Thứ Tư, 1 tháng 7, 2026

 

Thơ là linh dược

Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thùy Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hóa thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.

Ai cũng biết rằng, thời gian gần đây cao trào thơ Việt Nam nở như hoa xuân, các tâm hồn thơ thi nhau sáng tác, nhưng không vì thế mà mất đi chất thơ, càng lúc càng dồi dào sức sống. Riêng tôi, không đánh giá thơ giỏi dở mà muốn nói Thơ là cái hồn tinh tuý của dân tộc Việt Nam đã lớn lên trong cái nôi Thơ Ca. Mỗi người, mỗi nét, mang đủ màu sắc khắc hoạ thơ của mình. Rất đặc biệt, tác giả Trần Thị Thuỳ Vy không thêu dệt tâng bốc thơ của mình mà chỉ đánh giá qua bốn từ: THƠ LÀ LINH DƯỢC. Đã nói là linh dược thì sẽ chữa lành các căn bệnh mà con người vốn mắc phải! Hay! Lối suy nghĩ rất mới.

Đối với tác giả dùng ngôn ngữ diễn tả tâm tư tình cảm bằng giọng điệu rất mới trong thơ, trong Mái đêm: Em trao anh trái tim côi từng đêm…Hình như một ánh trăng vừa tàn/ một chiếc lá vừa rơi/ một làn gió vừa thổi tung mái tóc/ rối bời vì bóng anh lồng lộng/ một sợi tóc vừa rụng xuống/ khỏi mái đêm sâu thẳm (Cả những ngày đã quên, trang 12).

Rất là tự nhiên đến đổi, khi chạm vào hồn thơ người đọc không hề hay biết là những vần thơ mà cứ ngỡ là một quang cảnh êm đềm trước mắt. Cái hay của tác giả là như thế, như ta xem một tác phẩm chân dung nghệ thuật của hoạ sĩ tài danh, nét vẽ mê hoặc người xem, những lỗ chân lông người trong tranh hiện rõ và đôi mắt long lanh đang giao tiếp chuyện trò với người đối diện. Ở cái nhìn khác, Chơ Ro. Tôi nhìn thấy bầu trời Chơ Ro trong mắt em/… những chiếc gùi trên lưng cõng đầy mưa nắng/…mùa con két về rỉa bắp/ tiếng con dê gọi bầy/ mùa dựng rượu ghè/ mùa giống trống chiêng/ tế dâng đủ đầy/ mùa nương rẫy/ mùa dấu chân em bám đá/ ngược dốc gọi nguồn/ơi Chơ Ro! Cả những ngày đã quên, trang 18).

Một quang cảnh đẹp bịnh dị quê hương được vẽ lên bằng ngôn ngữ tuyệt vời đến đổi người đọc nhận ra góc quê hương trước mặt, thời gian chầm chậm trôi mà mọi sự sinh hoạt đang diễn tiến từng chút một. Sự linh động, và sự chân quê không hào nhoáng, không lập khuôn, bởi sự thật đã khắc hoạ tinh tế. Ở đâu đó trên cánh đồng thì tiếng trâu nhịp chân về chuồng, hay tiếng chim gọi nhau về tổ khi trời sắp tối, thì ở Chơ Ro tiếng dê gọi bầy. Hình ảnh trung thực trong thơ tác giả đã làm cho người đọc phải giật mình vì đứng trước một góc quê hương đậm đà bản sắc dân tộc. Lần theo chiều cảm xúc ta chạm đến nỗi niềm của tác giả với Mặc trầm lời ru. Người đàn bà ẵm bồng cánh buồm vừa mọc/ tiếng khóc của nụ chồi đỏ hỏn/của ánh mặt trời dâng sóng/ Vượt cạn…/ Người đàn bà chèo cạn đêm nay/ôm hòn máu đời mình/mặc trầm lời ru. Cả những ngày đã quên, trang 32).

Vượt cạn của người đàn bà luôn là nỗi bất trắc mà cũng là niềm vui nhất trong đời. Tiếng khóc của trẻ thơ làm cho người đàn bà lớn hẳn và mạnh mẽ hơn, sẵn sàng đối mặt, luôn giữ an toàn cho mầm non trong mọi hoàn cảnh! Ở đây, vượt cạn, tác giả đã mạnh dạn ẵm bồng cánh buồm vừa mọc, dùng đôi tay vươn dài che chở cho nụ chồi đỏ hỏn. Hình ảnh người đàn bà có đầy đủ trách nhiệm thật đáng trân trọng!

Trở lại với góc quê hương ta bắt gặp ký ức cối xây lúa chạm vào lòng, một nỗi niềm hằn sâu vào hàng thế kỷ khôn nguôi. Làn da đồng hun sâu dãi dầu của ông/ nụ cười móm mém tóc mây của bà/… đường cày và những lằn roi ví thá/ những bữa cơm vội vã/ giấc ngủ đượm bùn phèn của mẹ/khói thuốc phập phều ngày đông của cha/… ngun ngút khói chiều giáp hạt/ gom cánh chim tuổi thơ/ phơi ngày trở giấc/… chiếc cối xay/ xoay tròn… xoay đều/ điệu mưa bình yên/ ru nhưng giấc mơ màu mỡ. Cả những ngày đã quên, trang 46).

Một buổi sớm mai nào đó, giọt cà phê rơi trong đáy cốc, chợt nghe tiếng va chạm vào lòng! Thèm, nhớ, bâng khuâng. Nhưng với tác giả lại khác hơn, cô đã vẽ lên một bức tranh không gam màu mà ẩn hiện sáng tối rõ nét bằng những ngôn từ thật ấn tượng. Chiều nay caphe cùng anh/ được trở về mười tám/tuổi dám yêu dám nhận/Ngày mai không caphe/ không cute/ không mầu nhiệm/… ngày mai rồi ngày mai nữa…/ gánh hàng rong trên vai bà Bảy cong dần/ từng bước đi chậm chạp/ tiếng mời chào thưa hơn/ Chiều nay/ bên anh tuổi mười tám hiện thời/ như giọt cà phê rơi. (Cả những ngày đã quên, trang 66). Hãy để lòng thanh thản và nhắm mắt để nghe tiếng guốc gõ trên từng cung, có một khoảng lặng đến ngậm ngùi chỉ trong vài câu ngắn ngủi. Tác giả đã thâu tóm thời thời gian, không gian một cách tài tình cho người đọc nhận ra suốt chiều dài cuộc đời và thân phận, nhận ra điều trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Đây là một nghệ thuật diễn tả cho một biểu cảm của ngôn ngữ, hay tiếng lòng của tác giả đau đáu nỗi niềm của người đời. Con người dù bận rộn đến đâu, đôi khi cũng có những giây phút suy gẫm thiền định (méditation). Những giây phút này tác giả nhận ra sắc màu tâm tưởng bằng những cung bậc từ tốn: Người đàn bà len qua giông tố/ vất vưởng giữa sa mạc/ cằn cỗi giữa hoang tàn/ đồng hành cùng bóng đêm/ Có lúc lả đi chạm chân tuyệt vọng/ Chơn tâm vụt sáng/ Bàn chân dần ấm/ Chạm sỏi biết đau/…Từng bước/ Từng bước… chuyển hồng/ (Cả những ngày đã quên trang 93).

Tác giả đã khéo léo chuyển hóa tâm trạng một cách tài tình, dù là bài thơ ngắn nhưng cũng đủ để người đọc suy gẫm việc đời, không chịu đầu hàng nghịch cảnh, lúc nào cũng vươn lên cho dù một chân què quặt dưới ánh sáng mặt trời. Nhìn chung qua tập thơ Cả những ngày đã quên tác giả Trần Thị Thùy Vy đã cho ta nhận ra nhưng điều tưởng chừng như rất đơn giản như ăn ngủ thường nhật nhưng không hề đơn giản chút nào, mỗi cử chỉ động tác đều có ý nghĩa riêng của nó, qua thời gian và không gian nhưng động tác đó lại càng nhiệm mầu đầy sắc màu trong cuộc sống bằng thơ. Thơ của Thuỳ Vy rất thực trong đời sống, thế nên rất sinh động càng đọc càng say mê.

Bao nhiêu lo toan của người đàn bà, trước cảnh cơm, áo gạo tiền mà vẫn Thơ. Có thể nói, thơ với Trần Thị Thuỳ Vy là linh dược (mesdicament miracle). Chính tác giả đã nói: Tôi đọc thơ xuôi dọc bờ kênh/ nức lòng cây trái/ vũ trụ nuôi em/trái tim rực hồng/ Những bài thơ nơi đại dương xa xôi/ hừng hực yêu thương/ cháy tràn chữ/ những ký tự nhảy nhót/… Thơ là linh duợc/ linh dược là thơ/ (Cả những ngày đã quên, trang 22). Rất đặc biệt, thơ của Thùy Vy thoát qua vần điệu, ngôn từ hào phóng không gò bó, mà nhẹ nhàng êm đềm tạo cho người đọc say mê lạ lùng.

Dòng thời gian đi qua không trở lại, mọi thứ dần khuất trong kiếp người. Nhưng tình thơ của Thùy Vy không mất, nó vẫn hiện hữu nơi góc quê hương, trên vai áo bạt màu của người mẹ còng lưng theo năm tháng. Và nó vẫn hiện hữu cùng với tiếng dê gọi đàn khi chiều về trên thôn bản nào đó! Với sức trẻ, thơ Thùy Vy sẽ còn bay xa và cao hơn ở khắp mọi nơi. Mong rằng, với mạch thơ đầy sức sống của tác giả Trần Thị Thùy Vy sẽ tiếp tục cho ra đời những tác phẩm đáng yêu, đáng trân trọng.

Cần Thơ, 5/12/025

Nhật Hồng
Nguồn:VanVn
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

 

Đọc thơ của một luật sư

Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...

Nguyễn Thái Hưng nguyên là sinh viên Khoa Văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau anh còn học Luật, làm Kiểm sát viên lâu năm. Là Luật sư, nên chất thơ mang mạch nguồn của những quan hệ cuộc sống đa chiều. Đôi khi anh nhặt ra quãng ngơi nghỉ chọn lọc lấy chất lãng mạn của hiện tượng và sự việc mà suy tưởng sâu, thành lời.

Còn nhớ ở ngay tập đầu tay, Thái Hưng đã quan niệm về thơ khá sâu nặng. “Thơ tìm ta trú ngụ”, mà ta thì nghèo, xót xa đến trắng ngọn cỏ, người có thể chết còn thơ thì không. Điều này với Thái Hưng cũng chỉ được rút ra, cô đặc lại từ kinh nghiệm xương máu của người cha:

Con ơi!

Thơ không tắt thở

Thơ không cần vuốt mắt như bố

Thơ hóa thạch ở lòng người!

Thơ vận người. Nhưng người - đến lúc nào đó - nhất định rồi sẽ nhắm mắt, từ giã thế gian, còn thơ thì vẫn cứ thức chong chong cùng tuế nguyệt.

Bạn đọc ngày nay - nhiều người rất thích lối sáng tác thiên về bố cục và coi đó như một cách đổi mới, bứt phá. Thái Hưng nằm trong trường hợp ấy, ham chất chứa nội dung mà nhẹ đi độ bóng bảy cần thiết? Câu thơ hàm xúc, đầy đặn một tâm trạng, Tâm trạng đến từ lòng chân thành. Chúng ta đọc, thực sự thấy có một sức hấp dẫn tự nhiên - như thơ tự bản năng vậy.

LÁ THAY MÙA là tập thơ thứ hai của anh. Vẫn một cái tên thơ nhè nhẹ như thế. Qua Thu, sang Đông rồi mùa Xuân sẽ đến. Và quả nhiên ta gặp một tập thơ mới này với tiết khí ấm áp, dịu êm hơn. Hay nói cách khác, nếu ở tập thơ trước, hồ nước thiếu vẻ xanh trong còn nguyên đấy thì hôm nay nó mượn gió mà bay dần lên. Giống như phận quả, vắt lấy từ khô khát mà thơm.

Chúng ta dễ nhận được ở đây một nỗi buồn man mác phận người. Nỗi buồn ấy như nó được chọn làm tư tưởng chủ đạo theo dọc tập thơ. Đó như là quê bây giờ, là lá và chim, là đất và đá, là sông và suối, là gió và nắng là ngày và đêm, và hơn thế nữa, là bồng lai và trần đời, là nỗi đau và sự mòn mỏi...cứ thế, nó đan xen vào nhau, nó bỡn cợt và giận dỗi. Tuy vậy, Thái Hưng không buông bỏ theo những quan niệm đã cũ mà nhìn về mối quan hệ gốc theo một hướng lạc quan, như anh nói với rau Răm khi Cải đã bay về trời:

 ... Lời ru ngọt ánh trăng gieo

Cũng thôi! Mặc với trời cao, gió ngàn

Lệ buồn thở ấy chứa chan

Làm sương đầu núi mát sang lá gầy

Giữ cho mình chút đắng cay

Có cay, cay hết kiếp này - Thôi em!

Bởi vì, với cải thì nên là: Về giời, gió rủ thì đi? Nhân gian ở nữa, lỡ thì đấy em! Theo cái lôgic này, chúng ta thấy có một hướng luận đề khá thú vị, rằng phận gái cần chọn lấy cơ hội để “trao thân gửi phận”, chứ kén chọn mãi rồi sẽ lại ‘lỡ thì” …mất thôi!

Có nhiều chiều hướng khác nhau, song loạt bài nặng về thân phận là trội nhất trong thơ Thái Hưng. Có lẽ trong đời sống xã hội muôn màu muôn vẻ thì tích lại trong tâm thức anh chính là những mảnh đời gian nan, oan khuất, đau thương…Hiểu để đồng cảm, hay là chính bản thân Luật sư cũng sống trong hoàn cảnh đó thì mới tìm ra lối thoát cho từng mảnh vỡ khác nhau. Vậy nên, Thái Hưng - dù viết về điều gì hay viết như thế nào thì rốt cuộc vẫn cứ phảng phất cái thân phận khốn khó của con người. Tôi cũng đồng nhất với nhận định của Nhà thơ, nhà phê bình văn học Phạm Đình Ân là: “thơ Thái Hưng có tình yêu thuần phác nam - nữ, có tình quê hương thôn dã, có hình ảnh người mẹ, có thế sự đời thường và cả tầm quốc gia”. Bạn đọc không thể không tập trung sự chú ý đến bốn bài về mẹ đậm đà, sâu lắng tình yêu thương, ba bài về người chị mến thương ngày đêm, xót xa về người chồng là liệt sĩ - cùng những bài khác đề cập thân phận người phụ nữ. Bài Mẹ tôi có những khổ thơ xúc động:..Nào buồng cau, cơi trầu hay mớ lạc/ Nhịp hải hà quay quắt rổ nan tre./Gió nồm nam võng trĩu cả trưa hè/ Buổi chợ muộn nắng hong vàng nón lá/ Đêm bão giật nhà không còn mái nữa/ Chái bếp nghèo mẹ ấp ủ che con”.

Thái Hưng khá tinh tế trong việc sử dụng hình ảnh và nhịp điệu để làm mềm hóa những cụm từ gồ ghề. Có lẽ ở đây không có sự cố ý nào trong cách sắp đặt mà tự nó cứ dồn nén và bộc lộ tự nhiên như người gieo trồng có nghề thôi. Những câu, những đoạn thơ hay, lấp lánh ở khá nhiều bài như:

Nhóm bài tình quê hương, đất nước:

… Ừ quê đấy, mấy mùa chưa về nữa

Mới mơ thôi, sóng lúa đã quanh nhà

Và cây táo vãi trời hoa xuống ngõ

Bạc đầu rồi con nhớ lắm…quê xưa.

(Là Quê đấy)

Mùa thu để lá bơ vơ

Câu thơ che mãi vẫn chưa kín người

Xin đừng rơi nữa lá ơi

Buồn thu không lá …sầu người lỡ yêu.

(Lá rơi).

Trăm năm trăng khuyết, núi mòn

Lúa đồng mẹ hát như còn ngậm sương.

(Cõng Mẹ đi chơi)

Theo lẽ thường, Thái Hưng tất nhiên dịch chuyển trạng thái đúng bản ngã của mình. Anh nhìn sâu vào từng ý nghĩ với sự chuyển động của nó. Cái hồn ở bên trong một thực thể sẽ trôi về phía nào, tìm chỗ trú ngụ nào là tùy theo ý thức của mỗi con người chứ không phải “vật tự nó” đặt không đúng chỗ. Ví như với một phù điêu thiếu nữ đơn lẻ kiểu “nữ thần” ở biển thì: Hải Tiến chiều thu biển vắng/ Sóng xô bờ đá vô hồi/ Thiếu nữ mình trần vẫn đứng/ Bên bờ vời vợi đơn côi. Và để rồi: Lại sắp thêm mùa đông nữa/ Vắng người, biển bỏ ra khơi/ Thiếu nữ mình trần vẫn đứng/ Gió thương u ú… về trời. Có phải cái “u ú” kia là ý thức của nhà thơ trước không gian thiếu nữ ấy? cái u ú vô tích sự của trời đất được tạo ra để gắn với cái gọi là niềm thương! Tưởng chừng đều vô hồn cả, nhưng rồi, một điều tích cực của thân phận đã cứu rỗi:

Đó là em gác canh hay chờ đợi

Đó là tôi tìm đến hay bỏ đi

Ngôi sao đỏ cháy bùng trên mặt cỏ

Ngọn đèn em, hoa lửa đỡ tim mình.

Chỉ có điều, những muốn như thế mà nào được thế! Trong tôi bỗng hiện lên câu thơ Thái Hưng viết về chính chị dâu mình là vợ liệt sĩ: Trái tim thương chín cả trời/ Khát khao như lửa mà đời biết đâu/ Một mình cằm cặm đêm thâu/ Câu thơ như tượng Mị Châu cụt đầu…Và nhẽ ấy, cuối cùng, như bao người đời vậy, anh tìm đến một miền xa hơn - nơi có tiếng chuông và bóng Bồ đề - cho dù anh cũng không muốn đưa nhân vật của mình đến đó. Có người từng đợi mà hóa đá/ Đâu phải chờ người dóng - mới ngân nga!- câu thơ tượng hình, tượng thanh, viết thế mới khéo.

Sau tất cả, tất cả cảm thông, nhường nhịn cho gia đình, anh em, bạn bè, cho quê hương đất nước, Thái Hưng muốn nhận về cho mình một phần, dù chỉ là chút hy vọng nhỏ thôi:

Đêm No-en

Anh không được cùng em

Cũng chẳng cần Cha rửa tội

Vì tình yêu không bao giờ có lỗi

Dù em lỡ hẹn nhiều… như đêm No-en!..

Một lối viết giàu suy tưởng bằng cách sử dụng kết hợp tính ước lệ cao. Nhiều như đêm No-en - những đêm cuối năm chờ đợi ấy, năm nào cũng lỡ hẹn cả hay là chỉ có một, hai lần thôi nghĩ cũng đã nhiều lắm rồi.

Và, có một ngoại lệ rằng, tập LÁ THAY MÙA được in ra vào những ngày tháng đầu của quê hương hòa nhập theo địa giới hành chính mới. Những kỷ niệm xưa đan xen với hy vọng nhịp sống mới. Có chút vương vấn, man mác về nơi gắn bó máu thịt của mình - âu cũng là cái lẽ của thơ:

 Ừ vẫn thế quê ơi, xanh vẫn lúa

Biển Đồng Châu lồng lộng ráng mây hồng

Lại tha thiết tự hào - đây phố Hiến

Với nhãn lồng, sông Luộc, bến Triều Dương…

Những vần thơ mà chúng tôi trích dẫn trên đây, có lẽ bạn đọc cũng tự đánh giá, nhìn nhận về những gì làm nên nghệ thuật thơ Thái Hưng trong dòng mạch tư tưởng đầy chất nhân văn ấy. Chúng ta hãy cùng đọc ở thơ anh trong tập này.

Chú thích:                                                                                                

* Nhà thơ Bùi Việt Mỹ - Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội

* Nguyễn Thái Hưng

- Nhà văn Hà Nội

- Luật sư-TW Hội luật gia Việt Nam

- Tác phẩm đã xuất bản:

+ Đi qua mùa thu - NXB Hội Nhà văn -2024

+ Bằng lăng tím lối Mễ Trì - NXB Hội Nhà văn-2024 (In chung nhiều tác giả);

30/8/2025
Bùi Việt Mỹ
Nguồn:VanVn
Theo https://vanchuongthanhphohochyminh.vn/

  Thơ là linh dược Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thùy Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Qu...