Thứ Tư, 1 tháng 10, 2025

Thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh - "Đừng múc cạn nỗi buồn" dù "Chiều đã nhạt"

Thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh - "Đừng múc
cạn nỗi buồn" dù "Chiều đã nhạt"

Chiều nhạt ư? Ừ thì chiều sẽ buông hết nắng cho rực rỡ chiều. Thời gian sẽ trôi đi, không thể ngừng lại. Nắng rồi sẽ phai. Chiều rồi sẽ nhạt. Nhưng, cái khoảng khắc đó, với một người đàn bà làm thơ, thì chiều nhạt lại giấu trong nó bao điều muốn khám phá, hoài niệm và sẻ chia. Người đàn bà làm thơ ấy chính là Nguyễn Thị Ánh Huỳnh. Chị đã nhìn Chiều bằng đôi mắt đa tình của một thi nhân. Và vẽ lại bằng cái chất mộc, dịu, chân thành, chia sẻ… của những ngôn từ không lẫn vào ai.
Xin hãy đọc chậm “Chiều nhạt” của chị:
Chiều nhạt/ Chiều cuồng cuồng nắng/ Chiếu tốc tốc xanh/ Chợt quầng mây màu bã mía/ Trời nhàn nhạt/ Chiều buông màn/ Người đàn bà ngồi tiếc nắng/ Tìm sự mặn nồng còn sót lại trong cây cơm nguội/ Sự nhàn nhạt của thời gian/ Dan díu với người đàn bà/ Bằng màu mỡ gà lá bàng chớm lửa/ Cảm giác canh suông của vàng mười hoa vông/ Cảm giác đơn điệu của mái ngói nhạt rêu/ Nghe tóc chiều cay khói/ Ngôi nhà trôi/ Tay người đàn bà chới với/ Hoàng hôn chợt là khách trong nhà/ Đêm đã nằm trên giường chờ đợi/ Người đàn bà và cây cơm nguội/ Cố níu lấy chiều/ Đang nhạt Nhưng/ Đám mây màu bã mía/ Đã hắt chiều đổ đi.
“Chiều nhạt” được in trong tập “Đừng múc cạn nỗi buồn” (NXB Hội Nhà văn 2009) ở trang 54. Tên cả tập thì rất lạ. Nhưng tên bài thơ thì không có gì ấn tượng. Vậy mà, nó lại làm cho tôi ngã vào nó, hay đúng hơn là ngã vào những từ ngữ thơ mộc mà đẹp, hiền mà dữ dội, nhẹ mà như bão… kia rồi.
Bài thơ tự do thật ấn tượng với những hình ảnh đẹp dung dị: người đàn bà ngồi tiếc nắng, cây cơm nguội vàng, hoàng hôn nắng nhạt, vàng mười hoa vông, lá bàng chớm lửa … Đó là những hình ảnh rất đổi bình thường mà ta có thể bắt gặp đâu đó trong cuộc sống này. Thế nhưng, sự không bình thường, nét đẹp lung linh thì lại nằm trong những từ ngữ vô cùng dân dả:  cuồng cuồng, tốc tốc, nhàn nhạt, chớm lửa, cay khói, màu mỡ gà, nhạt rêu, màu bã mía, tiếc nắng, cố níu, hắt chiều đổ đi… mà nhà thơ đã sử dụng một cách thật  tự nhiên.
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh, đã bị cái “chiều nhàn nhạt” kia hốt cả hồn vía. Và tôi cũng vậy, đồng cảm, sẻ chia. Chiều nhạt là bắt đầu chiều xuống đó thôi. Ông bà ta xưa gọi là “nắng quái chiều hôm”. Nhưng chị thì nói: “cuồng cuồng nắng”: Chiều nhạt/ Chiều cuồng cuồng nắng/ Chiều tốc tốc xanh/ Chợt quầng mây màu bã mía…
Khá khen cho những điệp từ “cuồng cuồng, tốc tốc” trong thơ chị. Cũ mà mới, quen mà  lạ.Thế mà lại hay, tạo cho hình ảnh “gió, chiều” … có sức sống như con người. Mà hệt như người đang say. Say cảnh, say tình.
Kìa là gió xanh, trời xanh, và mây cũng xanh. Nhưng, kẻ không mời đã đến, khiến cái màu xanh kia phải thay đổi sắc. Đó là cái “màu bã mía” của một quầng mây, qua đôi mắt của nhà thơ, đã truyền cho người đọc một cảm xúc lạ lùng trước sự biến chuyển của thiên nhiên.
Thời gian ngả về chiều, nên màu trời nhàn nhạt là thật. Còn thời gian nhàn nhạt là thời gian của ký ức, là thời gian của sự nhung nhớ, díu dan:  Trời nhàn nhạt/ Chiều buông màn/ Người đàn bà ngồi tiếc nắng/ Tìm sự mặn nồng còn sót lại trong cây cơm nguội
Cái đẹp lung linh của ánh chiều buông màn thõng xuống rất đẹp. Có bóng cây cơm nguội vàng nhưng vẫn không đủ vàng để cảnh sắc tươi lên. Có bóng người đàn bà  trong cảnh đang ngồi “tiếc nắng”. Ai biết tiếc nắng hay tiếc xuân thì? Hay tiếc những kỷ niệm mặn nồng còn sót lại đã lên rêu, đã trôi về phương nào xa lắc. Hoàn toàn không biết. Và chỉ có Nguyễn Thị Ánh Huỳnh là hiểu rõ điều ấy.
Sự nhàn nhạt của thời gian/ Dan díu với người đàn bà/ Bằng màu mỡ gà lá bàng chớm lửa/ Cảm giác canh suông của vàng mười hoa vông/ Cảm giác đơn điệu của mái ngói nhạt rêu/ Nghe tóc chiều cay khói.
Sao cái cảnh sắc nhàn nhạt, lam buồn xám nhợt của thời gian sao lại có thể “dan díu” với người đàn bà tiếc nắng? Sao lại “dan díu” với những chiếc lá bàng chớm lửa màu mỡ gà kia? Sao mái ngói nhạt rêu lại đơn điệu lạnh tanh? Phải chăng nữ sĩ muốn giúp người đàn bà trong thơ thổi bừng lên kỷ niệm khi để cho cái sắc nhạt của thời gian dan díu với người đàn bà bằng màu mỡ gà của chiếc lá bàng chớm lửa? Một kỷ niệm ngọt ngào, tươi thắm, loang loáng ánh nắng, như “chớm” chút sắc đỏ cuối ngày, Quả là nhà thơ đã rất cao tay, khi vẽ bóng người đàn bà ngồi nuối tiếc một thời rực rỡ.
Từ những hình ảnh: “màu mỡ gà của lá bàng chớm lửa, canh suông của vàng mười hoa vông, mái ngói nhạt rêu’… ta như thấy có chút gì rực cháy, lại vừa có chút gì bảng lảng rêu phong, hoài cổ trong lòng người đàn bà tiếc nắng kia. Một sự chuyển đổi cảm giác làm người đọc nổi gai khi bắt gặp những từ ngữ thế này: “ nghe tóc chiều cay khói”. Người đàn bà “nghe” …Sự chuyển đổi cảm giác chỉ có thơ mới diễn tả nổi. Tóc chiều cay khói? Hay tóc đã chiều nên mắt, nên lòng nghe cay khói? Cái hình ảnh “tóc chiều cay khói” mới đau thật đau. Nhưng là cái đau ‘lặn vào trong” mà không phải ai cũng nhìn thấy nó.
Nhưng cảnh đã chuyển. Ngôi nhà trôi/ Tay người đàn bà chới với.
Chắc chắn là sẽ có loang loáng nước, dù là nước của ảo ảnh. Cảm thức thời gian trong thơ trôi vội khiến lòng người phải xót xa. Thật tội nghiệp khi bắt gặp hình ảnh “người đàn bà” với “đôi tay chới với” bất lực, cố níu chiều bạc phếch, bạc phơ, cố níu lại mái nhà hạnh phúc và bất lực khi nhìn thời gian tuột xa tầm tay. Tiếc đến thế thì đã tận nỗi tiếc chưa nhỉ? Nguyễn Thị Ánh Huỳnh chưa thấy đủ đầy. Và chị mang lại cảm giác hoàng hôn đã cuối đến với người đọc, khi viết:
Hoàng hôn chợt là khách trong nhà/ Đêm đã nằm trên giường chờ đợi.
Nghe chao chát. Khắc khoải. Bảng lảng buồn. Người thơ, nhân vật thơ đã truyền cảm xúc vào lòng người đọc một cách nhẹ nhàng mà sâu hun hút. Quả thật, cũng là người làm thơ, nhưng cách diễn đạt của chị Nguyễn Thị Ánh Huỳnh khiến tôi phải “giật mình”. Sự cao tay của chị khiến ta phải liên tưởng đến nhiều tầng bậc ý nghĩa. Với người đàn bà tiếc nắng, hoàng hôn là khách không mời mà đến. Hoàng hôn thời gian hay hoàng hôn của một đời người?. Nhưng, dù chủ thể là gì đi nữa thì chủ thể ấy đã len vào nhà, đã nằm trên giường chờ đợi, để nghe rờn rợn cô đơn, dù là cả bài thơ không hề có một chữ “cô đơn”.
Sót lại hình ảnh của buổi chiều là người đàn bà và cây cơm nguội. Thủy chung từ đầu là cây cơm nguội. Nó đã cùng chị sẻ chia ký ức. Nó đã cùng chị cố níu chiều. Dù là chiều đang nhạt. Như cố níu những khoảnh khắc đẹp của thời gian, của một đời người. Người đàn bà và cây cơm nguội/ Cố níu lấy chiều/ Đang nhạt
Thế nhưng… thương quá. Xót đau quá. Thôi, cũng đành thôi. Vì, chút níu kéo kia rồi cũng đành vỡ tan tành. Vì làm sao cưỡng nổi sự khắc nghiệt của thời gian?
Nhưng/ Đám mây màu bã mía/ Đã hắt chiều đổ đi.
Cái từ “hắt” sao nghe đổ vỡ, hắt hẩy, đau điếng. Đám mây màu bã mía úa héo kia sao lại can tâm “hắt đổ chiều đi”?
Cơm nguội, bã mía, chiều nhạt, ngói nhạt rêu… có hàm ý về chính mình không?
Bài thơ có cái kết buồn man mác. Và cứ tạo cho người đọc sự bất lực trước qui luật của thời gian. Có lẽ vì những điều đã cảm, đã hiểu như thế mà tôi đã ám ảnh suốt về bài thơ “Chiều nhạt” của chị để rồi phải cầm bút viết nên những con chữ này. Chiều đã nhạt rồi, nhưng cũng xin “ đừng múc cạn nỗi buồn”. Vì đời người, mấy ai không có những vui, những buồn giăng kín? Chỉ có sự trải nghiệm nhiều với cuộc đời, sự đồng cảm sẻ chia với những người đàn bà trong ta và quanh ta, mới có được những vần thơ nhẹ nhàng mà đau đáu thế này.
Thật ra, nếu có một chút góp ý, tôi sẽ chủ quan mà chọn một tiêu đề gợi hơn, chẳng hạn như “Người đàn bà tiếc nắng”. Có ấn tượng hơn, có dữ dội hơn cái tên “Chiều nhạt’” hiền lành của chị không nhỉ? Nhưng, chính những mộc mạc, giản dị của ngôn ngữ đã tạo nên nét đặc trưng ngọt mềm trong thơ chị. Vậy, thay đổi làm gì? Xin cảm ơn nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh – với “Chiều nhạt”như thế này đây.
5/2/2020
Nguyễn Thị Liên Tâm
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Vẽ chân dung" người viết văn trẻ

"Vẽ chân dung" người viết văn trẻ

Hỡi những nhà văn trẻ, bạn muốn mình luôn là người viết (écrivant) làm ra sách, hay sẽ là nhà văn (écrivain) làm ra tác phẩm, nói như Jean-Paul Sartre thuở ấy?
Có phải một mùa sinh sắc đã trở lại với văn chương Việt, khi cuộc sống dần dần trả lại nhịp đập tự nhiên, với vô vàn xáo động? Ngày của thông tin, mùa của thông tin, thời của thông tin.
Chúng ta bị va đập hằng ngày với những chuyện trên trời dưới đất của mình, của thiên hạ, không lúc nào ngơi. Cảm xúc của ta dao động, trồi sụt như nhịp tim của người đang yêu hay người đang hấp hối.
Hai xu hướng của văn học trẻ
Sau hai cuộc chiến tranh, văn học Việt Nam trở lại con đường hiện đại hóa một cách chậm chạp. Một nền văn học chịu nhiều phân tán, ngập ngừng, nhiều lần mở, khép. Một nền văn học trộn lẫn các yếu tố truyền thống, hiện đại và hậu hiện đại.
Cạnh tranh với các lĩnh vực nghệ thuật khác trong chinh phục công chúng, văn học của thế kỷ XXI đi vào tiếng rì rầm của đời thường. Các quầy sách tràn ngập các bản in mới, đa dạng và bắt mắt về hình thức. Tuổi trẻ chín sớm và thành danh trong sáng tạo. Niềm tự tin trở lại. Đã có một số nhà văn chuyên nghiệp.
Trong cái bề bộn của số sách xuất hiện với tần suất dày ấy, trong khu vực các tác giả trẻ, có thể nhìn thấy hai xu hướng lớn: một xu hướng chịu khó lắng nghe bản thân, nắm bắt những nhịp đập sâu xa của đời sống, cố gắng tìm tòi những giá trị nghệ thuật, cân nhắc khi chọn một diễn ngôn văn chương mang cá tính riêng; một xu hướng nhạy với thị hiếu công chúng, tiếp thu nhanh kỹ thuật viết các loại văn xuôi hư cấu trong làng văn đại chúng, hình thành ngay một mạch văn đơn giản, viết lẹ, thành công dễ dàng, chinh phục đám đông công chúng trẻ, tạo nên sự kiện, có số lượng phát hành và có doanh thu lớn.
Có vẻ như xu hướng thứ hai đang đà phủ sóng rộng. Họ viết về những cái thường ngày trong sinh hoạt người trẻ: ăn, mặc, chơi và yêu. Nhan đề linh hoạt như một lời thoại. Bìa thiết kế theo phong cách ngôn tình: họa tiết mềm mại, màu sắc lung linh hay dữ dội. Văn học đại chúng đáp ứng nhu cầu có thực của một tầng lớp người đọc đông đảo đang muốn có những phút giây thư giãn bằng chữ nghĩa.
Thành danh với văn học đại chúng
Vốn chịu ảnh hưởng nhiều của Trung Hoa, văn học đại chúng Việt Nam giờ đây học tập thêm Nhật Bản và Hàn Quốc; chỉ một số ít có dấu vết kỹ thuật phương Tây. Điểm chung của loại sách này là dễ đọc, mạch truyện sáng rõ, câu chữ giản dị, kết thúc thường có hậu.
Đã có một đúc kết, rằng chủ ý của sách là tác động đến các trạng thái tâm lý của con người (thất tình, lục dục), rằng cách viết là tuân theo các mô thức đã trở thành kinh điển. Tác giả viết như làm một cuộc trò chuyện êm đềm da diết về những phức cảm của người trẻ (trong thơ); hay như một cuộc bài binh bố trận, hoặc xây dựng một cốt truyện ly kỳ, lâm ly, bi đát, di chuyển qua nhiều không gian, nhiều biến cố; hoặc xây dựng những nhân vật trẻ ngồ ngộ, cá tính độc đáo, với các câu chuyện tình bất ngờ và các mẫu đối thoại thú vị (trong văn).
Sách bán chạy, người viết thành công sớm và thành danh nhanh, được một số nhà xuất bản, nhà sách và báo chí săn đón, có thể sống bằng ngòi bút, đó là những yếu tố làm nức lòng nhiều người trẻ, ngày càng đông người chọn hướng đi này: Dương Thụy, Nguyễn Phong Việt, Nồng Nàn Phố, Anh Khang, Trần Thu Trang, Jun Phạm, Meggi Phạm, Gào (Vũ Phương Thanh), Keng (Đỗ Thị Thùy Linh), Hamlet Trương, Iris Cao, Nguyễn Ngọc Thạch, Phan Ý Yên, Nguyễn Thu Hoài, Linh Lê, Ngọc Hoài Nhân, Ploy Ngọc Bích, Kawi Hồng Phương, Bom, Sơn Paris…
Những trang văn tinh tế
Như một mạch ngầm mải miết chảy, tiếp nối những giá trị đã có trong lòng dân tộc và ước mong hội nhập cùng nhân loại, xu hướng thứ nhất lặng lẽ và cẩn trọng hơn. Thế hệ 8x và 9x đã ra ràng một loạt các cây bút từng theo học ngành văn chương, phần lớn bước ra từ Khoa Ngữ văn và Báo chí Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP HCM.
Thục Linh, Tú Trinh tinh tế và lặng lẽ. Nguyệt Phạm, Phương Lan, Lynh Bacardi táo bạo, bứt phá làm nên sự kiện trong nhóm Ngựa trời. Nguyễn Thúy Hằng xuyên sâu vào cõi màu cô độc. Ngô Thị Hạnh, Phương Huyền viết sớm và viết đều trong mạch thơ văn dung dị. Phương Trinh ấp ủ ngọn lửa ấm của lòng từ ái. La Mai Thi Gia hồn nhiên phơi mở. Tạ Anh Thư, Hạ Nguyên viết chắt lọc và cá tính, phác vẽ chân dung mình trong những khắc khoải, băn khoăn. Nguyễn Thiên Ngân và Yến Linh chín sớm, ghi dấu bằng các giải thưởng, có mặt đều đặn với các thể loại khác nhau; người thì chinh phục công chúng trẻ bằng một chất giọng tưng tửng, ngang tàng, cuộn dưới đáy sâu một tâm cảm khác thường; người cầm bút như để tự chữa lành những chấn thương thời thơ ấu. Ngọc Huyền mềm mại trong những tra vấn về bản thể. Vũ Lập Nhật dữ dội và hiện đại trong khám phá nghệ thuật. Huỳnh Trọng Khang mạo hiểm trong hành trình khai quật những câu chuyện quá khứ. Thái Cường rủ rỉ kể tiếp câu chuyện gia đình và quê nhà. Tru Sa lần mò trong mê cung đầy bóng tối. Pháp Xa Chan trình hiện một tâm thức hỗn mang và Pháp Hoan với bút pháp tân hiện thực…
Phân định giữa sách và tác phẩm
Chúng ta vui mừng với sự đa dạng hôm nay, bởi vì đó là dấu hiệu của sự phát triển bình thường lẽ ra phải có. Văn chương có mặt cho tất cả mọi người. Nhưng cũng cần thấy rằng với trình độ thưởng thức ngày càng cao của công chúng và sự sàng lọc của thời gian, sẽ có sự phân định giữa sách và tác phẩm.
Sẽ có những người viết có khát vọng để đời và những người viết nhằm đạt được một mục tiêu ngắn hạn. Khởi điểm của con đường cầm bút rất quan trọng, ý thức chọn lựa sẽ tùy thuộc khả năng và điều kiện của từng người. Và người đọc cũng thế, niềm vui đầu đời khi bước chân vào khu vườn văn chương và những tháng ngày ngồi trên ghế nhà trường rất là quan trọng.
Nếu lạc quan, sẽ nói rằng đời sống văn học bề bộn hôm nay là một trong những biểu hiện của đời sống văn học mang tính tự nhiên và dân chủ. Có chút ít tinh thần dân tộc, sẽ mừng vì sách do người Việt viết tăng lên đáng kể và mừng vì người đọc rộn ràng tìm đến sách.
Trong mong ước mỗi cuốn sách được nhấc lên và cầm về nhà sẽ là cuốn sách có thể đọc đi đọc lại nhiều lần, thậm chí theo ta suốt cuộc đời, sẽ nảy sinh một sự lo âu và nuối tiếc. Lo cho “tầm đón đợi” của độc giả đang dần dần đi xuống. Tiếc cho những chọn lựa cầm bút sẽ định hình luôn một con đường. Hỡi những nhà văn trẻ, bạn muốn mình luôn là người viết (écrivant) làm ra sách, hay sẽ là nhà văn (écrivain) làm ra tác phẩm, nói như Jean-Paul Sartre thuở ấy?
Bộc lộ cá tính sáng tạo
Cá tính sáng tạo của những người trẻ này đã hé. Việc học và việc đọc đã đưa họ đến với văn chương với một đà viết đầy cảm hứng và có tinh thần trách nhiệm. Dù viết là bộc bạch, là trải nghiệm hay là tưởng tượng, có thể thấy những người trẻ hôm nay đã ý thức rất rõ về tính giao điểm của đời và của văn. Trường liên tưởng của họ rộng, hiện tượng liên văn bản (cả về phương diện tư tưởng lẫn phương diện thủ pháp) trong tác phẩm của họ càng rõ.
Những trang viết tạo sóng trong lòng người thường là kết quả của một quá trình lắng nghe mình và lắng nghe đời, được phả thành một giai điệu riêng. Ngày hôm nay văn xuôi bừng nở, thơ ca âm thầm hơn, nhưng trên góc độ cá nhân, tôi tưởng chừng như nghe được tiếng dội sâu trầm của những bài thơ được viết từ ám ảnh.
6/2/2020
Nguyễn Thị Thanh Xuân
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thục Uyên - Tiếng thơ buồn của người đàn bà giàu lòng trắc ẩn

Thục Uyên - Tiếng thơ buồn của
người đàn bà giàu lòng trắc ẩn

Thơ Thục Uyên là tiếng thơ buồn của một người đàn bà giàu lòng trắc ẩn. Mỗi bài thơ của chị là biết bao nỗi niềm chất chứa được gửi gắm vào đó. Chị làm thơ từ khi rời quê hương. Thục Uyên lặng lẽ viết, viết như để giãi bày những gan ruột, những gì chị nhìn thấy, những gì chị rung cảm, đau xót trước bao thăng trầm, biến cố của con người và thời cuộc. Do vậy, Thục Uyên đến với thơ không phải để khẳng định tên tuổi, cũng không phải để mình được danh xưng nhà thơ mà chị đến với thơ một cách tự nhiên, hồn hậu.
Tìm đến thơ, trải lòng với thơ đó là cách mà Thục Uyên cảm thấy tâm hồn mình như được thanh lọc, thư thái và an toàn nhất. Đến với thơ và coi thơ như một Đức tin tôn giáo, một sự cứu rỗi tâm hồn. Vì thế, chị sống vẹn toàn với thơ bằng sự hồn nhiên, trong trẻo. Mỗi câu thơ, bài thơ chị viết đều như trút cả tâm can mình vào đó. Người đọc thấy hầu như bài thơ nào của chị cũng man mác nỗi buồn. Nỗi buồn đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng tựu trung vẫn là những nỗi đau đáu hoài niệm về quê hương, về người thân, về bạn bè và cả những nỗi đau nhân thế.
Hạnh phúc đích thực là khi con người hướng đến những giá trị tinh thần mang tính nhân văn sâu sắc. Đó có thể là những điều quá đỗi bình thường, giản dị nhưng đôi khi vì mải mê công việc, vì nặng nợ áo cơm hoặc cũng có thể vì hiện tại cuộc sống đủ đầy mà có người đã quên đi quá khứ của những năm tháng khổ nghèo. Với Thục Uyên, nỗi niềm với mảnh đất quê hương, với bao kỷ niệm một thời lần lượt hiện diện trong thơ của chị.
Con sẽ về thăm lại căn nhà nhỏ
Ngọn đèn dầu le lói thắp đêm khuya
Con sẽ về để thấy mẹ hôm xưa
Lom khom nấu chiều khơi trong bếp nhỏ
Cơn mưa về trơn ướt đường đất đỏ
Mẹ loay hoay mớ củi ướt bên hiên
Khói bếp cay hong mắt mẹ triền miên
Tuổi thơ con buồn như những ngày ám khói
Con sẽ về giữa mùa gió nổi
Gió đầu mùa xao xác những giấc mơ
Gió mênh mông, tan vào đêm hiu quạnh
Gió âm thầm qua ruộng bắp xác xơ
Con sẽ về cao nguyên mù sương khói
Mơ cơm chiều được bên mẹ ấm êm
Nắng lung linh hoa cà phê nở trắng
Đàn trẻ đùa trong đất đỏ lấm lem
Chưa về được nên nghe lòng quặn thắt
Dáng mẹ ngồi bên bếp lửa chiều đông
Thương những đứa con lạc loài đâu đó
Mắt mẹ buồn chạm tới mênh mông.
Bài thơ Nhớ cao nguyên là một trong những bài thơ hay của Thục Uyên. Hình ảnh người mẹ tảo tần, vất vả, hi sinh hôm sớm đã trở thành biểu tượng, trở thành lẽ sống cho chị. Nhớ cao nguyên là nỗi nhớ bao trùm nhưng mẹ chính là trung tâm của nỗi nhớ. Ở đó gắn liền với nhiều thứ bình dị, gẫn gũi và đã in đậm trong trí não đứa con. Người con ấy, dù đã rời xa mảnh đất quê hương, nơi chở che và ghi dấu những năm tháng đầy ắp kỉ niệm. Nơi có căn nhà nhỏ, có ngọn đèn dầu le lói thắp đêm khuya, có hình ảnh của mẹ lom khom nấu chiều khơi trong bếp nhỏ. Bao hình ảnh thân thương lại hiện về, những năm tháng gian lao, khốn khó hiện diện trong tâm thức của người con. Điệp khúc Con sẽ về được lặp đi lặp lại 4 lần. Đó là nỗi mong chờ da diết của một đứa con xa quê muốn được trở về mảnh đất nơi chôn nhau cắt rốn, nơi gắn với bao ký ức niềm thương mà con và cả gia đình đã trải qua. Cơ bản là những chuỗi dài buồn, nỗi buồn được chắt lắng và trở thành nỗi ám ảnh, day dứt. Vùng đất khắc nghiệt: nắng – gió – mưa – bão nên con người phải luôn chống chọi với thời tiết bất thường này. Vùng đất ấy đã trở thành nỗi nhớ, niềm thương, nỗi nhung nhớ không thể nguôi ngoai trong tâm khảm của một người đứa con (giờ đã đứng tuổi) xa quê nhưng lại rất nặng nợ với quê nhà. Nhà thơ tự thức:
Tôi đã mất mùa xuân từ daọ ấy
Từ thuở đời tao loạn buổi chia ly..
Thân trôi nổi với chợ đời cơm áo
Dám mong gì xuân đến với xuân đi!
Hai mấy năm xuân về trên đất lạ…
Luôn nhớ về mùa xuân tuổi ấu thơ
Dòng sông kia có ngược về dĩ vãng
Chuyên chở cho tôi mùa xuân cũ đợi chờ.
Tha thiết và gắn bó với quê hương, với cuộc đời nên nhà thơ Thục Uyên đã có rất nhiều bài thơ hay viết về đề tài này. Có thể kể ra một số bài như: Soi bóng cội nguồn, Kinh khổ, Tìm mãi mùa xuân, Những cơn gió cuối mùa, Em đi, Này em có nhớ, Từ lúc em đi, Nhớ Huế, Nhớ cao nguyên, Những sợi buồn… mà khi đọc, người đọc sẽ không thể nào không nghĩ suy, không day dứt. Đặc biệt là những người con xa xứ nhưng trong trái tim vẫn luôn hướng về nơi cội nguồn sinh dưỡng, nơi chứa đựng không biết bao nhiêu mối ân tình.
Thơ Thục Uyên đọng lại trong tâm hồn người đọc bởi những liên tưởng phong phú, tứ thơ lạ cùng với những hình ảnh mang tính biểu trưng. Ngôn ngữ thơ tự nhiên nhưng chứa đầy cảm xúc, bộc lộ được bản sắc cá nhân – đó là một hồn thơ trữ tình da diết, đau đáu nỗi đời, nỗi người. Thơ chị là tiếng lòng của một người phụ nữ đầy bao dung và giàu lòng nhân ái. Những kỷ niệm thường trực thao thức tạo nên những dòng chảy bền bỉ vừa thực, vừa mang nét u huyền. Đôi lúc là nỗi đau, sự u uất, nghẹn ngào của nhà thơ.
Em đi là một trong số những bài thơ ấn tượng của Thục Uyên. Ở đó trùng điệp những nỗi buồn. Lời thơ nhẹ nhàng nhưng nó như vết dao cắt cứa vào tâm can, giăng mắc vào lòng người bao nhiêu câu hỏi. Nhà thơ đã trải qua những năm tháng thăng trầm, nhiều mất mát, tổn thương và vốn là người nặng tình nên điều gì cũng làm cho chị trăn trở, day dứt.
Gió vẫn phất phơ chiều đông muộn
Nắng võ vàng thấp thoáng dáng em
Lũ chim trắng u hoài như phế tích
Vỗ cánh buồn luyến nhớ dấu chân êm..
Nắng bàng hoàng hôm em xa vắng
Đường em đi ngơ ngác lối rẽ hai ..
Chiều hôm đó ngập tràn hoa lau trắng
Nắng rất vàng sao hiu hắt tàn phai..
Lối em đi rừng xưa đã khép
Màu lá xanh chia biệt buốt cô đơn
Em chỉ còn phôi pha như ký ức
Trăng lụi tàn tan tác giấc mơ đêm..
Em đã về chưa con ngõ vắng?
Dốc mơ cao, mùa cỏ úa hoang vu…
Tiếng gà gáy vọng trong trưa nắng
Em có còn thương nhớ tiếng mẹ ru?
Em đã xa, mịt mù như bóng tối ..
Như loài chim vỗ cánh dị kỳ
Chỉ hiển linh trong cạn cùng nỗi nhớ..
Mất dấu rồi biền biệt cánh thiên di!
Thục Uyên miên man trong ký ức về những câu chuyện thuở thiếu thời, về những năm tháng khổ nghèo nhưng sống trong tình yêu thương đầy ắp. Vùng quê chị đã sinh ra, lớn lên và gắn bó thuở nào (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Huế, Lâm Đồng) giờ đã trở thành không gian hoài niệm vĩnh cửu.
Vì thế, trong thơ Thục Uyên tứ thơ phần nhiều bắt nguồn từ nỗi nhớ: tôi đi tìm mãi trong màu nhớ, tôi đi tìm lại một mùa xuân, Bao giờ nhớ Huế về thăm Huế, Bước người xa thầm lặng mỏi mòn, em giờ xa xôi quá, Đất mẹ gầy ôm ấp cả tuổi thơ, màu kỷ niệm ươm vàng nỗi nhớ, Từng đêm về giấc mơ đời vụn vỡ, Em có còn thương nhớ tiếng mẹ ru? Tôi đã mất mùa xuân từ daọ ấy…
Nỗi buồn giăng mắc vào cả không gian và thời gian, Thục Uyên chỉ biết trải lòng mình bằng những giọt buồn xốn xang của một trái tim đa cảm.
tôi đi tìm mãi trong màu nhớ/ ô, nắng xuân về dọi thiết tha / xuân vẫn đến mùa vui không về nữa/ nỗi nhớ xuân heo hút đến phôi pha (Tìm mãi mùa xuân).
Đêm nghe gió thì thầm đâu đó
Tiền kiếp nào dắt lối buồn thiu
Sương từng giọt rớt trong tan vỡ
Đêm dịu dàng đưa tay nắm quạnh hiu
Đêm che khuất vầng trăng khuyết tật
Nghe linh hồn thoát kiếp giấc mơ
Nghe tiếng đá thở dài mệt nhọc
Tiếng chim kêu thảng thốt bơ vơ
(Tiễn biệt)
Nhà thơ khao khát trở về những năm tháng của tuổi thơ vô tư, hồn nhiên như cỏ cây hoa lá. Điều ước ấy tưởng đơn giản nhưng không thể thực hiện được khi mọi thứ đã đổi thay và thời gian đã không cho phép. Bởi tuổi già đã ập đến và đặc biệt hơn đó là khoảng cách về mặt không gian xa tít mù khơi!
Tình thương và sự sẻ chia đã xây nên những vần thơ chân thành, mộc mạc mà giàu tình nghĩa. Lòng quặn đau khi nhà thơ chứng kiến nhiều hoàn cảnh, mảnh đời bất hạnh. Đó có thể là cảnh ngộ của cô gái Việt sống tha hương nơi đất khách:
tháng mười hai
đàn sẻ nhỏ thèm rúc vào hang ổ
sợ những ngày khắc nghiệt mùa đông
sợ đường bay tuyết rơi trắng xóa
sợ những lúc bão giông…
là tháng cuối trong năm
em trộn lẫn với dòng người xa lạ
giữa đám hàng Giáng Sinh sáng chóa
rực rỡ sắc màu
dáng em thu nhỏ
đôi mắt buồn ẩn số Á Châu…
(Tháng mười hai)
Này em người con gái da vàng
Số phận khắc ghi em bằng sắc tố
Dòng máu Việt Nam da vàng ôi khốn khổ
Chạy lang thang khắp mặt địa cầu
Có những chiều ảo não tiếng đàn bầu
Những cánh chim tựa vào nhau xơ xác
Những ngày vui quê hương ơi xa lắc
Còn được không về soi bóng cội nguồn?
Em chưa lớn lên sao đã biết buồn
Ước mơ đi qua tủi hờn rất thật
Vị mặn trên môi, vị sầu lên mắt
Lịch sử ngậm ngùi đắng ngắt tuổi thơ
Tới xứ người những khuôn mặt ngây ngô
Miệng khờ khạo vài ba câu sinh ngữ
Bập bẹ áo cơm, thuộc lòng năm ba chữ
Nguôi ngoai không, đêm viễn xứ đầy sao..
Phi cơ lướt bánh trên phi đạo
Nghiến tái tê rách nát mặt đường
Mẹ rưng rưng nhìn con tiễn biệt
Em nhớ rằng em có một quê hương …
(Này em có nhớ)
Bao nhiêu câu hỏi đặt ra về kiếp người, lẽ sống, niềm tin, sự hạnh phúc – khổ đau… của những cô gái da vàng đang mưu sinh ở hải ngoại. Càng xót xa hơn là những cô gái Việt Nam lấy chồng ngoại quốc, “sang sông” rồi từ đó biền biệt không về!
Sang sông hôm ấy đò đưa/ Hương cau ngan ngát, bến xưa mẹ buồn/ Em cười vén vạt áo hường/ Con đi dăm bữa về thường mẹ yêu !
Em ngoan xinh đẹp mỹ miều../ Mắt thơ ngây, dáng yêu kiều thướt tha/ Đàn em nhỏ chạy ra xa/ Níu lấy tay chị ở nhà với em…
Vậy là bao buổi chiều êm/ Nhà vắng bóng chị buồn tênh mẹ ngồi…/ Mâm cơm chiều đã dọn rồi/ Cha ngồi chống đũa mắt trôi phương nào…
Bến sông chiều ấy lao xao/ Nước như phẳng lặng sóng trào rẻ đôi…/ Xác xơ nhánh lục bình trôi/ Em trôi trôi mãi… bên đời quạnh hiu !
Mẹ buồn gói hết thương yêu/ Ôm con trong mộng, lưng chiều sao sa…/ Mẹ ơi đừng gả con xa (*)/ Chim kêu vượn hú biết nhà mẹ đâu?
Giấc mộng đổi đời, “sính” lấy chồng ngoại quốc để rồi biết bao cô gái phải “sập bẫy”. Ở phương trời xa, họ mòn mỏi được trở về nhà, về quê hương nơi có mẹ cha, gia đình, bè bạn nhưng tất cả đều vô vọng. Đau đớn. Buồn tủi. Nhục nhã. Ê chề…
Khi biết tin người bạn trẻ không may mắc bệnh hiểm nghèo, trái tim đa cảm của chị lại nhói đau. Bằng việc sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ và nhân hóa, chị đã khéo léo gửi gắm rất nhiều điều vào bài thơ Kinh khổ.
Có những ngày lòng buồn như lá úa
Lay lắt trên cành đợi gió thu phai
Lá vẫn xanh sao gánh nhiều oan trái
Hành trình nào mờ mịt dấu tương lai ..
Em lớn lên giữa những mùa lúa chín
Đồng ruộng xanh xanh ngát ước mơ
Cánh diều bay chập chùng cơn viễn mộng
Đất mẹ gầy ôm ấp cả tuổi thơ…
Rồi một buổi bão về cơn sóng dữ
Cắn chặt môi chua xót nỗi đau thương
Từng đêm về giấc mơ đời vụn vỡ
Hồn tả tơi xơ xác những đấu trường …
Định mệnh nào
giữa trùng trùng gươm giáo
Cánh chim buồn tha thiết níu trời cao
Đêm từng đêm lời nguyện cầu vang vọng
Gởi ước mơ lên tới những vì sao…
Hay sự ra đi của những người thân yêu, ruột thịt làm cho Thục Uyên hụt hẫng, bàng hoàng. Chị thấm thía sự mất mát của đời người. Dẫu biết rằng đó là quy luật tất yếu. Điều quan trọng không phải là những tháng ngày tồn tại dài hay ngắn mà ý nghĩa của cuộc sống – giá trị của con người mới là điều đáng lưu tâm. Sự sống – cái chết dưới cái nhìn đầy nhân văn, với sự liên tưởng, so sánh độc đáo, nhà thơ đã làm sáng tỏ ý nghĩa triết mỹ của nó.
Thục Uyên đã vận dụng sáng tạo các biện pháp nghệ thuật để tạo ra những dòng thơ ẩn chứa nhiều ý nghĩa sâu xa. Ẩn dụ, so sánh, nhân hóa và tương phản là những phương thức được nhà thơ chú trọng.
Em đợi mưa về mưa tháng bảy/ Bớt héo khô những ngọn cỏ lưu đày/ Lũ chim biệt xứ thôi nhớ tổ / Dấu hạ buồn trên những cánh bay (Những sợi buồn).
Biển vẫy gọi những bến bờ xưa cũ/ Cánh buồm nào căng gió nhớ bến mơ ?/ Hàng dừa xanh lả ngọn cười soi bóng/ Vật vờ trong nỗi nhớ đã tàn tro…(Biển nhớ).
Ta nhớ lắm bạn bè và lớp học./ Phấn trắng bảng đen cùng các cô thầy/ Ta đau xót tuổi hoa niên dang dở/ Số phận mang ta xa tít tắp chân mây…
Chiều đã xuống về thăm dòng sông cũ./ Nơi ta về một nửa đã cạn khô./ Một nửa dòng kia đang chảy lặng lờ/ Sa mạc trong hồn nuối tiếc tuổi ngây thơ…
(Về thăm Quảng Ngãi)
Thục Uyên không bao giờ dừng lại ở những cảm xúc bề ngoài mà luôn đi vào bên trong để khám phá, phát hiện bản chất của vấn đề. Từ đó, chị nghiền ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời, tình người một cách sâu sắc. Nhà thơ suốt đời kiếm tìm hạnh phúc trong những trăn trở và suy tư. Nhưng giữa sâu thẳm của dòng thời gian, hạnh phúc vĩnh viễn chỉ là một niềm mơ ước.
Các hệ từ chỉ sự buồn đau, xa vắng, chia ly… được nhà thơ sử dụng dày đặc. Không khó để bạn đọc nhận ra các từ như: lưu lạc, bơ vơ, buốt lạnh, vụn vỡ, lịm tắt, đọa đày, nhạt màu, điệu buồn, hiu hắt, đơn côi, mịt mù, hỗn mang, truân chuyên, đổ vỡ, xác xơ, chông chênh, loang đong, u uất, vỡ nát, mịt mùng, vết đau, bạc bẽo, rụng rơi, tái tê, tao loạn, nghiệp, nợ, nỗi sầu, xót xa, ngàn trùng, trầm luân, mỏi mệt, tro bụi, âm u, tan hoang, ngơ ngác, nổi trôi, quạnh hiu, khóc, lao đao, đa đoan, chua xót, băng giá, lâm chung, thoi thóp, tan tác…
Trong hành trình sáng tạo, Thục Uyên viết về cái tôi bản thể có lẽ là những vần thơ sinh động và để lại nhiều dư âm nhất trong lòng độc giả. Bởi ở đó, chị đã bộc bạch, giãi bày thành thật nhất, rõ ràng nhất những điều sâu kín của tâm hồn. Đâu đó có tiếng nấc nghẹn vì buồn tủi, tiếng thở dài của những ước vọng không thành, những giọt nước mắt vọng lại từ nỗi đau còn mới nguyên hay cả những tiếc nuối xa xôi ngỡ như đã ngủ yên.
Người hỏi tôi khi nào về cố xứ ?
Đến khi nào mỏi mệt cánh thiên di !!
Mưa vần vũ trên bầu trời u ám
Mây cũng bẽ bàng với cuộc chia ly…
Yêu ca dao từ khi “trăng là nguyệt..”
Yêu truyện Kiều từ thuở rất ấu thơ…
Nhớ tha thiết tiếng rao hàng cuối phố
Chợ nhóm xôn xao trong cả giấc mơ…
Chim bạt gió từ khi xa tổ ấm
Cánh bôn ba đời cơm áo tha phương …
Thân phiêu bạt vẫn nhớ miền đất hứa
Nữa linh hồn đã để lại quê hương.
(Cánh chim Việt)
Thơ Thục Uyên chứa nhiều gam màu trái ngược, nỗi buồn xuyên suốt nhưng không phải là sự tuyệt vọng mà đó là những suy tư, chiêm nghiệm về cuộc sống, về tình đời, tình người. Hiện tại – Quá khứ – Tương lai đan cài vào nhau và mở ra nhiều không gian khác đã làm cho tâm hồn thi sĩ tha hương như chị luôn khắc khoải, buồn thương và cả sự xót xa khi nhớ về quê cha đất Tổ. Giọng thơ Thục Uyên vừa tâm tình, thủ thỉ, vừa trữ tình sâu lắng và cũng không kém phần cay đắng xót xa. Từ sắc thái, giọng điệu thơ; người đọc có thể hình dung ra hình ảnh của thi nhân. Đó là một đứa con của tình yêu quê hương sâu đậm, lặn sâu vào thân phận dân tộc mình, bản thể mình để suy tư, để nghiệm sinh về bản thể đời sống, con người.
Phú Yên, 7/2/2020
Nguyễn Văn Hòa
Theo https://vanhocsaigon.com/

Ba nhà thơ Việt tiêu biểu ở Mỹ

Ba nhà thơ Việt tiêu biểu ở Mỹ

Đó là ba nhà thơ Du Tử Lê, Trần Mộng Tú, Lê An Thế mà dưới góc nhìn của nhà thơ, nhà phê bình Đỗ Quyên thì họ tiêu biểu cho các nhà thơ Việt ở Mỹ đương đại…
I. NHÀ THƠ DU TỬ LÊ
Du Tử Lê thường được xem là một trong bảy nhà thơ hàng đầu của nền văn học miền Nam Việt Nam trước năm 1975, cùng với Bùi Giáng, Vũ Hoàng Chương, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Đinh Hùng và Nguyên Sa. Cây thơ cuối cùng ấy đã hết còn lá xanh giữa mùa thu này trên mảnh đất không phải là quê Mẹ.
Ra hải ngoại ngay từ 1975, cho đến nay ông là tay bút cựu trào hiếm hoi vẫn còn viết, viết hay cho đến ngày tháng chót.
Từ lâu, đây cũng là một trong không nhiều thi sĩ có nhiều tác phẩm được phổ nhạc. Trong dư luận công chúng, cả bài thơ lẫn bài ca “Khúc thụy du” (1968) đã có thể thay tên tác giả.
Trong hàng chục năm qua, với thi lực sung mãn (và có phần nào chạy nhanh hơn Nàng thơ), chàng thi-tử họ Lê xuất bản sách gần như mỗi hai năm, để rồi cuối cùng lưu lại “ở chỗ nhân gian không thể hiểu” gần 80 tác phẩm ở nhiều thể loại. Tuyển tập “em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình” (2019) là thi phẩm cuối cùng; còn trong năm 2018, tại TP HCM đã có 4 đầu sách được xuất bản và tái bản.
Ở tập “năm chữ du tử lê và, mười hai bài thơ, mới” (2010), thi sĩ thể hiện rất rõ sự càng thêm điêu luyện của mình khi giữ chắc âm nhịp làm cho ý tưởng và ngôn từ bay lên trong các thể thơ tự do mang tinh thần hiện đại và hình thức cách tân.
“em nhường tôi chỗ ngồi
mang theo mọi chú thích”.
(“Bài bọc bên ngoài thảm kịch,”)
Kể từ đó, với câu thơ trên, “chỗ ngồi” không chỉ là nơi chốn địa lý; mà còn là chốn thơ!
Ra hải ngoại sau một thời gian viết trong lối cũ, Du Tử Lê đã kéo thơ hiện đại Việt cuốn vào thi pháp của riêng mình, và tạo ra những lối rẽ mới bằng cú pháp, ký hiệu, dấu… Nhiều khi làm khó chịu không chỉ các con mắt đọc thơ theo lối cũ.
Các dấu gạch chéo (slash) “ / “, dấu gạch nối (hyphen) “ – “ , cách đặt dấu chấm, phẩy, không viết hoa tất cả các chữ, v.v… từng được “made by Du Tử Lê”. Hãy đọc chúng như các thể nghiệm lý thú!
Trích đoạn sau đây từ bài “chào năm mới ở garden grove, california,” nên xem như dấu ấn thơ đương đại Du Tử Lê:
“vẫn buồn (kép,)
chia đôi:
thiên đàng / địa ngục.
em chiếc nêm
chêm giữa – –
ngực đơm / môi /
triền thơ ấu nghiêng,
thiêng bầu vú mẹ.”
Không chỉ thân thuộc giữa cộng đồng người Việt ở trong và ngoài nước, Du Tử Lê là nhà thơ gốc Việt được giới thiệu nhiều nhất trong các trường đại học tại Mỹ.
Thơ họ Du đi với nhạc điệu như hình với bóng mà đó lại là tiêu chí đầu tiên của thơ Việt. Ngôn ngữ của ông đại chúng mà sang cả: già-trẻ, Tây-Ta, cũ-mới đều hiểu dù ít dù nhiều. “Tặng nhau chín ngón không đeo nhẫn”, “Ai nhớ ngàn năm một ngón tay” là hai trong nhiều câu thơ của ông mới nghe ta đã choáng và sẽ còn ngợp mãi. Không chỉ mỗi khi nghĩ đến những câu thơ đã có trên đời về… ngón tay.
Bài thơ “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển” (1977) và trường ca “Mẹ và Biển Đông” (1989) là hai đứa con quý nhất mà tác giả trao gửi tiếng thơ mẹ Việt, trong ý nghĩa Du Tử Lê như một người thơ của tâm trạng di dân lớn lao.
Xét ở nhiều mặt, Du Tử Lê là một nhà thơ rất tiêu biểu cho thi ca hiện đại Việt Nam – một Việt Nam của chiến tranh và của tình yêu.
II. NHÀ THƠ TRẦN MỘNG TÚ
nổi tiếng trong thể thơ truyền thống với vần điệu ổn định qua các bài trữ tình đau đáu nỗi thương người thương thân.
Có cảm hứng dẻo dai, nữ thi nhân góp mặt liên tục trên hầu khắp báo chí hải ngoại và thành danh qua cuộc đời di tản ở xứ người.
Khác với đa số người viết theo phong cách và tâm trạng “chuẩn”, sự sống ở thi ca Trần Mộng Tú đến từ cái tâm thơ trẻ trung và sáng trong, cái mắt thơ sinh động và thông suốt trước các chuyện cũ cùng chuyện mới, chuyện Việt Nam cùng chuyện xa xứ. Nhờ thế chữ (nội dung, đề tài) ở mỗi bài dù cũ và quen được mang những nghĩa (tư tưởng, cảm xúc) mới và lạ. Lạ hóa, đổi mới nhẹ nhàng như không. Những bài thơ chưa hay, thường ở thể tự do, thì cũng lạ.
Nếu như ngày mai bỗng phục sinh tục lệ của 30 năm trước: chép thơ vào sổ tay, chắc rằng Trần Mộng Tú sẽ là tác giả Số 1 ở hải ngoại và có thể trong Top 10 của thơ Việt Nam đương đại.
Đây là đoạn kết của bài Tiễn Phạm Chi Lan, khóc thương người bạn văn vắn số mà tài năng, tâm huyết:
“Tôi gửi một giọt lệ
rơi trên lưng bàn tay
dẫu tay không với tới
cũng xót người hôm nay.”
Hay và lạ ở chữ “lưng”. Lòng bàn tay thì khỏi nói! Đây là lưng bàn tay, mấy ai viết nổi thành thơ?
Trần Mộng Tú đã góp phần làm cho Thơ mới của thế kỷ trước vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” giữa thời hiện đại rồi hậu hiện đại. Xuất bản năm 2009 cuốn Thơ tuyển Bốn mươi năm của bà đã làm minh chứng!
III. NHÀ THƠ LÊ AN THẾ
Nhà thơ Lê An Thế có tác phẩm “đầu tay” là Thơ Lê An Thế (2009), rồi cứ “thế” mà “an” nhiên mà “lê” đường thơ mới của mình cho đến hôm nay.
Đây là một trong các thi tập xuất sắc ở sự mới mẻ của thơ hải ngoại mà chúng tôi được biết trong mươi năm qua. Tràn ngập tâm thức hiện đại, nhà thơ đến thẳng với bạn đọc bằng cách nghĩ, cách sống của mình trong ngôn ngữ riêng.
Tập Thơ Lê An Thế có không ít bài mang kiểu nhìn bình dân trên nền tri thức, phàm tục trong đứng đắn.
Ở bút danh mới, tác giả không làm xấu hổ bút danh cũ từng náo hoạt văn học Việt ở nước ngoài thời hưng thịnh – khoảng năm 1995: Lê Bi! Ấy là bút danh từ ngày ông bắt đầu viết văn làm sách báo ở Mỹ, sau khi trút lại bộ đồ thiếu úy Quân lực Việt Nam cộng hòa trên quê hương. Lê Bi của thao thức thời cuộc, của phản biện lịch sử với sự ảnh hưởng từ Chế Lan Viên.
Mời độc giả thưởng thức toàn bộ một sáng tác của Lê An Thế được viết tại Nha Trang, mà chúng tôi đang có trong đầu cả một bài bình:
“Nghệ Thuật Ngồi Quán Một Mình
Có lúc tôi là một làn sóng một ngoại ngữ một cánh cửa
một phụ âm
qua góc quán này một người đàn bà vừa đi vừa nói vào chiếc điện thoại di động
tôi lại thất tình
với chiếc điện thoại di động
khi người đàn bà nhét nó vào túi sau quần jean
mang theo một cái mông đầy sóng
giữa những bức tường không chịu chết này
chúng ta đứng ngồi chồng chéo
tôi lại như một cái chìa khóa
đang thử cắm vào tất cả
mà vẫn giữ được sự cô độc của mình.”
Hy vọng với các dịp khác, được mời tiếp độc giả đến với “3 nhà thơ Việt tiêu biểu” ở Canada, rồi ở Pháp, Đức, Úc, v.v…
8/2/2020
Đỗ Quyên
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Song Tử" và những cơn rung chấn tình của người đàn bà thơ

"Song Tử" và những cơn rung
chấn tình của người đàn bà thơ

Người đọc từng biết đến Như Quỳnh de Prelle với tư cách là một nhà làm phim, một giọng thơ tinh tế, sâu sắc và không kém phần nổi loạn. Thơ của chị đăng tải nhiều trên các diễn đàn trong nước và ngoài nước. Chị xem không gian internet là sân chơi của thi ca. Chỉ đến khi Song Tử ra đời, người đọc mới có cơ hội nắm bắt những cảm quan thẩm mỹ cũng như sức hấp dẫn, lôi cuốn của ngôn từ trong thơ chị.
Song Tử là tập thơ chị viết dành cho những tưởng tượng của thi ca, thể hiện những tình cảm và sẻ chia cùng anh. Ở đó, tình yêu của người đàn bà thơ với anh – Song Tử, được cài bện trong tình yêu thi ca, tình yêu con người, quê hương, cuộc sống… Anh – Song Tử, là một hằng số vô cùng khơi mãi những thương yêu bất tận. Anh – Song Tử cũng là một hình tượng nghệ thuật ẩn chứa những suy tư vừa kín đáo vừa táo bạo về thế giới của chị.
Những câu thơ Như Quỳnh de Prelle viết như những lời tâm sự, thủ thỉ, tâm tình với anh về tình yêu, về thơ ca, về cuộc sống. Ở đó, chị bày tỏ tình yêu tha thiết, thủy chung, mãnh liệt, bỏng cháy và luôn tìm về sự hài hòa cả về tinh thần lẫn thể xác, khát chờ một hạnh phúc vĩnh hằng, một tổ ấm vẹn toàn. Anh chính là mạch sống đời thơ chị. Chị biết cách nhen nhóm và gìn giữ tình yêu với sự chăm chút đáng quý: “yêu anh yêu anh từng nhịp đập từng nhịp từng nhịp”. Với chị, yêu là phải bùng cháy cảm xúc để tỏ lòng với người mình yêu. Do vậy, sự gắn bó, khăng khít giữa hai người tình không chỉ đo bằng chiều dài của thời gian mà còn được mở rộng biên độ yêu, không gian yêu. Đâu chỉ hiện tại, mà ngay cả cõi mơ, tình yêu ấy vẫn nảy nở, đằm sâu: “Em đợi anh/ Yêu anh/ từng ngày từng ngày một/ như hơi thở/ như những hẹn hò trong mơ/ như những thảng thốt/ bất ngờ” (Anh. Tiếng Việt và quê hương). Yêu như là nhịp thở của nhau và đến khi tràn sang cả cõi mơ thì sức mạnh của tình yêu, nỗi khát hòa nhập được đẩy lên cao hơn.
So sánh là một trong những phương thức tăng thêm vẻ đẹp của diễn ngôn, của hình tượng được nói đến cũng như gửi gắm nỗi niềm, triết luận của tác giả về cuộc thế. Cấu trúc so sánh được Như Quỳnh de Prelle sử dụng khá nhiều. Khảo sát tập Song Tử, chúng tôi thấy cấu trúc anh là (A + là + B) xuất hiện 23 lần/81 bài thơ. Hình tượng anh trở thành nguồn cảm hứng đặc biệt trong thơ chị:
Song Tử duy nhất của em
anh của em
anh là Tổ quốc của em
trên địa cầu hôm nay
 (Anh. Tiếng Việt và quê hương)
Yêu và nhân niềm tin yêu mỗi ngày bằng gia vị riêng nhưng tất yếu không thể thiếu gia vị của lòng trân quý người tình. Cách so sánh đối tượng cụ thể với đối tượng trừu tượng, mang tính biểu tượng cao, thiêng liêng ở đoạn thơ này là một phát hiện thú vị của chị. Việc lặp lại các từ “của em” góp phần khẳng định tính sở hữu cũng như nhấn mạnh tình yêu bất diệt của người đàn bà thơ đối với anh. Đoạn thơ khác, yếu tố khẳng định đi kèm với các hình ảnh được so sánh xuất hiện liên tục: anh là một cánh rừng màu xanh của em/ là ngôi nhà diệp lục tưởng tượng của em/ là Song Tử/ cho em hẹn hò/ anh là không khí/ cho em thở/ cho màu xanh định mệnh của em/ cho sự thất thường của em/ trong sâu thẳm (Thêm một trái tim ở bên). Người đàn bà thơ biết nêm nếm đúng khẩu vị yêu, muốn khám phá kiệt cùng thế giới tâm hồn của anh. Anh được ví với mọi chiều kích của vũ trụ, xuyên qua lưới thời gian, là ngọn gió thơm mát, là những gì tinh khôi,… trong trái tim người đàn bà thơ. Mỗi cấu trúc thơ mở ra một cánh cửa tình. Cấu trúc anh – cánh rừng: không gian mênh mông ngập tràn sức sống. Anh – ngôi nhà diệp lục: gợi không gian gia đình ấm cúng, đoàn tụ. Anh – Song Tử: mẫu người đàn ông tuyệt vời. Anh – không khí: sự cần thiết để duy trì tình yêu và cuộc sống. Sự bó hẹp dần về không gian ở đoạn thơ trên chính là sự rút ngắn khoảng cách giữa hai người tình. Nỗi khát tình, khát hòa nhịp lòng của người đàn bà thơ đối với anh xuyên suốt, nồng nàn và ngày một lớn thêm.
“Song Tử” là “những con chữ của tình yêu”, là “mùa em dành cho anh tình yêu bất tận/ sự ân cần và hân hoan” (Bài thơ viết trong vườn). Người đàn bà thơ xem mình là nước. Anh là rừng. Nguồn nước chảy và thấm vào đất, vào rừng những mạch nguồn của tình yêu. Nguồn nước ấy mang đến sự thanh khiết, hòa hợp và sinh sôi nảy nở. Nguồn nước thanh khiết này sẽ tưới tắm, xoa dịu tâm hồn anh. Và cũng là hình ảnh tượng trưng nguồn thụ tinh cho một tình yêu đẹp, luôn chuyển dịch, vận động để tái sinh: “Hơn bao giờ hết, lúc này nàng nhận ra nàng yêu anh biết bao, cần anh biết bao, nàng tiếp tục yêu và yêu yêu như nước quấn quanh rừng, như những mạch ngầm của dòng chảy không tách rời mặt đất kia… nàng là nước, là người đàn bà mang nước để yêu anh như nguồn nước mẹ” (Song Tử). Mạch tình ấy không đơn thuần chỉ là sự hiện hữu qua những hành động (yêu) mà còn như nguồn nước mẹ thấm sâu, lan rộng khắp (quấn quanh, không tách rời). Trên nền gắn kết nàng-anh, nước-rừng, tình yêu nảy sinh, bình dị, son sắt, ngọt lịm, tràn trề, không bao giờ vơi, không bao giờ ngưng.
Nước trong thơ Như Quỳnh de Prelle còn mang biểu tượng phái sinh. Nước tăng thêm sự đủ đầy, thanh nhã cho không gian của tình yêu và vẻ đẹp tâm hồn:
Bảo Bình của anh là em
em chỉ có một Song Tử là anh
trời đất mang anh đến cho em
vũ trụ chuyển hoá anh cho em
một người mang nước có anh
và yêu anh
anh là cánh rừng
em là những dòng nước
chúng ta bao quanh nhau
nước từ trong lòng sâu của đất
nuôi dưỡng mạch nguồn cho rễ của cây
anh chở che em
bằng màu xanh diệp lục
sự chuyển đổi của thời gian
bằng tình yêu
lặng im lặng im
không cần nói bằng lời
(Song Tử của em)
Ở đoạn thơ trên, cặp đôi cánh rừng-dòng nước bổ sung, tương hỗ mang ý nghĩa thanh tẩy, nhen lên những mầm sống tươi mới, hồi sinh tâm hồn, kết hoa trái tình yêu. Trên tinh thần ấy, nước còn là biểu tượng của vẻ đẹp thiên tính nữ, mềm mại, trong sáng, nảy sinh sự sống mới; là chất kết dính, là sự hòa quyện tuyệt vời giữa cung Bảo Bình và cung Song Tử. Sự chuyển hóa dòng nước tình yêu mát lành từ em sang anh, từ Bảo Bình sang Song Tử và ngược lại, là một quá trình xuyên thấm và bồi đắp liên tục giữa hai trái tim đồng điệu, sống hết mình vì tình yêu. Yêu là phải tự tin, tự thổ lộ với người tình bằng trái tim nồng nàn và rất đỗi ấm áp, mến thương của mình. Vì vậy, tiếng nói thơ chị lúc nào cũng mong mỏi “tìm kiếm sự vẹn nguyên ngay cả khi cái chết cận kề”. Quyết tâm đó đã xác tín tiếng nói tự chủ, cá tính nữ trong hành trình tìm sự trọn vẹn tình yêu của người đàn bà thơ.
Khi yêu, ai cũng muốn thấu trọn trái tim người tình. Vì vậy, chị còn đặt ra những giả thiết, lật lại vấn đề: “Em cũng không có cơn mưa nào cho anh/ nên em thấy anh là giọt nước cho em uống anh trong cơ thể em” (Em và anh). Anh là giọt nước tinh khiết bù đắp nguồn sống cho em. Sự luân chuyển, thay đổi vị trí giữa người cho và người nhận, Như Quỳnh de Prelle đã chứng minh sức sống mãnh liệt của tình yêu giữa người đàn bà thơ và anh không bao giờ khô cạn, mãi mãi xanh tươi, quyến dụ suốt mùa yêu. Hơn nữa, khi yêu, người ta luôn có nhu cầu làm mới, nhen lửa tình yêu mỗi ngày. Nhưng nhu cầu nắm bắt, hiểu hết người mình yêu là một hành trình vô tận. Chừng nào còn nhu cầu kiếm tìm tình yêu thì tình yêu còn tồn tại. Người đàn bà ấy không để tình yêu nguội lạnh như lớp tro buồn, hoang hoải: “Em muốn yêu anh lại từ/ hôm nay như một ngày mới/ đang đến, mở mắt ra em/ nhìn thấy anh ở bên và/ có anh trên khắp mọi nơi/ em đến, em đi, ngồi lại” (Người yêu dấu ơi). Chị biết nhân thêm tình yêu và làm mới tình yêu mỗi ngày, biết hòa nhập, đồng điệu với người mình yêu để tôn vinh sự thủy chung và thiêng liêng của tình yêu. Ý thức này một mặt khẳng định tình yêu bền vững, vĩnh cửu của người đàn bà thơ với anh – Song Tử, không gì có thể chia cắt được, mặt khác, hướng con người đến sự trọn vẹn, đến những giá trị tốt đẹp hơn.
Người đàn bà thơ đa cảm, đa tình nhưng không yếu đuối, ngược lại, rất cứng cỏi, bản lĩnh, đầy cá tính. Nỗi khát yêu đôi khi được dồn đẩy, vỡ ra và bứt phá. Nó làm nên lớp sóng yêu dào dạt, chuỗi thanh âm nhục cảm táo bạo cho tập thơ: “anh là thời gian không gian của em/ anh là chú chim non gọi em buổi sáng/ dặn em đi ngủ lúc đêm khuya/ anh là con tinh trùng vô hình/ quẫy đạp em/ sinh sôi/ anh nằm trên ngón tay em/ lặng im lặng im” (Anh đến từ đâu). Đoạn thơ này, yếu tố được so sánh phát huy hiệu lực cao, tăng dần mức độ tình cảm và dừng lại ở hình ảnh nhục thể, hoan lạc, táo bạo. Những cuồng nhiệt của tình yêu, niềm hạnh phúc vô biên tràn ngập thời gian và không gian. Một tình yêu viên mãn. Một sự kết nối tuyệt đích. Ở bài thơ “Thư viết cho người yêu”, những từ ngữ đan phối, duỗi theo cơ chế tăng tiến cảm xúc như thèm, muốn, nuốt, hôn, uống, túm, ăn,… dội thẳng vào tâm trí người đọc: “lên cơn nhớ anh thèm anh bất tận/ em muốn được ăn cái lưỡi của anh/ hàm răng của anh/ ăn cả đôi bàn tay dài trắng muốt/ nuốt cả những ngón tay những móng tay sạch sẽ/ em ăn cả cơ thể của anh/ trên ngực anh em gối đầu/ và hôn vào chiếc rốn năng lượng/ em sẽ làm gì tiếp theo/ làm gì nào/ anh yêu ơi// lên cơn nhớ anh thèm anh bất tận/ mùa xuân ngọt lành/ em uống từng giọt từng giọt mồ hôi/ trên 2 cơ thể chúng ta/ em túm từng lọn tóc từng lọn tóc/ khô ơi là khô nước mắt em trào dâng/ ướt đẫm người anh/ em muốn được ăn anh toàn phần/ uống anh từng nụ hôn/ từng giọt nước mắt/ từng giọt mồ hôi/ từng giọt yêu đương từng giọt từng giọt// em đang yêu anh/ yêu anh”. Chúng ta thấy nhịp thơ đoạn này tương đồng với tốc độ cảm xúc tạo nên hiệu ứng nhạc tính của những con chữ và hiệu ứng nhạc lòng của hai người tình. Tất cả níu vào nhau, đan vào nhau theo một chỉnh thể thống nhất và cao trào. Đôi khi lời tình yêu chỉ là những thanh âm chân thật, tự nhiên nhưng vẫn khiến người đọc mê say trong miền nóng ấm của sự giao hòa: Anh che chở em tha thứ em theo nhịp đập từng hồi từng hồi và ngưng lại trên cơ thể mềm mại của em// Em lại chui vào anh nồng nàn tha thiết yêu đương// Có những lúc như thế, chúng ta vỡ ra những những thuỷ tinh và trong veo như những giọt nước mắt không màu đầy ánh sáng của tình yêu và bao dung// Em đang yêu anh yêu anh, Song Tử của em (Chúng ta là một). Đoạn thơ không khai thác rõ những hoạt động tính dục mà chỉ xoáy vào cảm xúc nhục thể bằng ngôn ngữ tinh tế, giản dị, cho thấy cái nhìn đa chiều của Như Quỳnh de Prelle khi nói về say đắm của tình yêu. Dù cảm xúc ào ạt, cháy bỏng hay dịu dàng, kín đáo nhưng có thể nói không một khoảng cách, ranh giới nào chia lìa được hai người tình. Cấu trúc dạng thơ văn xuôi ở đây trải dài như mở rộng thêm biên độ của tình yêu, của cảm xúc trong cơ chế vận động của những thanh âm tha thiết, mê say (che chở, ngưng lại, chui vào, vỡ ra). Nếu thơ tình yêu Vi Thùy Linh được giải tỏa bằng những cơn xúc cảm bạo dạn, được dệt bằng “những trận bạo động chữ” thì thơ Như Quỳnh de Prelle lại có cái riêng khác. Sự mơn trớn, tận hiến được đẩy đến cao trào nhưng vẫn hết sức tinh tế, chừng mực, vẫn giữ được sự dịu dàng, nữ tính của giới thứ hai. Đó là một cơn khát thèm vừa có sự nhã nhặn vừa có sự quyết liệt, vừa khơi gợi vừa kiềm chế được bản năng của người đàn bà đang yêu.
Cô đơn “thuộc phạm trù cái đẹp”, là cú hích sáng tạo đối với người nghệ sĩ. Chọn con đường thơ ca, nghĩa là họ đã chọn cho mình một lối đi riêng khác, thậm chí chịu số phận của kẻ bên lề, phải chịu sự đày ải và những va đập buốt nhói của cuộc sống. Đây là vận mệnh chung của những kẻ dấn thân vào mê lộ đày ải, sống chết vì nghệ thuật. Đây cũng là cảm thức chủ đạo, xuyên suốt chặng đường đến với thi ca của họ. Vận mệnh ấy cũng vin vào Như Quỳnh de Prelle. Bên cạnh những nghiệm sinh về tình yêu, thơ chị cũng viết nhiều về nỗi cô đơn. Chị cô đơn đến nỗi chốn nào cũng không tìm được sự đồng cảm, sẻ chia. Nỗi đơn độc như sợi dây định mệnh đeo bám, vấn vít thơ chị: “nàng lại cô độc/ lại như xưa/ trong những nơi nàng đến nàng qua và ngồi lại/ chả còn ai mong đợi nàng/ đọc nàng nữa/ chả còn ai còn ai” (Nắng không thể cạo hết nỗi buồn của nàng). Khi đối diện với nỗi cô đơn, lạc lõng, thơ chị càng đẫm sâu vào nỗi buồn. Nỗi buồn đan từ lớp này sang lớp khác, ken chật con chữ. Chị sắp xếp và đo độ bền chặt từng nỗi buồn của chính mình: …buồn không ngớt; nỗi buồn lặn sâu cào xới những rạn nứt; thấm vào da thịt dòng máu nhiệt đới buồn; em chôn những nỗi buồn vào đá nghìn năm nguyên vẹn; nỗi buồn thời này chất chứa từ bao đời, từ quá khứ, từ hiện tại và tương lai chỉ là hy vọng hão huyền cho sự ảo tưởng khốn cùng,… Tại sao nỗi buồn trong thơ chị rậm đặc, dai dẳng và day dứt như thế? Phải chăng những bất trắc của cuộc sống đập dội, dồn đẩy chị đến mức phải bung ra, vỡ ra cả trái lòng mình? Phải chăng nỗi buồn này sẽ là chìa khóa để chúng ta giải mã, thấu hiểu và đồng cảm với chị qua những ẩn ức đang bật dậy, qua sự tuôn chảy của xúc cảm, của những ký tự đầy biến hóa?
Bản chất của cuộc sống là sự va chạm giữa các mặt đối lập. Con người bị ném trong guồng quay ấy, hệ lụy, cũng chứa nhiều mặt thuận nghịch. Thơ Như Quỳnh de Prelle sử dụng nhiều cặp tương phản, đối lập (được – mất, ánh sáng – bóng tối, chân thành – dối trá, thực – ảo, hạnh phúc – khổ đau,…). Những cặp đối nghịch này xây dựng nên sự đa dạng của gương mặt thế giới và làm rõ tâm thế người đàn bà thơ – hoang mang, chứa đầy mâu thuẫn:
có lúc nàng hạnh phúc
trên tay với những bó hoa hồng
có lúc nàng tuyệt vọng như một đám tang suốt bốn mùa
có lúc nàng nhẹ dạ ngô nghê trao gửi không hề hấn tiếc chi
có lúc nàng tin
tin vào ngọn cỏ
tin vào sự an nhiên
tin vào sự cô độc
tin vào sự kiếm tìm
(Tuyệt vọng tháng 5)
Vậy nguyên nhân gây nên sự hoang mang có phải từ chủ thể? Như Quỳnh de Prelle lý giải: “chuyện gì cũng hoang mang/ vô vọng/ tình yêu vô vọng/ dân tộc vô vọng/ cái chết vô vọng/ niềm tin ở đâu/ ở đâu”? (Tuyệt vọng tháng 5). Thì ra, trong xã hội này, mọi thứ đều vô vọng. Con người mất hết niềm tin. Nỗi niềm chát đắng, đau buồn của con người không bao giờ nguôi ngoai: trong căn nhà cổ/ em nhìn thấy tổ tiên loài người buồn bã/ như những cơn hen kéo dài/ đậm đặc thuốc men (24h một ngày và 24h/s). Hay một đoạn thơ khác, cuộc đời quá dày đặc buồn đau, con người cứ quẫy cựa mãi cũng không giải thoát được: buồn trái tim hẹp/ buồn lý trí ác ôn/ buồn cả cuộc đời/ chả vui hết ngày/ khi vẫn còn thức/ khi vẫn còn nhịp đập (Nỗi buồn tháng 4). Cuộc đời mà chị tái hiện, cái tình người quá đỗi mong manh. Bởi tình yêu cao quý mà tạo hóa ban tặng đâu thể nảy mầm trên cái nền xám xịt này? Vì lẽ đó, chị cho rằng, nơi “cõi thế mù loà dang dở”, tình yêu thương bao giờ cũng là của hiếm:
cuống cuồng yêu đương
cuống cuồng hẹn hò
cuống cuồng hờn giận
cuống cuồng điên rồ
cuống cuồng giao hợp
tình yêu thì hiếm hoi
loài người luôn đói khát sự yêu thương ân cần
(Cuống cuồng yêu)
Đến đây, chúng ta đã hiểu vì sao thơ chị viết nhiều về nỗi buồn (58 từ buồn/81 bài thơ). Những nỗi buồn của chị ám ảnh từ ngàn xưa cho đến bây giờ. Nỗi buồn luôn thường trực trong Song Tử, đúng như cách gọi tên của chị: “những khúc niệm sinh buồn”. Dấn sâu vào nỗi buồn đau, cô đơn, chúng tôi thấy thơ Như Quỳnh de Prelle càng sắc, càng chân thực, mang đến luồng gió mới trong cách nhìn nhận, đánh giá cuộc thế. Chị chấp nhận cơn đớn đau như một phần của cơ thể trong cuộc nghiệm chứng những bất ổn. Đó là nguyên do để người đàn bà trong thơ chị muốn “ăn cả vạn vật trên thế giới”, chào đón cuộc sống bằng con đường khác: nàng muốn ăn cả những lời nói thối tha/ những định kiến/ chả bao giờ đổi thay lịch sử/ những thấp hèn ti tiện/ nàng sẽ chết hay tiếp tục tồn tại/ trong thế giới này// sau khi người ta đọc và ăn những bài thơ của nàng bằng mắt, ý nghĩ/ bằng cách nào đó/ nàng tiếp tục viết/ ăn cả loài người/ bằng ngòi bút/ trên bàn phím/ trong khuôn hình màn hình của chiếc Macbook E (Nàng thơ). Nuốt vào cuống họng những mặt trái của xã hội rồi thực hiện theo chu trình nhào nặn của riêng chị là hành động khá táo bạo. Mong mỏi đổi thay ấy minh chứng trách nhiệm và lương tâm rất nhân bản của người nghệ sĩ. Từ chu trình ăn, uống, sa thải của người đàn bà thơ, chúng ta thấy rõ bản lĩnh mạnh mẽ của chị trước mặt trái của xã hội. Chị còn cho rằng:“trong thế giới loài người/ trong đồng loại của mình/ tôi nên biết nhiều hơn/ chia sẻ nhiều hơn/ gặp gỡ nhiều hơn/ viết nhiều hơn/ để được tồn tại/ được sống/ trải nghiệm/ để được mất mát/ đớn đau” (Cuộc thế). Hành động dấn thấn, nhập cuộc, dâng hiến tận cùng vào bể đời này của chị thật đáng quý, thể hiện bản lĩnh và tâm hồn của người nghệ sĩ sống hết mình, cháy kiệt cùng cảm xúc vì thơ vì đời. Thì ra, nỗi đau, nỗi cô đơn đôi khi lại là cơn chấn động đáng quý để kích hoạt trái tim của người nghệ sĩ.
Tồn tại trong bầu sinh quyển mà mọi giá trị chuẩn mực của đời sống đều có nguy cơ viêm nhiễm, lệch chuẩn, liệu con người có thể thoát khỏi nỗi cô đơn, tìm kiếm tự do, hạnh phúc cho chính mình được không? Và khi mọi giá trị bị đổ vỡ, mất hết điểm tựa, việc con người rơi vào trạng thái cô đơn, cảm thấy lạc loài, lẻ loi, rỗng không là tất yếu, là đương nhiên. Lúc này, con người buộc phải chấp nhận sống chung với cõi thế khủng hoảng, hỗn mang. Vấn đề, trước những hỗn mang ấy, chúng ta phản ứng và thanh lọc như thế nào? Như Quỳnh de Prelle không chạy trốn. Chị vạch ra những mặt nạ, những vết mủ ý nghĩ, những định kiến cổ hủ… đang tồn tại, bức tử tự do: tự do của nàng là tự thân nàng/ nàng sinh ra ở một thế hệ khác, thế kỷ khác/ sống một thế giới tưởng tượng khác/ của riêng nàng/ đừng áp đặt lịch sử và không gian với nàng/ nàng bên ngoài tất cả/ nàng chưa bao giờ phải chết đói/ chưa bao giờ phải hấp hối/ đừng nhìn nàng như những định kiến hẹp hòi những tham vọng tối mù/ của những kẻ tầm thường (Nàng thơ). Chị hiểu tự do không nằm ở đâu cả mà nó nằm ngay ở cách đặt vấn đề và xử lý của chính bản thân. Thể hiện tâm trạng cô đơn, lạc lõng, vô vọng, không thể bắt nhịp với cuộc sống một mặt giúp chị cất lên tiếng nói phản kháng, gửi gắm nỗi bất hòa, mặt khác thể hiện ý thức, sự lựa chọn hoàn toàn chủ động của người cầm bút. Vậy, Như Quỳnh de Prelle lựa chọn cô đơn, đón nhận cô đơn để giữ cái tôi, giữ bản ngã không bị “nhào trộn” cũng là giải pháp kiếm tìm tự do cho chính mình và thực hiện quyền năng hiện sinh cho thơ ca đấy thôi: “được sống trong một khoảnh khắc hiện sinh có thật, đó là nàng thơ và quyền năng của nàng thơ” (Thi ca hiện sinh). Càng rơi vào cô đơn, con người ta càng muốn giải thoát, vùng vẫy. Và nhất là khi chúng ta làm chủ được nỗi cô đơn thì nỗi khát khỏa lấp càng mãnh liệt.
Lẽ thường, khi không giải tỏa được những dồn nén, ẩn ức, con người dễ rơi vào trạng thái hoang mang, nghi hồ, thiếu hụt niềm tin, thậm chí nghĩ đến cái chết để giải thoát. Tâm hồn người đàn bà trong thơ chị cũng rơi vào trạng thái chông chênh, bất an, luôn có sự giằng xé giữa bản năng sống và bản năng chết: “nàng sẽ chết hay tiếp tục tồn tại”. Nhưng người đàn bà thơ không bỏ cuộc, không xem cái chết là giải pháp giải thoát bi thương cuộc đời bởi chị luôn biết cách tự đấu tranh với hiện thực, phủ nhận hiện thực. Do đó, cái chết cũng là một hình tượng nghệ thuật, bộc lộ thái độ của chị trước những vấn nạn cuộc sống. Cái chết được chị nhắc đến đâu phải là cái chết u buồn, chấm dứt, đoạn tuyệt với cõi này mà là chết để cứu chuộc, hồi sinh, mở ra những trang đời mới. Chúng tôi thống kê, có 56 từ chết xuất hiện (trong tổng số 81 bài). Một tỉ lệ khá cao. Điều này lý giải vì sao những âu lo, bức bối đang chất chứa, thậm chí có xu hướng chồng lấn trong thơ chị. Những phức tạp, ngột ngạt của cuộc sống và phận người đắng đót được chị nhìn nhận dưới con mắt dạt dào tình yêu thương và trần tình bằng cả tấm lòng ấm áp, hi vọng. Chúng tôi xem lời trần tình này là sự đối thoại nhiều chiều và rất thành công của chị: người đàn bà thơ – anh (tình yêu và thi ca) – cuộc thế (đời sống và thân phận).
Cuộc sống trong thơ chị đang ở thì chưa hoàn tất. Mọi dữ liệu đều dở dang, tàn lụi. Đưa ra những “siêu thị mặt” (tên một bài thơ của Trần Quang Quý) như trên, chị muốn phán xét và sắp xếp, hoàn thiện thế giới theo một chu trình nhân ái. Trước những “lời nói thối tha”, những “thấp hèn ti tiện” của thực tại, chị nghĩ loài người cần có lúc chết đi, để hồi sinh, để vận vào đó chiếc áo mới, “lành lặn” hơn:
có lúc loài người phải chết đi để được tồn tại
trong ý niệm của chúng ta, trở về cái hoang dại thủa xa xưa hay đôi lúc là một loài động vật tự nhiên trong ý thức thoát khỏi các khái niệm và tư tưởng, con người tự do và lành lặn hơn dù có khi muốn giết cái gì đó, ai đó trong tưởng tượng, như giết một lời nói, một ý nghĩ của thú hoang
(Mặt trời dưới bóng olive già)
Thi sĩ vốn là người sinh ra đã mang nợ với trần gian, là kẻ chịu lưu đày giữa biển đời biển chữ. Họ hiểu và cảm nhận được những gì xảy ra xung quanh và hơn cả là họ hiểu được thực trạng của mình. Mâu thuẫn giữa cái tôi bản thân đời thường với cái tôi sáng tạo giúp người nghệ sĩ nhận ra chính mình, nhận ra cái bản ngã biệt lạ, riêng khác của mình. Vậy việc Như Quỳnh de Prelle đi tìm cái chết cho bản thân giữa sự tươi ròng của không gian và vĩnh cửu của thời gian nghĩa là chị đang bộc lộ khao khát được sống ở một thế giới khác, sáng và đẹp hơn: “và tôi đi tìm cái chết của tôi/ trong sự sống/ trong những tái sinh/ nảy mầm/ trong mảnh vườn/ trên ban công/ bốn mùa nắng mưa/ bão táp” (Tôi. Đi. Đến. Nằm xuống). Quan niệm cái chết như là sự tẩy trần, hồi sinh, chị thấy mình cần phải tiếp tục sứ mệnh kẻ cầm bút: viết nhiều hơn/ để được tồn tại/ được sống/ trải nghiệm/ để được mất mát/ đớn đau (Cuộc thế). Theo chúng tôi, những cảm xúc trực hiện, những diễn ngôn không hề đắn đo, do dự, quả quyết tham dự vào mê lộ thế cuộc này của chị đã xây nên tầng quặng tư duy triết luận và cơn rung-chấn-tình cho tập thơ.
Sự chuyển dịch, song song tồn tại giữa sống và chết, giữa ma trận hợp âm thanh thản – day dứt, nhẹ nhàng – gay gắt, hi vọng – thất vọng, vui – buồn, giữa trò chơi sấp ngửa, trắng đen chữ nghĩa trong thơ Như Quỳnh de Prelle là một chặng đường không bao giờ về đích, không bao giờ dừng lại. Những hợp âm ấy là kết quả của sự bung vỡ nội tâm, của nỗi xót xa trước hiện thực vô cảm, trống rỗng, nhàm chán. Ở cái ngưỡng chênh vênh, thơ chị đã đưa đến tiếng nói khác biệt và đầy cuốn hút.
Tâm thức lưu đày cũng là một biểu hiện của sự cô đơn. Tâm thức ấy là tự thân, là máu chảy trong mỗi chữ, mỗi câu thơ. Đọc thơ Như Quỳnh de Prelle, tâm thức cô đơn, lưu đày được hiện diện qua những vần thơ da diết nhớ, khát khao trở về, ăm ắp nỗi buồn tha hương “của người đàn bà ngoài 30 yêu thêm lần nữa/ lần nữa giữa lúc hoang mang/ giữa lúc tột cùng hạnh phúc/ tuyệt vọng” (Thư tháng 6). Sự thiếu hụt một tiếng nói, một bàn tay, một món ăn,… cũng đủ làm trái tim chị tê tái, nhức buốt. Người đàn bà thơ không đòi hỏi nhiều, chỉ cần 1s để nhen ấm bình minh lòng “giữa mùa đông Châu Âu” mà thôi: “sống nửa đời người nhận ra/ giao thừa tái sinh nhân loại/ trong 1s/ được là người An Nam 100 phần trăm/ nguyên sơ/ 1s không hoà nhập thế giới/ tự kỷ trong hình khối của nước mắt trong veo/ 1s để giữ lại dòng máu vẹn nguyên/ 1s là quê cha đất tổ/ là nén hương không khói nhang/ cho một linh hồn còn sống” (Giao thừa 16). Khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng yêu thương bỏng nhói như dồn tất cả về đây. Nỗi nhớ cố hương thêm vời vợi, da diết. Mảnh vườn phơi phới mật yêu chị dành cho anh cũng được hòa quyện, đan cài với tình quê. Chị chăm chút tình yêu như lòng say mê, nâng niu từng cọng lá, cành hoa của người làm vườn. Cả hương quê, mùi quê được “cày xới” trên mảnh vườn đong đầy tình yêu của chị: Em trồng rau muống để nhớ tuổi thơ/ em từng làm luống trước nhà/ những hàng rau xanh mát// Em trồng rau mồng tơi để nhớ mẹ già/ và bát canh cua mùa hạ/ mỗi mùa tháng 5 xưa// Em trồng rau dền đỏ để nhớ bà/ và nồi cá kho niêu đất/ ở vùng biển đầy cói xanh// Em trồng cây chanh nhỏ để món thịt gà/ không cô độc trên bàn ăn ngày tết (Vườn treo trên mây). Những ký ức của tuổi thơ, những tình cảm ấm nồng với mẹ, với bà được tái hiện thông qua các hình ảnh rất gần gụi, thân thiết, chan chứa yêu thương. Không khí rộn ràng của tết là khoảng lặng đẹp nhất để người con xa quê hơn nửa vòng trái đất được trở về đầm ấm với gia đình, được an ủi phần nào trong cái giá lạnh của mùa đông nơi phương xa. Cũng chung cảm thức ngóng vọng cố hương ấy, ở một bài thơ khác, tình cảm được đẩy cao hơn khi chị nhìn thấy “một quê hương đầy màu xanh biếc từ chính cõi tâm hồn mình: “buổi sáng thứ 7 làm tôi nhớ chợ quê ngoại/ trong những ký ức xa xưa còn nguyên/ đôi lúc tôi mở ra/ để nhìn thấy một khuôn hình nhẹ nhàng trôi qua trôi lại/ một quê hương đầy màu xanh biếc/ chứa đựng những tần tảo yêu thương vẹn nguyên/ những lần chờ mẹ về cuối tuần/ trên những con đường chúng tôi đếm khoảng cách xa gần bằng những cây cột điện” (Thứ 7 của tháng 7). Ở đây, chúng ta thấy, cảm thức lưu đày không hề rơi vào trạng thái buồn đau, chán nãn, bất lực. Theo chúng tôi, chính chị đã lấy ký ức tươi đẹp để nhen nhánh lửa lòng, xua tan cảm giác lạc lõng, bơ vơ nơi đất khách quê người. Cảm thức về quê hương, nhờ vậy, thêm phần khác lạ, khẳng định, minh chứng được bản lĩnh, nhân cách cao đẹp của Như Quỳnh de Prelle. Và mấy ai đủ tình, đủ sâu sắc, bản lĩnh để có được ý tưởng trồng cả quê hương như chị:
Em trồng bí ngô để nhớ mùa tỏi thơm lừng bên bếp
Em trồng cả quê hương xa xôi trên vườn treo cùng mây gió
và mặt trời ánh trăng chan chứa tình yêu
Em trồng cho anh cả tình yêu đất đai quê hương cày xới mặn mà
(Vườn treo trên mây)
Khoảng cách và sự chia cắt không làm Như Quỳnh de Prelle đánh mất góc quê tha thiết và thiêng liêng. Dù ở đâu, chị vẫn làm chủ trái tim mình, tìm về cội nguồn dân tộc. Có thể nói, trong thơ Như Quỳnh de Prelle, cảm thức lưu đày không phản ánh trạng thái yếu đuối, ủy mị, bởi vì, tình quê không bao giờ bị bật gốc, không bao giờ có thể xóa bỏ. Tình cảm ấy đã làm nên vẻ đẹp hiện sinh cho tập Song Tử.
Song Tử của Như Quỳnh de Prelle tẩy chay mọi ngụy biện và giả tạo. Cứ tuôn chảy, trào sôi tự nhiên như nguồn nước tinh khiết được cất lên từ lòng đất. Đối với Như Quỳnh de Prelle, thơ không đơn giản là cuộc chơi của chữ nghĩa, làm đỏm dáng, kênh kiệu câu chữ mà cái chính thơ chị ngoài việc giải tỏa những dồn nén, ở đó, còn là tiếng nói thiết thực về những đau buồn, những đổ vỡ, trầm luân của thế cuộc. Để chuyển tải ý tưởng và cảm xúc đó, chị rất chú ý đến việc giữ gìn và cách tân thơ ca. Thời đại bàn phím, theo chị, con người hầu hết đánh mất dòng chảy cảm xúc bản năng, tự nhiên khi sắp đặt mọi thứ theo một lộ trình có sẵn, “nhân tạo”: “Những bài thơ nhân tạo được sinh ra từ những tình yêu nhân tạo, thời tiết nhân tạo và không gian sống nhân tạo, cả những cơn ốm nhân tạo để lọc bỏ những cạn bã của một đời sống dư thừa mùi của máy móc và thông tin” (Thơ nhân tạo). Như thế, sự xuất hiện những bài thơ nhân tạo báo động sự biến nhịp, lỗi nhịp của tình người, của đời sống. Ý thức được hậu quả ấy, chị không cho phép ngôn từ thơ mình “sinh ra từ những cuộc phẫu thuật thẩm mỹ của ngôn từ/ độn chữ/ edit mông,/ sửa vú/ kéo dài chân ra/ để dự thi trình diễn/ giả dối/ sinh ra trong cơ hội rủi may/ trong những giọt nước mắt dối lừa/ sự hư danh/ tủn mủn và tắt mắt/ cửa quyền/ quyền của tài năng/ quyền của danh tiếng/ quyền coi thường người khác/ sống dựa vào hơi danh quá khứ lối mòn” (Thi ca và loài người). Trên con đường gánh vác cây thánh giá chữ đầy nhọc nhằn, quan niệm về lao động nghệ thuật của chị thật đáng được chúng ta ngưỡng mộ:
vươn mình lên nghiến những câu thơ
nhạt như khói bay
để bùng lên khát vọng
yêu quê hương
thứ tình yêu màu mè
khoe mẽ
chả có rung động đớn đau nào
nhớ nhung như giả vờ
khốn khổ
tha lương
(Chào tháng 3 và những cái chết trong tưởng tượng)
Chị luôn vươn lên, sẵn sàng vứt bỏ những tẻ nhạt, tầm thường để sống hết mình với thơ. Hành động nghiến này rất cần thiết cho sự sống còn của nghệ thuật chân chính. Bởi, tình yêu và niềm đam mê con chữ phải xuất phát từ sâu thẳm cõi lòng chứ không phải chỉ để phô trương, cờ biểu rộn ràng. Phải đập vỡ sự nhạt nhẽo, giả tạo bên trong mới mong kiếm tìm được những rung động đích thực.
Ẩn sau mỗi bài thơ của chị là một hệ thống hình ảnh ẩn dụ, đầy tính biểu tượng, mang tính khái quát cao. Ngôn ngữ, hình ảnh thơ khác lạ, độc đáo cứ thế ngồn ngộn quẫy đạp, bứt phá, vượt qua những gò bó của câu chữ, gợi vẫy nhiều hứng thú. Đặc trưng giản nở của thơ văn xuôi còn giúp chị bung phá cảm xúc và tình ý, giải phóng những chật chội của hiện thực đời sống. Khi chị viết về nỗi buồn, có lúc như một ngọn gió chiều nhẹ nhàng lướt qua, có lúc trào sôi quấy đảo cả bầu trời, có lúc quánh đặc, chà đi xát lại, tê tái. Giải tỏa về nỗi buồn dấm dứ, dai dẳng, chị có cách nói khá ấn tượng: “nắng không thể cạo hết nỗi buồn của nàng”. Làm sao cạo/xóa/tẩy hết nỗi buồn về thế cuộc khi chúng tạo sinh quá dày đặc: “nàng đi vòng quanh thành phố nhỏ bên những ngôi nhà cổ xưa hàng trăm năm/ sao mà thấy cuộc đời buồn bã/ loài người sống thật ngắn ngủi cho những cơn đau/ cơn đau tình ái/ cơn đau bệnh đời/ cơn đau của cái chết/ của những sai lầm oán hận/ của đường đi phải hay trái trước con đường về nhà/ nắng không thể cạo hết nỗi buồn của nàng/ sự đớn đau đang héo mòn của nàng/ tình yêu mồ côi của nàng” (Nắng không thể cạo hết nỗi buồn của nàng). Không gian trần thế tối tăm, đặt con người trước những thử thách, phải tự vùng vẫy, tự đấu tranh để tìm lối thoát. Cho nên, nỗi đau đời,  nỗi buồn của người đàn bà thơ cứ dấm dẳng trong thơ chị. Chúng tôi xem đó là nỗi buồn đẹp, trong sáng, kiêu sa, không bị che phủ bởi các quầng mây đen như chị đã tuyên ngôn: “nàng thơ, một hình hài cụ thể của một người đàn bà An Nam bình thường. thi ca của cô ấy kết nối những con người cô độc, chạm vào cõi lòng đang chơi với, đang kiếm tìm mơ hồ để tiếp tục được sống, được ngẩng đầu lên” (Thi ca hiện sinh).
Những băn khoăn, trăn trở của Như Quỳnh de Prelle về nỗi buồn, cái chết, cuộc thế,… trong tập “Song Tử” bật lên sự sâu sắc và tinh nhạy của một cái tôi đa diện. Xuất phát từ điểm nhìn của người đàn bà thơ đang yêu nên mọi cảm xúc đều được đẩy đến tận cùng. Ngay cả cái thế giới bừa bộn kia cũng bị bóc tách theo cơ chế vận hành của tình yêu. Tình yêu nối kết người với người nhưng tình yêu cũng làm nên lớp ngôn từ hiện sinh để xóa bỏ, chọc thủng những ý nghĩ nhơ nhớp, đen tối. Nghiệm sinh mọi thứ qua hình tượng nghệ thuật – anh – Song Tử, chị đã tưới lên mùa Song Tử sự tươi mới, mạnh bạo nhưng vẫn hết sức chân thành, đậm tính nữ.
Cày ải tư duy và gieo chữ trên cánh đồng nào, Như Quỳnh de Prelle cũng thể hiện sự cởi mở và táo bạo. Khát vọng giãi bày yêu đương của chị hết sức nhân văn. Nó chứng tỏ bản lĩnh cũng như cá tính nữ của chị. Hành trình đi tìm bản thể, hạnh phúc, sự tự do của chị không dừng lại ở một không gian thời gian nào, mà luôn chuyển động. Nếu xem “Thơ vừa là chỗ dừng chân vừa là cuộc hành trình” (R.Gamzatôp) thì chúng tôi xem sự chuyển động tình cảm, sự chuyển động ngôn từ trong tập “Song Tử” của Như Quỳnh de Prelle như một một dòng sông đầy ma mị, luôn ẩn chứa các lớp sóng ngầm, miết mải bồi đắp nên những hình tượng thơ đẹp, mang tính nghệ thuật cao. Với một lối viết đầy cảm xúc, đầy lý trí và đầy ắp phù sa chữ nghĩa như thế, thơ chị không hề mòn vẹt, nhàm chán. Chúng tôi tin, dòng sông thơ của chị không bao giờ đứng yên, luôn vươn tới, khám phá và tận hiến vùng đất mới.
10/2/2020
Hoàng Thụy Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

  Nhà thơ Minh Đan: xé toang gấm lụa lùm xùm lưa thưa Gần đây, do hay vào Sài Gòn công tác, tôi mới có nhiều cơ hội đọc thơ của đồng nghiệ...