Hình tượng người phụ nữ dân tộc thiểu số trong truyện ngắn của Bùi Thị Như Lan
Bùi Thị Như Lan là một nữ nhà văn quân đội hiếm hoi của làng văn dân tộc thiểu số Việt Nam. Thế giới nhân vật trong sáng tác của Bùi Thị Như Lan khá phong phú và toàn diện, bao gồm các thành phần xã hội, các lứa tuổi khác nhau (người lớn, trẻ em, phụ nữ, nam giới, trí thức, nông dân, người lính vùng dân tộc, miền núi…). Nhưng nổi bật và luôn chiếm một tỷ lệ cao trong các sáng tác của nhà văn là 2 loại nhận vật: nhân vật phụ nữ và nhân vật người lính. Tác giả đã dành nhiều tâm huyết, tình cảm của mình để xây dựng hình tượng nhân vật này (trong 8 tập truyện ngắn của chị với 66 truyện thì có đến 60 truyện viết về người phụ nữ và hơn 30 truyện viết về người lính). Và cũng chính những truyện này đã đem lại những thành công đáng ghi nhận trong sự nghiệp sáng tác của chị.
Trong bài viết này, chúng tôi muốn tập trung nói đến hình tượng
nhân vật phụ nữ dân tộc thiểu số (DTTS) trong truyện ngắn của Bùi Thị Như Lan.
Có thể nhận thấy các nhân vật phụ nữ xuất hiện một cách đậm đặc trong các tác
phẩm của nữ nhà văn Tày này với những số phận, những hoàn cảnh khác nhau. Nhưng
có một điểm chung: họ đều là những người phụ nữ miền núi đẹp người, đẹp nết – một
vẻ đẹp tự nhiên, hồn nhiên, một vẻ đẹp khỏe mạnh, phồn thực đầy khả năng làm vợ,
làm mẹ, làm chủ một gia đình miền núi. Nhưng hầu hết, họ lại đều là những người
có số phận vất vả, kém may mắn. Song điều đáng quí ở những người phụ nữ đáng
trân trọng này là: dù luôn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức của cuộc
sống lạc hậu, đói nghèo, đầy bất trắc… nhưng họ chưa bao giờ mất đi niềm tin
vào cuộc sống, họ vẫn luôn cố vượt qua, vươn lên với mong muốn, khát vọng về một
cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn.
Một đặc điểm nổi bật về nghệ thuật miêu tả vẻ đẹp (cả ngoại
hình lẫn nội tâm) những người phụ nữ miền núi của tác giả Bùi Thị Như Lan là:
Chị thường lấy vẻ đẹp tươi tắn, rực rỡ, trong trẻo, mát lành… của thiên nhiên
núi rừng để so sánh, ví von với vẻ đẹp của họ. Vì vậy, hình ảnh những người phụ
nữ trong tác phẩm của chị thường được hiện lên với vẻ đẹp rất tự nhiên, gần
gũi, bình dị, thậm chí còn mang vẻ hoang dã – nhưng cũng rất rực rỡ, tươi tắn,
ngọt ngào và đầy sức hấp dẫn. Ví dụ như: vẻ đẹp của cô Xay (truyện Bạn Toồng):
“Xay đẹp, cái đẹp tỏa ra từ dáng người giống như con ong, đến làn da trắng như
mầu bột nếp”; vẻ đẹp của Seo Mây (Hoa mía): “Seo Mây đẹp như con chim công, đẹp
cả bộ lông lẫn tiếng hót. Cái miệng của Seo Mây hút hồn ông từ mùa mía này đến
mùa mía khác”; vẻ đẹp của cô Dín (Ngày mé trở về): “nước da Dín mịn màng, trắng
như hoa mơ, hoa mận đến độ nở rộ… khi cười Dín khoe hàm răng trắng đều như bắp
nếp để lại trên má hai đồng xu duyên dáng, mặn mà”; hay vẻ đẹp của Mé Ngần
(Trăng mọc trong thung lũng): “Đôi mắt mé to đen, trong vắt như nước hồ Nặm Poọc.
Mái tóc đen mượt, óng ả, ôm lấy tấm lưng ong mềm mại. Khi gội đầu, tóc xõa ra,
dài như dòng suối Lùng cuối bản”…
Đặc biệt, Bùi Thị Như Lan thường nhấn mạnh đến “vẻ đẹp bên
trong” của người phụ nữ miền núi – một vẻ đẹp “bền vững” trước thời gian, ẩn chứa
trong tâm hồn, trái tim và đôi tay của người phụ nữ. Họ là những người mẹ, người
vợ, người thiếu nữ vùng sơn cước giầu lòng yêu thương, giầu đức hy sinh, chăm
chỉ, nhẫn nhịn, lo toan mọi công việc gia đình từ trong bếp lửa đến ngoài nương
rẫy. Họ luôn tay, luôn chân lên rừng, xuống suối bắt cá, tìm lá nhuộm sợi, dệt
vải, thêu hoa… làm chăn, làm gối, làm áo… cho cả gia đình. Họ là chủ các bếp
trong những ngôi nhà sàn, là chủ nương rẫy (gieo hạt, tỉa lúa, vun cây, gặt
hái, gùi ngô, gùi lúa cùng sắn, khoai, rau, bí… về nhà). Bàn tay khéo léo, tài
hoa của họ đã tạo nên những “bức tranh” nghệ thuật đầy bản sắc văn hóa tộc người:
“Mẹ lên rừng tìm lá cây, nhuộm sợi nhiều mầu đựng đầy các quẩy tấu. Mẹ dệt con
hươu, con nai, con chim noộc só uống nước suối Nậm Só; Mẹ dệt con gấu ngồi trên
cây tìm mật ong, mẹ dệt hình ông mặt trời, chị mặt trăng đậu trên ngọn núi Phia
Sao và cả hình người cưỡi ngựa đi săn ở trong rừng” (Núi đợi). Họ như “con ong
cần mẫn”, ngày đêm chăm chỉ để có những “nương ngô xanh mướt mát, mập mạp rủ
nhau trổ cờ, tung phấn trồi bắp mẹ, bắp con. Lúa nặng trĩu bông, trĩu hạt từ gốc
lên ngọn đến độ vàng óng chụm đầu vào nhau, lắc lư theo điệu nhảy của ngọn gió
rừng, dắt tay nhau về búi chặt xà ngang xà dọc” (Ngày mé trở về).
Những người phụ nữ ấy không chỉ đảm đang, khéo tay, chăm chỉ
– mà ở nơi họ còn ngời lên những phẩm chất cao quí – đó là lòng thủy chung, là
tình yêu say đắm, nồng nàn đầy sự hy sinh; là sự dũng cảm vượt qua mọi rào cản
của mọi tục lệ cổ hủ, mọi thử thách… để đến với tình yêu, để được yêu, gìn giữ
và bảo vệ tình yêu. Hầu hết các nhân vật phụ nữ trong tác phẩm của Bùi Thị Như
Lan đều là những người có chồng, có người yêu hoặc có con, có em là bộ đội (đây
cũng là một đặc điểm riêng trong sáng tác của nữ nhà văn quân đội này). Vì vậy,
trong đời sống tình cảm, đời sống gia đình – họ luôn phải đối mặt với những khó
khăn, thiệt thòi, đầy thử thách và khổ đau nhưng cũng đầy niềm tự hào, đầy sự tự
nguyện. Họ sẵn sàng hy sinh hết thẩy (cả tuổi trẻ, nhan sắc và đôi khi cả lòng
tự trọng và danh dự của mình) đề gìn giữ, bảo vệ, để yêu thương, chăm sóc chồng,
con trước “búa rìu” dư luận, trước sự phũ phàng của cuộc sống. Hình ảnh người mẹ
trẻ trung xinh đẹp có một tình yêu nồng cháy với một người trai bản nhưng sớm gặp
nỗi bất hạnh khi chưa kịp chính thức làm dâu họ Hoàng thì anh đi bộ đội và đã
hy sinh ở chiến trường – khiến cho người đọc phải xa xót, thương cảm và có cả một
phần nể phục. Người mẹ trẻ cứ lặng lẽ nuôi con trong sự từ chối nhận dâu, nhận
cháu của gia tộc họ Hoàng; trong sự xì xầm, chê cười, hắt hủi của bản làng, người
thân, nhưng người mẹ trẻ ấy không bi lụy, chị tin ở tình yêu nồng nàn, say đắm
của mình và tin anh sẽ trở về với mẹ con chị. Hai mươi năm sau, con trai chị đã
thi đậu vào trường Sĩ quan Chính trị, và rồi chính cậu con trai hiếu thảo đó đã
đi tìm và mang hài cốt người cha về quê hương để người mẹ giầu đức hy sinh và một
lòng chung thủy được gần gũi, được chăm sóc phần mộ của chồng sau bao năm đợi
chờ xa cách (Hoa gắm). Hình ảnh chị Ngải (Mùa mắc mật) – người chị yêu thương
em hết mực, đã thay cha (đi bộ đội hy sinh), mẹ (buồn đau, bệnh tật mất sớm)
nuôi nấng, chăm sóc em ăn học nên người dù phải ăn đói, mặc rét, dù phải quên
đi cả tuổi xuân, cả hạnh phúc của riêng mình. Chỉ đến khi người em trai đi vào
học trường Thiếu sinh quân, chị mới có thể nghĩ đến người con trai trong bản đã
thầm yêu chị, chờ đợi chị từ lâu…; cùng bao hình ảnh những người vợ bộ đội, những
người mẹ bộ đội (trong các truyện: Cọn nước đôi, Cây thiêng trong lũng núi,
Trăng mọc trong thung lũng, Gió thổi qua rừng, Mây trôi…) của Bùi Thị Như Lan
luôn khiến người đọc rung động và rưng rưng niềm cảm xúc.
Có một điều đáng trân trọng ở những người phụ nữ miền núi này
là: Cho dù có vất vả hy sinh, có số phận không may mắn, thậm chí còn gặp bao cảnh
ngộ phũ phàng nhưng họ không bao giờ đầu hàng số phận, không bao giờ yếu đuối,
nhu nhược, hoặc u uất tìm đến cái chết để trốn chạy khỏi hoàn cảnh khó khăn
cùng những bi kịch của cuộc đời. Có lẽ đây cũng là một nét đặc trưng “chất
lính” của cây bút nữ quân đội Bùi Thị Như Lan chăng?
Những người mẹ trẻ (trong Chiếc vòng bạc hình đôi chim Noộc
Phầy, Hoa gắm và Trăng mọc trong thung lũng…) đã trao tặng tình yêu nồng nàn,
say đắm của mình cho người yêu, cho người chồng tương lai trước khi anh lên đường
nhập ngũ. Rồi khi các anh hy sinh, hoặc trở về với một cơ thể không lành lặn –
sau suốt thời gian đằng đẵng đợi chờ, đằng đẵng nhớ thương, đằng đẵng nuôi con
một mình, trong sự chê trách, phê phán, ghẻ lạnh của cả người trong gia đình và
người trong làng bản, nhưng những người mẹ trẻ ấy vẫn kiên cường, vượt qua bao
khó khăn, thiếu thốn, vượt qua nỗi cô đơn… – “Tôi nhận ra sự thiếu vắng đàn ông
trong ngôi nhà của mình… máng dẫn nước từ đầu nguồn về cây đổ xiêu vẹo, tạm bợ.
Cái chuồng ngựa xộc xệch tưởng chừng như một cơn gió chạy qua là đổ ụp xuống…
Trong nhà đã khổ rồi, nhưng đối với người cùng họ hay người trong bản cái khổ mế
tôi cõng trên lưng dường như nặng gấp trăm ngàn lần” – để nuôi nấng, dạy dỗ con
nên người, trở thành những người lính nối tiếp bước chân của cha. Người mẹ cứ
hàng năm đến mùa ngô nếp mẩy hạt đều chọn một bắp non ngon nhất, mẩy nhất, cho
lên bếp nướng vàng, thơm phức, đặt lên bàn thờ (bởi vì đây là món ăn mà chồng của
mẹ thích nhất), và “quì ở đó rất lâu, miệng lẩm bẩm trò chuyện”, rồi “mùa bắp
này qua mùa bắp khác, đôi thạ đựng đầy bắp non khô hút hơi bồ hóng đen óng như
tóc người con gái, cao dần lên”… Trời như thấu hiểu lòng người, chồng của mẹ vẫn
còn sống sau chiến tranh khốc liệt, mẹ như “hồi sinh”: “Mế đứng dậy từ lúc nào,
bỏ bắp ngô nướng trên bàn thờ xuống, với tay lấy cây đàn tính so dây” (Chiếc
vòng bạc hình đôi chim Noộc Phầy). Hình ảnh Mế Ngần (Trăng mọc trong thung
lũng) một tay nuôi cả 3 đứa con nhỏ (con của anh rể đã hy sinh, chị gái mất sớm
– và con của mình) khi chúng còn đang ở tuổi bú mớm: “ngày ngày dì ôm tôi đi khắp
bản xin sữa… Dì Ngần héo hắt đi để chị em tôi phổng phao, lớn lên trong vòng
tay yêu thương của dì. (…) Dì đã đảm đương tất cả, gánh vác phần việc của người
mẹ và đảm đương nỗi lo của người cha. Cuộc sống hàng ngày với bao vất vả, nhọc
nhằn, lam lũ, nghèo khổ. Có bao thứ ngon miếng ngọt đều dành hết cho con, còn lại
bao nhọc nhằn, gian khổ – dì đều gánh trọn vẹn trên đôi vai của mình”… là những
hình ảnh đẹp – vẻ đẹp của sự hy sinh, vẻ đẹp của trái tim và tình yêu của những
người phụ nữ miền núi trong những giai đoạn khó khăn, gian khổ nhất của đất nước.
Tác giả Bùi Thị Như Lan không có ý cố gắng “tô hồng”, hoặc “bi kịch hóa” cuộc đời
và số phận của những người phụ nữ là người yêu, là vợ, là mẹ của những người
chiến sỹ. Họ là những con người bình thường nhưng cũng thật vĩ đại, họ đối mặt
và âm thầm vượt qua bao khó khăn, thử thách, bao chông gai… của cuộc sống nơi
miền núi cao còn nhiều thiếu thốn, đói nghèo và lạc hậu. Những đứa con của họ,
dù có vắng thiếu cha, nhưng với sự yêu thương đùm bọc, sự dạy dỗ vừa nghiêm khắc
vừa tràn đầy tình thương của họ – chúng đã lớn lên một cách mạnh mẽ như những
cây nghiến, cây lim trên rừng núi quê hương. Và phần lớn chúng đã trở thành những
người con trai, con gái có tri thức (giáo viên, kỹ sư, cán bộ lâm nghiệp, nông
nghiệp…), trở thành những người lính trong thời đại mới (học trường Thiếu sinh
quân, trường Sỹ quan Chính trị) để lại tiếp nối sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của thế
hệ ông cha mình. Đọc những tác phẩm viết về số phận và cuộc đời của những người
phụ nữ miền núi của Bùi Thị Như Lan – trong sâu thẳm trái tim mình, tôi mong muốn
Đảng và Nhà nước cũng như đồng bào các dân tộc thiểu số sẽ dựng lên một tượng
đài Bà mẹ miền núi như tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng ở một số vùng miền xuôi
khác trên đất nước ta – bởi sự hy sinh thầm lặng mà vĩ đại của những người mẹ
miền núi trong suốt chiều dài lịch sử các cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc.
Vốn là một người phụ nữ DTTS, lại là một người lính, là nhà văn, nhà báo quân đội khu vực miền núi – Bùi Thị Như Lan đã có một sự am hiểu sâu sắc về con người và môi trường sống ở vùng cao, bên cạnh đó là sự tâm huyết đối với đề tài viết về người phụ nữ nên nữ nhà văn dân tộc Tày đã rất thành công trong việc xây dựng hình tượng nhân vật phụ nữ trong quá trình sáng tác của mình. Nói một cách khác, qua ngòi bút của Bùi Thị Như Lan hình tượng người phụ nữ vùng cao (đặc biệt là những người mẹ, người vợ lính) đã được hiện lên với tất cả những vẻ đẹp (về cả hình thức lẫn tâm hồn) cùng những nỗi niềm, những thân phận, những hoàn cảnh… mà họ đã phải đối diện, vượt qua trong sự nỗ lực hết mình, hy sinh hết mình… để có thể làm chỗ dựa, làm tổ ấm, làm hậu phương vững chắc cho những người lính ở chiến trường. Cũng chính vì những giá trị về nghệ thuật và ý nghĩa về tư tưởng ấy ở hình tượng nhân vật này mà tác giả Bùi Thị Như Lan đã tạo nên một nét đặc sắc riêng, đã có một đóng góp riêng đáng trân trọng đối với văn xuôi Thái Nguyên nói riêng, với văn học các DTTS Việt Nam nói chung thời kỳ đầu thế kỷ XX.
18/11/2020
Trần Thị Việt Trung
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét