Bi kịch đời thường và thân phận
người phụ nữ qua cách nhìn
của
Hoàng Thanh Hương
Đọc “Ngày bình thường trở lại” của nhà văn Hoàng Thanh
Hương, ta bị ám ảnh bởi thân phận những người phụ nữ thời hiện đại trong các
câu chuyện. Những góc khuất, những u ẩn, những nỗi đau không dễ gì bộc bạch
phía sau vẻ ngoài sang trọng, rực rỡ hoặc bình dị, hiền lành của người phụ nữ
được Hoàng Thanh Hương lột tả chân thực, xúc động. Qua cái nhìn của nhà văn, ta
thấy người phụ nữ hiện lên thật đáng thương.
Với 10 truyện ngắn trong tập Truyện ngắn và ký “Ngày bình thường trở lại” (NXB Hà Nội, 2019), Thanh Hương đã xoáy sâu vào nỗi đau của người phụ nữ. Chọn những thiếu phụ, những cô gái sinh sống trong môi trường thành thị với vẻ ngoài cao sang, cô làm nổi bật lên những trái ngang, những uẩn khúc, những đổ vỡ, những niềm tin vô vọng của họ. Cô kể về họ như nói về những người bạn thân nên các câu chuyện giản dị, nhân vật hiện lên rất thật, gần gũi với đời thường.
Nhân vật trung tâm trong các câu chuyện gồm hai dạng. Một là
tuýp phụ nữ hiện đại, sành điệu, ăn chơi, cà phê, quán sá, đa tình, ngoại tình
hoặc làm kẻ thứ ba. Họ thường xinh đẹp nhưng bất hạnh. Có thể nói, đây là bi kịch
người phụ nữ tài sắc trong xã hội hiện đại. Nhìn phong cách của họ, người ta
thường cho rằng họ sung sướng, đủ đầy, được chiều chuộng, chăm bẵm. Song thực tế,
họ lại là những người gặp và chịu đựng nhiều thua thiệt, đau khổ, bất lực trong
đời mà chủ yếu là trong trường tình. Ở kiểu truyện người phụ nữ làm kẻ thứ ba,
nguyên nhân của ngoại tình thường từ phía người chồng. Anh chồng thất thế bất lực,
buông xuôi trước thử thách cuộc sống, trở thành kẻ ăn bám vợ và tự mình đánh mất
ý chí khiến người vợ mất chỗ dựa vào chồng.
Ngày bình thường trở lại – bi kịch không chỉ của người
phụ nữ mà cả ba nhân vật chính đều chịu cảnh thua thiệt, mất mát, trong đó nổi
lên nỗi khổ tâm, sự thua thiệt của Chi. Nhân vật Chi, cô ca sĩ, vợ kỹ sư nông
lâm Tùng gặp cảnh anh chồng mất việc, làm ăn đổ bể, mất ý chí. Chi đem lòng yêu
vị bác sĩ ân nhân giàu lòng nhân ái và tha thiết yêu thương mình, hết lòng cứu
chữa, chăm sóc Chi. Song tình yêu thương, sự bù đắp tinh thần của người bác sĩ
không kéo dài bởi căn bệnh hiểm ác mà bác sĩ mắc phải. Anh chạy trốn khỏi nơi
cư trú để tránh cho Chi khỏi biết bệnh tình của mình. Được người giúp việc báo
tin, vợ chồng Chi đã tìm đến nơi ở mới của anh để thăm anh. Anh ra đi trong
vòng tay Chi, trong nước mắt Chi và người thân. Câu chuyện vừa bi thảm vừa có hậu
khi Chi nhận ra tình yêu cao cả của chồng là chỗ dựa chắc chắn nhất của đời
mình dù giữa họ có rạn nứt, bất đồng, và nàng gắn trách nhiệm mình vào tương
lai những đứa con của người yêu.
Cơn mưa không dừng lại – bi kịch hai người đàn bà yêu
chung một người đàn ông. Người vợ danh chính ngôn thuận không có con, còn cô
gái yêu vụng chồng cô chủ lại mang thai sau lần hai người vụng trộm bị bắt quả
tang. Kết cục người mẹ xa con, người vợ có lại được gia đình êm ấm nhờ thái độ
hối lỗi, biết cư xử và tình yêu đối với vợ của người chồng cùng sự hy sinh tình
mẫu tử của cô gái. Bi kịch dịu lại và nhẹ đi với cuộc sống mới của hai người phụ
nữ: cô gái lấy chồng, mang thai với chồng và người phụ nữ kia bận rộn, hạnh
phúc với đứa con của cô gái – giọt máu của chồng mình.
Đẻ thuê là câu chuyện phản ánh bi kịch của hai người phụ
nữ, một là vợ, một là người tình tồn tại bên người đàn ông trong tư cách người
đẻ thuê. Truyện kết bằng hình dạng đau yếu, giảm trí tuệ trầm trọng của người
đàn ông sau tai nạn và lá thư yêu cầu cô gái đẻ thuê – nhân tình phải tuyệt
tình, trả chồng mình về gia đình của người vợ. Nỗi cảm thương của người đọc được
dấy lên, dành cho cả ba con người trong nghịch cảnh trái ngang.
Mộng du – bi kịch người vợ gặp phải gã chồng nát
rượu và vũ phu. Bi kịch những đứa trẻ hoảng loạn chứng kiến những cơn điên vì
say của bố, chứng kiến và lo sợ trước cảnh mẹ chúng bị hành hạ và chính
chúng cũng là nạn nhân của người cha nát rượu, bạo lực. Bi kịch bạo lực gia
đình không nhiều trong tập truyện nhưng nó đủ làm ta thảng thốt âu lo khi sức
phá hoại của cái xấu, cái ác công phá đến từng gia đình nhỏ. Kết cục, ly hôn là
con đường buộc phải xảy ra, dù đó là bi kịch sau giải thoát.
Đi qua ngày tháng - bi kịch người con gái, người vợ bị
hạ nhục, bị cưỡng đoạt ngay từ gia đình. Mẹ Ngọc bị bố dượng cưỡng dâm từ lúc dậy
thì, bị hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần phải bỏ chạy khỏi nhà. Bố Ngọc đưa tay
ra cứu vớt, đem lại cho bà cuộc sống gia đình nhưng cũng không đem lại cho bà hạnh
phúc trọn vẹn, bởi chính ông cũng bị ám ảnh, không thoát được hình bóng của người
yêu đã mất. Và rồi, bi kịch chồng bi kịch, bà bị mất chồng khi ông xả thân cứu
người chết đuối, trở thành gái góa khi mới 22 tuổi. Bà lấy chồng lần hai
rồi lại bị góa lần hai sau khi tai nạn đổ ập xuống người chồng hiền lành chịu
thương chịu khó. Sau vụ đó, bà biến thành người bất chấp, mở quán bia ôm, tuyển
tiếp viên và quan hệ với người đàn ông phố thị. Ngọc xinh đẹp và có mối tình đẹp
với chàng trai tên Khôi. Để thay đổi thân phận con gái, mẹ Ngọc đã nhờ cậy lão
tình nhân lo cho Ngọc được học nghề. Cô lên phố học chuyên nghiệp, bị lão người
tình của mẹ cưỡng bức, xâm hại. Rồi cô bắt gặp người yêu phản bội mình. Trong
tuyệt vọng, cô chấp nhận cuộc tình với Tiến, người đàn ông đơn giản và thô thiển
đã giúp đỡ mình. Học xong, Ngọc rời bỏ Tiến lên Tây Nguyên tìm việc làm, mở cho
mình hướng đi mới trong tương lai. Ngọc gặp lại bạn học và hứa hẹn một mối tình
mới nhen nhóm. Câu chuyện khép lại trong viễn cảnh tương lai êm đềm của nhân vật
Ngọc nơi vùng đất cao nguyên xa xôi.
Khi yêu là tác phẩm được dựng chủ yếu từ lời thoại. Truyện
hầu như không có cốt. Xâu chuỗi các đoạn đối thoại, độc thoại lại, ta có được
câu chuyện kể về người phụ nữ xinh đẹp, duyên dáng, hết lòng yêu say người đàn
ông không phải của mình, rồi tự mình loay hoay trong nghi ngờ, trong buồn tủi.
Những lúc đau lòng, bất lực lại tìm đến bia, vừa uống vừa “càm ràm” về câu chuyện
tình bế tắc của mình, vừa triết lý về tình yêu, về phận đàn bà bên cô bạn nhà
văn… Rồi nhân vật nhảy sang bứt phá, yêu thực dụng, kiếm tìm cho mình sự thỏa
mãn về tâm lý, về địa vị xã hội, về gu ăn chơi thăm thú với tuyên ngôn: “Gu của
tao phải mác Phó thủ tướng”. Tuy nhiên, những cuộc trốn chạy, bứt phá thường
nhanh chóng kết thúc, người phụ nữ lại trở về với nỗi cô đơn và khát vọng thủy
chung: “Chị uống ngà ngà rồi nói nhẹ như gió thoảng, chị bảo giờ hết mong chờ,
hết tin vào tình yêu rồi, con người thời nay cô đơn quá. Ngồi sát nhau mà lòng
cách xa 4.800 dặm. Cái tình hồi cha mẹ mình sao mà ấm áp chân thành sâu nặng thế
không biết”.
Bóng – câu chuyện đem lại sự xúc động sâu sắc và là tác phẩm khẳng định tài hoa của Thanh Hương. Đề tài về bi kịch của người phụ nữ dường như được đẩy lên đỉnh điểm. Trong cơn mê man của người vợ sau vụ bạo hành dã man của chồng, ký ức như những đoạn phim chắp nối giúp người đọc hình dung ra toàn bộ cuộc sống gia đình, quan hệ xã hội, quan hệ tình cảm và thảm cảnh của nhân vật. Trong truyện này, tác giả không nhập vai vào nhân vật người kể chuyện xuất hiện trong truyện như nhiều truyện khác mà tách hẳn thành người kể giấu mặt. Câu chuyện được kể trong sự mê man, lẫn lộn cảm giác thực và ảo, đan xen giữa ký ức và hiện tại của người vợ. Theo dòng ý thức tồn tại trong cơ thể người phụ nữ mê man nằm cấp cứu trong bệnh viện, từng quãng đời nàng hiện lên, chập chờn, cắt lát. Linh hồn tách ra khỏi cơ thể, tìm đến những kỷ niệm, những gắn bó với cuộc sống của nàng. Người đọc tự chắp nối những mảnh vụn để ghép thành một thân phận, một câu chuyện của người phụ nữ xinh đẹp mà bất hạnh, một bi kịch gia đình tưởng rằng sang giàu mà bỗng chốc trắng tay, một mái nhà tưởng rằng ấm êm bỗng thoắt rơi vào cảnh địa ngục trần gian, trong đó, người vợ trở thành nạn nhân số một, thành cái sọt rác để người chồng trút vào đó sự bế tắc, sự hận thù, sự thô thiển, sự ác độc, sự chán chường và nỗi ân hận. Thương và xót xa, phẫn nộ, mong muốn cho nhân vật được giải thoát, được bảo vệ là cảm xúc của người đọc mà nhà văn gieo vào lòng họ.
Dạng nhân vật thứ hai là phụ nữ quê hiền lành, nhẫn nhịn, vụng
về. Đó là nhân vật Huệ trong “Cơn mưa không dừng lại”, là Mị trong “ Bóng quê”…
Trong Bóng quê – cô gái tên Mị làm nghề du lịch –
yêu Tùng, quản lý khách sạn. Tùng hứa hẹn cưới Mị, rồi Mị có con. Tùng quay ra
hờ hững với mẹ con Mị dù vẫn chu cấp hỗ trợ Mị nuôi con. Rồi anh ta cưới vợ. Mị
vào làm cho một công ty du lịch, gặp phải vị sếp thiếu đứng đắn. Cô bỏ công ty
để về quê với bố mẹ, ôm ấp khát vọng mở mang du lịch quê nhà. Đi cùng cô
là người đàn ông “thông minh, điềm đạm, thương người” đã thầm lặng thương mến,
chở che mẹ con cô nơi phố thị Sài Gòn.
Trong Cơn mưa không dừng lại, Huệ – cô gái nông thôn ra
thành thị làm người giúp việc rồi đem lòng si mê ông chủ. Trong một lần bà chủ
vắng nhà, Huệ đã thỏa nỗi khát khao ân ái với ông chủ lịch thiệp hào hoa khi cô
đánh cảm cho ông. Bị bà chủ bắt gặp, cô bị ghẻ lạnh, bị ghét bỏ. Sự trừng phạt
lớn nhất mà cô không thể chịu đựng nổi là chứng kiến nỗi ân hận của ông chủ trước
vợ ông, sự lảng tránh giáp mặt Huệ của chính ông. Huệ ra khỏi ngôi nhà ông bà
chủ, trở về thôn quê. Rồi cô sinh con, con cô được người vợ ông chủ đem về
nuôi vì bà chủ bị vô sinh. Sự giải thoát đó không làm Huệ nguôi đau đớn mà cô
luôn sống trong tâm trạng nhớ thương đứa con mình, đứa con do mình dứt ruột đẻ
ra mà mình không có quyền nuôi dưỡng.
Thương và yêu nhân vật phụ nữ bị chịu nhiều thua thiệt, nhà
văn thường đem lại cho các nữ nhân vật những cái kết giải thoát. Tuy nhiên, cái
kết này thiên về tình cảm, về sự xoa dịu từ mối tình chân thành của một người
thứ ba. Với người vợ bị bạo hành trong “Bóng”, đó là mối tình của ông chủ khách
sạn; với người phụ nữ “Khi yêu”, đó là một anh chồng Tây xa xôi; với Huệ trong
“Cơn mưa không dừng lại”, đó là người thợ xay cà phê; với Mị trong “Bóng quê”
là người đàn ông luống tuổi bạn của sếp cô; với Ngọc trong “Đi qua ngày tháng”
là cậu chàng bạn học người Tây Nguyên… Cách giải thoát mà tác giả chọn
cho nhân vật chuyển tải một thông điệp: Nỗi đau con tim chỉ có thể dịu lại từ sự
ấm áp của trái tim yêu thương.
Về nghệ thuật kể chuyện, tác giả chọn cách kể nhiều, tả ít,
đa phần kể theo trật tự xuôi, theo diễn biến của câu chuyện. Cách kể này làm
cho câu chuyện liền mạch, dễ hình dung, dễ theo dõi và giúp giải tỏa nhanh
chóng tò mò của người đọc.
Trong các câu chuyện, người kể chuyện luôn xuất hiện trong
nhân vật TÔI. Nhân vật người kể chuyện (tôi) giàu lòng vị tha, hiểu, cảm thông
sâu sắc nhân vật bất hạnh. Ở nhiều truyện kể, nhân vật tôi thấp thoáng bóng
dáng nhà văn. Một trái tim phụ nữ đa cảm, giàu yêu thương, hiểu đời, hiểu người
bộc lộ trong cách kể, trong sự hóa thân vào các câu chuyện. Trong một số truyện,
nhân vật TÔI – người kể chuyện cũng bộc bạch tâm trạng, sự hoài nghi và những dự
cảm không mấy tốt đẹp về chính tình yêu của mình, cùng với đó là áp lực công việc,
là nỗi buồn chán trước ngổn ngang xô bồ đổi thay trắng đen của cuộc sống hiện tại.
Bi kịch bao trùm lên cuộc đời người phụ nữ, khiến thân phận họ trở nên đáng
thương, đáng cảm thông trước thua thiệt, bất công mà xã hội tạo ra, mà những
người đàn ông bên cạnh đem lại cho họ.
Ngôn ngữ giàu triết lý. Tác giả đặt vào ngôn ngữ nhân vật những
câu nói đúc kết, những phát ngôn thời đại. Chẳng hạn, phát ngôn đúc kết nỗi khổ
đàn bà : “Đời đàn bà khổ lắm, cái khổ ấy nhiều khi ngậm đắng nuốt cay một mình.
Cô buồn nỗi buồn của người đàn bà bất lực không thể có đứa con do chính mình
thai nghén, Huệ khổ nỗi khổ của người đàn bà đơn phương yêu chồng người, sinh
con mà không được nuôi con” (độc thoại nhân vật người vợ – Cơn mưa không dừng lại).
– “Đàn bà gì mà cứ sang sảng, miệng cười mà mắt có đuôi buồn
thăm thẳm, mắt thế sướng thế nào nổi.” (Khi yêu).
Cách để nhân vật tự giải thích cũng đậm tính đúc kết theo
quan niệm Phật giáo: “Đời người ta có số phận, có duyên nợ, cô nghĩ có lẽ đây
là duyên nợ ba người mắc với nhau ở kiếp này.” (Cơn mưa không dừng lại).
Nhiều khi tác giả sử dụng ngôn ngữ bộc trực đời thường, thẳng
băng:
– “Chị bảo tao đang yêu như điên. Tôi bảo yêu được thì tốt.Chị
bảo tao chỉ sợ tao đặt tình yêu nhầm chỗ. Tôi bảo hoài nghi nhiều thế thì yêu
làm gì cho nhọc. Chị bảo nhưng tim óc tao cứ hướng về mỗi lão ấy thôi. Tôi bảo
thế thì toi rồi, nợ duyên rồi, trả hết mới thoát được… Nhưng yêu được thì cứ
yêu giữ lấy mối tình. Con người không biết yêu thì thành chó rồi còn gì. Chị bảo
mày là nhà văn mà tuôn câu nào nghe cũng kinh bỏ mẹ. Tôi bảo em không đạo đức
giả được. Thích là thích, ghét là ghét, yêu là yêu, cố gắng không hận thù, em
chỉ sợ bị lừa tình thôi. Đàn bà buồn nhất là bị lừa tình. Chị bảo đúng thế. Đàn
bà là giống cả tin.” (Khi yêu).
– “ Chị bảo thạc sĩ, tiến sĩ nước nhà nhiều như lợn con, đóng
góp gì, có làm dân no béo? Nghiên cứu nghiên kèo đếm kỹ được mấy cái ứng dụng
vào đời sống, làm lợi cho dân cho nước hay toàn giáo điều sách vở, lý thuyết
suông, công trình to nhỏ chất đầy các kho lưu trữ… Chị luôn mồm khen cái anh
nông dân Hà Lan, cụt chân học hết phổ thông, nghĩ ra sáng kiến lai ghép giống
cây thanh long của ta trồng trên đất nó, được địa phương nó cấp bằng chứng nhận
sáng kiến cải tiến kỹ thuật xuất sắc, thưởng tiền xứng đáng…” (Khi yêu).
– “ Tôi ước gì mình có thể tựa vào vai ai đó mà khóc. Khóc tu
tu, khóc như sói tru, khóc như bị lừa tình”… (Khi yêu).
– “ Chị bảo những gì chị để lại cố gắng giữ và làm cho nó
sinh lời vì bữa nay người đông của khó, làm được đồng tiền vỡ mặt, người ta
giành giựt nhau miếng ăn mà quên cả đạo nghĩa con người, quê cả liêm sỉ tự trọng,
chị bảo đừng để mắc bệnh vô cảm, đôi khi biết giúp ai đó sẽ bị liên lụy, sẽ bị
vạ lây nhưng thấy cần giúp thì cứ giúp, cần cứu cứ cứu vì trời cao có mắt,
thánh thần có mắt.” ( Khi yêu).
– “Mấy mụ bảo đừng so sánh. Lấy chồng như đánh bài, hên bốc
được hai cơ, át cơ, xui bốc phải ba bích, bốn tép vậy thôi. Mấy mụ lại bảo đã
là gái thì phải lấy chồng cho nó biết cái mùi xe hoa rượu hồng, vậy chứ cũng
vui được mấy năm đầu mà, đời mấy gang mà so đo cho mau già” (Đẻ thuê).
Qua các trích đoạn trên, ta thấy những cuộc thoại đan vào
nhau, lời người kể, lời nhân vật cứ xoắn lại tạo thành lời nửa trực tiếp của cả
hai loại nhân vật. Lời thoại cũng đan xen lời kể, lồng vào lời kể không tách bạch,
khiến cho lời kể bị cuốn đi theo chiều diễn biến tâm lý, phơi bày nội tâm nhân
vật trong vai người tham gia câu chuyện. Từ đó, chân dung nhân vật hiện lên, rõ
ràng, sinh động, mang đậm hơi thở cuộc sống.
Qua cái nhìn của nhân vật, tác giả phản ánh cách nhìn của một
số không ít người trong xã hội hiện tại: “Chị bảo nước mình quan tham nhiều dân
khổ, tao đi nhiều nước thấy quan bên họ mà mê. Tôi bảo chị ăn nói giữ mồm kẻo
đi tù, tai vách mạch rừng, so sánh khập khiễng. Chị bảo tôi học lắm vào rồi
hèn. Nhà văn mà hèn. Chị bảo ai làm dân béo thì tin thì theo.” (Khi yêu).
Thực trạng trào lưu mạng xã hội được phản ánh chân thật: “Một
tháng sau đó, chị đăng lên FB bức ảnh chị đi dự một sự kiện thời trang tại bang
F, cái đầm dài xẻ lưng sâu, bông tai dài, tóc đánh rối. Hàng 100 comment chia sẻ
khen ngợi, ngưỡng mộ.” (Khi yêu).
Đọc Hoàng Thanh Hương, tôi rất thích lối bộc lộ thẳng thắn, lời
lẽ nhẹ nhàng mà ngụ ý sâu xa. Các tác phẩm của cô, từ thơ đến văn xuôi đều biểu
lộ một tâm hồn thanh thoát, dịu dàng mà thẳng thắn, cởi mở. Lòng yêu quý con
người, yêu mến cuộc sống, trân quý tình bạn, tình người được cô gửi gắm qua từng
con chữ.
“Ngày bình thường trở lại” ngoài mười truyện ngắn còn
là 08 bài ký của nhà văn. Tất cả đều đồng nhất với tâm hồn của của cô – người
đàn bà tuổi tròn 40 tinh tế, đều biểu lộ tính cách thẳng thắn mà nhẹ nhàng, giản
dị mà sâu sắc và trên tất cả là tình yêu thương đằm thắm, lớn rộng của nhà văn
Hoàng Thanh Hương dành cho con người, cho cuộc sống nơi vùng đất miền cao
nguyên đầy nắng gió với đôi mùa mưa khô.
27/11/2019
Thu Bình
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét