Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2026

Từ chấn hưng Phật giáo đến dấn thân nhập thế trên phương diện giáo dục

Từ chấn hưng Phật giáo đến dấn thân
nhập thế trên phương diện giáo dục

Phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX để lại nhiều thành tựu và đóng góp quý báu. Riêng giáo dục có vai trò rất lớn, vì đóng góp cho việc chuẩn bị về con người và tổ chức góp phần hình thành giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hơn nữa, chấn hưng Phật giáo có mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động dấn thân nhập thế. Tìm hiểu mối liên hệ này trên phương diện giáo dục có thể góp phần làm rõ dòng chảy tiếp nối của tinh thần nhập thế, thể hiện vai trò và vị trí ngày càng lớn của Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam. Theo đó, bài viết mang lại một vài suy nghĩ về hoạt động đào tạo tăng tài trong hệ thống giáo dục Phật giáo Việt Nam hiện nay.
Từ đầu thế kỷ XX, phong trào chấn hưng Phật giáo quốc tế khởi đi từ áp lực của chủ nghĩa thực dân đối với xứ thuộc địa, dần dà lan rộng khắp các nước Đông Á trong đó có Việt Nam. Trải qua hơn một thế kỷ, cho đến nay, thành tựu công cuộc chấn hưng và tinh thần nhập thế của Phật giáo hiện đại Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị và tiếp tục soi đường phát triển cho Phật giáo đương thời. Trong đó, mang lại thành tựu lớn nhất về con người chính là hoạt động giáo dục trong công cuộc chấn hưng. Thậm chí khi nói tới chấn hưng Phật giáo cũng tức là nói tới giáo dục Phật giáo. Mối quan hệ giữa chấn hưng – giáo dục – nhập thế, vẫn còn nhiều vấn đề đáng để chúng ta bàn luận và kiến giải, ngõ hòng rút xét những bài học lịch sử đáng quý cho thực trạng giáo dục Phật giáo đương thời.
1. Phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam trên phương diện giáo dục
1.1Nguyên nhân dẫn đến chấn hưng Phật giáo về giáo dục
Cùng với những biến động thời đại trên phạm vi toàn thế giới, những thập niên đầu thế kỷ XX, Phật giáo cũng bước đầu cuộc chấn hưng rộng rãi, nhằm tìm kiếm sức sống mới cho Phật giáo. Không thu gọn trên phạm vi quốc gia, Phật giáo chấn hưng ở nhiều nước (chủ yếu ở khu vực châu Á): Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, … Công cuộc chấn hưng khởi phát từ xung đột giữa Phật giáo và thực dân đế quốc về quyền hoạt động tôn giáo của đạo Phật trên lãnh thổ Tích Lan. Sự kiện này đặt ra cho Phật giáo Tích Lan bước ngoặt sống còn. Ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tăng sĩ và Phật tử, do đó, Phật giáo tại nước này nhận thấy cần vận động và phát triển để tiếp tục tồn tại trong điều kiện mới. Và cơn bão thực dân đế quốc phương Tây không ngần ngại đụng chạm đến cửa Phật. Nhất là khi thực dân phủ quyết quyền sở hữu hợp pháp của tăng sĩ đối với địa bàn tu[1].
Hoạt động giáo dục, tu tập bị thực dân Anh xâm phạm, họ còn can dự vào chương trình giảng dạy. Bên cạnh đó, nguyên nhân chủ quan nhìn từ phía tăng đoàn biểu hiện suy đồi trong tu tập lẫn nền nếp sinh hoạt dẫn đến tình trạng giáo dục sa sút, nhận thức tăng sĩ hạn chế dễ sa vào lầm lạc. Đây là chỗ yếu nhược khiến Phật giáo Tích Lan gặp khó khăn trước làn sóng Tây phương và những tôn giáo khác; là yếu điểm cần khắc phục, nơi bắt đầu làm cuộc chấn hưng. “Tình trạng suy đồi của các tăng ni, Phật tử, vì chính quyền thuộc địa và các đoàn thể Thiên Chúa đã tước đoạt khỏi tay họ toàn bộ hệ thống học đường”[2]. Nhu cầu chấn hưng Phật giáo đặt ra, trước hết là chấn hưng giáo dục, tái tạo vấn đề con người. Nhìn thấy yêu cầu bức thiết và khả thi xây dựng nền Phật học mới: “Phật giáo có điều kiện để hình thành một nền Phật học mới và có thể đáp ứng được những tiến bộ xã hội”[3]. Từ điều kiện thực tiễn, Phật giáo khởi xuất phong trào chấn hưng, vực dậy đời sống Phật giáo, vượt qua cơn “bỉ cực” chủ nghĩa thực dân Tây phương, tạo tiền đề cho việc canh tân toàn diện đạo Phật.
Trong giai đoạn đầu, ở khu vực Nam Á, chấn hưng Phật giáo gắn với Hội thông thiên học, mà vai trò của Henry Steel Olcott (1832-1907) và Helena Petrovna Blavatsky (1831- 1891) rất quan trọng. Sự ra đời hội truyền bá đạo Phật hình thành trên mô hình lấy ý tưởng từ việc truyền bá lời dạy của Chúa Ki-tô. Đó chính là Hội Thông thiên học Phật giáo (Budhist Theosophical Society[4]. Việc này bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ tư tưởng của Blavatsky và văn hóa Ấn Độ[5]. Giữa bối cảnh văn hóa tôn giáo tín ngưỡng phức tạp tại xứ Ấn, họ mau chóng hòa mình vào đạo Phật. Cũng trong giai đoạn 1879-1880, cả Olcott và Blavatsky đều từ bỏ kết nối trước đó với đời sống tâm linh Ấn Độ từ nhóm Arya Samaj của Raja Rammohun Roy theo truyền thống Vedic, để đến với Phật giáo. Cuộc tương phùng này cũng để lại dấu vết sâu đậm trong tư tưởng huyền nhiệm của Blavatsky. Đây là tiền nhân của những Phật tử trong xã hội Tây phương sau này, họ được gọi là những Phật tử Trắng (White Buddhists). Olcott và Blavatsky có xu hướng coi Đức Phật như bậc thầy, người dẫn dắt tâm linh và kết hợp với tư duy huyền nhiệm của họ. Bởi vậy, họ cảm thấy có trách nhiệm giúp đỡ và hỗ trợ về mặt chính trị cũng như giáo dục cho các Phật tử người Sinhala (nhóm dân tộc phổ biến tại Sri Lanka, chủ yếu theo Phật giáo nguyên thủy/Theravada Buddhists). Hỗ trợ cần thiết hơn cả, theo họ, chính là phổ truyền chân lý huyền nhiệm kết hợp với giáo dục Phật học. Họ đã cùng nhau thành lập phong trào giáo dục Phật giáo (Buddhist Educational Movement) vào năm 1880 cùng khắp xứ Ceylon. Giáo dục Phật giáo Tích lan phát triển ở nhiều phương diện, dễ thấy nhất là số trường học tăng lên, kiện toàn các bậc học Phật giáo (từ trung học đến cao đẳng). Bằng chứng là sự ra đời của 4 ngôi trường cao đẳng Phật học: Ananda College (1886), Dharmaraja College (1887), Maliyadeva College (1888), Mahinda College (1892).
Phật giáo Trung Quốc hậu kỳ Mãn Thanh triều đại cũng rơi vào cảnh ngộ chung, mà chúng ta có thể tạm gọi là giai đoạn “suy đồi” của Phật giáo Đông Á. “Mức độ đạo đức của chư tăng rất thấp. Họ thi hành nhiệm vụ tôn giáo rất máy móc… Phật giáo dần dần trở thành hình thức. Tăng già Phật giáo không khác gì đạo sĩ Lão giáo, lười biếng, kém học”[6]. Chẳng riêng Trung Quốc, nói rộng ra toàn cõi Đông Á, sức sống Phật giáo suy kiệt bởi những những người gửi mình ở chốn “Phật môn”. Đức Phật đã từng nói: “Trong tương lai các thầy Tỳ Kheo ưa thích y đẹp, không dùng y pansukula (vải dơ lượm được), không ngụ nơi thanh vắng, thích tụ hợp nhau trong thôn xóm, thành thị và dùng vật dụng không thích hợp. Các Tỳ kheo chỉ tìm khất thực tại nơi nào có cao lương mỹ vị, chẳng tuân theo giới luật. Các Tỳ kheo thích ngụ nơi nào khang trang đẹp đẽ hơn là ngụ nơi rừng núi. Các Tỳ kheo thích chung dụng các Tỳ kheo ni, sa di ni, bỏ dở công phu hành đạo, phạm giới cấm rồi hoàn tục trở thành người thế. Các thầy Tỳ kheo thường tìm cách liên lạc người phục dịch trong chùa để thọ vật dụng và thực phẩm cách đêm. Nầy các Tỳ kheo, các ngươi nên ghi nhớ mấy điều trên đây để ngăn ngừa những lo sợ trong buổi tương lai về sự suy tàn của Phật giáo”[7]. Rõ ràng, nguy cơ suy tàn Phật giáo đã tiềm tàng trong chính bản thân đạo Phật, trong chính mỗi con người hành và trì Phật pháp. Nói khác, cốt lõi vấn đề nằm ở chỗ con người. Chưa kể đến phát triển, đề gìn giữ được Phật pháp, việc giáo dục và tu tập vẫn luôn ở vị trí hàng đầu.
Nói thêm về thực trạng Phật giáo Đông Á, chúng tôi xin dẫn lại ý kiến của người thiện tín Nhật Bản họ Phục Bộ, nhiều năm sống ở “Annam” vì cảm kích các sư ở xứ mình mà trình bày đôi dòng tâm tư. Nhờ vậy, ta có thêm cái nhìn về cuộc diện Phật giáo cõi Đông Á đầu thế kỷ XX. Tựu trung có một vài ý: – Phật giáo ở Trung Quốc dẫu người tin theo rất đông, nhưng chỉ có xác không hồn; – Phật giáo Nhật Bản dẫu truyền bá rộng nhưng còn yếu ớt hơn nhiều so với đạo Gia tô; -lý do vì tăng đồ không có đạo học cao thâm, đức hạnh lớn lao cũng như người dân mê tín sa vào thuật phù thủy đạo sĩ quyền phép[8]. Phật giáo Đông Á đứng trước bước ngoặt sống còn, đối diện yêu cầu phục sinh đạo Phật. Làn sóng tái nhận thức lan truyền rộng rãi, trong giới tăng sĩ lẫn cư sĩ và tín đồ thế gia của đạo Phật.
Rõ ràng, cội nguồn phong trào chấn hưng Phật giáo bắt đầu bằng đòi hỏi tái nhận thức đời sống Phật giáo mà giáo dục là bước đầu tiên – nhắm tới tái thiết nhân tâm. Mọi khởi đầu chấn hưng đều từ chỗ giáo dục, và cũng từ chỗ giáo dục mở rộng liên đới hầu hết hoạt động tăng đoàn Phật giáo. Minh chứng trong công cuộc chấn hưng ở Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam: phong trào mở mang giáo dục (đi từ giáo dục đến học thuật, hoằng pháp; từ giáo dục đến mở rộng truyền thông Phật giáo, thành lập cơ quan ngôn luận). Đáng kể, ở Việt Nam, chấn hưng Phật giáo gắn liền giáo dục với kiện toàn tổ chức tôn giáo, gắn liền giáo dục với dân gian hóa Phật lý, gắn liền giáo dục với nhập thế đấu tranh cách mạng độc lập đất nước.
Cụ thể, ở Việt Nam, nhìn thấy thảm trạng Phật giáo sa vào mê tín và hủ bại bởi những điều cúng kiến bái lạy vị kỷ xa rời chánh pháp, nhiều tăng sĩ và cư sĩ cùng gầy dựng công việc chấn hưng. Ngoài ra, nhìn thấy thảm trạng đất nước thuộc địa, người dân lầm than đói khổ, người có lòng tư bi nói chung người tu Phật nói riêng, ai lại không xót lòng trước nạn tai của đất nước và dân tộc. Tâm tư này, nhiều tăng sĩ cư sĩ bày tỏ trên cơ quan báo chí, những mong lây chuyển truyền khởi nhận thức về vận mệnh Phật giáo trong vận mệnh giống nòi. Thật đáng trân trọng những tấm lòng vừa tu đạo vừa ưu tư cho thời thế và vận mệnh dân tộc[9].
