Một góc nhìn chiến tranh của Văn Xương
Sau sáu năm (kể từ 2002) nhà văn Cao Hạnh được kết nạp
vào Hội Nhà văn Việt Nam, (cuối năm 2008); Hội Văn học nghệ thuật Quảng Trị mới
có thêm một nhà văn được kết nạp. Đó là Văn Xương.
Văn Xương tên thật là Văn Bốn. Anh chính thức cầm bút chưa đầy chục năm nhưng sức viết khá mạnh, đã cho ra đời 2 tập truyện “Hoa gạo đỏ bên sông” NXB Hội Nhà văn năm 2006 và “Hồn trầm” NXB Lao động năm 2008.
Văn Xương là cựu chiến binh, hiện đang là cán bộ dân sự nhưng
có thể nói anh là “Nhà văn quân đội” viết về đề tài chiến tranh, đề tài người
lính là chủ yếu. Ký ức về chiến tranh, di hoạ của chiến tranh luôn ám ảnh không
nguôi trong anh. Sống trên mảnh đất Quảng Trị một thời máu lửa ác liệt nhất đất
nước, có dòng sông Hiền Lương và vĩ tuyến 17 chia đôi Tổ quốc suốt 21 năm, đi
đâu cũng bắt gặp những địa danh gắn liền với những chiến công oai hùng, lừng lẫy:
đường 9 Khe Sanh, Thành Cổ, Cửa Việt, Gio Linh, Dốc Miếu,… Chiến tranh đã để lại
ở đây 72 nghĩa trang, hàng chục ngàn người bị chất độc da cam đang quằn quại về
thể xác, và nỗi đau mất mát đến tột cùng. Vẫn còn đó dưới lòng đất vô vàn vật
liệu nổ, hàng ngày gây chết chóc cho con người và có thể cả trăm năm sau chưa
thể tháo gỡ hết. Bởi vậy cây bút Văn Xương đặt xuống trang giấy là không khí
chiến tranh và nỗi đau sau cuộc chiến. Chiến tranh đã được Văn Xương biểu hiện ở
đỉnh cao của sự gây cấn, quyết liệt, sự đối đầu của hai phía, một mất một còn.
Khốc liệt ở chiến trường, khốc liệt ở hậu phương, len tới từng gia đình, từng
ngõ ngách đời sống. Nhân vật của anh là những người lính cầm súng, là chiến sĩ
lái xe, các cô TNXP mở đường, là người mẹ, người em gái ở hậu phương… Văn Xương
nhìn chiến tranh ở một diện rộng. Từ tiền tuyến đến hậu phương, phía ta và phía
địch, thời chiến và thời hậu chiến.
Đa phần những tác phẩm viết về chiến tranh của Văn Xương là
những “bài thơ tình” thời chiến bằng văn xuôi. Cuộc đời và phong cách sống của
Văn Xương in khá đậm nét trong văn chương của anh. Trong lời giới thiệu tập
“Hoa gạo đỏ bên sông” nhà văn Cao Hạnh có nhận xét: “Trông anh bảnh bao như
chàng thư sinh, hay nói, hay cười, nét mặt rạng rỡ niềm vui”. Tôi còn thấy Văn
Xương khá đa mang, đa cảm, đôi lúc còn có biểu hiện rất lãng tử. Ngồi trên bãi
biển Cửa Tùng, anh bị hút hồn vì cái màu xanh ngút mắt, cái mênh mang của biển
lớn quên cả thời gian. Khi vui anh hát say sưa như một ca sĩ, khi nâng cốc thì
luôn miệng cười, nói chuyện trên trời dưới biển, tất cả đều là bạn. Đó là bề nổi
của cuộc đời. Phần chìm không phải như thế. Văn Xương đi học phổ thông và nhận
bằng cử nhân trong thân phận một kẻ nghèo, vượt khó, tự lực cánh sinh là chính.
Đã từng bốn năm cầm súng ở biên cương, nơi đầu sóng ngọn gió, vào thời buổi cái
chết có thể chụp xuống đầu bất cứ lúc nào. Trở về đời thường Văn Xương làm rất
nhiều việc khác nhau để cống hiến, để mưu sinh. Đức tính luôn lạc quan, yêu người,
yêu cuộc sống đã cống hiến cho bạn đọc sự bình dị và ngọt ngào trong diễn xuất
và lời văn. Đó là lời người yêu nói với người yêu, mẹ nói với con, đồng đội nói
với nhau. Đó là những đoạn tả dòng sông miền Cỏ May, hồ Thiên Thu, suối bản Tà
Cơn, tả mây trời, hoa cỏ, ráng chiều tím hoàng hôn… Thao thiết đến cháy lòng.
Văn chương ngọt ngào nhưng không phù phiếm. Nội dung của các
truyện chứa đầy những cảnh hy sinh, mất mát, là những hố bom thiêu huỷ cả 10 cô
gái thanh niên xung phong, sự thiếu ăn, thiếu mặc nghiêm trọng của những người
lính Trường Sơn, là những sự ra đi mãi mãi không về, là tượng đài Thành Cổ ngút
ngàn hương khói và nước mắt của những người tới tưởng niệm, là sự vò võ đợi chờ
gần như hoá đá vọng phu… Đọc văn của Văn Xương thấy cái giá của hoà bình đắt
quá, to lớn quá, nỗi đau đeo đẳng dài lâu quá.
Thường thì tiếng đàn bầu, sáo trúc, sáo tre chỉ ngân lên cho
đôi lứa và làng quê thanh bình. Chiến tranh phải là nhịp điệu ầm ầm dữ dội. Văn
Xương có một cách viết sáng tạo, những lời văn gân guốc xen kẽ sự ngọt ngào. Chẳng
khập khiễng tí nào. Trong thực tế, dù quyết liệt bằng mấy cũng có phút bình yên
giữa hai trận đánh. Đó là khoảnh khắc ở Trường Sơn, trên đầu là địch, là bom, bốn
bề là địch, là đạn “Các cô ấy hát. Hát say sưa. Hát với tất cả nỗi lòng… Tôi thổn
thức gục đầu vào lòng anh… Chúng tôi quyện vào với nhau, chìm tan trong nhau”
(Một thời kỷ niệm). Viết về sự hy sinh của các cô gái, những chàng trai chiến
sĩ, về những mối tình vĩnh viễn chia ly, kết thúc vẫn là “Hoàng hôn buông tím
ngát chân trời, gió heo may se sắt thổi, những đám mây tím buồn cuối thu bồng bềnh
trôi, bên kia sông ngẩn ngơ tím một con đò” (Dòng sông miền cỏ may).
Đi qua chiến tranh khá lâu nhìn lại, với vốn sống của chính
mình, với tư tưởng hội nhập, đổi mới của thời đại, tác phẩm của Văn Xương có hậu
và nhân hậu hơn.
Một thời, không ít tác giả nhìn chiến tranh một chiều, một
phía đã đen là đen tuyền, đã đỏ là đỏ rực, không tì vết. Văn Xương có một thời
gian hơn ba mươi năm nhìn lại, chiến tranh và người lính hai phía được miêu tả
chân xác hơn. Trong hàng vạn chiến sĩ cách mạng quyết tử vì Tổ quốc quyết sinh
vẫn có ai đó, ở một thời điểm nào đó run sợ trước cái chết. Ninh đã “lạy trời đừng
có tên con” khi đại đội trưởng gọi 10 đồng chí đánh lô cốt và “bàng hoàng, chết
lặng đi, run run xóc lại khẩu súng” khi nhận nhiệm vụ cầm chắc cái chết (Dòng
sông miền cỏ may). Anh lính bên kia chiến tuyến không chỉ sống đời sống thú vật,
chỉ biết chém giết, đốt phá. Khi cái sự được sống chỉ còn tính bằng phút, người
lính dù ngụy chợt thấy” Bóng má nơi bờ tre, hàng cau đầu ngõ, nơi rặng dừa,
khóm chuối sau vườn… Người lính dù thấy mình bé cỏn con đang nằm gối đầu lên
tay má. Nghe má ru, nghe má thì thào, vỗ về xiết bao hiền dịu, yêu thương mà
cũng chất chứa xiết bao nỗi niềm…” (Hoài vọng).
Tính nhân bản trong tác phẩm của Văn Xương khá đậm đà. Nhiều
nhân vật là con người viết hoa, có tính cộng đồng, thương yêu và đùm bọc lấy
nhau. Linh đã chết thay cho Ninh (Dòng sông miền cỏ may), cô gái đã chết thay
cho người lính trinh sát (Lung linh sóng nước). Dẫu một thời có đối mặt với
nhau, chĩa súng vào nhau, hoà bình rồi, những người chiến thắng xoa dịu vết
thương lòng, cùng nhau chung sống. Thật là cảm động và đẹp đẽ biết bao khi hai
thương binh của hai phe đối địch nâng đỡ nhau rồi ngã. “Họ không ngồi dậy, cứ
thế nằm sóng xoài bên nhau nhìn xuống dòng sông, rồi cùng nhìn lên bầu trời ngời
ngời ánh trăng…”. Đứng trước tượng đài Thành Cổ “hai chiếc nạng gỗ được bỏ về
hai phía, họ đứng sát nhau, kề vai nhau, cùng chắp tay thành kính trong khói
hương ngút bay. Bóng họ như hoà làm một dưới ráng chiều của hoàng hôn đỏ thẫm”
(Đối mặt thời gian). Vốn sống, sự từng trải, tư duy có độ chín của Văn Xương đã
tiếp cận được truyền thống nhân ái của dân tộc “đánh kẻ chạy đi, ai đánh kẻ chạy
lại; bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Đó
cũng là quan điểm phù hợp với xu hướng lớn nhất của thời đại, chung sống hoà
bình, thương yêu và cứu trợ lẫn nhau.
Cách kết thúc trong nhiều chuyện của Văn Xương làm người đọc
nhớ lại cái hậu của cổ tích và văn nôm khuyết danh “Tống trân cúc hoa”, “Phạm
công cúc hoa”, “Tấm cám…”. Người hiền, người trung thực dẫu chết đi vẫn được biến
thành quả thị rồi từ đó lại bước ra rực rỡ trong tâm tưởng mọi người.
Văn Xương không viết truyện theo cách truyền thống, hoặc theo
trật tự thời gian, hoặc theo trật tự không gian: từ gần tới xa hoặc ngược lại.
Thời gian của truyện được thể hiện theo hoài niệm “nhớ đâu nói đấy”, hoặc theo
ngôn ngữ và sự xuất hiện của nhân vật “Chuyện của ai người ấy kể”. Không gian
nhiều khi được miêu tả cặn kẽ làm nền cho sự phát triển của truyện, nhiều khi
chỉ tả điểm xuyết, minh hoạ, bổ sung. Những yếu tố bịa bao giờ cũng được bay bổng
từ nền hiện thực khiến người đọc luôn tưởng rằng: ông ấy đang kể chuyện ông ấy
đã từng chứng kiến. Những yếu tố huyền thoại cũng mạnh dạn được đưa vào. Đấy là
những nàng tiên thiên nga và chiếc hồ thần thoại, là chiếc lá khô lộc vừng biết
bay theo gió để chỉ hài cốt liệt sĩ… Yếu tố huyền thoại không nhiều, hình như
Văn Xương đang thể nghiệm để thăm dò hiệu quả nhưng cũng phải nói rằng đó là sự
thể nghiệm thành công, huyền thoại đúng chỗ và phù hợp làm tăng chất thơ trong
truyện, gia tăng sự tưởng tượng bay bổng của người đọc, giảm sự căng thẳng mỗi
khi mâu thuẫn đạt đến đỉnh cao. Yếu tố huyền thoại vì vậy không phù phiếm, làm
mới cách viết.
Là “Nhà văn quân đội”, Văn Xương còn là “Nhà văn Quảng Trị”
nhiều nhân vật của anh sống và hoạt động ở những địa danh thực của Quảng Trị.
Trong văn của anh, tên sông, tên núi, tên làng của Quảng Trị luôn được nhắc đến.
Ngôn ngữ trọ trẹ, mộc mạc răng, tê, mô, rứa, dẫu ở xa mà đọc vẫn biết là người
quê mình. Trong một bài tuỳ bút nổi tiếng của nhà văn Nga Ilia Urenbua viết
trong thời chống phát xít Đức có câu: “lòng yêu nhà trở thành lòng yêu Tổ Quốc…”.
Ở đây, lòng yêu nước của Văn Xương bắt nguồn từ lòng yêu đất, nước và con người
Quảng Trị. Văn Xương đã chọn đúng cho mình một mảnh đất anh hiểu và gắn bó như
máu thịt của chính mình. Vì vậy văn chương có hồn, có sức sống, bẻ đôi câu văn
thấy có máu chảy bên trong.
Nhìn tổng thể, truyện Văn Xương vẫn lộ ra vài nhược điểm cần
lưu ý. Văn Xương quá lưu luyến với những ý tưởng, những tình tiết hay, những sự
kiện độc đáo nên đã sử dụng rồi vẫn để nó xuất hiện ở truyện sau, tập sau. Cần
thiết “cắt ái” là việc phải làm.
22/11/2020
Lê Văn Thê
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét