Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026
"Mùa trái rụng nhiều" của Trần Quốc Huấn là một sự lựa chọn của thời gian
"Mùa trái rụng nhiều" của Trần
“Người lính kèn về làng” của Trần Quốc Huấn là một tập truyện hay. Trong đó, hình tượng lôi cuốn gây ám ảnh cho người đọc là Thịnh – nhân vật chính của “Mùa trái rụng nhiều”.
Thuốc phiện, một tình thế của nhà văn An Nam
Thuốc phiện, một tình
thế
của nhà văn An Nam?
Ở tuổi đôi mươi trẻ
trung, không phải quá lao đao sinh kế, lại vừa có chút tiếng tăm trên văn đàn,
Vũ Bằng tự cho phép mình hút thuốc phiện, lúc đầu thử chơi nhưng nhanh chóng
thành cơn nghiện và trói chặt nhà văn tương lai vào những khốn đốn khó lường.
Quãng thời gian sử dụng
mình theo cách đó, như về sau ông thuật lại, gói gọn trong tư thế “hút quên chết”,
từ “hút ở tiệm” chuyển sang “hút tại gia”, kéo dài từ sáng đến tối, hợp nhất
hình hài thân xác với bàn đèn, dọc tẩu và làn khói. Phải gần dăm năm như thế và
tưởng sẽ kết thúc cuộc đời theo cách không thể bi thảm hơn nếu Vũ Bằng không
quyết định cai và cai được thuốc phiện..
1. Câu
chuyện nghiện và cai nghiện thuốc phiện của Vũ Bằng, có thể có phần hư cấu,
nhưng đã được ông ghi lại một cách chân thực, sinh động và đăng báo dài kì trên
tờ Trung Bắc chủ nhật, rồi in thành sách dưới tiêu đề “Cai” (1942).
Trước 1945, Vũ Bằng không
phải là nhà văn duy nhất dính vào thuốc phiện. Tạm tin liệt kê của ông, ta thấy
danh sách những nghệ sĩ phụng thờ nàng tiên nâu khá dài, chưa kể số người ít
khi thực sự công khai nghiện hút. Còn nhìn rộng ra, thuốc phiện chắc chắn là một
vấn đề hóc hiểm đối với các xã hội thuộc địa kiểu như Việt Nam thời đó.
Trong chuyên khảo công
phu “Thuốc phiện và chính quyền thuộc địa ở châu Á”, từ độc quyền đến
cấm đoán 1897-1940 (2001), nhà nghiên cứu Philippe Le Failler đã dẫn dụ và phân
tích hàng loạt các sự kiện xã hội, chính trị và kinh tế liên quan đến thuốc phiện
tại các quốc gia vùng Viễn Đông, nhất là khu vực Đông Dương. Do thuốc phiện đem
lại một nguồn thu lớn, chính quyền thực dân đã giành thị trường, dần độc quyền
buôn bán và gieo rắc mặt hàng này đến mọi người dân. Từ chỗ cấm đoán và trừng
phạt việc sử dụng nha phiến như đã từng có thời đầu Nguyễn, càng về sau, cùng với
mức độ bành trướng của người Pháp, các công ty thuốc phiện, các tiệm hút mọc
lên như nấm, khiến người dân bản xứ rất khó tránh khỏi thói hư mới là hút thuốc
phiện, bên cạnh thói quen muôn đời là uống rượu.
Philippe Le Failler đã
trích lại những con số gây rùng mình: năm 1908 có hơn 215.868 người Việt hút
thuốc phiện, trải khắp ba kỳ; các tiệm hút tuy giảm đều từ năm 1918 (1.513 tiệm)
đến 1929 (1.224 tiệm) nhưng các biện pháp cấm vẫn ít khi được áp dụng trong khi
giá những hộp thuốc phiện theo từng loại thì không ngừng tăng; số người vào viện
và chết vì thuốc phiện có lúc lên tới hàng trăm (như các năm 1930, 1937, 1938,
1941…) không chỉ nam giới mà còn có cả phụ nữ. Các đô thị Sài Gòn, Chợ Lớn, Hà
Nội là nơi tập trung nhiều tiệm hút và dân nghiện nhưng cảnh tượng dân quê nằm
cạnh mâm đèn cũng không còn quá xa lạ.
Hình ảnh những bảng hiệu
R.O (Régie de lOpium: Ty thuốc phiện) xuất hiện khắp thành phố và làng mạc, dưới
màu trắng của lá cờ nước Pháp, đã khiến không ít ký giả Pháp, chẳng hạn Louis
Rouband (1884-1941), tác giả của “Việt Nam, tấn bi kịch Đông Dương” (1931)
nổi tiếng, lo ngại và chế giễu về một thực tế rằng những bồi bếp và cu li đã phải
nhai những viên xái vét trong điếu của các ông chủ. Dĩ nhiên, nhà báo này cũng
biết rõ lợi nhuận khổng lồ từ thuốc phiện đem lại cho mẫu quốc (một ty thuốc
phiện Pháp có thu nhập chiếm tới một phần tư tổng ngân sách Đông Dương) vì thế,
dù có rất nhiều phản đối mang tính đạo đức, “tự do thuốc độc” vẫn cứ hiển hiện
như một quyền tự do duy nhất mà các nhà khai hóa mang đến cho người dân bản xứ!
2. Tính
chất nước đôi vừa chống vừa lợi dụng thuốc phiện của chính quyền thực dân có vẻ
đã đánh trúng tâm lí của giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ, những người, vì nhiều lí
do, có thiện cảm nhất định với thuốc phiện. Bắt nguồn từ một truyền thống xa
xưa, hút thuốc phiện có thể được dung túng và chỉ quy vào “thói xấu” khi quá lạm
dụng nó. Đáng kể hơn, xu hướng ca ngợi thuốc phiện như một thần dược tạo sinh cảm
hứng, năng lực sáng tạo đã được chính các văn sĩ khởi đầu. “Thuốc phiện
làm lớn lên những gì không giới hạn/Kéo dài cái vô tận/Đào vào khoái lạc, làm
sâu thêm thời gian” là cảm nhận của thi sĩ tài danh Charles Baudelaire
mà đương thời, chắc chắn có nhiều thi sĩ An Nam đọc được.
Những danh xưng mỹ miều
(phù dung, ả phiền) để gọi thuốc phiện đã dẫn dắt không ít giấc mơ đuổi theo biểu
tượng của sự giải thoát, phiêu lưu, lạc thú. Chính Vũ Bằng, khi bắt đầu “gá
nghĩa với Phù Dung”, cũng bám lấy niềm tin rằng “không hút thuốc phiện không thể
nảy ra văn được”. Còn Nguyễn Tuân, trong hai tùy bút “Ngọn đèn dầu lạc” (1939), “Tàn
đèn dầu lạc” (1941), thì dù chủ ý hay không, vẫn rất mực khoái cảm sao
lục “công đức Ả Phiền” mang đến cho đám nghiện trong “làng báo, làng thơ, làng
tiểu thuyết”. Cái cách Nguyễn Tuân “tình ái hóa” chứng nghiện thuốc phiện mang
dáng dấp một bản tụng ca, một sự tự bào chữa đầy ước lệ: “[…] bao nhiêu là kỷ
niệm. Ngày vui, tôi gọi đến nàng. Đêm buồn tôi cũng gọi đến nàng. Xa nàng, tôi
thấy nhớ. Rồi đau, rồi ốm. Thiếu nàng, đôi phen tôi đã thấy cuộc đời là vắng vẻ”
(Ngọn đèn dầu lạc).
Nguyễn Tuân có lí do để đẩy
câu chuyện thuốc phiện trở thành một tuyệt bút văn chương: ông quan sát và bắt
mạch được những vẻ đẹp kì quái, lạ lẫm dưới ánh đèn dầu, thứ ánh sáng leo lét
nhưng đôi khi gieo được một âm điệu, gọt được một vần thơ hay! Thực ra, kiểu
quan sát này ẩn chứa khát vọng trải nghiệm cạn kiệt các loại cảm giác và từ đó,
phơi mở dạng hình con người cá nhân đầy đủ, đa diện nhất.
Cũng như Nguyễn Tuân, Vũ
Bằng đã chạm ngưỡng lãng mạn khi mô tả con đường đi tới kẻ nghiện hút, khởi từ
chán nản sầu não đến si mê, khoái lạc. Trước khi nhận ra đó là một nhầm lẫn và
tai họa lớn, Vũ Bằng còn gắn thêm những chi tiết mang sắc thái trữ tình, li kì
đủ để lẩy ra một tình sử sâu sắc nhưng ngắn ngủi, thê lương: bàn đèn, dọc tẩu
và giai nhân. Liên Hường, cô gái Huế được nhắc đến khá nhiều trong tác phẩm “Cai”,
là bạn hút và tri âm của tác giả, sẽ đóng vai kẻ thất bại, buông tay trong cuộc
chiến với thuốc phiện. Người chiến thắng – tác giả, đương nhiên không phải là một
anh hùng đội trời đạp đất nhưng ít ra, đã dốc sức và ý chí đến cùng.
Khi nghiện hút, Vũ Bằng
thường dụng đến tri kiến văn chương để xưng tụng sức mạnh mây khói, còn khi quyết
cai nghiện, ông cũng bắt đầu với một thúc ước nội tâm: “Rousseau ăn cắp;
Verlaine giết người; Tom Kromer lừa gái vẫn được ghi tên trong văn học sử. Nếu
ta viết được một tác phẩm giá trị, sao người đời lại không có thể quên ta là một
anh nghiện oắt xà lai?. Thôi. Quyết định! Bắt đầu từ tối nay, không hút nữa”.
Rõ ràng, một tài năng lớn không hẳn là một kẻ có nhân cách hoàn hảo và nhận thức
đó đã giúp tác giả nhìn ra giá trị bản thân mình.
Ông quyết tâm cai vì vẫn
chưa mất hẳn giấc mộng văn chương và quan trọng hơn, vẫn chưa mất niềm tin vào
sự cứu rỗi, cứu vớt luôn có trong đời. Cai được, vì thế, là sự chung sức của nỗ
lực cá nhân và lòng bao dung, tình thương của tha nhân. Cái kết đẹp mang sắc
thái nhân văn không chỉ nằm ở sự chuyển hóa từ sai lầm, tăm tối sang đúng đắn,
sáng lạn mà sâu xa còn ở sự xác nhận tội lỗi là một trạng huống dễ xảy ra với bất
kì ai.
Nhưng Vũ Bằng còn chứng tỏ
trang viết của mình không thuần túy là một bản tự thú nhờ giọng điệu thành thực.
Điều có thể làm độc giả ngày nay khó buông bỏ cuốn sách là những đoạn Vũ Bằng
khéo léo phản biện cái gọi là văn minh phương Tây đang ngấm sâu vào xã hội lúc
đó. Ông trở nên e dè, hoài nghi “cái văn minh […] chỉ có một mục đích làm cho
người ta sung sướng về thể xác mà không chú ý đến việc mở rộng cái trí và làm
thỏa cái tâm, thì cái văn minh đó bất quá rồi cũng chỉ có những kết quả khốc liệt
như thuốc phiện, nghĩa là làm cho giống người suy nhược rồi tiêu diệt”. Ông tỏ
ý hạ thấp thứ giáo dục và luân lý “nặng về mặt cá nhân tư kỷ” khiến nhiều thanh
niên đánh mất đức hy sinh, hiếu nghĩa. Đặt trong diễn biến “bệnh thời đại” của
lớp người trẻ không lý tưởng và niềm tin, Vũ Bằng muốn giải thoát, thay đổi những
gì hào nhoáng nhưng trống rỗng núp dưới thú ăn chơi, trụy lạc.
Trong hồi ký “Bốn
mươi năm náo láo”, ta biết thêm về lý do Vũ Bằng cai nghiện: ông không muốn
nằm dài hút xách, bê tha trong khi nghề báo đòi hỏi ông phải phải “tranh đấu thực”,
phải viết được điều gì khả dĩ vẽ lên được tinh thần hiên ngang của giống nòi,
dân tộc. Dứt nghiện, Vũ Bằng vào Nam học hỏi và sau ba năm, trở ra Bắc, “thấy
mình hăng một cách khác thường”. Khúc rẽ này đương nhiên bồi thêm nhiều bất ngờ
trong hành trạng văn chương, báo chí vốn đã đậm kịch tính của Vũ Bằng.
3. Như
vậy, thuốc phiện, ít nhất, đã góp phần tạo nên một điểm nhấn tiểu sử và tác phẩm
văn chương của không chỉ Vũ Bằng. Tuy nhiên, đọc “Cai”, thay vì ngưỡng
mộ thái quá ý chí con người, cần tỉnh táo cảm thông trước mỗi lựa chọn của người
đời. Chính vào khoảnh khắc có phần trớ trêu của cuộc đời, mỗi nhà văn đều có một
lựa chọn để chứng thực được nhân cách lẫn văn cách của mình. Dĩ nhiên cũng
không thiếu trường hợp vùi thân danh trong thứ văn nghiệp xoàng xĩnh chỉ vì chấp
nhận thỏa hiệp, kể cả sự an nhàn vốn dĩ dễ ngã lòng.
20/11/2024
Mai Anh Tuấn
Nguồn: ANTG
Theo https://vanhocsaigon.com/
"Ban mai thơm mắt nắng" của Vũ Trần Anh Thư: Với chín chắn
"Ban mai thơm mắt nắng"
của Vũ Trần Anh Thư: Với chín chắn
Nguyễn Chí Hoan là nhà
thơ, nhà lý luận phê bình, dịch giả hiện là Chủ tịch Hội đồng Văn học dịch Hội
Nhà văn Việt Nam khóa X. Quan tâm đến thơ 1-2-3, Nguyễn Chí Hoan đã có những
bài nghiên cứu khoa học sâu sắc theo một phong cách riêng. Nhân dịp Tọa đàm
“Thơ 1-2-3 trong không gian văn học đương đại” do Hội Nhà văn Cần Thơ phối hợp
Khoa Khoa học xã hội và Nhân văn Trường Đại học Cần Thơ tổ chức, xin trân trọng
giới thiệu bài viết của ông về tập thơ 1-2-3 “Ban mai thơm mắt nắng” của nhà
thơ Vũ Trần Anh Thư ở Hà Nội.
Mở đầu tập thơ bằng chuỗi
hình ảnh “xanh” – đều là truyền đạt những ấn tượng tươi mát đa dạng, trải khắp,
cùng sức sống phì nhiêu; kết lại, ngay trước một hứa hẹn về trái tim “niềm yêu”
luôn luôn, hay phải nói hằng xuyên, tỉnh thức và canh thức, là hình ảnh choán
chân trời của một bãi biển lúc bình minh chưa thấy bóng người, với nổi bật “Lớp
lớp vân cát tinh khôi” – cái nhìn ấy, với điểm nhấn rõ rệt vào hai chữ “tinh
khôi”, hé lộ nguồn cảm hứng chủ yếu cho 123 bài thơ tựa hồ những khoảnh khắc trải
ra của tâm hồn tác giả; như thế, cho thấy thơ 1-2-3 này của Vũ Trần Anh Thư da
diết hướng tới miền của những khoảnh khắc ngây thơ vẫn hàm ẩn xuyên qua tuổi
trưởng thành, mà có lẽ ai cũng đều từng nếm trải, đều muốn tái ngộ, khi này khi
khác. Chẳng phải sự ngây thơ đã và vẫn luôn là một chân trời hay sao.
Trải nghiệm đặc thù đó có
ở khắp nơi trong thơ này; mà có lẽ giống như cách nó sẽ có ở khắp nơi mà cái
nhìn da diết này đặt đến. Chẳng hạn, chọn xem ngẫu nhiên một bài trong phần 5 của
tập thơ:
Im lặng tháng Tư
Này những chồi non trên
phiến đá
Nói gì mà run rẩy rêu
phong
Nàng nghe mùa thì thầm dưới
tàng cây cổ thụ
Vạt nắng chiều ôm gương mặt
dịu dàng bừng lên vô thức
Ươm nõn nà một tháng Tư
trong
Tháng Tư, là nơi mùa xuân
đã đang chuyển giao vào hạ, và cái cảm thức – cái nhìn về giao chuyển này, theo
một cách điệu đàng ý tứ rất đàn bà, trông thấy những “run rẩy” buồn buồn biểu lộ
trên ánh của “những chồi non”. Nhưng những “thì thầm” vẫn chuyển tới cái “dịu
dàng” đặc định của một bản năng – “vô thức” – và dường như nó xóa cái nỗi buồn
buồn kia bằng cảm giác “nõn nà”.
Hẳn nên thấy nhà thơ đã lựa
chọn một tương phản rõ chủ ý để mở đầu: “chồi non” với “rêu phong”. Tương phản
tạo hình này khá đơn thuần, do nó không được đặt vào một đường phát triển tự
thân nào; có vẻ chúng chỉ đối nhau vậy thôi. Tuy nhiên, khi đi tiếp vào ba câu
thơ của khổ “.3”, nếu nhận rằng “Nói gì” sẽ có đối ứng với “mùa thì thầm”, cũng
như “rêu phong” tìm được đối ứng kết nối ở “cổ thụ”, sẽ thấy rằng hình ảnh của
“chồi non” có đối ứng của nó ở hai chữ “vô thức”; bởi “nõn nà” ở văn cảnh đây
chỉ là một sự lặp-biến thể của “chồi non”, về mặt diễn tả hay biểu hiện; còn
“gương mặt dịu dàng” thì hoàn toàn gợi một sự xác định về phía chủ thể trữ tình
– cái người quan sát và cảm nhận ấy. Vậy nên cái bất ngờ, có lẽ không hề nhỏ,
mà nhà thơ này dành cho người đọc, là ý so sánh-ví von gợi rõ rệt “những chồi
non” ấy là của cái-dịu-dàng thuộc bản năng của “nàng” – nhân vật trữ tình mà nảy
nở; từ đó sang cái ngây thơ quý giá kia chỉ cần một bước.
Đấy có thể gọi là cái ẩn
ý, một trong các khía cạnh của cái ẩn ý lấp lánh, đằng sau những mô tả những vẻ
“xanh” và “non” khá đa dạng xuyên suốt tất cả những bài thơ này; mà
“xanh”-“non”-“tinh khôi” dệt nên riêng một xứ sở vừa rất trừu tượng vừa rất cụ
thể của riêng “nàng”, với đầy những địa danh cụ thể hẳn hoi “Trên dải đất chữ S
thân thương”; mà tác giả hay “nàng”, với đầy “hồn nhiên” chín chắn mạnh bạo gọi
xứ ấy như một “vương quốc” của “thanh tân” – trong bài “Cho nỗi buồn anh vỗ
cánh thiên di”:
Em đậu xuống khu vườn anh
Hồn nhiên nhành xuân
không vết tuổi
Ngụ cư anh vương quốc
thanh tân
Hai chữ “thanh tân” này
cũng còn được gặp lại trong một số bài khác trong tập, ở vào các văn cảnh khác
nhau. Đó là một diện mạo nữa của cái ngây thơ mà, dĩ nhiên, đã vào độ chín, vẫn
đầy những “non tơ”, song hành và hiện ra cùng với “nàng” khắp những nơi nào
“nàng” đặt chân, những mùa và tiết “nàng” trải nghiệm ( – “Thắp mùa đông bằng
run rẩy xuân thì” – ), chẳng hạn, ở “Đường cong thơ mộng trên sông Reuss”; và
vân vân.
Lối tuyên xưng “dịu dàng”
về một “vương quốc thanh tân”, cũng được gọi tên là “miền trinh khiết”, hay
tương tự, như thế, cho ta thấy được một phương diện khác, khá hiếm gặp hay ít dễ
dàng nhìn nhận của tâm thế gọi được là ngây thơ ở đây: phương diện của một lòng
tin phó thác hoàn toàn, tức là ánh lên vẻ đẹp có tính tôn giáo:
Tinh khôi dịu dàng đắm đuối
Tháng Tư tận cùng dâng hiến
Sao còn dụm dành những
tháng tàn hoa
Và:
Những cánh sen quên mình
đang thắm
Tự nguyện buông tận nhụy
vàng
Lặng lẽ dâng đời phút cuối
nồng nàn hương sắc
Dường như hầu hết hay phần
lớn đều nghĩ rằng tình yêu thì nói chung đều đi với “dâng hiến” một cách “Tự
nguyện” – chuyện tự nhiên ấy mà (!); đồng thời lại cũng chẳng ít nghĩ – hay chọn
cách lý giải và hiểu – rằng tình yêu sẽ nặng tư cách một món quà-hôn nhân, một
quà tặng có đi có lại, cân bằng linh động, dựa căn bản trên lý lẽ của sinh tồn
kiếp người; hay là cả hai cách nghĩ đó song tồn như hai mặt của một tờ giấy. Vậy
nhưng vẫn có và luôn luôn còn cách nghĩ về tình yêu như một lối tạo nghĩa cho đời
sống; và trên hướng này, sự ngây thơ hay tâm thế ngây thơ mới trở nên chân trời
hay lựa chọn, bởi tính thuần khiết đó sẽ, và chỉ có nó sẽ, tạo nghĩa trọn vẹn
cho tình yêu. Phương diện này của nó tiếp cận với tình tự tôn giáo. Lòng tin
tuyệt đối thì trông không khác sự ngây thơ, bởi nó phó thác hoàn toàn, đi theo
với tin tưởng hoàn toàn, không lay chuyển.
Trong hai đoạn ( – đều là
khổ thứ “.3” ở dạng thức thơ 1-2-3, mà theo quy ước là khổ thơ dành cho bước
sang suy tư-nội hướng – ) thơ trích trên đây, ta thấy “dâng hiến” đi liền với
“tận cùng”, “Tự nguyện” đi liền với “buông”, và trong một tổ hợp cùng với những
“quên mình”, “đắm đuối”, “dâng đời”, đều là những hình ảnh ngôn từ đượm một tâm
tình tín ngưỡng. Và, chẳng nên quên, tâm tình này, ở đây, thông qua các hình ảnh
loài hoa, lại cũng đượm một sức sống, trật tự của sự sống hoàn toàn tự nhiên:
trong khi nâng ý niệm tình yêu lên mức cận-tôn giáo như thế, chẳng hề xa rời
cái nền đất mẹ của nó – cái dịu dàng, hay cái bản năng.
Bởi thế mới có thể nói tới
một cái ngây thơ-chín chắn, đủ chín như từng hứa hẹn về “Một ban mai xanh suốt
đời nhau” ( – tên một bài trong tập thơ này, đồng thời cũng là câu/đoạn thứ nhất
của bài thơ đó – cái quy ước thật thú vị ở thơ 1-2-3 mà nhiều người làm thơ gần
đây hứng thú khai thác một cách đa dạng – ). Và ở đây, lời hứa hẹn đó xuyên suốt
tập thơ, trong những kỷ niệm “xanh” đằm thắm về đất cội rễ của “nàng” vùng quê ổi
Bo nức tiếng mà “Tiếng mưa dội về tiềm thức xa xôi”, trong những tháng ngày đại
dịch căng thẳng chưa từng có nhưng ôm chặt cảm nhận “xanh” bởi “Có thể nào cách
ly cảm xúc”, và hiển nhiên trong “Lỡ một ngày vì yêu ngộp thở” nơi cảm thức
“xanh” đó sóng bước với “suốt đời nhau” do bởi “Bước em đi hoa lá khởi mùa” và
với mỗi chiều tà lại “Đợi hoàng hôn thắp lửa” và, bởi, hình ảnh của điều “dịu
dàng” cốt lõi: “Thiếu phụ hong mùa đáy mắt nắng lên”.
Với cảm thức rộng trải và
không đứt đoạn như thế về tình yêu, thơ tình này của Vũ Trần Anh Thư nhìn thấy
hay cảm thấy cái trật tự đầy nhựa sống ấy của cảm nhận yêu ở khắp các mùa các
tiết quanh năm, ở hầu như khắp những nơi mà cái nhìn thơ này có dịp viếng thăm
hay lưu luyến ghi nhận. Hẳn phải có một sức chín chắn đặc biệt của sự ngây thơ
mới đủ niềm tin nhìn lên trời đêm như thể “Để lặn vào trùng điệp mắt yêu” và đủ
cái sức bật “tinh khôi” không ngần ngại của tinh thần yêu thương:
Dự định ủ trong tim bỗng
dưng chợt thốt
Trái yêu thương chín đỏ đầu
cành
Người đừng bận lòng chiếc
giỏ đã kịp đan?
Với chín chắn đàn bà,
ngây thơ là một nguồn sức mạnh.
22/8/2024
Nguyễn Chí Hoan
Nguồn: Bài đăng Văn Nghệ TPHCM
11.2024
Theo https://vanhocsaigon.com/
Sức hàm súc của phúng dụ "Hãy nhìn vào mắt bão và tin lời đắng cay"
Sức hàm súc của phúng dụ
"Hãy nhìn
vào mắt bão và tin lời đắng cay"
Xuất thân nhà giáo sinh
trưởng ở Hưng Yên, nhà thơ Tạ Hùng Việt hiện sống và làm việc tại Nha Trang,
Khánh Hòa. Mấy mươi năm không ngừng sáng tác, ông đã xuất bản 10 tập thơ, mới
nhất là “Hãy nhìn vào mắt bão và tin lời đắng cay” viết theo thể thơ 1-2-3 do
NXB Hội Nhà văn vừa ấn hành năm 2024, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trong
đó có nhà lý luận phê bình Chế Diễm Trâm, một cây bút nữ giàu nội lực cùng ở
Nha Trang. Nhân dịp Tọa đàm “Thơ 1-2-3 trong không gian văn học đương đại” do Hội
Nhà văn Cần Thơ và Khoa Khoa học xã hội và Nhân văn Trường Đại học Cần Thơ tổ
chức, xin giới thiệu bài viết của Chế Diễm Trâm về tập thơ Tạ Hùng Việt.
Tập thơ thứ mười của nhà
thơ Tạ Hùng Việt – tập thơ Hãy nhìn vào mắt bão và tin lời đắng cay,
NXB Hội Nhà văn, 2024 – đem đến một cách nhìn về cuộc sống và con người theo
chiều hướng triết mỹ. Tập thơ mang tính triết lý sâu sắc. Đó là “tạng thơ” Tạ
Hùng Việt từ trước đến nay nhưng đến tập này có phần đậm sâu hơn hẳn.
Bài thơ số 87 Hãy
nhìn vào mắt bão và tin lời đắng cay được chọn mặt gửi vàng, làm tên
cho cả tập thơ gồm 100 bài, hình thức là một khuyến nghị (hãy) nhưng đọc
lên lại dễ liên tưởng đến một cảnh báo: cuộc đời nhiều tai ương (mắt bão),
“đắng cay”, cần phải “nhìn” (quan sát) để “tin” [tưởng] ở
phía trước, xa, đẹp.
Suốt cả tập thơ là thao
tác liên tưởng ẩn dụ. Khi ẩn dụ liên tiếp thì chính là phúng dụ, dùng ẩn ngữ
liên hoàn để tạo nghĩa ẩn, để tác giả cất lời đối thoại ngầm. “Phúng dụ – một
hình thức chuyển nghĩa trong văn học, còn gọi là nói bóng hoặc ám chỉ. Các hình
tượng hoặc hình ảnh kết hợp với nhau trong cấu trúc hoàn chỉnh để tạo sự liên
tưởng tới ý nghĩa khái quát, trừu tượng trên cơ sở của ý nghĩa cụ thể. Phúng dụ
không thể được cấu tạo từ một hình ảnh riêng biệt như ẩn dụ mà thường từ nhiều
hình ảnh kết hợp nhau.”[1]
Trong Hãy nhìn
vào mắt bão và tin lời đắng cay, Tạ Hùng Việt xây dựng hình tượng con
người hiện đại, mà hơn một lần tác giả gọi đích danh là “loài dáng thẳng”:
Lạ lùng loài dáng thẳng
khư khư cơn mê lấp biển vá trời
(Khi chiêm bao chỉ là dải
sương mong manh cuối sóng)
Dấu tích triệu năm trôi
qua loài dáng thẳng
(Dấu tích triệu năm trôi
qua loài dáng thẳng)
Trái đất nghiêng vì lầm lỗi
của loài dáng thẳng
(Mải miết lên chùa – tôi
xưng tội cầu may)
Phải chăng tác giả ngầm
so sánh con người hiện đại – “con người kiêu hãnh cô đơn” – với các loài
động vật cấp thấp. Đặt con người hiện đại trong các mối quan hệ với tự nhiên, với
đồng loại, để cất tiếng cảnh báo về nhân cách, nhân phẩm. Bởi thế, Hãy
nhìn vào mắt bão và tin lời đắng cay có vô vàn dấu vết của “văn học
sinh thái” (rừng, biển, nắng, mưa, gió, sương, mây, giông, mắt bão, động đất,
sóng thần, mùa xuân, mùa lá rụng/chết, mùa đông giá,…) nhưng sâu xa là thơ của
triết lý về con người hiện đại, xã hội hiện đại. Thơ muốn có giá trị phải vươn
tới và đạt tới ẩn ngôn, ẩn ý.
Trong suốt tập thơ, “loài
dáng thẳng” chiếm hữu tự nhiên một cách vô tâm (trang 15), dối trá (trang
16), tiêu diệt mọi loài (trang 38), đỉnh cao của “diễn” (trang 39), cao ngạo
(trang 40), huyễn hoặc (trang 41), ngạo mạn (trang 41), tranh đua, xô chen
(trang 42), tàn phá thiên nhiên (trang 43), xảo ngôn (trang 48), đa đoan (trang
49), tham lam, tàn nhẫn (trang 51), giăng đầy “cạm bẫy người” (trang 52, 61),
nhân cách lởm khởm (trang 64), v.v…Vì thế, là “loài dáng thẳng” nhưng lại
nghiêng lệch, xô lệch, tăm tối, tội lỗi,… Điều đó, chứng tỏ nhà thơ luôn chú ý
quan sát, nghiền ngẫm về con người, xã hội, đưa thơ vươn tới tầm suy tư, triết
lý.
Để khái quát bản chất cuộc
sống, nhà thơ Tạ Hùng Việt tỏ ra am tường quy luật của những mặt đối lập và sử
dụng chắc tay, đắc địa. Thiện – ác, sinh – diệt, đục – trong, hưng – vong, cao
– thấp, dại – khôn, thật – giả, vui – buồn, thấp – cao, ngọt – nhạt, ấm – lạnh,
sáng – tối, còn – mất,… dở trang thơ nào cũng thấy, thậm chí trong một bài thơ
cũng đầy ắp:
Rơi bóng xuống dòng sông
mê mải đục – trong con nước
[…] Những cung bậc
thảo nguyên, vô thức sự sinh tồn tàn khốc
Thế gian những tầng cao
thấp, phũ phàng sự chiếm hữu vô tâm
Tất cả mọi niềm vui đều
cũ, chỉ nỗi buồn là mới nguyên.
(Lấp lánh vầng trăng trôi
dạt dưới chân cầu)
Sau chông chênh là thênh
thang một con đường xuống núi
Lại cao thấp bước đi, ngọt
lạt buồn vui, xanh đỏ lòng người
Lạ lùng loài dáng
thẳng khư khư cơn mơ lấp bể vá trời.
(Khi chiêm bao chỉ là dải
sương mong manh cuối sóng)
Sử dụng phạm trù đối lập
là một chi tiết nghệ thuật của thơ Tạ Hùng Việt, để khái quát hoá bản chất cuộc
sống. Đó là một hành trình từ khởi thuỷ đến hiện tại. Hành trình ấy đầy “lỗi”.
Nhưng chỉ ra được những lỗi ấy là hồi chuông đánh thức con người thoát ra khỏi
tham vọng, tội lỗi.
Không dừng lại ở đó, thơ
Tạ Hùng Việt còn đi tiếp hành trình “chữa lỗi”, ôm chứa khát vọng đi tiếp một
chặng nữa: hướng đến lời khải huyền. Mẹ, vườn mẹ và tình mẹ ấm nồng, dịu dàng,
thiêng liêng là phúc phận đời con, cứu cánh để con vượt thoát. Mẹ xoa dịu mọi
buồn đau, là điểm tựa cho con đừng gục đổ. Mở đầu tập thơ là bài Chỉ
còn lại góc vườn một dáng mẹ thôi, kết lại cũng là mẹ:
Nâng niu những đồng tiền
cũ từ niềm vui rau đắng chợ nghèo
Lại thương mảnh vườn gầy
của mẹ âm thầm năm tháng gieo neo
Khuyết hao một đời đất
khát vẫn tin yêu hoa trái nghịch mùa.
(Những dòng trôi qua phúc
phận con người)
Cộng hưởng với mẹ, tiếng
chuông chùa, lời nguyện cầu cũng là cách nhà thơ thiện lành cứu rỗi những tổn
thương do tình yêu và cuộc đời giáng xuống, nện xuống: Người nơi miền
mây trắng, tôi cuối bờ sông xa; Giá như người đừng hẹn tôi về với
biển; Tình cờ mùa xuân gặp người cũ qua nơi hẹn cũ; Ngày
em lấy chồng – tôi ngược gió đầu đông; Theo dấu chân người qua
Thung Lũng Tình Yêu; v.v…
100 bài thơ được chọn từ
hơn 500 bài thuần theo thể thơ 1-2-3 – một thể thơ xuất hiện trên tao đàn từ
mùa thu 2018. Mỗi bài thơ gồm 3 đoạn; đoạn một 1 câu (cũng là thi đề) tối đa 11
chữ; đoạn hai gồm 2 câu, mỗi câu tối đa 12 chữ; đoạn ba gồm 3 câu, mỗi câu tối
đa 13 chữ. Câu đầu tiên và câu cuối cùng hô ứng với nhau để tạo tính thống nhất,
cấu trúc chặt chẽ, ý tưởng nhất quán.
Đây là một trong những nỗ
lực cách tân hình thức thơ Việt cuối thập niên thứ hai của thế kỷ XXI. Nó mau
chóng được nhiều nhà thơ [trẻ] hoặc những nhà thơ mong muốn làm mới thơ Việt
nhiệt liệt hưởng ứng. Bởi, trước hết, đây là cuộc chơi thơ đầy trí tuệ. Mỗi bài
thơ tối đa 74 chữ, như thế là có quy cách nhưng không quá ràng buộc cứng nhắc
nhưng cũng không thể “tràng giang đại hải”. Mỗi chữ, mỗi từ dùng đều phải được
cân nhắc kỹ càng, tuy không đến độ “phải phí tốn ngàn cân quặng chữ / mới
thu về một chữ mà thôi” (thơ Maiacôpxki) nhưng cũng phải “thôi xao” chữ
nghĩa để chọn lựa, đặt để sao cho vừa vặn, tinh tế.
So với một bài lục bát Việt
Nam tối thiểu hai câu (14 âm tiết), một bài haikư Nhật Bản ba dòng (17 âm tiết),
một bài tứ tuyệt Trung Quốc bốn câu (28 âm tiết), thơ 1-2-3 có bầu trời rộng
rãi hơn cho người cầm bút bay lượn nhưng cũng khá nghiêm cẩn để phải chọn đà
bay, cách bay cho phù hợp. Thơ vốn hàm súc, thơ 1-2-3 càng đòi hỏi cao sự hàm
súc, cô đọng, ý tại ngôn ngoại, “hoạ vân hiển nguyệt”. Thơ như thế chắc chắn sẽ
mang đến cho bạn đọc ít nhiều nhã thú nghĩ ngợi, suy tư.
Thơ 1-2-3 Tạ Hùng Việt có
đầy đủ phẩm tính ấy, đọc xong còn lưu lại dư vị, vị đắng cay của đời, vị ngọt
bùi của tình, tình yêu thương cuộc sống và con người. Thủ pháp phúng dụ không
chỉ mang đến tính hàm súc cần có, phải có của thơ mà còn góp phần biểu hiện tư
tưởng-tình cảm mang giá trị phổ quát. Muốn hiểu hết, hiểu đúng thì phải đọc cả
tập thơ, từ đầu đến cuối. Thơ hay, đẹp có sức ôm, chứa là vậy!.
Chú thích:
[1] Lê
Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2007), Từ điển
Thuật ngữ văn học, tr. 263.
23/11/2024
Chế Diễm Trâm
Nguồn: Tạp chí Nha Trang 11.2024
Theo https://vanhocsaigon.com/
Truyền lửa sáng tác văn học
Truyền lửa sáng tác văn học
Tọa đàm “Thơ 1-2-3 trong
không gian văn học hiện đại” do Hội Nhà văn TP Cần Thơ phối hợp Khoa Khoa học
Xã hội và Nhân văn (Trường Ðại học Cần Thơ) tổ chức mới đây không chỉ là hoạt động
sinh hoạt văn chương bổ ích, mà còn nhóm lên ngọn lửa sáng tác văn học cho sinh
viên.
Thơ 1-2-3 là thể loại thơ
mới do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng. Niêm luật là mỗi bài thơ gồm 3 đoạn. Đoạn
đầu chỉ gồm 1 câu, đồng thời là tựa bài thơ, tối đa 11 chữ. Đoạn 2 có 2 câu, mỗi
câu tối đa 12 chữ. Đoạn cuối có 3 câu, mỗi câu tối đa 13 chữ. Thể thơ này có đề
tài rất phong phú, ít câu nệ gieo vần, thiên về cảm xúc tác giả.
Câu chuyện về thể thơ này
đã làm rôm rả buổi tọa đàm, dĩ nhiên không thể thiếu nhân vật chính là nhà thơ
Phan Hoàng, bên cạnh các nhà thơ tên tuổi từ nhiều tỉnh, thành trong cả nước và
đông đảo sinh viên Trường Đại học Cần Thơ. Từ đó, mở ra không gian học thuật về
thơ 1-2-3. Theo TS Nguyễn Minh Ca (giảng viên Trường Đại học Tây Đô), sau hơn 6
năm xuất hiện, đã có gần 1.000 cây bút tham gia sáng tác thơ 1-2-3, có 12 tập
thơ riêng về thể thơ này, cùng rất nhiều thơ in chung.
Nhưng có lẽ, bên cạnh về
câu chuyện thơ 1-2-3, sự hào hứng của cả diễn giả, khách mời và sinh viên đã
làm nên hình ảnh đẹp tại tọa đàm. Nhà văn Đỗ Nguyên Thương, Chi hội trưởng Chi
hội Lý luận phê bình Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Thọ, chia sẻ: “Tôi đã từng
được tham dự khá nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm về văn thơ, nhưng cuộc tọa đàm ở
Cần Thơ lần này thực sự để lại ấn tượng sâu sắc. Từ người tham luận đến người dự
khán, ai ai cũng nghiêm túc, nhiệt tình lắng nghe và thưởng thức”.
Nhà văn Đỗ Nguyên Thương
cũng chia sẻ rằng, bà ấn tượng với sinh viên Trường Đại học Cần Thơ. Cách các bạn
đặt câu hỏi với diễn giả đầy tâm huyết và “sát sườn”, thể hiện sự quan tâm đến
văn học nước nhà. Có sinh viên đặt câu hỏi rất thú vị: “Ngày nay học sinh, sinh
viên nhiều người chưa chịu khó đọc sách, nhiều người chưa yêu thích văn thơ, vậy
nhà thơ Phan Hoàng sáng tác thể thơ 1-2-3 nhằm mục đích gì và ông có cách nào
đó để định hướng công chúng yêu thích hoặc phát triển thể thơ này hay không?”.
Câu hỏi tưởng đơn giản nhưng lại rất “khó” ấy cho thấy sự quan tâm của giới trẻ
với văn học và văn hóa đọc. Em Nguyễn Lan Phương, sinh viên, chia sẻ: “Buổi
sinh hoạt đã khơi dậy tình yêu văn chương trong em hơn nữa và thôi thúc em sáng
tác”.
Thật vậy, những từ “làm
thơ”, “viết văn” hay “sáng tác” đôi khi được các bạn sinh viên cho là chuyện
“to tát”. Có sinh viên tâm sự rằng, bạn từng “thử” làm thơ nhưng chỉ giữ cho
riêng mình vì không đủ tự tin, không dám cho người khác đọc hay gửi đăng báo. Với
những chia sẻ của sinh viên, Ths Phạm Khánh Duy, tức nhà văn 9X Hoàng Khánh
Duy, giảng viên Trường Đại học Cần Thơ, đã động viên các bạn mạnh dạn sáng tác.
Chính thực tế bản thân nhà văn Hoàng Khánh Duy là câu chuyện truyền cảm hứng.
Anh sáng tác, có sách ra mắt ngay từ khi còn là sinh viên Trường Đại học Cần
Thơ và nay đã sở hữu hàng chục đầu sách ở nhiều thể loại, từ truyện ngắn, tản
văn, phê bình văn học… Phấn đấu học tập, trau dồi và mạnh dạn sáng tác, thử sức
bản thân là thông điệp nhà văn, giảng viên trẻ gửi tới sinh viên.
“Ngọn lửa” được truyền
trong buổi tọa đàm chính là những tiết mục đọc thơ, ngâm thơ của sinh viên. Ấn
tượng nhất có lẽ là tiết mục kịch thơ “Cần Thơ – Thành phố tình yêu” của sinh
viên lớp Văn học và lớp Báo chí khóa 50. Dù là “cây nhà lá vườn” nhưng tâm huyết
và tình yêu văn chương là điều dễ cảm nhận. TS Tạ Đức Tú, Phó Trưởng Khoa Khoa
học Xã hội và Nhân văn, hy vọng rằng, từ cuộc tọa đàm về thơ 1-2-3, sẽ mở ra những
cuộc tọa đàm khác về văn học dành cho sinh viên thời gian tới.
Theo nhà thơ Nguyễn Trung
Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn TP Cần Thơ, Hội Nhà văn thành phố và một số Hội
Văn học Nghệ thuật các địa phương khu vực ĐBSCL đang lâm vào tình trạng khủng
hoảng lực lượng kế thừa, hầu hết các nhà văn hội viên đều cao tuổi. Vì nhiều lý
do khách quan, Hội không tổ chức được các hoạt động thu hút các bạn trẻ yêu văn
chương làm tiền đề cho việc kết nạp hội viên ở giai đoạn sau. Do vậy, việc giới
thiệu đến các bạn sinh viên hoạt động mang tính đặc thù thế này là rất cần thiết.
“Qua đó, khơi gợi lòng yêu thích văn chương ở các em sinh viên, là nguồn động
viên rất lớn để các em đến với đam mê văn học và việc chọn lựa nghề nghiệp sau
này”, nhà thơ Nguyễn Trung Nguyên chia sẻ, đồng thời cho biết ngoài Trường Đại
học Cần Thơ, sắp tới Hội Nhà văn TP Cần Thơ sẽ phối hợp với các trường học trên
địa bàn thành phố tổ chức các hoạt động văn chương hướng đến học sinh, sinh
viên.
24/11/2024
Đăng Huỳnh
Nguồn: Báo Cần Thơ 20.11.2024
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đọc thơ 1-2-3 Nguyễn Tiến Nên
Đọc thơ 1-2-3 Nguyễn Tiến Nên
Những năm gần đây, Nguyễn
Tiến Nên viết rất nhiều, bút ký, truyện ký và thơ, đặc biệt người đọc biết đến
anh là ở mảng thơ, mảnh đất mà anh có những thành tựu nhất định trong suốt quá
trình sáng tác. Tập thơ Tái sinh (NXB Hội Nhà văn, 2020) của anh được Giải B Giải
thưởng Văn học Nghệ thuật Lưu Trọng Lư 2020. Lần này Vụn và Lành là một tập thơ
theo thể loại 1-2-3 với đúng 100 bài. Cứ tưởng đây là một thử nghiệm mới theo
dòng thơ này nhưng đọc hết toàn tập thơ mới nhận ra loại thơ 1-2-3 chính là vườn
ươm tốt tươi sản sinh ra hoa trái xinh tươi, là dòng thơ phù hợp với tâm hồn
thơ của Nguyễn Tiến Nên với những dồn nén cảm xúc ứ đọng có điều kiện để bung vỡ
đầy hương sắc.
Tập thơ Vụn và
Lành được kết cấu theo 3 chủ đề: Nhấm rượu cùng thế thái, Những
tình khúc của loài chim biển, Với những hơi thở mọc rễ. Tác
giả Vụn và Lành đã nắm bắt được những quy ước của loại thơ
1-2-3 gồm số lượng câu (6 câu nhưng lượng chữ thì dài hơn đến 12, 13 chữ, đề
bài cũng là một câu thơ tập trung vào một chủ đề chính của cả bài. Đó là một loại
thơ ngắn, ngôn từ câu chữ giới hạn, chặt chẽ nhưng lượng thông tin thì trải rộng
thẳm sâu. Bài Sau mỗi chuyến đi ta lợp lại mái nhà/ Lợp lại
những ẩm mốc rêu rong/ Những sần sùi năm tháng/ Lợp tâm hồn bằng lời ru con
sóng/ Lợp nỗi lòng bằng một thoáng hư vô/ Lợp ngày mai bằng những áng
thơ… Thực ra đây là một cái cớ trong hình thức diễn ngôn mang hàm ý đằng
sau những chuyến đi xa là những năng lượng khi trở về để lợp lại tâm hồn đã “ẩm
mốc rêu phong”, cần nguồn lực sáng tạo để làm mới lại cảm xúc. Bài thơ câu chữ
ngắn gọn có tính khẳng định chung thẩm cho đường bay nghệ thuật của thơ.
Bài thơ Tôi đi giữa
tôi và tôi và tôi… Nhìn đâu cũng thấy tôi và tôi và tôi/ Những chuyển
động hướng tâm li tâm bát nháo/ Những xé giằng suýt biến tôi thành con quay vô
định/ Hình như trong quỹ đạo không là quỹ đạo ấy/ Tiếng chim gọi câu thơ mọc
cánh và tôi tìm được chính mình. Đây là bài thơ hay, tôi cho là tiêu
biểu trong chùm thơ có chủ đề Nhấm rượu cùng thế thái, được viết
bằng ngôn ngữ mang tính ẩn dụ và liên tưởng tạo nên những ám ảnh giằng xé của
tác giả bởi một thực tế xã hội đầy “bát nháo” ngỡ có khi đã đẩy nhà thơ trở
thành “con quay vô định” trong “quỹ đạo” đầy tối tăm bùi nhùi ấy. Và giữa một
tâm thế ngập tràn bóng tối của đời sống phức tạp thị phi, thơ đã nở bừng ánh
sáng giúp nhà thơ thức ngộ để trở lại chính mình.
Vâng, đối diện với hiện
thực, người thơ luôn muốn thể hiện một thái độ sống, một chọn lựa dứt khoát
theo hướng “để cuộc đời luôn cao đẹp”: Sẽ là nơi của mọi tấm giấy thông
hành/ Nơi đặt trái đất trước sự cân lường/ Không ai cùng lúc rẽ về
mọi hướng/ Sau phút giao loan con nước có thể ngược dòng/ Người tài
xế chỉ đưa vô-lăng về một lối/ Giữa ngã rẽ cuộc đời ai cũng có quyền lựa chọn một
hướng đi… Thơ 1-2-3 kiệm lời, đề bài cũng là một câu thơ, mở ra và
khép lại trong câu thứ 6. Vỏn vẹn chừng ấy câu cho nên phải tận dụng câu chữ mới
triển khai trọn vẹn tứ thơ. Ở bài thơ trên, bằng nghệ thuật đối lập trong hai
câu thơ kết thúc làm cho người đọc bất ngờ bởi hình ảnh thơ thêm đậm nét, mạnh
mẽ và mở ra một sự liên tưởng thú vị.
Qua thơ, Nguyễn Tiến Nên
luôn nặng nợ với quê nhà, tuổi thơ nơi miền quê dân dã với đồng ruộng, bọc cơm,
bát canh rêu, chiếc mê nón, cánh phượng, cau dày, trầu xanh,… là những chất liệu
cho những thi ảnh, cứ day trở trong anh niềm ray rứt tiếc nuối của một tấm lòng
chân thật, thấm đẫm hồn quê. Trong tình yêu đôi lứa cũng vậy, Nguyễn Tiến Nên
luôn hướng đến sự tròn đầy của yêu thương nồng ấm ngát hương để đưa nhau đến “bến
xuân lành”, là sự cứu rỗi sau những vết thương lầm lạc của con người. Đó còn là
một phản ứng trước sự nhiễu nhương của nhân tình thế thái: Em xở xoay
như cây cà rem di động/ Giữa chiều đông nhợt nhạt hững hờ/ Và cuộc sống xô bồ mở
khép/ Chỉ tình yêu chẳng thể nào hao khuyết/ Nụ cười em xóa khoảng cách không
gian/ Cùng nhau mút mùa nhung nhớ – Ta vui đậu bến xuân lành…
Đã
rõ ràng, trong thơ Nguyễn Tiến Nên luôn hiển lộ một quan điểm thống nhất giữa mọi
mối quan hệ vào một điểm chung trong suy nghiệm đời người, thơ luôn mang theo một
dòng chảy ngôn ngữ thẩm mỹ nhằm tôn vinh cái đẹp vĩnh hằng và trân quý.
Nguyễn Tiến Nên sinh ra
và lớn lên ven bờ biển Quảng Bình và miền Trung đầy nắng gió. Sống và yêu bên
biển, thơ là những giai điệu tôn vinh tình yêu đôi lứa dạt dào, khi trào dâng
như sóng bão, khi dịu êm những ngày êm ả. Một lần anh viết: Tôi bay tới
thiên đường giữa biển khơi/ Để không nuối tiếc nguyên sơ bờ bãi/ Và
khi xa không ngái An Bình/ Ai choàng cho em veston xanh và voan trắng/ Mang
nham thạch mỡ màu/ San hô phát sóng, vũ điệu cá giữa ba sắc nước đáng yêu…
Trong Những tình
khúc loài chim biển đã thấy có những biến đổi trong bút pháp nơi anh.
Những hình ảnh người nữ trong thơ được biểu đạt bằng ngôn từ bổi hổi nóng bỏng
khát tình, đôi khi chứa đầy tính phồn thực ân ái: Bờ vai em rạo rực phồn sinh,
“tòa thiên nhiên”, “triệu năm qua nham thạch kết băng rồi”, “gió ve vuốt ngực
em”, “em nã nồng”… Biển cũng là một đối trọng trữ tình trong thơ, là hình ảnh của
tổ quốc tình yêu biển đảo. Anh viết về nhiều hòn đảo mà anh từng khát khao đến
được, bởi chính giữa mênh mông biển trời nơi đảo xa, tổ quốc sẽ hiện lên bằng
da bằng thịt trong tình yêu đất nước mãnh liệt đến vô cùng. Cũng trong tâm thức
trở về nguồn, nhận diện lại hình hài tổ quốc, đảo Lý Sơn với những dòng sử ký
ghi lại những hi sinh của các hải đội Hoàng Sa luôn là những cảm xúc đến nặng
lòng.
Hay như khi anh ra cùng
Côn Đảo: Từ khóa nào đây cho cuộc về nguồn/ Sử sách hàng
trăm năm rỉ máu/ Địa ngục trần gian bảng lảng khói hương/ Tôi đặt gót sẽ sàng
trên cát mềm An Hải/ Biển vẫn trong xanh vô tư hứng nắng vàng/ Sao lòng tôi
trĩu nặng? Ông cha ta từng vượt khám bơi ngang… Những tình khúc loài chim biển là
sự giao hòa của bản hòa âm giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu tổ quốc tha thiết
sâu lắng…
Với những hơi thở mọc rễ là
những tình cảm thiêng liêng với vùng đất nhau rốn Quảng Bình Quảng Trị và những
nơi chốn trên mọi miền đất nước mà anh đi qua. Anh viết về Vũng Chùa nơi mộ phần
của Đại tướng Võ Nguyên Giáp bằng một bài thơ 1-2-3 cô đọng mà hàm ý sâu sắc
ngưỡng vọng về người anh hùng của dân tộc.
Hình ảnh được hội tụ
trong một đề bài hết sức đầy đủ ý nghĩa của con người vĩ đại ấy để lại cho mọi
người: Tụ nhân tụ khí tụ linh tụ sơn tụ thủy/ Nơi hội tụ
triệu tâm hồn ngưỡng kính/ Và những bàn chân không phải bàn chân/ Xót nhúm rau
bám sâu lòng đất mẹ/ Thương tấm thân kết muôn vì tinh tú/ Thắp lên ngọn hải
đăng. Tín hiệu tình yêu. Đúng là nơi tụ hội của lòng dân, lòng người,
khí chất linh thiêng của núi và nước. Cuộc lãng du qua nhiều nơi trên đất nước:
Sông Sài Gòn, xứ Nẫu Tuy Hòa, đất cảng Hải Phòng, Đà Lạt, Đà Nẵng, Đồng Mô, Hà
Tĩnh… đều mang đến cho Nguyễn Tiến Nên cảm xúc để sáng tác.
Những bài thơ 1-2-3 trong
chủ đề này như nén lại, nhưng câu chữ như muốn bung vỡ bởi những phát hiện mới
riêng có của tác giả, phác thảo nên những diện mạo không gian nơi chốn bằng những
góc nhìn sắc nét: Sớm mai này anh đến với Đồng Mô/ Gió ngân
nga năm mươi tư làn điệu/ Dàn hợp xướng năm mươi tư sắc áo/ Những gương mặt anh
em lâu bữa trở về/ Mèn mén rượu cần ngô bung xôi nếp/ Những sát na sinh tồn rau
rốn dấu yêu. Bài thơ đã miêu tả được không khí quang cảnh lễ hội văn
hóa của 54 dân tộc Việt, phong phú màu sắc lộng lẫy như một bản hợp xướng nhiều
cung bậc, những gặp gỡ lâu ngày xúc động “men mén” nồng say tình nghĩa. Câu kết
lại chạm tới một điều trọng đại là ý nghĩa của “sinh tồn, rau rốn” đã nâng tứ
thơ thêm một thang bậc nữa của giá trị văn chương…
Với đúng 100 bài theo thể
loại 1-2-3, dễ nhận ra Nguyễn Tiến Nên là người đến với dòng thơ này để lại nhiều
ấn tượng, góp phần tạo cho sân chơi của sáng tác thơ 1-2-3 sự hấp dẫn đáng kể
trong ngôn ngữ nghệ thuật thơ ca của một trào lưu xu hướng mới. Thơ 1-2-3 vẫn
đòi hỏi sự cách tân, tìm kiếm cái mới cho thơ, từ ngôn ngữ, cấu tứ, giọng điệu
và hình ảnh được diễn ngôn khơi gợi những cảm thụ thẩm mỹ ở người đọc chứ không
phải để đánh đố người đọc. Nguyễn Tiến Nên với Vụn và Lành đã
xác lập được chỗ đứng trong vườn thơ 1-2-3.
26/11/2024
Hồ Sĩ Bình
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Những tác phẩm nổi bật bật của Toni Morrison Theo The Guardian, Toni Morrison là một trong những nhà văn Mỹ vĩ đại nhất. Bà để lại cho đời...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)