Phong trào chấn hưng Phật giáo khởi phát sôi nổi ở Nam kỳ[10]rồi lan rộng ra Trung và Bắc kỳ. Lấy cơ quan ngôn luận báo chí làm nơi quảng bá tư tưởng chấn hưng, phong trào có “kênh thông tin” phổ truyền tư tưởng xuyên suốt, dấy lên mối quan tâm khắp cả ba miền, kết nối những mong mỏi chấn hưng khắp mọi nơi. Chẳng hạn như Thiện Chiếu, Thiện Tòng, Tiệm Hồng, Nam Hải, Tỉ khiêu tự Lai, Tâm Ứng, Tâm Thái, … Mỗi vị lại trình bày và vạch ra đường hướng chấn hưng cụ thể. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy chung quy một vài yếu chỉ. Cũng như Tỉ khiêu tự Lai (trụ trì chùa Tiên Lữ – Thái Nguyên) đã có lòng tóm lược những tư tưởng chấn hưng của các nhà sư Nam kỳ, để rồi đề xướng thành lập “Phật giáo tổng hội”[11], nhằm thực hiện ý hướng chấn hưng mà các nhà sư Nam kỳ đã khởi xướng. Tựu trung có mấy ý như sau: “1. Lập giảng đàn trong các chùa để giảng kinh, giảng sách Phật cho các nhà thiện tín; 2. Mượn các nhà văn sĩ thông Hán học dịch kinh sách Phật bằng chữ Hán ra quốc văn; 3. Mượn các nhà Pháp học, dịch các kinh sách Phật bằng chữ Pháp ra quốc ngữ; 4. Lập ra trong mỗi chùa một cái thư viện; 5.Lập ra bên cạnh mỗi chùa một nhà nuôi kẻ khó cho làm các công việc; 6. Lập ra bên cạnh mỗi chùa một nhà nuôi người tàn tật và nhà cho thuốc cho kẻ đau ốm. 7. Lập ra ở bên cạnh mỗi chùa một nhà nuôi trẻ con mồ côi”[12]. Có thể thấy Tỉ khiêu tự Lai chú ý đến các nhà sư Nam kỳ mang ý chấn hưng trên phương diện thiện nguyện. Âu cũng là tấm lòng từ bi thương người. Tuy nhiên, chúng tôi muốn nhấn mạnh hơn, các nhà sư Nam kỳ đề cao trước hết vấn đề giáo dục, gồm cả hai phạm vi: giáo dục đại chúng và giáo dục tăng tài. Nếu tỷ khiêu tự Lai có nói đến giáo dục đại chúng (giảng đàn, thư viện) nhưng chưa nói tới giáo dục tăng tài, e rằng như vậy sẽ thiếu sót. Trong khi đó, việc giáo dục tăng tài quan trọng thậm chí giữ vị trí hàng đầu, đóng vai trò cốt lõi trong vận động chấn hưng của Phật giáo Nam kỳ, bởi tăng tài sau đó sẽ hướng dẫn đại chúng trở về chánh đạo xa cõi mê lầm, sẽ là cây xanh tỏa bóng mát Phật pháp vào chốn dân gian. Đây là thực trạng cũng là nguyên nhân, khiến cuộc chấn hưng Phật giáo khởi dậy. Đến mức, khi ta nói tới chấn hưng Phật giáo cũng tức là chấn hưng giáo dục Phật giáo vậy!
1.2 Các hoạt động giáo dục, nghiên cứu, truyền bá nhằm chấn hưng Phật giáo
Vì sao giáo dục là trọng tâm cuộc vận động chấn hưng Phật giáo?
Để hiểu lập trường đề cao giáo dục, thiết nghĩ, ta nên sơ lược một số hoạt động liên quan giáo dục Phật giáo buổi sơ thời cuộc vận động chấn hưng ở nước ngoài. Bởi việc này như đường hướng mà theo đó các nhà chấn hưng Phật giáo Việt Nam tiếp thu “tùy biến” thực trạng Phật giáo nước nhà.
Minh chứng cho quan điểm đề cao giáo dục, ta có thể lược bày một số hoạt động của Hội Thông thiên học Phật giáo vá cá nhân vận động chấn hưng ở giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: thành lập các trường Phật học ở Sri Lanka; việc thành lập các tạp chí của Anagarika Dharmapala: Tuần san Sandarasa (1887), Tạp chí The Buddhist (1888), Hội Bodh – Gaya Maha Bodhi(1891). Ở Trung Quốc, có Dương Nhân Sơn lập Kì hoàn Tịnh xá (Trấn Giang, 1908), mở đầu chấn hưng tư tưởng Phật giáo mới qua nghiên cứu Phật học. Thái Hư đại sư với quan điểm chấn hưng chú trọng ở chỗ: “Phải chỉnh lí tăng già mới có người duy trì Chánh pháp. Phải thống nhất cư sĩ mới phổ cập Phật pháp vào các tổ chức quần chúng”[13]; lập Giác xã Tùng Thư (1918, đến 1920 đổi thành Hải Triều Âm); lập Hội Chánh tín Phật giáo (tại Hồ Nam, 1920). Ngoài ra, Đại sư lập Hội Phật học Trung Hoa (Buddhist Society of China) với tôn chỉ: “Tuyên truyền giáo nghĩa nhà Phật. Biện lí sự giáo dục của tăng chúng. Đề xướng việc tăng ni làm lụng để sản xuất ra các đồ chế tạo và tài sản, song không trái với giáo chỉ nhà Phật”[14]. Có lẽ giới tăng sĩ ủng hộ chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam giai đoạn đầu chịu nhiều ảnh hưởng từ quan điểm và đường hướng của Thái Hư đại sư. Chẳng hạn, ta thấy nhiều ngôi chùa ở Việt Nam cũng cho phép đệ tử lao động sản xuất, cung cấp nhu cầu thiết dụng hằng ngày của tu sĩ[15]. Phải nói thêm, tư duy chấn hưng Phật giáo của Đại sư Thái Hư có thể xem như kiến trúc sư tái cấu trúc Phật giáo với “Cách mạng giáo lí”; “Cách mạng giáo chế”; “Cách mạng giáo sản”. Trong đó, Đại sư đề cao việc thành lập cơ quan giáo dục: “thiết lập các đoàn thể Phật học, các tổ chức Phật hóa, các cơ quan biến tướng, các cơ quan giáo dục”[16]. Mục đích của đại sư “dùng Phật pháp để biến đổi hiện trạng Phật giáo và hiện trạng xã hội thế tục đương thời, từ đó mong muốn xây dựng một “Nhân gian tịnh độ” ngay tại hiện thế”[17]. Công cuộc vận động của Thái Hư đại sư truyền sang nước ta song song với tân thư của các nhà cải cách dân chủ. Nên dễ hiểu, hoạt động chấn hưng Phật giáo ở nước ta thời kỳ đầu có nhiều nét tương đồng, xoay quanh hai phương diện chủ yếu: tổ chức giáo hội (tăng đoàn) và giáo dục học thuật. Đáng kể ở nước ta, chấn hưng Phật giáo gắn liền với vận động cải cách tiến bộ xã hội theo hướng dân chủ, không chỉ phục hưng Phật giáo mà còn phục hưng tinh thần dân tộc đưa tới tiến bộ xã hội, cải thiện dân trí dân[18].
Chịu ảnh hưởng phong trào chấn hưng Phật giáo Trung Quốc, về việc này phần vì mối liên hệ khăng khít giữa Phật giáo ta và Phật giáo Trung Quốc. Thứ nữa, vì làn sóng tân học hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX của Âu Tây tràn sang cùng với cuộc khai thác thuộc địa của Pháp, khiến cho đời sống Phật giáo vốn gặp khó khăn lại càng khó khăn. Do đó, Phật giáo Việt Nam cũng ở trong tình thế như Phật giáo Trung Quốc. Việc này lý giải vì sao chấn hưng Phật giáo từ Trung Quốc truyền sang nước ta nhận được sự ủng hộ nhanh rộng như vậy[19].
Chủ trương chấn hưng Phật giáo bắt đầu từ chỗ nhận ra thực trạng Phật giáo đang gặp phải. Từ gốc rễ vấn đề, chạy chữa và nâng cao tinh tấn, phát triển mọi phương diện, các nhà sư đề xướng chấn hưng hồi đầu thế kỷ XX chủ yếu xoay quanh vấn đề con người. Nhận ra tệ lậu tâm tưởng trong hàng Phật tử lẫn tăng sĩ, lòng người ngày càng xa rời chân đạo, để cho tà thuyết mê tín tràn lan, dẫn đến chỗ nhà chùa trở thành “công ty Bảo hiểm”, những nhận xét có phần “cay đắng” ấy chính là ưu tư của Sư Thiện Chiếu (1898-1974)[20] trên Đông Pháp thời báo: “Phật lý đã không rõ rệt, nên những kẻ tại gia tín ngưỡng phần nhiều là mê tín, chỉ biết đốt hương cầu khấn Phật, Thần phù hộ, cho cuộc đời của mình được sung sướng thảnh thơi mà thôi, chớ ít có ai tiêm nhiễm được chút từ bi bác ái, thành ra cái chùa Phật hình như là cái Bảo hiểm công ty, thời tránh sao cho khỏi những kẻ gian tà họ lợi dụng để mưu kế sinh nhai, khiến cho trong Tăng giới hằng diễn tấn bi kịch”[21]. Nhìn vào chỗ mục nát của tâm tưởng, thời phải chạy chữa chính ở chỗ “bệnh hoạn” đó. Bắt được mạch, thời phải kê thuốc, Sư Thiện Chiếu có đề ra mấy điểm, chúng tôi xét thấy có ích dụng và ảnh hưởng đến đường giáo dục tăng đoàn, cùng một luồng tư tưởng đề cao giáo dục tăng tài. Cụ thể: “1. Lập Phật học Báo quán cho dễ truyền bá Phật lý ra, được vãn hồi lấy tinh thần và trừ khử những điều mê tín. 2. Lập Phật gia Công học để đào tạo những bậc có tư cách đứng đầu để truyền giáo về sau. 3. Dịch Kinh Phật ra tiếng ta, để cho Phật giáo ở nước ta sau này khỏi sợ đến thất truyền”[22]. Mấy đề xướng ấy, chung quy ở chỗ thành lập cơ quan ngôn luận, thành lập học đường, và cơ quan nghiên cứu học thuật. Như vậy, kỳ vọng của Sư Thiện Chiếu hồi ấy nói riêng và giới Phật môn nói chúng, hướng đến xây dựng nền Phật giáo mới: hoằng pháp và học thuật. Muốn vậy, phải thúc đẩy giáo dục, có tăng tài mới có thể hoằng hóa quảng bá Phật pháp, có tăng tài mới mới xây dựng học thuật, giữ gìn chánh pháp.
Nhiều bài viết của Tỷ khiêu tự Lai ở chùa Hang (Thái Nguyên), cùng với Tâm Ứng, Tâm Thái, Tâm Nhạ (ở Hải Phòng), …., cả tâm thư góp ý của Phục Bộ tiên sinh (người Nhật, sống ở Hà Nội), góp thêm vào những điều khả dĩ và bất khả dĩ trong cuộc vận động chấn hưng. Ta thấy: người thiện nam người Nhật và sư Thiện Chiếu ở Sài Gòn dường như thiên về đường giáo dục, xây dựng đội ngũ tăng tài; trong khi các vị sư ở miền Bắc thiên về hướng lập giáo hội và cơ quan thiện nguyện. Riêng việc dịch kinh sách, người thiện nam Nhật Bản cho rằng cần hướng đến khả năng tiếp thu của đại chứng nhằm hoằng dương Phật pháp, hơn là đi vào đường uyên áo phục vụ cho việc tu học riêng cho chư tăng; Sư Thiện Chiếu ở chùa Linh Sơn cũng tỏ ra ái ngại về việc chú mục vào dịch kinh sách “thuần túy”. Bởi nếu chấn hưng Phật giáo chỉ tập trung vào việc dịch kinh sách, đặt để cho đầy tàng thư trong tự viện, thì ý nghĩa của cuộc chấn hưng cũng chỉ dừng lại ở khuôn viên nhà chùa mà thôi. Sư Thiện Chiếu bày tỏ thành thật tấm lòng bằng một lá thư đáp lại thiện ý mời mọc cùng làm cuộc chấn hưng của sư tổ chùa Phương Lãng như sau: “Xướng chấn hưng Phật giáo mà cả ba kỳ không được mấy người hưởng ứng, đó cũng đủ chứng cho tăng đồ trình độ thấp lắm; nếu không lo đường giáo dục cho tăng đồ trước mà để lo làm những sự nghiệp mà cứ đi quyên tổi, thì sau này tăng đồ cứ học chuyên môn về nghề “quyên tổi” hỡi ôi! Nguy lắm!”[23]. Thư này sư Thiện Chiếu gửi riêng cho sư tổ chùa Phương Lãng, nhưng đệ tử nối tiếp giám tự (sau khi sư tổ chùa Phương Lãng qua đời) đã lấy đăng trên mặt báo để khẳng định họ vẫn kiên quyết con đường dịch thuật kinh sách chất đầy chùa, tỏ ý không đồng thuận với sư Thiện Chiếu. Vạn bất đắc dĩ phải nhắc nhớ chuyện này, để ta thấy được cốt lõi tư tưởng chấn hưng Phật giáo nằm ở chỗ kinh sách hay ở đường giáo dục. Chúng tôi thiết nghĩ, trải qua cuộc chấn hưng song hành cùng vận hội đất nước suốt thế kỷ XX, chúng ta đều thấy vai trò của giáo dục, và mối ưu tư của sư Thiện Chiếu ngày trước hoàn toàn có căn cứ. Dịch thuật, giảng đàn, Phật hội, nếu không có đội ngũ tăng tài, thời không thể tiến hành được. Qua đây ta càng thấy tư tưởng đề cao giáo dục thực sự xác đáng; và ảnh hưởng của giáo dục đến cuộc chấn hưng Phật giáo cho tới nay trổ ra ngày càng nhiều Phật quả ngọt lành.
Sơ lược tiến trình xây dựng, phát triển hoạt động giáo dục Phật giáo
Kể từ khi phát động chấn hưng Phật giáo, nhiều hoạt động thiết thực diễn ra, nhưng nổi bật nhất là hoạt động giáo dục. Đi kèm xây dựng cơ quan ngôn luận là sự hình thành cơ sở đào tạo Phật giáo. Hoạt động giáo dục tạo ra và phát huy tiềm lực con người, đáp ứng nhu cầu chấn hưng Phật giáo trên tất cả mọi phương diện. Thậm chí, ta có thể nói quá trình chấn hưng Phật giáo đã khởi đầu và thành tựu nhiều nhất ở phương diện giáo dục. Lịch sử chấn hưng Phật giáo biểu thị rõ nét qua tiến trình xây dựng phát triển hệ thống giáo dục Phật giáo từ sơ học đến cao học, cho đến nay ngày càng kết nối với hệ thống giáo dục Phật giáo quốc tế. Ở mục này chúng tôi trình bày phân kỳ theo dòng thời gian, nhằm thuận tiện theo dõi quá trình hình thành và phát triển của giáo dục Phật giáo nước ta.
(a) Giai đoạn trước 1945
Như đã nói, phong trào chấn hưng Phật giáo khởi xuất từ Nam kỳ, nổi bật nhất là cuộc vận động đầy tâm huyết của Hòa thượng Khánh Hòa và Hòa thượng Thiện Chiếu. Trọng tâm cuộc chấn hưng của hai vị Hòa thượng đều ở chỗ giáo dục. Cơ quan ngôn luận và nghiên cứu thực chất là môi trường cho tăng tài có thêm cơ hội trui rèn nhận thức Phật học và mở rộng hoằng pháp. Giáo dục vẫn là tiên quyết và cốt lõi. Hòa thượng Khánh Hòa còn lặn lội tận Nam Vang để nghiên cứu học hỏi cách xây dựng cở sở đào tạo Phật học. Năm 1923, Hòa thượng Khánh Hòa ra sức kêu gọi thành lập Lục Hòa Liên Hiệp. Sau đến năm 1928, lại vận động thành lập Thích Học Đường và Phật học Thư xã. Đến 1929, Hòa thượng Khánh Hòa phát hành Pháp Âm làm cơ quan ngôn luận của Lục Hòa Liên Hiệp. Đây là tờ báo Phật giáo quốc ngữ đầu tiên. Có thể xem những năm 1910-1920 là giai đoạn chuẩn bị cho công cuộc chấn hưng nói chung và xây dựng giáo dục Phật giáo nói riêng. Bởi lẽ, ở giai đoạn này, các đại hòa thượng tiên phong chấn hưng đang nắm bắt thực trạng và phác họa đường chấn hưng cho xác đáng cụ thể. Ví như tâm tư của Hòa thượng Khánh Hòa là minh chứng: “Trong ý chúng tôi nghĩ rằng: nước ta bấy nay không lập Phật học viện, không lấy đại thừa giáo pháp dạy người, khiến nên tùng lâm hải chúng cũng có nhiều như chúng tôi, không hiểu đặng đạo lý bao nhiêu, tuy nói tu hành chẳng qua bỏ gốc theo ngọn mà thôi, không trách gì lu mù hai mắt, coi voi thì rờ mũi rờ chân, inh ỏi năm phương, chọc chó sủa hình sủa tiếng, cho biết đạo suy tại người, đâu phải tại đạo?”[24]. Rõ ràng, Hòa thượng xác định vấn đề con người chính là trọng tâm cần hướng đến của cuộc chấn hưng.
Đến thập niên 1930-1940, sau những cuộc bàn luận và vận động sôi nổi, chấn hưng Phật giáo bắt đầu gặt hái được những thành quả đáng kể. Nổi bật nhất là các lãnh vực: giáo dục, ngôn luận, dịch thuật, nghiên cứu Phật học, kiện tráng tổ chức tăng đoàn, mở rộng liên hệ trong giới tu học, … Tất nhiên, kéo theo cũng có nhiều tổ chức, nhiều Phật hôi, Phật đường, Phật đàn, … được thành lập. Sinh hoạt tu học và hoằng hóa năng động giàu sinh khí hơn hẳn. Năm 1931, Hòa thượng Khánh Hòa vận động thành lập Hội Nam kỳ Phật học. Sang 1932, Hòa thượng Khánh Hòa lại cho ra đời tờ báo Từ Bi Âm. Cùng năm, ở Trung kỳ cũng thành lập Hội An Nam Phật học (đây là tổ chức cộng sức của Hòa thượng Giác Tiên, cùng Hòa thượng Mật Khế, Mật Nguyện, Đôn Hậu, Trí Độ, Trí Thủ, Mật Thể, Diệu Hương, Diệu Viên và cư sĩ Lê Đình Thám). Khác với mục tiêu chấn hưng ở Nam kỳ, Hội An Nam Phật học vừa chú ý tới đào tạo, nhưng cũng nhận thấy đời sống sa sút của tăng đoàn chính là ở chỗ tăng chế còn bệ rạc. D đó, họ thúc đẩy chỉnh lý tăng chế, góp phần kiện toàn tăng đoàn. Minh chứng có sự tổ chức các đoàn thể thanh thiếu niên và đồng ấu. Cùng với sự ra đời Hội An Nam Phật học là tổ chức Ban Đồng Ấu (đây là tiền thân cho Đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục và Gia Đình Phật Hóa Phổ về sau). Phải nói, ý thức chấn hưng ở Trung kỳ đặt trọng tâm ở việc xây dụng kiện toàn hệ thống tăng đoàn, mở rộng từ hệ thống tăng đoàn sang các đoàn thể xã hội. Khiến cho Phật giáo hòa thành một khối với đời sống xã hội. Đưa giáo dục trở thành hoạt động mang tính đoàn thể như hình thức sinh hoạt xã hội, đây cũng là biện pháp giúp cho Phật giáo có sức sống mới trong bối cảnh xã hội mới.
Năm 1933, Hòa thượng Khánh Hòa thôi chức chủ bút báo Từ Bi Âm, tổ chức Liên Đoàn Phật học xã, để chuyên tâm lo đường giáo dục đào tạo tăng tài, bởi nhìn thấy tính cấp thiết của việc giáo dục hơn bao giờ hết. Có thể nói, nỗi canh cánh suốt quãng thời gian chấn hưng Phật giáo của Hòa thượng Khánh Hòa chỉ xoay quanh giáo dục và đào tạo. Trong khi đó, ở Trung kỳ, tạp chí Viên Âm ra đời (1/12/1933), góp thêm tiếng nói cho hoạt động chấn hưng Phật giáo. Cần nói thêm, giữa Hội Nam Kỳ Phật học và Hội An Nam Phật học có nhiều liên hệ, trao đổi bài viết cũng như trao đổi tăng sinh, hỗ trợ đào tạo rất đáng quý. Hai tổ chức cũng có mối liên hệ trên phương diện truyền thông ngôn luận. Nhu cầu thống nhất các tổ chức Phật giáo vốn đã khởi sinh từ ngày đầu chấn hưng, nhưng phải trải qua giai đoạn tích lũy chín muồi, cần sự chuẩn bị về nhân lực, tài lực và những điều kiện khách quan khác. Việc trao đổi học tăng và giữ mối liên hệ giữa hai tổ chức này cho thấy việc chuẩn bị nhân lực cho cuộc vận động thống nhất Phật giáo về sau. Theo đó, đến năm 1934, Hòa thượng Khánh Hòa thành lập Lưỡng Xuyên Phật học hội. Xuất bản sách Phật học giáo khoa, ra tập chí Duy Tâm Phật học. Đặc biệt, những người góp sức thành lập Lưỡng Xuyên Phật học hội rất chú trọng ở vấn đề cấu trúc tổ chức, đặt ra điều lệ rõ ràng, xác định trọng tâm hoạt động, xây dựng đường hướng phát triển, đưa vấn đề giáo dục lên hàng đầu. “Điều thứ ba – sẽ lập một trường học Phật đặng đào tạo tăng ni cốt để tuyên truyền chánh giáo của đạo Phật. Trường ấy cũng lo diễn ra tiếng quốc âm, những kinh luật viết bằng chữ Tàu”[25]. Ở Bắc việt, Hòa thượng Thanh Hanh thúc đẩy thành lập Hội Phật giáo Bắc kỳ. Có thể nói, nếu chấn hưng Phật giáo ở Nam kỳ chú trọng đến giáo dục đào tạo tăng tài, đưa Phật giáo đi vào đời sống quảng đại quần chúng (tiêu biểu với Hòa thượng Khánh Hòa và Hòa thượng Thiện Chiếu) thì chấn hưng Phật giáo ở Bắc kỳ tập trung ở lĩnh vực tu soạn và dịch thuật, nhắm đến việc nâng cao trình độ uyên thâm của Phật lý. Minh chứng là sự thành lập Ban Khảo Cứu Phật học vào ngày 16/1/1935. Ban này quy tụ rất nhiều sĩ phu Bắc Hà bấy giờ, những người có uy tín xã hội và kiến thức uyên thâm như: Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi Kỷ, Nguyễn Trọng Thuật, Lê Dư, … Đặc biệt, Trần Trọng Kim có vai trò quan trọng trong ban tu thư lẫn việc thành lập Tuần báo Đuốc Tuệ[26]. Thực tế càng cho thấy, chấn hưng Phật giáo ở Bắc Việt đặt trọng tâm ở học thuật hơn là đào tạo tăng tài, bởi quan điểm cho rằng sự phát triển của Phật giáo nằm ở chỗ phát triển Phật lý, nên ra sức làm dày thêm kiến thức nghiên cứu giáo lý của Đức Phật[27]. Do đó, phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc Việt quy tụ được nhiều tên tuổi học giả nổi tiếng như: Dương Bá Trạc, Nguyễn Can Mộng, Trần Văn Giáp, … Thông qua Đuốc Tuệ, nhiều cư sĩ đưa ra chủ trương đưa Phật giáo vào đời sống người bình dân (như Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Văn Cảnh) thế nhưng vấn đề chỉ dừng lại ở phương diện ngôn luận mà chưa đi vào thực tiễn. Đây cũng là điều đáng tiếc. Tiêu biểu cho đường hướng chấn hưng về phía học thuật và thiện nguyện ở Bắc Việt có thể nhắc đến trường hợp Hòa thượng Thiều Chửu. Năm 1936, Ngài cùng bà Hoàng Thị Uyển thành lập Hội Tế Sinh, với ý hướng thiện nguyện, giúp đỡ cho nhũng trường hơp khó khăn trong cuộc sống. Năm 1941, Hòa thượng Thiều Chửu chủ trương mở trường Phổ Quang Phật học. Thế nhưng khác với chủ trương giảng dạy của Hòa thượng Thiện Chiếu và trường An Nam Phật học, thì ngôi trường ở Bắc Việt vẫn sử dụng lối giảng dạy Nho học cũ, thiên về dạy chữ Hán, việc học xoay quanh giảng giải Kinh sách làm chủ yếu, cộng với sinh hoạt lễ khóa tôn giáo. Có thể nói, Hòa thượng Thiều Chửu là đại diện tiêu biểu cho tinh thần chấn hưng Phật giáo ở Bắc Việt, đặt trọng tâm ở viết và dịch sách, trước tác, chủ trương giáo dục theo học phong Nho giáo.
Bên cạnh sư Khánh Hòa, sư Thiện Chiếu cũng là đại diện tiêu biểu chấn hưng Phật giáo ở Nam kỳ. Năm 1937, Hòa thượng Thiện Chiếu (người con của đất Gò Công) thành lập Phật học Kiêm tế Hội tại Rạch Giá, chủ trương tờ Tiến Hóa. Hòa thượng Thiện Chiếu đại diện cho chủ trương cấp tiến trong cuộc chấn hưng Phật giáo. Cũng dễ hiểu, bởi Hòa thượng sớm đã tiếp thu nền học vấn toàn diện, từ Hán học đến Tân học, từ Hán văn đến Pháp văn, từ các tân thư của Trung Quốc đến các sách triết học Tây phương, đặc biệt chịu ảnh hưởng từ cuốn “Vô Thần Luận” Đại sư Thái Hư. Phong cách và quan điểm chấn hưng của Hòa thượng đại diện cho tư tưởng thúc đẩy Phật giáo đi vào giai đoạn mới, hiện đại và cập nhật hơn. Cuộc đời hoạt động và đóng góp cho cuộc chấn hưng của Hòa thượng có nhiều điều đáng ghi nhận, nhiều tài liệu đã bàn đến, ở đây ta chỉ nói đến tinh thần tiến bộ của Hòa thượng về phương diện giáo dục. Đối với Hòa thượng, việc chấn hưng Phật giáo không chỉ bó hẹp trong phạm vi Phật giáo mà còn hướng đến tinh thần vận động cải cách phát triển xã hội. Hòa thượng xem đây là trách nhiệm của Phật giáo, để cho ánh sáng Phật giáo soi tỏ vào đời sống con người thời đại. Minh chứng cho quan điểm này  là việc thành lập lớp học bình dân, kết hợp với lập cô nhi viện, nơi phát thuốc miễn phí có thể ví như trạm y tế công cộng, cùng nhiều hoạt động thiện nguyện khác. Rõ ràng, Hòa thượng chủ trương mở rộng cuộc vận động. Chấn hưng Phật giáo đối với Ngài là sự kết hợp của Chấn Hưng, Giáo Dục và Dấn Thân Nhập Thế. Chấn hưng Phật giáo gắn liền với vận động chấn hưng phát triển đời sống con người nói chung.
Giai đoạn 1930-1940, vận động chấn hưng ngày càng tấn tới, liên tục, sôi nổi, phổ biến rộng khắp ba miền, sang tận Cao Miên. Năm 1937, mở đầu với lời kêu gọi của Hòa thượng Thích Huệ Quang trên tập chí Duy Tâm số 25 và 26 (1937), sau tới Lưỡng Xuyên Phật học hội đề xuất “hiệp nhứt” các tổ chức Phật giáo Nam kỳ và Cao Miên thành lập Phật học tổng hội (sau khi ổn thỏa mới tiến hành hợp nhất tăng đoàn với các tổ chức miền ngoài), nhằm mục đích huy động sức mạnh thúc đẩy chấn hưng Phật giáo. Lời kêu gọi hiệp nhứt này hướng đến giáo dục tăng tài ở vị trí hàng đầu. Cụ thể: “1-Thích học đường: a- Nhứt định vị trí tại chỗ nào cho thuận tiện đi lại, đặng các Hội gởi học sanh đến học; b-Tổ chức ban giáo dục; c-Về việc học phí. 2-Tổ chức bộ biên tập dịch kinh. 3-Phật học tạp chí – sắp đặt tôn chỉ nhứt luật để trao đổi ý kiến cho dung hộp hau, mới tránh khỏi lối xung đột bút chiến lôi thôi trên trường ngôn luận”[28]. Đồng thời với cuộc vận động ở Nam kỳ, năm 1940, Đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục (thuộc Hội An Nam Phật học ở Trung kỳ) được thành lập tại Huế; đây là tổ chức của tầng lớp thanh thiếu niên với tư tưởng tân học. Tâm Minh Lê Đình Thám với tư tưởng sư phạm mới mẻ áp dụng phương pháp giảng dạy Tây phương. Tổ chức này mở nhiều lớp đào tạo Phật pháp theo cách giảng dạy tân tiến, không lệ thuộc vào sách vở Hán văn theo lối kê cứu xưa nay mà tổ chức lớp học thành buổi thuyết pháp, đối thoại, trau dồi Phật lý (soạn sách Phật học sơ học năm1942 làm giáo trình). Đến năm 1943, Trường An Nam Phật học ở trung kỳ thi tốt nghiệp. Đây là cơ sở đào tạo uy tín, góp phần hình thành thế hệ tăng tài, sau này ra sức gánh vác trọng trách Phật giáo. Xuất thân từ trường này, có thể nhắc đến chư vị như: Thích Trí Tịnh, Thích Trí Quang, Thích Trí Thuyên, Thích Thiện Siêu, Thích Thiện Minh, … Tổ chức này đã nảy mầm trên nhu cầu và đòi hỏi hiện đại hóa phương pháp và nội dung giảng dạy Phật học. Ngoài Phật học, học tăng và Phật tử còn được giảng dạy cả Nho học và Đạo học, cùng với những vấn đề xã hội khác, với mục đích làm cho sự nhìn nhận thế giới trở nên toàn diện cập nhật thực tiễn hơn. Sau buổi học, chính những đoàn viên này sẽ trở thành những cánh chim gieo hạt, đưa giáo lý Phật vào chốn gia đình và xã hội. Rõ ràng, thông qua tổ chức giáo dục này, Phật giáo thực sự đi vào dân gian, trực tiếp và gián tiếp phổ hóa chúng sinh. Cũng nhờ vậy, Phật giáo có luồng sinh khí mới, sức sống mới. Đây chính là nghĩa lý của việc chấn hưng Phật giáo. Ngoài đào tạo, đoàn này còn khuyến khích tham gia hoạt động báo chí, cho học viên viết bài và công bố trên cơ quan ngôn luận (ví dụ Viên Âm), đồng thời đưa học tập trở thành học thuật Phật giáo, qua việc nghiên cứu, biên soạn, xuất bản nhiều tài liệu Phật giáo quy tụ trong Phật học tùng thư. Chính đây là nền tảng cho con trai của cư sĩ Lê Đình Thám là Lê Đình Luân cùng thư ký của ông là Lê Lừng cho ra đời tổ thức Gia Đình Phật Hóa Phổ, mang ý hướng phổ biến Phật pháp vào môi trường gia đình. Chúng ta nhận thấy có nhiều nét tương đồng với tổ thức Hướng đạo của Thiên Chúa giáo. Chính nhờ những tổ chức này, Phật giáo trở nên chặt chẽ hơn và thiết thực hơn, đưa đạo Phật vào sinh hoạt đời thường. Hai tổ chức Thanh Niên Phật Học Đức Dục và Gia Đình Phật Hóa Phổ (sau đổi tên Gia Đình Phật Tử) tuy hai mà một. Hơn nữa, thông quan hai tổ chức này, chúng ta thấy chấn hưng Phật giáo Việt Nam không mang màu sắc chấn hưng Phật giáo ở Trung Hoa mà có hơi hướm như phong trào chấn hưng Phật giáo của những cư sĩ Tây phương đã khơi dậy ở Tích Lan. Nhất là họ chú trọng đến tầng lớp thanh niên. Đây là tầng lớp có năng lực cách mạng và điều kiện thuận tiện về tư duy mới, rất phù hợp để phát động phong trào chấn hưng tôn giáo và vận động chính trị xã hội. Minh chứng là, Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam Trung Bộ. Qua nhiều trường hợp (Hòa thượng Thiện Chiếu với con trai ông, hay Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám và con trai Lê Đình Luân), chúng ta nhận thấy chấn hưng Phật giáo không tách rời đấu tranh chống ngoại xâm và giành độc lập cho quê hương đất nước. Điều này xác quyết, Phật giáo không làm ngơ, không đứng ngoài cuộc diện chiến tranh lan tràn trên quê hương; ngược lại Phật giáo nhận thức sâu sắc và sử dụng giáo pháp để phổ hóa đại chúng, thúc đẩy đấu tranh giành độc lập đất nước. Chẳng phải chính là: Chấn Hưng + Giáo Dục + Nhập thế hay sao! Ba phương diện này, suốt quá trình chấn hưng và xây dựng hệ thống giáo dục Phật giáo từ hồi đầu thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI không hề phai lạt, tạo thành truyền thống quý báu của Phật giáo Việt Nam hiện đại.
(b) Từ 1945-1954
Sau 1945, theo Hòa thượng Thiện Hoa kể lại, Phật học viện Kim Sơn không duy trì được nên Hòa thượng quay về Nam, được hỗ trợ tài chính thành lập Phật học đường Phật Quang ở Trà Ôn. Đây là nỗ lực tiếp nối đường giáo dục của cuộc vận động chấn hưng. Trước biến cố thời đại, cuộc chấn hưng bị gián đoạn. Nhưng dẫu khó khăn, nhiều vị Hòa thượng vẫn cố gắng duy trì việc tu học. Ví như Phật học đường Phật Quang có thời gian tạm ngưng nhưng rồi tiếp nối, dẫu nhiều học tăng tham gia phong trào Phật giáo cứu quốc, nhưng trường cũng duy trì được khoảng 8 năm. Có thể nói là nỗ lực đáng quý trong việc duy trì đường giáo dục. Cũng nhờ vậy, thế hệ học tăng tiếp nối đảm đương Phật sự về đường giáo dục ở giai đoạn sau. Chẳng hạn Hòa thượng Bửu Huệ, Phước Cần, Thanh Từ, Hoàn Quan, Tịnh Viên, … cũng từng tu học ở đây.
Đồng thời, giai đoạn này Gia đình Phật hóa Phổ vẫn tiếp tục hoạt động và đóng góp nhiều công sức vào Hội Phật giáo Việt Nam Trung Phần. Đặc biệt ban cố vấn giáo lý của tổ chức này có những vị đáng kính như: Thích Minh Châu, Thiên Ân, Đức Tâm, Chân Trí, Võ Đình Cường (sau này các vị tiếp tục con đường giảng dạy sau 1954).
Năm 1948, giáo sư Nguyễn Ngọc Quỳnh thành lập trường tiểu học Khuông Việt. Việc lập trường được Thượng tọa Tố Liên giúp sức. Không chỉ là hình thức trường học, tiểu học Khuông Việt thực chất còn là tổ chức Đoàn Phật giáo ở lứa tuổi đồng ấu và vị thành niên. Đoàn của học sinh trường Khuông Việt hoạt động rất năng nỗ, có nhiều nét tương đồng với sinh hoạt đoàn hiện nay. Đoàn này cũng có xu hướng phát triển như Gia Đình Phật Hóa Phổ ở trung phần, dần đưa Phật giáo vào gia đình Việt Nam. Thế rồi, giáo dục Phật giáo dần trở thành giáo dục gia đình Phật giáo. Phải nói công lao gầy dựng của các vị sư trung phần là rất lớn. Có lẽ chư vị đã nhìn thấy chỗ trống to lớn của giáo dục gia đình vẫn bị bỏ ngõ. Hơn nữa, để tìm kiếm sức sống mới cho Phật giáo không gì bền vững và trường tồn cho bằng đưa Phật giáo vào mái gia đình. Giáo dục Phật giáo trở thành giáo dục gia đình Phật giáo là bước tiến lớn, thành tựu lớn của chấn hưng Phât giáo Việt Nam trên phương diện giáo dục. Từ Gia Đình Phật Hóa Phổ ở Trung kỳ, tới Bắc Kỳ có Gia Đình Phật Hóa Phổ Minh Tâm Gia Đình Phật Hóa Phổ Thiện Tuệ, Gia Đình Phật Hóa Phổ Liên Hoa, Gia Đình Phật Hóa Phổ Phả Quang, Gia Đình Phật Hóa Phổ Minh Đạo, Gia Đình Phật Hóa Phổ Từ Quang; vào Nam Kỳ có Gia Đình Phật Hóa Phổ Chân Tri, Gia Đình Phật Hóa Phổ Sùng Đức, Gia Đình Phật Hóa Phổ Chánh Giác, … Sự phát triển lan rộng của Gia Đình Phật Hóa Phổ có lẽ vẫn còn nguyên ý nghĩa và giá trị cho đời sống hôm nay. Phật giáo Việt Nam tồn tại và phát triển hẳn nhiên phải bám chặt lấy quê hương và dân tộc mình.
Sau lời dặn dò của Hòa thượng Khánh Hòa, hòa thượng Thiện Hòa du học từ Nam ra Trung rồi tiếp tục ra Bắc Việt tu học. Đến 1950, Hòa thượng trở về miền Nam, hiệp nhứt các Phật học đường Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức, Ứng Quang thành Phật học đường Nam Việt, đặt tại chùa Ứng Quang (về sau đổi thành Ấn Quang), đồng thời Ngài lập ni trường đặt tại chùa Từ Nghiêm (sau dời về chùa Dược Sư).
Nhìn chung giai đoạn này, do biến động thời cuộc, giáo dục Phật giáo trải qua quá trình suy thoái, tan rã, đến những năm đầu thập niên 1950 mới bắt đầu khởi sắc trở lại, cùng với sự thành lập, hiệp nhứt và sự ra đời của tổ chức giáo hội.
(c) Từ 1954-1975
Song hành cùng biến cố lịch sử chia đôi đất nước, Phật giáo bấy giờ cũng có những thay đổi nhất định. Về đường giáo dục, thế hệ tăng sĩ tu học ở giai đoạn trước đó bây giờ trưởng thành, cùng góp sức phát triển chấn hưng Phật giáo. Đưa công cuộc chấn hưng bước vào giai đoạn mới mà cụ thể là kiện toàn hệ thống giáo dục Phật giáo từ sơ học đến cao học.
Những năm 1950-1960, kiện toàn hệ thống giáo dục, kết hợp giáo dục ngoại điển và nội điển. Năm 1959, Hòa thượng Thích Thiện Hòa (đang là trị sự trưởng Giáo hội Tăng Già Nam Việt, giám đốc Phật học đường Nam Việt chùa Ấn Quang), đứng tên mua phần đất của ông bà Đỗ Minh Sính để làm An Dưỡng Địa. Sau đó Hòa thượng cho tôn tạo đổ đất, tạm hoàn thành 1960. Sang 1961, thành lập khu An Dưỡng Địa và vinh hạnh đón nhục thân của Hòa thượng Thích Khánh Anh. Sở dĩ bàn đến An Dưỡng Địa vì ở đây về sau sẽ trở thành nơi tu học của nhiều vị cao tăng, góp phần khuếch trương Phật giáo nước nhà, rọi chiếu ánh sáng Phật pháp đến tận bây giờ. Năm 1962 xây là hỏa táng, ban đầu An Dưỡng Địa dùng làm nơi mai táng tăng ni và Phật tử. Sau pháp nạn, trên cổng An Dưỡng Địa có thêm tên Phật học viện Huệ Nghiêm.
Những năm 1960-1970, hình thành nền giáo dục đại học Phật giáo, song hành đạo tạo nội điển và ngoại điển. Thời gian 1961-1962, Phật học đường Nam Việt ở chùa Ấn Quang ngày càng không đủ đáp ứng nhu cầu tu học và sinh hoạt của tăng sĩ. Do đó, chư vị Hòa thượng như Thích Thiện Hoa, Thích Thiện Hòa ưu tư rất nhiều về việc này. Yêu cầu xây dựng nơi tu học mới đặt ra rất cấp thiết. Cuối cùng An Dưỡng Địa được lựa chọn làm nơi mở trường tu học. Tuy nhiên, ban đầu nhiều học tăng ái ngại nơi tha ma mộ địa, sau lại xảy ra pháp nạn.
Việc mở trường này dời đến ngày 4/2/1964 với cuộc họp của Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự và Phật học tại chùa Ấn Quang. Trong buổi họp có sự tham dự của Thượng tọa Thích Trí Tịnh, Thượng tọa Thích Thiện Hòa, Đại đức Thiên An, Đại đức Trí Không, Thượng tọa Thích Thanh Từ, cùng với rất nhiều Quý ni sư Quản trị chùa Từ Nghiêm và Dược Sư, sau cùng thống nhất lấy An Dưỡng Đại làm trụ sở mở trường trung đẳng Phật học với tên Trung đẳng Phật học Chuyên khoa. Trong việc hình thành học viên, vai trò của Hòa thượng Thiện Hoa và Thiện Hòa rất lớn. Sau được tiếp nối chung sức bởi thế hệ đệ gồm Hòa thượng Thanh Từ, Bửu Huệ, Thiền Tâm[29]. Cuộc thi tuyển đầu tiên của Trung đẳng Phật học Chuyên khoa tổ chức ngày 20/3/1964. Đợt này có 38 tăng sinh trúng tuyển (đợt này Trần Minh Ngọc pháp danh Pháp Chiếu đỗ đầu với 104 điểm), thêm 5 vị bán chính thức. Việc này cho ta thấy, giáo dục Phật giáo bấy giờ dần trở nên chặt chẽ, có quy cũ thống nhất cùng bài bản nội dung chuẩn hóa. Ngoài ra, giữa các bậc học liên thông với nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho tăng sĩ tu học. Ví dụ như lớp Trung đẳng chuyên khoa I (1964-1966) sau khi tốt nghiệp được dự tuyển vào Viện Đại học Vạn Hạnh (đợt này có khoảng 18 vị trúng tuyển).
Sau khi thành lập Trung đẳng Phật học Chuyên khoa, nhu cầu tu học ngày càng lớn, khiến các bậc tôn túc bấy giờ muốn nâng cấp trường, mở rộng tuyển sinh. Nên cuộc họp ngày 24/4/1965 của Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự và Ban giám đốc của Phật học đường hợp tại chùa Ấn Quang do Thượng tọa Thích Trí Tịnh chủ trì, đi đến thống nhất thành lập Phật học viện Huệ Nghiêm. Trường thi tuyển ngày 1/6/1965 tại An Dưỡng Địa (trúng tuyển 151 vị trên 281 tăng sinh đăng ký dự thi), chia thành các lớp: Sơ trung II chúng Vô Trước, Thế Thân; Sơ trung III chúng Long Thọ; Cao trung I chúng Vạn Hạnh; Cao trung II chúng Huyền Trang. Ngoài ra còn có lớp dự thính đặc biệt. Hai năm sau, tổng số học tăng vào khoảng 380 vị phân thành 8 chúng (bổ sung thêm chúng Hư Vân, Liễu Quán, Nguyên Thiều). Trường không ngừng mở rộng cở sở vật chất, xây tăng xá, trai đường, nhà trù, nhà xe, lập ban y tá chăm lo sức khỏe học tăng. Sinh hoạt của học tăng có nền nếp[30], không nhận đám cầu an cầu siêu, có chăng chỉ tham gia các lớp ngoại điển (ví dụ lớp sơ trung có đi học tại trường Bồ Đề Nguyễn Văn Khuê ở chờ Cầu Muối). Qua sự thành lập Phật học viện Huệ Nghiêm, chúng ta thấy giáo dục Phật giáo bấy giờ ngày càng mở rộng, đóng góp đào tạo tăng tài đáp ứng nhu cầu phổ hóa khắp các địa phương Nam Việt. Cùng với sự mở rộng về quy mô tổ chức, thì hệ thống giáo dục cũng được kiện toàn bộ máy tổ chức (từ giảng dạy, tu học, thi cử, sinh hoạt của tăng chúng). Về tổ chức, Phật học viện Huệ Nghiêm bao gồm Ban cố vấn, Ban giám đốc, Ban giáo sư. Trong đó, Ban giáo sư chia thành hai nhóm: đặc trách nội điển (chuyên giảng dạy kinh luật luận), đặc trách ngoại điển (giảng dạy văn hóa phổ thông). Về nhân sự, đa phần xuất phát từ chư vị đã tốt nghiệp Phật học đường Nam Việt hoặc các vị vừa tốt nghiệp Phật học viện Huệ Nghiêm được giữ lại.
Chưa dừng lại ở đó, nhằm triển khai nghị quyết của Đại hội Văn hóa Giáo dục nhóm họp tại Đà Lạt vào ba ngày 17-18-19/7/1970, Đại hội quyết định thành lập Viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm. Bấy giờ cơ sở đào tạo này chính thức trở thành nơi đào tạo trình độ đại học Phật giáo (với tổ chức bao gồm Ban quản trị, Ban giáo sư, Ban chấp hành). Mục tiêu hướng đến đào tạo tăng tài đáp ứng trình độ trong nước lẫn quốc tế, giúp người học vừa có kiến thức Phật pháp uyên thâm vừa uyên bác kiến thức văn hóa ngôn ngữ ngoại quốc và các trào lưu tư tưởng thế giới do đó tham gia giảng dạy có một số giáo sư ngoại quốc như Coonn Hichky, Charl Clark, …). Rõ ràng, giáo dục Phật giáo được nâng lên tầm cao mới, đưa người tăng sinh không chỉ trở thành bậc chân tu mà còn là bậc trí thức thời đại. Từ Phật học đường Lưỡng Xuyên, Báo Quốc, Quán Sứ cho tới Viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm, giáo dục Phật học Việt Nam có bước tiến dài trên quá trình chấn hưng Phật giáo về phương diện giáo dục.
(d) Từ 1975 đến nay
Đáng lẽ phải trình bày trọn vẹn dòng chảy lịch sử phát triển giáo dục Phật giáo, thế nhưng tiểu mục này chúng tôi sẽ tiếp tục ở mục sau, với mục đích phân tích thực trạng giáo dục Phật giáo đương thời và mạn phép chia sẻ vài tâm tư về đường giáo dục Phật giáo hôm nay.
Chú thích:
[1] Thích Trí Chơn (dịch, 1972), “Sự phục hưng Phật giáo ở Tích Lan”, Từ Quang Phật học, số 234, tr.29 (29-34).
[2] Thích Trí Chơn (dịch, 1972), “Sự phục hưng Phật giáo ở Tích Lan”, Từ Quang Phật học, số 235, tr.32 (29-34).
[3] Lê Tâm Đắc (2012), Phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc Việt Nam (1924 – 1954), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.12.
[4] Stephen Prothero (1996), “Henry Steel Olcott and the Sinhalese Buddhist revival”, in The White Buddhist: The Asian odyssey of Henry Steel Olcott, Indiana University Press, pp. 13-19.
[5] Xem thêm:
– Gauri Viswanathan, Outside the Fold: Conversion, Modernity and Belief (Princeton UP, 1998).
– Mandakini Dubey’s Esotericism and Orientalism: NineteenthCentury Narrative Initiations (Duke UP, 2003).
[6] Tâm Đức (2010), Như áng mây bay – Cuộc đời của Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Thất chúng môn đồ ấn hành tại Mĩ, tr.136.
[7] Tỳ khưu Hộ Tông (2518/1974), Phật giáo (Chính lời Phật thuyết), Nhà in Hạnh Phúc, Saigon, tr. 4.
[8] Phục Bộ (1927), Thư góp ý về chấn hưng Phật giáo (Đông Pháp số 324 ngày 17/2/1927), trong tài liệu của Nguyễn Đại Đồng và Nguyễn Thị Minh (Sưu tầm và biên soạn, 2008), Phong trào chấn hưng Phật giáo (Tư liệu báo chí Việt Nam  từ 1927-1938), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.46
[9] Chẳng hạn bài của:
Thanh Tâm cư sĩ (1937). Thanh niên đối với Phật giáo nước nhà. Tập chí Duy Tâm Phật học năm thứ III số 23 (1/8/1937). Lưỡng Xuyên Phật học hội. Travinh, tr.606-608.
[10] Như lời sư Tâm Ứng còn để  lại: “Nhân ngày nay từ trong Nam Kỳ có sự cụ Thiện Chiếu (Linh Sơn tự) và sư cụ Thiện Tòng (Trường Thạnh tự) khởi xướng ra mà sư ông chùa Hang tôi ứng, cái chương trình những công việc định làm để chấn hưng Phật giáo ấy. Các bậc huynh trưởng chúng tôi và đồng bối chúng tôi thực lấy làm hoan nghênh lắm. Song ngày nay hạ thủ chưa biết làm việc gì đầu, cho nên xin hãy tạm góp vài lời vào dư luận để trong thuyền gia và ngoài các ngài hữu tâm bàn giúp vào nữa tính việc thi hành sao cho được ổn kiện”. Tâm Ứng (1927), Chấn hưng Phật giáo (Đông Pháp số 320 ra ngày 8.2.1927), trong tài liệu của Nguyễn Đại Đồng và Nguyễn Thị Minh (Sưu tầm và biên soạn, 2008), Phong trào chấn hưng Phật giáo (Tư liệu báo chí Việt Nam  từ 1927-1938), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.46. Rõ ràng, các nhà sư miền Bắc rất vui mừng hưởng ứng chấn hưng, nhưng để bắt tay vào cuộc chấn hưng vẫn thực chưa rõ ràng công việc trước sau. Trong khi đó ở Nam kỳ, giáo dục, học đường, báo quán, Phật hội đã thực sự sôi nổi lắm.
[11] Có thể thấy, các nhà sư Nam kỳ tập trung ở giáo dục, học thuật, báo chí để làm cuộc chấn hưng; trong khi các nhà sư miền Bắc thiên về việc thành lập giáo hội để làm cuộc chấn hưng. Do đó, hai đường hướng này bổ sung cho nhau, để kiện toàn cuộc vận động chấn hưng, mà ích lợi của nó còn để lại lâu dài, cho hàng hậu bối tiếp bước kiến tạo tương lai đạo Phật trên mảnh đất Việt Nam.
[12] Tỉ khiêu tự Lai (1927), Phật giáo có nên chấn hưng không (Đông Pháp số 318 ra ngày 3.2.1927), trong tài liệu của Nguyễn Đại Đồng và Nguyễn Thị Minh (Sưu tầm và biên soạn, 2008), Phong trào chấn hưng Phật giáo (Tư liệu báo chí Việt Nam  từ 1927-1938), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.41.
[13] Hội Phật học Việt Nam (1952), “Lời nói đầu”, Nguyệt san Viên Âm, số 112, tr. 3.
[14] Hội Phật giáo Trung Quốc (1936), Tiếng Chuông sớm, số 15, tr. 6-8.
[15] Theo lời kể của Ni sư Như Đức (Ni trường Dược Sư), thời mới tu học, sư phụ ở chùa và chúng đệ tử cùng làm ruộng cấy lúa, để có cơm gạo hằng ngày và cứu giúp bá tánh cơ nhỡ khi cần. Ni sư cũng thuật lại cuộc sống đạm bạc thời sơ học, hái rau, làm chao, xin vải vụn mai y phục, … Thật khiến hậu bối cảm phục và trân quý.
[16] Hội Phật học Việt Nam (1952), “Thái Hư Đại sư”, Nguyệt san Viên Âm, số 112, tr. 4-8.
[17] Lê Tâm Đắc (2012), Phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc Việt Nam (1924 – 1954), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.27.
[18] Thanh Tâm cư sĩ (1936). Phật giáo để nung đúc tinh thần dõng mãnh cho quấc dân. Tập chí Duy Tâm Phật học năm thứ II số 7 (1/4/1936). Lưỡng Xuyên Phật học hội. Travinh. tr.369-373.
[19] “Riêng VN, ảnh hưởng ấy rất lớn. Pháp sư Trí Độ, cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, có thể là học trò bằng sách của ngài. Ngay cả ngài Phước Huệ chùa Thập Tháp, Bình Định, người dẫn đầu nghĩa học PG VN, cũng tiếp nhận Thái Hư Đại sư không ít”. Nguồn: Thích Trí Quang (1962), Tâm ảnh lục, tập 1, Tổng hội Tăng già Trung Phần xuất bản, Huế, tr.256.
[20] Xem:
Nguyễn Đại Đồng (2009), Thiện Chiếu – Nhà cải cách Phật giáo Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 3, tr.25-29.
Thích Gia Quang. (2003). Thiền sư Thiện Chiếu – Một nhà sư cách mạng. Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 3/2003, tr.35-40.
[21] Thiện Chiếu (1927), Cái vấn đề chấn hưng Phật giáo ở nước nhà (Đông Pháp thời báo số 532 ngày 14.1.1927), trong tài liệu của Nguyễn Đại Đồng và Nguyễn Thị Minh (Sưu tầm và biên soạn, 2008), Phong trào chấn hưng Phật giáo (Tư liệu báo chí Việt Nam  từ 1927-1938), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.16.
[22] Thiện Chiếu (1927), Cái vấn đề chấn hưng Phật giáo ở nước nhà (Đông Pháp thời báo số 532 ngày 14.1.1927), trong tài liệu của Nguyễn Đại Đồng và Nguyễn Thị Minh (Sưu tầm và biên soạn, 2008), Phong trào chấn hưng Phật giáo (Tư liệu báo chí Việt Nam  từ 1927-1938), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.16-17.
[23] Tâm Nhạ (1927), Chấn hưng Phật giáo (Khai hóa nhật báo số 1733 ra ngày6/8/1927), trong tài liệu của Nguyễn Đại Đồng và Nguyễn Thị Minh (Sưu tầm và biên soạn, 2008), Phong trào chấn hưng Phật giáo (Tư liệu báo chí Việt Nam  từ 1927-1938), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.163.
[24] Hòa thượng Khánh Hòa (1929). Mầy lời bày tỏ. Tạp chí Pháp Âm số 1. (chùa Sắc Tứ ở Xoài Hột, Mytho). tr.3-4 (2-4).
[25] Ban sáng lập (1934), Điều lệ Lưỡng Xuyên Phật học hội, đăng lại trên Nguyệt san Phật học Viên Âm năm thứ II số 14 (tháng 3&4/1935), tr.60-64.
[26] Tuần báo này ban đầu là tập kỷ yếu hàng tháng, thành lập mục đích truyền bá những giảng giải của ban khảo cứu, nhằm làm sâu sắc thêm hiểu biết Phật lý. “Nay Hội định in mỗi tháng một tập kỷ yếu, trước là biên chép những bài của các vị sư trong ban chứng minh đạo sư cùng với cư sĩ trong ban khảo cứu đã giảng diễn, dể làm cái cơ quan chấn hưng Phật học ở nước nhà, sau là đẻ tuyên bá những công việc đang tiến hành của Hội”. Lời mở đầu, Kỷ yếu Phật giáo hội Bắc kỳ số 1 (năm 1935), Imprimerie Trung Bắc Tân Văn, Hà Nội, tr.5.
[27] Cụ thể “Báo “Đuốc Tuệ” của hội ta ấn hành là cốt diễn dịch những kinh sách nhà Phật để cho hội viên trong hội cùng hiểu thấu giáo lý mà tu hành”. Nguồn Ban trị sự (1935). “Kính trình các giáo hữu hội viên Hội Phật giáo”. Tuần báo Đuốc Tuệ ra ngày thứ ba năm thứ I số 2 (17/12/1935). Phật giáo hội. Hanoi. tr.2.
[28] Ban trị sự (1938). Phật học tổng hội (Bức thơ công khai gởi cho các Hội Phật học miền trong Nam kỳ và Cao Miên). Tập chí Duy Tâm Phật học năm thứ IV số 28 (tháng 1&2/1938). Lưỡng Xuyên Phật học hội. Travinh, tr.153-155.
[29] Sau khi thành lập Trung Đẳng Phật học Chuyên khoa, Hòa thượng Thiện Hoa và Thiện Hòa đã ủy thác cho Hòa thượng Thanh Từ đi xuống Nam Tuyền tịnh thất ở Tân Hương để tìm Hòa thượng Bửu Huệ, xuống Chợ Gạo để tìm Hòa thượng Thiền Tâm, cùng hợp tác điều hành Trung đẳng Phật học Chuyên khoa. (Nguyên do chuyên đi của Hòa thượng Thanh Từ, bởi hồi tốt nghiệp cao đẳng ở Phật học đường Nam Việt, Hòa thượng Bửu Huệ đã xin về quê ở Tân Hương tịnh tu mười năm. Đến 1964, coi như đúng hẹn 10 năm, thế nên Hòa thượng Bửu Huệ cùng Hòa thượng Thiền Lâm cùng Hòa thượng Thanh Từ phát nguyện làm Phật sự trong ba năm, điều hành Trung đẳng Phật học Chuyên khoa.
[30] Ban giám đốc khi ấy quản rất nghiêm. Có học tăng kể lại, tăng chúng vẫn truyền tai nhau Thầy Bửu Huệ là Ông Thiện, Thầy Thanh Từ là Ông Ác, còn Thầy Thiền Tâm thì Vô Ký. Bởi Thầy Bửu Huệ thường ôn hòa, thầy Thanh Từ thì rất nghiêm khắc, còn thầy Thiền Tâm thường giữ thái độ trung dung.
Thông qua giáo dục, Phật giáo ngày càng gắn chặt đạo Phật vào văn hóa dân tộc và lợi ích quốc dân, góp phần canh tân phát triển đất nước, nâng cao dân trí và đạo đức lối sống. Thông qua nhập thế, người tăng sĩ thể hiện sâu sắc ý thức trách nhiệm với cộng động, nối liền nẻo đời và nẻo đạo. Mối quan hệ càng khiến cho đạo Phật phổ truyền rộng rãi hơn trong đời sống con người, chiếm lĩnh vị trí quan trọng nhiều hơn nữa trên tiến trình vận động phát triển của đất nước…
2. Tinh thần dấn thân nhập thế như là vấn đề giáo dục: nhìn lại và hướng tới
Phải nói ngay từ đầu, nhập thế hay xuất thế là cái nhìn dưới góc độ xã hội của người đời, nếu nhìn dưới góc độ người tu hành, thì chẳng có nhập thế hay xuất thế gì cả. Chỉ có tu hành và hoằng pháp. Ý này, Hòa thượng Thích Huệ Thông đã bàn đến[1]. Sở dĩ phải nhắc lại, để thống nhất quan niệm, tránh những lầm tưởng đáng tiếc. Từ đây, ta nên hiểu dấn thân nhập thế cũng là tu hành và hoằng pháp. Có chăng tùy thời đại và bối cảnh đời sống, việc tu hành và hoằng pháp của giới tu sĩ hẳn có khác nhau. Tựu trung, đều hướng đến chúng sinh và xiển dương giáo pháp Phật đà.
Dưới góc nhìn này, ta liền thấy chấn hưng Phật giáo có thể xem như nhập thế, chấn hưng để giáo hóa tư tưởng xã hội, chấn hưng là tham gia tích cực hơn vào đời sống con người, mang lại sức sống mới cho đạo Phật. Có ai còn nhớ câu đối của Sư Thiện Chiếu ở chùa Linh Sơn năm nào: “Phật pháp thị nhập thế nhi phi yếm thế / Từ bi nãi sát sinh dĩ độ chúng sinh”[2], thể hiện tấm lòng cứu độ chúng sinh của giới thiền môn đầu thế kỷ XX, đồng thời với nỗi canh cánh chấn hưng đạo Phật năm nào. Ở chỗ này ta nhận ra nét tương đồng của công cuộc chấn hưng đạo Phật thống nhất với công cuộc vận động canh tân đất nước của nhiều chí sĩ Minh tân đầu thế kỷ XX (ví dụ như Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Háo Vĩnh, Nguyễn Thần Hiến, Nguyễn An Khương, Nguyễn Anh Ninh). Chưa thể bàn đến mối liên hệ giữa tăng sĩ Phật giáo và chí sĩ Minh tân, nhưng ta có thể thấy mối quan tâm của họ gặp nhau ở chỗ cứu độ chúng sinh/mang lại đời sống tự do độc lập thịnh vượng cho dân tộc và nước nhà. Với tinh thần đó, chấn hưng Phật giáo như một hoạt động nhập thế triệt để. Sư Thiện Chiếu có ý rằng: “Hoặc giả lo rằng nếu nhất đán Phật giáo chấn hưng được rồi, quốc dân đều tín ngưỡng mà chan chứa tấm lòng từ bi bác ái, thì chi khỏi nhụt mất cái nhuệ khí cạnh tranh, mà thành ra khó sinh tồn được trong buổi đời ưu thắng liệt bại. Ta chỉ lo cho quốc dân ta không giàu tấm lòng bác ái từ bi, nên mới hằng thấy cái thảm (nồi da xáo thịt). Nếu quốc dân ta qua được giàu lòng bác ái thời không vì lợi nhỏ mà tương tàn không vì hiềm riêng mà chia rẽ. / Bâng khuâng tấc dạ trung thành đối với quê cha đất tổ không bao giờ lãng xao đi được. Bao giờ cũng tận tâm kiệt lực lo cho tiền đồ nòi giống ta có một ngày vẻ vang cùng thế giới”[3]. Tinh thần chấn hưng như vậy, thể hiện thái độ nhập thế triệt để, quả thực có khác gì nhuệ khí và niềm ưu tư của Nguyễn Háo Vĩnh thuở nào.
Nhập thế kỳ thực là cách thế tu hành và hoằng pháp. Dấn thân vào các vận hội lịch sử. Người tu sĩ và tình hình thế giới biến động, nhân loại đảo điên trong lầm than; đây chính bối cảnh cho người tu sĩ dấn thân, cũng là điều kiện cho người tu sĩ trui rèn nhận thức giáo pháp. Nhìn lại những gì Phật giáo Việt Nam làm được trong quá khứ là điều cần thiết. Bởi nhìn lại cũng là hướng tới. Từ hơn nửa thế kỷ trước, Phật giáo Việt Nam đã nhận thấy và tự đặt ra cho mình trách nhiệm trọng đại đối với hòa bình cho quê hương và thế giới. “Tôn giáo phải là con đường giải thoát cho Việt Nam và Thế giới. Thật là một vấn đề vừa quá trọng đại vừa quá khẩn thiết, nhất là trong bối cảnh chiến tranh của nước Việt Nam chúng ta trên ngót 25 năm và sự khủng hoảng giá trị tinh thần mà thế giới hiện tại đang phải trải qua. Nói đến Việt Nam hiện tại là nói đến chiến tranh, nói đến sự phân hóa cực điểm và nói đến sự trụy lạc về văn hóa và phẩm giá con người. Và nếu Tôn giáo phải là con đường giải thoát cho Việt Nam, tôn giáo ấy phải đem lại hòa bình cho Việt Nam, diệt trừ nạn phân hóa trầm trọng và xây dựng lại nền văn hóa dân tộc cho nước Việt Nam chúng ta”[4]. Những ưu tư này cho đến nay đã trở thành sự thật, bởi Phật giáo Việt Nam đã đồng hành cùng quê hương vượt qua chiến tranh, đem lại hòa bình cho người dân Việt và khắp cả chúng sinh. Tinh thần nhập thế vì hòa bình thế giới của Phật giáo vẫn được tiếp tục phát huy và sáng tạo trong tình hình mới. Cùng với sự phát triển của đời sống vật chất trong xã hội tiêu thụ, Phật giáo ngày càng chứng tỏ vai trò, trách nhiệm đối với đại chúng, giáo hóa và giữ gìn đạo đức nhân sinh, ngày càng có nhiều hoạt động đến gần hơn với thực tiễn đời sống con người.
Chấn hưng Phật giáo cùng với dấn thân nhập thế vì lợi ích chúng sinh, dựa trên nền tảng dân tộc. Ý thức dân tộc thể hiện rõ nét trong quá trình phát triển giáo dục giữ gìn bản sắc văn hóa Việt. Thậm chí, bản sắc dân tộc còn là yếu chỉ, lấy đó làm nguyên do, cũng là kim chỉ nam cho việc xây dựng chương trình đào tạo nói chung. Sư Thiện Tòng ở chùa Trường Thạnh (Sài Gòn), còn lưu lại vài dòng trên Đông Pháp thời báo: “Tôi thiết tưởng ai cũng là nòi Hồng Lạc, ai cũng là giống Rồng Tiên vì sao mà chia rẽ cái nhân tâm, không đặng hiệp quần cho nhất đẳng, tại sao vậy? Bởi mỗi người mình theo mỗi tôn giáo riêng, thờ mỗi chủ nghĩa khác nhua, cho nên người đồng loạt lúc đối phó cùng nhau, coi tựa hồ như người dị loại pha lẫn, coi mường tượng như kẻ khác giống lộn vào, toan kiếm điều khích bác cùng nhau rồi tế ra nồi da xáo thịt”[5]. Nhận thức được vấn đề này, Phật giáo bằng phương tiện giáo dục, đã tuyên bá rộng rãi nhất là trong giới thanh niên, tinh thần nhập thế cứu đời và trách nhiệm với quốc dân đồng bào[6]. Giáo dục như là nhập thế, nhập thế bằng con đường giáo dục, tựu trung vì ích lợi của dân tộc và đất nước. Khía cạnh này càng thể hiện vai trò quan trọng của Phật giáo trong việc giáo dục tinh thần nhập thế và ý thức trách nhiệm của thanh niên mọi thời. Cho đến nay, vai trò này của đạo Phật vẫn còn nguyên vẹn. Thậm chí hoạt động giáo dục đào tạo của đạo Phật mang ý hướng nhập thế có thể tích hợp với chương trình đào tạo hiện nay của hệ thống giáo dục quốc dân (ở những tiết học tích hợp).
Nhập thế trên phương diện giáo dục, người tu sĩ không làm ngơ trước vấn nạn chiến tranh hơn nửa thế kỷ trước trên mảnh đất quê hương, phóng tầm nhìn xa hơn ra thế giới, càng không thể làm ngơ trước thảm trạng xã hội bom đạn và vô minh dày xéo cõi người. Hay nói khác đi, nhập thế trước tiên là giáo hóa. Bản thân người tu sĩ phải được giáo hóa và sau nữa là phổ hóa chúng sinh để giải trừ nghiệp lực của thế gian. Việc này trở thành trách nhiệm của hàng tu sĩ, không riêng gì Phật giáo hay tôn giáo nào khác. Thế nhưng, với con đường tu học hướng đến chánh niệm chánh giác, Phật giáo có căn bản và phương tiện ưu việt hơn cả để thức tỉnh con người, giúp loài người nhận diện bản thân và nhận diện cuộc sống đang diễn ra. Căn bản của hoằng pháp do đó, chính là giáo dục. Trên phương diện này, bằng hoạt động dấn thân nhập thế, người tu sĩ vừa là cánh chim gieo hạt hòa bình, vừa là nhà giáo dục mang lại tuệ giác cho chúng sinh.
Với người tu sĩ, việc học tập không chỉ gói gọn trong nội điển mà còn mở rộng kiến thức ngoại điển. Việc này từ những năm 1950, 1960 của thế kỷ trước chư vị cao tăng như Thích Thiện Hoa, Thích Thiện Hòa, Thích Trí Tịnh, sau có Thích Bửu Huệ, Thích Thanh Từ, Thích Thiền Tâm, … đã bàn đến và thực hiện, đạt nhiều kết quả đáng kể trong giáo dục tăng tài. Chủ trương sáng suốt và công lao to lớn của chư vị đến nay còn soi tỏ khắp chốn Phật đường. Ngày nay việc giáo dục nội điển và ngoại điển còn hướng đến mức độ học thuật (như là hoạt động nghiên cứu khoa học) cũng như gắn kết với xu hướng toàn cầu hóa. Như đã nói, Phật giáo không thể tách rời khỏi vận hội của đời sống con người. Với xu hướng toàn cầu hóa, các tổ chức tôn giáo quốc gia, xuyên quốc gia, tầm cỡ quốc tế, ngày càng trở nên phổ biến. Phật giáo Việt Nam trong những năm gần đây đã tổ chức và hòa nhập tích cực với các hoạt động nhập thế về phương diện giáo dục với Phật giáo khu vực và quốc tế. Mà minh chứng dễ thấy nhất chính là ngày càng nhiều vị cao tăng du học có trình độ chuyên môn cao, có học hàm học vị về lĩnh vực nghiên cứu khoa học, có khả năng gắn kết với Phật giáo quốc tế trong các hoạt động xã hội dân sinh cũng như giáo dục và nghiên cứu khoa học. Cụ thể hơn, ta có thể nhắc lại lời Hòa thượng Thích Huệ Thông với những ghi nhận chi tiết về hoạt động nhập thế của Phật giáo nước nhà. “Bước vào thời hiện đại, trước những vấn nạn trầm kha của xã hội về môi trường sinh thái, bệnh dịch, mại dâm, khủng bố và chiến tranh, tinh thần tích cực của Phật giáo luôn trải rộng trên các phương diện xã hội, góp phần giảm bớt khổ đau và khủng hoảng trong đời sống. Về vấn đề môi trường, Phật giáo luôn khuyến khích mọi người tôn trọng mạng sống muôn loài, đồng thời tham gia trồng cây gây rừng và bảo vệ nguồn nước không bị ô nhiễm. Về bệnh dịch HIV/AIDS, Phật giáo đã cùng các đoàn thể xã hội tích cực tuyên truyền về cuộc sống lành mạnh, ngăn ngừa nhằm giảm đi cường độ lây lan của căn bệnh thế kỷ. Về giáo dục, Phật giáo chủ động tổ chức các lớp đào tạo chuyên ngành giáo dục sư phạm mầm non, tạo điều kiện cho nữ cư sĩ Phật tử phụng sự xã hội trên phương diện nuôi dạy trẻ. Về vấn nạn bạo hành gia đình, Phật giáo đã không ngừng chuyển hóa bằng cách hướng dẫn quần chúng Phật tử sống tôn trọng, thông cảm và có trách nhiệm với nhau theo những điều Đức Phật đã dạy. Về vấn đề chiến tranh, bạo động và khủng bố, Phật giáo luôn khuyến khích quần chúng thể hiện lòng từ bi, sống trong tỉnh thức và chánh niệm vì một đời sống hòa bình, hạnh phúc và an lạc… Thời gian qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã phối hợp Ủy ban An toàn giao thông quốc gia tổ chức lễ cầu siêu cho các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông, nhằm chia sẻ đau thương. Các vị giáo phẩm cũng tham gia Quốc hội để đóng góp ý kiến xây dựng cơ chế và chủ trương chính sách phù hợp với thực tế xã hội, đáp ứng nguyện vọng cử tri, nhằm xây dựng xã hội tốt đẹp hơn”[7]. Đạo và đời không tách biệt, thậm chí nẻo đạo cũng vì cứu đời mà thành ra nẻo đạo. Muốn cứu đời, người tăng sĩ cần chuẩn bị kiến thức vững vàng về Phật pháp lẫn kiến thức cập nhật thực tiễn, nhất là đời sống thông tin quảng bác hiện nay, nhất là tốc độ phát triển khoa học kỹ nghệ như hiện nay. Tựu trung, nhập thế không thể tách rời khỏi giáo dục. Giáo dục vừa là đường hướng vừa là phương tiện nhập thế.
Cho tới hôm nay, Phật giáo Việt Nam cũng như Phật giáo thế giới trở thành một bộ phận của sinh hoạt xã hội. Do đó tinh thần nhập thế càng được đề cao hơn nữa. Cụ thể, trong thông diệp của Đại lễ Vesak Liên hợp quốc năm 2019 kêu gọi Phật giáo thế giới đoàn kết và dấn thân nhập thế nhiều hơn nữa. Phật giáo có trách nhiệm tham gia tích cực triệt để hơn cùng nhân loại đối diện và đề xuất giải pháp thiết thực cho các vấn đề toàn cầu (một trong số đó có vấn đề phản đối chiến tranh, kêu gọi chống biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường toàn cầu, các hoạt động cứu trợ nhân đạo, thiện nguyện, giáo dục trẻ em và phụ nữ), cùng hướng tới thế giới hòa bình, an lạc, thịnh vượng và bền vững. Trong đó, thông qua giáo dục và hoằng pháp, Phật giáo Việt Nam cũng như Phật giáo thế giới càng nhận thấy ảnh hưởng to lớn của giáo dục trong các hoạt động dấn thân nhập thế. Giáo dục có khả năng tác động đến việc bảo đảm sự bình đẳng, tôn trọng khác biệt văn hóa tôn giáo tín ngưỡng, khắc phục xung đột niềm tin, bảo vệ môi trường sống, … Đặc biệt hơn, Phật giáo thế giới như đánh giá của liên hợp quốc, có vai trò to lớn trong việc sử dụng giáo dục Phật giáo để góp phần vào hoạt động giáo dục đạo đức toàn cầu.
Ở Việt Nam càng rõ ràng hơn, bởi chúng ta nhận thấy vai trò quan trọng của đạo Phật trong việc giữ gìn đạo đức lối sống con người hiện đại. Trước sức ảnh hưởng của nhiều luồng văn hóa mới, con người dễ lầm lạc khiến suy đồi đạo đức hành vi. Bằng khả năng và phương tiện thiện xảo, đạo Phật có thể góp phần giữ gìn đạo đức con người bằng hoạt động giáo dục. Huống hồ, Phật giáo Việt Nam đã có lịch sử du nhập và phát triển lâu đời trên mảnh đất Việt Nam, có chỗ đứng vững vàng trong nền văn hóa dân tộc bao đời nay, sẵn có sức ảnh hưởng sâu sắc đến tâm thức người Việt; thế nên việc xây dựng hoạt động giáo dục Phật giáo tích hợp với hệ thống giáo dục dân sinh hoàn toàn khả thi và hứa hẹn mang lại ích lợi to lớn cho đời sống đại chúng hôm nay.
3. Hoạt động đào tạo tăng tài đương thời – thách thức và triển vọng
Cuộc vận động chấn hứng Phật giáo hơn một thế kỷ trước diễn ra ở Nam kỳ gắn liền với hoạt động đào tạo tăng tài. Bởi yếu tố con người là hạt nhân cốt cõi cho việc chấn hưng, gây dựng lại sức sống mới cho đạo Phật. Do đó, chư vị Hòa thượng hồi đầu chấn hưng Phật giáo ở Nam kỳ đã chú ý đến thành lập Phật học đường. Có thể gợi nhớ đến chư vị Hòa thương Khánh Hòa, Thiện Chiếu, Liên Trì, Thiện Niệm, Huệ Quang, Từ Nhẫn, tại Linh Sơn tự (Sài Gòn) thành lập Hội Nam kỳ Phật học. Trong việc này, chú trọng hơn cả ở ba việc, lập Phật học đường đào tạo tăng tài, phát triển cơ quan ngôn luận, nghiên cứu nâng cao Phật lý. Công lao của Hòa thượng Khánh Hòa trong việc này ở giai đoạn đầu chấn hưng và xây dựng hệ thống đào tào Phật giáo, có thể nói là rất lớn. Hòa thượng phải lao tâm khổ trí, huy động khắp nơi, chưa kể sang tận Nam Vang để tìm hiểu cách thành lập và xây dựng Phật học đường, lại còn chịu điều tiếng không hay, phải thanh minh trên tập chí Duy Tâm[8].
Tiếp nối truyền thống chấn hưng Phật giáo trên phương diện giáo dục, hoạt động đào tạo tăng tài hiện nay đã đạt được nhiều thành tựu, thế nhưng vẫn còn đó nhiều thách thức mới. Kể từ sau 1975, hoạt động đào tạo của những cơ sở đào tạo Phật giáo như Viện Đại học Vạn Hạnh không còn nữa, hay trường hợp Viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm tiếp tục các khóa cao học đến những năm 1977-1979 thì cũng kết thúc, trở lại với khóa tu nội điển thông thường (do Hòa thượng Trí Tịnh đảm nhiệm). Thế nhưng, sau khi thống nhất Phật giáo 1981, nhiều vận hội mới mở ra cho hoạt động tu tập và giáo dục đào tạo.
Trong bối cảnh văn hóa chiều hiện nay, thanh thiếu niên dễ bị ảnh hưởng dẫn đến sai lạc, có nguy cơ suy đồi nhân cách đạo đức. Ý thức trách nhiệm giáo dục song hành hoằng pháp, Phật giáo đứng trước thách thức thời đại trong việc rèn luyện xây dựng nhân cách cho thế hệ trẻ hiện nay. Cụ thể, thanh niên hiện nay thường sa vào lối sống vội, thậm chí sống bất chấp, phần nhiều vị kỷ, ưa hưởng thụ cá nhân, sống thiếu lý tưởng và nền tảng đạo đức. Giáo dục xã hội, giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình hiện nay, dường như cũng đang thiếu một lập trường đạo đức mà chúng ta có thể nhìn thấy ở đạo Phật – tức là từ bi hỷ xả. Do đó, đạo Phật có khả năng kèm theo đó là thách thức, đòi hỏi đạo Phật đưa giá trị từ bi hỷ xả vào bài học đạo đức cho lứa tuổi thanh niên, làm sao vừa thiết thực vừa thuyết phục.
Nhưng trước hết, dạo Phật làm sao phải đủ tươi mới và thu hút thanh thiếu niên và tất cả đại chúng, tránh những cảm dỗ bủa vây chung quanh. Nhứt là thời đại công nghệ thông tin, thanh thiếu niên dễ dàng tiếp cận với những luồng văn hóa ngoại lai, nguy hại. Việc này ảnh hưởng, phá hủy thế giới quan nhân sinh quan lành mạnh của thanh thiếu niên cũng như đại chúng nói chung. Phật giáo cần nhận thức nghiêm túc vấn đề này. Bởi lẽ, chẳng riêng gì đại chúng và thế hệ thanh thiếu niên, giới tăng sĩ tu học hôm nay cũng dễ dàng tiêm nhiễm những tệ lậu trên không gian thực tế ảo, phần nối dài của đời sống thực tiễn mà sinh hoạt trên không gian đó cho tới nay ngày càng phức tạp và khó kiểm soát.
Thực tiễn cho thấy, hiện nay vẫn tồn tại hai quan niệm đối với giáo dục Phật giáo. Một đằng chủ trương, người tu học chỉ nên tu trì Phật học, tránh can dự và thế sợ, nói khác là tự rào vuông bản thân trong môi trường tự viện. Một đằng chủ trương mạnh dạn cải cách, đưa giáo dục Phật giáo tiếp cận với sinh hoạt xã hội. Tuy nhiên nếu chỉ hướng nội, dễ biến việc giáo dục tu học trở thành lý thuyết suông. Huống hồ giáo dục căn bản đã là một hoạt động nhập thế (như đã nói phần trên), cho nên một khi tiếp cận hoạt động giáo dục thời không thể né tránh đối diện với thực tiễn xã hội. Ngược lại, việc hăng hái tham gia các hoạt động xã hội cũng đưa người tăng sĩ đến chỗ xa rời chánh pháp, dễ như người đi đêm, sương mỏng lâu dần cũng ướt áo.
Để hướng tới tương lai giáo dục Phật giáo, cũng như đề xuất giải pháp khả dĩ, ta cần xác định lại hình tượng con người mà giáo dục Phật giáo muốn hình thành. Hẳn nhiên, trước hết là tấm lòng tín ngưỡng đạo Phật; nhưng ngoài ra hình mẫu con người mà giáo dục Phật giáo hướng tới còn gắn liền nhu cầu thời đại, sao cho phù hợp và đáp ứng xu hướng phát triển trong tương lai. Đó là hình mẫu con người vừa có kiến thức, am hiểu về tư tưởng triết ký, lịch sử và văn học Phật giáo, mà còn trở thành người có khả năng ứng dụng kiến thức Phật lý, áp dụng thực hành tu tập cho bản thân và cộng đồng, có lý tưởng sống tích cực cống hiến cho xã hội, đồng thời không ngừng thích nghi cập nhật thực tiễn đời sống nắm bắt xu thế phát triển.
Do đó, giáo dục Phật giáo hôm nay càng muốn hướng đến tương lai, càng phải trở lại gắn kết chặt chẽ với cốt lõi Phật pháp. Trong số đó, bát chánh đạo chính là nền tảng đúng đắn, thiết thực và gần gũi nhất. Ví dụ như, chánh kiến “là sự hiểu phải, hiểu đúng đắn, theo thông thường cả bên đời và bên đạo, cả phàm pháp lẫn thánh pháp”[9]. Cho nên, chẳng riêng gì người thế tục, người tăng sĩ cũng xác định việc giáo dục trước hết là việc tìm cái hiểu đúng đắn, rộng rãi. Không phân biệt cái hiểu của nẻo đời hay nẻo đạo. Nhất là hiện nay, người tăng sĩ dễ sa ngã bởi những cám dỗ của đời sống thế tục nên càng phải được trang bị những kiến thức giáo dục về đời sống xã hội nhiều hơn nữa, gần gũi hơn nữa. Đó là tạo ra sức đề kháng cho người tăng sĩ trước sức xô đẩy của đời sống xã hội hôm nay. Chánh kiến giúp cho người thế tục cũng như hàng tăng sĩ lúc nào cũng giữ được trạng thái tỉnh thức, không bị đảo điên trong tà kiến. Thế nhưng, việc mở rộng phạm vi giáo dục như vậy cũng ẩn tàng nguy cơ lung lay tâm trí. Do đó, vai trò của người đạo sư càng quan trọng hơn. Lấy người tu học làm trung tâm, nhưng không vì vậy mà hạ thấp vai trò của người giảng dạy. Chánh tư duy “là suy nghĩ phải, chỉ về suy ngĩ trong việc tìm phương pháp để ra khỏi ngũ dục, suy ngĩ trong việc không thù oán chúng sanh; suy nghĩ trong việc không làm khổ chúng sanh cho thân tâm được giải thoát khỏi các sự thống khổ”[10]. Tựu trung, chánh tư duy là sự băn khoăn suy nghĩ đưa tới tìm ra phương pháp thoát khỏi thống khổ, giúp giải thoát con người khỏi thống khổ. Điều này cũng là lời nhắc nhở chúng ta trong việc truy vấn và phản vấn trong tiến trình dạy học. Mối quan hệ trực tiếp giữa người dạy và người học biểu hiện dễ thấy nhất là hành vi hỏi và trả lời. Thế nên, người học cần được điều chỉnh và định hướng đến với những phát vấn đúng đắn; phát vấn đúng đắn đưa tới suy nghĩ đúng đắn. Việc này khiến ta nghĩ tới cần xây dựng phương pháo giáo dục phù hợp, làm sao vừa đảm bảo ứng dụng các phương pháp dạy học hiện đại vừa đảm bảo người học không bị trì kéo vào những suy tư có hại. Chánh ngữ “là không nói 4 lời dữ (nói dối, nói lời chia rẻ, mắng chưởi, nói lời vô ích)”. Ngôn ngữ là phương tiện tư duy, cho nên chánh ngữ kỳ thực là phương pháp giữ gìn cho thân khẩu ý chánh tư duy, không sa vào suy tưởng hàm hồ vô ích nguy hại.
Dựa trên bài học lịch sử của quá trình chấn hưng và dấn thân nhập thế của Phật giáo Việt Nam hiện đại, có lẽ chúng ta có thể rút ra bài học giáo dục cho sự nghiệp giáo dục Phật giáo hôm nay. Đó là tinh thần tiến bộ, mạnh dạn đổi mới và vận động liên tục với thời đại. Ngoài ra, trên quá trình phát triển, không ngừng trau dồi bảo toàn chánh pháp, gắn bó máu thịt với đời sống dân gian và văn hóa dân tộc. Việc này mang lại sinh khí luôn tươi mới hiện đại và sức sống bền bỉ cho đạo Phật, trải qua nhiều thời kỳ.
Kết luận:
Khởi đầu làm cuộc chấn hưng, Phật giáo Việt Nam nhận thức rõ ràng vấn đề con người là mối quan tâm hàng đầu. Dầu cuộc chấn hứng trải khắp ba miền nước Việt, nhưng mỗi nơi có đường hướng khác nhau. Nam kỳ thiên về đường giáo dục, Trung kỳ thiên về đường kiện toàn tổ chức tăng đoàn chỉnh lý giới luật, Bắc kỳ thiên về đường nghiên cứu dịch thuật chỉnh lý kinh điển. Có thể nói, ba phương diện này cùng góp phần làm cho cuộc chấn hưng Phật giáo nước nhà trở nên hoàn thiện hơn. Ba đường hướng chẳng mâu thuẫn mà ngược lại bổ sung cho sau. Kể từ thời kỳ đầu xây dựng cuộc chấn hưng, trải qua vài thập kỷ đã gặt hái không ít thành tựu. Kéo theo đó, Phật giáo Việt Nam đứng trước yêu cầu hợp nhất tăng đoàn, nhằm tạo sức mạnh tổng lực thúc đấy cuộc chấn hưng. Để thực hiện ý hướng này, giáo dục phải là ưu tiên hàng đầu. Bởi lẽ, giáo dục đáp ứng yêu cầu nhân lực cho cuộc chấn hưng. Đào tạo tăng tài mang lại nội lực cần thiết, thi triển ra các phương diện khác của cuộc chấn hưng: dịch thuật, nghiên cứu, ngôn luận, tuyên truyền, hoạt động cộng đồng, … Vấn đề giáo dục và đạo tạo cũng đóng vai trò cầu nối giữa Phật giáo Việt Nam và Phật giáo quốc tế trong thời đại toàn cầu hóa.
Trải dài hơn một thế kỷ, giáo dục Phật giáo Việt Nam dần hình thành và phát triển. buổi đầu vận động nhiều gian khó của nhiều bậc cao tăng đến này còn là tấm gương sáng cho hậu thế. Cho đến khi trái ngọt cây lành trổ ra xanh mát, giáo dục tăng tài đi từ chỗ kiện toàn bộ máy tổ chức cho tới kiện toàn chương trình và nội dung đào tạo. Dần dà phát triển các bậc học, hướng tới đào tạo hình mẫu con người vừa ở vị thế người tăng sĩ giữ gìn chánh pháp lẫn vị thế người trí thức của thời đại mới ý thức rõ ràng trách nhiệm xã hội, đó là cả tiến trình cộng lực gian nan của nhiều thế hệ tăng sĩ và cư sĩ, cũng như tấm lòng hộ pháp của nhiều tín đồ nhiệt thành.
Tìm hiểu công cuộc chấn hưng trên phương diện giáo dục, chúng ta còn có thể rút ra nhiều bài học đáng quý khả dĩ ích lợi cho bối cảnh đương thời. Trong đó, đáng chú ý nhất là ý hướng đưa giáo dục Phật giáo vào giáo dục gia đình. Nhất là hiện nay, giáo dục gia đình chưa được chú ý đúng mức. Dưới mái gia đình, sinh hoạt tinh thần có mức độ gắn bó cao độ, là môi trường thuận tiện cho việc gieo trồng chánh pháp. Thế nhưng hiện nay, giáo dục gia đình và giáo dục Phật giáo chưa đạt được mức độ gắn kết chặt chẽ. Phần nhiều vẫn là các tín đồ ở lứa tuổi trung niên, giáo dục Phật giáo dường như chưa chú ý nhiều đến lứa tuổi thanh thiếu niên. Việc này khiến chúng ta nhìn nhận lại phương thức tiếp cận và nội dung truyền giảng sao cho gần gũi và thiết thực với đối tượng này.
Từ chấn hưng đến giáo dục và nhập thế, đây là quá trình gắn kết chặt chẽ, ảnh hưởng qua lại, biểu hiện sức sống và sự vận động của Phật giáo qua các thời kỳ. Nhìn lại giáo dục và nhập thế, chúng ta nhận thấy Phật giáo Việt Nam dẫu ở thời kỳ nào cũng song hành với vận mệnh đất nước. Thông qua giáo dục, Phật giáo ngày càng gắn chặt đạo Phật vào văn hóa dân tộc và lợi ích quốc dân, góp phần canh tân phát triển đất nước, nâng cao dân trí và đạo đức lối sống. Thông qua nhập thế, người tăng sĩ thể hiện sâu sắc ý thức trách nhiệm với cộng động, nối liền nẻo đời và nẻo đạo. Mối quan hệ càng khiến cho đạo Phật phổ truyền rộng rãi hơn trong đời sống con người, chiếm lĩnh vị trí quan trọng nhiều hơn nữa trên tiến trình vận động phát triển của đất nước. Nhìn từ phía giáo dục, Phật pháp, đạo đức và văn hóa dân tộc, là một thể thống nhất không thể tách rời, tương hỗ vận động giữa dòng chảy thời đại.
Tài liệu tham khảo:
– Ban khảo cứu (1935), Lời mở đầu, Kỷ yếu Phật giáo hội Bắc kỳ số 1 (năm 1935), Imprimerie Trung Bắc Tân Văn, Hà Nội.
– Ban sáng lập (1934), Điều lệ Lưỡng Xuyên Phật học hội, đăng lại trên Nguyệt san Phật học Viên Âm năm thứ II số 14 (tháng 3&4/1935), tr.60-64.
– Ban trị sự (1935), “Kính trình các giáo hữu hội viên Hội Phật giáo”, Tuần báo Đuốc Tuệ ra ngày thứ ba năm thứ I số 2 (17/12/1935), Phật giáo hội, Hanoi.
– Ban trị sự (1938), Phật học tổng hội (Bức thơ công khai gởi cho các Hội Phật học miền trong Nam kỳ và Cao Miên). Tập chí Duy Tâm Phật học năm thứ IV số 28 (tháng 1&2/1938), Lưỡng Xuyên Phật học hội, Travinh, tr.153-155.
– Thích Minh Châu (1967), Tôn giáo phải là con đường giải thoát cho Việt Nam và thế giới, Tạp chí Tư Tưởng SỐ 1 {1} (01-08-1967), Viện Đại học Vạn Hạnh, Saigon, tr.363-371.
– Thích Trí Chơn (dịch, 1972), “Sự phục hưng Phật giáo ở Tích Lan”, Từ Quang Phật học, số 234, tr.29-34.
– Lê Tâm Đắc (2012), Phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc Việt Nam (1924 – 1954), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
– Tâm Đức (2010), Như áng mây bay – Cuộc đời của Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Thất chúng môn đồ, Hoa Kỳ.
– Nguyễn Đại Đồng (2009), Thiện Chiếu – Nhà cải cách Phật giáo Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 3, tr.25-29.
– Nguyễn Đại Đồng và Nguyễn Thị Minh (Sưu tầm và biên soạn, 2008), Phong trào chấn hưng Phật giáo (Tư liệu báo chí Việt Nam  từ 1927-1938), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
– Hòa thượng Khánh Hòa (1929), Mầy lời bày tỏ. Tạp chí Pháp Âm số 1, (chùa Sắc Tứ ở Xoài Hột, Mytho), tr.2-4.
– Hòa thượng Khánh Hòa (1937), “Người mượn chữ lục hòa cách đây mươi năm về trước”, Tập chí Duy Tâm Phật học, Năm thứ hai số 16 (1/1/1937), Lưỡng Xuyên Phật học hội, Trà Vinh, tr. 229-232.
– Hội Phật giáo Trung Quốc (1936), Tiếng Chuông sớm, số 15.
– Hội Phật học Việt Nam (1952), “Lời nói đầu”, Nguyệt san Viên Âm, số 112.
– Hội Phật học Việt Nam (1952), “Thái Hư Đại sư”, Nguyệt san Viên Âm, số 112.
– Thích Gia Quang (2003), Thiền sư Thiện Chiếu – Một nhà sư cách mạng, Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 3/2003, tr.35-40.
– Thích Trí Quang (1962), Tâm ảnh lục (tập 1), Tổng hội Tăng già Trung Phần xuất bản, Huế.
– Thanh Tâm cư sĩ (1936), Phật giáo để nung đúc tinh thần dõng mãnh cho quấc dân. Tập chí Duy Tâm Phật học năm thứ II số 7 (1/4/1936), Lưỡng Xuyên Phật học hội, Travinh, tr.369-373.
– Thanh Tâm cư sĩ (1937), Thanh niên đối với Phật giáo nước nhà, Tập chí Duy Tâm Phật học năm thứ III số 23 (1/8/1937), Lưỡng Xuyên Phật học hội, Travinh, tr.606-608.
– Thích Huệ Thông (2020), Nhận thức về tinh thần nhập thế của Phật giáo, Tạp chí Văn hóa Phật giáo chuyên đề Cư trần lạc đạo số 358 (15/12/2020), tr.51-55.
– Tỳ khưu Hộ Tông (2504/1961), Bát thánh đạo (in lần thứ II), Nhà in Hạnh Phúc, Saigon.
– Tỳ khưu Hộ Tông (2518/1974), Phật giáo (Chính lời Phật thuyết), Nhà in Hạnh Phúc, Saigon.
Ngoại văn:
– Mandakini Dubey (2003). Esotericism and Orientalism: Nineteenth Century Narrative Initiations. Durham: Duke University Press.
– Stephen Prothero (1996). “Henry Steel Olcott and the Sinhalese Buddhist revival”, in The White Buddhist: The Asian odyssey of Henry Steel Olcott. Bloomington: Indiana University Press, pp. 13-19.
– Gauri Viswanathan (1998). Outside the Fold: Conversion, Modernity and Belief . Princeton: Princeton University Press.
Chú thích:
[1] Thích Huệ Thông (2020). Nhận thức về tinh thần nhập thế của Phật giáo. Tạp chí Văn hóa Phật giáo chuyên đề Cư trần lạc đạo số 358 (15/12/2020), tr.51-55.
[2] Thích Gia Quang. (2003). Thiền sư Thiện Chiếu – Một nhà sư cách mạng. Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 3/2003, tr.35-40.
[3] Thiện Chiếu (1927), Cái vấn đề chấn hưng Phật giáo ở nước nhà (Đông Pháp thời báo số 532 ngày 14.1.1927), trong tài liệu của Nguyễn Đại Đồng và Nguyễn Thị Minh (Sưu tầm và biên soạn, 2008), Phong trào chấn hưng Phật giáo (Tư liệu báo chí Việt Nam  từ 1927-1938), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.17-18.
[4] Thích Minh Châu (1967), Tôn giáo phải là con đường giải thoát cho Việt Nam và thế giới, Tạp chí Tư Tưởng SỐ 1 {1} (01-08-1967), Viện Đại học Vạn Hạnh, Saigon, tr.363-364 (363-371).
[5] Thiện Tòng (1927), Nên chấn hưng Phật giáo nước nhà (Đông Pháp thời báo số 538 ngày 26.1.1927), trong tài liệu của Nguyễn Đại Đồng và Nguyễn Thị Minh (Sưu tầm và biên soạn, 2008), Phong trào chấn hưng Phật giáo (Tư liệu báo chí Việt Nam  từ 1927-1938), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.26.
[6] Xem bài của Thanh Tâm cư sĩ (1937). Thanh niên đối với Phật giáo nước nhà. Tập chí Duy Tâm Phật học năm thứ III số 23 (1/8/1937). Lưỡng Xuyên Phật học hội. Travinh, tr.606-608.
[7]Thích Huệ Thông (2020). Nhận thức về tinh thần nhập thế của Phật giáo. Tạp chí Văn hóa Phật giáo chuyên đề Cư trần lạc đạo số 358 (15/12/2020), tr.54-55 (51-55).
[8] Hòa thượng Khánh Hòa (1937), “Người mượn chữ lục hòa cách đây mươi năm về trước”, Tập chí Duy Tâm Phật học, Năm thứ hai số 16 (1/1/1937), Lưỡng Xuyên Phật học hội, Trà Vinh, tr. 229-232.
[9] Tỳ khưu Hộ Tông (2504/1961). Bát thánh đạo (in lần thứ II). Nhà in Hạnh Phúc. Saigon, tr.9.
[10] Tỳ khưu Hộ Tông (2504/1961). Bát thánh đạo (in lần thứ II). Nhà in Hạnh Phúc. Saigon, tr.11.
Rừng Dầu, 30/3/2021
Võ Quốc Việt
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Murakami và một lời giải thích cho tâm thức cái ác của Nhật Bản hiện đại

Murakami và một lời giải thích cho tâm thức cái ác của Nhật Bản hiện đại Cái ác của nước Nhật đến từ đâu? Tại sao sự phát triển và giàu có...