Nhụy Nguyên - Trôi giữa
hai chiều kích thời gian
Gấp tập truyện ngắn của Nhụy Nguyên trên tay, bạn đọc
có thể sẽ còn băn khoăn, vương vấn, bất an về nhiều vấn đề. Chính điều này thôi
thúc chúng ta không ngừng đọc lại anh. Mỗi lần đọc lại sẽ ngộ ra thêm những điều
mới mẻ. Tôi tin rằng, đọc truyện ngắn Nhụy Nguyên là một duyên nghiệp ở đời, bởi
anh không cầu danh tiếng cũng không cầu sự phát hành rộng rãi. Nhiều năm qua,
tôi có khuyên anh nên in phổ biến những tác phẩm của mình đến bạn đọc, để cùng
với bạn đọc hành trình qua bến mê khổ lụy này.
“Hoa dại như là niềm ân nghĩa. Nhìn hoa nghiệm ra
sự hiện hữu của những gì tưởng đã tan loãng hư vô” [Nhụy
Nguyên]
Tôi đọc và dõi theo văn chương Nhụy Nguyên cũng ngót ngét gần
mười năm qua. Thế nhưng viết một gì đó về/cho anh thật khó. Cứ có cảm giác ngôn
từ của anh thuộc về một cảnh giới khác, một cõi khác giữa cuộc đời trần tục
này, cuộc đời mà tôi vẫn hằng ngày nghiệm trải. Nhụy Nguyên kiệm lời và cũng kiệm
viết, có bản thảo tiểu thuyết anh đã đưa tôi xem vài năm qua, rồi lại mang về,
hứa sẽ xuất bản, rồi lại lỡ hẹn bao lần để chỉnh sửa, thế rồi cũng bỏ quên luôn
bởi thấy chưa ưng ý hoặc vì một lí do nào đó chỉ riêng mình anh biết. Tôi cứ tiếc
mãi, vì có nhiều bản thảo theo tôi, nếu mạnh dạn in sớm vào thời điểm được viết,
nhất định sẽ để lại một vài dư chấn trên văn đàn. Tính cẩn trọng của anh có lẽ
vừa liên quan đến khí chất, lại vừa liên quan đến tư tưởng Phật giáo mà anh suốt
đời tu tập. Nhụy Nguyên gần như là một cư sĩ, người mong mỏi được sống thiện
lành giữa chúng ta. Với anh, ngôn từ vốn bất lực, thứ văn chương đích thực luôn
vô ngôn và kiệm lời, đúng với tinh thần của những thiền sư. Anh cho rằng ngôn
ngữ vốn vi diệu và do vậy nó có chức năng gây ảo giác và ảo tưởng cho người muốn
sắp đặt chúng. Thơ Haiku của những thiền sư Nhật Bản như Basho chẳng phải cũng
đã tối giản hóa chỉ còn 17 âm tiết hay sao? Thơ Nhụy Nguyên không viết theo thể
hài cú (haiku), nhưng anh cũng ngày càng kiệm lời, đến mức một bài đôi khi chỉ
còn hai câu lục bát không dài hơn haiku là bao. Trong tập thơ Khi người ta
cúi mặt [Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2011], tác phẩm gần nhất anh chính thức
xuất bản, lắm bài thơ chỉ là 14 âm tiết: “Một ngày xác chữ lên ngôi – Huyệt
thơ rỗng suốt cuộc đời thi nhân” (Huyệt thơ); Hay như bài Ánh tà gần
đây: “Liếc dao lên trăng/ Âm mưu giết cái đẹp”. Trong những nghiên cứu trước,
tôi từng xem thơ Nhụy Nguyên là thứ thơ theo hướng chủ nghĩa cực hạn
(Minimalism). Thơ ca của anh vừa mới lại vừa cũ, tạo ra một thứ tân cổ điển mới
dưới tinh thần của mỹ học chiết trung hậu hiện đại.
Trong làng văn ở Cố đô Huế hiện nay, trong thế hệ cầm bút mới
từ 8x trở đi, Nhụy Nguyên là người rất đáng đọc. Văn chương của anh trầm tích
văn hóa và tư tưởng, tạo ra một thứ nội lực riêng, bản sắc chữ nghĩa vượt
ra/lên được những mốt tân kì thời thượng đương thời, nhưng cũng không bảo thủ,
cũ kĩ nhàm chán. Văn xuôi trẻ ở Huế, nếu chọn ra một vài gương mặt thực sự có sức
nặng về mặt tư tưởng, Nhụy Nguyên cần ưu tiên trước hết, bên cạnh một vài đồng
nghiệp ưu tú khác đáng để bạn đọc kì vọng. Họ xứng đáng vượt lên khỏi giới hạn
của tính địa phương, để vươn tầm ra văn đàn cả nước. Điểm đáng tiếc của họ, đó
là người thì quá hàn lâm, người thì lại quá viết cho theo kịp thị trường. Riêng
Nhụy Nguyên, giới hạn của anh là viết quá cẩn trọng, đôi khi lạc bước giữa thời
thế. Bởi trên văn đàn hiện nay, với tốc độ phát triển nhanh chóng của nghệ thuật,
chậm chạp là một giới hạn, từ một câu chuyện rất mới đã trở thành cũ kĩ trong
thời gian ngắn. Song Nhụy Nguyên luôn ước muốn đưa tác phẩm ra khỏi những ràng
buộc của thời thế. Vậy nên anh có những bản thảo tiểu thuyết và truyện ngắn viết
hơn chục năm rồi mà đến nay vẫn chỉ là bản thảo.
Bẵng một thời gian lâu, tôi thấy anh đóng cửa phòng văn tu học,
không thấy viết lách gì nữa, tưởng chừng như anh đã gác bút thực sự, thì bỗng
nhiên năm cuối năm 2018 – đầu năm 2019 anh cho xuất bản 1 tập truyện ngắn, 1 tập
tùy bút, 1 tập cảm luận, và 4 tập tiểu luận thiên về khoa học và đạo Phật.
Trong các tác phẩm đó, tôi đặc biệt chú ý đến tập truyện ngắn của anh với tựa đề Trôi
trên dòng thời gian trắng xóa [Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2018] (những trích dẫn
trong tiểu luận này, nếu không có chú thích gì thêm, thì đều từ nguồn này). Tập
truyện ngắn gồm 14 truyện ngắn, với dung lượng khá khiêm tốn, nhưng thực sự là
một thử thách đối với bạn đọc. Trôi trên dòng thời gian trắng xóa như
một công án thiền, cần đọc thông qua tâm nhãn, hơn là sự thụ cảm thông thường bằng
lí trí và xúc cảm. Văn chương của Nhụy Nguyên là thứ văn chương khó đọc, nhiều
chỗ trở nên đánh đố bạn đọc bởi nhiều phạm trù triết mỹ thâm sâu, đòi hỏi bạn đọc
phải có một tầm đón đợi nhất định mới có thể thông hiểu. Bản thân tôi cũng phải
đọc đi đọc lại ba lần tập truyện này, mới dám ngồi xuống và viết gì đó. Thậm
chí, nhiều chỗ, nhiều tình tiết, nhiều truyện đọc mãi mà vẫn như đứng ngoài
khung cửa của sự thông hiểu, không thể dám lạm bàn nhiều. Điều tôi cứ mãi băn
khoăn, đâu là “con mắt văn chương” của Nhụy Nguyên, đâu là “phiến đá cửa vào” để
chúng ta có thể khám phá thế giới chữ nghĩa của anh? Bản sắc ngôn ngữ và tư tưởng
của Nhụy Nguyên thể hiện ở đâu?
Nhụy Nguyên là một thanh âm khác lạ trên văn đàn hiện nay, bởi
văn chương của anh gần như trôi giữa hai chiều kích thời gian, tính cổ điển,
thâm trầm của triết học Phật giáo, hòa lẫn với tính hậu hiện đại tân kỳ của triết
học giải cấu trúc. Phàm ở đời, thật cổ điển hay thật tân kỳ đã là thành công,
nhưng văn chương Nhụy Nguyên một lúc đã đạt được cả hai giá trị đó. Anh là điểm
nối giữa những gì ngày mai với những gì của ngày hôm qua, giữa bề sâu và bề nổi,
giữa tính dân tộc với tính hiện đại trong văn chương.
1. Quá khứ chưa xong xuôi hoàn tất trong truyện ngắn Nhụy
Nguyên
Tập truyện ngắn Trôi trên dòng thời gian trắng xóa, như
đã trình bày là một tập truyện ngắn có tính chất tư tưởng. Tác giả viết như một
sự chứng nghiệm những mệnh đề triết học về nhân sinh và vũ trụ, dưới tinh thần
Phật giáo. Đạo Phật đưa lại cái nhìn đúng về vũ trụ nhân sinh, như khoa học lượng
tử minh tường và thừa nhận. Văn chương Nhụy Nguyên là thứ văn chương tự ăn
mình, tự chiêm nghiệm, như con tằm ăn lá dâu nhả ra tơ, rồi cũng vì sợi tơ của
mình mà chấp nhận chết đi. Truyện ngắn của Nhụy Nguyên cũng như thơ, luôn là nỗi
đau bản thể, sự chiêm nghiệm cõi người và kiếm tìm con đường giải thoát để đạt
hạnh phúc đích thực. Anh chưa bao giờ viết để giải trí, viết một cách dễ dàng để
mua vui hay chiều lòng độc giả. Anh viết trước hết là cho chính mình.
Chiều kích quá khứ truyền thống trong tập truyện hiện lên rõ
ràng, thông qua hệ thống tư tưởng, triết lý mà Nhụy Nguyên lĩnh hội. Mọi truyện
viết về một mảng hiện thực khác nhau, cốt truyện, bút pháp cũng khác, nhưng tất
cả như những bông hoa có cùng chung gốc, cái gốc ấy là học thuyết tâm linh huyền
nhiệm. Hơn chục năm qua, tôi thấy anh ngày càng kiên trì với con đường đã chọn.
Ăn chay trường, thiền tỉnh giác khá miên mật, ngay cả một con kiến bu vào ly cà
phê anh cũng không cho tôi giết đi, Nhụy Nguyên luôn là một cư sĩ lựa chọn sống
cuộc đời khác lạ. Nền tảng triết mỹ ấy là cách sống của anh, chứ không đơn thuần
chỉ là một lối viết. Đúng với đoạn đề từ trên bìa 4 của tập truyện: “Tư tưởng
Phật pháp được Nhụy Nguyên vận dụng uyển chuyển, huyền ảo trong mỗi truyện ngắn,
xuyên vào nội giới, lóe vệt sáng phản chiếu bể trầm luân mà ở đó hạnh phúc đích
thực không hiện diện trên gương mặt đam mê bản thể và những cái bóng lội qua sự
sáng suốt tịch lặng của gương tâm”.
Có thể nói, đặc trưng nghệ thuật mang tính truyền thống cổ điển
nhất trong truyện ngắn Nhụy Nguyên đó phải là những tư tưởng căn cốt về triết
lý nhân sinh trong mối tương quan với vũ trụ. Nhiều truyện có yếu tố như một dạng
công án thiền, là sự cắt nghĩa, diễn giải chân tướng về vũ trụ nhân sinh dưới hệ
thống hình tượng khác nhau. Nếu như truyện Phật ở ngoài khơi xa kêu gọi
một sự tự tỉnh thức, thoát khỏi sự ràng buộc của dục vọng vô minh đầy những ẩn
dụ triết học: “phải biết làm bạn với chính mình. Một mình làm bạn với chính
mình mà không có điều kiện gì cả có nghĩa bạn thực sự hài lòng với chính mình
trong bất kỳ hoàn cảnh nào” [tr.27]; thì truyện Vung tay chạm đến vô cùng là
câu chuyện tự nhiên theo tiến trình [nguyên] nhân – [kết] quả.
Nhân vật Nõ đào được đầu tượng Hộ pháp bằng vàng, nhưng lại đem bán một phần nhỏ
xíu trên chóp đỉnh của bức tượng trong khi đang cầu con, “tình cờ” anh bị tai nạn
vào đầu. Nhưng mạch truyện diễn tiến hồ như câu chuyện chân thật và xúc cảm được
kể ở đâu đó quanh ta. Truyện Không thể nói ra khá huyền ảo, khi người
kể chuyện là một con chó, nhưng nó là ẩn dụ cho sự luân hồi từ kiếp người thành
kiếp vật. Câu chuyện giữa những con chó nâng niu sự sống đến hơi thở chót khiến
độc giả lạc vào không gian người từ lúc nào không hay.
Cả tập truyện phảng phất không khí của quá khứ cổ điển, khi
nhiều tích xưa, truyện cũ được nhà văn một lần nữa viết lại. Truyện ngắn Apsara
và dòng kinh sám hối đưa bạn đọc quay về với đất nước Chămpa, khi cô công
chúa người Việt như là nguyên nhân của cuộc chiến giữa hai nước. Nhụy Nguyên đã
khéo léo khai quật cả một không gian sử thi huyền thoại, đầy rẫy những biểu tượng
văn hóa Chăm trong quá khứ: “Người ta khoác lên thân nàng tấm lụa trắng muốt.
Bây giờ chỉ còn ba hầu nữ. Nàng theo đến tòa tháp lớn hình linga. Đỉnh hổng.
Nhìn lên thấy khoảng trời tròn điểm vài ngôi sao mọc vội. Phía trong độc nhất bệ
thờ sát tường. Trên bệ là linga-kosa bằng vàng ròng, chóe lên. Một cái đầu thần
Siva lồi ra ở đoạn trên của linga…” [tr.199]. Nhụy Nguyên là một người từng học
lịch sử, anh có niềm đam mê với những di chỉ khảo cổ học và văn hóa Chăm để viết
nên bản thảo tiểu thuyết về nàng Tiên Thiên vũ nữ. Do vậy, trong truyện
anh đã dựng lên được một quá khứ kiến trúc vàng son của vương quốc
Chămpa. Sự hiểu biết về văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc, tôn giáo Chăm đã
giúp nhà văn tái tạo nên một thế giới nghệ thuật quá khứ đầy sống động, cụ thể.
Truyện ngắn 7 bước thiền lại đưa chúng ta đi xa
hơn, quay về với quá khứ xa xôi hơn, khi Đức Từ Bi đắc đạo và hoằng truyền giáo
lý tối thượng. Câu chuyện viết về thời đại mà những tiểu vương ở Ấn Độ vẫn còn
cát cứ, thực chất họ vẫn sống trong những xã hội chiếm hữu nô lệ đầy man dã. Vị
vua Pasenadi đi tuyển mà thực chất là lùng bắt khắp nơi gái đẹp về làm cung nữ.
Govinda là tên tay sai sẵn sàng bắt bớ mọi người con gái đẹp đem về cho vua.
Bút pháp của Nhụy Nguyên làm sống dậy một không gian xa xôi, tưởng chừng như đã
chìm trong lãng quên, không gian Ấn Độ cổ đại đầy huyền hoặc mà đấng Giác ngộ
đã từng sống. “Vạn vật có sinh có diệt. Hạnh ái mẫn của Ngài thấm vào những
cánh sala chuyển kiếp sau một đêm tiết hương cho sự an tịnh của khu rừng. Đêm
xuống, hương sala dịu nhẹ, ngọt, len vào giấc thiền. Những sa môn ngồi quán hơi
thở vô tình nương hoa sala chìm vào an lạc” [tr.92]. Câu chuyện viết về mối
tình giữa nàng Malyahassa với chàng Asidana. Chàng giác ngộ theo Đức Từ Bi, bỏ
lại nàng Malyahassa dấu yêu. Người vợ thì chịu khổ nạn ở kiếp này bởi thói dâm
dục của vị vua Pasenadi, tuy nhiên theo đó, qua pháp nhãn nhìn thấy tương lai của
đấng Giác ngộ, nàng đã tẩy chướng nghiệp và có thể đổi lấy một duyên lành ở kiếp
sau. Những địa danh, tên riêng, chức phẩm của xã hội Ấn Độ cổ đại đã được Nhụy
Nguyên làm sống lại trong truyện. Bạn đọc như lạc vào một thời đại mà đấng Giác
ngộ còn là người rất trẻ. Và hơn hết là khung cảnh của một giai đoạn pháp nạn
oan khiên bởi sự ganh ghét độ kị từ những giáo thuyết khác lợi dụng vương quyền.
Mỗi truyện ngắn của Nhụy Nguyên, dẫu không cần quay về với
quá khứ xa xưa như hai ví dụ trên, cũng mang chiều kích hướng về quá khứ. Những
câu chuyện có thể diễn ra ngày hôm nay, của thời hiện đại này, nhưng chúng ta
luôn thấy quá khứ đổ bóng lên nó. Kiếp này luôn phản chiếu kiếp kia, nhiều kiếp
xa xưa kia, hướng theo luật nhân – quả và thuyết luân hồi của nhà Phật mà nay
trở thành đối tượng nghiên cứu đầy hấp lực của vật lý lượng tử và khoa học hiện
đại; và ngay cả triết học, đỉnh cao của nó vẫn phải là triết học về tâm thức.
Đúng như trong truyện Buông có những lời này: “Một vị sự từng dạy,
lúc tâm tĩnh vắng sẽ sực nhớ ra điều xa xưa kể cả trong tiền kiếp” [tr.81].
Trong truyện Trôi qua miền sáng, những nhân vật chính là hai mẹ con đều đã
chết (đứa con chết trước, nó không biết và cứ trò chuyện với người mẹ, trong
lúc người mẹ thì đang biểu hiện với con chó; con chó cũng chết và làm bạn với đứa
bé. Người mẹ thì chết sau hơn con mình, khi vụ hỏa hoạn do người đàn ông hút
thuốc phiện gây cháy). Ở gần cuối truyện, bạn đọc mới biết được sự thật kinh dị
này. Hóa ra tất cả những gì người kể chuyện xưng “tôi” kể (người con), là quá
khứ diễn ra khi hai mẹ con còn sống, chưa bị tên đàn ông giết hại. Tóm lại, mọi
truyện ngắn của Nhụy Nguyên luôn đổ bóng và trì níu vào quá khứ, để giải thích
và chiêm nghiệm cho thực tại hôm nay.
Hệ thống hình tượng trong truyện ngắn của Nhụy Nguyên cũng
mang tính cổ điển rõ nét. Trong nhiều truyện, anh miêu tả về thói quen thưởng
trà đầy truyền thống trong sự đối sánh với thiền học, nhiều câu được viết nên bởi
sự tinh tế, tài hoa: “Tôi cũng không ngạc nhiên trước thái độ của sư: không hỏi
tôi con ai trong làng, không cần biết tên tôi và tại sao tôi có thú thưởng trà?
Vị thiền phải chăng như ấm trà đặc, vài ngụm đầu đắng, uống thêm ngọt dần và hạnh
phúc lan tỏa [tr.86]. Trong nhiều truyện khác là sự xuất hiện của cây hoa mai,
như một niềm gợi nhắc đến bài thơ Cáo tật thị chúng nổi tiếng của Mãn
Giác thiền sư. Không gian truyện ngắn của Nhụy Nguyên nở vàng sắc mai cổ điển.
“Những gốc mai phía sau nhà, không phải ở vườn trước. Một hôm tôi lạc vào khu
vườn của sư. Ngày cuối đông mai chưa hé nụ, tôi ngỡ ngàng run rẩy trước vẻ kiêu
hãnh của những cây mai mới nhú lộc xanh tươi mơn mởn” (Buông) [tr.80]. Đó là những
cây mai vàng cuối đông mọc ở chùa làng. Những cây mai còn gắn liền với mảnh vườn
quê hương và bóng hình của mẹ. “Cây mai cao vút tận nóc nhà, tôi phải bắc thang
trẩy lá. Mạ đứng dưới ngó lên, nói anh chị tính bán, mạ không cho… Tôi bùi
ngùi. Cây mai quá thân thương. Tết nào cũng ra như thăm ân nhân. Bây giờ chợt
nghĩ khác, phải chăng tôi quý nó bởi còn mạ” (Mưa hoa bên sườn đồi) [tr.145].
Truyện ngắn Nhụy Nguyên bắt rễ vững chắc vào quá khứ. Thế mạnh
và cũng là điểm làm nên sự khác biệt trong bút pháp văn xuôi, trước tiên đó là
khả năng tái hiện không gian văn hóa quá khứ, với những mệnh đề ý niệm về cõi
nhân sinh. Tuy nhiên, đó là thứ quá khứ không xong xuôi hoàn tất. Có nhiều truyện
anh viết lại những sự kiện lịch sử cũ, với những nhân vật lịch sử có thật như
Phật Thích Ca, công chúa Huyền Trân, vẫn những không gian và hệ thống hình tượng
cổ điển, ngôn ngữ và địa danh, tên riêng cũng đầy truyền thống, nhưng sự vật/việc
đã được tái diễn giải theo một tinh thần mới – tinh thần hậu hiện đại.
2. Nghệ thuật (hậu) hiện đại trong truyện ngắn Nhụy Nguyên
Điểm làm bạn đọc bất ngờ khi tiếp xúc với truyện ngắn Nhụy
Nguyên, đó là sự tân kỳ, hơi thở đương đại trong hình thức thi pháp của tác phẩm.
Đây rõ ràng là nét cách tân nghệ thuật của tác giả, nhưng nó cũng liên tục đặt
ra những giới hạn và thách thức cho sự diễn giải từ phía người đọc. Bạn đọc phổ
thông, và nhất là những Phật tử mong muốn khi đọc truyện phải thấy ngay bài học
giáo huấn, cốt truyện trong sáng, mạch lạc rõ ràng phải nhận lấy sự thất vọng
khi tiếp nhận. Nhụy Nguyên có một khoảng cách lớn với văn chương thuyết giáo,
văn chương minh họa và văn chương thị trường. Đó có thể cũng là lí do mà nhiều
năm qua, mặc dù anh được giới lí luận phê bình chuyên nghiệp đánh giá cao,
nhưng vẫn không bật lên được trên văn đàn như một tác giả bestseller, hay thậm
chí là một người được bạn đọc quen mặt, chờ đón.
Truyện ngắn Nhụy Nguyên trong Trôi trên dòng thời gian
trắng xóa thực sự khó đọc, bởi anh đã dụng nhiều cách tân trong nghệ thuật
tự sự, hướng theo mô hình đa thanh, đối thoại và giải cấu trúc hậu hiện đại. Bạn
đọc dẫu cẩn thận đọc kĩ, đọc chậm vẫn dễ dàng bị lạc lối giữa mê cung của trần
thuật. Trong rất nhiều truyện, anh sử dụng kĩ thuật tự sự nhiều người kể, trong
đó liên tục đảo vai trần thuật giữa ngôi thứ nhất (“tôi” kể) với ngôi thứ ba
(người trần thuật toàn tri và bị giới hạn). Những ngôi kể xen lẫn nhau này có
trường nhìn, quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau, khiến bạn đọc trở nên
bối rối trong tiếp nhận.
Đơn cử truyện ngắn đầu tiên của tập truyện là Mầm nhói,
đây thực sự là một truyện ngắn mê lộ trong trần thuật. Giá trị nhân văn của
truyện thể hiện ở lỗi lầm của nạn phá thai, về “những đứa trẻ không thấy mặt trời.
Những đứa trẻ được tắm lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng như sự gội rửa nỗi
oan bằng nước thánh” thông qua đồi An Hài, ngọn đồi/nghĩa trang thai nhi
do Giáo xứ thuộc xã Hương Hồ lập từ 1992, nơi chôn cất hơn 40 ngàn phôi thai,
phần lớn là hậu quả của nạn phá thai. Nhụy Nguyên từng chia sẻ, bản thân anh –
khi còn mịt mù vô định trong nghiệp thức tục trần, đã từng “phủi đi giọt sương
long lanh trên thành vực sâu đời người”… Giữa các khổ là sự chung vai tiếp sức
giữa hai ngôi kể thứ nhất và thứ ba, tức là giữa “tôi” kể và một người kể toàn
tri trần thuật về “hắn”. Nhưng sự phức tạp còn nằm ở chỗ, có nhiều “hắn” và có
nhiều “tôi” cùng song hành cùng kể, dưới những điểm nhìn khác nhau, không phải
lúc nào cũng có thể dễ dàng phát hiện hắn là hắn nào và tôi là tôi nào. Chỉ
tính riêng truyện này, có thể lập ra một bảng như sau để bạn đọc dễ hình dung sự
phức tạp trong nghệ thuật trần thuật mê lộ của Nhụy Nguyên.
|
Khổ |
Ngôi kể |
Điểm nhìn |
Nhân vật |
Nội dung tóm lược |
|
1 |
Thứ ba |
Bị giới hạn, bên ngoài |
Kể về nhân vật “hắn” |
Hắn quyết định đi đến Đồi Anh Hài |
|
2 |
Thứ ba |
Không giới hạn |
Kể về nhân vật “cô gái” |
Cô đến đồi để tìm con đã từng gửi chôn ở đây |
|
3 |
Thứ nhất |
Bị giới hạn, bên trong |
Kể về nhân vật “tôi” |
Nhân vật tôi cùng cô gái lên đồi tìm con (có thể là người
quản trang) |
|
4 |
Thứ nhất |
Bị giới hạn, bên trong |
Kể về nhân vật “tôi” |
Tôi trò chuyện với ông quản trang, nghe những câu chuyện bi
thảm đau lòng |
|
5 |
Thứ ba |
Không giới hạn |
Kể về nhân vật “hắn” và cô gái trong một trung tâm phá thai |
Hắn khuyên cô gái trẻ chớ phá thai |
|
6 |
Thứ nhất |
Bị giới hạn, bên trong |
Kể về nhân vật “tôi”, nhưng tôi này là một (linh thai) thai
nhi bị phá |
Kể về trải nghiệm đớn đau tàn khốc của thai nhi |
|
7 |
Thứ ba |
Không giới hạn |
Kể về cô gái đi lên đồi Anh Hài tìm mộ con |
Hoài niệm về kí ức phá thai |
|
8 |
Thứ nhất |
Bị giới hạn, bên trong |
Kể về nhân vật “tôi”, nhưng “tôi” này là một chàng trai từng
khuyên bạn gái phá thai |
Kí ức về việc khuyên bạn gái phá thai |
|
9 |
Thứ ba |
Không giới hạn, bên ngoài |
Nhân vật kể chuyện khách quan không xưng ngôi |
Miêu tả toàn cảnh lễ cầu siêu cho anh hài |
|
10 |
Thứ ba |
Bị giới hạn, bên trong |
Kể về cuộc trò chuyện giữa “hắn” và cô gái |
Những ám ảnh tội lỗi, những ác mộng kì dị |
|
11 |
Thứ nhất |
Bị giới hạn, bên trong |
Kể về nhân vật “tôi” |
Nhân vật tôi chứng kiến hai người đi trong đêm tối |
|
12 |
Thứ ba |
Không giới hạn |
Kể về nhân vật “hắn” |
Hắn bước đi trên đồi Anh Hài |
Trong những truyện khác, Nhụy Nguyên công nhiên sử dụng thủ pháp siêu hư cấu (metafiction) của văn chương hậu hiện đại, để nói về những hư cấu của mình (hư cấu về những hư cấu), cũng như sự tự ý thức của nhân vật. Trong truyện Phật ở ngoài xa, hai người kể chuyện ở hai khổ công nhiên trình bày với bạn đọc: “Tự thấy không xứng đáng xưng “tôi” nữa, tôi xin gọi mình bằng “hắn” [tr.35]. Đây phải chăng cũng là hành trình vô ngã, chuyển hóa cái tôi, để đặt một cái nhìn phản tư từ bên ngoài? Hay là khi con người nhận ra lầm lỗi, nhất là những phát sinh từ trong ý niệm nội tâm, đó là bắt đầu của cuộc tự chuyển hóa/ tịnh hóa bản thể giữa mênh mông vũ trụ.
Nhiều truyện khác, Nhụy Nguyên đưa vào các yếu tố huyền ảo, nhằm khúc xạ hiện thực dưới một góc nhìn khác như các truyện Mầm nhói (linh hồn của thai nhi), Bóng thuyền ảnh hiện (con người không giấu nổi cái đuôi bởi chưa/không thể tiến hóa, hay là một sự phi lý của tiến hóa), Không thể nói ra (người kể chuyện là con chó)… Nhưng truyện có yếu tố huyền ảo kinh dị nhất, đúng với tinh thần hậu hiện đại nhất là Trôi qua miền sáng. Câu chuyện kể về cuộc đời bi đát của hai mẹ con, trong đó người mẹ bị rơi vào hoàn cảnh “người – vợ – gái – điếm” nhẫn nhục vì con nhưng cũng không giữ được mạng sống cho con mình. Câu chuyện kể về người đàn ông tàn bạo dùng vũ lực với hai mẹ con. Nhưng chỉ đến cuối truyện, bạn đọc mới biết được thực ra cả hai mẹ con đều đã chết. Họ (và cả con chó) đều là những nạn nhân bị tên đàn ông giết chết. Người kể chuyện xuyên suốt từ đầu tác phẩm thực ra là những hồn ma. Người kể chuyện hồn ma như thế là người kể chuyện không đáng tin cậy, vì họ là những thực thể siêu nhiên. Tuy vậy, đây hoàn toàn không phải là tác phẩm doạ ma độc giả, mà là một truyện ngắn có tư tưởng nữ quyền, đứng về phía bên lề, phe yếu thế như phụ nữ, trẻ em, gái điếm… Truyện Không thể nói ra cũng là một cách đứng về phía ngoại biên (loài chó), nhằm chống lại đại tự sự con người. Dưới ánh mắt của loài chó, dẫu chúng không hề có ý trách móc, song người thân và hàng xóm của chúng hiện lên đầy phi lý và lạnh lùng.
Tôi cũng đặc biệt nhấn mạnh đến tính liên văn bản (intertextuality) trong truyện ngắn Nhụy Nguyên. Trong nhiều truyện ngắn khác nhau, anh cố tình sử dụng những kiểu loại văn bản không tương hợp, rời rạc, mỗi văn bản kể về một chuyện khác nhau, phong cách và ngôi kể, điểm nhìn cũng khác. Nhưng đặc trưng liên văn bản đáng chú ý đó là sự kết hợp văn bản hội họa vào trong văn bản truyện ngắn. Kiểu liên văn bản này vừa tân kỳ lại vừa rất cổ điển, khiến ta hoài nhớ đến kiểu tranh phương Đông thi trung hữu họa, họa trung hữu thi. Trọn vẹn cả 14 truyện đều kết thúc bởi một bức tranh theo nhiều phong cách hội họa khác nhau. Có bức gắn với tinh thần thiền học, có bức dưới tinh thần minh họa, siêu thực, hay ấn tượng. Những bức tranh này gợi nhắc đến nhiều vấn đề nội dung và tư tưởng của truyện. Những văn bản tranh là sự bổ nghĩa, vẫy gọi trí tưởng tượng của người đọc.
Bút pháp hậu hiện đại của Nhụy Nguyên còn thể hiện ở lối viết tự động, mang tính thủ pháp tâm thần phân liệt của hậu hiện đại. Trong truyện Máu đang lọc bởi sự lặng yên, Nhụy Nguyên viết về những sự kiện, kiếp người diễn ra trong bệnh viện. Đây là một truyện được viết trên tinh thần của triết học giải cấu trúc khi ngay từ đầu tác phẩm, tác giả đã chia thành các phần khác nhau, nhưng sau phần mở đầu thì đã đến ngay phần kết thúc, rồi mới quay lại phần vào truyện (tất cả những phần này đều được ghi chú cụ thể trên văn bản). Do là một truyện được viết trong bệnh viện, nên các sự kiện giăng mắc, trộn lẫn vào nhau không hề theo một trật tự hay logic nào. Kiểu cảm nhận thế giới này rất đặc trưng của người bệnh nhân thần kinh phân liệt, hay là một người bị mê sảng trong cơn đau tột cùng của thể xác. Nhà văn viết như một hành vi đớn đau. Bạn đọc khi tiếp nhận chỉ có thể cảm nhận được các thông tin đang diễn ra, chứ khó thể xâu chuỗi lại bất kỳ một cốt truyện mạch lạc nào. Các chi tiết, sự kiện của đời sống, của Phật pháp hòa chen vào những hành vi khám chữa bệnh trong bệnh viện. Cả truyện hoàn toàn không có lời của người kể chuyện, cũng không rõ ai là nhân vật đang nói, không có xuống dòng hay chỉ dẫn trong phần thân truyện: “Làm gì có chuyện y tá chăm bệnh nhân ở mức bất bình thường như vậy. Đợi ông già khỏe hơn thì mở mồm đi kẻo đứa khác hốt mất đó. Hà. Hôm nay Sở về kiểm tra có y tá tới hỗ trợ lau chùi khỏe thật… Bạch Thầy. Bác sĩ cũng suy tim à? Mô Phật. Hỏi thế gian ai không già bệnh chết. Ông đang khám thai tự dưng khuỵu. Người nhà bệnh nhân K. Người nhà bệnh nhân K. Nhắc lại. Không có. Vợ vừa đi vệ sinh…” [tr.136-137]. Cả một câu chuyện là những câu nói, sự kiện rời rạc, đẳng lập được lắp ghép bất tương hợp vào nhau như thế.
Tính đương đại của truyện ngắn Nhụy Nguyên không chỉ được thể hiện trên phương diện thi pháp hình thức, mà còn được thể hiện trong những nội dung quan thiết ngày hôm nay. Trôi trên dòng thời gian trắng xóa có nhiều chuyện đề cập đến biển đảo trước những dã tâm, âm mưu nhòm ngó của đế quốc phương Bắc. Truyện ngắn Dấu son trên hải đảo kể về việc cứu/bắt được hai thuyền viên “lạ”, vốn là những thành viên các đội tàu lấn chiếm trên biển Đông. Họ mang danh ngư dân nhưng kì thực là dân quân hoặc là quân đội chính quy.
– “Trung đoàn đánh cá của anh có nhiều thuyền gặp bão không?
Tôi bộ khờ khạo thêm chữ “trung” trước chữ “đoàn”…
– Họ trở về hết rồi. Tàu của chúng tôi va phải đá ngầm.
– Anh hẳn là một trí thức, thừa biết trên bản đồ nước anh khởi nguồn đã không hề có hòn đảo này” [tr.122].
Hoặc: “Dĩ nhiên là không phải loại ngư dân trang bị đánh bắt hải sản bằng thứ vũ khí hiện đại giấu dưới khoang thuyền” (Con mắt nhìn vào) [tr.213].
Tinh thần dân tộc hướng về phía biển đảo thể hiện thái độ công dân của nhà văn. Mặc dù hướng nội, nặng về quá khứ, chủ trương từ bi cửa Phật, nhưng truyện ngắn Nhụy Nguyên không đứng ngoài thời cuộc, không thờ ơ “mũ ni che tai” trước những vấn đề lớn lao mà thời đại đang đặt ra đối với vận mệnh tổ quốc. Tinh thần Phật giáo của Nhụy Nguyên, chính vì thế là một tinh thần đạo pháp nhập thế, đạo pháp gắn với đời sống và chủ quyền lãnh thổ dân tộc. “Linh hồn người, cũng thường hằng chới với trong con mắt vàng vào những ngày bão tố, hay, ngư dân thành mục tiêu khi mà ranh giới quốc gia chưa được láng giềng tôn trọng… Ngày xưa quân xâm lăng đã tấn công từ phía biển. Lịch sử lùi chưa xa nên khi thi công phần móng lộ thiên hằng trăm bộ hài cốt…”. (Con mắt nhìn vào) [tr.204]. Dĩ nhiên trong truyện ngắn này tác giả còn gửi gắm “những “con mọt” trong chánh pháp”, những tầng công phu vượt thoát khỏi những khuôn sáo vốn dĩ bị ngôn ngữ khoanh vùng kìm hãm một thế giới nội tâm lồng lộng vốn có ở bất cứ ai. Một sự gửi gắm đầy sức sống và ngần ngại cả những ẩn ức từ nghiệp duyên và tình ái. Có đến hai truyện tác giả viết về các ngôi chùa giữa đảo, các nhà sư tham gia giữ chủ quyền thiêng liêng tổ quốc cùng với quân và dân. “Nhìn về phía đảo. Nhỏ tôi quen đang trên đó cùng những người lính. Hòn đảo thiêng liêng nhô ra như một tấm bình phong của tổ quốc. Máy nổ ầm ào. Chùa xa dần. Tôi đưa tay vẫy. Sư trụ trì khoác chiếc áo phước điền đã bạc đứng trên bờ cát mênh mang” (Dấu son trên hải đảo) [tr.127]. Hai chiều kích tương lai và quá khứ hòa quyện, soi rọi vào nhau, như hai mặt của một tờ giấy trong truyện ngắn Nhụy Nguyên.
Gấp tập truyện ngắn của Nhụy Nguyên trên tay, bạn đọc có thể sẽ còn băn khoăn, vương vấn, bất an về nhiều vấn đề. Chính điều này thôi thúc chúng ta không ngừng đọc lại anh. Mỗi lần đọc lại sẽ ngộ ra thêm những điều mới mẻ. Tôi tin rằng, đọc truyện ngắn Nhụy Nguyên là một duyên nghiệp ở đời, bởi anh không cầu danh tiếng cũng không cầu sự phát hành rộng rãi. Nhiều năm qua, tôi có khuyên anh nên in phổ biến những tác phẩm của mình đến bạn đọc, để cùng với bạn đọc hành trình qua bến mê khổ lụy này.
Trường An, 5/2/2019
Yến Thanh
Theo https://vanvn.vn/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét