Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026

 

Tác giả trẻ chinh phục cuộc thi Thơ Hay!

Cuộc thi Thơ Hay do tạp chí Văn Nghệ TP.HCM đăng cai, vừa tổ chức buổi lễ trao giải vào sáng 16/5. Cuộc thi Thơ Hay nhận tác phẩm ứng thí từ ngày 1/5/2023 đến ngày 29/2/2024. Tổng cộng, có 577 tác giả với 2750 bài dự thi.

Kết quả công bố, cho thấy hầu hết tác giả đoạt giải đều thuộc thế hệ 8X và 9X. Đây là tín hiệu đáng mừng, chứng minh có thêm một đội ngũ cầm bút mới đang trưởng thành và bắt đầu tạo nên một dòng chảy thi ca khác biệt cho đời sống văn học Việt Nam.

Giải nhất thuộc về tác giả Nhiên Đăng (Bình Định) sinh năm 1992. Giải nhì thuộc về tác giả Trần Đức Tín (Cà Mau) sinh năm 1989 và tác giả Lệ Hằng (Đà Nẵng) sinh năm 1988. Giải ba thuộc về tác giả Nguyễn Đức Hưng (Kon Tum) sinh năm 1987 và tác giả Hoàng Thị Hiền (Cao Bằng) sinh năm 1990.

Ngoài ra, trong 5 tác giả được trao giải khuyến khích có tác giả Bùi Việt Phương (Hòa Bình) sinh năm 1980, tác giả Lê Nhi (Hải Phòng) sinh năm 1988 và tác giả Vĩ Hạ (Bình Thuận) sinh năm 2004.

Không có chủ đề cụ thể, nên cuộc thi Thơ Hay mở rộng biên độ tung tẩy cho các tác giả. Chính chủ trương phóng khoáng ấy, khiến các tác giả trẻ chiếm ưu thế so với các tác giả đứng tuổi, nhờ sự tìm tòi về bút pháp và sự mới mẻ về suy tư. Thơ các tác giả trẻ không bó buộc trong khuôn thước dài ngắn cố định của mỗi khổ thơ và mỗi dòng thơ, đã giúp ý tưởng của họ xóa bỏ những ngẫm ngợi nhịp nhàng theo thói quen và định kiến, để thăng hoa nhiều thi ảnh độc đáo.

Mặt khác, thơ các tác giả trẻ cũng biết khai thác những vui buồn riêng tư để bản sắc cá nhân trở nên lấp lánh, như ân tình của tác giả trẻ Trần Đức Tín “Những linh cảm trắng đầy tường bệnh viện/ từ tiếng khóc đầu tiên đến cơn đau cuối cùng/ mắt môi nào ai giấu dưới gốc đước/ chiều nay soi lên da thịt thân tôi gầy/ khi cơn đau đến vội giữa khuya/ anh chỉ kịp trở người/ nghe bóng mình buôn buốt/ may còn em/ hiền khô như đất/ lăn qua cơn đau này anh biết mình còn quê hương” hoặc bâng khuâng của tác giả trẻ Lệ Hằng “Không biến mất nhưng không ai tì thấy/ trong im lặng dưới tán cây mùa hè/ ngời lên một dáng ngồi biêng biếc/ đừng nói khi bầu trời diệp lục/ mật nắng tràn chân tóc/ tịnh vắng tràn chân mây/ cầu vồng trong mắt lá/ ánh sáng nở ra loài hoa tuế nguyệt/ thời gian hương lan xa/ trong văn bản mùa hè không còn gương mặt nữa/ chỉ một niềm cây

Nét đặc trưng của mỗi vùng miền dự phần vào sáng tác thi ca, tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng và phong phú của xã hội Việt Nam thời hội nhập. Công chúng dễ dàng đồng cảm với vùng cao Tây Bắc day dứt trong thơ Hoàng Thị Hiền, một tác giả trẻ của dân tộc Tày: “Người đàn ông/ ruộng bậc thang gương mặt/ sương muối đầy mớ tóc/ bát rượu cay mặc khách gật gù/ giữa đường tôi gặp/ tiếng khèn môi lơ lửng quanh đâu/ bỏng má người đàn bà ôm vết bầm ngây dại/ ma nhà người cũng khóc/ ngày cả bản mừng dâu”.

Còn cố hương xứ Nghệ thương khó cũng được phác thảo trong thơ tác giả trẻ Nguyễn Đức Hưng: “Có một ngày ta mắc kẹt trong giấc mơ buổi trưa/ ở đó có màu vàng lúa chín/ có mùi rấm trấu tuổi thơ bịn rịn/ vài cọng dây khoai vùi dưới tro hồng/ ta gặp chính ta chới với ở bờ sông/ em kéo ta lên lưng trâu rồi bật cười khanh khách/ ta gặp dáng ông ngồi trên chiếc chõng tre đầu hè đọc sách/ bà ngồi bên bỏm bẻm nhai trầu/ gặp dáng mẹ gầy mặc chiếc áo màu nâu/ đầu đội thúng chạy liêu xiêu trên triền đê mùa giáp hạt/ bố nhặt nhạnh tép tôm vật vờ trên bờ cát/ trời chợt nổi gió giông vai quẩy lưới trống đi về”.

Đáng mừng hơn, từ cuộc thi Thơ Hay, những người yêu thi ca nhận diện được nền thơ Việt Nam ở thập niên thứ ba của thế kỷ 21 đã thay đổi rõ rệt về quan niệm thẩm mỹ. Hơi thở cuộc sống được dịch chuyển mạnh mẽ trong mỗi bài thơ, buộc độc giả phải tiếp nhận bằng cảm quan năng động để có thể lĩnh hội đầy đủ chất thơ giữa đời thường.

Bất cứ một cuộc thi nào, thì mọi ánh mắt ngưỡng mộ đều đổ dồn vào người được giải cao nhất. Vậy thì, “trạng nguyên” của cuộc thi Thơ Hay gửi gắm điều gì trong chùm thơ của mình? Với quan sát tinh tế và hình ảnh sinh động, tác giả trẻ Nhiên Đăng thể hiện một phong vị làng quê nhiều màu sắc giữa nhịp sống lao động và đời sống tâm linh. Làng quê trong thơ Nhiên Đăng không còn những vần điệu đong đưa và trễ nãi nữa. Diện mạo làng quê thời hội nhập trở nên hối hả hơn và trắc ẩn hơn: “Hoa nhài thơm trong nắng/ Bầy chuồn chuồn quần thảo trên đám khổ qua/ Nhớ một người bạn đã mất, chú chó vện sống mười hai năm/ Ngả lưng vào ghế, thấy đời nhẹ tênh/ Như sông trôi, mây trôi và gió thổi/ Mười năm một chặng đường đầy những suy tư/ Vui và buồn/ Ngả lưng vào ghế, thấy mình ở đâu đó trên con đường có ánh trăng/ Giữa những đám ruộng trồng dưa hấu đỏ/ Nghe được thinh không chứa đầy tiếng côn trùng/ Tiếng cành cây mục rơi hoang”.

Cái rát bỏng của nắng gió miền Trung đi vào thơ Nhiên Đăng một cách tự nhiên, như những thước phim quay chậm từng khoảnh khắc nhớ thương. Tác giả trẻ Nhiên Đăng soi rọi từ bản thân “Theo dấu chân trâu vung roi trên cánh đồng khô hạn/ Gió thổi qua những ngọn tháp, những ô ruộng, những ngôi nhà mái lợp/ Tro tàn nơi góc vườn là ngôn ngữ đất/ Và bếp lửa là bài thơ thắp sáng ước mơ tôi”, để có cách riêng bái vọng tổ tiên: “Những linh hồn sống dậy trên cánh đồng lúa chín/ Họ gặt lúa, tát cá, ngồi che nắng và kể chuyện làng/ Những người áo vàng đi trên đường cái tháng sáu/ Cát và gió tạt qua chân họ/ Giữa những gam màu trắng như mây trôi/ Họ bay lên trời/ Để lại những ô ruộng vàng như áo họ mặc”.

Sự có mặt của tác giả trẻ Nhiên Đăng và những cây bút 8X, 9X không chỉ tự tin cất lên tiếng nói một thế hệ, mà còn hào hứng tiếp nối tình yêu thi ca vẫn được nuôi dưỡng bền bỉ trong tâm hồn người Việt Nam khao khát ấm no và hạnh phúc.

16/5/2024

Lê Thiếu Nhơn

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Khát vọng Dế Mèn

Sự ra đời của Giải thưởng Dế Mèn cùng với phát ngôn của đại diện Hội Nhà văn Việt Nam đã chạm đến khát vọng lâu nay vẫn nằm đâu đấy trong những người yêu và hiểu rõ hiện trạng văn học thiếu nhi nước nhà…

Nhà văn Tô Hoài thành công với tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu ký” từ lâu hẳn có mối liên hệ với Giải thưởng Dế Mèn thường niên của Báo Thể thao & Văn hóa hiện nay

Dế Mèn là nhân vật chính trong truyện Dế Mèn phiêu lưu ký. Trong đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, đấy là tác phẩm được nhiều người biết nhất của Tô Hoài, là thiên đồng thoại xuất sắc nhất của văn học Việt Nam, là truyện thiếu nhi Việt Nam được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất. Mức độ nổi tiếng của Tô Hoài với Dế Mèn phiêu lưu ký còn được sánh với tên tuổi Andersen, anh em nhà Grim. Thành công của một tác phẩm xuất bản từ năm 1954 (thời điểm Dế Mèn phiêu lưu ký được in hoàn chỉnh ở Nhà xuất bản Thanh niên) hẳn có mối liên hệ với Giải thưởng Dế Mèn thường niên của Báo Thể thao & Văn hóa được phát động từ cuối tháng 5 năm 2020 dành cho những tác phẩm về thiếu nhi và của thiếu nhi. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam chia sẻ về giải thưởng: “Việc xây dựng giải thưởng Dế Mèn bắt nguồn từ ý thức mang lại một đời sống tinh thần sâu thẳm nhất, trong sáng nhất, quyến rũ nhất cho những đứa trẻ. Đừng nghĩ đây chỉ là một giải thưởng mà hãy nghĩ đây là một ý thức, một thái độ, một hành động của chúng ta đối với tương lai của mình” (2)

Sự ra đời của giải thưởng cùng với phát ngôn của đại diện Hội Nhà văn Việt Nam đã chạm đến khát vọng lâu nay vẫn nằm đâu đấy trong những người yêu và hiểu rõ hiện trạng văn học thiếu nhi nước nhà. Trong tác phẩm của Tô Hoài, nhân vật Dế Mèn trải qua hành trình phiêu lưu vượt lên không gian tù túng, chật hẹp để khám phá cuộc đời “ở cuối cánh đồng mênh mông”. Cuối hành trình ấy, nhân vật đã “lột xác” về thể chất lẫn tinh thần, đã có thể thư thái lòng “nằm duỗi chân nhìn lên qua khe cỏ ấu, thấy mảnh trời biếc như ước vọng đời mình đương bay xa”. Nhà văn qua nhân vật đồng thoại này mà khơi thêm ước vọng tuổi trẻ với lí tưởng sống đẹp, biết khám phá chứ không bằng lòng với cuộc sống tầm thường.

Khát vọng của văn học thiếu nhi Việt Nam, ngẫm sâu, cũng là tìm kiếm, phát quang những đường đi, đường bay rộng rãi, thoáng đãng để trưởng thành. Một kiểu khát vọng Dế Mèn, phóng khoáng, đẹp đẽ. Nhưng khát vọng ấy bị mắc kẹt, bị nghẽn lại ngay từ thuở mới được tạo sinh. Vì thiếu vắng đội ngũ người viết thực tài hoặc có thể toàn tâm toàn ý dành sự nghiệp sáng tác cho thiếu nhi; vì thiếu hụt các cây bút phê bình tâm huyết có khả năng nhận diện, phát hiện, “nâng đỡ” văn học thiếu nhi; vì sự đánh giá không đúng mức vai trò/ ý nghĩa của bộ phận văn học này; vì thiếu sự bảo hộ/ bảo trợ/ truyền lửa cho đội ngũ sáng tác và sản phẩm tinh thần của họ… Thỉnh thoảng, nhân các Hội thảo, các ngày lễ liên quan đến thiếu nhi, mớ bòng bong đó được bày ra, được gợi nhắc với mong mỏi tháo gỡ. Thế nhưng mọi sự vẫn lắm gian nan.

Có câu nói của nhà văn Cao Huy Thuần phù hợp để nói về văn học thiếu nhi Việt Nam lúc này: “Thà thắp cây diêm bé còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối”. Thay vì thất vọng hay chỉ ngồi trông đợi sự hỗ trợ/ ủng hộ, nên chăng, các nhà văn hãy tự thắp những cây diêm bé. Đấy là điều các tác giả hoàn toàn có thể làm được, mà hẳn nhiên, lúc đó, cái lời lãi còn quý hơn vật chất bội lần. Đó là niềm vui khi cầm bút viết cho thiếu nhi/ về thiếu nhi dù công việc viết lách này chưa bao giờ là điều dễ dàng. Sau những lao xao của cuộc đời dài rộng, may mắn thay trong mỗi nhà văn, nhà thơ vẫn tồn tại một đứa trẻ để gợi cảm hứng và ý tưởng để họ sáng tác. Cư dân của văn học thiếu nhi là những đứa trẻ còn sống sót trong người lớn và tất nhiên là cả trẻ con nữa. Đám đông cư dân ấy một thời nằm ngửa trong nôi, ngôi nhà là bầu trời lớn nhất, tiếng nói đầu đời là những thanh âm bập bẹ. Vậy mà chỉ cần nghe lời ru của mẹ, câu chuyện kể của bà là giấc ngủ đã ngoan lành. Thuở ấy, những cư dân nhí này chưa biết chữ nên tác phẩm văn học vẫn chơi trốn tìm trong những trang sách. Tựa vào đồng dao, tựa vào những bài vè và những câu chuyện dân gian để làm rộn ràng thêm ấu thơ là cái khôn ngoan đáng yêu của bao nhiêu đứa trẻ.

Có thể nói, nhu cầu được tưới tắm bằng văn chương dường như đã ríu rít trong mỗi đứa trẻ từ thời xa xưa ấy. Vì thế, một nền văn học phụng sự thiếu nhi là điều tối thiểu của một dân tộc. Nhà văn đối diện với vùng thẩm mĩ đó chính là kiếm tìm sự hài hòa giữa cảm xúc riêng tư với những giấc mơ bé thơ chấp chới, lấp lánh bên ngoài. Đó là cuộc chơi vừa dịu dàng vừa tươi tắn, có thể đồng thời làm dịu ngọt kí ức – hiện tại – tương lai.

Trong một bài báo in trên Văn nghệ Công an số Tết Quý Tỵ 2013, nhà văn Tô Hoài kể: “Tôi ngồi tha thẩn đầu làng bên cửa sông Tô Lịch, trông ra dòng nước quanh co. Trên bãi cỏ cạnh gò cỏ, có mấy đám trẻ đang múc nước đúc dế. Chúng tôi hàng ngày những lúc thong thả vẫn ra bãi sông để chơi đúc dế. Những con dế mèn được đúc bỏ vào rọ, đêm đi chơi cho dế vật nhau. Tôi đã đúc dế, chơi dế từ năm lên mười, bên cây gạo có hoa đỏ ối từ bao năm nay. Tôi chợt nghĩ: hay là ta viết chuyện con dế mèn, con dế mèn ta đúc, ta chơi chọi dế từ bao năm nay”(3). Thế là Dế Mèn phiêu lưu ký ra đời. Trước khi độc giả thỏa thuê phiêu lưu cùng Dế Mèn chắc hẳn Tô Hoài đã có những trải nghiệm thú vị trong quá trình sáng tác, được quay về đằm mình trong ấu thơ bình yên, trong trẻo bên cánh bãi Cơm Thi.

Ngẫm cho cùng, sáng tác văn học thiếu nhi chính là nhu cầu của tác giả. Theo tiếng gọi riêng tư ấy, một số tác giả đã viết không bằng với ý thức rành mạch, rõ ràng là sẽ tạo ra các tác phẩm văn học thiếu nhi nhưng lại được độc giả nhỏ tuổi đón nhận. Trần Đăng Khoa khẳng định, ông hoàn toàn không phải là người viết cho trẻ con. Ông chỉ viết cho “tôi” thời thơ bé. Cái “tôi” ấy gặp gỡ tất cả các em thiếu nhi và người ta tưởng Trần Đăng Khoa là nhà văn viết cho thiếu nhi. Lại có trường hợp viết nhiều về đề tài thiếu nhi nhưng lại không được tính là người viết cho trẻ con. Tạ Duy Anh – chủ sở hữu của rất nhiều tác phẩm viết về thiếu nhi như: Những chuyện không phải trong mơ, Hiệp sĩ áo cỏ, Ngày hội cuối cùng, Đối thủ còi cọc… từng chia sẻ rằng anh viết cho trẻ con như một nhu cầu, không ai tính anh là người viết cho trẻ con cả. Đồng cảm và trân trọng với quan điểm viết cho trẻ con như một nhu cầu của tác giả, nhất là khi những áng văn chương đó là nơi lí tưởng để Tạ Duy Anh cứu rỗi kí ức tuổi thơ, là nơi giúp anh thoát khỏi những bi kịch nặng nề, gai góc để sống cuộc sống thuần khiết, hồn hậu.

Không riêng Tạ Duy Anh, việc kể những câu chuyện diễn ra trong thời thơ ấu cũng đã giúp một số nhà văn cởi bỏ gánh nặng mà vì nhiều lí do họ đã đằng đẵng mang theo cả một đoạn đời dài. Tác phẩm vừa giúp họ bao bọc nỗi nhớ, hoài niệm riêng vừa là sự giải tỏa bao nhiêu nỗi niềm về được mất, đắng ngọt cuộc đời. Những tự truyện của Phùng Quán (Tuổi thơ dữ dội), Duy Khán (Tuổi thơ im lặng), Nguyễn Quang Sáng (Dòng sông thơ ấu), Trần Hoài Dương (Miền xanh thẳm), Lê Bầu (Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa), Bình Ca (Quân khu Nam Đồng)… tồn tại đúng nét nghĩa ấy. Mỗi tác phẩm là điều đặc biệt trong đời văn của các tác giả – nơi họ bản lĩnh, bình tĩnh, khí khái nhìn lại ấu thơ qua màng lọc ký ức.

Viết Tuổi thơ im lặng từ năm 1977, Duy Khán lặng lẽ tách khỏi dòng chảy văn học lớn của thời đại. Ông chắt chiu những góc quê, người quê bé mọn; tìm kiếm bình yên trong cổng chùa, mảnh vườn, tấm chăn, cái cối, bàn chân, bờ vai hay con chèo bẻo, bồ nông, liếu điếu… Ông gợi lại cái khốn cùng, tang tóc của phận người trong sự bủa vây của chiến tranh và nạn đói. Vì thế, nông thôn Bắc bộ một thời không chỉ “thấp thoáng mộng bình yên” mà còn mang sự im lìm đáng sợ và tủi hờn nghẹn đắng. Trong lời tự bạch của Duy Khán, tự truyện này là “đứa con ngoài kế hoạch” của nhà văn bởi ông đang viết dở cuốn sách về biển. Nhưng hễ bắt tay viết cuốn sách đó là ông nghĩ đến nguyện vọng chính đáng của các con thơ muốn hiểu hơn về vùng quê lam lũ mà chúng vẫn gọi là quê nội. Vậy là ông đã kể cho các con nghe. Câu chuyện ngay từ khởi nguồn đã chảy về hai ngả. Một ngả đến với những đứa con của Duy Khán: Khánh, Khoa, Khải. Và ngả kia tự động chảy về nặng trĩu thương nhớ, day dứt của nhà văn. Duy Khán thương cuốn sách là điều dễ hiểu. Nhưng có lẽ ông cần cảm ơn “đứa con ngoài kế hoạch” này vì đó là nơi giúp ông cởi bỏ những ẩn ức cháy lòng của mười lăm năm tâm tư trĩu nặng.

Những điều ý nghĩa mà nhà văn nhận được từ công việc viết lách cho thiếu nhi cũng đồng thời hé mở nỗi niềm nhức nhối của chính họ khi vì những lí do khách quan và chủ quan mà phải dừng nghiệp viết. Quế Hương – tác giả của rất nhiều tác phẩm và giải thưởng về văn học thiếu nhi đã không thể tiếp tục cầm bút vì quá nhiều bệnh tật, cái chết luôn hiển hiện trước mắt. Trong rất nhiều nỗi đau bệnh tật, nhà văn mong được chết trước khi mù với ý nghĩ, mắt để nhìn ngắm vẻ đẹp trần gian, để thấy, để đọc, để viết mà hỏng nặng quá rồi thì tốt nhất là chết. Con người ấy tâm vẫn “thấy” rõ mồn một những thanh âm, dáng điệu cuộc đời nhưng không thể cầm bút. Không những mắt mà những thứ khác cũng có “vấn đề”. Quế Hương khó khăn khi tìm từ, diễn đạt. Nghĩ gì hôm nay, mai lại biến mất không tăm tích. Nhà văn khổ sở vì bất lực, và cứ thế, tàn dần, hư dần, quẩn quanh, tù đọng, trầm cảm. Thân và tâm đều bệnh nên cuộc sống không còn chất lượng. Quế Hương ngậm ngùi thừa nhận điều giản dị: Ngẫm cho cùng được khỏe để sống, làm việc là hạnh phúc thật nhất.

Thực tiễn đời sống văn học thiếu nhi cho thấy đã có những tác phẩm được viết không với tâm thế/ quan niệm sáng tác rõ ràng về văn học thiếu nhi nhưng lại trở thành những ấn tượng/ điểm sáng bền vững trong văn học dân tộc. Đã có những tác phẩm lan tỏa nhiều đợt sóng xúc cảm đẹp trong tâm hồn người đọc, hơn thế, còn có thể tác động đến nhiều đối tượng độc giả. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường nhắc nhớ về Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán với niềm thương không giấu được: “… Có một viên ngọc quý thời gian dành riêng để ban tặng con người, đó là Tuổi thơ. Viên ngọc màu nhiệm, trong sáng nhưng quá mong manh, không thể tìm thấy lần thứ hai trong đời. Và có một thế hệ người Việt chưa bao giờ được cầm viên ngọc trên tay, Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán được viết cho thế hệ đó. Hãy đọc để nhớ lại, để tự hào, và để cầu nguyện cho những Tuổi thơ sắp ra đời…(4)

Truyện dài Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc Thuần cũng nhận được nhiều phản hồi tích cực. Nhà văn Hồ Anh Thái bâng khuâng lạc giữa thế giới văn chương Nguyễn Ngọc Thuần – một thế giới lãng mạn tuyệt vời, văn phong đẹp, trong vắt đến mức người đọc soi vào đấy là thấy cả những ao ước tuổi thơ mình. Nguyễn Nhật Ánh thì cho rằng Nguyễn Ngọc Thuần là “tín hiệu mới”, qua ngòi bút của Nguyễn Ngọc Thuần thế giới quen thuộc của chúng ta bỗng hiện lên mới mẻ, tinh khôi như mới sinh thành.

Không những thế, một số tác phẩm văn học thiếu nhi còn nhận được những giải thưởng ý nghĩa trong và ngoài nước, có tác phẩm còn được chuyển thể thành phim. Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi được dịch ra nhiều thứ tiếng: Nga, Đức, Tây Ban Nha, Ba Lan… và được chuyển thể thành phim truyền hình dài tập vào năm 1997. Phùng Quán nhận Giải A văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội. Vào năm 1989, tác phẩm đã được dựng thành phim. Bộ phim Tuổi thơ dữ dội của đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn được nhận giải Bông sen bạc, Đạo diễn xuất sắc nhất, Nam diễn viên chính xuất sắc nhất ở liên hoan phim năm 1990. Nhà văn Vũ Hùng với sêri sách về rừng đã giành giải “Sách hay” của Hội Xuất bản Việt Nam vào năm 2016, được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải “Sự nghiệp Văn học”; tại “Lễ Trao giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam 2017”. Nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần nhận giải A Cuộc thi sáng tác văn học thiếu nhi Vì tương lai đất nước lần thứ III, giải Peter Pan (giải thưởng của Thụy Điển dành cho tác phẩm thiếu nhi hay nhất) năm 2008, giải thưởng Sách hay năm 2011 với tác phẩm Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ.

Và không thể không nhắc đến Nguyễn Nhật Ánh, Trần Đăng Khoa với hành trình vượt lên dải đất hình chữ S để kết nối với độc giả nhiều nơi trên thế giới. “Tháng 9 – 2020, hai tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ và Đi qua hoa cúc của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh được NXB Nikkei và Quỹ Daido Life của Nhật Bản chọn mua bản quyền để xuất bản tại Nhật, nối tiếp hai tác phẩm khác đã được xuất bản tại xứ sở hoa anh đào trước đó là Mắt biếc (NXB Terrainc, 2004) và Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (NXB Canaria, 2017). Tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ từng được dịch và xuất bản tại Thái Lan năm 2011 (NXB Nanmee Books), tại Mỹ năm 2014 (NXB Overlook Press). Ngoài ra, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh cũng được NXB Hannacroix Creek Books mua bản quyền và phát hành tại Mỹ năm 2020” (5).

Ngoài những tác giả, tác phẩm đã nhắc đến ở trên, còn có những hành trình khai mở lặng lẽ khác diễn ra với Mun ơi! Chạy đi của Nguyễn Phan Quế Mai và con gái Farnhammer Mai Clara, Xóm bờ Giậu của Trần Đức Tiến, Mãi mãi một thời thiếu sinh quân (Ma Văn Kháng), Chuyện của anh em nhà Mem và Kya của Nguyễn Quang Thiều, Câu hỏi tuổi thơ (Lê Phương Liên), Thì thầm tiếng cát (Nguyễn Hữu Quý), Chú bé đeo ba lô màu đỏ của Nguyễn Đình Tú, Em béo và hội Cầu vồng của Đỗ Bích Thúy, Ngôi nhà trong cỏ (Lý Lan), Ông ngoại (Nguyễn Ngọc Tư), Siêu nhân cua của Võ Diệu Thanh, Mùa tiểu học cuối cùng của Lê Văn Nghĩa, Trên đồi, mở mắt và mơ (Văn Thành Lê), Mật ngữ rừng xanh của Lê Hữu Nam, Chuyện của Bắp ăn mơ và xóm Ðồi Rơm của Cao Khải An, Khi quá buồn, hãy tưới nước cho một cái cây của Trương Huỳnh Như Trân,… Đấy là những tác phẩm có khả năng lôi cuốn, dẫn dụ trẻ, tạo dựng cho các em đời sống tinh thần trong sáng và nhân hậu.

Những thành công như thế ít nhiều đều có mối liên hệ với khát vọng Dế Mèn của mỗi nhà văn. Đâu đó trong những phát biểu ngoài lề trang viết, các nhà văn đã gọi tên, đã diễn giải khát vọng ấy. Nguyễn Nhật Ánh phát biểu: “Tôi tin văn chương không chỉ đem lại mỹ cảm mà đó còn là một phương tiện tuyệt vời để khám phá một vùng đất, thấu hiểu một quốc gia và cảm mến một dân tộc. Đó là lý do tôi hy vọng những cuốn sách của nhà văn Việt Nam sẽ giúp bạn đọc quốc tế thêm yêu mến con người và đất nước chúng ta (6).

Chúng ta không có quyền can thiệp vào hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn. Mọi lời khuyên đều có thể trở thành sự can thiệp/ phủ quyết thô bạo cá tính lẫn cảm xúc của người nghệ sĩ. Nhưng mong đợi sự nối dài những giấc mơ như thế – giấc mơ văn học thiếu nhi trở thành phương tiện quảng bá văn hóa Việt Nam với thế giới, là điều chính đáng. Những khát vọng ấy cần được nhen nhóm, lớn dậy trong đội ngũ cầm bút. Đó là cơ sở để tạo ra những tác phẩm hay, vượt thoát lên mọi định kiến. Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi theo như nhận định của Hữu Thỉnh là đã làm thay đổi nhận thức vốn là định kiến trong giới, rằng một tác phẩm viết theo đơn đặt hàng sẽ bị gò bó, trói buộc cả đề tài lẫn cảm xúc bởi Đoàn Giỏi hoàn toàn tự do với đơn đặt hàng và trở thành một trong những tên tuổi viết cho thiếu nhi hay nhất Việt Nam. Quân khu Nam Đồng của Bình Ca trong vòng 4 năm tái bản 15 lần với 32.000 bản sách được phát hành đã xóa bỏ định kiến văn học thiếu nhi là “chiếu dưới”, là “nhi đồng” trong mối quan hệ với văn học người lớn với tư cách là “chiếu trên”, là “người lớn”, xóa bỏ luôn định kiến về nhà văn không chuyên nghiệp.

Quan niệm văn học thiếu nhi chỉ phù hợp để nói về những điều bé mọn sẽ bị lung lay trước thành công của các tác phẩm: Tháng ngày ê a (Lê Minh Hà), Chú bé đeo ba lô màu đỏ (Nguyễn Đình Tú), Đi trốn (Bình Ca)… Những tác phẩm được nhắc đến trong bài viết này đều phù hợp với chiến lược xây dựng thế giới tâm hồn cho thế hệ trẻ, có thể tạo ra sự đa dạng trong trải nghiệm cảm xúc, khai mở những góc nhìn mới về các vấn đề quen thuộc, dạy trẻ cách lắng nghe và nhìn nhận cuộc sống bằng trí tưởng tượng bay bổng, bằng lòng tự trọng, khoan dung. Phần lớn trong số đó là sản phẩm của những nhà văn chuyên nghiệp, những người đi đường dài với văn học thiếu nhi kiểu như Võ Quảng, Tô Hoài, Phạm Hổ, Vũ Hùng, Lê Phương Liên, Nguyễn Nhật Ánh. Nhập cuộc văn học thiếu nhi không bằng sự nửa vời đã giúp họ tích lũy dày dặn cảm xúc lẫn trải nghiệm cho sáng tác. Họ đau đáu hơn với hành trình sáng tạo nghệ thuật và đã dấn thân cho hành trình ấy một cách khá quyết liệt. Tuy nhiên, đội ngũ nhà văn chuyên nghiệp ấy không nhiều. Vì thế song song với công tác bồi dưỡng, phát triển đội ngũ thì những cú tạt ngang hay viếng thăm bất ngờ kiểu Bình Ca (Quân khu Nam Đồng, Đi trốn), Lê Hoàng (Sao thầy không mãi teen teen)… cũng là điều chúng ta chờ đợi. Một đôi lần bén duyên thôi nhưng những tác giả này đã mang đến làn gió mới cho văn học thiếu nhi.

Vậy nên cái căn cốt cần gieo trồng và vun vén vẫn là tình yêu, trách nhiệm đối với thiếu nhi và với chính bản thân người cầm bút. Tình yêu và trách nhiệm đó đến độ chín sẽ tạo ra sự thăng hoa của những áng văn chương được xem là những tấm gương soi đẹp đẽ của đời sống, tâm hồn trẻ thơ trong mối quan hệ với các vấn đề khác của xã hội, lịch sử, văn hóa, tự nhiên… Đấy là lúc khát vọng mang tên Dế Mèn của văn học thiếu nhi Việt Nam sẽ được hiện hữu qua những sản phẩm tinh thần có khả năng làm tươi mới cảm xúc, đánh thức trí tưởng tượng bay bổng và góp phần vào “sự nên người” của trẻ thơ. Thậm chí, nếu làm tốt hơn, chúng ta sẽ có những tác phẩm có tiềm năng quảng bá văn hóa Việt Nam đến bè bạn thế giới.

19/5/2024

Nguyễn Thanh Tâm

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Nếp nhà xưa cũ trong Về nơi nguồn cội của nhà văn Đới Xuân Việt

Cuốn sách "Về nơi nguồn cội" kể về dòng họ nội, họ ngoại của nhà văn Đới Xuân Việt. Tác phẩm phản ánh gần như bức tranh toàn cảnh của gia tộc tác giả những năm đầu thế kỷ trước cho đến khi đất nước độc lập, giang sơn thu về một mối, qua đó ghi nhận những đóng góp của các vị đức cao vọng trọng trong dòng tộc cho xã hội và cho dòng họ.

Tác phẩm còn nhắc nhở chúng ta công lao của các bậc tiền nhân trong việc khai sơn phá thạch, đã xây dựng và để lại cho chúng ta giang sơn gấm vóc như ngày nay.

Tôi đặc biệt ấn tượng với những hồi ức của tác giả về những bậc tiên tổ trong dòng họ. Ông nội tác giả, một thầy đồ Nho hay chữ, một lang y bốc thuốc chữa bệnh cứu người có tiếng ở vùng Quảng Xương - Thanh Hóa. Cụ có lòng yêu thương con cháu đặc biệt. "Năm nào ông cũng nấu cao ban long bồi dưỡng cho người đau yếu. Sáng ra, ông thường cho người nấu một nồi cháo với củ hoàng tinh rồi cho cao ban long đã thái hạt lựu vào bát cháo cho các cháu ăn trước khi đi học". Cụ dạy bảo con cháu rất cẩn thận, tỉ mỉ từ nếp ăn, nếp ở đến công việc nhà nông, giáo dục con cháu sống có đức độ, sống tốt, sống có trên, có dưới. Đặc biệt, cụ luôn bảo ban con cháu phải biết giữ gìn của cải, sống tiết kiệm, tránh xa cờ bạc, rượu chè bê tha. Cụ luôn ý thức về dòng họ, chăm lo các điều kiện cho con cháu làm ăn, lập nghiệp, giao trách nhiệm cho người đi trước giúp đỡ người đi sau làm cho dòng họ ngày càng phương trưởng. Cụ như cây đại thụ xum xuê chở che cho con cháu.

Cùng với ông nội, bà nội của tác giả cũng để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Cụ bà là người phụ nữ Việt Nam điển hình cần cù, chăm chỉ, lo toan việc nhà và thương yêu con cháu. Cả một đời lao động vất vả, hầu như ngày nào cũng có mặt ở vườn trước, vườn sau, trồng đủ loại rau mùa nào thức ấy, tự cung cấp rau quả cho bữa ăn gia đình. Cả đời bà làm việc lam lũ, đến già lưng cụ còng xuống nhưng không lúc nào rời mắt khỏi con cháu. "Nhà tôi ở phía trước nhà ông bà. Bà tôi đã ngoài bảy mươi tuổi, mỗi lần sang nhà tôi đều phải chống gậy. Ấy vậy mà ngày nào bà cũng sang thăm một, hai lần. Lúc thì mang cho rổ rau, rổ khoai lang, lúc thì dăm bơ lạc, bơ vừng. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in hình ảnh bà lưng còng, mặc váy đen, áo nâu sồng, da nhăn nheo chống gậy lững thững sang nhà tôi mà thương bà vô hạn".

Khi nhìn sang bên họ ngoại của tác giả, ta được chiêm ngưỡng một dòng họ trâm anh thế phiệt. Là hậu duệ của vị vua có nhiều con nhất Việt Nam - Vua Minh Mạng, ông ngoại của tác giả, cụ Công Tôn Ưng Dinh là tấm gương sáng về rèn luyện, học tập, phấn đấu tu dưỡng đạt được các kết quả đáng mơ ước trên con đường công danh sự nghiệp. Là một thượng thư, tổng đốc tỉnh Thanh Hóa, một tỉnh có diện tích lớn vào bậc nhất Việt Nam, ngoài việc làm tròn bổn phận của một quan đầu tỉnh, cụ còn có công khai khẩn đất hoang, lập làng, lập ấp, xây dựng hệ thống cống dẫn thủy nhập điền góp phần biến một vùng đất hoang hóa, sình lầy rộng lớn thành đồng ruộng.

Là một vị quan to nhưng cụ không nề hà việc nhà nông chân lấm tay bùn. Cụ vẫn xắn quần đi cày bừa, nhổ mạ, làm quần quật ngoài đồng không kể nắng mưa, lao động cần cù chăm chỉ như một nông dân thực thụ. Ngoài bảy mươi tuổi, cụ vẫn chống ba-toong ra đồng kiểm tra lúa má, nước nôi. Cụ có một tình yêu đặc biệt đối với đất đai và cây lúa.

Cụ ngoại của nhà văn cũng sống rất tiết kiệm, không xa hoa lãng phí. Ra ngoài chỉ đội khăn xếp, áo the thân dài. Đi tàu hỏa chỉ lựa hạng 3. Bữa cơm thường nhật đạm bạc với canh cá kình, cá bống kho khô… Cụ cũng rất quan tâm đến việc giáo dục con cái, rất trân trọng, khuyến khích từng thành quả học vấn nhỏ nhoi của con cháu… Các bậc tiên tổ trong dòng họ của tác giả đều có lối sống giản dị, tiết kiệm, yêu thương con cháu hết mực và chăm lo đến sự nghiệp của con cháu. Đó chính là cái gốc đạo đức của các dòng họ Việt Nam, góp phần vào việc ổn định và phát triển xã hội từ đời này qua đời khác.

Cuốn sách cũng đề cập những vấn đề nhạy cảm, thường rất khó truyền tải suôn sẻ. Song, với giọng văn chân thật và trân trọng, những vấn đề gai góc bỗng trở nên đơn giản, dễ chấp nhận. Trong truyện, có những đoạn đời, phần đời gắn với những sự kiện lớn của đất nước, ví dụ cách mạng ruộng đất ở nông thôn miền Bắc những năm năm mươi của thế kỷ trước, tác giả đã kể cho ta biết những câu chuyện đau lòng, cười ra nước mắt nhưng không đi sâu vào nỗi đau quá khứ mà chủ yếu phản ánh những con người, những số phận chịu nhiều thiệt thòi, mất mát đã đứng dậy ra sao, đã phấn đấu ra sao cho một cuộc sống bình yên và tốt đẹp hơn. Những đau khổ, đắng cay của cuộc đời đã không đẩy họ đến những hành động tiêu cực. Họ vẫn phấn đấu hướng đến những điều tốt đẹp, tiếp tục có những đóng góp tích cực cho xã hội, cho đất nước. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, con cháu của nhiều địa chủ trong dòng họ của tác giả đã đi bộ đội chiến đấu ở các chiến trường và đã hoàn thành nhiệm vụ của người lính. Tác giả luôn có xu hướng nghiêng về tính tích cực của các sự kiện. Cuốn sách đề cao truyền thống quý báu của dòng họ, niềm tự hào cho con cháu noi theo. Nó cũng là nguồn động lực tiếp sức cho các thế hệ sau phấn đấu và vươn lên.

Truyện còn kể về một người bà con của tác giả, một ông Cai Tổng trong chính quyền của thực dân Pháp, một đại địa chủ lại là người giác ngộ tham gia cách mạng ngay từ khi Đảng mới thành lập. Ngôi nhà của ông là nơi thành lập và hoạt động của chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của vùng phía Nam huyện Quảng Xương, Thanh Hóa, đã được công nhận là di tích cách mạng cấp tỉnh.

Nhiều tấm gương sáng của các bậc tiền bối trong dòng họ của tác giả mang tính khái quát, đại diện cho những đức tính tốt của các bậc tiên tổ trong các dòng họ ở Việt Nam. Ví dụ, truyền thống hiếu học, tính cần cù lao động, sống tiết kiệm, tích cóp tiền của xây dựng cơ nghiệp để lại cho con cháu. Hoặc lòng yêu nước, thương nòi thì ở dòng họ nào cũng có. Và ta có cảm giác, dường như số phận của dòng họ gắn liền với sự thăng trầm của đất nước.

Hướng về cội nguồn là tâm tưởng của người Việt từ bao đời nay. Điều này được thể hiện qua các ngày giỗ chạp. Giỗ ông bà, giỗ cha mẹ. Giỗ quốc Tổ Hùng Vương…  Cũng từ đó, các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được gìn giữ và phát huy từ đời này sang đời khác. Đó là truyền thống rất quý báu của dân tộc ta.

"Về nơi nguồn cội" là một thiên truyện ký, một truyện dài về dòng họ đã trải qua hơn một thế kỷ từ khi đất nước còn chìm đắm trong đêm dài nô lệ cho đến khi hoàn toàn được độc lập. Bao nhiêu vui buồn, bao nhiêu khổ hạnh và sung sướng tưới đẫm số phận các nhân vật, đem lại cho chúng ta những cảm xúc nhiều chiều. Tác phẩm, với các chi tiết, sự kiện phong phú, ngồn ngộn trải ra trước mắt người đọc, khiến cuốn sách, dù là ở thể hồi ký, nhưng đọc rất hấp dẫn, không khô khan, đơn điệu. Đã 70 năm trôi qua, nhưng nhiều sự kiện, sự việc vẫn rõ mồn một, hiển hiện trên từng trang sách. Hy vọng cuốn sách sẽ đem đến cho bạn đọc niềm tự hào về dòng họ, về ông cha với một tình yêu và lòng kính trọng dành cho các bậc tiên tổ.

24/5/2024

Trương Nam Hương

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Cây có cội, nước có nguồn

Đới Xuân Việt là một người đa tài. Ông vừa là hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, vừa là đạo diễn kiêm sáng tác kịch bản điện ảnh. Nhiều tác phẩm văn chương và điện ảnh của ông được công chúng yêu thích như tiểu thuyết Hoa đỗ quyên nở muộn, truyện thơ Truyền thuyết nàng tuyệt vời…, các bộ phim truyện nhựa Người đàn bà nghịch cát, Anh chỉ có mình em, Tình biển... Trong năm 2024 này, ông cộng tác cùng Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh cho ra bạn đọc tác phẩm mới: truyện kí Về nơi nguồn cội.

Về nơi nguồn cội, cái tên đã tự nó nói lên nội dung chủ đạo của cuốn sách. Có lẽ đây là cuốn sách về một dòng họ thuộc dạng “trâm anh thế phiệt” - với sự hiện diện của rất nhiều người con ưu tú họ Đái đất Quảng Xương xứ Thanh. Trong cuốn sách, Đới Xuân Việt không nói riêng về một cá nhân cụ thể. Ông chỉ đóng vai một mắt xích, một cầu nối để liên kết lại các nhân vật cùng các sự kiện mà những nhân vật và sự kiện đó được ông chọn lọc, sắp xếp cho phù hợp với tiến trình phát triển chung. Những gương mặt được ông đưa vào cuốn sách có người chỉ thoáng qua. Có người được nêu kĩ càng tỉ mỉ cả về nguồn gốc, công việc, mối quan hệ dòng họ và xã hội. Những đóng góp cụ thể và nổi bật. Ông tôn trọng sự kiện và để sự phát triển tự thân của nó nói điều cần nói.

Trong một dòng họ, tất nhiên không bao giờ có sự đồng đều. Có kẻ sang người hèn. Có kẻ tài giỏi, người yếm thế. Suy nghĩ, cách ứng nhân xử thế cũng mỗi người mỗi kiểu. Nhưng, như một đoàn người hành hương, có thể mỗi người tự chọn cho mình một cách đi, một lối đi riêng cho phù hợp, nhưng đích đến thì không thay đổi. Cái đích ấy chính là tồn tại và phù hợp với cuộc sống chung của cả một dân tộc. Nghĩa là những nhân vật mà Đới Xuân Việt đưa ra luôn có được sự hiện diện ở cả hai phía công dân và nhân vật văn học. Qua từng trang sách chúng ta sẽ bắt gặp những chân dung sống động về những người con ưu tú của họ Đái như giáo sư Đái Xuân Ninh - một trong những người sáng lập ra nhóm Lê Quý Đôn, nhà văn TchyA Đái Đức Tuấn - cha đẻ của các tác phẩm truyền kỳ, kinh dị nổi tiếng như Thần Hổ,  Kho vàng Sầm Sơn, Tình sơn nữ…, kĩ sư Đái Xuân Du, bác sĩ Đái Xuân Phương… cùng những dâu rể, con cháu nổi tiếng như Trung tướng Nguyễn Văn Cốc - người đã bắn rơi 9 máy bay Mỹ, lập kỳ tích trên bầu trời Việt Nam, nhà thơ Hữu Loan…

Có thể nói có cả một cây gia phả xum xuê cành lá và lấp lánh được trưng bày trong Về với nguồn cội. Bằng lối kể chân mộc của mình, Đới Xuân Việt đã mang lại cho độc giả những góc nhìn, thông tin thuộc dạng “bí mật” như cách sống và nếp sinh hoạt thường ngày của một gia đình giàu có, tầng lớp “địa chủ” ngày trước, điều mà lâu nay vốn có không ít những định kiến không hay. Trong Về với nguồn cội, ông đã chỉ ra cái anh địa chủ ở nước mình rốt cuộc cũng chỉ là anh nông dân trí thức, thông minh một chút, cơ chỉ tính toán một chút và lí giải “cách làm giàu” của họ thông qua việc miêu tả lối sống, làm việc của ông bà nội ngoại hai bên. Ông nội là người “tần tảo, biết lo toan và sống tiết kiệm… tiền dạy học, bốc thuốc chữa bệnh, ông tích cóp dồn lại mua đất cho thuê ruộng. Ở rìa sân trước cửa nhà luôn có các chum tương, chum nước mắm, vại cà… Rau làm thức ăn thì được hái trong vườn từ rau muống, rau lang, rau mồng tơi, rau dền, rau ngót, rau đay, bầu bí, mướp… mùa nào thức nấy. Với cách sống siêng năng, tiết kiệm, ông bà tôi tích lũy được tiền trở nên giàu có.” Ông bà ngoại “đã bỏ tiền chiêu mộ dân nghèo tứ xứ đến khẩn hoang, biến đất gan gà thành đất ruộng, lập nên Ấp Làng Tiền, bỏ tiền đầu tư làm kênh thủy lợi, dẫn nước nhập điền, cải tạo vùng đất hoang hóa sình lầy, đất gan gà sỏi đá thành đất ruộng… Cụ làm việc như một nông dân thực thụ, sống đức độ, giàu lòng nhân ái, thương người. Cụ là địa chủ duy nhất trong vùng cứu trợ dân nghèo trong nạn đói 1945. Đến những năm ngoài 70 tuổi, cụ vẫn còn xắn quần ra ruộng cày bừa, nhổ mạ, tát nước, không nề hà bất cứ công việc khó nhọc nào. Món ăn thường ưa thích không ngoài cá kình nấu canh, cá bống kho khô. Thường nhật cụ dùng xôi với muối đậu hoặc muối vừng.” Trong sách, Đới Xuân Việt cũng hé lộ với bạn đọc rằng ông ngoại minh là thầy dạy ông Ngô Đình Diệm (hồi còn ở Huế). Khi ông Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống có đến thăm ông và ngỏ ý nếu các con của ông, ai muốn ra làm việc nhà nước thì ông Diệm sẽ thu xếp. Nhưng ông cảm ơn mà rằng, các cậu của tôi nghề nghiệp đã ổn định. Một câu chuyện nói lên sự tự trọng và phẩm chất liêm khiết của một người trí thức.

Cứ thế, những chân dung những con người họ Đới qua những miêu tả của ông đã đồng hành cùng với những giai đoạn lịch sử của đất nước. Và ở giai đoạn nào, những người con họ Đới cũng có những đóng góp thiết thực, hữu ích cho đất nước, cho dân tộc. Họ đã góp phần mở ra một thời kì mới hạnh phúc, ấm no cho đất nước và thêm vào cho dòng tộc những trang vàng chói lọi.

Bằng ngôn ngữ của trần thuật dung dị cùng ánh sáng đèn chiếu của một đạo diễn điện ảnh, Đới Xuân Việt đã đem lại cho độc giả một cái nhìn vừa sâu sắc đậm chất văn học vừa như một cận cảnh trong một thước phim quay chậm làm rõ đến từng chi tiết nhỏ nhất về dòng họ mình. Muốn hiểu về một dòng sông hay một biển hồ hãy trước hết đến và hiểu về một giọt nước. Việc tìm hiểu kĩ về một dòng họ sẽ mang đến cái nhìn tổng quát về kết cấu đất nước. Cây có cội, nước có nguồn. Các bậc tiền nhân đã có công dựng nước, mở rộng bờ cõi, tạo dựng nên nước Việt Nam hào hùng và to đẹp như ngày hôm nay. Chế độ ta đã kế thừa và phát huy thành quả lịch sử của truyền thống để lại. Không có công lao dựng xây của các bậc tiền nhân thì không có nước Việt Nam như ngày nay. Do vậy, tôn trọng công lao của các bậc tiền nhân là phẩm giá của lớp người kế thừa lịch sử. Những gửi gắm, khẳng định trong cuốn sách chắc chắn sẽ nhận được sự đồng cảm sẻ chia từ độc giả.

24/5/2024

Kao Sơn

Nguồn: Văn nghệ số 19/2024

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Một thế giới rất ‘đời’ trong sáng tác của Tản Đà

Nhà thơ, nhà báo Tản Đà (SN 1889), quê làng Khê Ngoại, xã Sơn Đà, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây.

Trong các tác phẩm của nhà thơ, nhà báo Tản Đà, lãng mạn thoát ly là khuynh hướng chủ yếu, ông dẫn dắt người đọc bước vào cuộc phiêu lưu kỳ thú toàn là mộng, nhưng rất thực.

Lãng mạn thoát ly

Nhà thơ, nhà báo Tản Đà (SN 1889), quê làng Khê Ngoại, xã Sơn Đà, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây. Nguyên quán của ông ở làng Lủ – tức làng Kim Lũ, nay là phường Đại Kim (Hoàng Mai – Hà Nội).

Trong văn xuôi Tản Đà, sự lãng mạn thoát ly là khuynh hướng chủ yếu. Chưa cần nhìn sâu vào nội dung tác phẩm, ta chỉ cần lướt qua các tên sách: “Giấc mộng con”, “Khối tình”, “Trần ai tri kỉ”, “Tản Đà nhàn tưởng”… đã thấy ông như một người đa tình triền miên trong tình và mộng.

Yếu tố thoát ly trong văn xuôi Tản Đà một phần dựa trên nhân sinh quan yếm thế Lão Trang, trên quan niệm “thế sự ngược đại mộng”. Nhưng trái hẳn với tiền nhân, ông không đem cái quan niệm ấy ra làm một quan niệm triết lý, một thuyết hẳn.

Ông là một nhà ngụy thuyết (unsophiste). Khi ông nói đời là một giấc mộng, ông còn nhìn thấy mảnh giấy, đầu bút và suy nghĩ sáng suốt chứ không đắm chìm trong cõi mộng. Dường như ông đang cố tưởng rằng ông vẫn ở trong mộng, luôn tự muốn đánh lừa trí tưởng tượng của mình, sau đó đem cái quan niệm kia ra phụng sự cho một vài chí hướng.

Vốn xuất thân trong hàng ngũ phong kiến đã đến ngày mạt vận, sinh hoạt gần gũi với tầng lớp tiểu tư sản thành thị, bản thân đứng ngoài các cuộc đấu tranh của dân tộc, lại gặp nhiều éo le, thất bại, nên tư tưởng trở nên tiêu cực thoát ly, điều đó không có gì là lạ.

Tản Đà quan niệm đời là bể khổ nên tìm cách trốn đời, tìm đến văn xuôi, mặc sức để cho ngòi bút của mình tung hoành trang giấy thả hồn mình tự do bày tỏ tình cảm, suy nghĩ chứ không gò bó bởi những quan niệm cũ của các nhà Nho xưa về văn xuôi phải chuẩn mực.

Chán kiếp phong trần, ông muốn bốc mình theo cánh chim bằng Trang Tử mỗi lần sải cánh lướt chín vạn dặm để đưa mình vào những cõi trời kỳ ảo, mông lung. Tản Đà có yếu tố thoát ly trong tư tưởng, nhưng căn bản ông vẫn là nhà Nho có chủ trương nhập thế, cho nên Tản Đà chưa đi tới chủ nghĩa lãng mạn thoát ly tư sản.

Nói cách khác, Tản Đà bị giằng xé giữa chán đời và gánh lấy trách nhiệm với đời, giữa tư tưởng thoát ly và tư tưởng nhập thế. Trước tiên, ông tìm đến rượu: “Việc trần ai, ai tỉnh ai lo, say túy lúy nhỏ to đều bất kể. Trời đất nhỉ, cái say là sướng thế…” rồi kế đến rượu là thơ “Rượu say thơ lại khơi nguồn” (Ngày xuân thơ rượu).

Thực trong mộng

Chỉ có gặp người tri kỉ Tản Đà mới thổ lộ, bộc bạch những nỗi niềm riêng, đưa người đọc nhập vào giấc mộng của ông, dẫn dắt người đọc bước vào cuộc phiêu lưu kỳ thú toàn là mộng nhưng rất thực.

Ông xây dựng được một “cõi đời mới” đặt trong tương quan với “cõi đời cũ”. Từ đó bộc lộ quan điểm của mình bằng những cuộc nói chuyện giữa viên thống trưởng và những người khách mới đến. Phải chăng “cõi đời mới” mà Nho sĩ Tản Đà đặt ra là ước mơ ông hằng ao ước về một xã hội tốt đẹp.

Đằng sau giấc mộng ấy là thái độ phủ nhận thực tại. Cuộc sống ở “cõi đời mới” sao mà công bằng và văn minh đến vậy. Con người có thể sống trong một xã hội dân chủ, một xã hội hoàn toàn trong sạch: “Không có thiên tai, không có địa biến, không có sự trộm cướp, không có sự án tù, không có kiện cáo, không có sự buôn bán danh lợi, không có câu thế thái nhân tình. Ngoài sự lo ăn, lo dùng chỉ chuyên chú suy cầu nhã tiến hóa” (Giấc mộng con – Tiêu diêu du).

Thoát ly vào thế giới mộng tưởng, thế giới thần tiên huyền ảo thực chất là để ông tự an ủi mình, để đi tìm những người tri âm, tri kỉ vốn hiếm hoi trong đời sống trần tục.

Không dừng lại ở những cuộc gặp gỡ với các người đẹp như Dương Quý Phi, Tây Thi, Chiêu Quân… ở chốn thiên đình mà ông còn tiếp xúc với những anh hùng hào kiệt, các danh nhân, các nhà hiền triết phương Đông lẫn phương Tây: Nguyễn Trãi, Hàn Thuyên, Khổng Tử…

Cao điểm ở chủ nghĩa lãng mạn thoát ly là ở “Giấc mộng con II”, Tản Đà ngang dọc thích thẳng lên trời, nhưng thực ra Tản Đà lên trời không để trốn đời, để vui thú hưởng lạc ở cõi thiên đình, mà để giãi bày tâm sự thầm kín mà chàng thanh niên Nguyễn Khắc Hiếu ở cõi trần “muốn nói nhưng không nói được” nên phải mượn chuyện mộng mị để nói chuyện đời.

Ông mộng. Đời ông là một giấc mộng lớn, trong giấc mộng lớn ông lại có những giấc mộng con, có giấc mộng con thứ nhất rồi lại giấc mộng con thứ hai, thứ ba, ông mộng rồi lại mộng. Dường như ông chỉ sống vì mộng mà thôi.

Ngay những dòng hồi kí tự truyện của ông ta thấy được không khí chung của đời sống xã hội, của tâm lý xã hội nhiều lớp người trong những năm đầu thế kỉ XX. Tản Đà không chỉ thoát lên tiên mà ông còn tìm đến với thiên nhiên như một người bạn để tiêu sầu, qua đó để thấy được những nét đẹp của quê hương, đất nước trong chuyến đi từ Bắc vào Hà Tĩnh, đến Huế sau đó vào Nam Kỳ… đằng sau đó là những tâm sự thầm kín của nhà văn.

Như khi kể lại chuyện cúng ba đồng bạc làm chòi cho bọn trẻ lấy củi tránh mưa, ông viết: “Cơn vui đồng chủng đồng bào, tưởng như ngư phủ – đào nguyên chưa hẳn có thú vui như thế vậy. Tan cuộc vui đó rồi đứng dậy từ biệt. Đầy thuyền tống tiễn con cháu Tiên Rồng, hả cho ai tấm lòng xã hội đã bao lâu, buồn cho ai vô trạng với quốc dân, chỉ đoái trông con cháu Rồng Tiên gió mưa trên mặt nước” [40.623].

Hoặc như khi viết về Thuận An: “Trước kia hai nghìn quân đóng giữ Thuận An, bây giờ một tên lính trấn hải. Thời đại suy đi, giang sơn biến cải, thiên công đa sự, nhân sự vô thường, người du quan và khách văn chương sao khỏi tình tự vấn vương vậy” [40.627] (Trích trong tác phẩm Giấc mộng lớn).

Trước đây, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng bất mãn, cũng thoát ly, trốn vào thiên nhiên làm bạn với trăng gió, cỏ cây nhưng tâm hồn ông hầu như đã đi vào chỗ thanh thản, tiêu sái. Tác phong đã có cái gì xa rời mọi thứ dục vọng nặng nề, mà gần cái “tiên phong đạo cốt” của kẻ thoát trần.

Tản Đà sống trong thời kì quy luật kinh tế tư bản chủ nghĩa chi phối mãnh liệt sinh hoạt của mọi người, chủ nghĩa cá nhân công khai bộc lộ, cho nên nội dung thoát ly của Tản Đà cũng in dấu vết thời đại nhuốm màu sắc vật chất chủ nghĩa.

28/5/2024

Đặng Thị Hoa

Nguồn: Báo Giáo Dục và Thời Đại

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Đọc Người xa lạ của Albert Camus bằng chiếc gương soi của chủ nghĩa hiện sinh

Giàu Dương Nếu triết học cổ điển đề cao bản chất và dấn thân vào việc tìm kiếm những định nghĩa về bản chất, thì trào lưu hiện sinh tập trung vào sự tồn tại của bản thể, lấy đó làm điểm khởi nguyên cho mọi sự phóng chiếu vào thực tại khách quan. Người xa lạ (L’Étranger) của Albert Camus ra đời như một dấu ấn sâu sắc của triết thuyết hiện sinh ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XX. Là một triết gia, nhà văn tài hoa, Camus đã mở ra những cánh cửa để người đọc bước vào thế giới của “kẻ xa lạ” Meursault – một người đàn ông tự mình chọn lấy thế đứng bên lề của xã hội. Hành trình của Meursault không đi tìm một kết luận duy nhất của sự tồn tại mà chỉ trình bày sự tồn tại như nó vốn là.

Tác phẩm đã khắc họa một con người triết học đơn độc, với những chiêm nghiệm về sự sống và cái chết, với nỗi chơi vơi trong sự hiện hữu của chính mình, khắc hoải về bản ngã và ái ngại về tha nhân. Đọc Người xa lạ bằng chiếc gương soi của chủ nghĩa hiện sinh để lắng nghe lời thỏ thẻ của cuộc đời phi lý, thấu hiểu về cõi người và để thấy rằng Camus đã tạo ra một thế giới mà trong đó, tồn tại không chỉ là một sự thật tối thượng mà còn là một vấn đề đầy nghệ thuật và triết lý.

Cuộc đời phi lý: Chấp nhận hay phản kháng?

“To be, or not to be?” (W. Shakespeare) – “Tồn tại hay không tồn tại?” là câu hỏi cứ bảng lảng, rập rờn trong từng câu chữ, từng trang viết của Camus. Tác phẩm của ông lột tả chân thật đến rợn ngợp trải nghiệm của những cơn khủng hoảng thân phận của con người trong một cuộc đời phi lý, một xã hội phi lý. Trong tình thế đó, sự từ chối từ cộng đồng hay từ chối chấp nhận chính mình chính là sự triệt tiêu bản thể, tạo nên những thổn thức hiện sinh. Với “cái chết của bản thể”, con người trở thành thứ trùng khít với cái biểu nghĩa (signifier), như thể ký hiệu cho một sinh thể sống vì đã bị tước bỏ hoàn toàn những giá trị người. Bấy giờ, cái chết tự nhiên đối với họ như là đoạn kết tất yếu, là một sự giải thoát khỏi bi kịch của sự vong thân, vong bản. Cuộc kiếm tìm bản thể và khẳng định sự tồn tại, khẳng định quyền được sống và mưu cầu hạnh phúc trong Người xa lạ được kể với một thứ văn xuôi rõ ràng, thoát thai từ nhiều chiều kích của ngôn ngữ, được rèn giũa tỉ mẩn đến độ không còn thấy dấu vết của sự dụng công nghệ thuật nào.

Chủ nghĩa phi lý (absurdism, đối lập với rationalism – chủ nghĩa duy lý) là một đặc trưng của chủ nghĩa hiện sinh. Các nhà hiện sinh coi mọi tồn tại đều là phi lý. Nếu Soren Kierkegaard cho rằng sự phi lý của một số sự thật tôn giáo (religious truths) đã ngăn cản chúng ta tới gần Thượng Đế, Jean-Paul Sartre nhận thức sự phi lý trong các kinh nghiệm cá nhân (individual experiences) thì Albert Camus được nhắc đến với sự “nghịch lý của phi lý” (the paradox of the absurd). Sự hiện diện của con người, ngay từ bản chất, được coi là một hiện tượng phi lý. Mỗi cá nhân chỉ đơn thuần được “ném” vào thế giới, tồn tại tại thời điểm và không gian cụ thể này, mà không có một ý định rõ ràng hay lý do chính xác cho việc đó.

 Đối với Mersault, bản thân xã hội, cuộc đời và những hệ thống của nó không hoàn toàn phi lý. Ngay từ đầu, nhân vật vẫn là kẻ tuân thủ những quy ước cộng đồng khi tham gia vào vòng quay lao động, sinh hoạt, tang ma, ái tình,…, thậm chí đến lúc bị tống giam, kết án, anh ta vẫn biết rõ: mình mang tội. Là nghịch lý của phi lý, nên chính trong sự bình thường ấy, Meursault được khắc họa là một người thậm chí dửng dưng trước tin mẹ của mình qua đời; đi tắm biển với người tình rồi “ngẫu nhiên” phạm tội giết người. Một vụ hạ sát hoàn toàn vô nghĩa, không có động cơ cụ thể. “Bị kết án giết người nhưng xử tử vì tội không khóc trong tang lễ của mẹ thì quan trọng quái gì?” Ngay cả khi đối diện với án tử, Meursault cũng chỉ mong có thật nhiều người tới xem buổi hành hình và chửi rủa.

“… Mẹ đã luôn nghĩ thế và nhắc đi nhắc lại rằng, rốt cục người ta cũng phải thích nghi với mọi thứ” – lời của mẹ Mersault được anh nhớ lại trong thời khắc đã phải ở trong tù như một sự chấp nhận thực tại, chấp nhận sự phi lý của thực tại. Mọi sự phủ định và phản kháng của nhân vật chính, cũng như mọi tội lỗi của anh ta, bắt nguồn từ việc chính anh đã từ chối tham gia vào “trò chơi cuộc đời”. Trò chơi đầy nghiệt ngã và giả dối đó cần có luật lệ để vận hành, nhưng Meursault lại không thể hiểu được chúng. Hoặc có thể anh hiểu, nhưng lòng yêu sự sống chân thật đến tuyệt vọng, chán ngán của anh không thể hoà nhập vào. Với anh, quyền lựa chọn không chỉ riêng ý thức mà còn là một sức mạnh của vô thức, một nguồn động lực mạnh mẽ ẩn tàng. Trong cuộc vẫy vùng khỏi vòng xoáy phi lý của cuộc đời và con người, Mersault lạc lõng và cô đơn ngay giữa cộng đồng người quanh anh. Sự cô đơn của một thân thể trần trụi với nỗi khắc khoải về sự hiện hữu nguyên khôi của chính mình.

Chọn lựa và tự do

Trong mọi lựa chọn của đời mình, Meursault luôn trung thành với quyền chọn lựa cá nhân. Với anh, mọi sự áp đặt từ bên ngoài trở nên không có ý nghĩa, thậm chí bị phủ nhận bởi sự hoài nghi sâu sắc về mục đích của chúng. Meursault cho rằng chân lý có thể chỉ thuộc về cá nhân, được xây dựng từ kinh nghiệm thực tế, không chỉ là các quy tắc của một tổ chức hay chế độ. Anh chính là một con người tự do tuyệt đối với những lựa chọn của riêng mình.

Có thể nói, sự hoài nghi, chối từ của Meursault đối với những điều được xem là lớn lao của con người: hôn nhân, đạo đức, pháp luật… là biểu hiện cho ý niệm trở thành một bản thể tự do, một khát khao giải phóng con người khỏi những rào luật và định kiến. Hành động phạm tội của Meursault không chỉ đơn thuần là biểu thị tội ác. Bên cạnh sự phản kháng, đó còn là lựa chọn của một hữu thể nhỏ nhoi chống chọi lại với “ách phi lý” của cuộc đời.

Meursault không có đức tin, hoài nghi con người và từ chối cộng đồng. “Ngày hôm nay thế là xong hết rồi, anh phản Chúa ạ”. Anh duy chỉ tin vào tự do và lựa chọn của riêng mình. Thế nên suy cho cùng, khi bị buộc mất đi tự do vì tội lỗi, anh đã nhận ra hình phạt của mình, cái chết đã hiện rõ và bản án đã ở ngay trước anh,, trước cả khi bị kết án bởi phiên tòa. “Tôi từng đọc nhiều rằng, ở trong tù người ta rốt cục sẽ mất đi khái niệm thời gian. Nhưng chuyện đó chẳng liên quan lắm đến tôi. Tôi từng không hiểu làm sao một ngày lại có thể vừa ngắn vừa dài. Dài hẳn nhiên để sống, nhưng đằng đẵng tới độ ngày nọ tràn lên ngày kia thì chúng đã mất đi ý nghĩa. Tôi chỉ còn khái niệm về ngày hôm qua và ngày mai nữa thôi”.

Tự do theo triết lý hiện sinh được hiểu là khả năng lựa chọn chủ quan của cá nhân, không bị ràng buộc bởi bất kỳ quy định nào từ bên ngoài. Đây là sự tự do tuyệt đối, không bị chi phối bởi phong tục, tập quán, giá trị đạo đức, hay các quy tắc xã hội. Trong bối cảnh triết lý hiện sinh vô thần, không có Thượng đế để định hình hành vi hoặc quy định đạo đức con người, tạo điều kiện cho sự tự do tuyệt đối trong mọi tình huống. Meursault là một con người như thế. Anh không đặt bất kỳ nguyên tắc nào lên quyết định của mình. Sự suy ngẫm của Meursault về tự do không phụ thuộc vào những giá trị ngoại vi, mà thay vào đó, anh tìm kiếm sự tự do từ bên trong, gắn chặt với những lo âu, trăn trở của bản thể.

Quan điểm tự do theo triết lý hiện sinh là quan điểm tự do cá nhân cực đoan, không bị ảnh hưởng bởi người khác hay các yếu tố xã hội. Những lựa chọn gắn với tự do của Meursault thường đi kèm với sự cô đơn và trăn trở về ý nghĩa của cuộc sống. Anh không chấp nhận một cái nhìn lạc quan, mà thay vào đó, thường xuyên nhìn nhận thế giới xung quanh một cách bi quan, từ chối ý tưởng về hạnh phúc và một thực tại ngập tràn ý niệm vô nghĩa, trống rỗng.

Memento mori[1] – hãy nhớ mi sẽ chết!

“Hình như tôi đã hiểu ra vì sao đến cuối đời, mẹ lại kiếm cho mình một “bạn đời”, vì sao mẹ lại muốn khởi sự tất cả một lần nữa”… Tôi chỉ còn mong mỏi có thật nhiều khán giả tới xem buổi hành hình và chửi rủa, để tôi không cảm thấy lẻ loi, để mọi điều trọn vẹn”. Mỗi một thời khắc hiện hữu, mỗi một sát na ta sống đều xứng đáng được trân trọng. Chính vì cuộc đời đã phi lý ngay từ khi con người được sinh ra, nên thay vì buông xuôi nó, chống cự nó, ta chấp nhận và “hòa giải” với nó. Những chiêm nghiệm về cái chết trong Người xa lạ cho người đọc cái nhìn vô cùng chân thật về một cõi tha nhân hỗn độn và bất khả tri. Vậy, liệu cuộc sống này có ý nghĩa khi chúng ta bị bao phủ bởi sự phi lý? Meursault đã trải qua những khoảnh khắc hoàn toàn lạc lõng, ngay giữa những con người (tưởng chừng là thân thuộc), trên mảnh đất quen thuộc – quê hương của mình. Khi chấp nhận cái chết như một phần không thể tránh khỏi của số phận, những suy tư của anh ta cho người đọc cảm thức về sự tái sinh bởi cuộc quay về với bản thể sơ nguyên nhất của con người. Dường như tồn tại không gì khác hơn là khả năng quay trở về với bản ngã và khởi nên ý niệm về một thế giới nguyên sơ.

Meursault không chối bỏ cái chết, mà chấp nhận nó như một điều không thể tránh khỏi và nhìn nhận nó một cách hết sức bình thản. Sự nhận thức về cái chết đã dẫn Meursault vượt lên trên xã hội nhưng cũng khiến anh ta trở nên xa lạ với xã hội. Chính trong những thời khắc ấy, Meursault cũng nhận ra sự lạnh lùng của thế giới. Anh ta thấu hiểu rằng, cũng giống như bản thân mình, thế giới này không tránh được sự phán xét, không kiểm soát được những biến cố của cuộc sống con người. Tuy vậy, Meursault không chìm đắm trong tuyệt vọng với số phận của mình. Điều cuối cùng anh ta trải nghiệm “Trước cái đêm đầy sao và những dấu hiệu khác thường, lần đầu tiên tôi mở lòng mình trước sự vô tình êm ái của thế giới. Và, cảm thấy thế giới cũng giống như tôi, như anh em với tôi, tôi thấy tôi đã hạnh phúc và vẫn đang hạnh phúc.”

Nhân vật tự đặt mình nằm ngoài những vòng tròn của tha nhân, những cuộc đối thoại đầy nhiệt thành của tập thể. Chọn lựa ấy, khiến anh cũng trở thành người vắng mặt trong chính phiên tòa xử tội mình. Cái phi lý, một lần nữa, lại dấy lên bi kịch của tình trạng mất tiếng nói trầm trọng khi con người đã trở nên xa lạ ngay bên cạnh đồng loại. “Theo một cách nào đó thì có vẻ như người ta đang xử lý vụ này mà không có sự tham gia của tôi. […] Song nghĩ cho kĩ, tôi chẳng có gì để nói cả”. Một bản án vắng mặt dành cho một cuộc đời đã tự phân tách mình khỏi một cộng đồng mà anh ta không còn đức tin, không còn cảm hứng và hoàn toàn mất khả năng đối thoại. Phải chăng ấy cũng chính là cái chết, một cái cúi đầu truy điệu cho sự vong bản của một con người.

“Trên đời chỉ có những kẻ được hưởng đặc quyền. Những kẻ khác, một ngày nào đó cũng sẽ bị kết án”. Văn chương Camus vì thế là một trò chơi, một cái cười khẩy, một sự phản kháng, chống trả với những khắc nghiệt của cõi trần ai bằng một thế giới hoang tưởng ngập tràn ý niệm về sự phi lý. Mỗi nhân vật là một âm bản, mỗi trang viết là một lát thái ngang cuộc đời, mỗi câu thoại là một lần nhân vật được mổ xẻ, phơi ra những chấn thương, đau đớn đến kiệt cùng của một kiếp người. Vậy phải chăng đi đến tận cùng cố niệm của sự hiện hữu là một cách buông bỏ triệt để, chữa lành sâu gốc cho những hữu thể chằng chéo những vết xước của cuộc sinh tồn? Hay là một cái cúi đầu truy điệu những bản thể đã vong thân ở phía xa xăm, nơi không còn nhìn thấy nữa?

Song, bạn đọc nên chuẩn bị cho mình một tâm thế vững vàng và một tinh thần tỉnh táo khi đến với vũ trụ của Người xa lạ, nghĩa là không để những phi lý, những ảm đạm của tội lỗi và cái chết trùm lấy tâm hồn. Bởi lẽ bên cạnh phơi lộ lương tâm của con người, đặt sự tồn tại của con người rọi dưới ánh sáng của triết học, chủ nghĩa hiện sinh cũng rất dễ dẫn đến những “con đường lầm lạc”. Chính vì vậy, độc giả cần nâng tầm đón nhận, trang bị cho mình những “màng lọc” để chắt chiu lấy tinh hoa của một tác phẩm vừa gây sững sờ, kinh ngạc, vừa xoa dịu và nâng đỡ con người.

Chú thích:

[1] Memento mori là một câu thành ngữ, tiếng Latin có nghĩa là “Hãy nhớ rằng ngươi sẽ phải chết”, là một lời nhắc nhở mang tính nghệ thuật hoặc biểu tượng về việc không thể tránh khỏi cái chết. Thời La Mã cổ đại, câu này được nói trong buổi lễ long trọng đón những người chiến thắng trở về. Ngồi sau lưng vị tướng thắng trận trở về là một nô lệ có nhiệm vụ thường xuyên nhắc cho người chiến thắng biết rằng dù vinh quang có lên đến tận mây xanh thì cũng đừng quên rằng anh là con người và anh sẽ phải chết.

29/5/2024

Giàu Dương

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Trần Đàm đi tìm một bản ngã

Đã ngoài tám mươi mà mỗi lần theo ông, cánh hậu sinh chúng tôi cách ông cả giáp vẫn thấy hụt hơi. Đúng là không nói ngoa cả khi leo dốc, đường trường lẫn khi viết lách, chơi bời. Cuối năm, cuốn lý luận phê bình, đầu năm cuốn thơ. Thoắt vừa bản Lác lại đã thấy ông tíu tít với lúa vàng, lúa xanh, với ruộng bậc thang ở Phù Luông. Cứ thế, ngắm ảnh ông chụp, đọc sách ông viết. Hoa cả mắt. Trời phú cho ông mãnh lực, ông lướt đi tất cả, không sợ sệt, không do dự và vì thế đích cuối cùng luôn có mặt ông.

Đi nhiều nơi, ngắm nhiều cảnh, cảm xúc cứ thế thấm vào ông tự nhiên, đa sắc... để rồi khi ông nâng ống kính, ánh sáng cứ thế ùa vào. Khi ông cầm lấy bút, con chữ cứ thế sinh sôi, tha hồ ông sắp đặt, cảm tác. Thơ ông bắt đầu hình thành cách nói, một bản ngã. Cảm hơn, đa nghĩa hơn:

Ba lần ta đến Tủa Chùa

Sương giăng kín bản, gió lùa quắt non.

(Sương giăng Tủa Chùa)

Hay:

Bếp lửa đỏ cha ngồi hơ tuổi tác

Tiếng khèn xa vọng lại bồn chồn

(Bản Lát)

-  Sương giăng kín bản, gió lùa quắt non. Có nói gì đến rét mướt đâu mà thấy buốt tê người.

Cha ngồi hơ tuổi tác. Cần gì phải nhiều lời, nhiều chữ về cha đâu mà vẫn thấy cuộc đời cha mồn một.

Thơ là vậy đó. Kiệm lời, chỉ cảm thôi.

Tìm cách nói cho thơ mình. Nói một cách khác là đi tìm một giọng điệu riêng là khao khát của tất cả những ai cầm bút muốn thành thi sỹ. Nó vắt kiệt trí não, sức lực nếu anh muốn đi đến đích. Nó không có chỗ dành cho sự lười biếng, càng không có chỗ cho những giấc mơ hỗn loạn. Người đọc sẽ quên anh sau những ồn ào, hoan hỉ, trống mở cờ rong. Trần Đàm thoắt nhìn có vẻ như tất cả sự lích kích của ông chỉ là cớ đi tìm thú để chơi. Nhưng gần ông một chút ta thấy ông thức khuya dậy sớm, ta thấy ông tất bật với thời gian. Nhọc nhằn với con chữ.

Thế thì chơi nỗi gì? Hình như trong ông không có ý nghĩ về tuổi tác, thay vào đó là suy tư, dằn vặt: Ta làm được điều gì, khẳng định được chân lý nào giữa thế gian xô bồ, hư thực:

Đêm dài thao thức bình minh

Tiếng con chim lạc một mình gọi khuya

Em mang câu lục tìm chồng

Cứ mong câu bát thuận vòng chúng sinh

 (Lục bát tìm nhau)

Tiếng con chim lạc một mình gọi khuya - Chả phải là hình ảnh ông đó ư! 

Cái sự khác người, khác lẽ tự nhiên, cứ băm ông ra ngấu ông vào con chữ. Tìm đến một bản ngã, làm ông cặm cụi, làm ông thất thường, ăn ngủ không yên. Người đời đôi khi nhìn cảnh đó thường buột miệng: - Lẩn thẩn mất rồi!

Ai hiểu được cho ông nỗi lòng. Ai sẻ chia được cho ông niềm đam mê trời phú. “Tìm được câu lục rồi, lại mơ về câu bát”. Cái lý trời đày cứ vần vũ, tiếp nối mà hành hạ thân xác, mà khúc khích cười nhạo chân lý chúng sinh.

Tìm cho mình một cách nói là tạo cho mình một chân dung. Để rồi, dù anh đứng ở đâu, ngồi ở đâu, người đọc vẫn nhận ra anh không lẫn với bóng dáng người khác.

Sự khác lạ dẫn đến vẻ đẹp, dẫn đến thẩm mỹ. Đó là cách rạch đá tìm ngọc, cách tiếp cận chân lý từ những điều vô lý, làm cho trí tưởng tượng bay lên, làm cho chân trời trở nên vô định. Thơ phải đi vào ngõ ngách sâu thẳm ấy mà phát lộ:

Trăng se giọt mật

Rỏ ngọt mắt lá

Tiếng đêm êm ả

Bỗng thành lời ru.

(Chiếc lá)

Bốn câu thơ như hiện lên cùng một chớp mắt, thi sĩ cùng một lúc cảm nhận được thế giới xung quanh bằng tất cả giác quan thiên bẩm của mình - Thị giác, khứu giác, vị giác,... Và cả con tim nữa. Một thế giới đa cảm, óng ánh mang hơi thở của nhân thế.

Bài Chiều xuân Na Mèo, Trần Đàm đã tìm được cho mình một cách nói, một bản ngã mà ở đó câu chữ mang đậm tư duy thơ:

Con suối nhớ mây gõ vào lèn đá

Gõ vào lời khặp bếp lửa đông người.

Thiên nhiên sống động mang hồn vía con người. Con người lại chạm vào thiên nhiên để nhận về cảm xúc, để nhận về lửa ấm. Thơ anh nhiều câu vừa hiện sinh vừa mơ hồ đọc lên thấy nhớ, thấy mông lung:

Dây trầu vấn vít buồng cau

Mình ơi tận hưởng hết màu tháng Ba

(Tháng ba).

Tôi chả biết tháng Ba có màu gì, theo ông cứ mông lung vậy. Nhưng tôi biết cái dây trầu kia, cái buồng cau nọ đang vấn vít, quấn quýt nhau, ắt hẳn cái màu tháng ba không thể xám được, không thể mịt mù tăm tối được. Cái màu hạnh phúc ấy tha hồ cho trí tưởng tượng thêu dệt, vẽ vời. Ai bảo đó không phải một câu thơ hay! Ai bảo đó không phải là cách nói thơ giàu cảm xúc.

Gần đây, thơ Trần Đàm đã dày lên phần cảm, ông đã biết cách gạn bớt đi phần vỏ để phần lõi có cơ tạo vòng. Ta không khó tìm ra nhưng câu hay khi đọc thơ ông. Đó là kết quả sự mất ngủ của lửa. Nhiều lúc tôi nhủ thầm, động viên - Cố lên anh! Nhưng lại nghĩ mình ác quá. Phận trời đã đày rồi, thêm người đày nữa có làm ông quá sức chăng!

Nhưng mà, có gì đó cứ mông lung trong tôi như thơ ông vậy. Nhỡ mà ông thôi không viết nữa, lấy đâu ra đêm dài trên bàn phím với những chộn rộn, miên man:

Gió xuân thắt đáy lưng tròn

Cánh buồm con, cánh buồm cong cửa trời.

Đây nữa:

Những tia nắng

Thả thang xuống cánh đồng

Và đây nữa:

Chợ phiên tuần có một lần

Một lưng củi với một thung gió đầy

Có tiếng khèn núi vọng lại mơ hồ...

Có tiếng người chộn rộn nữa!

Không đó là tiếng con tim thổn thức:

Kiếp người chẳng phút thảnh thơi

Chẳng ai bắt, chẳng ai đòi dấn thân

Mấy câu lục bát lỗi vần

Ứa ra từ những nợ nần mộng mơ

Và thế là tôi lại thao thức với ông đến sáng.

29/5/2024

Lê Quang Sinh

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

 

Lê Khánh Mai và hành trình nhà thơ nữ bứt phá

Nhà thơ, nhà văn Lê Khánh Mai đến nay (năm 2024) đã ấn hành 12 đầu sách, trong đó có 7 tập thơ, 1 tiểu thuyết, 1 tập truyện ngắn, 1 chuyên luận văn học, 1 tập tiểu luận phê bình văn học, 1 tập tản văn và tuỳ bút. Sức sáng tạo ở một tác giả nữ như vậy là liên tục và rất mạnh mẽ. Thơ là thể loại chính của ngòi bút Lê Khánh Mai nhưng văn xuôi và lý luận, phê bình cũng đạt nhiều thành tựu. Tất cả làm nên tên tuổi của một nhà thơ, nhà văn tiêu biểu của tỉnh Khánh Hoà và của văn học Việt Nam hiện đại.

“Chọn nghề văn, được đào tạo nghề văn, suốt đời chỉ làm duy nhất nghề văn, tôi thấm thía đến tận cùng nỗi khổ ải và niềm hạnh phúc của nghề này. Yêu con người, trách nhiệm cao, lao động kiệt lực và dấn thân như bị “giời đày” là phẩm chất tự thân của nhà văn. Đôi khi tôi cảm nhận một sức mạnh quyền năng vô hình nào đó mách bảo và điều khiển ngòi bút của mình như là định mệnh.” (Lê Khánh Mai – Suy nghĩ về nghề văn)(1)

Qua phát biểu của tác giả, có thể nhận thấy quan niệm và quá trình sáng tạo nghiêm cẩn của một ngòi bút suốt đời sống và cống hiến cho văn chương nói chung, thơ ca nói riêng. Chính vì thế, luôn cách tân thơ, khát vọng bứt phá không chỉ ở cách lập ngôn mà quan trọng hơn, nó xuyên thấm trong từng tác phẩm, từng câu chữ của nhà thơ Lê Khánh Mai.

Thơ Lê Khánh Mai và quan niệm nghệ thuật

Nhà thơ Lê Khánh Mai từng viết: “Tôi có thói quen, khi đọc bất kỳ tập thơ nào, tôi tìm những câu thơ chứa đựng chỉ dấu về quan niệm nghệ thuật của tác giả, vì tin đó là chiếc chìa khoá có thể mở ra bí mật đằng sau những con chữ.”(2)

Đó là kinh nghiệm tiếp cận thơ xuất phát từ thực tiễn sáng tạo của một cây bút đầy tràn năng lượng và năng lực. Mở tập thơ nào của Lê Khánh Mai, chúng ta cũng có thể gặp được “chiếc chìa khoá” ấy để mở ra một thế giới nghệ thuật tầng tầng những ẩn ngôn về tình yêu thi ca, tình yêu con người và sự sống. Rất nhiều những thi phẩm được Lê Khánh Mai ký thác một cách nghệ thuật quan niệm của mình về thơ, nhà thơ, yêu cầu sáng tạo, như: Nhà thơ nữ bứt phá, Khát, Ơi người!,

Nhà thơ, Tôi và thơ, Tâm sự thơ ca, Uống rượu với bạn thơ Đăk lăk, Hát một mình trong sương mù, Xanh, Em yêu Anh, Không điểm tựa, Tri kỷ, Vũ trụ đơn côi, Sống, Miền hoang tưởng,…

Thơ là tiếng nói trữ tình. Tình cảm, cảm xúc trong thơ không nên hiểu đơn giản chỉ là tâm, tình của riêng nhà thơ, mặc dù nếu không có sự rung động, rung cảm mãnh liệt thì nhà thơ không thể làm thơ. Thơ là tiếng lòng của một người mà ngân rung cho nỗi niềm bao người. Với những nhà thơ lớn, những vấn đề được đề cập trong tác phẩm của họ tuy xuất phát từ cảm quan cá nhân nhưng không dừng lại ở chuyện cá nhân. Khi nhà thơ cất tiếng, thi tứ nảy sinh từ thực tiễn sống của chính nhà thơ nhưng đích đến lại là độ phổ quát. Vì thế, những ý thơ, tiếng thơ giàu giá trị có thể vượt qua được quy luật thời gian nghiệt ngã:

đường đời thăm thẳm

thơ dìu nỗi khổ đau

trong vô lượng thời gian

(Hát một mình trong sương mù)

Là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, thơ cũng hoá bất định, thơ là cả một thế giới diệu kỳ, huyền ảo, bất định giữa thực và ảo, thực và mơ, thực và mộng:

thơ em chao giữa hai miền hư thực

cơn mơ lành cũng hoá chênh vênh

(Khát)

Bản chất, cốt cách của thi sĩ vốn rất nhạy cảm, nhạy cảm đến đa cảm. Thi sĩ vốn giàu tình yêu thương, lòng trắc ẩn vì thế mà đa tình và cũng đa đoan:

thương sao cái kiếp đa tình

lấy hư ảo để ru mình người ơi

(Ơi người!)

Trong sáng tạo và có khi cả trong đời, người làm thơ thường trực một cảm giác cô đơn. Nói cách khác, với nghệ sĩ, cô đơn vừa là trạng thái có thực vừa là yêu cầu để sáng tạo (trạng thái cần phải có). Chỉ một mình nhà thơ mới có thể hoá giải nổi trạng thái cô đơn ấy bằng cách tạo tác. Quá trình sáng tạo chân chính thực sự không hề dễ dàng:

Thánh giá của riêng mình

Mang trong tim khó nhọc

Cuộc hành trình đơn độc

La Mã vời vợi xa.

(Nhà thơ)

Không chấp nhận lao động chữ nghĩa dễ dãi, mỗi bài thơ là cả một hành

trình dài và nhọc. Muốn có được nó, nhà thơ đã phải lao tâm khổ tứ như vắt kiệt mình:

Mỗi câu thơ mang bóng dáng nụ cười

hay nước mắt buồn đau số phận

tôi đã đổi bằng bao cay đắng

có khi như vắt kiệt chính mình

(Tâm sự thơ ca)

Nhà thơ Lê Khánh Mai cũng cho rằng thơ có sức mạnh của một chỗ dựa, là điểm tựa để con người vượt qua yếu đuối, thất vọng, thất bại. Thơ là sức mạnh tinh thần có thể nâng đỡ, vực dậy con người từ trong đau khổ, mất mát, gục ngã:

Tôi đói

thơ không thể là cơm ăn

Tôi khát

thơ không biến thành nước uống

Tôi nợ nần

thơ không đem cho tiền bạc

Nhưng khi tôi rơi xuống hố thẳm khổ đau

thơ vực tôi đứng dậy.

(Tôi và thơ)

Để thơ phát huy được chức năng nâng đỡ con người, nhà thơ luôn tìm tòi, bứt phá để mỗi tứ thơ thực sự là một đóng góp mới mẻ, chí ít cũng không phải là một cái bóng, mà tác giả gọi là “dị bản”, dù là cái bóng của chính mình:

Em muốn xoá bóng mình – dị bản

để chỉ còn đích thực em thôi

(Dị bản)

Để đạt được sự bứt phá liên tục trên hành trình sáng tạo, nhà thơ Lê Khánh Mai luôn cảm nhận có tiếng gọi khẩn thiết từ trong sâu thẳm tâm hồn mình: phải viết khác, muốn viết khác phải sống khác. Không thể làm thơ trong không gian, công việc quá quen thuộc đến đơn điệu, nhàm chán, nhà thơ chọn con đường tự trải nghiệm để sống sâu với cuộc đời và con người:

Người khuyên thơ nên bám vào đời sống

bạn chê thơ ta cũ rồi

ta cũng chán điệu thơ đều chằn chặn, hiền lành, ướt đẫm

vang tự hồn sâu phải sống khác thôi

không sống khác không thể nào viết được

mơ hồ tiếng gọi phía chân trời

nhưng tiếng gọi từ máu là rất thật

(Nhà thơ nữ bứt phá)

Những câu thơ chứa đựng quan niệm về thơ của nhà thơ Lê Khánh Mai không khác nào những tấm chân dung nổi bật trên bức tường nghệ thuật phong phú những mảng màu sắc, hình ảnh, đường nét của tác giả. Mà nói như nhà thơ Lê Khánh Mai, đó chính là những chỉ dấu quan trọng đường lối khám phá thế giới nghệ thuật của chính tác giả – một nhà thơ nữ tài hoa nhưng không ngừng bứt phá trên hành trình sáng tạo. 

Thế giới thơ Lê Khánh Mai và một số chỉ dấu bứt phá

Có thể nhận thấy, thơ Lê Khánh Mai viết nhiều, rất nhiều về người nữ, hình thành một thế giới hình tượng người đàn bà trong thơ: người đàn bà bán rau (Người đàn bà bán rau), người đàn gom rác (Người đàn bà gom rác), người đàn bà nội trợ (Người đàn bà đi chợ), người đàn bà goá bụa cô đơn (Chiều ơi!, Cơn giông lúc nửa đêm, Ở cuối con đường, Giãi bày, Khoảng cách này đâu phải vĩnh hằng, Gió,…), nhiều nhất và quan trọng nhất là người đàn bà làm thơ (Bạn gái, Cho một người đàn bà, Người đàn bà im lặng như cát, Nhà thơ nữ bứt phá, Người đàn bà đi tìm tiếng chuông,…).

Điểm chung của hình tượng người đàn bà trong thơ Lê Khánh Mai là họ luôn đối diện với định kiến của xã hội đối với người nữ, đặc biệt là người nữ làm thơ – những cá nhân-cá thể tinh hoa:

Nơi vực tối của thân phận, em nhận rõ bất công tạo hoá

và nhẫn nại cưu mang nỗi mặc cảm không lời

nắng mê muội ngã vào hoa để lên hương sắc

gió đa mang hôn lá biếc nhiệt cuồng

trách chi người không nhận ra em

phía khuất chìm hồn đau ngọc nát

(Cho một người đàn bà)

Nhà thơ Lê Khánh Mai thường chìm đắm suy tư về phận, thân phận người nữ. Nhiều lần, nhà thơ dùng từ “phận”, “thân phận”, “bổn phận”, có khi gọi thẳng ra là “cam phận” (Kiếp vọng phu, Bổn phận, Đoản ca về nỗi cam phận):

Như thân cây bị đốn dần dần

không gục ngã, sẹo dày lên chai ráp

còn một chút phôi xanh

dịu mềm ẩn trong khô xác

bí mật dìu nỗi cam phận đi trên thế gian

(Đoản ca về nỗi cam phận)

Với tư cách là người trong cuộc, Lê Khánh Mai không ít lần đề cập đến “phận thơ” của người nữ làm thơ. Bài thơ Nhà thơ nữ bứt phá chiếm một vị trí khá đặc biệt trong vườn thơ Lê Khánh Mai, bởi giọng điệu vừa trần tình vừa chua chát, vừa day dứt vừa giằng xé:

Gom từng đồng còm nhuận bút ta đi hoang

vừa khỏi nhà đã thân gái dặm trường

đi đâu, về đâu?

“Đi hoang” – đi ra khỏi nhà, thoát ra khỏi nhịp sống đơn điệu, nhàm quen – để thay đổi không khí, để tìm cảm hứng cho thơ. Bởi vì đến ta, “ta cũng chán điệu thơ chằn chặn, hiền lành, ướt đẫm” của ta, huống chi, “bạn chê thơ ta cũ rồi”. Khát vọng đi tìm nguồn cảm hứng cho một thứ thơ mới, quả là chính đáng và đầy trách nhiệm. Nhưng rồi:

bạn cùng ta “bứt phá”

lang thang quên mình là đàn bà

sông đấy – như ta lững lờ

cây kia – giống mình ta tù hãm

bao đền đài thơ sừng sững

ta gieo xác chữ ích gì

Khổ cuối đọng lại nỗi buồn chơi vơi, hụt hẫng khi trở về với “phận thơ”, sau khi đã biết va đập với cuộc đời, thơ với người nữ là sự hi sinh, là chấp nhận, là định mệnh “oan nghiệt”:

Về nhà con vui thoát được bếp núc

mắt ai ngun ngún buồn

ta ru bình yên ngày thường

oan nghiệt phận thơ – tiếng kêu máu vỡ

Khi nhà thơ Lê Khánh Mai bộc bạch hành trình đi tìm “bản thể” (tên một bài thơ trong tập Mật ngôn của tình yêu), bạn đọc chúng ta có thể tin rằng, đây không phải là chuyện tìm kiếm bản thể cá nhân mà là hành trình xác nhận bản thể nữ giới, xác nhận nữ quyền. Bởi, nhà thơ hiểu rõ, rất rõ mình là ai, mình muốn gì trên con đường lên tiếng khẳng định bản thể – một người nữ sống hết mình cho thơ:

tự bao giờ bản thể sống cô đơn trong thân xác ta mà ta nào

biết, ta mải miết đi tìm những thứ ở ngoài mình

hạnh phúc biết bao khi ta được trở về đích thực là mình sau

những kiếm tìm, trải nghiệm điều đắng cay, mất mát

dù nhỏ bé, bản thể vẫn là vũ trụ của riêng mỗi người, nó chỉ

một lần được sinh ra giữa vô vàn thực thể và sống dài hơn một kiếp

sống.

(Bản thể)

Chính ở điểm “sống dài hơn một kiếp sống” ấy tưởng là phi lý nhưng khi lắng đọng lại, có thể hiểu đó là khát khao của người sáng tạo: tác phẩm của họ còn lại giữa cuộc đời khi tác giả của nó không còn hiện hữu nữa sẽ tự có cách phát ngôn riêng, hướng đến khát vọng bất tử. Ai làm thơ mà không mơ ước, mơ mộng như thế?

Khi đã thấu thị về mình, rộng ra là về giới nữ làm thơ, nhà thơ Lê Khánh Mai không ít lần muốn thơ vươn về phía ánh sáng màu nhiệm, vĩnh cửu của nghệ thuật:

ánh sáng chống lại bóng tối

đánh thức những cơn mê

bật dậy những hạt máu li ti

mạnh hơn ngựa chiến

ở đâu

và bất cứ lúc nào

sự tái sinh của ánh sáng

không bao giờ là muộn.

(Ánh sáng)

Hiểu rõ như vậy nên nữ sĩ luôn vươn tới những giấc mơ, những chân trời rất riêng – “chân trời màu lam” – ở đó, cái tôi bản thể được thể hiện và sinh tồn:

Giấc mơ tôi hái từ cơn giông

không hình thù, màu sắc

nhưng tôi biết nó rất mỏng manh và tơ non

tôi nâng niu cất giữ trong ngăn tủ tâm hồn

như báu vật

Có ai biết

tôi đã vắt kiệt mình

để nuôi một giấc mơ

(Giấc mơ tôi hái)

Tập thơ mới nhất – tập Mật ngôn của tình yêu – là đỉnh điểm trong hành trình sáng tạo của nữ sĩ Lê Khánh Mai (tính đến thời điểm hiện tại). Ở đây, những thi phẩm mang màu sắc suy tư, triết lý về thi ca, về vũ trụ, về nhân sinh, về bản thể,…phát triển thành hệ thống trong lối thơ tự do, thơ văn xuôi khiến cho tập thơ mang sức hấp dẫn bởi vẻ đẹp trí tuệ:

đôi khi trong dàn đồng ca ta hoà giọng

chỉ để hát bài hát của riêng mình

không cần ai nghe thấy

(Không điểm tựa)

Khoảng trống – một “Con Người” không hình dạng, không gương mặt, không tiếng nói nhưng đã che chắn cho ta, nâng đỡ ta, an ủi ta. Và ta biết đó là người duy nhất sẽ đi cùng ta về phía vô biên.

(Khoảng trống)

Nghệ thuật biểu đạt luôn sáng tạo

Nói nhà thơ Lê Khánh Mai là nhà thơ của tình yêu thật không sai. Thơ Lê Khánh Mai viết nhiều về tình yêu, nhất là tình yêu vợ chồng với một lối biểu đạt tài năng và rất cá tính – đầy khao khát, nồng nàn đến nồng cháy, bùng vỡ. Nồng nàn, mê đắm nhưng vẫn tinh tế, thi vị nhờ những so sánh, ẩn dụ, tượng trưng bàng bạc khắp những trang thơ. Nhà thơ không chọn lối biểu đạt bằng cách diễn tả táo bạo đến táo tợn vốn là tâm điểm của trào lưu hậu hiện đại đang rất phổ biến trong giới nữ thi sĩ. Trái lại, lối biểu đạt ở đây nghiêng về thi pháp thơ tượng trưng:

em mở toang cánh cửa đón gió vào nhà

gió quấn em mê mải, hệt như anh trở về sau chuyến đi xa

(Khoảng cách này đâu phải vĩnh hằng)

đêm

căn phòng trống trải

bỗng ngập tràn mùi hương ân ái

cái mùi hương đi vắng đã mười năm

trở về

ướp lên mái tóc em

ủ thơm chăn gối

mơn man da thịt hồi sinh

nồng nàn hơi thở thương quen

riết róng vòng tay êm ấm

thảng thốt nụ hôn muộn mằn sau quên lãng

ngân lên da diết cung đàn xưa

bản tụng ca tình yêu dang dở

nước mắt đọng bờ mi hạnh ngộ

em như cây khô vừa nhú lộc non

(Mật ngôn của tình yêu)

Sự khát khao nhân bản của người nữ được tác giả diễn tả khéo léo, tránh được sự thô vụng, tránh được luôn sự xơ cứng. Quả là những câu thơ được viết bằng trực cảm xuất phát từ trong tâm cảm:

những câu thơ

như chú ngựa bất kham trong lồng ngực

mơ một ngày tung vó thảo nguyên

theo ráng đỏ

chân trời huyễn hoặc

(Khát)

Thơ Lê Khánh Mai rất giàu hình ảnh, hình tượng, nhiều hình tượng trở đi trở lại, gây cảm xúc mạnh mẽ và ám thị lâu dài. Giấc mơ, cơn giông, gió mạnh (giông gió), mưa gió, nước mắt,… là những biểu tượng đầy mỹ cảm của thơ Lê Khánh Mai. Tập thơ Giấc mơ hái từ cơn giông có nhiều bài thơ đề cập trực tiếp đến những biểu tượng này: Giấc mơ, Khóc giấc mơ gãy cánh, Cõi mưa, Nước mắt chảy về đâu, Cơn giông lúc nửa đêm, Giấc mơ tôi hái, Gió,… Dễ nhận thấy, sự thiệt thòi của “phận” lộ rõ ở đây mà những khát khao hoặc âm thầm hoặc dữ dội của “giới” cũng bộc lộ ở đây:

Cơn giông đổ về lúc nửa đêm

sấm vỡ oà

mưa trút đá

cây lá vặn mình rên tơi tả

trời đất say cuồng giao hoan

Cánh cửa ngôi nhà đã bị giật tung

em chợt tỉnh cơn mơ hái được chùm mây ngũ sắc

em như vừa sinh ra giữa buổi hồng hoang

mắt chưa mở được

chỉ nghe lao xao tiếng vọng trần gian

ngôi nhà giống như con tàu đứt neo, dạt về cõi lạ

và em xa lạ với chính em

cố níu vào đêm

mong chạm hơi thở anh quen thuộc

thất lạc những ngón mềm, chới với hư không

(Cơn giông lúc nửa đêm)

gió rào rạt reo bên những lùm cây

gió ùa về chật đầy không gian rỗng

gió lùa tóc em líu ríu tung bay

gió quấn thân thể em riết róng

anh đi đâu xa vừa về phải không?

em biết gió là linh hồn anh đấy

(Gió)

Trong các tập thơ của nhà thơ Lê Khánh Mai – nhà thơ xứ biển – xuất hiện rất nhiều hình tượng biển, sóng, cát, bờ,… như trong Biển thầm, Đêm ở biển, Nghĩ bên biển, Biển tím, Sóng, Bờ và sóng, Cát mặn, Tính cách biển, Người đàn bà im lặng như cát,… Cách nghĩ về biển của Lê Khánh Mai cũng thật khác lạ, biển vô tình, biển chẳng đau khổ bao giờ nên biển vĩnh hằng:

ta biết lắm biển ơi, người chẳng đau khổ bao giờ

những gươm đá dựng bên ghềnh sắc lạnh

con sóng rơi đầu, con sóng lại chồm lên

chai lì những vết thương, chai lì muôn khát vọng

có phải vĩnh hằng kia làm biển vô tình

(Biển thầm)

Tương quan giữa biển – sóng là tương quan giữa người nam – người nữ nhưng ngẫm kỹ thì sóng (em) dữ dội hơn biển (anh) rất nhiều, chai lì hơn nhiều, kiên định hơn nhiều. Vì thế, đã có lúc nhà thơ hỏi:

Và anh, có giống như biển cả

có đủ mặn mà để nuôi tình em

đủ mạnh mẽ để vượt qua bão tố

đủ vô biên để trọn kiếp bên nhau?

(Nghĩ bên biển)

Ở một tứ thơ khác, Lê Khánh Mai dùng cặp biểu tượng sóng – đại dương để tượng trưng về khát vọng thay đổi, nhưng khát vọng ấy bị cái giới hạn đóng khung, câu thúc ngay. Lúc này, đại dương ngàn trùng mà trở nên bé tí – cách lạ hoá thật ấn tượng, sâu sắc:

bao nhiêu con sóng đi hoang

vẫn không thoát được đại dương ngàn trùng

(Sóng)

Nhìn vào tên những tập thơ, văn của Lê Khánh Mai, có thể thấy sự suy tư, ưu tư sâu thẳm trong tư tưởng-cảm xúc nghệ thuật của tác giả: Trái chín (tập thơ), Nước mắt chảy về đâu (tập thơ), Cổ tích xanh (tập thơ), Cát mặn (tập thơ), Đẹp, buồn và trong suốt như sương (tập thơ), Giấc mơ hái từ cơn giông (tập thơ), Mật ngôn của tình yêu (tập thơ), Vọng âm của mạch ngầm (phê bình văn học), Những mạch sống nâu trầm (tản văn và tuỳ bút),… Có thể nói, đó là những tựa sách được chọn lựa kỹ lưỡng, tự hiểu “bản thể” và mang nhiều thông điệp thông qua ẩn ngữ đa tầng, đa nghĩa. Nhìn tổng thể, tựa sách Lê Khánh Mai đậm tính trí tuệ và giàu tính biểu tượng.

Như ở trên đã nói, Lê Khánh Mai say mê yêu – yêu “anh”, yêu người, yêu đời và yêu thơ – không hiếm khi yêu đến mê cuồng, thậm chí muốn phá bỏ, cởi bỏ ẩn ức. Vậy nhưng nhà thơ vẫn trung thành với phong cách thể hiện nghiêm cẩn. Vẫn ở đường biên của sự nghiêm cẩn, thế giới nghệ thuật thơ Lê Khánh Mai làm nên một gương mặt thơ nữ sâu sắc, sâu lắng. Nữ tính nhưng cá tính là giọng điệu chính của thơ Lê Khánh Mai.

Đôi dòng kết luận:

Thơ Lê Khánh Mai xoay quanh nhiều đề tài: tình yêu đất nước, quê hương, tình gia đình (vợ chồng, cha con, mẹ con), tình bạn bè,… nhưng nhiều và sâu đậm nhất vẫn là tình yêu dành cho thơ và người bạn đời quá cố. Những tứ thơ của nữ thi sĩ giàu cảm xúc, suy tư, triết lý nên có thể gọi đó là thơ suy cảm, suy cảm từ cả hai phía: người tạo tác và người tiếp nhận. Một số bài thơ quả như có “một sức mạnh quyền năng vô hình nào đó mách bảo và điều khiển ngòi bút như là định mệnh”, nhất là khi nhà thơ “tuyên ngôn” về thơ và nhà thơ.

Đọc thơ Lê Khánh Mai, từ Trái chín (1990), Nước mắt chảy về đâu (1998), Cổ tích xanh (2000), Cát mặn (2001) đến Đẹp, buồn và trong suốt như sương (2005), Giấc mơ hái từ cơn giông (2008), đặc biệt là Mật ngôn của tình yêu (2019), có thể hình dung một dòng thơ luôn chảy thao thiết, sâu thẳm, càng lúc càng mở rộng bờ bãi trù phú, xanh ròng sự sống. Thơ Lê Khánh Mai là dòng chảy miên man của niềm khát sống, khát yêu, khao khát được sáng tạo của một nhà thơ nữ đích thực. Quan trọng hơn cả, trên dòng sông thơ ấy, một thế giới nghệ thuật bừng lên thứ ánh sáng rỡ ràng từ cao xanh như một định mệnh màu nhiệm:

bừng sáng một khoảng không gian

xa thẳm

đột nhiên

không nhìn thấy gì khác bên ngoài ánh sáng.

(Ánh sáng)

Chú thích:

(1) Nhà văn Việt Nam hiện đại, Hội Nhà văn Việt Nam, 2007, trang 593.

(2) Lê Khánh Mai, Những mạch sống nâu trầm, NXB Hội Nhà văn, 2023, trang 135.

5/6/2024
Chế Diễm Trâm

Nguồn: Vanvn
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

  Tác giả trẻ chinh phục cuộc thi Thơ Hay! Cuộc thi Thơ Hay do tạp chí Văn Nghệ TP.HCM đăng cai, vừa tổ chức buổi lễ trao giải vào sáng 16...