Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

"Mùa trái rụng nhiều" của Trần Quốc Huấn là một sự lựa chọn của thời gian

"Mùa trái rụng nhiều" của Trần
Quốc Huấn là một sự lựa chọn của thời gian

“Người lính kèn về làng” của Trần Quốc Huấn là một tập truyện hay. Trong đó, hình tượng lôi cuốn gây ám ảnh cho người đọc là Thịnh – nhân vật chính của “Mùa trái rụng nhiều”.
Quãng đời của Thịnh hiện ra trước mắt ta cùng với sự bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc vào tháng 7-1965 và kết thúc “hàng năm sau.. khi chiến tranh chấm dứt”. Ngay trong đoạn mở đầu, khung cảnh cuộc chiến tranh chống Mỹ xuất hiện qua hai mặt tương phản với tương quan áp đảo rõ rệt: Một bên là sức mạnh hủy diệt, hiện đại, khủng khiếp, dữ dội của vũ khí Mỹ – “Mỹ ném bom vào Sở Dầu thành phố. Chiến tranh hiện diện thật hùng hồn: toàn thành ngập trong những cuộn khói khổng lồ màu đen sẫm”.
Với một bên là sự đối phó thụ động, hốt hoảng, cuống quýt của những người dân đi sơ tán, tay không tấc sắt, chập chờn ẩn hiện như những bóng ma: “Và ngay đêm đó, dưới ánh trăng suông nhợt nhạt, những dòng người xe bíu ríu túa về các ngả ngoại vi thành phố. Cơ quan của những người chủ gia đình sơ tán định vị ở nơi nào thì cả bầu đoàn thê tử về nơi ấy. Một cuộc hành hương lổm ngổm, truân chuyên, nhưng không hẳn là buồn”.
Với nghệ thuật mở truyện như vậy, mặc dù có hai câu bình luận đậm chất cảm thán tưởng như cảm phục, ngợi ca ở đầu và cuối đoạn của tác giả: “Chiến tranh hiện diện thật hùng hồn” và “chiến tranh vừa xa lạ, kinh dị, vừa gần gũi hào hùng biết bao”, thì sâu xa trong cảm nhận, người đọc thấm thía một điều hoàn toàn khác. Dù chính nghĩa hay phi nghĩa, cuộc chiến tranh nào cũng đều có hai mặt: mặt phải là vinh quang, mặt trái là cay đắng. Có lẽ cảm hứng toát lên ngay từ đầu từ đoạn mở đầu này là nỗi buồn đau, xót xa, cay đắng cho mặt trái của chiến tranh; chứ không phải là ngợi ca mặt phải “hùng hồn” hay “hào hùng” của nó.
Khi chiến tranh nổ ra hoàn cảnh sống và cách sống của Thịnh vừa bình thường lại vừa có nhiều nét khác thường. Mới mồ côi mẹ cách đó nửa năm, nhà nghèo nên anh phải thôi học ở trường trung cấp Sư phạm tỉnh. Miền Bắc Việt Nam khi đó sống theo nền kinh tế tập thể; cán bộ công nhân viên, nông dân, công nhân, thợ thủ công, đều làm việc trong các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã của nhà nước. Vì vậy, Thịnh là người ngoài biên chế, muốn đi sơ tán cũng không định vị được vì chẳng thuộc cơ quan đoàn thể nào. Lại bị hỏng mắt phải – là mắt để ngắm bắn nên xin đi bộ đội cũng không xong. Tuy nhiên, dù không gia đình, không đích đến, nghề nghiệp theo học dở dang, Thịnh hoàn toàn tự do tìm cách tồn tại cho mình là “sẽ đi về hướng nào có nhiều người sơ tán nhất”, chọn cho mình cái nghề tùy hứng cá nhân nhất là cắt tóc và nơi hành nghề là một khoảnh đất chẳng ai tranh, dưới một gốc bàng ba tán xum xuê vừa lành vừa mát tại một vùng quê. Có thể nói, đầu tiên, Thịnh là một dân nghèo thành thị sơ tán về nông thôn trong hoàn cảnh cô đơn nhất.
Nhưng có lẽ cô đơn là điểm tựa của sáng tạo chăng nên tuy bị hỏng một mắt – khiếm thị – Thịnh lại rất năng động, khéo tay, linh hoạt trong nghề cắt tóc. Một họa sĩ đã phải công nhận “nhìn tấm biển “Cắt tóc” của cậu, tớ biết cậu khéo tay lắm”. Không như những tay thợ vườn ở nhà quê “tay xách hòm gỗ, nách cắp ghế xếp, luồn lách nơi xóm ngõ rất hay xẻo nhầm vào tai hay cạo lẫn vào thịt của khách”, Thịnh là một thợ cắt tóc rất hiểu tâm lý khách hàng.
Đối với các vị cán bộ huyện, xã và đám trẻ nhà quê thích ăn chắc mặc bền, anh dùng đồ nghề “tông đơ” cắt tóc, cạo đầu cho gọn, phẳng nhẵn. Còn với đám dân sơ tán là người thành phố và học sinh cấp ba là thanh niên mới lớn thích kiểu cách, điệu đà, anh thuần dùng kéo. Kiểu tóc cũng phát triển theo thị hiếu thẩm mỹ “Mai trắng gáy xanh” rồi tiến tới “Mai xanh gáy vuông”. Trong giao tiếp, anh chân thật nhưng cũng khá tinh tế, nhạy bén, sâu sắc riêng với từng người, đặc biệt với những khách hàng độc đáo, sắc sảo và mạnh mẽ như ông chủ hiệu “Thịt cầy tám món”. Tóm lại, trong chiến tranh, tại nơi sơ tán, Thịnh đã trở thành một thợ cắt tóc lành nghề, có uy tín và rất được lòng dân. “Khách xếp hàng một cách tự nguyện, ai cũng muốn lấy lòng ông chủ. Còn ông chủ thì luôn kín đáo tỏ ra là mình vẫn có một chút thiên vị riêng với từng người”.
Song, bất ngờ hơn là nếu chiến tranh khiến Thịnh bộc lộ được tài năng với mái đầu của người đang sống trong nghề cắt tóc, thì, cũng chính chiến tranh là động lực thúc đẩy Thịnh chuyển sang việc tái hiện cái đầu của người đã chết trong nghề vẽ truyền thần. Một tình huống ngẫu nhiên đến hài hước, Thịnh quen biết và sống chung thời gian ngắn với một họa sĩ về thực tế sáng tác nơi huyện anh sơ tán. Qua việc nhiều người dân đều nhờ họa sĩ vẽ truyền thần ảnh con trai họ đã hy sinh ngoài mặt trận, Thịnh hiểu mình đang sống ở “năm Mậu Thân”, cuộc chiến vào thời kỳ quyết liệt và thảm khốc. “Ấn tượng về sự căng thẳng của chiến tranh là những lời đánh giá của họa sĩ: “Tình hình này, căng đây”, “Người chết.. Báo tử về nhiều lắm”.
Cùng với thực trạng ấy là yêu cầu khẩn thiết, cấp bách của gia đình những người chết trận. Không chỉ họa sĩ mà ngay cả Thịnh – người được tiếp thu nghề vẽ truyền thần trong có hai tuần cũng thấy rõ “Mà khách hàng ngày một đông” khách ngày một đông còn đông hơn lượng khách đến cắt tóc ngày trước. “Hàng” làm toàn những người lính có giấy báo tử chính thức, hoặc chưa cần chính thức. Đến lúc những ông già bà cả mặc áo xuyến văn nổi chữ Thọ, đầu đội khăn xếp, hoặc nhung the, ngồi trên ghế chạm có tay ngai, xòe đủ mười đầu ngón tay, mười đầu ngón chân… dần biến mất khỏi giá vẽ, nhường chỗ cho những chàng trai tươi rói đáng tuổi cháu, con”.  Điệp ngữ tăng tiến “ngày một đông” -> “ còn đông hơn…” cùng cảm nhận chua xót, đau đớn của Thịnh qua lời kể của tác giả khiến người đọc thấm thía được mặt trái đau thương của chiến tranh: Cùng với những thắng lợi ở Đường Chín Nam Lào, Khe Sanh là biết bao mất mát hy sinh không kể xiết. Ở Thịnh lúc này có một cảm nhận phức tạp mang tính chất tâm linh: “Cái mùa khủng khiếp, với Thịnh, đó là mùa những trái bàng chín rụng… Thịnh vừa mừng vừa rờn rợn. Mừng vì đơn giản như một gã làm công tham việc có rất nhiều việc để làm. Rờn rợn vì hình như Thịnh mang máng nhận ra có một mối liên quan nào đó, dù rất đỗi mơ hồ, giữa những trái bàng rơi đêm khuya với những khách hàng tìm đến sớm mai. Đêm nào bàng rụng thật nhiều thì y như rằng ngày hôm sau có đông khách đến tìm”. Điều này dẫn đến một phép tính tỉ lệ thuận đến tàn nhẫn, ác độc: con em khách hàng chết trận nhiều bao nhiêu thì thợ vẽ truyền thần Thịnh càng thu được nhiều tiền bấy nhiêu. Cảm nhận tâm linh của Thịnh bộc lộ cuộc đấu tranh nội tâm giữa vẽ hay không vẽ? Nếu vẽ, tức là thịnh biến phép tính tàn nhẫn kia thành hiện thực: anh sung sướng trên nỗi đau khổ của nhiều người khác! Nhưng nếu từ chối không vẽ liệu anh có khỏi dằn vặt mình không, khi bản thân anh mang lỗi ích kỷ, không biết cảm thông chia sẻ khách hàng là giúp họ giảm bớt nỗi đau khổ bằng cách được thấy chân dung của người thân không bao giờ về nữa? Cuối cùng, Thịnh quyết định đúng là phải vẽ.
Vấn đề nảy sinh ở đây là Thịnh vẽ tranh truyền thần cho những người lính đã hy sinh như thế nào? Do không được học trường lớp hội họa nào đến nơi đến chốn mà chỉ được truyền nghề một cách gấp rút trong vòng nửa tháng trời từ một họa sĩ vì tiếc rằng một cơ hội kiếm tiền hiếm có cho Thịnh: “Cậu phải học lấy nghề này… Một, hai tuần. Có thể nhanh hơn… Tớ không ở đây lâu được. Mà khách hàng ngày một đông. Chẳng lẽ…” Nên Thịnh lập tức nghe theo và vẽ được rất nhanh theo dự đoán của họa sĩ này. Kết quả ấy có được không chỉ bởi sự “khéo tay” mà còn do động lực muốn kiếm tiền nhanh và nhiều của Thịnh nữa. “Thịnh biết, một bức truyền thần, họa sĩ phải hoàn tất trong vài tiếng đồng hồ với khoản tiền công bằng Thịnh gò lưng chồn gối cắt tóc hàng tuần. Ý nghĩ ấy giúp Thịnh định thần ngồi hẳn dậy.” để học lấy nghề ngay lập tức.
Song, họa sĩ – thầy dạy nghề cho Thịnh có lẽ hiểu nhưng lại không vẽ nổi một bức truyền thần theo đúng nghĩa của nó. Kiến thức về vẽ truyền thần lại được khẳng định một cách rất cơ bản từ miệng ông chủ hiệu “Thịt cầy tám món” khi nhận được giấy báo tử của cậu con trai, ông nhờ họa sĩ vẽ và phóng to từ bức ảnh chụp cỡ 2 x 3 rất nhỏ để thờ cúng con ông. Khi được họa sĩ cho biết cách vẽ đó là truyền thần thì câu trả lời của ông vừa như một yêu cầu khẩn thiết lại vừa là một mệnh lệnh dứt khoát, mạnh mẽ:
“- Phải. Truyền. Anh truyền lại hộ tôi cái thần của nó!”
Nhưng họa sĩ lại là người xa rời thực tế kể cả hậu phương sơ tán ngoài miền Bắc lẫn chiến trường ác liệt trong miền Nam. Khi xuống huyện L.N lấy thực tế sáng tác, anh cứ như người trên mây chẳng thèm để ý tiếng phản lực Mỹ đang quần thảo trên bầu trời, cũng không hiểu rằng trong chiến tranh, để tránh là mục tiêu bắn phá của không lực Mỹ, người dân chỉ được mặc quần áo sẫm màu – xanh, nâu, đen… Một mình anh nổi bật trên con đường giữa đồng trong hình ảnh là “một gã đàn ông mặc áo trắng lốp… Gã nghênh nghênh, vung vẩy, nách cắp một cái gì đó vuông vuông cũng màu trắng xóa”. Thật hài hước! Thực tế đầu tiên mà họa sĩ thu nhận được trong chuyến đi này là “những tiếng quát lác, chửi rủa nhặng xị, thất thanh” của bao người nông dân đối với bất cứ ai vô tình hay hữu ý tiếp tay cho kẻ thù bắn phá quê hương họ.
“ – Ối giời ơi! Cái thằng bỏ mẹ nào mặc áo trắng lốp đi giữa đồng kia! Cha tiên sư bố thằng chỉ… điểm…!
– Sư bố thằng gián điệp kia, mày điếc à…
– Ối giời ơi… Nó còn đứng lại nữa kìa! Sư bố thằng khốn nạn!
– Chết rồi…! Nó lại còn chạy cho “bố nó” nhìn rõ kìa… Thằng chỉ điểm cởi áo ra! Cởi ra…a…a!
– Ối giời ơi… nhìn kìa! Nó cởi áo ra nom còn trắng hơn cả mặc áo kìa! Thằng kia, mày định giết cả xã này đấy hả!”
Rõ ràng, chỉ vì xa rời thực tế phòng không nhân dân, họa sĩ Trần Thế Thiện vô tình tự biến thành nhân vật hề trên sân khấu chèo truyền thống. Chất hài đậm hàm ý phê phán làm sống lại một không khí kháng chiến chống Mỹ quyết liệt bằng nghệ thuật gây cười vừa dân dã tươi tắn vừa hóm hỉnh duyên quê.
Kết quả chuyến đi thực tế của họa sĩ Thế Thiện lần này là con số không tròn trĩnh vì hoàn toàn thất bại. Đây là điều họa sĩ không tự đánh giá nổi. Sống ở huyện L.N gần một tháng anh không vẽ được một bức tranh đáng kể về nông thôn và người nông dân miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ. Lười biếng, không dám dấn thân vào thực tế chiến tranh nhưng lại muốn thành danh bằng “những phác thảo ký họa và chiếm đến non nửa” là những chân dung chiến sĩ “lấy nguyên mẫu từ những tấm ảnh nhỏ kẻ vuông” – “phần chân dung còn sót lại” trước khi đi lính của những chàng trai mà hiện tại mãi mãi “không trở về”. Không sống trong không khí căng thẳng một mất một còn giữa bom đạn của ta và địch ngoài chiến trường; chẳng hiểu chút gì về tâm tư, tình cảm và khát vọng cụ thể, chân thực của người lính khi ngồi trong chiến hào lừa địch tới; thậm chí tinh thần, tư thế, hành động khi lao tới chiếc xe tăng địch của chiến sĩ giải phóng ra sao… tất thảy, họa sĩ đều không trực tiếp quan sát, cảm nhận, thấu hiểu. Làm sao anh có thể vẽ nổi một bức tranh chân thực, sắc nét, sống động về nhân vật trung tâm của chiến tranh vệ quốc là người lính ngoài mặt trận xa xôi ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ?
Vì vậy, người đọc có thể hiểu rằng trong chiếc cặp căng phồng của họa sĩ sau kỳ đi thực tế nông thôn ấy, những bức phác thảo ký họa về người lính chắc chắn là đường nét mờ nhạt, đơn điệu, vô hồn, không sức sống bởi chủ yếu được tạo nên bằng sức tưởng tượng chủ quan, nghèo nàn, không cơ sở thực tế. Còn phần lớn cái gọi là “chân dung chiến sĩ” chỉ là sự sao y chính bản bằng bút vẽ, là sự chụp lại y hệt bức ảnh chụp bằng máy, nhờ bút chì và màu vẽ, từ tấm hình của những chàng trai khi họ còn ở nhà, còn sống, và chưa hề ra trận. Vậy, những bức vẽ ấy đâu phải là chân dung người lính mang hơi thở của chiến tranh; nước da đâu sạm màu nắng mưa, sương gió; quần áo đâu cháy sém, rách nát vì khói lửa đạn bom, cặp mắt đâu ẩn chứa tình yêu gia đình, quê hương hay lóe lên lòng căm thù cái ác. Rất không may cho Thịnh, người thầy dạy nghề cho anh lại là một họa sĩ ít hiểu biết về cuộc sống, kém cỏi trong nghệ thuật hội họa, lười biếng trau dồi kiến thức cho bản thân, tâm hồn nghèo nàn, hời hợt, nông cạn nên bức phác thảo ký họa chân dung mà anh vẽ không thể hiện cái thần, cái hồn của con người hay cảnh vật. Cùng lắm chúng chỉ là những sản phẩm tập vẽ non nớt của người học vẽ chứ không phải là những tác phẩm nghệ thuật của hội họa đích thực. Dù cố giấu, nhưng tác giả Quốc Huấn vẫn không sao làm mất đi được hàm ý mỉa mai, chê trách trong giọng văn tưởng như khách quan, bình thản, vô sự khi kể về những bức họa nhiều về lượng: “Anh trở về cơ quan với chiếc cặp căng phồng” nhưng hoàn toàn vô nghĩa về chất của họa sĩ Trần Thế Thiện. Một cách vô tình, họa sĩ không ngờ rằng anh đã tự lừa dối bản thân và lừa dối cả những người nông dân nhờ anh vẽ truyền thần con em họ. Nguy hiểm hơn nữa, người thầy truyền nghề đã vô tình làm hỏng cả học trò của mình – nhân vật Thịnh.
Bởi, so với thầy “dậy nghề cấp tốc” của mình, Thịnh là một người học trò “hậu sinh khả úy” không phải theo nghĩa truyền thống – đáng khen, đáng nể phục – mà là ghê sợ. Nếu lời khuyên của họa sĩ mới dừng ở mức độ hãy học vẽ đi, đừng bỏ lỡ cơ hội kiếm tiền “Mà khách hàng ngày một đông. Chẳng lẽ…” Ba dấu chấm lửng bỏ dở câu nói chứa đựng “Một sự im lặng đầy lời” – A.TSêkhốp, nhà văn Nga – Thì học trò nửa mùa Thịnh còn biết lợi dụng cơ hội đó một cách nhanh trí, ma lanh, lưu manh  hơn. Không cần tìm hiểu cái gốc rễ của nghệ thuật vẽ truyền thần là gì và bản chất đích thực của nó là “truyền được cái thần” của đối tượng vẽ là thế nào, Thịnh vội vã, hối hả “hớt ngọn” nghệ thuật ấy một cách què quặt, méo mó, thậm chí dị dạng đến tàn nhẫn. Hoàn toàn vô cảm trước tình hình “quyết liệt và thảm khốc” của cuộc chiến, trước nỗi đau vật vã, quặn thắt của gia đình những người tử trận vì “giấy báo tử về nhiều lắm”, Thịnh coi truyền thần người chết trận từ các bức ảnh chụp chỉ đơn giản là một nghề kiếm sống “ngon ăn” hay không mà thôi! Theo anh, đó là một nghề thời thượng “có đông khách đến tìm”. Tuy nhiên không phải trường hợp nào cũng ngon ăn, nghĩa là tấm ảnh mẫu nào cũng còn mới rõ. “Có nhiều tấm ảnh đã phai ố, nhòe nhoẹt vì thời gian và vì cả nước mắt thấm vào nữa”. Muốn trở thành họa sĩ, nếu vào thời thuộc Pháp, người ta phải tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương; còn trong chế độ ta, trường này là tiền thân của Trường Đại học Mỹ thuật, Hội họa là một khoa đào tạo của nó. Hội họa là một trong bảy môn nghệ thuật đòi hỏi người họa sĩ phải có nhiều yếu tố tạo nên tài năng: năng khiếu bẩm sinh, kiến thức đào tạo cơ bản có hệ thống, kiên trì rèn luyện và trau dồi nghề nghiệp, hiểu biết rộng, sâu và vốn sống phong phú, đặc biệt phải có tâm hồn nghệ sĩ đích thực: khao khát sống sáng tạo cái Đẹp trong suốt cả cuộc đời bằng những cảm xúc tự nhiên, những rung động chân thực, những đường nét, mảng màu, hình khối độc đáo, thăng hoa nhất. Tất cả các yêu cầu đó Thịnh đều không hề biết nên vô tình tự bôi nhọ danh hiệu họa sĩ cao quý mà anh tưởng mình có được bằng lối học lỏm, chụp giật, khôn ranh nhờ “khéo tay”. Khóa học vẽ truyền thần của Thịnh nhanh như “ăn cướp”, qua thời gian đào tạo rút gọn đến “thần tốc” của ông thầy có phán đoán “như thần”. Khi Thịnh hỏi:
“ – Học khoảng bao lâu?
Họa sĩ châm điếu Đ’rao hút một hơi dài, nhả khói uể oải:
– Một, hai tuần. Có thể còn nhanh hơn… tớ biết cậu khéo tay lắm.”
Với lối học nghề nôm na mách qué từ một người thầy kém cỏi, tùy tiện, vô trách nhiệm, cộng thêm tâm lý biển lận thị dân của người từ thành phố sơ tán về – tinh ranh bớt xén, rút ruột, cắt bỏ bớt công đoạn trong sản xuất, buôn bán – Thịnh đã nhanh chóng hành động một cách cẩu thả, thô bạo, khinh thị đến mức bất ngờ với mục đích thực dụng đáng phỉ nhổ là: vẽ được nhanh, được nhiều để kiếm tiền, bất chấp tất cả.
Để nghề vẽ truyện thần “ngon ăn” hơn “Thịnh, lúc này là họa sĩ Thịnh quy hết những tấm ảnh đó về một khuôn mặt lính: quân dụng kiêu hùng và đượm buồn (ảnh thờ nào mà chẳng đượm buồn), với đầy đủ mũ mão, quân hiệu, quân hàm. Đó là anh bộ đội thuần túy, trong mường tượng của người thân”. Giọng văn Quốc Huấn ở đây bộc lộ không giấu diếm cảm xúc, thái độ của anh và phần nào của cả độc giả: mỉa mai, châm biếm, giễu cợt cái danh xưng “lúc này là họa sĩ Thịnh” muốn khoác vào mà không được. Với cách sơ sài hóa tới mức tối đa như thế, Thịnh không đáng là một thợ vẽ vườn, thậm chí chỉ là kẻ làm đồ hàng mã – những bức tranh thờ giống hệt nhau được sản xuất hàng loạt, vô hồn. Đồng thời tác giả Quốc Huấn truyền cho người đọc chúng ta lòng cảm thương, chua xót cho những người lính trong bức hình Thịnh vẽ. Họ đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho sự tồn vong của gia đình, quê hương, Tổ quốc vậy mà hình hài họ cũng không được tái hiện sống động, chân thực là một bức chân dung truyền thần đích thực. Trái lại hình hài đó lại bị mã hóa thành một khuôn mặt lính với quân dung ước lệ tượng trưng, hao hao giống nhau, giả tạo, khô cứng người nào cũng từa tựa người nào. Có thể nói, những người lính trong bức truyền thần Thịnh vẽ đã phải chết hai lần. Lần thứ nhất do bom đạn của kẻ thù. Lần thứ hai do cây bút vẽ tầm thường, đáng khinh của nhân vật Thịnh.
Thịnh không hiểu được sự kỳ diệu của tạo hóa và yêu cầu nghiêm túc của nghệ thuật. Loài người từ khi xuất hiện trên trái đất đến nay đã sinh ra hàng triệu triệu, tỷ tỷ con người. Họ đã sống, đã chết và vẫn đang tiếp tục sinh sôi nảy nở, nhưng không một ai giống ai hoàn toàn cả về tâm hồn, hình hài và tính cách. Mỗi người là một vũ trụ riêng với cá tính của họ. Những người lính trong từng bức ảnh chụp nhỏ xíu cỡ 3×4 có nét chung là “những chàng trai trước ngày nhập ngũ. Họ để đầu trần mặc áo trắng, áo nâu chứ chưa phải là áo lính”. Nhưng mỗi người lại có nét riêng về hoàn cảnh xuất thân: “Người ôm cặp sách trên tay thuộc tầng lớp trí thức, có thể là học sinh, sinh viên”, “người đứng cạnh con trâu, cái cày” là nông dân quen với công việc nhà nông trên đồng ruộng. Lại có người ở lứa tuổi thanh niên mới lớn, hồn nhiên, trong sáng vô tư, tinh nghịch, hiếu động, “tay xách toòng teng con cá, vai vác cái cần câu, mắt sáng long lanh, miệng cười chúm chím”. Người họa sĩ chân chính, tài năng phải làm rõ nét thần thái riêng mỗi người trong cái chung của hoàn cảnh xã hội, của hệ ý thức. Khát vọng muôn đời của người nghệ sĩ là thể hiện được cái độc đáo, cái đặc sắc, cái tôi cá nhân của mỗi con người trong tác phẩm bằng cái tôi cá nhân của tác giả. Trước những điều này, Thịnh hoàn toàn không biết chút gì, một kẻ điếc không sợ súng! Vì vậy những sản phẩm Thịnh tạo ra không hề là tác phẩm nghệ thuật mà chỉ là những bức vẽ với “những đường nét vụng dại, thậm chí méo mó” mà thôi!
Nhưng nếu vậy tại sao “nhiều người đã khóc. Khóc không thành tiếng hay òa lên nức nở ngay khi thoạt nhìn thấy bức vẽ mà họ nghiệm thu”? Không phải nông cạn như “Thịnh hiểu, từ ngày ra đi, phần đông những người lính ấy đều đâu có dịp trở lại một lần…”. Càng hoàn toàn không phải nhờ tài vẽ truyền thần của một thợ thủ công kém cỏi như Thịnh. Chính tình yêu thương, nỗi nhớ nhung sầu khổ, nỗi đau đớn, quằn quại từ trong máu thịt cũng như mong mỏi khát khao được gặp lại đứa con dứt ruột của mình, của những người thân đã linh thiêng hóa giây phút họ nhìn thấy bức vẽ kia. Như kẻ chết đuối vớ được phao cứu sinh, “thoạt nhìn thấy bức vẽ”, họ như sống lại. Đồng thời họ hồi sinh lại cả người đã chết trong tranh bằng trí tưởng tượng mãnh liệt, bằng những cảm xúc xuất thần sâu sắc, lớn lao, vừa thân thích vừa thiêng liêng. Nếu bút vẽ của Thịnh xóa nhòa hết sắc thái riêng biệt, độc đáo của người thanh niên trong ảnh chụp, thì chính tình yêu da diết của những người thân lại khắc sâu hình ảnh đứa con của họ vào tâm trí. Dù bức tranh Thịnh vẽ rất đơn giản, công thức, ước lệ: “Đó là anh bộ đội, thuần túy trong mường tượng của người thân”, thì họ vẫn cố hình dung bằng sức mạnh tinh thần. Họ tưởng như đã nhìn thấy, đã nhận ra đích xác và giao cảm bằng mắt với hình người trong bức tranh: “Đấy anh ấy đấy, anh ấy đang nhìn ra từ bức truyền thần. Đúng anh ấy rồi. Trong nỗi tiếc thương, đau xót, chen lẫn tự hào, người ta cố tìm và bao giờ chẳng tìm thấy ở những đường nét vụng dại, thậm chí méo mó của bức vẽ kia những dấu tích thân gần, yêu dấu, dù chỉ là phảng phất”. Viết nên cảm nhận này, Trần Quốc Huấn muốn nói với chúng ta rằng: một ngòi bút phi nghệ thuật có thể giết chết một hình tượng sống; trái lại, tình yêu thương chân thành, tha thiết và chính đáng của con người lại có khả năng bất tử “hóa” những hình tượng giản dị mà cao quý, thiêng liêng.
Nhưng một sự việc bất ngờ xảy ra đã thay đổi con người Thịnh. Suốt cả thời gian dài hành nghề cắt tóc và vẽ truyền thần, đây là lần đầu tiên anh tiếp xúc với khách hàng là một người phụ nữ có sức lôi cuốn đặc biệt với đàn ông và với Thịnh. Đó “là một thiếu phụ còn rất trẻ. Trẻ và đẹp hơn nhiều thiếu nữ mà Thịnh biết ở phố Mới này”. Niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi vừa sâu thẳm, vừa chan chứa trong lòng vì người chồng là một “anh lính về “tranh thủ” và kịp cưới vợ, kịp hoàn tất một trong ba việc hệ trọng nhất của đời người trong vòng hai ngày. Để rồi lại ra đi, vĩnh viễn. Tấc gang hạnh phúc ấy chưa đủ để một thiếu nữ trẻ đẹp nhường kia kịp trở thành một người đàn bà cho thật hoàn toàn”. Cả thân hình cô toát ra một sức sống vừa thanh sạch, lành mạnh, vừa cuồng nhiệt, sôi nổi như “một thứ hương hoa thơm lạ lùng, nhưng không có thật, không sao tách bạch nổi, không sao gọi đúng tên thoang thoảng thôi, nhưng quá nồng nàn. Thứ hương thơm thật hiếm mà Thịnh đâu biết nó chỉ có ở những người đàn bà quý tướng”. Ấn tượng cảm tính ấy ở Thịnh trở thành một nhận thức rõ rệt khi anh bị cuốn hút bởi tình yêu chồng vô cùng sâu sắc, mãnh liệt của cô. Không có một bức hình nào của người chồng khi đã là người lớn, kể cả lúc làm đám cưới. Chỉ có “một khuôn mặt ở gần rìa đám học trò dàn hàng ngang. Đúng ra chỉ là một cái chấm, nhỏ hơn hạt đậu xanh, nhô lên sau hàng trẻ trước” “trong tấm ảnh 5×7 chụp chung cả một lớp học “trẻ con”; nhưng qua lời kể hồn nhiên, chân thực đầy xúc động, cô đã dựng lên một cách sống động tính cách và cả đặc điểm hình thức riêng biệt của chồng mình. Đó là một chàng trai khỏe mạnh, tinh nghịch, vui tươi và yêu đời “Anh ấy có cái nốt ruồi ở ngay dưới mi mắt, người ta bảo, thế là số khổ lắm, buồn bã lắm. Nói vậy đấy, nhưng anh ấy lại rất hay cười, cười tươi lắm”. Cử chỉ, thái độ, hành động khẩn trương ngay lập tức về tìm ảnh chồng, những kỷ niệm tuổi thơ từ hồi cả hai còn đi học, đi bắt cua ở quê… đã khiến Thịnh thực sự xúc động và ngạc nhiên về chính mình. Anh thấy nó đẹp và biến hóa lạ lùng, nó khiến anh thực sự thăng hoa từ cảm xúc đến hành động. “Những mẩu chuyện thường tình ngày thơ dại lộn xộn, linh tinh, nhưng cứ óng ánh lên như những mảnh thủy tinh màu trong ống kính vạn hoa. Có một cảm giác vô cùng lạ lẫm mà anh chưa hề gặp trong đời. Cảm giác ấy không thể gọi tên, nhưng nó khiến cổ họng anh khô đắng, và máu chảy mạnh hơn trong người… Trời ơi, bỏ lại sau lưng một người đàn bà thế này có lẽ còn ghê gớm, khủng khiếp hơn là hi sinh mạng sống. Ý nghĩ ấy cứ rên lên trong đầu Thịnh”. Người thiếu phụ ấy đã đánh thức một nỗi đau đớn rất nhục thể trong con người Thịnh. Anh thật lòng tiếc xót cho người lính không bao giờ trở về nữa, bởi anh ấy đã để phí hoài đến vô cùng một sự quý giá không sao cứu vãn được. Đó là tình yêu chân thật, sâu sắc, mãnh liệt của người đàn bà hiếm có – vợ anh. Một cảm xúc nhân văn, nhân đạo dấy lên trong Thịnh khiến “Thịnh không nhớ rằng mình đã căng tờ giấy mới lên giá vẽ lúc nào. Lần đầu tiên anh vẽ bức tranh không phải kẻ ô vuông… Và cũng lần đầu tiên, anh không nhận tiền công, dứt khoát”.
Có thể thấy, bằng sự rung động thực mạnh mẽ; bằng sức tưởng tượng, liên tưởng sống động; bằng tình yêu trước cái đẹp và nỗi đau trước số phận bất hạnh của con người; lần đầu tiên Thịnh đã thành công khi vẽ bức chân dung một người lính anh chưa hề gặp bao giờ, cũng không có ảnh chụp sẵn mà hoàn toàn chỉ qua lời kể của người vợ lính thôi. Tiếng kêu ngỡ ngàng ngạc nhiên, xúc động:
“- Anh giỏi quá. Em không ngờ lại giống anh ấy đến như thế này. Giời ơi.. Đúng anh ấy đây mà…”
Và cử chỉ bất ngờ, lạ lùng hiếm có người thiếu phụ Á Đông “Đột ngột, chị ôm choàng lấy đầu Thịnh, áp sâu vào ngực mình. Một cái hôn rất nhanh, nhưng thận trọng và có vị mặn của nước mắt…” đã khẳng định bức tranh ấy thể hiện đúng cái thần, cái hồn của một người lính cụ thể, riêng biệt, có cá tính rõ ràng – là người chồng của chính cô và riêng cô. Nếu như những bức tranh trước, Thịnh chỉ là một thợ vẽ “khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho” (Nam Cao – Đời thừa) thì đến bức tranh này, lần đầu tiên, anh đạt tới yêu cầu của hội họa đích thực.
Nhưng bắt đầu từ đây, cuộc sống của Thịnh có bước ngoặt ghê gớm về mặt tinh thần. Sau một thời gian dài vẽ bằng thói quen trơn tuột, vô cảm những bức truyền thần theo đơn đặt hàng, lần đầu tiên Thịnh cảm nhận việc làm của mình vô nghĩa như “cái giá vẽ trống trơn” và cuộc đời anh đang đứng trước một “khoảng không bắt đầu sẫm tối”.
Trước hết, qua các bức tranh vẽ và những lần tiếp xúc với người thân đến nhờ truyền thần. Thịnh hiểu hơn mặt trái của chiến tranh. Cái chết của những người lính trùm lên gia đình họ tấm khăn tang vô cùng trĩu nặng và lâu dài, tưởng chừng không buông xuống được. Là chồng, người lính để lại cho cô vợ trẻ cuộc sống cô đơn, cô độc; dập tắt khát vọng tình yêu lứa đôi trong tuổi xuân tràn trề sức sống, như người thiếu phụ không tên kia. Là con, cái chết của anh hủy hoại hoàn toàn ý nghĩa cuộc sống của người cha. Từ một ông chủ hiệu phóng khoáng, vui vẻ, bộc trực mong muốn sáng tạo nghệ thuật và làm giàu bằng thứ ẩm thực dân dã “Thịt cầy tám món”, ông bỗng suy sụp hoàn toàn như biến thành con thú điên dại, đau đớn đến quằn quại. Sau khi nhận giấy báo tử của con trai, “ông chủ đã nghỉ bán hàng từ nửa tháng nay… Lão lâm bệnh, một căn bệnh không ai biết, không thầy thuốc nào chẩn nổi. Nghe nói trong cơn mê sảng, lão thường vầy vò cái đầu trọc mà nghiến răng chì chiết bà vợ cũng hai cô con gái: “Tiền nhiều mà làm gì, để cho ai? Nó có về nữa đâu mà cần. Cả nút chúng mày toàn là đồ ăn hại!…” “và một tiếng kêu rất đỗi rùng rợn, kỳ dị phát ra từ khe cửa: “U… ứ… ứ… ư…” Tiếng kêu khản đặc, bị tắt ở quãng cuối. Lặng một lát, rồi lại tiếp tục rú rít. Thịnh hẫng ruột khi nhận ra đúng tiếng lão: “Ư… ư…ứ… ứ”. Lão cứ tru lên từng hồi thảm thiết, như thế suốt đêm”. Bằng chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt và cảm hứng nhân đạo thống thiết với nghệ thuật kể và tả gián tiếp cũng như trực tiếp nỗi đau của con người trong chiến tranh, nhà văn Quốc Huấn như cứa vào tim chúng ta vết thương không bao giờ thành sẹo. Bởi nó lúc âm ỉ, lúc bùng lên nhức nhối vì xót xa, thương tiếc, đau đớn và kinh hoàng.
Tiếp đến, Thịnh dần dần nhận ra mình là kẻ có tội. Chỉ vì không hiểu rõ mục đích và bản chất của hội họa, chỉ mong kiếm được tiền nhiều và nhanh, nhất là vì cẩu thả, Thịnh đã coi sứ mệnh thiêng liêng của người họa sĩ vẽ truyền thần chân dung những người lính tử trận chỉ là việc sản xuất hàng loạt một thứ hàng hóa. Với tất cả các bức truyền thần đó, vô tình, Thịnh đã tạo ra những cái chết không toàn thây vô cùng thê thảm và đau đớn. Bởi chúng chỉ có đầu mà không có thân. Các cái đầu ấy, cái nào cũng giống cái nào. Ở mỗi cái đầu, Thịnh chú ý “đặc biệt là mắt, phải na ná giống, đó là điều tối thiểu” so với bức ảnh chụp làm mẫu. Còn “hầu hết phải đượm buồn. Một cái nhìn từ cõi khác dõi về, không thể là cái nhìn vui. Trong công đoạn sản xuất hàng loạt, đây là sự gia công cuối cùng và duy nhất, trên những ô vuông kẻ sẵn, để căn ra…” Chẳng có ai có cái thân đích thực của mình cả. Thân của họ trong bức tranh truyền thần là những bức bán thân có sẵn, hiện còn lại hàng tập dày trong nhà Thịnh. Khi có khách hàng yêu cầu, Thịnh chỉ việc lắp ráp thêm vào cái đầu, căn cứ vào ảnh chụp họ đưa ra mà Thịnh vẽ. Nam Cao từng viết về nhân vật nhà văn Hộ trong truyện ngắn Đời thừa: “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện. Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Toàn những thứ vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn đạt một vài ý thông thường quấy loãng trong thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi”. Hội họa cũng làm một bộ môn nghệ thuật, với cách vẽ tranh của Thịnh, nhà văn Quốc Huấn muốn nói với chúng ta: Trong hội họa, cẩu thả không chỉ là bất lương, đê tiện mà còn tàn nhẫn, ác độc. Bởi các bức truyền thần Thịnh vẽ là hậu quả thê thảm của việc chặt xác, phân thây các chiến sĩ tử trận ngoài chiến trường một cách thô bạo, tàn ác nhất.
Thịnh hiểu rõ tội lỗi của mình và không sao thoát được tội. Nhận thức này khiến Thịnh bị dày vò đau đớn cả về tinh thần lẫn thể xác. Sau cái đêm nghe tiếng bàng chín nẫu rụng nhiều trên mái tôn, cứ đến nửa đêm của bất cứ mùa nào. “Dẫu là nửa đêm mùa thu – Dẫu là nửa đêm mùa đông” Thịnh đều “bị giam chặt trong những giấc mơ kinh dị: anh bị một đám đông bủa vây, rượt đuổi… lẳng lặng khép dần lại vòng vây. Thịnh vật vã, quằn quại mà không sao vùng thoát. Cứ thế mãi cho đến khi Thịnh nghẹt thở, ú ớ, hét lên thất thanh. Rồi vùng dậy được, mồ hôi vã ra ướt đẫm… Thịnh bị hành hạ, đọa đày trong những cơn mơ như thế liên tiếp hàng năm sau. Cho dù anh đã làm lễ hỏa táng cho những bức bán thân lính tráng không đầu, cho dù anh đã bỏ nghề, nếu như có thể gọi là nghề, ngay khi chiến tranh chấm dứt.
Kết tội Thịnh – kẻ sát nhân – trong giấc mơ là “những bóng ma không đầu câm lặng”. Hồn oan những người lính tử trận trong các bức truyền thần Thịnh vẽ là “đám đông mặc áo lính rách tươm, lỗ chỗ vết đạn, và không ai có đầu”. Những hồn oan này không cam tâm làm ma không đầu lang thang vất vưởng nơi núi rừng, khe suối, đáy sông… Họ đâu được toàn vẹn là chính mình để trở về với gia đình, quê hương bản quán. Bởi các bức truyền thần Thịnh vẽ đều là hình giả: đầu giả vì đều hao hao giống nhau; thân giả vì đều là các bức bán thân lính tráng sản xuất sẵn cùng một kiểu. Còn cá nhân cụ thể của mỗi người thì phải mang một nét riêng lại hoàn toàn không có. Từ tính cách, nghề nghiệp, vợ con, bạn bè… đến hình thức bên ngoài phải là không ai giống ai. Cho nên trong nỗi đau chung của những bóng ma không đầu là “Họ không nói được, nhưng nỗi tức tưởi thì cứ cuộn cồn lên sau ngực áo có những vết sém thủng… Tất cả đều đúng, chỉ khác những vết thủng và không có quân hàm” lại chứa một nét riêng. Mỗi người lính đã chết đòi hỏi Thịnh phải trả lại cho họ sự hồi sinh thật sự đầy đủ trong hình hài, với tâm hồn, với nhân cách, với thân phận của chính mình; kể cả trong từng hoàn cảnh hay tình huống chết. Cái tôi cá nhân lên tiếng ngay trong hình tượng những người lính đã hy sinh trên chiến trường ngoài mặt trận. Những bóng ma không đầu – hồn oan của người lính trong giấc mơ kinh dị – là tiếng kêu cứu khẩn thiết, vừa cảnh cáo, vừa đe dọa, vừa kết tội những người đã tạo ra nó: Nghệ sĩ và xã hội.
Bất tài, hám lợi, cẩu thả, vô tâm đều không phải là “phẩm chất” cần có ở người nghệ sĩ, nhưng Thịnh chỉ có chừng ấy. Nên dù cố gắng đến đâu để thoát tội, như hỏa táng hết những bước bán thân lính tráng không đầu, thậm chí bỏ nghề vẽ truyền thần ngay khi chiến tranh kết thúc, Thịnh cũng không giải được nỗi oan của những bóng ma không đầu kia. Phải là một họa sĩ chân chính, bằng tài năng đích thực, với khao khát khao thể hiện và diễn tả được nội tâm chân thực của một người lính cụ thể, sinh động vào tác phẩm hội họa mà mình sáng tạo ra, may chăng mới phần nào giải oan được cho những linh hồn oan khuất ấy.
Tuy nhiên, chỉ là một thợ vẽ đơn giản, nhiều khiếm khuyết, nhưng đến lúc này, Thịnh đã hiểu được mình phải làm gì? Những giấc mơ kinh dị vây chặt không cho Thịnh thoát, hoàn toàn không chỉ là mơ. Đó là tòa án lương tâm của chính Thịnh. Hàng đêm, hàng tháng, hàng năm nó liên tục dày vò, tố cáo, vạch tội và lên án Thịnh, không chịu buông tha. Bởi chính Thịnh cũng không thể nào tha thứ cho tội lỗi khủng khiếp ấy của mình: kẻ giết người hàng loạt bằng cách chặt đầu, vứt thân, mỗi thứ một nơi, với vũ khí tàn bạo là cây bút vẽ.
Nhà thương điên – trại điên – không phải là nơi trú ẩn an toàn cho tội phạm kinh khủng như Thịnh trước tòa án lương tâm. Bởi thực sự Thịnh không hề điên, trái lại hoàn toàn tỉnh táo. Anh nhận thức rõ tội lỗi của mình. Suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ bắn phá miền Bắc, từ 1965 đến mùa thu cuối cùng của cuộc chiến tranh này, trong khoảng mười năm trời, anh đã vẽ biết bao bức truyền thần với số phận của những người lính chết không toàn thây: đầu và thân giả tạo và lắp ráp. Anh đã sám hối – “(sám là ăn năn tội trước, hối là chừa phạm lỗi sau) – đây cũng là con đường độc đạo để người ta quay về thanh thản tự tin sống cùng quá khứ”. (Nguyễn Việt Hà – Đàn bà uống rượu – Tạp văn 95 – Nhà xuất bản Trẻ năm 2013) – trong những cơn mơ kinh dị hàng năm liên tiếp khi chiến tranh kết thúc. Nhưng cuối cùng, Thịnh đã trung thực, dũng cảm hiểu sâu sắc rằng: không phải tội lỗi nào cũng sám hối được. Tòa án lương tâm của anh đã kết luận rằng anh chỉ có thể chuộc tội và tạ tội với những người lính đã hy sinh bằng một bản án nghiêm khắc và đích đáng nhất, đó là cái chết tự xử của chính mình.
Tự mình chủ động, quyết liệt khẩn trương thực thi bản án. “Quả thực Thịnh đã chết như một nghệ sĩ đúng đắn trong một trại điên. Người ta không hiểu sao anh lại lọt khỏi căn phòng đã khóa kín. Đám nhân viên nửa thầy thuốc nửa quản giáo của trại đến khi phát hiện ra anh thì Thịnh đã đu người lủng lẳng trên ngọn phi lao cao vút …” Nếu như tác giả Quốc Huấn coi sự trung thực dũng cảm nghiêm khắc nhận ra và kết tội mình là phẩm chất hiếm có và cần phải có của người “nghệ sĩ đúng đắn” thì Thịnh cũng rất thật thà, dung dị, xác định đúng giá trị bản thân trước khi chết: “Thịnh nói vọng xuống với đám người lố nhố đứng phía dưới rằng: các người chẳng hiểu tôi gì cả, tôi có lỗi gì đâu. Tôi là quả bàng, tôi chín quá rồi. Thôi, tôi rụng đây…”
Không như các loại trái cây ngọt thơm chín theo mùa mà người ta mong chờ thưởng thức như nhãn, vải, mít, ổi, đào… Bàng là loại cây được trồng để chủ yếu lấy bóng mát trong sân các trường học. Quả của nó xanh chát khi còn non ở trên cành, khi vàng, chín thì chẳng ai hái vì nó như một thứ trái dại, hoang dã nên thường rơi rụng lăn lóc xuống mặt đất, rồi thối rữa đi. Câu nói của Thịnh trong những phút cuối cùng có nghĩa là: anh không phải là nghệ sĩ như ông chủ quán thịt cầy tám món gọi, anh càng không phải “họa sĩ Thịnh” như danh hiệu mỉa mai do tác giả Quốc Huấn tôn vinh. Anh chỉ là thợ vẽ vườn ở nông thôn, “tốt nghiệp” một khóa đào tạo cấp tốc trong “Một, hai tuần”. Anh vẽ để kiếm cơm chứ không phải để tôn vinh hay sáng tạo cái Đẹp trong nghệ thuật. Vì anh có hiểu biết gì về Hội họa đâu. Vậy anh không có lỗi với cương vị một họa sĩ. Anh chỉ là một kẻ bình thường cần phải sống một cuộc sống bình dị; có cái ăn có cái mặt tối thiểu; cũng như đã là một loài cây thì phải ra hoa kết trái, như quả bàng kia. Nếu trái bàng ấy vô ích đối với con người thì nó sẽ tự chín tự rụng tan lẫn vào đất. Cũng như anh tự sinh tự diệt mà thôi.
Người đời thường nghĩ: con chim sắp chết, tiếng hót kêu thương; con người sắp chết lời nói sâu sắc. Lời nói cuối cùng của Thịnh không chỉ tự minh oan cho cái gọi là tội lỗi của anh mà còn ngầm cảnh báo về số phận của những người lính đã hy sinh và trách nhiệm của người nghệ sĩ đối với họ. Điều này quan hệ tới nhan đề truyện “Mùa trái rụng nhiều” và hình tượng “quả bàng… chín… rụng” trong câu nói của Thịnh. “Mùa trái rụng nhiều” là ẩn dụ chỉ năm Mậu Thân (1968) – lúc “cuộc chiến tranh vào thời kỳ quyết liệt và thảm khốc”, “Người chết… Báo tử về nhiều lắm”. Còn “trái rụng” là ẩn dụ chỉ những người lính đã hy sinh có giấy báo tử chính thức hoặc chưa chính thức. Khi sống họ là những chàng trai khỏe mạnh, nhanh nhẹn, vui tươi. Khi chết, họ bình dị, nhỏ bé như những trái bàng vàng nhói nhói, nứt nẻ những đường vân đỏ tím, rơi vô tư không để lại chút vết bầm dập trên mình”. Thực tế, ai nào để ý đến những trái bàng rụng vì chín nẫu lăn lóc trên đất. Người ta coi nó như thứ rác vương vãi, phải quét hót, vứt đi. Mặt trái của chiến tranh được thể hiện trong ý nghĩa của hình tượng ẩn dụ này. Không chỉ có vinh quang, chiến tranh còn là đau thương, mất mát vô cùng nữa. Chiến tranh kết thúc gần như nửa thế kỷ rồi nhưng hậu quả nó để lại không sao hàn gắn được: vợ mất chồng, con mất cha, bố mẹ già không nơi nương tựa… Biết bao hài cốt liệt sĩ vẫn chưa tìm thấy; biết bao gia đình nhận giấy báo tử của người thân rồi mà vẫn chưa biết thân xác họ nằm lại nơi nào… Nếu có thiêng, linh hồn họ vẫn lang thang, vất vưởng chưa được về với gia đình, quê hương. Hình tượng những người lính trong các bức tranh và trong giấc mơ kinh dị của Thịnh là những bóng ma câm lặng đòi người nghệ sĩ phải trả lời.
Sau chiến tranh (1975), say sưa với chiến thắng, văn học cũng như các bộ môn nghệ thuật khác như quên mất mặt trái của chiến tranh. Phần nhiều các tác phẩm thiên về ngợi ca thắng lợi, tôn vinh anh hùng, khắc họa phẩm chất tốt đẹp của người lính trên mặt trận: dũng cảm hi sinh; anh dũng chiến đấu; hết lòng vì lý tưởng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; vượt mọi khó khăn gian khổ trên dãy Trường Sơn… Còn những nỗi đau của chiến tranh số phận của những người thương binh khi trở về với cuộc sống bình thường ra sao? Người nghệ sĩ đã hiểu và dám phản ánh chân thật tâm trạng phức tạp của con người trong chiến tranh chưa? Nỗi sợ hãi, sự phân tâm, lòng hám danh, thói ích kỷ, sự phản bội, cả những phút yếu lòng… trong con người bình thường… Mặt trái của chiến tranh bị khuất lấp hoặc cố tình bỏ qua. Nếu nhắc đến chỉ hời hợt, công thức, cứng nhắc thậm chí giả tạo. Vì thế sự hi sinh của những người lính trong ấn tượng người đọc chẳng khác nào tiếng rơi âm thầm, thảng thốt của những quả bàng chín nẫu trên mái tôn trong đêm, không ai hay biết, chẳng ai quan tâm. Người nghệ sĩ phải làm gì trước thực trạng lảng tránh, không dám nhìn thẳng vào mặt trái chiến tranh ấy? Nếu nhà văn nào phản ánh đúng con người và cuộc sống trong mặt trái ấy có bị coi là điên rồ, là mắc bệnh thần kinh không? Bởi văn học thế giới đã từng dựng nên những nhân vật tỉnh táo, sáng suốt đến mức xuất chúng nhưng bị xã hội coi là điên loạn vì dám phản ánh đúng mặt trái của xã hội đương thời như Hăm lét của Seeckpia, Nhật ký người điên của Lỗ Tấn và Anh sinh viên trong phòng 6 của TSêkhốp. Đồng thời nếu viết còn non tay, kém bản lĩnh, thiếu tố chất nghệ thuật thì tác phẩm của họ khiến ta liên tưởng tới hình ảnh thợ vẽ Thịnh khi tự sát không? “Và anh buông tay. Lúc ấy là nửa đêm, nhưng không một ai nhớ là vào mùa nào”.
Cùng với truyện ngắn “Người lính kèn về làng”, tác phẩm “Mùa trái rụng nhiều” của Trần Quốc Huấn đã phản ánh một cách chân thực, đầy xúc động cuộc sống của con người trong chiến tranh và sau chiến tranh với những mặt trái phức tạp của nó. Cái lôi cuốn, hấp dẫn người đọc ở văn phong Quốc Huấn là ở chỗ: viết về những vấn đề nặng nề, u ám nhưng lời văn, giọng điệu lại trong sáng, giản dị và tinh tế đến bất ngờ. Từ nghiêm cẩn chính xác, chuyển sang hóm hỉnh hài hước; đang trang trọng thành kính chuyển sang châm biếm giễu cợt; từ đe dọa ám ảnh chuyển sang thấu hiểu, cảm thông… Người đọc được sống trong những cảm xúc tự nhiên, phong phú xuất hiện cùng các tình tiết, diễn biến hợp lý, thú vị của câu chuyện. Tuy nhiên, toát lên từ toàn bộ truyện ngắn “Mùa trái rụng nhiều” là một cảm hứng buồn. Ta thấy thương cho nhân vật Thịnh. Anh tưởng mình làm một việc nghĩa mà hóa ra lại là tội lỗi; tưởng có thể thoát tội để yên tâm sống mà cuối cùng phải tự sát trong một trại điên. Với kết cục ấy, Quốc Huấn như muốn nói với mọi người rằng: chiến tranh là tàn khốc. Kẻ nào không hiểu rõ bản chất của chiến tranh, dám vô tình hay hữu ý phản ánh nó một cách tùy tiện, vô trách nhiệm, sẽ phải trả giá một cách đau đớn chẳng kém gì cái chết.
Văn phong Trần Quốc Huấn mang nét độc đáo còn ở nét trẻ trung, tươi mới, hóm hỉnh và hài hước trong cái nhìn và mô tả sự việc, con người. Từ cảnh các đoàn người trong thành phố “bìu ríu” “lổm ngổm, truân chuyên nhưng không hẳn là buồn” sơ tán trong đêm về ngoại vi, đến cuộc đối thoại cười ra nước mắt giữa “Thịnh bị hỏng một mắt lại là mắt bên phải, tức mắt ngắm bắn” mà vẫn nộp đơn tình nguyện nhập ngũ với tay cán bộ tổ chức tỉnh đội. Từ tình huống bị dân địa phương chửi đến mức “không chết vì “rốc két” nhưng dứt khoát sẽ chết vì sặc bùn “của họa sĩ “chỉ điểm” “cởi trần trắng hơn cả mặc áo” Trần Thế Thiện, đến cuộc trò chuyện đầu tiên của Thịnh với ông chủ hiệu “Thịt cầy tám món”; từ tình huống người thiếu phụ nhờ vẽ ảnh chồng từ bức ảnh chụp chung một lớp học mà “người chồng” khi đó là còn là một cậu bé “trong đám trẻ con hớn hở, xộc xệch”, “chỉ là một cái chấm nhỏ hơn hạt đậu xanh” không sao nhìn ra nổi, đến cách vẽ truyền thần như công đoạn sản xuất hàng mã ăn bớt dây chuyền của Thịnh. Từ cách gọi “đám nhân viên nửa thầy thuốc nửa quản giáo” đến cách chết như diễn viên xiếc của Thịnh: đu người lủng lẳng trên ngọn cây phi lao cao vút…” ta đều cảm thấy đâu đây nhay nháy một ảnh mắt, hom hóm một nụ cười, đôi khi chính ta cười đến thắt ruột… Nhưng liền sau đó bao giờ cũng là nước mắt, khi ứa ra thành giọt lệ chua xót, khi tràn cả bờ mi như dòng nước mặn chát đắng cay. Nét độc đáo trong nghệ thuật ngôn ngữ của Quốc Huấn bộc lộ phẩm chất thông minh, sâu sắc rất hấp dẫn của tâm hồn anh; và cũng cùng với nó là những nỗi niềm u uẩn…
Cùng viết về đề tài sứ mệnh của người nghệ sĩ trong cuộc sống, trong chiến tranh và sau chiến tranh chống Mỹ ta thấy có nhà văn Nguyễn Minh Châu với truyện ngắn Bức tranh, Chiếc thuyền ngoài xa, mang tính chất luận đề: người nghệ sĩ hãy mở to đôi mắt, đầy nghiêm khắc nhìn vào nội tâm; hãy vượt lên trên rắn rết và ác quỷ để sống cao thượng và độ lượng (Bức tranh). Người nghệ sĩ phải có cái nhìn đa chiều, nhiều chiều để phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bề ngoài của hiện tượng (Chiếc thuyền ngoài xa).
Trần Quốc Huấn cũng bơi trong dòng chảy của đề tài này nhưng anh rẽ sâu vào một nhánh khác. Đó là người nghệ sĩ phải dám đối mặt với mặt trái của chiến tranh, dám nhìn thẳng, nhìn sâu vào nó để phản ánh, bởi ngôn ngữ nghệ thuật có cá tính của mình. Phản ánh trung thực mặt trái của chiến tranh không chỉ ngoài chiến trường đạn bom mà ngay cả ở hậu phương im tiếng súng, cũng đòi hỏi một sự dũng cảm của trí tuệ và sự trung hậu của tấm lòng.
“Mùa trái rụng nhiều” thực sự làm rung động trái tim người đọc. Văn phong của Trần Quốc Huấn hấp dẫn một cách lý thú chính bởi trí thông minh của tấm lòng trung thực, dũng cảm và tình cảm sâu sắc trong tâm hồn rất trẻ trung. Đây có lẽ là điểm khác biệt khiến bạn đọc trẻ thấy thú vị và thích thưởng thức văn anh hơn so với một số cây bút khác, trong đó có Nguyễn Minh Châu.
Sao người ta không chọn truyện ngắn “Mùa trái rụng nhiều” vào sách giáo khoa cho học sinh trung học phổ thông nhỉ? Lớp trẻ chắc rất khoái tác phẩm này, bởi như nhà văn Nguyễn Minh Châu đã viết: “trong độ lùi thời gian”, nó đã “ngầm chứa đựng một sự lựa chọn đầy huyền diệu và công bằng”.
19/11/2024
Thái Thị Hải
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thuốc phiện, một tình thế của nhà văn An Nam

Thuốc phiện, một tình
thế của nhà văn An Nam?

Ở tuổi đôi mươi trẻ trung, không phải quá lao đao sinh kế, lại vừa có chút tiếng tăm trên văn đàn, Vũ Bằng tự cho phép mình hút thuốc phiện, lúc đầu thử chơi nhưng nhanh chóng thành cơn nghiện và trói chặt nhà văn tương lai vào những khốn đốn khó lường.
Quãng thời gian sử dụng mình theo cách đó, như về sau ông thuật lại, gói gọn trong tư thế “hút quên chết”, từ “hút ở tiệm” chuyển sang “hút tại gia”, kéo dài từ sáng đến tối, hợp nhất hình hài thân xác với bàn đèn, dọc tẩu và làn khói. Phải gần dăm năm như thế và tưởng sẽ kết thúc cuộc đời theo cách không thể bi thảm hơn nếu Vũ Bằng không quyết định cai và cai được thuốc phiện..
1. Câu chuyện nghiện và cai nghiện thuốc phiện của Vũ Bằng, có thể có phần hư cấu, nhưng đã được ông ghi lại một cách chân thực, sinh động và đăng báo dài kì trên tờ Trung Bắc chủ nhật, rồi in thành sách dưới tiêu đề “Cai” (1942).
Trước 1945, Vũ Bằng không phải là nhà văn duy nhất dính vào thuốc phiện. Tạm tin liệt kê của ông, ta thấy danh sách những nghệ sĩ phụng thờ nàng tiên nâu khá dài, chưa kể số người ít khi thực sự công khai nghiện hút. Còn nhìn rộng ra, thuốc phiện chắc chắn là một vấn đề hóc hiểm đối với các xã hội thuộc địa kiểu như Việt Nam thời đó.
Trong chuyên khảo công phu “Thuốc phiện và chính quyền thuộc địa ở châu Á”, từ độc quyền đến cấm đoán 1897-1940 (2001), nhà nghiên cứu Philippe Le Failler đã dẫn dụ và phân tích hàng loạt các sự kiện xã hội, chính trị và kinh tế liên quan đến thuốc phiện tại các quốc gia vùng Viễn Đông, nhất là khu vực Đông Dương. Do thuốc phiện đem lại một nguồn thu lớn, chính quyền thực dân đã giành thị trường, dần độc quyền buôn bán và gieo rắc mặt hàng này đến mọi người dân. Từ chỗ cấm đoán và trừng phạt việc sử dụng nha phiến như đã từng có thời đầu Nguyễn, càng về sau, cùng với mức độ bành trướng của người Pháp, các công ty thuốc phiện, các tiệm hút mọc lên như nấm, khiến người dân bản xứ rất khó tránh khỏi thói hư mới là hút thuốc phiện, bên cạnh thói quen muôn đời là uống rượu.
Philippe Le Failler đã trích lại những con số gây rùng mình: năm 1908 có hơn 215.868 người Việt hút thuốc phiện, trải khắp ba kỳ; các tiệm hút tuy giảm đều từ năm 1918 (1.513 tiệm) đến 1929 (1.224 tiệm) nhưng các biện pháp cấm vẫn ít khi được áp dụng trong khi giá những hộp thuốc phiện theo từng loại thì không ngừng tăng; số người vào viện và chết vì thuốc phiện có lúc lên tới hàng trăm (như các năm 1930, 1937, 1938, 1941…) không chỉ nam giới mà còn có cả phụ nữ. Các đô thị Sài Gòn, Chợ Lớn, Hà Nội là nơi tập trung nhiều tiệm hút và dân nghiện nhưng cảnh tượng dân quê nằm cạnh mâm đèn cũng không còn quá xa lạ.
Hình ảnh những bảng hiệu R.O (Régie de lOpium: Ty thuốc phiện) xuất hiện khắp thành phố và làng mạc, dưới màu trắng của lá cờ nước Pháp, đã khiến không ít ký giả Pháp, chẳng hạn Louis Rouband (1884-1941), tác giả của “Việt Nam, tấn bi kịch Đông Dương” (1931) nổi tiếng, lo ngại và chế giễu về một thực tế rằng những bồi bếp và cu li đã phải nhai những viên xái vét trong điếu của các ông chủ. Dĩ nhiên, nhà báo này cũng biết rõ lợi nhuận khổng lồ từ thuốc phiện đem lại cho mẫu quốc (một ty thuốc phiện Pháp có thu nhập chiếm tới một phần tư tổng ngân sách Đông Dương) vì thế, dù có rất nhiều phản đối mang tính đạo đức, “tự do thuốc độc” vẫn cứ hiển hiện như một quyền tự do duy nhất mà các nhà khai hóa mang đến cho người dân bản xứ!
2. Tính chất nước đôi vừa chống vừa lợi dụng thuốc phiện của chính quyền thực dân có vẻ đã đánh trúng tâm lí của giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ, những người, vì nhiều lí do, có thiện cảm nhất định với thuốc phiện. Bắt nguồn từ một truyền thống xa xưa, hút thuốc phiện có thể được dung túng và chỉ quy vào “thói xấu” khi quá lạm dụng nó. Đáng kể hơn, xu hướng ca ngợi thuốc phiện như một thần dược tạo sinh cảm hứng, năng lực sáng tạo đã được chính các văn sĩ khởi đầu. “Thuốc phiện làm lớn lên những gì không giới hạn/Kéo dài cái vô tận/Đào vào khoái lạc, làm sâu thêm thời gian” là cảm nhận của thi sĩ tài danh Charles Baudelaire mà đương thời, chắc chắn có nhiều thi sĩ An Nam đọc được.
Những danh xưng mỹ miều (phù dung, ả phiền) để gọi thuốc phiện đã dẫn dắt không ít giấc mơ đuổi theo biểu tượng của sự giải thoát, phiêu lưu, lạc thú. Chính Vũ Bằng, khi bắt đầu “gá nghĩa với Phù Dung”, cũng bám lấy niềm tin rằng “không hút thuốc phiện không thể nảy ra văn được”. Còn Nguyễn Tuân, trong hai tùy bút “Ngọn đèn dầu lạc” (1939), “Tàn đèn dầu lạc” (1941), thì dù chủ ý hay không, vẫn rất mực khoái cảm sao lục “công đức Ả Phiền” mang đến cho đám nghiện trong “làng báo, làng thơ, làng tiểu thuyết”. Cái cách Nguyễn Tuân “tình ái hóa” chứng nghiện thuốc phiện mang dáng dấp một bản tụng ca, một sự tự bào chữa đầy ước lệ: “[…] bao nhiêu là kỷ niệm. Ngày vui, tôi gọi đến nàng. Đêm buồn tôi cũng gọi đến nàng. Xa nàng, tôi thấy nhớ. Rồi đau, rồi ốm. Thiếu nàng, đôi phen tôi đã thấy cuộc đời là vắng vẻ” (Ngọn đèn dầu lạc).
Nguyễn Tuân có lí do để đẩy câu chuyện thuốc phiện trở thành một tuyệt bút văn chương: ông quan sát và bắt mạch được những vẻ đẹp kì quái, lạ lẫm dưới ánh đèn dầu, thứ ánh sáng leo lét nhưng đôi khi gieo được một âm điệu, gọt được một vần thơ hay! Thực ra, kiểu quan sát này ẩn chứa khát vọng trải nghiệm cạn kiệt các loại cảm giác và từ đó, phơi mở dạng hình con người cá nhân đầy đủ, đa diện nhất.
Cũng như Nguyễn Tuân, Vũ Bằng đã chạm ngưỡng lãng mạn khi mô tả con đường đi tới kẻ nghiện hút, khởi từ chán nản sầu não đến si mê, khoái lạc. Trước khi nhận ra đó là một nhầm lẫn và tai họa lớn, Vũ Bằng còn gắn thêm những chi tiết mang sắc thái trữ tình, li kì đủ để lẩy ra một tình sử sâu sắc nhưng ngắn ngủi, thê lương: bàn đèn, dọc tẩu và giai nhân. Liên Hường, cô gái Huế được nhắc đến khá nhiều trong tác phẩm “Cai”, là bạn hút và tri âm của tác giả, sẽ đóng vai kẻ thất bại, buông tay trong cuộc chiến với thuốc phiện. Người chiến thắng – tác giả, đương nhiên không phải là một anh hùng đội trời đạp đất nhưng ít ra, đã dốc sức và ý chí đến cùng.
Khi nghiện hút, Vũ Bằng thường dụng đến tri kiến văn chương để xưng tụng sức mạnh mây khói, còn khi quyết cai nghiện, ông cũng bắt đầu với một thúc ước nội tâm: “Rousseau ăn cắp; Verlaine giết người; Tom Kromer lừa gái vẫn được ghi tên trong văn học sử. Nếu ta viết được một tác phẩm giá trị, sao người đời lại không có thể quên ta là một anh nghiện oắt xà lai?. Thôi. Quyết định! Bắt đầu từ tối nay, không hút nữa”. Rõ ràng, một tài năng lớn không hẳn là một kẻ có nhân cách hoàn hảo và nhận thức đó đã giúp tác giả nhìn ra giá trị bản thân mình.
Ông quyết tâm cai vì vẫn chưa mất hẳn giấc mộng văn chương và quan trọng hơn, vẫn chưa mất niềm tin vào sự cứu rỗi, cứu vớt luôn có trong đời. Cai được, vì thế, là sự chung sức của nỗ lực cá nhân và lòng bao dung, tình thương của tha nhân. Cái kết đẹp mang sắc thái nhân văn không chỉ nằm ở sự chuyển hóa từ sai lầm, tăm tối sang đúng đắn, sáng lạn mà sâu xa còn ở sự xác nhận tội lỗi là một trạng huống dễ xảy ra với bất kì ai.
Nhưng Vũ Bằng còn chứng tỏ trang viết của mình không thuần túy là một bản tự thú nhờ giọng điệu thành thực. Điều có thể làm độc giả ngày nay khó buông bỏ cuốn sách là những đoạn Vũ Bằng khéo léo phản biện cái gọi là văn minh phương Tây đang ngấm sâu vào xã hội lúc đó. Ông trở nên e dè, hoài nghi “cái văn minh […] chỉ có một mục đích làm cho người ta sung sướng về thể xác mà không chú ý đến việc mở rộng cái trí và làm thỏa cái tâm, thì cái văn minh đó bất quá rồi cũng chỉ có những kết quả khốc liệt như thuốc phiện, nghĩa là làm cho giống người suy nhược rồi tiêu diệt”. Ông tỏ ý hạ thấp thứ giáo dục và luân lý “nặng về mặt cá nhân tư kỷ” khiến nhiều thanh niên đánh mất đức hy sinh, hiếu nghĩa. Đặt trong diễn biến “bệnh thời đại” của lớp người trẻ không lý tưởng và niềm tin, Vũ Bằng muốn giải thoát, thay đổi những gì hào nhoáng nhưng trống rỗng núp dưới thú ăn chơi, trụy lạc.
Trong hồi ký “Bốn mươi năm náo láo”, ta biết thêm về lý do Vũ Bằng cai nghiện: ông không muốn nằm dài hút xách, bê tha trong khi nghề báo đòi hỏi ông phải phải “tranh đấu thực”, phải viết được điều gì khả dĩ vẽ lên được tinh thần hiên ngang của giống nòi, dân tộc. Dứt nghiện, Vũ Bằng vào Nam học hỏi và sau ba năm, trở ra Bắc, “thấy mình hăng một cách khác thường”. Khúc rẽ này đương nhiên bồi thêm nhiều bất ngờ trong hành trạng văn chương, báo chí vốn đã đậm kịch tính của Vũ Bằng.
3. Như vậy, thuốc phiện, ít nhất, đã góp phần tạo nên một điểm nhấn tiểu sử và tác phẩm văn chương của không chỉ Vũ Bằng. Tuy nhiên, đọc “Cai”, thay vì ngưỡng mộ thái quá ý chí con người, cần tỉnh táo cảm thông trước mỗi lựa chọn của người đời. Chính vào khoảnh khắc có phần trớ trêu của cuộc đời, mỗi nhà văn đều có một lựa chọn để chứng thực được nhân cách lẫn văn cách của mình. Dĩ nhiên cũng không thiếu trường hợp vùi thân danh trong thứ văn nghiệp xoàng xĩnh chỉ vì chấp nhận thỏa hiệp, kể cả sự an nhàn vốn dĩ dễ ngã lòng.
20/11/2024
Mai Anh Tuấn
Nguồn: ANTG
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Ban mai thơm mắt nắng" của Vũ Trần Anh Thư: Với chín chắn

"Ban mai thơm mắt nắng"
của Vũ Trần Anh Thư: Với chín chắn

Nguyễn Chí Hoan là nhà thơ, nhà lý luận phê bình, dịch giả hiện là Chủ tịch Hội đồng Văn học dịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa X. Quan tâm đến thơ 1-2-3, Nguyễn Chí Hoan đã có những bài nghiên cứu khoa học sâu sắc theo một phong cách riêng. Nhân dịp Tọa đàm “Thơ 1-2-3 trong không gian văn học đương đại” do Hội Nhà văn Cần Thơ phối hợp Khoa Khoa học xã hội và Nhân văn Trường Đại học Cần Thơ tổ chức, xin trân trọng giới thiệu bài viết của ông về tập thơ 1-2-3 “Ban mai thơm mắt nắng” của nhà thơ Vũ Trần Anh Thư ở Hà Nội.
Mở đầu tập thơ bằng chuỗi hình ảnh “xanh” – đều là truyền đạt những ấn tượng tươi mát đa dạng, trải khắp, cùng sức sống phì nhiêu; kết lại, ngay trước một hứa hẹn về trái tim “niềm yêu” luôn luôn, hay phải nói hằng xuyên, tỉnh thức và canh thức, là hình ảnh choán chân trời của một bãi biển lúc bình minh chưa thấy bóng người, với nổi bật “Lớp lớp vân cát tinh khôi” – cái nhìn ấy, với điểm nhấn rõ rệt vào hai chữ “tinh khôi”, hé lộ nguồn cảm hứng chủ yếu cho 123 bài thơ tựa hồ những khoảnh khắc trải ra của tâm hồn tác giả; như thế, cho thấy thơ 1-2-3 này của Vũ Trần Anh Thư da diết hướng tới miền của những khoảnh khắc ngây thơ vẫn hàm ẩn xuyên qua tuổi trưởng thành, mà có lẽ ai cũng đều từng nếm trải, đều muốn tái ngộ, khi này khi khác. Chẳng phải sự ngây thơ đã và vẫn luôn là một chân trời hay sao.
Trải nghiệm đặc thù đó có ở khắp nơi trong thơ này; mà có lẽ giống như cách nó sẽ có ở khắp nơi mà cái nhìn da diết này đặt đến. Chẳng hạn, chọn xem ngẫu nhiên một bài trong phần 5 của tập thơ:
Im lặng tháng Tư
Này những chồi non trên phiến đá
Nói gì mà run rẩy rêu phong
Nàng nghe mùa thì thầm dưới tàng cây cổ thụ
Vạt nắng chiều ôm gương mặt dịu dàng bừng lên vô thức
Ươm nõn nà một tháng Tư trong
Tháng Tư, là nơi mùa xuân đã đang chuyển giao vào hạ, và cái cảm thức – cái nhìn về giao chuyển này, theo một cách điệu đàng ý tứ rất đàn bà, trông thấy những “run rẩy” buồn buồn biểu lộ trên ánh của “những chồi non”. Nhưng những “thì thầm” vẫn chuyển tới cái “dịu dàng” đặc định của một bản năng – “vô thức” – và dường như nó xóa cái nỗi buồn buồn kia bằng cảm giác “nõn nà”.
Hẳn nên thấy nhà thơ đã lựa chọn một tương phản rõ chủ ý để mở đầu: “chồi non” với “rêu phong”. Tương phản tạo hình này khá đơn thuần, do nó không được đặt vào một đường phát triển tự thân nào; có vẻ chúng chỉ đối nhau vậy thôi. Tuy nhiên, khi đi tiếp vào ba câu thơ của khổ “.3”, nếu nhận rằng “Nói gì” sẽ có đối ứng với “mùa thì thầm”, cũng như “rêu phong” tìm được đối ứng kết nối ở “cổ thụ”, sẽ thấy rằng hình ảnh của “chồi non” có đối ứng của nó ở hai chữ “vô thức”; bởi “nõn nà” ở văn cảnh đây chỉ là một sự lặp-biến thể của “chồi non”, về mặt diễn tả hay biểu hiện; còn “gương mặt dịu dàng” thì hoàn toàn gợi một sự xác định về phía chủ thể trữ tình – cái người quan sát và cảm nhận ấy. Vậy nên cái bất ngờ, có lẽ không hề nhỏ, mà nhà thơ này dành cho người đọc, là ý so sánh-ví von gợi rõ rệt “những chồi non” ấy là của cái-dịu-dàng thuộc bản năng của “nàng” – nhân vật trữ tình mà nảy nở; từ đó sang cái ngây thơ quý giá kia chỉ cần một bước.
Đấy có thể gọi là cái ẩn ý, một trong các khía cạnh của cái ẩn ý lấp lánh, đằng sau những mô tả những vẻ “xanh” và “non” khá đa dạng xuyên suốt tất cả những bài thơ này; mà “xanh”-“non”-“tinh khôi” dệt nên riêng một xứ sở vừa rất trừu tượng vừa rất cụ thể của riêng “nàng”, với đầy những địa danh cụ thể hẳn hoi “Trên dải đất chữ S thân thương”; mà tác giả hay “nàng”, với đầy “hồn nhiên” chín chắn mạnh bạo gọi xứ ấy như một “vương quốc” của “thanh tân” – trong bài “Cho nỗi buồn anh vỗ cánh thiên di”:
Em đậu xuống khu vườn anh
Hồn nhiên nhành xuân không vết tuổi
Ngụ cư anh vương quốc thanh tân
Hai chữ “thanh tân” này cũng còn được gặp lại trong một số bài khác trong tập, ở vào các văn cảnh khác nhau. Đó là một diện mạo nữa của cái ngây thơ mà, dĩ nhiên, đã vào độ chín, vẫn đầy những “non tơ”, song hành và hiện ra cùng với “nàng” khắp những nơi nào “nàng” đặt chân, những mùa và tiết “nàng” trải nghiệm ( – “Thắp mùa đông bằng run rẩy xuân thì” – ), chẳng hạn, ở “Đường cong thơ mộng trên sông Reuss”; và vân vân.
Lối tuyên xưng “dịu dàng” về một “vương quốc thanh tân”, cũng được gọi tên là “miền trinh khiết”, hay tương tự, như thế, cho ta thấy được một phương diện khác, khá hiếm gặp hay ít dễ dàng nhìn nhận của tâm thế gọi được là ngây thơ ở đây: phương diện của một lòng tin phó thác hoàn toàn, tức là ánh lên vẻ đẹp có tính tôn giáo:
Tinh khôi dịu dàng đắm đuối
Tháng Tư tận cùng dâng hiến
Sao còn dụm dành những tháng tàn hoa
Và:
Những cánh sen quên mình đang thắm
Tự nguyện buông tận nhụy vàng
Lặng lẽ dâng đời phút cuối nồng nàn hương sắc
Dường như hầu hết hay phần lớn đều nghĩ rằng tình yêu thì nói chung đều đi với “dâng hiến” một cách “Tự nguyện” – chuyện tự nhiên ấy mà (!); đồng thời lại cũng chẳng ít nghĩ – hay chọn cách lý giải và hiểu – rằng tình yêu sẽ nặng tư cách một món quà-hôn nhân, một quà tặng có đi có lại, cân bằng linh động, dựa căn bản trên lý lẽ của sinh tồn kiếp người; hay là cả hai cách nghĩ đó song tồn như hai mặt của một tờ giấy. Vậy nhưng vẫn có và luôn luôn còn cách nghĩ về tình yêu như một lối tạo nghĩa cho đời sống; và trên hướng này, sự ngây thơ hay tâm thế ngây thơ mới trở nên chân trời hay lựa chọn, bởi tính thuần khiết đó sẽ, và chỉ có nó sẽ, tạo nghĩa trọn vẹn cho tình yêu. Phương diện này của nó tiếp cận với tình tự tôn giáo. Lòng tin tuyệt đối thì trông không khác sự ngây thơ, bởi nó phó thác hoàn toàn, đi theo với tin tưởng hoàn toàn, không lay chuyển.
Trong hai đoạn ( – đều là khổ thứ “.3” ở dạng thức thơ 1-2-3, mà theo quy ước là khổ thơ dành cho bước sang suy tư-nội hướng – ) thơ trích trên đây, ta thấy “dâng hiến” đi liền với “tận cùng”, “Tự nguyện” đi liền với “buông”, và trong một tổ hợp cùng với những “quên mình”, “đắm đuối”, “dâng đời”, đều là những hình ảnh ngôn từ đượm một tâm tình tín ngưỡng. Và, chẳng nên quên, tâm tình này, ở đây, thông qua các hình ảnh loài hoa, lại cũng đượm một sức sống, trật tự của sự sống hoàn toàn tự nhiên: trong khi nâng ý niệm tình yêu lên mức cận-tôn giáo như thế, chẳng hề xa rời cái nền đất mẹ của nó – cái dịu dàng, hay cái bản năng.
Bởi thế mới có thể nói tới một cái ngây thơ-chín chắn, đủ chín như từng hứa hẹn về “Một ban mai xanh suốt đời nhau” ( – tên một bài trong tập thơ này, đồng thời cũng là câu/đoạn thứ nhất của bài thơ đó – cái quy ước thật thú vị ở thơ 1-2-3 mà nhiều người làm thơ gần đây hứng thú khai thác một cách đa dạng – ). Và ở đây, lời hứa hẹn đó xuyên suốt tập thơ, trong những kỷ niệm “xanh” đằm thắm về đất cội rễ của “nàng” vùng quê ổi Bo nức tiếng mà “Tiếng mưa dội về tiềm thức xa xôi”, trong những tháng ngày đại dịch căng thẳng chưa từng có nhưng ôm chặt cảm nhận “xanh” bởi “Có thể nào cách ly cảm xúc”, và hiển nhiên trong “Lỡ một ngày vì yêu ngộp thở” nơi cảm thức “xanh” đó sóng bước với “suốt đời nhau” do bởi “Bước em đi hoa lá khởi mùa” và với mỗi chiều tà lại “Đợi hoàng hôn thắp lửa” và, bởi, hình ảnh của điều “dịu dàng” cốt lõi: “Thiếu phụ hong mùa đáy mắt nắng lên”.
Với cảm thức rộng trải và không đứt đoạn như thế về tình yêu, thơ tình này của Vũ Trần Anh Thư nhìn thấy hay cảm thấy cái trật tự đầy nhựa sống ấy của cảm nhận yêu ở khắp các mùa các tiết quanh năm, ở hầu như khắp những nơi mà cái nhìn thơ này có dịp viếng thăm hay lưu luyến ghi nhận. Hẳn phải có một sức chín chắn đặc biệt của sự ngây thơ mới đủ niềm tin nhìn lên trời đêm như thể “Để lặn vào trùng điệp mắt yêu” và đủ cái sức bật “tinh khôi” không ngần ngại của tinh thần yêu thương:
Dự định ủ trong tim bỗng dưng chợt thốt
Trái yêu thương chín đỏ đầu cành
Người đừng bận lòng chiếc giỏ đã kịp đan?
Với chín chắn đàn bà, ngây thơ là một nguồn sức mạnh.
22/8/2024
Nguyễn Chí Hoan
Nguồn: Bài đăng Văn Nghệ TPHCM 11.2024
Theo https://vanhocsaigon.com/

Sức hàm súc của phúng dụ "Hãy nhìn vào mắt bão và tin lời đắng cay"

Sức hàm súc của phúng dụ "Hãy nhìn
vào mắt bão và tin lời đắng cay"

Xuất thân nhà giáo sinh trưởng ở Hưng Yên, nhà thơ Tạ Hùng Việt hiện sống và làm việc tại Nha Trang, Khánh Hòa. Mấy mươi năm không ngừng sáng tác, ông đã xuất bản 10 tập thơ, mới nhất là “Hãy nhìn vào mắt bão và tin lời đắng cay” viết theo thể thơ 1-2-3 do NXB Hội Nhà văn vừa ấn hành năm 2024, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó có nhà lý luận phê bình Chế Diễm Trâm, một cây bút nữ giàu nội lực cùng ở Nha Trang. Nhân dịp Tọa đàm “Thơ 1-2-3 trong không gian văn học đương đại” do Hội Nhà văn Cần Thơ và Khoa Khoa học xã hội và Nhân văn Trường Đại học Cần Thơ tổ chức, xin giới thiệu bài viết của Chế Diễm Trâm về tập thơ Tạ Hùng Việt.
Tập thơ thứ mười của nhà thơ Tạ Hùng Việt – tập thơ Hãy nhìn vào mắt bão và tin lời đắng cay, NXB Hội Nhà văn, 2024 – đem đến một cách nhìn về cuộc sống và con người theo chiều hướng triết mỹ. Tập thơ mang tính triết lý sâu sắc. Đó là “tạng thơ” Tạ Hùng Việt từ trước đến nay nhưng đến tập này có phần đậm sâu hơn hẳn.
Bài thơ số 87 Hãy nhìn vào mắt bão và tin lời đắng cay được chọn mặt gửi vàng, làm tên cho cả tập thơ gồm 100 bài, hình thức là một khuyến nghị (hãy) nhưng đọc lên lại dễ liên tưởng đến một cảnh báo: cuộc đời nhiều tai ương (mắt bão), “đắng cay”, cần phải “nhìn” (quan sát) để “tin” [tưởng] ở phía trước, xa, đẹp.
Suốt cả tập thơ là thao tác liên tưởng ẩn dụ. Khi ẩn dụ liên tiếp thì chính là phúng dụ, dùng ẩn ngữ liên hoàn để tạo nghĩa ẩn, để tác giả cất lời đối thoại ngầm. “Phúng dụ – một hình thức chuyển nghĩa trong văn học, còn gọi là nói bóng hoặc ám chỉ. Các hình tượng hoặc hình ảnh kết hợp với nhau trong cấu trúc hoàn chỉnh để tạo sự liên tưởng tới ý nghĩa khái quát, trừu tượng trên cơ sở của ý nghĩa cụ thể. Phúng dụ không thể được cấu tạo từ một hình ảnh riêng biệt như ẩn dụ mà thường từ nhiều hình ảnh kết hợp nhau.”[1]
Trong Hãy nhìn vào mắt bão và tin lời đắng cay, Tạ Hùng Việt xây dựng hình tượng con người hiện đại, mà hơn một lần tác giả gọi đích danh là “loài dáng thẳng”:
Lạ lùng loài dáng thẳng khư khư cơn mê lấp biển vá trời
(Khi chiêm bao chỉ là dải sương mong manh cuối sóng)
Dấu tích triệu năm trôi qua loài dáng thẳng
(Dấu tích triệu năm trôi qua loài dáng thẳng)
Trái đất nghiêng vì lầm lỗi của loài dáng thẳng
(Mải miết lên chùa – tôi xưng tội cầu may)
Phải chăng tác giả ngầm so sánh con người hiện đại – “con người kiêu hãnh cô đơn” – với các loài động vật cấp thấp. Đặt con người hiện đại trong các mối quan hệ với tự nhiên, với đồng loại, để cất tiếng cảnh báo về nhân cách, nhân phẩm. Bởi thế, Hãy nhìn vào mắt bão và tin lời đắng cay có vô vàn dấu vết của “văn học sinh thái” (rừng, biển, nắng, mưa, gió, sương, mây, giông, mắt bão, động đất, sóng thần, mùa xuân, mùa lá rụng/chết, mùa đông giá,…) nhưng sâu xa là thơ của triết lý về con người hiện đại, xã hội hiện đại. Thơ muốn có giá trị phải vươn tới và đạt tới ẩn ngôn, ẩn ý.
Trong suốt tập thơ, “loài dáng thẳng” chiếm hữu tự nhiên một cách vô tâm (trang 15), dối trá (trang 16), tiêu diệt mọi loài (trang 38), đỉnh cao của “diễn” (trang 39), cao ngạo (trang 40), huyễn hoặc (trang 41), ngạo mạn (trang 41), tranh đua, xô chen (trang 42), tàn phá thiên nhiên (trang 43), xảo ngôn (trang 48), đa đoan (trang 49), tham lam, tàn nhẫn (trang 51), giăng đầy “cạm bẫy người” (trang 52, 61), nhân cách lởm khởm (trang 64), v.v…Vì thế, là “loài dáng thẳng” nhưng lại nghiêng lệch, xô lệch, tăm tối, tội lỗi,… Điều đó, chứng tỏ nhà thơ luôn chú ý quan sát, nghiền ngẫm về con người, xã hội, đưa thơ vươn tới tầm suy tư, triết lý.
Để khái quát bản chất cuộc sống, nhà thơ Tạ Hùng Việt tỏ ra am tường quy luật của những mặt đối lập và sử dụng chắc tay, đắc địa. Thiện – ác, sinh – diệt, đục – trong, hưng – vong, cao – thấp, dại – khôn, thật – giả, vui – buồn, thấp – cao, ngọt – nhạt, ấm – lạnh, sáng – tối, còn – mất,… dở trang thơ nào cũng thấy, thậm chí trong một bài thơ cũng đầy ắp:
Rơi bóng xuống dòng sông mê mải đục – trong con nước
 […] Những cung bậc thảo nguyên, vô thức sự sinh tồn tàn khốc
Thế gian những tầng cao thấp, phũ phàng sự chiếm hữu vô tâm
Tất cả mọi niềm vui đều cũ, chỉ nỗi buồn là mới nguyên.
(Lấp lánh vầng trăng trôi dạt dưới chân cầu)
Sau chông chênh là thênh thang một con đường xuống núi
Lại cao thấp bước đi, ngọt lạt buồn vui, xanh đỏ lòng người
 Lạ lùng loài dáng thẳng khư khư cơn mơ lấp bể vá trời.
(Khi chiêm bao chỉ là dải sương mong manh cuối sóng)
Sử dụng phạm trù đối lập là một chi tiết nghệ thuật của thơ Tạ Hùng Việt, để khái quát hoá bản chất cuộc sống. Đó là một hành trình từ khởi thuỷ đến hiện tại. Hành trình ấy đầy “lỗi”. Nhưng chỉ ra được những lỗi ấy là hồi chuông đánh thức con người thoát ra khỏi tham vọng, tội lỗi.
Không dừng lại ở đó, thơ Tạ Hùng Việt còn đi tiếp hành trình “chữa lỗi”, ôm chứa khát vọng đi tiếp một chặng nữa: hướng đến lời khải huyền. Mẹ, vườn mẹ và tình mẹ ấm nồng, dịu dàng, thiêng liêng là phúc phận đời con, cứu cánh để con vượt thoát. Mẹ xoa dịu mọi buồn đau, là điểm tựa cho con đừng gục đổ. Mở đầu tập thơ là bài Chỉ còn lại góc vườn một dáng mẹ thôi, kết lại cũng là mẹ:
Nâng niu những đồng tiền cũ từ niềm vui rau đắng chợ nghèo
Lại thương mảnh vườn gầy của mẹ âm thầm năm tháng gieo neo
Khuyết hao một đời đất khát vẫn tin yêu hoa trái nghịch mùa.
(Những dòng trôi qua phúc phận con người)
Cộng hưởng với mẹ, tiếng chuông chùa, lời nguyện cầu cũng là cách nhà thơ thiện lành cứu rỗi những tổn thương do tình yêu và cuộc đời giáng xuống, nện xuống: Người nơi miền mây trắng, tôi cuối bờ sông xaGiá như người đừng hẹn tôi về với biểnTình cờ mùa xuân gặp người cũ qua nơi hẹn cũNgày em lấy chồng – tôi ngược gió đầu đôngTheo dấu chân người qua Thung Lũng Tình Yêu; v.v…
100 bài thơ được chọn từ hơn 500 bài thuần theo thể thơ 1-2-3 – một thể thơ xuất hiện trên tao đàn từ mùa thu 2018. Mỗi bài thơ gồm 3 đoạn; đoạn một 1 câu (cũng là thi đề) tối đa 11 chữ; đoạn hai gồm 2 câu, mỗi câu tối đa 12 chữ; đoạn ba gồm 3 câu, mỗi câu tối đa 13 chữ. Câu đầu tiên và câu cuối cùng hô ứng với nhau để tạo tính thống nhất, cấu trúc chặt chẽ, ý tưởng nhất quán.
Đây là một trong những nỗ lực cách tân hình thức thơ Việt cuối thập niên thứ hai của thế kỷ XXI. Nó mau chóng được nhiều nhà thơ [trẻ] hoặc những nhà thơ mong muốn làm mới thơ Việt nhiệt liệt hưởng ứng. Bởi, trước hết, đây là cuộc chơi thơ đầy trí tuệ. Mỗi bài thơ tối đa 74 chữ, như thế là có quy cách nhưng không quá ràng buộc cứng nhắc nhưng cũng không thể “tràng giang đại hải”. Mỗi chữ, mỗi từ dùng đều phải được cân nhắc kỹ càng, tuy không đến độ “phải phí tốn ngàn cân quặng chữ / mới thu về một chữ mà thôi” (thơ Maiacôpxki) nhưng cũng phải “thôi xao” chữ nghĩa để chọn lựa, đặt để sao cho vừa vặn, tinh tế.
So với một bài lục bát Việt Nam tối thiểu hai câu (14 âm tiết), một bài haikư Nhật Bản ba dòng (17 âm tiết), một bài tứ tuyệt Trung Quốc bốn câu (28 âm tiết), thơ 1-2-3 có bầu trời rộng rãi hơn cho người cầm bút bay lượn nhưng cũng khá nghiêm cẩn để phải chọn đà bay, cách bay cho phù hợp. Thơ vốn hàm súc, thơ 1-2-3 càng đòi hỏi cao sự hàm súc, cô đọng, ý tại ngôn ngoại, “hoạ vân hiển nguyệt”. Thơ như thế chắc chắn sẽ mang đến cho bạn đọc ít nhiều nhã thú nghĩ ngợi, suy tư.
Thơ 1-2-3 Tạ Hùng Việt có đầy đủ phẩm tính ấy, đọc xong còn lưu lại dư vị, vị đắng cay của đời, vị ngọt bùi của tình, tình yêu thương cuộc sống và con người. Thủ pháp phúng dụ không chỉ mang đến tính hàm súc cần có, phải có của thơ mà còn góp phần biểu hiện tư tưởng-tình cảm mang giá trị phổ quát. Muốn hiểu hết, hiểu đúng thì phải đọc cả tập thơ, từ đầu đến cuối. Thơ hay, đẹp có sức ôm, chứa là vậy!.
Chú thích:
[1] Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2007), Từ điển Thuật ngữ văn học, tr. 263.
23/11/2024
Chế Diễm Trâm
Nguồn: Tạp chí Nha Trang 11.2024
Theo https://vanhocsaigon.com/

Truyền lửa sáng tác văn học

Truyền lửa sáng tác văn học

Tọa đàm “Thơ 1-2-3 trong không gian văn học hiện đại” do Hội Nhà văn TP Cần Thơ phối hợp Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn (Trường Ðại học Cần Thơ) tổ chức mới đây không chỉ là hoạt động sinh hoạt văn chương bổ ích, mà còn nhóm lên ngọn lửa sáng tác văn học cho sinh viên.
Thơ 1-2-3 là thể loại thơ mới do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng. Niêm luật là mỗi bài thơ gồm 3 đoạn. Đoạn đầu chỉ gồm 1 câu, đồng thời là tựa bài thơ, tối đa 11 chữ. Đoạn 2 có 2 câu, mỗi câu tối đa 12 chữ. Đoạn cuối có 3 câu, mỗi câu tối đa 13 chữ. Thể thơ này có đề tài rất phong phú, ít câu nệ gieo vần, thiên về cảm xúc tác giả.
Câu chuyện về thể thơ này đã làm rôm rả buổi tọa đàm, dĩ nhiên không thể thiếu nhân vật chính là nhà thơ Phan Hoàng, bên cạnh các nhà thơ tên tuổi từ nhiều tỉnh, thành trong cả nước và đông đảo sinh viên Trường Đại học Cần Thơ. Từ đó, mở ra không gian học thuật về thơ 1-2-3. Theo TS Nguyễn Minh Ca (giảng viên Trường Đại học Tây Đô), sau hơn 6 năm xuất hiện, đã có gần 1.000 cây bút tham gia sáng tác thơ 1-2-3, có 12 tập thơ riêng về thể thơ này, cùng rất nhiều thơ in chung.
Nhưng có lẽ, bên cạnh về câu chuyện thơ 1-2-3, sự hào hứng của cả diễn giả, khách mời và sinh viên đã làm nên hình ảnh đẹp tại tọa đàm. Nhà văn Đỗ Nguyên Thương, Chi hội trưởng Chi hội Lý luận phê bình Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Thọ, chia sẻ: “Tôi đã từng được tham dự khá nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm về văn thơ, nhưng cuộc tọa đàm ở Cần Thơ lần này thực sự để lại ấn tượng sâu sắc. Từ người tham luận đến người dự khán, ai ai cũng nghiêm túc, nhiệt tình lắng nghe và thưởng thức”.
Nhà văn Đỗ Nguyên Thương cũng chia sẻ rằng, bà ấn tượng với sinh viên Trường Đại học Cần Thơ. Cách các bạn đặt câu hỏi với diễn giả đầy tâm huyết và “sát sườn”, thể hiện sự quan tâm đến văn học nước nhà. Có sinh viên đặt câu hỏi rất thú vị: “Ngày nay học sinh, sinh viên nhiều người chưa chịu khó đọc sách, nhiều người chưa yêu thích văn thơ, vậy nhà thơ Phan Hoàng sáng tác thể thơ 1-2-3 nhằm mục đích gì và ông có cách nào đó để định hướng công chúng yêu thích hoặc phát triển thể thơ này hay không?”. Câu hỏi tưởng đơn giản nhưng lại rất “khó” ấy cho thấy sự quan tâm của giới trẻ với văn học và văn hóa đọc. Em Nguyễn Lan Phương, sinh viên, chia sẻ: “Buổi sinh hoạt đã khơi dậy tình yêu văn chương trong em hơn nữa và thôi thúc em sáng tác”.
Thật vậy, những từ “làm thơ”, “viết văn” hay “sáng tác” đôi khi được các bạn sinh viên cho là chuyện “to tát”. Có sinh viên tâm sự rằng, bạn từng “thử” làm thơ nhưng chỉ giữ cho riêng mình vì không đủ tự tin, không dám cho người khác đọc hay gửi đăng báo. Với những chia sẻ của sinh viên, Ths Phạm Khánh Duy, tức nhà văn 9X Hoàng Khánh Duy, giảng viên Trường Đại học Cần Thơ, đã động viên các bạn mạnh dạn sáng tác. Chính thực tế bản thân nhà văn Hoàng Khánh Duy là câu chuyện truyền cảm hứng. Anh sáng tác, có sách ra mắt ngay từ khi còn là sinh viên Trường Đại học Cần Thơ và nay đã sở hữu hàng chục đầu sách ở nhiều thể loại, từ truyện ngắn, tản văn, phê bình văn học… Phấn đấu học tập, trau dồi và mạnh dạn sáng tác, thử sức bản thân là thông điệp nhà văn, giảng viên trẻ gửi tới sinh viên.
“Ngọn lửa” được truyền trong buổi tọa đàm chính là những tiết mục đọc thơ, ngâm thơ của sinh viên. Ấn tượng nhất có lẽ là tiết mục kịch thơ “Cần Thơ – Thành phố tình yêu” của sinh viên lớp Văn học và lớp Báo chí khóa 50. Dù là “cây nhà lá vườn” nhưng tâm huyết và tình yêu văn chương là điều dễ cảm nhận. TS Tạ Đức Tú, Phó Trưởng Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, hy vọng rằng, từ cuộc tọa đàm về thơ 1-2-3, sẽ mở ra những cuộc tọa đàm khác về văn học dành cho sinh viên thời gian tới.
Theo nhà thơ Nguyễn Trung Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn TP Cần Thơ, Hội Nhà văn thành phố và một số Hội Văn học Nghệ thuật các địa phương khu vực ĐBSCL đang lâm vào tình trạng khủng hoảng lực lượng kế thừa, hầu hết các nhà văn hội viên đều cao tuổi. Vì nhiều lý do khách quan, Hội không tổ chức được các hoạt động thu hút các bạn trẻ yêu văn chương làm tiền đề cho việc kết nạp hội viên ở giai đoạn sau. Do vậy, việc giới thiệu đến các bạn sinh viên hoạt động mang tính đặc thù thế này là rất cần thiết. “Qua đó, khơi gợi lòng yêu thích văn chương ở các em sinh viên, là nguồn động viên rất lớn để các em đến với đam mê văn học và việc chọn lựa nghề nghiệp sau này”, nhà thơ Nguyễn Trung Nguyên chia sẻ, đồng thời cho biết ngoài Trường Đại học Cần Thơ, sắp tới Hội Nhà văn TP Cần Thơ sẽ phối hợp với các trường học trên địa bàn thành phố tổ chức các hoạt động văn chương hướng đến học sinh, sinh viên.
24/11/2024
Đăng Huỳnh
Nguồn: Báo Cần Thơ 20.11.2024
Theo https://vanhocsaigon.com/

Đọc thơ 1-2-3 Nguyễn Tiến Nên

Đọc thơ 1-2-3 Nguyễn Tiến Nên

Những năm gần đây, Nguyễn Tiến Nên viết rất nhiều, bút ký, truyện ký và thơ, đặc biệt người đọc biết đến anh là ở mảng thơ, mảnh đất mà anh có những thành tựu nhất định trong suốt quá trình sáng tác. Tập thơ Tái sinh (NXB Hội Nhà văn, 2020) của anh được Giải B Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Lưu Trọng Lư 2020. Lần này Vụn và Lành là một tập thơ theo thể loại 1-2-3 với đúng 100 bài. Cứ tưởng đây là một thử nghiệm mới theo dòng thơ này nhưng đọc hết toàn tập thơ mới nhận ra loại thơ 1-2-3 chính là vườn ươm tốt tươi sản sinh ra hoa trái xinh tươi, là dòng thơ phù hợp với tâm hồn thơ của Nguyễn Tiến Nên với những dồn nén cảm xúc ứ đọng có điều kiện để bung vỡ đầy hương sắc.
Tập thơ Vụn và Lành được kết cấu theo 3 chủ đề: Nhấm rượu cùng thế thái, Những tình khúc của loài chim biểnVới những hơi thở mọc rễ. Tác giả Vụn và Lành đã nắm bắt được những quy ước của loại thơ 1-2-3 gồm số lượng câu (6 câu nhưng lượng chữ thì dài hơn đến 12, 13 chữ, đề bài cũng là một câu thơ tập trung vào một chủ đề chính của cả bài. Đó là một loại thơ ngắn, ngôn từ câu chữ giới hạn, chặt chẽ nhưng lượng thông tin thì trải rộng thẳm sâu. Bài Sau mỗi chuyến đi ta lợp lại mái nhàLợp lại những ẩm mốc rêu rong/ Những sần sùi năm tháng/ Lợp tâm hồn bằng lời ru con sóng/ Lợp nỗi lòng bằng một thoáng hư vô/ Lợp ngày mai bằng những áng thơ… Thực ra đây là một cái cớ trong hình thức diễn ngôn mang hàm ý đằng sau những chuyến đi xa là những năng lượng khi trở về để lợp lại tâm hồn đã “ẩm mốc rêu phong”, cần nguồn lực sáng tạo để làm mới lại cảm xúc. Bài thơ câu chữ ngắn gọn có tính khẳng định chung thẩm cho đường bay nghệ thuật của thơ.
Bài thơ Tôi đi giữa tôi và tôi và tôi… Nhìn đâu cũng thấy tôi và tôi và tôi/ Những chuyển động hướng tâm li tâm bát nháo/ Những xé giằng suýt biến tôi thành con quay vô định/ Hình như trong quỹ đạo không là quỹ đạo ấy/ Tiếng chim gọi câu thơ mọc cánh và tôi tìm được chính mình. Đây là bài thơ hay, tôi cho là tiêu biểu trong chùm thơ có chủ đề Nhấm rượu cùng thế thái, được viết bằng ngôn ngữ mang tính ẩn dụ và liên tưởng tạo nên những ám ảnh giằng xé của tác giả bởi một thực tế xã hội đầy “bát nháo” ngỡ có khi đã đẩy nhà thơ trở thành “con quay vô định” trong “quỹ đạo” đầy tối tăm bùi nhùi ấy. Và giữa một tâm thế ngập tràn bóng tối của đời sống phức tạp thị phi, thơ đã nở bừng ánh sáng giúp nhà thơ thức ngộ để trở lại chính mình.
Vâng, đối diện với hiện thực, người thơ luôn muốn thể hiện một thái độ sống, một chọn lựa dứt khoát theo hướng “để cuộc đời luôn cao đẹp”: Sẽ là nơi của mọi tấm giấy thông hànhNơi đặt trái đất trước sự cân lường/ Không ai cùng lúc rẽ về mọi hướng/ Sau phút giao loan con nước có thể ngược dòngNgười tài xế chỉ đưa vô-lăng về một lối/ Giữa ngã rẽ cuộc đời ai cũng có quyền lựa chọn một hướng đi… Thơ 1-2-3 kiệm lời, đề bài cũng là một câu thơ, mở ra và khép lại trong câu thứ 6. Vỏn vẹn chừng ấy câu cho nên phải tận dụng câu chữ mới triển khai trọn vẹn tứ thơ. Ở bài thơ trên, bằng nghệ thuật đối lập trong hai câu thơ kết thúc làm cho người đọc bất ngờ bởi hình ảnh thơ thêm đậm nét, mạnh mẽ và mở ra một sự liên tưởng thú vị.
Qua thơ, Nguyễn Tiến Nên luôn nặng nợ với quê nhà, tuổi thơ nơi miền quê dân dã với đồng ruộng, bọc cơm, bát canh rêu, chiếc mê nón, cánh phượng, cau dày, trầu xanh,… là những chất liệu cho những thi ảnh, cứ day trở trong anh niềm ray rứt tiếc nuối của một tấm lòng chân thật, thấm đẫm hồn quê. Trong tình yêu đôi lứa cũng vậy, Nguyễn Tiến Nên luôn hướng đến sự tròn đầy của yêu thương nồng ấm ngát hương để đưa nhau đến “bến xuân lành”, là sự cứu rỗi sau những vết thương lầm lạc của con người. Đó còn là một phản ứng trước sự nhiễu nhương của nhân tình thế thái: Em xở xoay như cây cà rem di động/ Giữa chiều đông nhợt nhạt hững hờ/ Và cuộc sống xô bồ mở khép/ Chỉ tình yêu chẳng thể nào hao khuyết/ Nụ cười em xóa khoảng cách không gian/ Cùng nhau mút mùa nhung nhớ – Ta vui đậu bến xuân lành…
Đã rõ ràng, trong thơ Nguyễn Tiến Nên luôn hiển lộ một quan điểm thống nhất giữa mọi mối quan hệ vào một điểm chung trong suy nghiệm đời người, thơ luôn mang theo một dòng chảy ngôn ngữ thẩm mỹ nhằm tôn vinh cái đẹp vĩnh hằng và trân quý.
Nguyễn Tiến Nên sinh ra và lớn lên ven bờ biển Quảng Bình và miền Trung đầy nắng gió. Sống và yêu bên biển, thơ là những giai điệu tôn vinh tình yêu đôi lứa dạt dào, khi trào dâng như sóng bão, khi dịu êm những ngày êm ả. Một lần anh viết: Tôi bay tới thiên đường giữa biển khơiĐể không nuối tiếc nguyên sơ bờ bãi/ Và khi xa không ngái An Bình/ Ai choàng cho em veston xanh và voan trắng/ Mang nham thạch mỡ màu/ San hô phát sóng, vũ điệu cá giữa ba sắc nước đáng yêu…
Trong Những tình khúc loài chim biển đã thấy có những biến đổi trong bút pháp nơi anh. Những hình ảnh người nữ trong thơ được biểu đạt bằng ngôn từ bổi hổi nóng bỏng khát tình, đôi khi chứa đầy tính phồn thực ân ái: Bờ vai em rạo rực phồn sinh, “tòa thiên nhiên”, “triệu năm qua nham thạch kết băng rồi”, “gió ve vuốt ngực em”, “em nã nồng”… Biển cũng là một đối trọng trữ tình trong thơ, là hình ảnh của tổ quốc tình yêu biển đảo. Anh viết về nhiều hòn đảo mà anh từng khát khao đến được, bởi chính giữa mênh mông biển trời nơi đảo xa, tổ quốc sẽ hiện lên bằng da bằng thịt trong tình yêu đất nước mãnh liệt đến vô cùng. Cũng trong tâm thức trở về nguồn, nhận diện lại hình hài tổ quốc, đảo Lý Sơn với những dòng sử ký ghi lại những hi sinh của các hải đội Hoàng Sa luôn là những cảm xúc đến nặng lòng.
Hay như khi anh ra cùng Côn Đảo: Từ khóa nào đây cho cuộc về nguồnSử sách hàng trăm năm rỉ máu/ Địa ngục trần gian bảng lảng khói hương/ Tôi đặt gót sẽ sàng trên cát mềm An Hải/ Biển vẫn trong xanh vô tư hứng nắng vàng/ Sao lòng tôi trĩu nặng? Ông cha ta từng vượt khám bơi ngang… Những tình khúc loài chim biển là sự giao hòa của bản hòa âm giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu tổ quốc tha thiết sâu lắng…
Với những hơi thở mọc rễ là những tình cảm thiêng liêng với vùng đất nhau rốn Quảng Bình Quảng Trị và những nơi chốn trên mọi miền đất nước mà anh đi qua. Anh viết về Vũng Chùa nơi mộ phần của Đại tướng Võ Nguyên Giáp bằng một bài thơ 1-2-3 cô đọng mà hàm ý sâu sắc ngưỡng vọng về người anh hùng của dân tộc.
Hình ảnh được hội tụ trong một đề bài hết sức đầy đủ ý nghĩa của con người vĩ đại ấy để lại cho mọi người: Tụ nhân tụ khí tụ linh tụ sơn tụ thủy/ Nơi hội tụ triệu tâm hồn ngưỡng kính/ Và những bàn chân không phải bàn chân/ Xót nhúm rau bám sâu lòng đất mẹ/ Thương tấm thân kết muôn vì tinh tú/ Thắp lên ngọn hải đăng. Tín hiệu tình yêu. Đúng là nơi tụ hội của lòng dân, lòng người, khí chất linh thiêng của núi và nước. Cuộc lãng du qua nhiều nơi trên đất nước: Sông Sài Gòn, xứ Nẫu Tuy Hòa, đất cảng Hải Phòng, Đà Lạt, Đà Nẵng, Đồng Mô, Hà Tĩnh… đều mang đến cho Nguyễn Tiến Nên cảm xúc để sáng tác.
Những bài thơ 1-2-3 trong chủ đề này như nén lại, nhưng câu chữ như muốn bung vỡ bởi những phát hiện mới riêng có của tác giả, phác thảo nên những diện mạo không gian nơi chốn bằng những góc nhìn sắc nét: Sớm mai này anh đến với Đồng Mô/ Gió ngân nga năm mươi tư làn điệu/ Dàn hợp xướng năm mươi tư sắc áo/ Những gương mặt anh em lâu bữa trở về/ Mèn mén rượu cần ngô bung xôi nếp/ Những sát na sinh tồn rau rốn dấu yêu. Bài thơ đã miêu tả được không khí quang cảnh lễ hội văn hóa của 54 dân tộc Việt, phong phú màu sắc lộng lẫy như một bản hợp xướng nhiều cung bậc, những gặp gỡ lâu ngày xúc động “men mén” nồng say tình nghĩa. Câu kết lại chạm tới một điều trọng đại là ý nghĩa của “sinh tồn, rau rốn” đã nâng tứ thơ thêm một thang bậc nữa của giá trị văn chương…
Với đúng 100 bài theo thể loại 1-2-3, dễ nhận ra Nguyễn Tiến Nên là người đến với dòng thơ này để lại nhiều ấn tượng, góp phần tạo cho sân chơi của sáng tác thơ 1-2-3 sự hấp dẫn đáng kể trong ngôn ngữ nghệ thuật thơ ca của một trào lưu xu hướng mới. Thơ 1-2-3 vẫn đòi hỏi sự cách tân, tìm kiếm cái mới cho thơ, từ ngôn ngữ, cấu tứ, giọng điệu và hình ảnh được diễn ngôn khơi gợi những cảm thụ thẩm mỹ ở người đọc chứ không phải để đánh đố người đọc. Nguyễn Tiến Nên với Vụn và Lành đã xác lập được chỗ đứng trong vườn thơ 1-2-3.
26/11/2024
Hồ Sĩ Bình
Theo https://vanhocsaigon.com/

Những tác phẩm nổi bật bật của Toni Morrison Theo The Guardian, Toni Morrison là một trong những nhà văn Mỹ vĩ đại nhất. Bà để lại cho đời...