Nông thôn, Nông dân qua thơ Nguyễn Hưng Hải
“Thơ của Nguyễn Hưng Hải là thơ của một ngòi bút chuyên
nghiệp. Tính chuyên nghiệp thể hiện ở chỗ người viết khá chủ động trước tất cả
mọi đề tài, mọi chất liệu của đời sống. Từ những đề tài lớn như Đất nước, lãnh
tụ, nhân dân, lẽ sống…đến những đề tài nhỏ bé như cái cày, cái cuốc, cho đến những
người thân như bố, mẹ, vợ, con vv…đều vào thơ anh một cách tự nhiên, như là thuận
miệng nói ra, vậy mà lại khắc ngay vào trí nhớ, vào lòng bạn đọc…”
Những nhà thơ tài hoa thường đem đến cho bạn đọc những khoái cảm thẩm mĩ qua thơ của họ; những vần thơ thân thuộc mà mới lạ, vừa có tính phát hiện lại vừa như sự kiểm chứng lật soi lại các chân giá trị, đánh thức và cảnh tỉnh sự “ngủ quên” của ký ức, đẩy lên cao trào những khát vọng buồn và đẹp nhằm vươn tới sự hoàn thiện của văn hóa và nhân cách. Đó cũng có thể coi là một sự “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Nguyễn Hưng Hải là một trong số ít những nhà thơ như thế.
Giáp điểm cao nhất với cái đẹp là giáp điểm với cái Chân, cái
Thiện. Vì thế thơ Hải luôn hướng tới những vấn đề thế sự. Thế sự qua tập
thơ “Sông sâu biết lội, gốc quê biết tìm” là sự biểu đạt về nông
thôn, nông dân. Chữ làng được nói đến trên 50 lần. Cánh đồng, cây lúa, cây ngô,
con trâu, đường bừa, hớp nước vối, điếu thuốc lào, rau muống luộc, quả cà dưa…
là những thi liệu sinh động, với nhiều trở trăn, day dứt góp phần làm nên sức hấp
dẫn của tập thơ. Với đề tài thế sự, nhà thơ thoải mái lật mở những che đậy, chất
vấn mọi hành vi, soi chiếu mọi giá trị. Đọc chậm và kỹ “Sông sâu biết lội,
gốc quê biết tìm” càng thấm thía câu nói của thần đồng thơ nước Việt Trần
Đăng Khoa, thơ hay là thơ giản dị, sâu sắc và ám ảnh.
Đúng như Nhà lý luận phê bình văn học Lê Thành Nghị nhận
xét: “Thơ của Nguyễn Hưng Hải là thơ của một ngòi bút chuyên nghiệp. Tính
chuyên nghiệp thể hiện ở chỗ người viết khá chủ động trước tất cả mọi đề tài, mọi
chất liệu của đời sống. Từ những đề tài lớn như Đất nước, lãnh tụ, nhân dân, lẽ
sống…đến những đề tài nhỏ bé như cái cày, cái cuốc, cho đến những người thân
như bố, mẹ, vợ, con vv…đều vào thơ anh một cách tự nhiên, như là thuận miệng
nói ra, vậy mà lại khắc ngay vào trí nhớ, vào lòng bạn đọc. Phải nói luyện rèn
cho ngòi bút có một phẩm chất sẵn sàng phủ sóng thơ lên toàn bộ những biểu hiện
của đời sống không nề hà như vậy là một bản lĩnh nghề nghiệp”. Cùng với sự
thành công ở cả thơ và trường ca viết về Đảng, Bác Hồ, Người lính và chiến
tranh cách mạng, ở mảng đề tài nông nghiệp, nông thôn, qua tập thơ “Sông
sâu biết lội, gốc quê biết tìm” thêm một lần nữa khẳng định, Nguyễn Hưng Hải
đã chọn đúng “một lối đi cốt chuộng sự thanh đạm, không cốt chuộng giàu
sang, lối đi không phù hợp với những kiểu sống thực dụng, một lối đi mà ai dấn
thân đều không khỏi cảm thấy vui đấy rồi buồn đấy, buồn nhiều hơn vui, hoặc vui
thì thoáng qua còn buồn thì như khắc như chạm. Ngòi bút của anh khá trơn, khá
nhanh, rất ăn mực, diễn đạt được hết những gì mình nghĩ, bày tỏ được những
tâm sự cho dù có lúc rất riêng tư. Ngòi bút ấy trượt trên giấy hệt như đường
cày theo sau con trâu, vượt hết những vấp váp của đá sỏi, cốt để xới lật tất cả
những bí mật của lớp đất nâu, làm phơi bày những gì anh cần nói, cần thông tin
đến mọi người”. Thơ anh như đường cày mới đánh thức mùa vụ, đánh thức sự ngủ
quên của cánh-đồng-ngôn-ngữ và cánh-đồng-người. Không phải đến “Sông sâu
biết lội, gốc quê biết tìm” mới rõ một hướng đi, mà ngay từ khi mới xuất
hiện Nguyễn Hưng Hải đã sở hữu một giọng thơ đôn hậu, đằm thắm, giàu chất dân
gian, anh thường nghiêng bút chủ âm về ba mạch nguồn cảm xúc chính. Một là cảm
xúc về cội nguồn, về quê hương, Đất nước và những người thương yêu ruột thịt.
Hai là cảm xúc thế sự và lật soi các giá trị. Ba là viết về Đảng, Bác Hồ, viết
về Người lính và chiến tranh cách mạng. Ở mảng đề tài nào Nguyễn Hưng Hải cũng
gặt hái được thành công. Nhưng có lẽ mạch nguồn chủ đạo trong thơ anh vẫn là cảm
xúc cội nguồn. Dấu ấn làng quê trong thơ Nguyễn Hưng Hải đậm đặc đến mức, có thể
ví như trưng cất của rượu cẩm, của mật ong rừng vùng Thanh Sơn, Yên Lập. Từ lũy
tre xanh, cánh đồng, con trâu, cây đa làng đến sông Bứa, sông Thao, từ những
người nông dân lam lũ như cha, mẹ đến những trí thức làng, kể cả tổ chức chính
trị-xã hội như “Chi bộ xóm tôi” đều có mặt trong thơ Nguyễn Hưng Hải.
Có cảm giác như “Sông sâu biết lội, gốc quê biết tìm” của Nguyễn Hưng
Hải là một tượng đài bằng thơ được khắc họa một cách tinh tế và sinh động, đầy
nhân văn, nhân bản về làng quê Việt Nam xưa và nay. Tập thơ mang đậm dấu ấn thổ
ngữ vùng trung du Phú Thọ, với hàng loạt bài thơ có địa danh, không gian nông
thôn và văn hóa cội nguồn miền đất Tổ, khiến người đọc như được tắm mình trong
đời sống nông thôn và văn hóa làng xã của vùng Kinh đô Văn Lang xưa. Nói như Trần
Quang Quý, thơ Nguyễn Hưng Hải thấm đẫm hồn quê và cảm xúc về quê hương là mối
quan tâm sâu sắc nhất, máu thịt nhất trong đời thơ khá đa diện những mối quan
tâm của anh. Nguyễn Hưng Hải đã lập được “căn cước” cho thơ mình ngay
từ tập thơ đầu tay, tập “Ban mai chóng mặt. “Sông sâu biết lội, gốc quê biết
tìm” vẫn là sự tiếp nối ấy nhưng trầm lắng và sâu sắc hơn. Trước hết vẫn
là một Nguyễn Hưng Hải của vùng đất mà anh thuộc về nó. Nó luôn như tiếng gọi
thảng thốt, từ trong cõi nhớ thương chắt ra. Ở đó có “Chiếc mũ rơm bện cả
cánh đồng”, có những trang sách cháy, “Chú dế mèn phiêu lưu trong bao
diêm” với đầy kỷ niệm về tuổi thơ. Cùng với những người thương yêu ruột thịt
hình ảnh trung tâm trong tập thơ “Sông sâu biết lội, gốc quê biết tìm” vẫn
là hình ảnh về mẹ, người mẹ đại diện cho thân phận người phụ nữ nông thôn những
năm tháng cực nhọc cơ hàn dai dẳng rất điển hình của nông thôn Bắc bộ “Ngày
cùng tháng tận bao năm/Còn lo manh áo, cái ăn xuân về/Bao người như mẹ ở
quê/Chiều ba mươi vẫn nón mê ra đồng”. Những câu thơ hay viết về mẹ của Nguyễn
Hưng Hải luôn có xu hướng bật khỏi bài thơ, tách khỏi tứ toàn bài, riêng đứng
làm thành một thành ngữ. Câu này là một ví dụ: “Cả đời cúi mặt chưa xong/
Mẹ đi lui đến lưng còng còn lui” Thêm một câu khác “Chiều ba mươi Tết
ở quê/Mẹ còn chân vấp nón mê ra đồng”.
Không chỉ có những câu thơ hay mà Nguyễn Hưng Hải có rất nhiều
bài thơ hay viết về mẹ, điển hình như các bài “Chân dung của Mẹ”, “Chiều
ba mươi Tết”, “Mẹ ra phố”, “Có một Điện Biên không nói cho ai biết”… Có lẽ vì
thế mà chỉ cần đọc những bài thơ viết về mẹ của anh cũng đủ để hình dung ra một
nông thôn Bắc bộ lam lũ đầy bất trắc nhưng cũng là nơi yên ổn để chúng ta
đi về. Nghĩ về mẹ, Nguyễn Hưng Hải thường cật vấn và day dứt “Lam lũ cả đời/Cóp
nhặt cả đời/Không mua nổi chiếc đài nghe thời tiết/Các con thiếu có bao giờ mẹ
tiếc/ Các con thừa mẹ vẫn nón mê thôi”. Cũng như khi viết về mẹ, Nguyễn
Hưng Hải có những câu thơ viết về cha thật cảm động, “Cha đã đi đường cày
thứ bao nhiêu/Con trâu già lõm bõm/Kéo mua đông run rẩy lâm lem bùn” Và
anh đã khắc họa khá thành công chân dung người nông dân qua hình ảnh người cha
thân thương của mình “Đi ngủ nhiều khi vẫn xắn quần/Cánh tay hằn lõm
trán/Cha tôi”. Người cha nông dân như con trâu già lõm bõm kéo mùa đông
run rẩy lấm lem bùn ấy đã nuôi anh lớn lên, cho anh ăn học trưởng thành. Anh viết
về cha mẹ như một sự trả ơn, cũng là sự trả ơn cho cả vùng đất đã sinh thành.
Xưa nay, thơ viết về bố vợ không nhiều, đến lượt mình, Nguyễn Hưng Hải có bài
thơ “Khóc bố vợ”, đọc lên cứ rưng rưng. Kết thúc bài thơ ấy là nỗi
đau của cả kiếp người “Nghĩa địa đông vui mà cô đơn nỗi lòng/Cha nằm lại với
những gì không biết/Nếu có thật cuộc đời sau cái chết/Cha hãy tìm gặp mẹ kiếp
sau vui”. Mong sao cái kiếp sau ấy, đừng buồn như một kiếp làm nông dân nữa. Bởi
người nông dân cả đời cúi mặt xuống bùn mà đâu đã có đủ bát cơm, manh áo, đêm đến
họ vẫn phải đạp xe vào phố, bới nhặt trong từng thùng rác, để chỉ những
mong “Nhặt được ngày lên”. Không đau sao được khi viết về những người
nông dân như thế, Nguyễn Hưng Hải cho chúng ta một thông điệp ứa nước mắt “Đồ
thải của người này lại nuôi sống người kia/Đêm của người này là ban mai của người
khác/ Chị bới nhặt được gì trong ôi thiu của một ngày quay đi còn nhổ khạc…/Cái
nón trắng đêm đêm loạng choạng dưới đèn đường”.
Có lẽ đó cũng là loạng choạng của cả một thời.
Đọc “Sông sâu biết lội, gốc quê biết tìm” tôi thấy
như chính mình là người có lỗi với quê hương, với những người nông dân hai
sương một nắng, có lỗi như người trí thức trở về quê để xả thân làng “Hình
như là chất xám vẫn đâu đây/Trong hãnh diện cả làng mơ chất xám/Bao hứa hẹn trống
như câu trống lảng/Gọi trí thức về mà hỏi cái vung tay”. Bão gió của trời đã sợ,
bão gió của lòng người còn khủng khiếp hơn, khi mà “Buồn là hoa, đau là
bình/Kẻ ngăn phía trước, người rình phía sau”. Dặn con cũng như là
nhắc chính mình “Nhớ mang nón mũ che đầu/Đường xa lắm nỗi mồm trâu
mõm bò”. Sống trong sự đố kỵ gen gét ấy rất cần nghị lực và cảnh giác “Núi
cao trước mặt đừng ghê/Sông sâu biết lội’ gốc quê biết tìm/Đừng mang hết cả quả
tim/Trao cho ai lúc nửa tin nửa ngờ”. Nửa tin nửa ngờ nhưng vẫn cứ phải
tin, vì ở đấy còn có “Chi bộ xóm”, có cha ngồi họp trong chua xót, bi
hài “Chi bộ xóm toàn anh em chú bác/Dễ cho qua nguyên tắc dễ xuôi chiều/Cuộc
họp nào cũng kiểm điểm, cũng nêu/Sao chưa hết đói nghèo con thất học/ Tuổi thơ
tôi dưới bóng tre còi cọc/Nấp sau nhà nghe họp cứ buồn theo/ Xóm làng đông sao
chi bộ lèo tèo/Tranh nhau nói mà không ai chịu hiểu/Chi bộ họp trong hơi men rượu/Nói
đâu toàn chuyện ở trên giời/Trong mái nhà lợp cọ có cha tôi/Từng chạy chỗ vì
mưa rơi ướt mặt/Chân lấm đất mà lơ mơ về đất/Cây con gì ai nói cũng chung
chung/Nghị quyết được mùa mà đồng trắng nước trong/Chi bộ họp để cho xong việc
họp. Bi hài hơn còn ở chỗ “Chức Bí thư cũng gần như cắt lượt/Chẳng ai
mơ chức tước xóm dân cày/Qua rất nhiều biểu quyết, lắm giơ tay/Xóm vẫn nát, nhà
Đảng viên vẫn giột”. Đọc những câu thơ này tôi như nghe được từ trong sâu thẳm
quả tim, Nguyễn Hưng Hải đang gióng lên hồi chuông báo động đầy ý thức trách
nhiệm công dân. Có lẽ những chuyện đời nghèo khó, những hệ lụy của lối sống,
môi trường sống… đã tác động rất mạnh đến từng tế bào của xã hội ở nông thôn. Rất
may là người nông dân Phú Thọ còn một làng Cười. Cười để quên đi nghèo đói, bất
công. Cười để còn lạc quan, tin tưởng. Tự “giễu” mình trong tiếng cười cũng là
một cách để “giễu nhại” thời cuộc, để tin vào chính mình, để vượt lên
số phận, hay ít ra cũng là an phận để sống “Làng tôi ở giữa lũy tre
xanh/Đã bịa chuyện để cười cho đỡ đói/Đã bịa chuyện để cười mong qua khỏi/Những
cơn mưa gây rối chẳng ai mời/Cái đã qua còn lại trong đời/Thành huyền thoại một
vùng quê khuyếch khoác…/Cười cho tạnh nỗi lo toan sũng nước/Cười cho hết những
cơn mưa trọc đất/Cười cho mềm sỏi đá để trồng hoa/Cười cho đầy trống vắng những
ngày qua”. Khuyếch khoác cả làng mà không ai lừa nhau. Và tiếng cười
vẫn mãi như là lửa ấm.
Có lẽ cũng chính nhờ tiếng cười ấy mà người nông dân quên đi
nỗi đau và những giọt nước mắt, trụ lại được trong giông bão của thời tiết và
giông bão của lòng người, kết tụ lại thành niềm tin, lối sống, thành khát vọng
nên dù có xô lệch thì làng quê Việt Nam vẫn cấu kết thành một khối sau những
lũy tre làng. Dù khát vọng như con cá hóa Rồng, nhưng vì dòng dõi tổ tiên là kiếp
cá, nên rất nhiều người ra phố ở đã 3 – 4 chục năm, thậm trí đã nhiều đời ở phố
nhưng vẫn cứ như con cá luẩn quẩn ở cái ao nhiều lá tre lá mít, nhiều lông gà,
lông vịt, lông ngan. Đó cũng là điều Nguyễn Hưng Hải cật vấn và day dứt “Thế
mới biết nghìn năm gốc gác tổ tiên/Không dễ cho ta thành kẻ khác/Dù vẫn biết
“Giấc mơ hình chiếc thớt”/Luôn trở về ám ảnh một đời ao”.
Nông dân, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam rồi phải khác.
Nhưng dù có khác thế nào thì cũng vẫn phải giữ lấy những nét đẹp của văn hóa
truyền thống, bởi văn hóa mới là cái gốc của sự tồn tại và phát triển. Cảnh tỉnh
trước mọi sự lai căng, mất gốc trong bài thơ “Mẹ ra phố” Nguyễn Hưng
Hải soi chiếu “Nhớ từ con lợn con gà/Bà về cháu níu chân bà nhìn theo/Con
như rễ bám chân bèo/Giàu sang ở phố mà nghèo ở quê”. Càng giật mình hơn khi đọc
bài thơ “Viết cho con gái” chứa chan tình cảm “Trăm năm họ bố
đâu rồi/Thương con phận gái về chơi nhà mình.” Lấy chồng thì phải theo chồng,
nhưng sao mà thăm thẳm nỗi người “Ở chùa thì được thơm hương/Ở ao nhỡ đục
bố thường lo xa/Từ ngày mẹ đẻ con ra/Vui là của bố buồn là của ai/Thương con
nhiều lúc thở dài/Nhỏ nhờ cha mẹ lớn ngoài tầm tay”. Chính vì “ngoài
tầm tay” mà rơi vào trạng thái “lưỡng cư” tinh thần “Tháng
ngày trong nỗi mông lung/Muốn con mau lớn lại mong từ từ”.Trạng thái này tạo
nên những dùng dằng, muốn thế này lại thế kia, nghĩ thế này lại thế khác, không
chỉ làm cho một người cha đa cảm và giàu lòng nhân ái như Nguyễn Hưng Hải lo lắng
mà hầu hết những người sinh ra ở nông thôn và có gốc gác nông dân đều rơi vào bị
động, lúng túng. Đó cũng là một phần giải mã cho sự dùng dằng, làm lỡ rất nhiều
cơ hội đổi đời của người nông dân Việt Nam.
Như ta biết sức mạnh của nông nghiệp là sức mạnh nền tảng
nhưng nông nghiệp không thể mãi là chủ lực của nền kinh tế hội nhập. Con đường
công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tất yếu. Thành thị và nông thôn không còn khoảng
cách quá xa như xưa. Chỉ tiếc là cuộc sống vật chất được nâng lên nhưng đạo đức
thì lại đang xuống cấp. Nhiều nét đẹp của văn hóa làng xã đã và đang bị
mai một dần đi. Chẳng biết có níu giữ được không khi mà “Mái bằng thay mái
cọ/Trên nền đất ông bà hướng cửa cũng đã thay”. Mọi thứ có thể thay tất nhưng
làm sao thay được cái bếp lửa “Không hiểu sao cha mẹ ngày ngày/Vẫn cứ dậy
từ lúc 4 giờ lo nhóm bếp”. Đó cũng là lý do để tồn tại mỗi gia đình, cũng
như là làng xóm, quốc gia, dân tộc. Từ mặt trái của cơ chế thị trường, tất cả tệ
nạn có ở thành thị thì cũng có ở nông thôn. Tham nhũng. Nạn bán đất của dân để
lấy tiền chia nhau của cán bộ xã khá phổ biến. Nông dân bị thu hồi đất kiếm được
ít tiền nhưng vô nghề nghiệp, ăn hết lại tay trắng. Số phận của họ thành những
bi kịch. Môi trường xã hội và tự nhiên đang bị ô nhiễm. Nông thôn đang cần được
bảo vệ nét đẹp của văn hóa truyền thống. Tập thơ “Sông sâu biết lội, gốc
quê biết tìm” của Nguyễn Hưng Hải vì thế càng trở nên có ý nghĩa trong cuộc
đấu tranh chống thoái hóa, phản nhân tính góp phần xây dựng văn hóa và nhân
cách con người.
Lắng nghe thật sâu tâm thế mình, Nguyễn Hưng Hải đã nghe được tâm thế thời đại và những day trở thế phận của người nông dân và anh đã biết xâu chuỗi những ý tưởng thành tư tưởng, khái quát hóa thành công hình tượng người nông dân Việt Nam cũng như số phận của cả dân tộc với nhiều can dự và tìm tòi phát hiện làm cho tập thơ “Sông sâu biết lội, gốc quê biết tìm” trở nên hấp dẫn từ bài đầu đến bài cuối. Ở các khía cạnh bất ngờ nhất, qua tập thơ này đã đưa anh lên tốp đầu của bình diện thơ thế sự.
19/11/2020
Hồng Trung
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét