149, tướng Tây Sơn. Hai bên giao chiến, Thái đại bại, phải chạy đi Sơn Minh150.
Trước đó, bên Tây Sơn thừa dịp đánh thắng Lê Duật, đã vượt qua núi Tam Điệp từ lâu rồi. Văn Lân thúc quân tuyển phong đến đóng ở Đa Mai trước chờ giao phong với quân Bắc Hà.
Chưa kịp tới Tam Điệp, Thái đã bất lợi ngay từ trận đầu, lại thấy phe địch ập lại gần mình chỉ còn cách độ vài dặm, Thái kinh ngạc vô cùng!
Thái đấm ngực, la lớn: “Thôi chết rồi! Sao chúng nó nhanh thế!”
Bên quân Bắc vừa bày trận cách nước xong, thì bên Tây Sơn đã ầm ầm kéo đến chia đường đánh phá rất hăng.
Thế đã cô, lại không có quân cứu, Thái phải tế ngựa chạy, sau một trận kịch chiến từ sáng đến trưa, thuốc đạn hết sạch.
Văn Nhậm thúc quân đuổi riết, bắn chết cả Thái lẫn quân gia!
Riêng Ninh Tốn được thoát vì trốn ẩn ở nơi dân gian.
Văn Nhậm đánh tan bọn Thái rồi, cứ việc kéo quân thẳng tiến…
Bốn ngựa xé xác Chỉnh
Nguyễn Như Thái đã làm mồi cho súng đạn!
Toán quân ứng chiến ấy đã hoàn toàn bại vong!
Tin dữ ấy đã lọt đến tai Bằng Quận công Nguyễn Hữu Chỉnh.
Ném đũa đứng dậy, Chỉnh, với vẻ bàng hoàng thất sắc, chạy vào nhà trong, bảo con là Nguyễn Hữu Du: “Ta chỉ có bốn tay chiến tướng: nay Duật và Thái đã không may chết cả rồi! Tuyển ở Sơn Nam, Thước ở Kinh Bắc, giờ muốn gọi về cũng không sao kịp. Nước đã đến chân! Chính ta phải làm tướng cầm quân ra trận. Còn con? Con phải sửa soạn binh lương, cùng đi với cha mới được…”
Tỏ dáng hăng hái, can đảm, Hữu Du nói: “Con xin đi trước, quyết một phen kịch chiến với chúng nó, chứ không dám để phiền đến cha. Cha cứ đi sau đốc chiến…”
Rồi, với thái độ kiêu căng, Du khoác lác: “Con xin đi lấy đầu thằng Vũ Văn Nhậm đem về nộp cha!”
Tin bại trận ấy đồn dậy kinh đô, ai nấy nôn nao sợ hãi. Vua Lê Chiêu Thống trao cho Chỉnh cờ tiết và cây việt mà dụ rằng:
– Chuyến này khanh đi, quan hệ đến cuộc an nguy của xã tắc. Mong khanh sớm báo tin thắng trận cho trẫm được yên lòng!
Bằng giọng gian hùng, Chỉnh cố làm cho vua Lê vững tâm và tin cậy ở tài thao lược của Chỉnh:
-Văn Nhậm không phải là địch thủ của thần. Thần chỉ đi đốc chiến, chứ để bắt sống Văn Nhậm, thần sai tì tướng đi cũng đủ rồi.
Thế rồi từ biệt vua Lê, Chỉnh kéo hơn ba vạn quân (gồm cả binh ở Thăng Long và binh tướng ở các đạo khác) đi… đi đến con đường thất bại!
Kéo đến Hoàng Mai, Chỉnh sai Hữu Du cầm đầu Ngũ nhuệ cơ quân đi trước, hi vọng đón lấy bó hoa chiến thắng ở tương lai.
Du đến sông Thanh Quyết đắp lũy đất ở bờ bên bắc sông ấy, bổ đóng 18 đồn, phòng giữ có vẻ cẩn mật.
Tháng chạp, vài khóm lau sậy xơ xác đứng bên sông, nhọc mệt cựa mình trước cơn gió đông vi vút. Đêm ấy, cóc nhái khiếp oai thần Rét, không dám hòa ca cùng đàn giun dế nép mình trong hang sâu.
Vây quanh những đống lửa lèo lẹt, quân bên Hữu Du, từng tốp, từng chòm, đương sưởi ấm. Trước làn khói cay nồng mở tỏa, họ nói chuyện, họ bông đùa…
Cơn kinh khiếp thình lình xông đến: bao nhiêu những chỗ có lửa sáng đều có đạn súng vèo vèo bay!
Vô số quân toi mạng trong lúc không phòng bị!
Té ra, giữa đêm đông trời rét như cắt ấy, Văn Nhậm chia quân ra từng toán, bắc cầu phao, vượt qua sông, lẳng lặng đào khoét lũy đất bên địch, chĩa súng vào những chỗ có lửa sáng, bắn loạn xạ.
Không đủ tài lực đối phó với cuộc nguy biến ấy, quân Bắc tan vỡ lập tức.
Du vội nổi hiệu thu quân, chỉ còn 2, 3 phần mười!
Du phải lui giữ Châu Kiều151. Giùng giằng chờ đợi hậu quân cứu viện. Du không dám đánh, cũng chưa dám chạy về152.
Chỉnh đang đóng ở Bình Vọng153, giật mình sợ hãi khi thấy bại binh về báo: Du đã thua vỡ, quân Tây Sơn sắp đuổi đến nơi!
Trước cơn khó khăn đó, Chỉnh bối rối không biết lui tới ra sao!
Tướng sĩ bộ hạ cũng đều rủn chí, ngã lòng, đua nhau nói: “Thế giặc mạnh lắm! Ta khó tranh phong với chúng được. Vả, kinh thành ít binh, sợ không giữ nổi. Chi bằng ta hãy kéo về, chia quân đóng giữ Kinh Bắc, lấy sông Nhĩ Hà154 làm giới hạn; rồi sẽ liệu chước đánh giữ là hơn cả.”
Sau đó, thấy Du chạy đến, Chỉnh bèn cùng con kéo quân về, đang đêm vào thành, sai Nguyễn Khuê bảo vua Lê Chiêu Thống: Sớm mai, phải chạy đi Kinh Bắc để lánh nạn!
Xăm xăm vào thẳng trong phủ, Chỉnh sai người hộ vệ vợ con, qua sông chạy trước.
Từ đây, vua Lê sẽ sa vào bước đường cùng!
Cũng từ đây, cha con Hữu Chỉnh sẽ sống trong cơn ác mộng!
Không khí khủng bố vây bọc khắp cả hoàng cung!
Hay tin gia quyến quận Bằng đã trốn trước, vua Chiêu Thống tất tả, bệu rệch chạy sang Soái phủ, nắm lấy tay Cống Chỉnh mà hỏi: “Nông nỗi đã đến thế này, tính làm sao giờ?”
Chỉnh vẫn tỏ vẻ cứng cáp, vững vàng: “Tâu Bệ hạ, ở kinh đô này, trừ cửa ô, mặt tây nam chưa có hào lũy. Trống trải như thế, đánh đã không xong, mà giữ cũng khó. Phen này Tây Sơn thừa thắng kéo ra, ta lấy gì làm rào giậu để tự toàn được?”
Trầm ngâm một lát, Chỉnh lại tiếp: “Hiện nay Kinh Bắc (tức Bắc Ninh bây giờ) có Nguyễn Cảnh Thước là tay dũng lược đáng tin cậy. Vả, ở đấy có thành trì kiên cố để ẩn náu, sông lớn để ngăn ngừa, có thể giữ thế thủ được.
Xin Bệ hạ hãy đi giá sang Kinh Bắc, rồi hạ chiếu cần vương: truyền thông khí mạch suốt từ Thái Nguyên, Sơn Tây đến Hải Dương, Sơn Nam (nay là Nam Định), thì chẳng bao lâu, chắc sẽ triệu tập được một đạo binh lớn. Bấy giờ ta sẽ liệu cơ làm việc, mới mong khôi phục được cơ đồ.”
Lại lên mặt “biết người, biết mình” Chỉnh quả quyết: “Phải đi xa, quân Tây Sơn đã mỏi; lại có sông sâu cách trở, chắc chúng không dám đuổi ta đâu.”
Rồi Chỉnh nói qua quít cho xong chuyện: “Xin Bệ hạ về cung, cứ mời Hoàng thái hậu đi trước. Thần sẽ thân đem tướng sĩ đến đợi ở bến sông.”
Trông về tương lai đầy những nét mây ảm đạm, vua Chiêu Thống bấy giờ chẳng những ngờ vực người, mà cũng không tin đến cả mình nữa.
Hối hả đi bộ từ bên phủ quận Bằng trở về hoàng cung, vua Lê nhận rõ từng nét “kinh khủng” đang in trên bức tranh “biển dâu”, không khỏi mủi lòng trước tấn bi kịch thay triều đổi họ!
Màu tang đã nhuộm trắng phố xá! Hung thần “Chiến tranh” đang đe dọa hiếp đáp bọn dân chạy loạn! Bọn côn đồ mặc sức thả câu trong hồi nước đục: chúng cướp đường, chúng bóc lột, chúng cầm quyền sinh sát giữa kinh đô đương “sốt rét”.
Trong lúc “hỗn quân, hỗn quan” đó, Chiêu Thống chỉ là một “nạn nhân” chờ đội “mũ gai” đau đớn. Quả thế, khi nhà vua đang nheo nhóc chân đăm đá chân chiêu ở dọc đường, thì có kẻ xông ra, túm lấy, khám túi, lần lưng, thấy không có gì, bấy giờ mới “sinh phúc” cho đi thoát.
Thoát nạn về đến hoàng cung, vua Chiêu Thống vội hiệu triệu lính thị vệ, nhưng chỉ được 17, 18 tên! Còn đâu cả? Chúng đi trốn sạch!
Lạch đạch, khệ nệ, ùy oạch, chật vật theo sau Hoàng thái hậu và Nguyên tử, một bọn tôn thất và cung nhân giẵm trên gió bụi, lầm than.
Vất vả lắm mới tới được bến sông, họ tranh nhau xuống thuyền.
Hết thảy sống trong cảnh xô bồ, hỗn độn. Chỉ có sức khỏe là lá bùa thứ nhất để hộ thân, mạnh ai nấy tranh được trước, bấy giờ không còn đạo đức lễ độ gì nữa! Người ta xô đẩy nhau trên bãi cát, chen chúc nhau trong các thuyền. Tiếng kêu vì ngã bị giẵm bẹp hòa với tiếng cầu cứu vì thuyền đắm: oai oái thảm thê155.
Sông ơi! Biển ơi! Sao mi không yên, không lặng, lại cứ nay sóng, mai gió, cuốn mất của người ta biết bao hạnh phúc vào trong lòng mi!
Chập tối Văn Nhậm kéo quân vào thành Thăng Long: Một mặt kéo bảng chiêu an, một mặt sai bộ tướng là Nguyễn Văn Hòa đuổi đánh Cống Chỉnh.
Chạy! Chạy!... Cống Chỉnh và các văn thần đem vua Chiêu Thống chạy về phía bắc. Quân lính đi đứng lộn xộn, không còn bộ ngũ trật tự gì nữa!
Đến trấn Kinh Bắc, quân lính đã trốn mất quá nửa, chỉ còn hơn 430 đầu người và 60 cỗ ngựa.
Chỉnh đem tàn binh qua sông Như Nguyệt156, vừa thoạt đóng đồn ở núi Tam Tằng157, thì Nguyễn Văn Hòa, tướng Tây Sơn đã kéo binh ập đến.
Một cuộc giao chiến định rõ số phận Nam, Bắc.
Văn Hòa chia binh làm đôi: sai một toán đi vòng sau núi, đánh tập hậu.
Rối loạn, quân Chỉnh tan vỡ! Hữu Du bị bắt và bị chặt đầu. Chỉnh tế ngựa chạy trốn, bỗng ngã vật xuống vì ngựa bị thương. Đường đường quận Bằng nay phải làm tù binh trong lúc cùng đường, kiệt sức!
Sau khi bắt sống được Chỉnh, quân gia Tây Sơn tranh nhau toan chặt lấy đầu; song Chỉnh la lớn bảo chúng: “Cứ bắt sống tớ mà nộp lấy công, chứ đừng giết tớ ở đây vội!”
Xúm lại, chúng trói Chỉnh đóng vào cũi, và treo đầu Hữu Du ở bên cũi Chỉnh, khiêng về Thăng Long.
Trước là bạn, nay là tù, Chỉnh với Văn Nhậm bây giờ cách nhau như trời với vực.
Với giọng bệ vệ, oai nghiêm của phái chiến thắng, Nhậm kể tội Chỉnh không sót kẽ tóc, chân tơ. Nhưng gọn thon lỏn, Chỉnh chỉ đáp lại mấy lời cứng cáp khi Nhậm vặn hỏi tại sao làm phản:
– Chỉ vì cái “thế” mà thôi!
Rồi, Nhậm “cảm ơn” bạn đã làm mình giựt được cái chiến công lừng lẫy này bằng cách khép Chỉnh vào một thảm hình: buộc chân tay Chỉnh vào bốn con ngựa, xé xác ra làm mấy mảnh158.
Chỉnh khi mới lọt lòng mẹ, oe oe mấy tiếng khóc, đã làm cho ông giám sinh họ Đỗ ở Thanh Chương (Nghệ An) phải thốt ra lời kinh hãi lúc qua cổng nhà Chỉnh ở Đông Hải, huyện Chân Phúc, trấn Nghệ An: “Đứa trẻ khóc đấy sẽ là một tên gian hùng đời loạn”159! Quả nhiên, từ một ông Hương cống (tức Cử nhân), Chỉnh đã xoay hẳn lại thời cục Bắc Hà và đại thế nước Đại Việt ở cuối thế kỷ XVIII. Như trước đã nói, Chỉnh nguyên làm gia khách Hoàng Ngũ Phúc, sau lại nương dựa Hoàng Đình Bảo, cháu của Phúc. Hồi quân Tam phủ nhà Lê nổi loạn, Bảo bị giết bởi lưỡi gươm của bọn kiêu binh ấy! Chực lợi dụng thời cơ, Chỉnh xui Vũ Tá Giao, chồng của em gái Đình Bảo giữ trấn, chống lại triều đình Bắc Hà. Thấy Giao không nghe, Chỉnh sợ mắc vạ, phải chạy theo Tây Sơn.
Trong hai năm trời, Chỉnh đạp đổ chúa Trịnh, xoay tít vua Lê, làm khó dễ với Bắc Bình vương, những thủ đoạn gian hùng ấy kém gì “ông cử” Tào Tháo!
Ngoài ngón thao lược, Chỉnh còn có tài về văn nôm nữa. Dưới đây là một bài thơ Chỉnh làm khi nhàn rỗi trong một ngày mưa xuân:
Lửa hồng từ dậy mái thành đô,
Đòi chốn lầm than thuở được thua!
Xanh biếc cảnh xen người ẩn dật,
Bạc đen đường vẩn khách bôn xu!160
Cái cớ Cống Chỉnh sở dĩ thất bại, gồm trong ba chữ “tham, bạo, kiêu” như lời Đinh Nhạ Hành đã viết trong tờ biểu tạ Lê Chiêu Thống:
Từ khi đem quân vào hộ vệ, Nguyễn Chỉnh tham, bạo và kiêu, khiến cho trên dưới nghi ngờ, lắm người ta oán. Lúc được cầm quyền, Chỉnh lại ra tay tàn sát: những huân thần, túc tướng, lệnh tộc và thế gia bị giết hại rất nhiều! Cho nên quân Tây Sơn, khi ra lần nữa, mới đánh một trận, thế mà ba quân bên ta (Lê) đã tan vỡ, đến nỗi Kinh thành thất thủ, xã tắc điên nguy! Cứ kể cái tội hại nước hại dân ấy; dầu băm chém Chỉnh làm muôn nghìn mảnh cũng chưa đáng!
Giết Đại tướng
Hạ xong Thăng Long, Vũ Văn Nhậm vẻ vang hát bài chiến thắng, khỏa lấp những lời than, tiếng khóc của Trịnh Lê!...
Nào ngờ nấp sau cánh cửa “Khải hoàn”, thần Chết vẫn rình đợi Tướng quân họ Vũ!
Vũ Văn Nhậm nguyên xưa làm Tiết chế bên chúa Nguyễn, nên người bấy giờ thường kêu là Chế Nhậm. Hồi tháng năm, năm Bính Ngọ (1786), Nhậm thua trận Gia Định, bị Tây Sơn bắt sống, toan tự vẫn, nhưng rồi nghe lời Đức Lệnh (Nguyễn Huệ) dụ hàng, Nhậm theo Tây Sơn từ đó. Nay Nhậm tuy là tả tướng ở Súy phủ Bắc Bình vương, nhưng là con rể của vua Thái Đức. Mà từ năm ngoái tới giờ, Nhậm chỉ huy quân sự, cũng tỏ ra cậy mình là quốc tế. Dạo anh em Tây Sơn thất hòa161, Nhậm vẫn trung lập và vâng theo mệnh lệnh của Bắc Bình vương, nhưng vẫn không quên cái tình ông nhạc và con rể. Khi ở Động Hải, nghe tin nội biến, Nhậm xin về triều cận, song Bắc Bình vương không cho, truyền phải đi thẳng ra Nghệ. Sau trận ra Bắc Hà, giết Hữu Chỉnh, Nhậm càng lập được kỳ công, Vương càng ngờ sợ! Ngờ sợ vì Nhậm là một tay tướng tài.
Vả, theo Thanh triều sử lược, quyển VI, tờ 19b (tác giả là Tá Đằng Sở Tài, người Nhật Bản), thì sau khi chiếm cứ Đông Kinh (Bắc Hà), Nhậm (trong sách này chép là họ Nguyễn: Nguyễn Nhậm) “giữ bốn mặt hiểm yếu, cũng có chí tự vương”162. Vì vậy, Nhậm đối với Bắc Bình vương, lại càng như cái gai trong mắt.
Dòm thấy cái khe hở đó, bọn Sở hết sức tìm cách thêu dệt, miễn sao cho Nhậm mau chết theo Chỉnh, họ mới hả lòng.
Sau khi Bắc Hà đã yên, có người nói với Văn Nhậm: “Ngoài Bắc dẫu oán Cống Chỉnh, nhưng lòng người vẫn nhớ nhà Lê. Nay vua Chiêu Thống đã đi rồi, chưa biết bao giờ lại về được. Sùng Nhượng công Lê Duy Cận, con thứ 4 vua Hiển Tông, khi còn Tiên đế (chỉ vua Hiển Tông) đã được lập làm Đông cung, nhưng qua năm Nhâm Dần (1782), bị quân Tam phủ truất bỏ. Nếu bây giờ Tướng quân (chỉ Văn Nhậm) lại lập Sùng Nhượng công lên ngôi chính thống, rồi yết bảng ra cửa Đại Hưng, hiệu triệu triều thần thì, độ vài ngày, văn võ bách quan sẽ lại quay về răm rắp, làm việc nước sẽ dễ như trở bàn tay.”
Đề nghị ấy được Nhậm tán thành.
Rồi việc ấy thực hiện: Duy Cận được đón lập làm Giám quốc đóng ở điện Cần Chính.
Đã bất mãn lối độc đoán của Nhậm, lại không ưng cái tư cách của Duy Cận, Ngô Văn Sở nói riêng với Nhậm:
– Tôi xem bộ dạng Duy Cận như vậy, còn hòng cai trị được ai? Nên lấy, ta cứ lấy phắt đi, cần chi phải mượn thằng cầu bơ cầu bất ở đâu về làm bồ nhìn, rồi chúng mình lại đóng quân trong thành, canh cửa cho nó!
Nhậm lạnh lùng:
– Lòng người Bắc Hà vẫn còn nhớ Lê; nên nay hãy cứ làm theo dân vọng. Việc đó, đã có tôi chủ trương. Các ông chỉ việc đánh khỏe là đủ.
Làm thinh, Sở ra bảo Văn Lân:
– Lão Chế Nhậm khinh người quá! Chẳng hay lão có tài đức chi mà dám coi ta như một tên lính!
Đinh ninh nhớ nhời dặn ngầm của Bắc Bình vương, Sở, từ khi bước chân đi Bắc, vẫn chăm chăm rình miếng vật Nhậm để tâng công.
Cơ hội đã đến rồi. Mấy nhời Nhậm nói nặng Sở kia đủ làm tàn lửa đốt thùng thuốc súng!
Từ đó, công thành ra tội, việc làm phải lẽ hóa ra phản trạng nặng nề: Nhậm sẽ chung một mối oán với Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Tất (người cuối Trần)!
Vẫn biết Văn Nhậm ngang tài với mình, song muốn lợi dụng cho được việc một lúc, rồi sẽ liệu bài trừ sau: Bắc Bình vương nghĩ thế. Khi cho Nhậm ra Bắc, vương đã dặn bọn Sở phải coi chừng. Nay bỗng tiếp được tin Sở mật báo, lại thấy Văn Lân đứng làm chứng, vương càng quả quyết giết Nhậm, không tha.
Lập tức hạ lệnh động binh, Bắc Bình vương, thanh gươm, yên ngựa, lên đường, ngày đêm đi gấp ra Bắc163...
Vượt suối, lách rừng, leo núi…, hơn mười ngày, Bắc Bình vương đã đến Thăng Long.
Đêm tháng tư, cảnh vật như bị nấu chín trong lò lửa hạ! Tiếng dế khóc cuộc hưng vong dưới chân Hoàng Thành mờ phủ lớp rêu cằn cỗi bỗng bị khỏa lấp vì trống canh tư chậm rãi điểm hồi.
Nằm trên oai quyền lẫm liệt, Tiết chế Vũ Văn Nhậm đang nồng giấc “chinh phu”.
“Tôi có tội gì?” Tiếng kêu chưa dứt, Nhậm đã âm thầm ôm mộng thác oan!
Ai giết Nhậm?
Thì ra, nhân lúc không ngờ, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đang đêm ập vào trong quân thứ, sai võ sĩ Hoàng Văn Lợi đâm chết Chế Nhậm, rồi chôn xác ngay ở sau phủ, vùi sâu sự nghiệp một đời tướng tài164!
Sáng ra, vương cải tổ lại quân ngũ, nhắc Ngô Văn Sở lên thế chân, cầm binh quyền.
Chỉ vì chén thuốc độc
Ở Nam đã hòa với vua Thái Đức; ra Bắc, lại “sửa” xong Vũ Văn Nhậm, Bắc Bình vương, lúc này, có thể rảnh tay để lo việc thiện hậu ở Bắc Hà.
Muốn được mời lên ngự chiếc ngai vàng, vương sai triệu tập các tôi cũ nhà Lê, ép phải làm biểu liên danh khuyến tiến.
Nhưng việc ấy bị thất bại vì chén thuốc độc của Tham tri chính sự Nguyễn Huy Trạc, người chỉ trông thấy có ba chữ “Lê Thái Tổ”, chứ không sợ uy võ của Tân trào!
Không muốn “già néo”, Bắc Bình vương dùng cái chiến thuật “làm dần”. Trước hết hãy chia chức, đặt quan, khiến cho bộ máy cai trị cứ quay chuyển đã: Đô đốc Hòa Nghĩa hầu trấn thủ Sơn Nam; Lôi Quang hầu trấn thủ Sơn Tây; Nguyệt Quang hầu trấn thủ Kinh Bắc; Hám Hổ hầu165 trấn thủ Hải Dương. Giác Hòa hầu giữ Lại bộ; Lộc Tài hầu giữ Hình bộ; cả bốn hầu này cùng ngồi ghế hiệp trấn.
Vương lại ra lệnh cho bách quan làm việc “cử tri”: tiến cử người mình biết là hiền năng để Tân trào bổ đi cai trị các huyện. Mỗi huyện đặt hai viên văn võ cầm đầu: văn phân tri và võ phân suất. Còn ty thuộc trong các trấn? Ngô Văn Sở được tùy tài bổ dụng, rồi bẩm lên để cấp văn bằng.
Trong đám Lê thần xoay về với Tây Sơn đây, có Phan Huy Ích166 và Ngô Thì Nhậm là những tay rất đắc lực về việc tử lệnh giao thiệp với nhà Mãn Thanh sau này.
Ngô Thì Nhậm suýt bị Lễ quan Vũ Văn Ước bắt đem trị tội “dám” ngồi cùng chiếu với Ước, khi Ước sắp dẫn các cựu thần nhà Lê vào ra mắt Bắc Bình vương.
Trốn được thoát, Ngô tự đến yết Trung thư lệnh Trần Văn Kỷ, nhờ Kỷ tiến dẫn lên Bắc Bình vương.
Gặp Ngô, vương yên ủi:
– Trước kia, chúa Trịnh không dùng khanh, khanh phải trốn tránh: nghĩ cũng đáng buồn! Nếu ta không tới đây, khanh đâu được có cái may mắn này? Có lẽ trời có ý để dành lại cho ta dùng đó?
Ngô lạy tạ.
Vương ngoảnh lại bảo Kỷ:
– Ngô Thì Nhậm là người được ta tái tạo cho đó!
Vương lập tức sai thảo chế, phong Ngô làm Lại bộ Tả thị lang Tình Phái hầu, cho với Ước cùng quản lĩnh các viên chức văn võ ban thuộc triều Lê.
Phá tan quang cảnh lạnh lẽo, tiêu điều, đền Chính trung bữa nay trở nên náo nhiệt, oai nghi, tấp nập. Đưa mắt nhìn bọn đương e dè tiến lên điện để lạy chào kia, Bắc Bình vương hỏi thử một người:
– Ngươi làm chi.
Người ấy đáp:
– Thưa Thám hoa.
– Thám Hoa là cái chi? Có làm đặng tổng trưởng (tức Chánh tổng) không?
Rồi vương truyền cho mọi người lên cả trên thềm, dụ họ bằng giọng sang sảng như tiếng chuông:
– Lê Tự hoàng dầu do ta lập lên thật, song Tự hoàng là người ngu muội, ươn hèn, không cáng đáng nổi trọng trách. Khi ta về Nam, Tự hoàng bị Cống Chỉnh nó xoay đến nỗi tự chuốc lấy vạ, thật không đáng thương! Nay lập Sùng Nhượng công làm việc Giám quốc giữ việc thờ cúng nhà Lê: chính phải lắm. Các khanh nên gắng ở lại giúp đỡ thì hơn. Mai kia ta lại vô Nam, thật không lấy Bắc Hà làm lợi. Song, vì sợ Tự hoàng tranh giành với Giám quốc, người nước lại đổ lỗi tại ta gây ra mối loạn, nên chi phải để Đại tư mã Ngô Văn Sở hãy tạm đóng binh coi giữ; đợi khi bốn phương yên ổn, bấy giờ ta sẽ triệu về.
Ăn kết quả của cuộc chiến thắng, Bắc Bình vương nhấp “chén” thành công mua vui với thân thần; trước khi trở về Thuận Quảng.
Nồng như rượu, đậm đà như món ăn, vương ngọt ngào dặn bảo bọn họ:
– Ngô Văn Sở (Đại tư mã), Phan Văn Lân (Nội hầu): nanh vuốt của ta; Nguyễn Văn Dụng (Chưởng phủ), Trần Thuận Ngôn (Hộ bộ Thị lang) tâm phúc của ta, Ngô Thì Nhậm (Lại bộ Thị lang) tuy là mới nhưng là bậc tân thần (賓臣) ta coi như khách. Nay ta giao cho các khanh hết thẩy mọi việc quân quốc, coi quản 11 trấn trong toàn hạt. Hễ có điều chi, ta cho cứ được tiện nghi làm việc. Song các khanh cần phải họp bàn với nhau, chứ đừng phân bì kẻ mới, người cũ, miễn sao làm cho được việc, ta mới yên lòng…
"Người mới vui cười, người cũ khóc"
Vua Lê Chiêu Thống, sau khi bỏ thành Thăng Long, chạy sang Kinh Bắc: chẳng những không được dung nạp, lại bị thủ hạ của Nguyễn Cảnh Thước, trấn thủ xứ Bắc, lột lấy áo bào!
Sau trận Cống Chỉnh bị bắt ở Mục Sơn167, Chiêu Thống lại phải trốn vào sơn trại huyện Bảo Lộc168!
Bấy giờ Thăng Long còn đương nép dưới “cây gậy tiết chế” của Vũ Văn Nhậm. Thấy Nguyễn Văn Hòa loay hoay trước bức lũy ở phía bắc sông Nguyệt Đức169 do Nguyễn Trọng Linh, thổ mục Bảo Lộc đắp lên để hộ vệ cho cá thể Chiêu Thống, Nhậm cho là một vết không vinh dự cho nhà binh Tây Sơn. Lập tức đại binh từ Thăng Long kéo đến, do Nhậm cầm đầu, đánh thắng được Linh sau một ngày một đêm kịch chiến.
Trải cơn thất bại ở Bảo Lộc, Chiêu Thống đọc rõ những nét “muốn phản” trên mặt Linh, phải quay về Chí Linh170 nương nhờ Trần Quang Châu và Lê Ban, mưu đánh trấn Hải Dương làm đất căn cứ.
Quân nghĩa dũng nhiều nơi nổi dậy, đáp theo tiếng gọi của lá chiếu cần vương.
Thay chân Nhậm, Văn Sở đang sống trong những phút tưng bừng ở kinh đô Thăng Long, càng khấp khởi mừng khi thấy Trần Liên do Đinh Tích Nhưỡng ở Hải Dương sai đến cáo tỏ chỗ Chiêu Thống đang trốn tránh.
Sắc đêm nhuộm đẫm cảnh vật. Trăm tên lính Tây Sơn, theo tay chỉ điểm của Liên, giẵm bóng tối, vin rễ cây, bám hốc đá, vượt núi định vào bắt sống vua Lê phen này! Chẳng dè cả lũ đều toi mạng dưới tay làm việc có phòng bị của Châu và Ban.
Sở hay tin tức đó, tức tốc phái binh lùng bắt Chiêu Thống, một nạn nhân long đong nay Chí Linh, mai Hiệp Sơn, mốt Chân Định.
Mặt khác, Sở sai bộ tướng đi dẹp những nơi hễ có làn khói phản đối Tân trào: đã đánh quỵ Việt Tuyển ở Hoàng Giang171, lại đuổi bắt bọn Châu, Ban ở mạn xứ Đông, khiến cho Chiêu Thống phải đúng với sước hiệu172 là vua “Mống Siêu” từ đó.
Dưới vòm trời nặng trĩu mây tối, chiếc thuyền bôn ba của vua Lê vừa chèo đến Đông Ngạn để tới Hoàng Giang thì đùng một cái, tin Viết Tuyển thua173 chạy về Nghệ An làm rụng rời khách lưu ly điên bái!
Như nước, lòng vua Lê cồn cộn! Như con thuyền, thân thế vua Lê lênh đênh! Phó mặc may rủi, Chiêu Thống cứ xuôi theo dòng nước đi liều về phía nam. Rồi, theo gió, thuyền nhà vua cứ “đi phiếm” ra biển khơi. Mây trôi hờ hững. Đàn sóng vật nhau trên mặt biển mông mênh. Chiêu Thống cảm thấy thân mình là bọt biển dạt dào, gia đình mình là những hoa sóng tan tác!
Thuyền đến hải phận Biện Sơn, Chiêu Thống gặp Lê Ban, lại kéo nhau quay về Thanh Hoa. Rồi lúc lén đi Kim Bảng, lúc vi phục về Kinh Bắc, lúc tạm ẩn ở Lạng Giang, lúc lẩn quất vùng Từ Sơn, ông vua cuối đời Lê trung hưng này nếm trải đủ mùi đắng cay trong cơn gió bụi. Hai câu trong bài thơ Chiêu Thống gửi cho Trần Danh Án đã chứng rõ nỗi gian truân ấy:
社稷有懷常鬱結
江湖飽歷苦流連
“Xã tắc hữu hoài, thường uất kết!
Giang hồ bão lịch, khổ lưu liên!”
Dịch:
Xã tắc ngửa nghiêng, lòng nghẽn thắt!
Giang hồ lây lất, cảnh long đong!
Đường đã cùng, sức đã kiệt, Chiêu Thống không còn xoay được chiến thuật gì khác, ngoài kế rước voi! Nằm chờ ở vùng Phượng Nhỡn, Chiêu Thống gửi hết hy vọng hưng phục vào chú Mãn Thanh, khi đã sai Lê Duy Đản và Trần Danh Án sang Tàu cầu viện.
Mặt khác, Thái hậu và Nguyên tử nhà Lê cùng bọn thị thần Lê Quýnh, sau khi chạy được lên đến Cao Bằng, nương dựa Đốc đồng Nguyễn Huy Túc, cũng gõ cửa nhà Thanh, van lơn cầu cứu.
Trước đó, Nguyễn Huy Túc và Lê Quýnh hộ vệ Thái hậu và Nguyên tử trốn đến xã Bác Sơn174 giáp đất Tàu, thì bị quân Tây Sơn đuổi tới (mồng 9 tháng năm năm Mậu Thân, 1778). Bọn Túc chạy đến bến sông, cầu người Thanh cứu giúp và xin cho vào trong quan ải.
Khi các nhà chuyên trách bên Thanh giữ việc tuần phòng cửa ải đang xét hỏi bọn Túc thì bên này sông Phất Mê, có đến hơn trăm quân Tây Sơn chực xông sang bắt. Nhưng vì thấy chỗ đối cửa ải bên Tàu có quân lính Mãn Thanh, nên bọn hơn trăm quân đó lại rút lui, chứ không qua sông nữa. Vì vậy, bọn Túc mới dẫn tất cả đàn ông, đàn bà cộng tới hơn 62 người175 vượt được qua sông.
Chịu qua một lượt tra xét, kiểm điểm, bọn Túc được các chú cho vào trong ải mà ở đậu176.
Thấy Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh tâu lên Thanh đình việc bọn Túc đem quyến thuộc vua Lê sang nương nhờ đất Tàu ấy, vua Càn Long (1736-1795) nhà Thanh liền truyền Tôn Vĩnh Thanh cứ mật xét hỏi bọn Túc, chứ không cần đợi Tôn Sĩ Nghị đến rồi mới làm177.
Rồi vua nhà Thanh xuống dụ rằng: “… Hiện nay quyến thuộc Duy Kỳ cần phải an sáp cho được thỏa đáng, dẫu tốn bao nhiêu của kho Nhà nước cũng không nên tiếc…”178
Bấy giờ quân Tây Sơn tràn sang biên giới đất Tàu, triều đình nhà Thanh không khỏi nao nao hồi hộp, tính ngay đến việc phòng thủ. Vua Thanh tức tốc hạ lệnh: ở nơi quan ải bên Tàu tuy đã điều bát đến 1.000 binh chia đồn đóng giữ, nhưng sợ số quân như thế chưa được nhiều, nhỡ quân Tây Sơn ở đối diện bờ sông bên này thấy quân Thanh còn ít mà sinh sự ra chăng, vậy cần phải điều bát thêm lấy hai, ba nghìn lính nữa, mà chia đóng rải rác trong quan ải để làm cho mạnh thêm thanh thế179.
Nguyễn Hữu Túc, sau khi sang lọt Long Châu180, nhờ người bạn Tàu là Ngô Sơn Tiều Ẩn (không rõ tên thật là gì) giới thiệu với viên Đô tư Trần Hồng Thuận ở Long Bằng doanh. Rồi, như trên đã nói, việc cầu viện đó được đạt đến Tôn Vĩnh Thanh, sau lại lên tới Thang Hùng Nghiệp, Tả giang Binh bị đạo, và Tôn Sĩ Nghị, Lưỡng Quảng Tổng đốc.
Phần Thứ Ba: Đối Ngoại.
Cọp thanh chực vồ thịt việt
Mùa hạ năm Đinh Mùi (1787), Bắc Bình vương ra Thăng Long lần thứ 2, giết Tiết chế Vũ Văn Nhậm, xếp đặt ngạch quan quân, chỉnh đốn việc quốc chính, rồi lưu 3.000181 binh đóng giữ Bắc Hà, lại trở về Nam.
Gánh lấy trọng trách vương đã giao phó, bọn Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm không giám “giấu ta lâng”182 trong khi vắng chủ.
Hễ đâu có sức phản công bùng nổ thì sai tỳ tướng đem quân đi dẹp, cũng đủ làm cho nước lặng sông trong.
Phủ huyện có văn án đệ trình, thì tùy liệu phân xử, không để đọng lại một việc.
Việc canh phòng biên giới giáp với Mãn Thanh? Đã có đô đốc Nguyễn Văn Diễm183 đem du binh đi tuần, xét hỏi giấy phép, cấm ngặt những ai lén lút sang Tàu.
Sống trong thời oanh liệt, bọn Sở mua vui với nhau bằng cách quần ngựa khiển hứng và chuốc chén tiêu nhàn.
Nhưng, họ có ngờ đâu, dưới bóng cờ chiến thắng, đã ẩn ngầm những biến động tầy đình khiến họ phen này, ngựa trận phải đổ mồ hôi, tóc Tướng quân phải pha mầu tuyết:
Nguyên bọn Tham tri chính sự Lê Duy Đản và Phó đô Ngự sử Trần Danh Án, sau khi vâng mật chỉ của Chiêu Thống, cải trang giả làm lái buôn Tàu, nhập bọn với tụi khách, đi lọt được sang đất Mãn Thanh, sốt sắng vận động cuộc cứu viện.
Bọn Án nhờ người canh gác cửa ải giới thiệu, vào ra mắt viên phân phủ họ vương ở phủ Thái Bình (Tàu). Họ kêu khóc kể lể những nỗi Tây Sơn xâm lăng từ năm Bính Ngọ (1786). Hiện nay, vua quan nhà Lê long đong điên bái, “không chỗ gối đầu”!
Trước những ngôn ngữ cử chỉ của họ, vương phân phủ trước còn ngờ, tưởng Tây Sơn bày mưu sai người sang thám thính, nên cứ vặn vẹo bọn Án mãi. Sau, cảm động vì những giọt nước mắt thành thực của Án và Đản, họ Vương phải hứa sẽ nói giùm với Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh và Lưỡng Quảng Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị để Nghị đề đạt việc này lên triều Thanh.
Khi đã nghe thấu cả hai tiếng kêu của bọn Án và của bọn Nguyễn Huy Túc, Tôn Sĩ Nghị giở ngay lối văn sáo cũ nói với bọn liêu thuộc:
– Nước Nam xưa “vốn” thuộc Hán, Đường. Mãi đến đời Tống, họ Đinh mới cựa được lên, giữ lấy nước. Từ đó trở đi, đời nọ nối đời kia gây thành một nước độc lập. Nay cuộc thế xoay vần, họ không giữ nổi, có lẽ ý trời muốn ban cho chúng ta chiếm làm quận huyện đấy nhỉ?
Nghị liền sang Long Bằng doanh, họp bàn với Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh.
Vĩnh Thanh, với giọng lý sự, phản đối:
– Gây sự với ngoài là việc lớn. Lợi hại không phải vừa. Cứ như Ngài (chỉ Tôn Sĩ Nghị) nói, thì Lê Tự tôn cũng đáng thương thật; song thế lực Tây Sơn chưa chắc đã đốn mạt đến thế, vì Nguyễn Huệ là tay thảo trạch vùng lên, hành binh từ thủa để chỏm. Một phen ra tay đã đánh đổ được cái triều đình hơn 300 năm (chỉ nhà Lê) thì lực lượng ấy, tưởng không phải yếu.
Huống chi nước Tàu chúng ta hàng 200 năm nay thái bình vô sự, dân không quen biết việc binh; một sớm giong ruổi vào nơi viêm chướng, chưa chắc đã đánh được, mà được cũng chẳng vinh gì! Muôn một rủi ro thì thiệt hại lắm. Ngài (Nghị) là đại thần nhà nước, cần nên giữ vững bờ cõi, chứ đừng cả tin người ngoài, vội gây sự với lân bang. Cái gương tày liếp của Hoàng Ngũ Phúc, Trương Phụ (đều người đời Minh) ở hồi Vĩnh Lạc (1403-1424), Tuyên Đức (1426-1435) nào đã mờ đâu!
Tôn Sĩ Nghị cãi lại:
– Nhà Lê chịu phong, đời giữ lễ cống. Nay nước người gặp cơn biến loạn, lẽ nào không cứu mà lại ngồi nhìn?
Xếp lý luận ra một xó, Nghị nhúng tay vào việc: đòi gọi bọn Nguyễn Hữu Túc, Lê Quýnh, Hoàng Cái Hiểu, Nguyễn Đình Trạc và Nguyễn Đình Mai đến quân môn cung trạng.
Nghị lại đưa một bản đồ cho Lê Quýnh coi rồi hỏi xem bộ vị và phương diện trong bản đồ ấy có đúng với thực tế không. Thấy Quýnh cho rằng bản đồ sai đến bốn, năm phần mười, Nghị liền sai họa công đến sửa lại theo Quýnh chỉ bảo. Phàm những chỗ còn, mất, hư, thực và anh em Lê Hoàng hiện đang ở đâu đều phải biên chua vào bản đồ cho rõ ràng kỹ lưỡng.
Rồi Nghị dặn bọn Túc: “Việc này, để ta còn tâu lên triều đình. Khi nào được chỉ, ta sẽ giúp cho các ngươi. Các ngươi hãy cứ về nước, tìm cho đến chỗ Tự hoàng đang ở, thám thính tình hình Tây Sơn bây giờ ra sao và người nước xu hướng bây giờ thế nào, lập tức phải phi báo sang để ta phúc tấu. Bấy giờ ta sẽ kéo binh qua cửa ải: chống lại cái nhà đã đổ và dựng lại cái nước đã tan.”
Vua Thanh Càn Long184 (1736-1797) nhận được tờ biên của Tôn Sĩ Nghị nói về nội tình nước Nam và việc vua Lê đem Thái hậu cùng Nguyên tử chạy sang cầu viện liền hạ chiếu thư dụ bảo Nghị:
Tự tôn Duy Kỳ khi đem gia quyến sang đất Bắc (Tàu), là do Trào Châu ruổi đến Long Châu. Cứ theo như lời Tôn Sĩ Nghị tâu, thì ra Lê Duy Kỳ cũng cùng đến cả. Nhưng Duy Kỳ đã thân đem gia quyến sang nội địa, mà sao trong tờ trình vẫn để di quan (quan mọi) Nguyễn Huy Túc đứng tên?
Vả, bọn thổ tù Nguyễn Nhạc đã công phá đô thành nhà Lê, sau thấy Lê Duy Kỳ chạy trốn, lại đem binh đuổi theo để chực giết.
Nếu nước ấy đã bị họ Nguyễn (Tây Sơn) chiếm hết cả mà Duy Kỳ đem quyến thuộc chỉ có hơn 60 người, thì suốt dọc đường sao lại yên ổn mà sang đến tận nội địa này được?
Hiện Duy Kỳ đã tới Long Châu. Vậy truyền Tôn Sĩ Nghị sau khi đến Long Châu nên hỏi tận mặt Duy Kỳ: họ Nguyễn (Tây Sơn) làm loạn, xét ra là vì cớ gì mà gây nên biến? Duy Kỳ gặp nạn gửi mình nơi nội địa phải chăng chỉ cốt bảo toàn lấy tính mạng mẹ con, còn đất đai thì đem nhường cho họ Nguyễn? Hay là chỉ tạm nương náu bên nội địa để trốn tránh, trong bọn thần hạ của Duy Kỳ còn có kẻ có thể vì Duy Kỳ mà giết giặc mà khôi phục rồi đón mẹ con y về nước? Vậy hỏi xem chủ kiến của y như thế nào? Nếu y không biết được rành mạch tỏ tường thì nên đến xét hỏi tận bọn Nguyễn Huy Túc…
Lần này Tự tôn nước ấy cùng quẫn quá lắm mới phải gửi thân nơi nội địa. Trong tờ trình dẫu không thấy nói xin cứu binh, nhưng bọn trấn mục của y nếu quả có thể triệu tập được dân binh, quét tan được hung nghịch, đón Tự tôn về thì cố nhiên là hay lắm rồi.
Nếu họ Nguyễn (Tây Sơn) chỉ chiếm một dải đất của đô thành Lê mà chỗ khác vẫn còn của Lê, bọn trấn mục tuy không trừ diệt được họ Nguyễn (Tây Sơn) nhưng vẫn có thể làm yên được việc mà đón Tự tôn về thì bấy giờ ta sẽ vì họ mà khuôn xếp cất đặt. Thế thì dòng nước họ Lê không đến nỗi bị đoạn tuyệt, ta cũng không bõ dấy quân, thay họ làm đỡ việc lớn.
Nếu họ Nguyễn công phá đô thành Lê rồi lại chiếm cứ hết đất đai An Nam, hoặc con cháu họ Lê đều bị giết hại hết cả thì Tự tôn mai sau chung quy cũng chẳng còn có nước đâu mà về được nữa.
An Nam thần phục bản triều rất là cung thuận, nay bị cường thần tranh cướp, gõ cửa ải mà kêu xin gửi nhờ nội địa, nếu ta bỏ mà không xét đến thì thật không phải là đạo vỗ yên nước nhỏ, làm sống lại kẻ luân vong.
Vậy nên họp tập binh bị cho dày sức rồi kể tội kẻ cường thần mà tiến sang đánh. Đến bấy giờ tự Trẫm sẽ xếp đặt quyết định…”185
Mới đọc xong tờ dụ trên, chắc các bạn tưởng vua Thanh giàu lòng nhân đạo khi thấy vua Chiêu Thống đương thất thểu đi đến bên hố luân vong, nhưng khi xem đến lời chiếu dưới đây, sẽ thấy rõ cái dã tâm của vua tôi nhà Thanh hồi đó:
Nay Lê Duy Kỳ dẫu phải bôn vong, nhưng toàn cõi chưa đến nỗi mất hết. Mà thần dân trong nước hãy còn yêu mến họ Lê thì cũng có cơ hưng phục được. Vậy cho khanh đem quân đóng ở biên thùy, xa làm thanh thế cứu viện. Rồi bảo Duy Kỳ phải triệu tập nghĩa binh thu phục lấy quốc thành, chứ ta không cần phải động binh đánh giúp cho nhọc công, tốn của. Khi họ lấy được kinh thành rồi, khanh sẽ đem quân hộ tống Duy Kỳ về nước. Nếu Tự tôn không làm nổi việc và Tây Sơn cứ rông rỡ thì bấy giờ khanh sẽ đem binh hỏi tội. Rồi thừa cơ chiếm lấy nước Nam.
Nghị liền thông tư đi Vân Nam và Tứ Xuyên đốc lấy binh mã.
Khi sắp xuất quân, Nghị lại làm sớ tâu vua Thanh đại lược:
… Nội lực nhà Lê yếu lắm, rồi ra chắc cũng không giữ nổi nước đâu. Nay thấy họ sang cầu viện, đối với danh nghĩa bề ngoài, triều ta không lẽ không cứu… Nhân dịp này, nếu hưng phục cho Lê được rồi ta sẽ đặt thú binh mà giữ lấy nước. Thế là vừa có ơn với Lê, lại vừa lấy được An Nam: nhất cử lưỡng lợi!
Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh tuy bác bẻ lời sớ của Nghị là “trước dùng nghĩa, sau mưu lợi”, Nhưng Vĩnh Thanh cũng lộ cái dã tâm muốn nuốt nước Nam trong mấy câu này:
… Chi bằng ta cứ đóng binh không động, đợi khi Lê và Tây Sơn cả hai cùng kiệt quệ, bấy giờ ta sẽ thừa cơ đánh lấy cũng chưa muộn nào!
Rồi lời thỉnh cầu của Nghị được chuẩn y, giấc mộng xâm lược của Nghị được thành sự thực. Binh mã bốn tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Quảng Đông, Quảng Tây, tất cả 20 vạn quân rần rần rộ rộ chia làm ba đường, đồng thời vào xâm nước ta:
Một đạo của Lưỡng Quảng Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị và Đề đốc Hứa Thế Hanh đi theo con đường từ Nam quan rồi do Lạng Sơn đổ xuống.
Một đạo của Vân Quý Đề tổng họ Ô (không rõ tên gì) từ Tuyên Quang186 tràn vào.
Còn một đạo nữa của Điền Châu Tri phủ Sầm Nghi Đống thì từ Cao Bằng kéo xuống.
Hứa Thế Hanh: Đề đốc;
Trương Triều Long:187 Tiên phong;
Thượng Duy Thăng: Tả dực;
Sầm Nghi Đống (Điền Châu Thái thú): Hữu dực.
Hết thảy tướng tá và 20 vạn quân đều ở dưới quyền gươm ấn của Tôn Sĩ Nghị.
Khi quân Thanh trảy đi, tuy ai nấy phải đeo khí giới tùy thân, nhưng mỗi tên lính lại có một tên phu theo phụ188.
Dử giặc vào sâu
Muốn biết rõ lực lượng chiến đấu của quân ta bấy giờ ra sao, nay cần nên biết thêm về mặt đối phương một chút.
Khi kéo sang, Tôn Sĩ Nghị có ban ra tám điều quân luật. Ngoài những điều khuyên răn quân lính của Nghị không cần dùng làm đối tượng để nghiên cứu, còn có ba điều dưới đây cũng có thể dựa làm bằng chứng để cho ta thấy sơ phương lược của tướng Thanh định ứng phó trước cái oai võ của các chiến sĩ Đại Việt ở đương thời và chiến lược của vua Quang Trung toàn vượt ra ngoài chỗ Nghị sở liệu cả.
Điều thứ 2 – Ở ngoài quan ải (chỉ nội địa bên ta) có non cao, núi hiểm, địa thế vốn dễ mai phục; trước nên bạt bỏ đá núi, đốn phát rừng nứa, khiến cho trông ra quang đãng, có thể phóng tâm mà tiến lên. Nếu thấy ở đâu có đất mới lổm ngổm thì càng nên để ý xem xét kẻo mắc mưu chước quỷ quyệt.
Điều thứ 4 – Người Nam, khi ra trận hay dùng voi. Voi không phải là món người Tàu quen thạo. Hễ gặp voi thường cứ chạy tránh đi trước. Nhưng nào có biết sức voi dẫu có lớn chung quy vẫn là con vật có huyết khí, không thể đương nổi với đồ dẫn hỏa của ta. Vậy hễ thấy voi ra trận, nếu xa thì bắn bằng súng, nếu gần thì trị bằng dao và cung, khiến voi bị thương, đau phải chạy quay lại, rồi tự giày đạp lẫn nhau. Quân ta (Thanh) thừa cơ ấy mà tiến công, tất thắng, không còn phải ngờ nữa.
Điều thứ 5 – Quân Nam toàn dùng cái ống phun thuốc súng làm lợi khí, gọi là “hỏa hổ”. Khi hai quân giáp nhau, quân Nam tất phải trước dùng thứ đồ ấy để đốt cháy quần áo người ta khiến cho phải lui. Nhưng so với sang pháo của Tàu chúng ta thì kém xa lắm. Hiện ta đã chế được vài trăm cái mộc bằng da trâu sống (không thuộc). Nếu thấy quân Nam bắn hỏa hổ thì quân ta một tay cầm mộc để đỡ lửa, một tay cầm dao để chém bừa.
Quân luật của Nghị như thế kể cũng ráo riết, nhưng đến mồng 5 tháng giêng, năm Kỷ Dậu (1789) này, sự thực sẽ trả lời Nghị:
Quân Nam không cần cậy hiểm, đặt quân phục, thế mà quân Thanh đến phải lách khe núi, luồn rừng cây mà trốn về!
Quân Nam có dùng voi, nhưng chỉ để giày đạp quân Thanh, chứ không đến nỗi chà lộn nhau như Nghị đã tính trước.
Quân Nam vẫn dùng hỏa hổ để công phá làm cho vài trăm chiếc mộc da trâu của quân Thanh đều thành vô hiệu!
***
Đang sống trong những phút “đế vương” hưởng bao bông đẹp trái ngon trong 11 trấn, Ngô Văn Sở bỗng được tin quân gấp rút, tấp nập như gió mưa. Móng chân bịt sắt của ngựa Mãn Thanh đang chà nát luống cầy thượng du miền Bắc. Thổ binh vì sợ hãi, đã chạy trốn mất quá nửa! Phan Khải Đức189 một trong hai tướng đang giữ Lạng Sơn, đã xuống hàng giặc! Tướng Nguyễn Văn Diễm, thấy thế cô, phải rút quân về Kinh Bắc, hiệp sức với lưu thủ Nguyễn Văn Hòa, cố giữ lấy thành trì ấy.
Sở lập tức nhóm các văn võ quan liêu nhà Lê, sai thảo bức thư nói với tướng Thanh xin hoãn binh dưới đứng tên Giám quốc Sùng Nhượng công Lê Duy Cận. Rồi cắt bọn Trần Bá Lãm, Nguyễn Đình Khoan, Lê Duy Chử đem thư đưa cho Tôn Sĩ Nghị.
Ngồi ghế chủ tịch, Văn Sở nhóm quân sự hội nghị, bàn chước chiến, thủ. Dự hội nghị ấy có Lân, Dụng và Thì Nhậm…
Chưởng phú190 Nguyễn Văn Dụng nói:
– Cuối đời Trần, người Minh sang chiếm nước ta. Bọn Hoàng Ngũ Phúc, Trương Phụ, Mộc Thạnh, Liễu Thăng đều là những tướng kiệt hiệt. Vua Lê Thái Tổ khởi nghĩa ở Lam Sơn: đọ sức ra, khó lòng địch nổi chúng. Nhưng vua Lê biết hành binh, khéo mai phục, nhắm vào chỗ yếu của giặc, ập ra đánh giết, nên mình ít mà vật được nhiều: làm khốn Vương Thông ở bến Đông Bộ191, giết được Liễu Thăng ở núi Mã Yên192. Võ công ấy nghìn thu hãy còn thơm nức. Nay người Thanh vượt suối, trèo non, từ xa kéo lại: chúng nhọc lắm rồi! ta đang nhàn rỗi, sức hãy còn hăng. Chi bằng đặt sẵn quân phục ở nơi hiểm yếu, đợi chúng mới thoạt đến đổ ra thịt sống cả đi. Làm vậy, lo gì chẳng thắng?
Với giọng nho nhã, thâm trầm, Thì Nhậm bàn lại:
– Tình cảnh giống nhau, nhưng thời thế đổi khác. Xưa nước ta thuộc nhà Minh, suốt nước căm giận cái thói tham tàn, độc ác của quân Ngô, ai cũng muốn vùng dậy mà đánh đuổi chúng. Cho nên vua Lê hô lên một tiếng, gần xa thảy đều vang theo. Khi đánh với quân Minh, người nào cũng trổ tài, gắng sức. Nghe tin thắng trận, lòng ai cũng hớn hở vui mừng. Nhân tâm như thế, nên mai phục được kín đáo, không ai dám để lộ cho giặc thông rõ tỏ tường. Vì vậy, vua Lê mới thắng và bá cáo được bài “Bình Ngô”.
Ngô Thì Nhậm lại tiếp:
– Bây giờ khác hẳn. Các bô thần nhà Lê đâu đâu cũng có. Nghe tin người Thanh đến cứu, họ đều nghển cổ trông mong, chực chờ bàn tay ngoại viện làm nên công việc hưng phục. Vả, dân mình lại nhẹ dạ, trúng cái mưu độc “diệt Hồ lập Trần” thuở trước, họ cũng náo nức đi đón quân Thanh. Như vậy, quân ta mai phục ở đâu, địa thế hiểm hay dễ, số quân ít hay nhiều, thế nào chẳng có nội công cáo tỏ. Người Thanh sẽ nhân kế của ta mà vật lại ta: đổ ra bốn mặt lùng bắt cho kỳ hết quân phục, chẳng hóa ra tự mình mua lấy cái chết? Quân cơ đã lộ, còn mong gì đánh úp được ai?...
Sở nói:
– Vậy thì tính sao bây giờ?
Nhậm đáp:
– Dụng binh có hai cách: đánh và giữ. Nay quân Thanh kéo đến, thanh thế đã vang dậy rồi, người mình lại có lắm kẻ làm nội ứng, đồn đại quá lời, làm cho lòng người càng thêm náo động. Ta có việc gì sai người ra khỏi thành chắc sẽ bị chúng bắt giết. Vả, những lính Bắc Hà được dịp này, lại dễ trốn lắm. Thế mà chực đem quân đó đi đánh, khác nào thả dê đánh cọp, tài nào chẳng thua? Muốn đóng cửa thành cố sức giữ, lại sợ không thể tin cậy ở lòng người, tất có nội biến… Đánh đã không xong, giữ lại không vững, bây giờ chỉ còn một chước: rút lui, dử giặc vào trong nội địa.
– Tướng quân, – Vẫn lời Thì Nhậm, – Nên mau truyền lệnh cho quân thủy đóng thật nhiều lương thực vào các thuyền, chở ra đồn Biện Sơn trước. Rồi ta sẽ kéo bộ binh, gióng trống, mở cờ, lui giữ lấy núi Tam Điệp193, liên lạc với quân thủy. Cố giữ cho vững chỗ hiểm yếu ấy, bấy giờ mới bay thư về báo Đại vương (chỉ Nguyễn Huệ) cũng chưa muộn nào.
Sở nói:
– Khi Đại vương về Nam, Ngài đã giao phó thành này cho ta. Nay giặc đến ta phải sống chết với thành, trước là khỏi thẹn là bầy tôi giữ đất, sau mới không phụ cái trọng trách cầm binh quyền. Nếu bây giờ sợ bóng gió, chưa chi đã vội chạy, bỏ thành cho giặc thì chẳng những có tội với Đại vương, mà lại để tiếng cười với người Bắc Hà nữa.
Nhậm giảng giải:
– Tướng giỏi đời xưa liệu giặc rồi mới đánh, tính chước rồi mới làm, lâm cơ, ứng biến, vào quỉ, ra thần, cũng như tay cao tính nước, tùy thế mà đánh cờ vậy. Ta kéo đủ quân về, không phí một người lính, một mũi tên, cho giặc ngủ nhờ một đêm rồi lại đuổi đi, nào có mất gì mà sợ? Nếu vì rút lui mà mang tội, thì tôi xin giãi bày với Đại vương, chắc Ngài cũng sẽ soi xét. Xin Tướng quân đừng ngại.
Trận đấu bất lợi
Sở mật truyền các trấn thủ ở Kinh Bắc và Lạng, Thái rút quân lui về, nhưng phải thanh ngôn là đi hội quân để đắp lũy đất ở bên sông Nguyệt Đức194.
Sở lại hẹn ngày cho các trấn thủ ở Hải Dương và Sơn Tây phải đem quân về họp ở thành Thăng Long. Trấn Sơn Nam phải sửa soạn thuyền, đợi quân thủy đến thì cùng tiến phát.
Năm hôm sau, các đạo đều hội binh ở dưới bóng cờ Tiết chế Văn Sở. Lễ duyệt binh bắt đầu trang nghiêm cử hành ở bên sông Nhĩ. Sở hạ lệnh cho các bộ binh phải sắm sẵn lương khô để đợi sai phái. Thuộc tướng Đặng Văn Chân được lệnh quản đốc thủy quân, đường hoàng xuôi xuống Đông trước.
Sở vừa phân phái xong, thì trời đã vàng tối, bọn Trần Bá Lãm và Nguyễn Đình Khoan về tới Kinh thành. Họ nói: “Khi đến Nam quan, bị tên hậu lại nhà Thanh ngăn cản không cho vào. Hiện nay quân Thanh đã vượt qua Nam quan, lính bộ kỳ tiền phong của họ đã tiến đến địa phận huyện Phượng Nhãn195.”
Giữa vòng các tướng, Sở lại bàn định rút lui…
Nội hầu Phan Văn Lân phản đối:
– Nước không cứ lớn, quân không cứ nhiều, cần phải biết mẹo mới được. Chúng mình nay làm tướng, cầm quân ở ngoài, thế mà giặc đến không đánh, bàn nhau rút lui, còn gọi làm tướng sao được! Vậy tôi xin đem một nghìn tinh binh, qua sông Nguyệt Đức, đánh cho chúng nó một trận, xem Nam khỏe hay Bắc khỏe nào? Có thể, chúng mới biết ta đây là hạng người gan mật chứ?
Được Sở tán thành. Lân liền ruổi quân qua đò sang Bắc. Gấp đường đi suốt ngày đêm, Lân kéo đến bờ bên nam sông Nguyệt Đức thì lầu sương vừa điểm trống canh ba.
Mấy cây gồi cởi trần đứng bên sông, lờ mờ chỏm tóc xác xơ đòi cơn rũ rượi trước những luồng gió lạnh buốt. Lù lù bè rong, bè ngổ, dường cũng sợ rét, dạt nép vào bờ hoang vu.
Trời rét? Mặc! Sông ngăn? Mặc! Lân cứ hăng hái thúc quân tiến vì thấy quân Sĩ Nghị đã đến đóng ở núi Tam Tằng196.
Khi bấm bụng lội tràn qua sông Nguyệt Đức, quân Tây Sơn phải một mẻ buốt thịt xương, run bây bẩy. Có người, vì không chịu nổi rét, chết ngay ở trong sông.
Đổ bộ được sang bờ bên kia, Nội hầu Phan Văn Lân thúc quân vây dinh của Tôn Sĩ Nghị, nhưng phần vì mặt trận quân Thanh kiên cố, phần vì súng đạn ở trong bắn ra rào rào, quân Tây Sơn không sao đến gần được. Lại bị Trương Triều Long197, tiên phong bên Thanh, xông xáo đánh giết và cung tên của hai cánh quân tả hữu dực bên địch bắn châu vào, quân Lân núng thế, chết mất vô kể.
Trước đó, Tôn Sĩ Nghị phái ra một toán kỳ binh từ mạn thượng lưu vượt qua sông, đi tắt đánh úp lấy dinh Thị Cầu.
Thấy trong dinh Thị Cầu phát hỏa, quân Lân cả sợ, vội vượt lũy rút về. Giặc Thanh nhân cái đà thắng lợi đó, ruổi dài, tiến tràn, làm cho quân Lân phải một mẻ bất lợi198!
Tin Lân thua chạy ấy là một tin vừa đáng kinh, vừa nhục nhã cho Ngô Văn Sở! Hết sức giữ bí mật, Sở không muốn cho vết dầu ấy loang trên “tờ giấy”
Thăng Long.
Lệnh Tiết chế vừa hạ: các quân, đội nào ngũ ấy, nghiêm chỉnh kéo đi. Họ đã trẩy qua Phúc Châu199, mặt trời mới tròn bóng. Bấy giờ người Bắc mới biết quân Tây Sơn đã rút khỏi Thăng Long.
Đến Yên Mô200 (ngày 20 tháng mười một năm Mậu Thân, 1788), Sở chia bộ binh bổ đóng núi Tam Điệp (đèo Ba Dội), liên lạc với quân thủy ở hải phận Biện Sơn.
Từ Trường Yên201 trở vào bị quân Sở chẹn giữ, cắt hẳn Thanh, Nghệ với các trấn Đường Ngoài202, nên tình hình hai đằng bị ngăn cách hẳn.
Bắc Hà dưới gót sắt giặc Thanh
Để đón quân Thanh, Lê Chiêu Thống sai Bình chương Phạm Đình Dũ và Tham tri Võ Trinh đem thư với 10 con bò, 100 vò rượu lên tận Hòa Lạc203 vấn an Tôn Sĩ Nghị.
Ôm cái dã tâm xâm lược, Tôn Sĩ Nghị vượt qua cửa ải, xuống Lạng Sơn, rồi kéo đến Kinh Bắc với bao nhiêu cái dễ dàng.
Khi Nghị đến trấn Kinh Bắc, vua Lê lóp ngóp từ Phượng Nhãn, thân đem quần thần đến khúm núm yết kiến và mời Nghị hãy vào đóng trong trấn dinh. Song Nghị nói: “Đây cách quốc thành (Thăng Long) không xa, nên đến ngay, chứ không nên chùng chình ở lại.” Nghị bèn sai bắn 9 phát súng, rồi nghiêm chỉnh đội mũ mà tiến đi.
Bóng lạnh đã ngả về chiều, Nghị mới kéo quân đến bờ phía bắc sông Nhĩ. Vua Lê xin trước qua sông, vào thành Thăng Long, sai sửa soạn màn trướng ở trước điện Kính Thiên để mời Nghị đóng.
Nghị không ưng nói: “Chỗ ấy không phải là hành doanh của đại tướng, vì có nhiều điều không tiện cho việc hành binh.”
Nghị bèn sai chia đồn cắm đóng ở những nơi bãi cát rộng rãi bên sông Nhĩ lại sai làm cầu phao ở trong sông để tiện đi lại204.
Ngày 21, tháng mười một (Mậu Thân 1788), Nghị lùa quân vào thành Thăng Long trống rỗng, đặt tướng doanh tại Tây Long cung205.
Khi Sĩ Nghị ra quân, vua Thanh giao sẵn cho sách và ấn, dặn rằng hễ lấy được đô thành Thăng Long thì phong Tự tôn Duy Kỳ làm An Nam quốc vương để ràng buộc lấy lòng người.
Vâng lĩnh ý chỉ của vua Thanh Càn Long, Sĩ Nghị thấy bấy giờ đã có thể thực hành được sứ mạng đó, bèn bảo vua Lê chọn ngày để làm lễ sách phong; song vua Lê giãi bày rằng lăng tẩm ở Thanh Hoa hãy còn sa vào trong Tây Sơn, chưa đến bái yết được thì lẽ đâu lại vội làm cái thịnh điển này. Thế rồi Chiêu Thống khóc xin Nghị hãy tạm hoãn.
Nghị nói: – Những lời của Tự quân thật ra là chí tình, nhưng Hoàng đế (chỉ vua Thanh) đã có mạng lệnh bảo làm thì không thể chầy hoãn được. Tự quân há nên vì tình riêng mà xin hoãn lại cho nhàm?
Cố nhiên, Nghị bảo sao vua Lê phải nghe vậy.
Vì thế qua ngày 22206 Sĩ Nghị làm lễ phong vua Lê làm “An Nam quốc vương” ở điện Kính Thiên.
Trong bài văn sách phong có câu đặc sệt cái mùi đạo đức giả:
披十有一道之提封原非利扶土地
遡百五十年之職貢能不念其祖宗
Phi thập hữu nhất đạo chi đề phong, nguyên phi lợi phù thổ địa;
Tố bách ngũ thập niên chi chức cống năng bất niệm kỳ tổ tông.
Dịch:
Mở dư đồ mười một đạo, lợi đâu hám ở đất đai?
Trải chức cống trăm rưởi năm, tình nghĩ cảm vì tông tổ.
Mặc dầu phải mặc áo cổn, đội mũ miện, quì ở sân điện (Kính Thiên) mới được người Thanh “ban” cho danh hão hiệu hờ, vua Lê vẫn khép nép e dè, không dám đường hoàng, trên văn thư dùng niên hiệu Chiêu Thống, nhưng vẫn phải đề hiệu Càn Long nhà Thanh (bấy giờ là năm Càn Long thứ 53, Tây lịch 1788).
Hằng ngày, vua Chiêu Thống cưỡi ngựa đi trước, Lê Quýnh cưỡi ngựa theo sau, với vài chục lính hầu cong cóc sang Tây Long cung nơi Sĩ Nghị đóng, chầu chực công việc quân quốc.
Nghị với vẻ ngạo nghễ tự tôn, không thèm đếm xỉa đến vua tôi nhà Lê gì cả. Có khi Chiêu Thống tiến yết, Nghị không tiếp, chỉ sai người đứng dưới gác chuông truyền ra bảo vua Lê rằng: “Nay không có việc quân quốc gì, hãy cứ về cung mà nghỉ!”
Luôn mấy năm mất mùa, dân gian đương bị hung thần “Đói kém” hành hạ! Sịch một cái, giặc Thanh lại kéo sang, lùa nhân dân vào giữa hai ngọn lửa! Trên bức phông thời sự, bên những tấm thân tàn trong cảnh sống ngắc ngoải, lại điểm thêm mấy nét khói lửa loạn ly! Những tiếng kêu than ra từ lòng không dạ rỗng lẫn cả bao tiếng khóc lóc nghiến răng trước những thảm kịch cướp của, đánh người, luân gian, hãm hiếp do bọn quân Thanh gây nên!
“Đứa ở ăn hiếp chúa nhà!” nạn ấy thường xẩy những nơi như Hà Khẩu phường trong thành Thăng Long, phố Cơ Xá bên Kinh Bắc và phố Hiến thuộc trấn Sơn Nam! Hàng vạn Thanh kiều ở tản trong những nơi đó, đã sống lâu năm bên ta, am hiểu phong tục, nói thạo tiếng Nam, nay bỗng nắm được “Cây gậy thần thế” của Tôn Sĩ Nghị giở ngay thủ đoạn nhờ gió bẻ măng: họ hoặc đến phụ theo quân đồn, hoặc lập riêng cái điếm “Liễm để” công nhiên cướp của, hiếp gái ở giữa chợ hay ngoài đường, không còn kiêng nể e dè gì cả! Rất đỗi họ tìm nhiều cách vu hãm lương dân để tranh chiếm lấy đất, ruộng, tài sản của đồng bào Nguyễn Huệ!
Đã khổ vì đói kém, khổ vì bị hiếp đáp, dân gian lại phải trĩu vai oè cổ gánh vác việc cung đốn giặc Thanh! Vắt từ bồ hôi nước mắt của hạng người kheo khư ốm đói, vua quan nhà Lê nặn lấy rượu thịt, cơm, gạo, cho quân gia Thanh và rơm, cỏ, lá tre, ngô, thóc, cho lừa ngựa chúng! Chỉ thiếu một gánh cỏ, một đấu thóc, anh dân đen cũng đủ nát thịt hay mọt gông rồi!
Chẳng những vậy, sự dâng nộp lại là cái tai nạn ghê gớm đối với dân gian: đã mất của “đổ sông Ngô” lại mất công quỵ lụy chầu chực! Gia dĩ một tang, hai ngoại, hạng người ngắn cổ bé miệng chỉ có cách gạt nước mắt bấm bụng chịu dầu trước những cái tàn ác của kẻ lạm bổ phù thu!
Sống mặc bay! Chết cũng mặc bay! Quân Thanh cứ việc ăn chơi phưỡn phệ!
Dùi đến đục, đục đến săng, vua tôi nhà Lê cũng sướt trán về việc liệu lý binh lương, nhưng nạo vét được bao nhiêu thì lại “cúng sống” khách binh hết cả!
Đã trót đáp theo tiếng gọi Cần vương, nghĩa binh các nơi riêng chịu bóp bụng tòng quân chứ đừng hòng triều đình phát tiền, phát gạo mà nhờ!
Bắc thành trước ý yêu ghét của Chiêu Thống
Sau ngót một tháng đã phục được kinh thành Thăng Long, nhưng hiệu lệnh của vua Lê chỉ choèn choèn ở 5 lộ Ứng (Ứng Hòa), Thường (Thường Tín), Từ (Từ Sơn), Thuận (Thuận Thành), Quảng (Quảng Oai) thôi. Còn từ Trường Yên (Ninh Bình) trở vào Nam đều bị ngăn cách không thông tin được207.
Lê Chiêu Thống, một người có tính hẹp hòi khắc nghiệt, sau khi nhờ sức quân Thanh, thu phục được Thăng Long, làm luôn những việc báo ân trả oán, cốt thỏa tư ý yêu ghét thiên lệch và riêng theo tình cảm cá nhân không chính đáng, chứ chẳng cân nhắc bằng lý trí mà đặt vấn đề quân quốc lên trên hết mọi sự.
Nên chi, trong dịp này, chính là một cơ hội tốt để Chiêu Thống lộ hết cái bản tướng bất xứng chức của mình!
Hồi tháng mười một năm Chiêu Thống thứ 2 (Mậu Thân, 1788), vua Lê trị tội những người xuống hàng Tây Sơn. Bấy giờ trong họ nhà vua có người tông nữ kết duyên với tướng Tây Sơn đã có mang, vậy mà vua Lê sai mổ bụng lấy thai giết chết cả hai mẹ con vô tội. Chính Chiêu Thống lại sai chặt chân ba người hoàng thúc quăng ra giữa chợ trong cung208.
Ấy là không kể những vụ như: giết Phạm Như Tụy, trấn thủ Tuyên Quang, vì Tụy bắt Hoàng đệ Duy Lưu đem nộp Tây Sơn và khép Phò mã Dương Bành vào tử hình vì Bành dẫn quân Đàng Trong đuổi bức ngự giá209.
Mấy việc này chẳng những làm cho lòng người nôn nao ngờ vực và không nhất tâm, lại còn khiến cho bà Thái hậu (mẹ của Chiêu Thống) đau đớn tức bực nữa. Nguyên, khi Thái hậu từ Tàu về đến Thăng Long nghe biết những việc ngang trái của vua Lê đã làm ấy, bà phát bẳn lên rằng: “Ta cay đắng mới xin được quân cứu đến đây. Nước nhà phỏng được mấy phen cứ trả ân báo thù để phá hoại thế này! Hỏng đến nơi rồi!” Rồi bà kêu khóc, không chịu vào cung. Tụng thần là Nguyễn Huy Túc khuyên giải mãi, bấy giờ bà mới thôi210.
Đến khi ban thưởng, chia chức, vua Chiêu Thống lại rất thiên từ tây vị: chỉ rảy mưa móc cho bọn bầy tôi hoặc tòng vong hoặc ở nơi hành tại211, chứ không nghĩ gì đến những cựu thần và hào kiệt các nơi. Vì vậy nhiều người thất vọng và ngã lòng.
Bấy giờ, Kinh Bắc Hiến sát Phó sứ Ngô Tưởng Đạo có dâng sớ khuyên vua Lê rằng:
… Việc binh quý ở thần tốc. Nếu gặp cơ hội có thể làm được thì sao cứ phải chuyên cậy vào ngoại binh để động tí lại ngừng lại đến hàng tuần nhật? Hiện nay quân cần vương ở các lộ ai chẳng muốn cố sức chết để đền bồi? Bây giờ quân Tây Sơn đã lui, ta nên đem ngay đại binh mà đuổi theo, làm như sấm choẹt không kịp bưng tai, khiến cho bên địch không còn rảnh rang mà lo tính được nữa. Hai xứ Thanh, Nghệ nghe biết tất nhiên hưởng ứng. Văn Huệ thì cách trở ở phía nam Hoành Sơn, bọn Văn Sở thì thế côi không có quân cứu, hình thế xa cách nghẽn tắc, hai bên không thông được với nhau, thì không ngoài mười ngày ta có thể bắt sống được cả. Một khi đã bắt được vây cánh của họ rồi, ta sẽ có thể lần lượt phá sạch được hang tổ của họ đấy. Cái cơ trung hưng chính ở ngay đây, xin đừng bỏ lỡ…
Nhưng Chiêu Thống chỉ hoàn toàn ỷ lại vào quân Thanh, coi Tôn Sĩ Nghị như vị cứu tinh, như bức Vạn lý Trường thành; Sĩ Nghị bảo sao thì nghe vậy, chứ mình chẳng có một chút năng lực tự động gì cả!
Một cố cung nhân đến từ Trường Yên đã phải phàn nàn với Lê Thái hậu: “Nguyễn Huệ là tay anh hùng lão luyện, mạnh tợn, giỏi nghề hành binh, lúc ra Bắc, lúc về Nam, xuất quỉ nhập thần, chẳng ai có thể dò lường được: chẳng thế bắt Hữu Chỉnh như túm trẻ con, giết Văn Nhậm như thịt con lợn: không một người nào dám nhìn thẳng vào mặt hắn bao giờ. Hễ thấy hắn trỏ tay hay lườm mắt, thì người ta đã sợ quá sấm sét: phách lạc hồn siêu cả rồi! Tôi trộm e: chẳng bao lâu hắn sẽ lại đến đây. Tôn Tổng đốc (Sĩ Nghị) đem đàn quân có nạn nội cố này chực địch với hắn, phỏng sao đương nổi? Tôn chẳng qua là khách, sang đây cũng chỉ nghe ngóng tình thế khó hay dễ mà liệu chiều lui hay tới thôi. Còn quốc gia của ta thì sao!”
Thấy gần đến tết, vua Lê theo lời Lễ quan tâu xin, cho phong ấn cất đi (hạp ấn) từ ngày 25 tháng Chạp (Mậu Thân, 1788), và làm lễ miếu xã triều đình theo lệ thường. Cho bách quan và quân lính nghỉ mười ngày để đón mừng xuân mới. Còn đối với “Đại súy của Thiên triều” (chỉ Tôn Sĩ Nghị) thì nghi phẩm cung đốn theo lệ khoản tiếp “Thiên sứ” sang sách phong, nhưng nay gia hậu bội phần.
Chúng nó chỉ mua lấy cái chết
Đường hoàng giữa cảnh sông Hương núi Ngự, Bắc Bình vương đương chú mắt vào thời cục Bắc Hà, thì Nguyễn Văn Tuyết212 từ núi Tam Điệp, vâng lệnh Ngô Văn Sở phi ngựa trạm, đem tin khẩn cấp vào thành Phú Xuân (ngày 24 tháng mười một năm Mậu Thân, 1788): Tôn Sĩ Nghị lót miệng bằng tiếng “cứu Lê” đã kéo binh sang chiếm Thăng Long, giày đạp dân chúng! Khí diễm quân Thanh đang ngùn ngụt như lửa bốc dữ! Thú binh ở Bắc của ta không sao địch nổi, đã phải rút lui đóng giữ từ Thanh Hoa trở vào.
Với vẻ cương quyết như Trần Hưng Đạo khi có giặc Mông Cổ: “Đầu tôi chưa rụng xuống đất, đừng lo!” Và với giọng khảng khái như Lê Lợi khi có giặc Minh: “Tài trai phải cứu nạn đời, lập công lớn, lưu tiếng thơm ngàn thu, chứ sao chịu để cho người sai khiến?” Bắc Bình vương lớn tiếng mắng nhiếc quân Thanh trước cái kinh hoàng của Tuyết: “Vẻ chi anh em sợ hoảng lắm mấy? Đàn Ngô cẩu chỉ đem thân đến để mua lấy cái chết đó thôi!”
Bấy giờ các tướng ta ai cũng khuyên vương: Nên hãy trước chính vị hiệu để ràng buộc lấy lòng người Nam, Bắc, rồi sau sẽ ra bắt sống quân hùm beo ấy cũng chưa muộn nào!
Chiều ý chư tướng, Bắc Bình vương sai chọn ngày lập đàn Giao ở Bân Sơn, phía nam núi Ngự Bình, làm lễ tế trời đất và các thần sông, núi. Rồi với bàn tay đanh thép như Nã-phá-luân thứ nhất, vương tự làm lễ “gia miện” lấy. Thế là, từ ngày 25 tháng mười một năm ấy, được mang cái hiệu Quang Trung nguyên niên (1788) thay vào hai niên hiệu: Chiêu Thống thứ 2 và Thái Đức thứ 11.
Ngay hôm đăng quang, vua Quang Trung tự làm tướng cầm đầu đại binh, đốc thúc các tướng sĩ ở tế đàn, kéo cả quân bộ, quân thủy rầm rộ ra Bắc Hà với cái triêu khí đang tưng bừng bồng bột.
Bữa 29, trẩy đến Nghệ An, nhà vua đóng quân, ở lại hơn mười ngày, sai tướng Hô Hổ hầu213 tuyển lính Nghệ: cứ 3 suất đinh thì lựa lấy một người làm lính. Binh số cộng được hơn 10 vạn người214, voi trận được vài trăm con.
Nghiêm như sắt đá Trà Sơn, hoạt bát như làn nước Hồng Thủy, vua Quang Trung tại trấn doanh Nghệ An, làm lễ điểm duyệt binh lính.
Thân quân Thuận Quảng, chia làm bốn doanh: Tiền, Hậu, Tả, Hữu. Tân binh Nghệ An đặt làm trung quân.
Khi ở Nghệ, vua Quang Trung sai vời “thầy La Sơn” Nguyễn Thiệp215 đến, hỏi thử rằng: “Quân Thanh kéo sang xâm; ta nay làm tướng thân chinh đấy. Chước đánh, giữ và số được thua ra sao, nhà thầy thử nói cho ta nghe nào!…”
Thiệp thưa: “Bây giờ trong nước rỗng không, lòng người tan nát. Quân Thanh từ xa kéo đến không rõ tình hình khỏe yếu và phương thế đánh giữ gì đâu. Chúa công ra chuyến này, chẳng qua mười ngày thì dẹp được giặc.”
Thấy Thiệp nói hợp với ý chỉ mình, vua Quang Trung mừng lắm.
Chỉ nội mười ngày quét sạch giặc Thanh
Đội mũ trụ, mặc áo giáp, cưỡi voi, vua Quang Trung ra khỏi tướng doanh, vỗ về yên ủi quân sĩ bằng một thái độ ôn tồn.
Rồi lệnh truyền “cho ngồi” vừa hạ, chư quân phăng phắc im tờ, chăm chú ngồi nghe nhà vua diễn dụ:
Quân Thanh kéo sang xâm lấn, hiện đương chiếm cứ Thăng Long, các ngươi đã hay tin chửa?
Trong vòng trời, đất, chia theo phận sao Dực, Chẩn, Nam Bắc vẫn riêng một non sông. Người Tàu không phải nòi giống ta thì tất khác lòng khác dạ. Từ nhà Hán về sau, họ cướp đất đai ta: cắt thịt nhân dân, vơ vét của cải, nông nỗi ấy thật khó chịu quá! Người nước ai cũng phải nghĩ đánh đuổi đi.
Đời Hán, có Trưng Nữ vương, đời Tống có Lê Đại Hành; đời Nguyên có Trần Hưng Đạo; đời Minh có Lê Thái Tổ. Các cụ không chịu bó tay ngồi nhìn quân Tàu tàn bạo, nên phải thuận lòng người, dấy quân nghĩa, đánh thắng chúng rồi đuổi cổ về Tàu. Trong những khi ấy, Nam Bắc đâu lại phận đó, bờ cõi yên ổn, vận nước lâu dài. Từ nhà Đinh tới nay, chúng ta không đến nỗi phải cái khổ thuộc nước Tàu như xưa nữa. Đó lợi, hại, được, thua chuyện cũ rành rành là thế.
Nay người Thanh không soi gương Tống, Nguyên, Minh, lại sang mưu chiếm nước Nam ta đặt làm quận huyện! Vậy, ta phải vùng ra mà khu trừ đi!
Các anh em, hạng người có tri thức, có tài năng, phải cùng ta đồng lòng gắng sức, khiến cho việc lớn được nên, chứ đừng giở thói phản trắc, nhị tâm đó! Hễ việc lộ ra ta quyết giết chết, không tha một ai, bấy giờ đừng trách ta không bảo trước.”
Tiếng dụ vừa dứt, tướng sĩ thảy đều cảm kích. Ai nấy tỏ vẻ hăng hái hy sinh, quyết tâm “làm thịt” giặc Mãn.
Qua bữa sau, vua Quang Trung hạ lịnh trẩy quân.
Hơn mười vạn binh, nhất là đám thân quân, đều được huấn luyện thành thục: họ bơi lội rất giỏi, đi đường rất nhanh; thật không phụ với hai tiếng “tì hưu” xưa kia người ta vẫn dùng để tặng hạng quân hùng kiệt.
Để làm như binh mã từ trời sa xuống, vua Quang Trung muốn cho cực kỳ thần tốc trong lúc hành binh, Ngài ra lệnh này cho đám quân Bắc phạt: cứ ba người một tốp, luân phiên võng lẫn cho nhau, suốt dọc đường, anh lính nào cũng phải võng người và được người võng. Như thế, hết lượt anh này phải đi, lại đến lượt anh khác được nghỉ. Nghỉ, đi, đi, nghỉ, cứ đồng lần mãi cho ra đến chỗ đất mục đích. Vì thế, vừa trảy được nhanh, vừa khỏi kiệt quân lực.
Quân lính đi trước, vài trăm voi trận đi sau216 người ta dõng dược, hăng hái bước trên con đường dẫn đến thành công.
Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788), vua Quang Trung đã đến núi Tam Điệp (chỗ tiếp giới Thanh Hoa và Ninh Bình).
Để nhận việc rút lui là tội đáng chết, Sở và Lân, cả hai vác gươm ra đón Quang Trung hoàng đế.
Vua quở trách: – Các khanh đem quân theo ta, làm đến quân soái. Ta đã giao cho toàn hạt mười một trấn, được phép tiện nghi làm việc. Vậy mà thấy giặc đến, không dám đánh một trận nào đã vội trốn! Cái tội đó, cứ kể đáng chết thật. Vì theo binh pháp: thua trận thì tướng phải chết chém.
Ta đã biết trước: các khanh chỉ thạo nghề võ, gặp giặc thì đánh khỏe; chứ đến liệu cơ chế thắng, chắc không phải là ngón sở trường. Vậy nên, trước khi về Nam, ta phải cử Ngô Thì Nhậm ở lại làm việc với các khanh.
Vả, Bắc Hà mới dẹp yên, lòng người chưa thật quy phụ. Mà thành Thăng Long bốn mặt đều là chiến trường không có chỗ nào hiểm trở có thể giữ vững được. Nghiệm ngay như năm xưa ta ra lấy Bắc Hà, chúa Trịnh quả không trông nổi thì đủ biết. Các khanh đóng quân ở đấy ngoài thì giặc Thanh đến lấn, trong thì người Bắc làm nội công, các khanh còn biết xoay trở làm sao được nữa!
Các khanh chịu nhịn, tránh mũi gươm đang bén của giặc, rút quân chẹn các nơi hiểm yếu để, mặt trong, khêu mối tức tối của quân ta, mặt ngoài, tăng thêm cái khí kiêu căng của quân địch. Chước đó kể cũng phải đấy. Mới nghe, ta đã đoán ngay là mưu kế của Thì Nhậm; kịp hỏi Văn Tuyết, quả nhiên không sai.
Thì Nhậm, bấy giờ, cũng ra lạy tạ nhà vua và thuật rõ gót đầu công chuyện.
Vua Quang Trung lại tiếp: – Nay ta tới đây, thân đốc việc binh, chiến thứ ra sao đã có phương lược định sẵn. Chỉ nội mười ngày nữa, thế nào ta cũng quét sạch được giặc Thanh. Song le ta nghĩ: nước chúng lớn hơn nước mình mười lần. Chúng bị thua rồi, tất lấy làm thẹn, chắc phải tìm cách rửa hờn. Nếu cứ để binh lửa kéo dài, mãi không yên ổn, thật không phải là phúc nhân dân, lòng ta sao nỡ? Nên chi, sau khi chiến thắng, ta nên khéo đường từ lệnh thì mới dập tắt được ngọn lửa binh tranh. Việc từ lệnh đó, ta sẽ giao cho Ngô Thì Nhậm.
Rồi xây217 ra phía Nhậm, ngài nói: – Vậy khanh phải tùy cơ mà liệu ứng phó với chúng?
Dọn lại giọng, vua Quang Trung nói cách khảng khái: – Cứ thả cho ta mười năm nữa, quân ta mạnh, nước ta giầu, thì có sợ gì chúng nó?
Ngài lại ngọt ngào yên ủi bọn Sở, Lân: – Các khanh làm vậy cũng là một mẹo nhử giặc đó. Thôi, nay ta hãy cho đới tội lập công, trông mong ở chỗ các khanh rán sức sau này…
Mấy lời hùng lược tự tín của vua Quang Trung trên kia nay cần lặp lại: “Chỉ nội mười ngày nữa, thế nào ta cũng quét sạch được giặc Thanh!”
Rồi mở tiệc linh đình, khao lạo tướng sĩ. Ngài với giọng quả quyết cương nghị bảo họ rằng: “Bữa nay ta hẵng ăn tết Nguyên Đán trước (bữa ấy mới là ngày 20 tháng Chạp) sang xuân, ngày mồng 7, ta sẽ lại vào ăn tiệc ở thành Thăng Long. Các ngươi cứ nhớ lấy lời ta xem có đúng thế không!”
Để khêu gợi lòng trung dũng, khí hăng hái của ba quân, vua Quang Trung, trước khi tan tiệc tất niên không quên gắn bó họ bằng “khẩu hiệu” này:
“Một là ăn đặng Tết; hai là đành chịu chết! Các tướng sĩ phải thật hết lòng cùng ta!”
MỖI NGÀY SĨ NGHỊ XỬ TỬ HÀNG ba, bốn CHỤC NGƯỜI!
Sau khi bọn Ngô Văn Sở đã rút lui về Nam, Tôn Sĩ Nghị kéo quân qua sông Nhĩ tràn vào thành Thăng Long với vẻ “ta đây, các chú Thiên triều!” bổ đồn đóng quanh thành218, từ cửa ô Thăng Long đến Hà Hồi (thuộc huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, Hà Đông). Nghị chia khoảng từ đồn nọ đến đồn kia, đặt súng đại bác, lại chôn địa lôi ở ngoài đồn trại; cắm chông sắt ở phía trước Tây Long cung bên bờ sông. Nói tóm, đồn lũy đằng giang của quân Thanh có vẻ liền lạc và kiên cố lắm.
Việc canh gác kho khí giới và lương thực của quân Thanh? Giao cho viên đề lĩnh họ Đinh với một toán quân già.
Khi đóng quân ở quanh thành như vậy, tướng lệnh của Sĩ Nghị kém nghiêm minh, không ngăn cấm được những sự làm càn của quân lính: cái nạn cướp chợ và hiếp dâm phụ nữ không ngày nào, không chỗ nào không thấy xảy ra219. Thành thử mối thù oán gây bởi đám quân sài lang không kỷ luật ấy càng lâu càng thấm sâu vào tận xương tủy dân chúng!
Nghị lại phi sức cho các quan nhà Lê phải tra xét, lùng bắt, dâng nộp những tướng sĩ của vua Quang Trung hãy còn rớt rát tại các thôn trại. Hằng ngày số người không may bị Nghị bắt giết ấy có tới hàng ba, bốn chục! Lâu dần tổng số chết đến hơn nghìn mạng người220!
Cầm đầu 20 vạn quân, Sĩ Nghị không nghĩ đến bốn chữ “kiêu binh tất bại” trong binh pháp, song chỉ tìm cuộc vui suốt buổi, trận cười thâu đêm ở trong soái phủ; ngoài rượu nồng, gái đẹp hai món quà của vua Lê Chiêu Thống đưa tặng, Nghị không hề hành động chi hết. Vì vậy, từ hôm Nghị đóng quân ở Thăng Long, ngày nào trước cửa soái phủ cũng thấy cao treo tấm bài “miễn tiếp”.
Khi nhận được tờ sớ của Ngô Tưởng Đạo khuyên kíp tiến quân như trên đã nói, vua Chiêu Thống có sai Lê Quýnh đến nói với Sĩ Nghị, nhưng viên tướng Thanh kiêu căng này lại bảo là không nên221.
Từ sau khi lấy được Thăng Long, hào kiệt các trấn đi cần vương tranh đến cửa quân xin tiến binh Sĩ Nghị đều bỏ qua, chẳng hỏi gì đến222.
Khi thấy vua tôi nhà Lê khẩn khoản thúc giục về việc tiến quân ấy, Nghị lại khoác lác: “Cần gì bối rối sợ hãi! Việc này ta chỉ coi như thò tay vào túi mà móc lấy đồ vật thôi: lấy sớm thì xong sớm, lấy muộn thì xong muộn. Nay đã ngày hết tết đến, đại binh mới từ xa lại, chính là lúc hãy nên nhàn hạ nghỉ ngơi, không nên đánh vội. Giặc (!) còn gầy, ta hãy cứ nuôi cho béo, để chúng tự đến dâng thịt cho ta. Các ông đã kêu xin tiến quân, thì ta cũng liệu cho xếp đặt: từ đô thành (Thăng Long) vào Nam, cứ độ 60 dặm một, chia đặt ba chỗ đồn binh. Đó cũng là cái ý xa đặt quân xích hầu (do thám), phòng sự không ngờ. Rồi đợi đến sang năm, đem binh tiến lấy cũng chưa muộn nào.”
Thế rồi Nghị lại sai đắp thổ lũy ở ba nơi này và phái quân đến phòng thủ:
1. Một đồn ở bên bờ bắc sông Nguyệt Quyết thuộc huyện Thanh Liêm223;
2. Một đồn ở làng Nhật Tảo224 thuộc huyện Duy Tiên;
3. Một đồn ở Ngọc Hồi thuộc huyện Thanh Trì225.
Về phần Lê Chiêu Thống, càng ngày nhà vua càng làm cho nhân tâm trong ngoài càng rời rạc như cát, giá lạnh như băng.
Như các bạn đã thấy, từ ngày dựa vào cái “núi băng Tôn Sĩ Nghị”, vua Lê đã hành động nhiều việc tàn bạo, mất hết thiên lương.
Tổng viên đề lĩnh họ Đinh giữ chức giám oi, canh gác khí giới, lương thảo, chứ không trọng dụng vào việc quân quốc, vì ông Đinh đã có can đảm và cao kiến dám phản đối việc cầu viện nhà Thanh bởi lấy cớ rằng làm vậy chỉ là một cách rước vóc cõng rắn, thế nào nước mình chẳng mất nếu chúng làm được thành công.
Thẳng tay giết hết những viên mục trong nước đã theo Tây Sơn. Rất đỗi những đàn bà bị cáo là theo “Ngụy” dẫu đang có mang cũng bị phanh thây, xả bụng226! Nhưng có ngờ đâu những “hòn máu” vô tội trong bụng mẹ chúng kia sẽ vang dậy tiếng kêu oan, làm cho trái tim vua Lê sau này mang xuống tuyền đài hãy còn uất kết chưa tan, lúc đã quê người xương trắng. (Vua Chiêu Thống mất ở Bắc Kinh ngày 16 tháng mười năm Quý Sửu, 1793, hưởng linh 28 tuổi).
TRÁ HÀNG ĐỂ KIÊU LÒNG GIẶC
Vua Quang Trung, sau khi kéo quân từ Nghệ trảy đi, làm theo mưu kế của danh sĩ Nguyễn Thiệp227, một tay am hiểu thời cục Bắc Hà và thông thuộc tình hình quân Thanh, vì đã dạy học ở nhà ông đề lĩnh họ Đinh.
Một mặt, vua cứ thúc quân gấp tiến, ập đánh thật nhanh, khiến cho quân Thanh không kịp trở mình, sẽ phải cúp đuôi sam chạy!
Nhưng, một mặt, vua lại không quên dùng kế làm cho Sĩ Nghị sinh kiêu, đem lòng khinh địch: Vua sai Trần Danh Bính cầm đầu tám người sứ thần, đưa đến cho Tôn Sĩ Nghị ba đạo bẩm văn228 nói rõ về sự tình phải lên thay nhà Lê.
Với giọng khẩn khoản thiết tha, sứ bộ Tây Sơn nài xin Tôn Sĩ Nghị hãy đóng quân ở cửa ải, tra rõ cái nội tình giữa Lê và Nguyễn (Tây Sơn) từ trước đến giờ.
Chẳng những sai sứ đưa thư, tỏ ý “cung thuận” như vậy, vua Quang Trung lại thả trả nhà Thanh tụi tuần dương binh là bọn Hác Thiệu Tông 40 người do Ngô Hồng Chấn, nguyên tướng Tây Sơn đóng ở Thăng Long, bắt được từ trước229.
Làm thế, cốt để “cưng” lòng kiêu ngạo của Nghị khiến va tưởng rằng “chàng áo vải Tây Sơn” phen này đến phải “tự trói mình, ra Thăng Long tạ tội” thật đấy.
Nhưng cuộc vận động bằng ngoại giao, bằng hòa bình, từ trước đến sau, hoàn toàn thất bại cả.
Làm ra mặt, Sĩ Nghị cự tuyệt hẳn cái “cung thuận giả đò” ấy: xé thư ném xuống đất! Giết phăng Trần Danh Bính! Bắt giam hết cả sứ giả Tây Sơn230!
Nghị lại truyền hịch đi khắp nước ta: trút tội vào cả trên vai vua Quang Trung, đe dọa đánh rốc đến tận Quảng Nam231, quyết bắt cho được “Nguyễn Huệ” mới cam lòng232.
Thế rồi quân Thanh, với vẻ “con trời” hách dịch, ùa ạt qua sông Phú Lương233, kéo vào Thăng Long, sau khi bọn Ngô Văn Sở rút quân về núi Tam Điệp.
Nào ngờ giữa lúc Sĩ Nghị say rượu nồng, đắm sắc đẹp ở Thăng Long, chính là lúc vua Quang Trung đang lanh lẹ, hăng hái kéo quân ra Bắc.
Kịp khi tiếp được thủ chiếu vua Thanh bảo Sĩ Nghị phải lấy hết đất cũ cho vua Lê rồi hãy rút quân, bấy giờ Nghị mới tính đến mưu chước tiến hành. Nhưng, muộn lắm rồi, quân Tây Sơn đang rần rộ sắp kéo đến nơi rồi! Thế mà Nghị vẫn hớn hở tự đắc mà bảo Chiêu Thống khi nhà vua cuống quít lo sợ vì hay tin quân Đàng Trong đã đến Tam Điệp sơn: “Không cần đánh vội, ta cứ lấy thế nhàn rảnh mà đợi quân nhọc mệt!”234. Nhưng, rồi ít bữa nữa chắc Nghị sẽ phải nói khác lại: “Không sao đánh nổi, ta cứ ung dung mà đợi cái chết!”
PHƯƠNG LƯỢC HÀNH BINH
Quang Trung lập tức cắt cử tướng tá, giao phó mọi việc:
Làm tiên phong, Đại tư mã Sở và Nội hầu Lân: cai quản Tiền quân.
Hô Hổ hầu235 chỉ huy hậu quân, đóng vai đốc chiến.
Đại đô đốc Lộc, Đô đốc Tuyết cầm đầu Tả quân kiêm coi quân thủy, vượt biển vào sông Lục Đầu: Tuyết ở lại Hải Dương giữ việc kinh lược, làm quân ứng tiếp mặt Đông. Lộc đi gấp lên vùng Lạng Sơn, Phượng Nhơn236, Yên Thế237 để chặn lối quân Thanh chạy về.
Đại đô đốc Bảo vào Đô đốc Long238 làm tướng Hữu quân, coi quản đội voi ngựa: Long xuyên ra huyện Chương Đức (Hà Đông), rồi rảo đến làng Nhân Mục (Thanh Trì, Hà Đông) để đánh chặn ngang đồn quân Điền Châu239 của người Thanh; Bảo thúc đội quân có voi từ huyện Sơn Minh (Ứng Hòa, Hà Đông) đổ ra làng Đại Áng (Thanh Trì, Hà Đông) làm ứng binh cho cánh quân Hữu.
Sắp đặt đâu đó, tướng sĩ năm doanh (Trung, Tiền, Hậu, Tả, Hữu) đều vâng theo tướng lệnh Quang Trung Hoàng đế.
Ngày 30 tết, cái ngày quân Thanh ở Thăng Long đang phưỡn phệ chuốc chén đón xuân bằng dầu mỡ dân Đại Việt, thì quân Tây Sơn, nhanh như chớp, đã qua sông Giản Thủy (thuộc Ninh Bình) rồi.
Trước đó, khi Đề đốc Hứa Thế Hanh, vâng lệnh Tôn Sĩ Nghị, đem bốn cánh quân đi trước, chia đóng Hà Nội, Ngọc Hồi để phòng thủ, thì quân Đàng Trong ầm ầm đổ đến Sơn Nam.
Hoàng Phùng Nghĩa, cựu tướng nhà Lê, do Tôn Sĩ Nghị sai đóng giữ ở Sơn Nam (nay là Nam Định), chưa kịp giao phong, đã vội tan vỡ ngay trước: chạy bạt đến sông Nguyệt Quyết (Thanh Liêm, Hà Nam). Sợ bóng, khiếp oai, bọn quân xích hầu (do thám) của Thanh cũng vội toán loạn chạy, khi thấy quân Tây Sơn kéo đến với lượng đông đảo và vẻ hùng cường!
Để cắt đứt tin thông báo về Thăng Long, vua Quang Trung thúc quân đuổi đến Phú Xuyên (Hà Đông), bắt sống hết bọn quân do thám của Thanh đó.
Quân xích hầu không còn lại một mống! Tin quân kín mít như bưng! Thành thử giặc Thanh đóng ở Hà Hồi240 và Ngọc Hồi241 vẫn rượu xuân say khướt, bánh chưng ních no nê, mơ màng trong ngàn lớp mây mù, chẳng biết gì về cảnh núi Thúy non Côi đã chìm trong khói lửa!
Cũng như Nã-phá-luân đệ nhất, Quang Trung hành binh cốt ở nhanh chóng. Mà cái cớ đánh thắng phe địch, cũng là do đó một phần. Vụt đến như bay, làm cho quân Thanh không kịp xoay xở, nên các đồn trại của họ dẫu phòng giữ cẩn mật đến mấy đi nữa, cũng không thể chọi nổi với đám quân “từ trời bay xuống” ấy được.
TRẬN ĐÁNH HÀ Hồi VÀ NGỌC HỒI
Thăng Long năm nay (1789) mất Tết! Nhân dân chỉ dốc những chén “khủng bố kinh hoàng” thay cho bánh chưng, dưa hành, thịt mỡ.
Nay đã sang ngày mồng 3 tết. Ông Đinh Đề lĩnh vừa mừng vừa sửng sốt khi thấy ông Cống Nguyễn Thiệp đem từ Nghệ An ra biếu chiếc bánh chưng.
Chắc hẳn là chiếc bánh chưng phi thường?
Quả thế, sau khi thấy tên lính hầu đã bị chủ nhân xua ra bằng cái bàn tay “cơ cảnh”, Nguyễn Thiệp mới chỉ vào chiếc bánh chưng, thuyết ông Đinh một chập, rồi quay ngay tới cái mục đích mình đến: “Trong nhân chiếc bánh này có tờ mật dụ của vua Quang Trung. Ngài muốn nhờ ông ghé vào một vai trong cuộc đánh phá giặc Thanh đương hòng quận huyện nước ta đó. Xin ông cứ theo kế, làm đúng như lời Ngài dụ, quyết sẽ góp được công lao vào cuộc chiến thắng.”
Ông Đinh, vốn có cặp mắt trông sáng thời cục, lại hiểu rõ nghĩa cả quốc gia, nên trước đó, vẫn phản đối việc cầu ngoại viện. Nay được mục kích những thảm họa do quân Thanh gieo rắc khắp dân gian, ông sao khỏi không đau đớn trước cảnh rước voi giày mả!
Thì dịp tốt đây! Ông Đinh quyết ra tay làm cho chính kiến mình được thực hiện. Nên chi, sau khi xem kỹ mật chỉ của vua Quang Trung, ông không ngần ngại quyết định: xin làm theo đúng như mưu kế của nhà vua242.
Đêm mồng 3 tết, cái đêm ấm áp, êm đềm, vui thú của tiết xuân non, cũng là cái đêm hãi hùng đau đớn của giặc Thanh đóng ở Hà Hồi!
Trong đám binh mã “mập mờ” giữa nửa đêm bữa đó, vang dậy tiếng loa kêu, nhiều giọng thay đổi ứng đáp: nghe như hàng vài vạn tiếng người…
Cái mưu “làm ít hóa nhiều” đó của vua Quang Trung khiến cho quân đồn Hà Hồi bên giặc Thanh càng thêm kinh khiếp trong vòng vây hãm.
Quân Thanh trong đồn liền kéo cờ hàng, sau một cơn khủng khiếp, tan hoang, không còn hơi sức đâu chiến đấu.
Thế là không đợi phải đánh, Quang Trung đã hạ được đồn Hà Hồi, lấy sạch quân nhu, khí giới của giặc.
Trận đầu thắng lợi!
Qua ngày mồng 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789), tức ngày Giỗ trận sau này ở Đống Đa (Loa Sơn)243, đầu trống canh năm, trời xuân còn đang ngủ trong giấc say sưa mờ mịt, vua Quang Trung đã từ giờ Dần (khoảng bốn, năm giờ sáng) sai thu dồn quân lương vào một khu rồi lấy lửa đốt sạch. Nhà vua lại lấy khăn vàng cuốn buộc ở cổ để tỏ cho tướng sĩ biết rằng phải cố đánh, phải liều chết, chứ không khi nào chịu lùi.
Hai việc này (đốt lương và buộc cổ) cũng cùng một ý nghĩa như khi có giặc Mông Cổ, Đức Trần Hưng Đạo, ngồi trên mình voi, chỉ sông Hóa mà thề: “Không phá được giặc, quyết không qua sông này nữa!” Rồi vua Quang Trung xắn tay áo cưỡi voi, chính mình ra trận, thúc quân tiến đánh đồn Ngọc Hồi244. Nhà vua lựa lấy hơn một trăm voi thật khỏe cho đi trước.
Mờ sáng hôm sau, quân Thanh lùa đội tinh kỵ tiến lên. Chợt trông thấy voi, ngựa bên quân Thanh sợ quýnh, hí lên, rống lên những tiếng kinh hoàng, rồi chạy toán loạn! Thấy thế, quân Nam lại thúc voi xông đến một cách hùng dũng đầy oai thiêng làm cho bên địch xô bồ hỗn loạn, mất hết trật tự.
Gặp cơn gấp, quân Thanh giày đạp lẫn nhau, không ai còn kịp cứu giúp được ai nữa! Rồi chúng lui vào trong cố sức giữ lấy đồn lũy…
Bốn mặt ngoài lũy đều cắm chông sắt? Mặc! Súng ở trong đồn bắn ra như mưa? Cũng mặc! Quang Trung cứ thúc quân đánh… đánh cho kỳ thắng.
VÁN GỖ, BÓ RƠM ĐÃ LẬP ĐƯỢC CHIẾN CÔNG OANH LIỆT
Vâng theo tướng lệnh, quân ta lấy 60 tấm ván gỗ, cứ mỗi 3 tấm lại xếp thành một bó, ngoài phủ rơm tẩm nước, cộng được 20 bó như thế. Rồi cứ 10 người lực lưỡng khỏe mạnh, ai nấy, lưng đeo đoản đao, khiêng một bó ấy đi trước. Tiếp sau có 20 tên kính binh cầm vũ khí, tiến theo thế trận chữ “nhất”245.
Gió bấc…
Quân Thanh giở chiến thuật: đốt thuốc súng chứa trong ống để khói mờ tỏa làm cho loạn mắt quân Nam. Nhưng may, sau đó một chập, trời quay gió nồm: luồng khói tạt cả về bên phe địch!
Được dịp tốt đó, vua Quang Trung liền hô quân tiến…
Toán lính có ván và rơm để che đỡ đó lăn xả vào trước, đội quân tinh nhuệ theo sau lại trổ sức xông vào, cứ xông vào…
Chính vua Quang Trung thân thúc voi, đốc quân cố đánh. Chết lớp này tiếp lớp khác…
Trong giây lát, quân Nam đã lướt đạn súng, vượt rào sắt phá tan cửa lũy, tràn vào được tận trong đồn.
Đánh giáp lá cà! Quân Nam quăng ván gỗ, mau lẹ tuốt đoản đao sáng quắc, chém lung tung… Đội quân cầm binh khí theo sau lại cướp đường ập đến, hăng hái trợ chiến, chém người như thái rau! Quân Thanh không địch nổi, trận vỡ, người ngã nhào, giày đạp nhau!
Những kẻ địch chạy bừa bốn ngả, chạm phải “máy ngầm” (phục cơ) lại tan tác vì địa lôi ầm nổ do chính giặc Thanh chôn đặt từ trước.
Quân Thanh chết và bị thương về trận này đến quá nửa246 thế nghĩa là đến hơn mười vạn người.
Hạ xong đồn Ngọc Hồi, quân Tây Sơn nhân cái đà đắc thắng, hò reo dũng dược, thẳng tiến, xông đi, phá vỡ luôn được các đồn quân Thanh đóng ở Văn Điển và Yên Quyết.
Kết cục bên Thanh tổn hại rất nhiều: Đề đốc247 Hứa Thế Hanh248, Tiên phong Trương Triều Long, Tả dực Thượng Duy Thăng… đều bỏ xác nơi chiến trường!
Nhân thế thắng, một viên tướng Tây Sơn thúc binh đánh đồn quân Sầm Nghi Đống ở Khương Thượng.
Quân Nam bổ vây kín mít và đánh rất dữ! Nghi Đống, hơi sức đã kiệt, lại không có quân cứu viện, đành trốn ra Đống Đa, thắt cổ tự tử ở trên cây đa. Vài trăm thân binh của Sầm cũng đều tự chết hay bị giết ở quanh vùng ấy249, để lại nắm xương làm tài liệu cho ngày kỷ niệm giỗ trận mồng 5 tháng giêng!
UỐNG RƯỢU TẾT BẰNG MÁU GIẶC THANH
Trong khi quân Tây Sơn đang kịch liệt đánh phá các đồn lũy của quân Thanh ở ngoài châu thành, thì ở trong kinh đô Thăng Long giữa đêm mồng 4 rạng ngày mồng 5 tết, bỗng bốc lên ngọn lửa “nội ứng” do bàn tay ông Đinh đề lĩnh ngầm làm: Soái phủ cháy! Kho khí giới cháy! Kho lương thực cũng cháy! Lửa đùng đùng, khói ngùn ngụt… đốt tan giấc mộng “đế quốc” của Tôn Sĩ Nghị, tướng giặc Thanh!
Theo chương trình tổng công kích, vua Quang Trung, trước đó sai một toán quân từ đường đê Yên Diên (nay là Yên Kiện) ngược lên, xổ cờ, khua trống làm nghi binh ở mặt Đông. Bấy giờ, quân Thanh thua chạy, xa xa thấy bóng cờ thấp thoáng và mồn một nghe tiếng thì thùng như Hoa Dung đương có Quan Công đứng đợi, ai không mất vía kinh hồn? Giặc Thanh càng sợ càng vội vã chạy… Thình lình một toán quân có voi của Tây Sơn từ làng Đại Áng250 đổ ra, đánh chúng chạy bạt vào phía đầm Mực (Mặc Đàm) ở Quỳnh Đô251: hàng vạn người chết vì voi giày đạp!
Mồng 5 tết! Cỏ hoa Thăng Long quả được đón mừng khách chiến thắng. Nói sao làm vậy, vua Quang Trung thật không thẹn với những lời hẹn trước cùng quân sĩ từ 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788).
Tại sao vua Quang Trung vào thành Thăng Long (giữa trưa252 ngày mồng 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu, 1789) được chóng và dễ như vậy?
Vì khi nhà vua đương đánh quân Thanh ở Ngọc Hồi, thì Đô đốc Long kéo quân đi từ lúc tinh sương, đã do đường Nhân Mục ập đến Khương Thượng, đánh trại quân Nghi Đống đóng giữ ở đó.
Nghi Đống thua, rồi chết ở Đống Đa! Long đường hoàng dẫn quân vào Thăng Long, kéo cờ Tây Sơn dưới bóng xuân tươi mới.
Rượu tết chưa cạn! Tôn Sĩ Nghị đã phải dốc chén đắng cay!
Trước đó, tức bữa mồng 4, Nghị mới thấy đồn Ngọc Hồi phi ngựa đến cáo cấp. Tin đâu sét đánh, làm Nghị bủn rủn cả người! Rồi lại tiếp luôn được tin đồn Hà Hồi cũng bị Tây Sơn đánh phá: không khéo bọn Nghị phen này lại đến như Thoát Hoan, Thái tử Mông Cổ ngày trước, phải lẩn trốn vào trong một thứ đồ đồng, mới thoát khỏi lưỡi gươm của đức Trần Hưng Đạo!
Nghị sợ cuống, vội sai Thang Hùng Nghiệp đem quân đi cứu.
Hồi canh năm sáng mồng 5, về phía tây bắc, ngoài thành Thăng Long, đùng đùng súng nổ không dứt tiếng… Nghị liền sai lính kỵ mã đi do thám. Còn mình thì trèo lên kỳ đài, nghe ngóng binh tình. Té ra đồn Điền Châu ở Khương Thượng đã bị phá! Quân Nam ồ ạt kéo vào cửa ô, dưới một góc trời, sát khí ngùn ngụt bốc!
Trong khi viên tướng đớn mạt vô tài ấy còn đang xao xuyến rối ren, thì nay thành Thăng Long thình lình lại nổi khói lửa: chực đốt cả tính mạng Sĩ Nghị cho cháy theo soái phủ và các kho khí giới, quân lương.
Sự chẳng ngờ ấy khiến Nghị càng thêm vô cùng sợ hãi!
Không kịp đóng yên ngựa, Nghị vội đem theo vài tên kỵ binh, vượt qua cầu phao sông Nhĩ, chạy trước về mạn Bắc!
Chạy! Chạy!... Tướng sĩ các doanh bên Thanh xô đẩy nhau chạy!
Nhưng không chịu nổi trọng lượng, cầu sông Nhĩ gẫy! Ném xuống lòng sông hàng vạn con người làm nghẽn tắc cả dòng nước253.
Sĩ Nghị chạy đến địa phận huyện Phượng Nhỡn, nghe nói Đắc Lộc hầu bên Tây Sơn đổ lại từ mặt đông sắp đón đường chẹn đánh, lại càng khiếp sợ, quăng hết những đồ mang theo ra dọc đường để chạy thoát thân. Vì vậy, hết thảy sắc thư, cờ hiệu, bài lệnh và ấn tín của tướng Thanh đều bị Tây Sơn bắt được ráo.
Thấy Nghị thua chạy, đạo binh Vân, Quý (Vân Nam, Quý Châu) vừa đến Sơn Tây254 phải vội tìm đường tháo về.
Hoa Bằng
Theo http://vnthuquan.net/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét