Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

"Mẹ của anh" - Tiếng lòng yêu thương tha thiết của Xuân Quỳnh

"Mẹ của anh" - Tiếng lòng yêu
thương tha thiết của Xuân Quỳnh

Mở đầu là lời khẳng định “Mẹ của chúng mình” và kết thúc bài thơ “Mẹ sinh anh để bây giờ cho em” đã phần nào giúp chúng ta hiểu rõ được tấm lòng, tình cảm của người con dâu dành cho mẹ chồng, đó là sự hàm ơn, sự thấu hiểu xuất phát tự tận đáy lòng mình. Câu thơ không gồng mình, không sáo rỗng mà cứ tự nhiên, tha thiết như dòng chảy của huyết mạch yêu thương chân thành…
MẸ CỦA ANH
Phải đâu mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi
Mẹ tuy không đẻ, không nuôi
Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong
Ngày xưa má mẹ cũng hồng
Bên anh, mẹ thức lo từng cơn đau
Bây giờ tóc mẹ trắng phau
Để cho mái tóc trên đầu anh đen
Đâu con dốc nắng đường quen
Chợ xa gánh nặng mẹ lên mấy lần
Thương anh thương cả bước chân
Giống bàn chân mẹ tảo tần năm nao
Lời ru mẹ hát thuở nào
Truyện xưa mẹ kể lẫn vào thơ anh:
Nào là hoa bưởi, hoa chanh
Nào câu quan họ mái đình cây đa…
Xin đừng bắt chước câu ca
Đi về dối mẹ để mà yêu nhau
Mẹ không ghét bỏ em đâu
Yêu anh em đã là dâu trong nhà
Em xin hát tiếp lời ca
Ru anh sau mỗi âu lo nhọc nhằn
Hát tình yêu của chúng mình
Nhỏ nhoi giữa một trời xanh khôn cùng
Giữa ngàn hoa cỏ núi sông
Giữa lòng thương mẹ mênh mông không bờ
Chắt chiu tự những ngày xưa
Mẹ sinh anh để bây giờ cho em.
XUÂN QUỲNH
Mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu vốn rất phức tạp, khó hòa hợp. Điều này đã được cha ông xưa nhắc nhở qua những bài ca dao có hài hước, mỉa mai mà cũng ẩn ý trong đó thật nhiều điều, ví như “Mẹ chồng là lông con phượng/ Cha chồng là tượng mới tô/ Nàng dâu mới về là bồ đựng chửi” hay “Thật thà cũng thể lái trâu/ Thương nhau cũng thể nàng dâu, mẹ chồng”. Cũng chính những câu ca này đã ít nhiều hình thành “đường ray cảm xúc” trong mỗi người về mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu là mối quan hệ khó có thể cải thiện. Ấy vậy mà khi đọc bài thơ “Mẹ của anh” của nữ sĩ Xuân Quỳnh chúng ta sẽ có cái nhìn hoàn toàn khác. Tôi đã  rất thích bài thơ này khi đang là cô sinh viên năm nhất, và nay khi đã làm dâu hơn hai mươi năm, là mẹ của những đứa trẻ sự yêu mến đối với thi phẩm vẫn không đổi thay, sự cảm nhận về bài thơ thêm sâu sắc và sự yêu quý, khâm phục, ngưỡng mộ nữ sĩ vẫn là điều bất biến. Tôi yêu con người và thơ của chị, thơ của chị không chỉ là cảm xúc mà còn là sự kết tinh của trí tuệ, của chân lí giản dị mà vô cùng sâu sắc.
Xuân Quỳnh (1942 – 1988) tên đầy đủ là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, là một nữ nhà thơ nổi tiếng của nền thơ hiện đại Việt Nam. Chị được biết đến với tài năng vượt trội trong nghệ thuật viết thơ. Những tác phẩm để lại dấu ấn sâu sắc trong nền văn học dân tộc và trái tim độc giả như “Thuyền và biển”, “Thơ tình cuối mùa thu”, “Tiếng gà trưa”… bởi chất chứa trong mình tình cảm sâu lắng và tầm nhìn đầy sáng tạo.
“Mẹ của anh” là bài thơ được sáng tác năm 1967, theo thể thơ truyền thống của dân tộc – thơ lục bát. Bài thơ đã khơi gợi trong lòng bạn đọc tình cảm đẹp đẽ, cái nhìn nhân văn để cuộc đời này đẹp hơn, ý nghĩa hơn. Lời thơ thật tự nhiên như lời tâm sự hết sức chân thành của người con gái: “ Phải đâu mẹ của riêng anh/ Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi”. Hai câu thơ mở đầu đã xích mối quan hệ “mẹ của anh” và “em” trở nên gần gũi – “mẹ của anh” chính là “mẹ của chúng mình”, là mẹ của em nữa. Lời chia sẻ thật tha thiết và rất thật lòng, bởi “  Mẹ tuy không đẻ, không nuôi/ Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong”. Câu thơ chính là tiếng lòng của cô gái hiểu chuyện, thấu đạo lí. Người con gái ấy hiểu được những hy sinh thầm lặng của mẹ chồng khi nuôi “anh” khôn lớn để nay là chỗ dựa vững chắc cho cô. Vì thế cô biết ơn và chắc chắn cả đời không bao giờ trả hết ơn nghĩa này. Đó là chân lí giản dị nhưng không phải ai cũng hiểu và nhớ ghi.
Xuân Quỳnh là người phụ nữ có trái tim tha thiết yêu thương, luôn thấu hiểu những hi sinh của người khác. Chính vì thế chị nhìn thấy cả tuổi thanh xuân đẹp đẽ của mẹ chồng đã mỏi mòn vì những đứa con trong đó có “anh” của chị. Lời thơ cứ tuôn trào như bao thấu hiểu được sẻ chia “ Ngày xưa má mẹ cũng hồng/ Bên anh mẹ thức lo từng cơn đau/ Bây giờ tóc mẹ trắng phau/ Để cho mái tóc trên đầu anh đen”. Những câu thơ đã gợi nhắc hai mốc thời gian “ngày xưa” và “hiện tại”. Đã có một sự đổi thay, một sự đổi thay ghê gớm giữa thanh xuân rực rỡ “ má mẹ hồng” và hiện tại “tóc trắng phau” của mẹ. Đây là hệ quả tất yếu của quá trình nuôi con, chăm sóc con với những trằn trọc, lo âu, nhất là những khi con đau ốm. Là phụ nữ, là mẹ hơn ai hết Xuân Quỳnh hiểu rõ điều này.
Những câu thơ không chỉ là sự tương phản giữa quá khứ và hiện tại của mẹ mà còn là sự tương phản giữa hiện tại của “mẹ” và “anh”. Nhưng mẹ chấp nhận tất cả, trái tim mẹ luôn dạt dào tình yêu thương và đức hy sinh. Et môn đô đơ Amixi đã từng viết: “ Người mẹ sẵn sàng từ bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn, người mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con” (Trích “Mẹ tôi”). Ta gặp được sự đồng điệu trong cảm xúc khi đọc những dòng thơ của nữ sĩ và trang văn của nhà văn, nhà báo, nhà thơ nước Ý. Và ta hiểu hơn, trân quý và yêu hơn những sự hi sinh thầm lặng của những người mẹ kính yêu!
Từ sự thấu hiểu mà cô gái đã yêu thương, kính trọng và biết ơn “mẹ của anh” mãi mãi. Từ tình yêu dành cho “anh”, cô yêu kính mẹ nhiều hơn bởi cô biết “anh” chính là phiên bản của mẹ. Mẹ đã tạo cho anh cả yếu tố di truyền và môi trường giáo dục. Chính mẹ đã tác động lớn đến cuộc đời và sự nghiệp của anh. Chính vì thế đừng “dối mẹ để mà yêu nhau” giống như câu ca thuở nào “Yêu nhau cởi áo cho nhau/ Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay”. Đây là sự thấu hiểu và cũng là sự hy sinh của cô gái khi đang yêu. Ta trân trọng biết bao lời nói hết sức dứt khoát của cô: “Xin đừng bắt chước câu ca/ Đi về dối mẹ để mà yêu nhau”. Hiểu như cô gái, hi sinh như cô gái, biết điều như cô gái, hiếu đế như cô gái ai mà “ghét bỏ” cho cam. Và cô cũng rất tự tin về điều này: “Mẹ không ghét bỏ em đâu/ Yêu anh em đã là dâu trong nhà”. Câu thơ thật nhẹ nhàng mà quả quyết. Câu thơ không chỉ là cảm xúc mà gửi vào trong đó trí tuệ tuyệt vời của nữ sĩ. Độc giả dễ dàng nhận ra chân lí được gửi gắm.
Tình cảm vốn dĩ là một thứ cảm xúc mang tính tương tác rõ nét nhất. Khi chúng ta yêu ai đó bằng cả con tim chân thành và thiết tha thì chắc chắn ta không nhận về được tình yêu thì cũng là sự “không ghét”. Rồi “mưa dầm thấm lâu” tình yêu ấy tất yếu sẽ được đền đáp. Quả thực hôn sự giữa Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ ban đầu bị bà Khánh – mẹ của Lưu Quang Vũ phản đối kịch liệt nhưng sau đó bà đã đồng ý rồi yêu thương cô con dâu tảo tần, chịu khó và nhân hậu với trái tim tha thiết yêu thương. Từ ý thơ bạn đọc cũng nhận ra được nguyên lí của tình cảm để sống có nghĩa, có tình rồi sẽ đón nhận những tình cảm đẹp mà người khác dành cho mình. Cũng từ đây, chúng ta đã hoàn toàn thay đổi cách nhìn nhận, không còn “mặc định” rằng mối quan hệ mẹ  chồng – nàng dâu là mối quan hệ phức tạp không thể hòa hợp và khó có được tình cảm thật lòng. Thực tế cuộc sống hôm nay đã chứng minh biết bao người con dâu được mẹ chồng yêu thương như con gái bởi chính họ cũng yêu kính mẹ chồng như mẹ ruột của mình. Những câu chuyện rất cảm động được chia sẻ rộng rãi trên các phương tiện truyền thông như mẹ chồng tìm chồng cho con dâu khi con trai mình đoản mệnh đã khiến chúng ta vô cùng xúc động và trân quý. Cuộc đời này, ta hãy tin “trao yêu thương sẽ nhận được những thương yêu” miễn sao chúng ta sống thật lòng, đối đãi với mọi người bằng trái tim nồng ấm, thiết tha!
Người con gái ấy đã trao yêu thương và gieo những yêu thương tới mọi người. Cô nguyện “hát tiếp bài ca” để “Ru anh sau những lo âu nhọc nhằn” nghĩa là cô sẽ chia sẻ bớt những vất vả mà mẹ đã trải qua với anh, vì anh. Trái tim thiết tha, nồng nàn ấy còn hát vang tình yêu đôi lứa “nhỏ nhoi” trong tình người, tình đời rộng lớn, mênh mông. Tình yêu lứa đôi hòa quyện với tình yêu gia đình, tình yêu mẹ, tình yêu quê hương, đất nước. Và cũng chỉ như vậy, tình yêu tuổi thanh xuân mới trọn vẹn, bền chặt và ý nghĩa.
Bài thơ cứ nhẹ nhàng với lời thủ thỉ thiết tha của cô gái đã đem lại niềm tin vào tình yêu, tình người, tình đời cho tất cả chúng ta. Câu thơ kết bài thật giản dị mà có sức lan tỏa mạnh mẽ: “Chắt chiu từ những ngày xưa/ Mẹ sinh anh để bây giờ cho em”. Đến đây chúng ta hoàn toàn cắt nghĩa được câu thơ “Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong” là bởi vì đâu. Vì sự hi sinh một đời của mẹ cuối cùng là cho cô, vì cô. “Anh” là kết tinh của tình yêu, niềm tin, hy vọng một đời của mẹ, và “mẹ” đã trao tất cả cho cô. Cô quý mẹ, biết ơn mẹ, trân trọng mẹ, cảm thấy suốt đời nợ mẹ là có căn cứ. Đọc “Mẹ của anh” của Xuân Quỳnh chúng ta vỡ ra được nhiều lẽ, ngộ ra được nhiều điều. Những điều tưởng chừng như tất yếu mà không có chị chúng ta đâu dễ nhận biết. Thế mới nói thơ Xuân Quỳnh giản dị mà đầy chất trí tuệ.Thật sự biết ơn chị!
Với sự đồng điệu trong cảm xúc nhạc sĩ Trịnh Vĩnh đã phổ nhạc bài thơ này, góp phần làm cho thi phẩm trở nên bất tử. Cái hay của bài thơ không chỉ nằm ở cấu tứ, ngôn từ, âm hưởng mà cái hay của tác phẩm là ở cái nhìn đầy chiêm nghiệm, đầy triết lý từ những điều giản dị của cuộc sống. Giá trị của bài thơ nằm ở chỗ thi phẩm không chỉ là tiếng lòng riêng của nữ sĩ mà đã nói được thật nhiều điều cho cuộc sống của muôn người. Bài thơ không chỉ dừng lại ở mối quan hệ mẹ chồng –  nàng dâu mà còn nói đến tình người, tình đời muôn thuở.
Mở đầu là lời khẳng định “Mẹ của chúng mình” và kết thúc bài thơ “Mẹ sinh anh để bây giờ cho em” đã phần nào giúp chúng ta hiểu rõ được tấm lòng, tình cảm của người con dâu dành cho mẹ chồng, đó là sự hàm ơn, sự thấu hiểu xuất phát tự tận đáy lòng mình. Câu thơ không gồng mình, không sáo rỗng mà cứ tự nhiên, tha thiết như dòng chảy của huyết mạch yêu thương chân thành. Thì ra, trái tim thổn thức sẽ rung lên những cung bậc thiết tha làm lay động bao con tim của muôn người. Và lời yêu thương xuất phát từ trái tim ấm nồng sẽ có sức lan tỏa và đem lại sự ấm áp cho tình người, tình đời. Thi phẩm “Mẹ của anh” xứng đáng là một bài thơ hay cả cảm xúc và trí tuệ của nữ sĩ Xuân Quỳnh! Là tiếng lòng tha thiết yêu thương mà gửi gắm triết lý giản dị mà vô cùng sâu sắc.
26/10/2024
Vương Thư
Theo https://vanhocsaigon.com/

Người tạo dựng không gian thơ bằng giấc mơ

Người tạo dựng không gian
thơ bằng giấc mơ

Thơ Đào Quốc Minh trong “Phục sinh” khá đa dạng về phong cách, anh thường kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống với hiện đại, một thứ “bình cũ rượu mới”. Độc giả sẽ thấy thú vị khi đọc những câu thơ mới lạ, tươi non mang thi liệu truyền thống của anh.
Tập thơ “Phục sinh” (NXB Hội Nhà văn, 2024) của Đào Quốc Minh mở ra không gian thơ bằng những giấc mơ. Mỗi giấc mơ trong ấy hé lộ bao điều kỳ lạ, có thể một sự thật, một bí ẩn từng được phong kín, kho báu bị lãng quên, một con đường đã bị gió bụi phủ lấp hay vẫn ảo mờ phía trước… Những mộng mị ấy trong “Phục sinh” đã hé lộ cho người đọc thấy những gì diễn ra trong tâm hồn nhà thơ, những thứ dường như huyền hoặc, phi lý, bí ẩn không thể thấy được ở trạng thái tỉnh thức. Kể từ thời khắc mỗi bài thơ xuất hiện, tác giả của nó đã biến mình thành người khách lạ đang quan chiêm đời sống diễn ra quanh mình và đời sống của chính mình; ngoái trông một phần cõi sống mà anh ta tạo dựng lại đang khởi phát từ một bến lạ, kết nối với chân trời lạ.
“có người uống ánh trăng tan/ ngủ quên trong đống tro tàn nghìn thu”– (Đống tro tàn).
Đó là khoảnh khắc của tan biến, hay thoáng hiển lộ vừa đủ cho tâm trí ta cảm nhận đường nét của hiện thực tâm hồn, hữu hình mà cũng rất vô hình; nó kỳ ảo, nhẹ nhàng và bảng lảng khói sương. Hình ảnh ấy tựa một chấm sáng cho độc giả thấy những chuyển động xung quanh; tựa như cột trụ cho các sự kiện diễn ra hỗn loạn, đứt gãy quanh nó. Nó cũng hiện lên trong những câu thơ sau:
“em vẫn ngồi đó…/ một mình kể chuyện/ về một dòng – sông/ và bến – đá – năm – nào…”– Con chim hoàng yến).
Hành động “em… một mình kể chuyện” có vẻ phi lý, bất tuân quy luật của thực tại, nhưng lại tồn tại hợp lý trong diễn tiến một giấc mơ. Ẩn sau những hình ảnh hiển hiện đó là lời nhắc nhở hãy ghi nhớ khoảnh khắc vừa chợt hiện, bởi có thể chỉ sau chớp mắt, vạn vật sẽ nhanh chóng biến đổi, nhanh chóng dịch chuyển.
Hiện thực giấc mơ trong thi tập “Phục sinh” rất đa dạng, phong phú. Đó là hiện thực đời sống được thăng hoa, cộng hưởng với hiện thực tâm hồn, tạo lên một thế giới kì ảo, nối thông các phương chiều không-thời-gian, đôi khi mang tính tiên tri.
“trong một giấc mơ mọc lên/ từ nấm mồ. như một cây cỏ lạc loài lạ lẫm/ nỗi buồn thõng hai tay trắng…/ mà ngực trần lấp lánh địa cầu trong”– (Lấp lánh địa cầu trong);
“chiều rất hoang và mây rất xưa/ anh thả con thiên cầm bé nhỏ từ chiếc lồng/ đan kết bằng vết thương và cái chết/ của những nhánh – cây già – cỗi”– (Chiều mây).
Nỗi buồn “thõng hai tay trắng”, hay hình bóng “con thiên cầm bé nhỏ” trong hai khổ thơ trên là những điều ảo diệu khó cầm giữ, mà cũng không dễ dàng buông bỏ. Nó là sự hiện diện của cái bất khả tri trong khuôn khổ những quy luật đã được chấp nhận. Diễn tiến của sự ảo diệu ấy là quá trình phá vỡ những quy tắc bất biến, cố định của thế giới hiện tồn; nó làm lệch nhịp những nguyên tắc l‎ý tính để tạo ra một hiện thực mới, trật tự mới.
Hiện thực kỳ ảo mà Đào Quốc Minh tạo ra trong tập thơ này tựa “những đoàn tàu miên man” xuất phát từ tuổi thơ của tác giả, đi xuyên qua không-thời-gian để phục hiện “những giấc mơ ăm ắp trời sao” (Đoàn tàu và đứa bé chăn trâu). Giấc viễn mộng này vang xa thành “hồi chuông ngàn năm cũ”, vọng âm ấy đem lại cho độc giả một không gian chứa đựng “dấu tích ai nằm. bóng ai qua” mang vẻ đẹp huyền bí, đầy ma lực trong bài thơ “Tây Thiên”.  Ta cũng thấy vọng âm ấy qua những câu thơ sau:
“anh đi qua hình – bóng – em trầm lặng…/một mặt trời vàng – vọt thiêng – liêng/ đang tắt – lụi – dần trong – đồng – tử – cháy”– (Những con kiến)
Đào Quốc Minh đã dùng lối tư duy phi logic, nghịch lý, xáo trộn trật tự tự nhiên để tái tạo giấc mơ – những cơn mộng thiện lành, trong suốt và tinh khôi như sương sớm. Chiều kích của “giọt sương” kia có lẽ sẽ được xác định bằng độ đàn hồi của tâm trạng, bằng tần số cảm xúc của đối tượng tiếp nhận. Giọt sương trong suốt ấy như treo lơ lửng trước mắt chúng ta, mở ra nhiều hướng nhìn, nhiều cung bậc xúc cảm.
Thơ Đào Quốc Minh trong “Phục sinh” khá đa dạng về phong cách, anh thường kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống với hiện đại, một thứ “bình cũ rượu mới”. Độc giả sẽ thấy thú vị khi đọc những câu thơ mới lạ, tươi non mang thi liệu truyền thống của anh:
“trái tim tôi cất cánh bay đi…/để trống lồng ngực xanh rì cỏ hoang”– (Lồng ngực rêu phong).
“ôi mái lá, ong vàng hè bỏng lửa/ đập cánh bay ươm mật cả chân trời” – (Quê hương).
“vẳng nghe hồi trống già nua/ từ ngàn xưa cũ mái chùa bóng trăng/ đêm nay tiếng gỗ nứt toang/ có đàn trâu bỏ nhân gian về rừng”– (Đàn trâu).
Truyền thống và hiện đại, có thể ví như hai đầu của chiếc cầu bập bênh – một trò chơi gắn liền với tuổi thơ của nhiều thế hệ. Bập bênh vốn là trò chơi tìm cách cân bằng, nhưng bản chất chữ “bập bênh” lại cho thấy sự bất cân bằng. Thi tập “Phục sinh” cũng “bập bênh” như vậy trong cuộc chơi chữ nghĩa, nhưng tác giả lại không chủ ý theo đuổi sự cân bằng.
“gió lạnh cuốn em đi miên trường mãi mãi” (Cánh hoa rụng); “lưng mẹ còng trĩu gánh thương yêu” (Quê hương); “anh nhớ em một chiều tà thắm đỏ” (Lồng ngực nam phương). Đó là những câu thơ trĩu nặng tâm thế truyền thống trong tập thơ “Phục sinh”, nó mang cho người đọc thơ hôm nay, nhất là giới trẻ, cảm giác da diết quen thuộc, hoài cổ… Ở phong cách này, phải chăng nhà thơ đã nương theo quán tính của thơ truyền thống, hơn là cố ý trụ lại trên nền tảng ấy.
“tôi như hồn/ lữ khách tha phương…” – (Lữ khách).
“chợt nghe có kẻ buông đò nhỏ/ bóng chiếc ai soi sáng huy hoàng” – (Câu cá)
Đôi khi Đào Quốc Minh có những câu thơ mang phong vị cổ thi, nhưng tiết tấu lạ lẫm và cảm xúc tươi mới.
“ta ngồi trên thuyền cỏ/ chầm chậm thả cần câu/ hiểu rằng xuân đang đến/ hoa lê thơm mái đầu…”– (Cành lê).
Qua “Phục sinh” cho thấy, Đào Quốc Minh hầu như ít khi “yên vị” trong một không gian nghệ thuật ổn định, mà anh luôn dịch chuyển để khai phá, kiếm tìm, thay đổi thi pháp. Có lúc tác giả sử dụng phong cách thơ truyền thống làm chiếc bình cổ đựng thi tứ là thứ rượu mới cất mang hơi thở của thời đại.
“đêm qua dây đàn guitar rừng rực cháy/ người nghệ sĩ ngồi cô độc trước vầng trăng/ có người điên xóa đi lớp bụi đường trên con mắt gốm/ độc bình xưa thơm lại cánh hoa rằm” – (Cây đàn guitar).
Trong khổ thơ tiếp theo dưới đây, nhà thơ đã sử dụng tài tình lối kết cấu đa tầng, nhưng các thi ảnh vẫn hiện lên sáng rõ bằng ngôn từ giản dị. Những “rừng thu”, “cúc trắng”, “dấu chân”, “khói sương”... được Đào Quốc Minh phục dựng một hiện thực tâm tưởng trong không gian ba chiều của nghệ thuật sắp đặt. Trong đó, vị trí của mỗi thi ảnh đều chứa đựng tính đa nghĩa của hình tượng, tạo một khoảng không huyền hoặc, mà chìa khóa mở vào khoảng không ấy chính là câu thơ “anh đi giữa em…”. Câu thơ ấy tựa cánh cửa đầu tiên dẫn độc giả vào một thực tại ảo, đầy những hình ảnh và chuyển động phi lý, phi logic, sống động.
“anh đi giữa em…/ và rừng thu cúc trắng/ chân trời là mây/ và cuối ngàn là nắng/ dấu chân là khói/ và lối mòn là sương” – (Có và không)
Những câu thơ, bài thơ trong “Phục sinh” với thi pháp hiện đại đã tạo được từ trường riêng, ấn tượng mạnh mẽ hơn hẳn những bài kết hợp phong cách truyền thống. Tuy số lượng những bài như thế không nhiều trong “Phục sinh”, nhưng năng lượng, ánh sáng của chúng vẫn đủ soi rọi cho người đọc nhận biết chân dung một thi sĩ trẻ, tài hoa, ấp ủ năng lượng bứt phá.
“trong tiếng nổ lách tách của cây củi sưởi/ kể cho nhau huyền thoại về tiếng ngân nga/ nơi đường chân trời” – (Hoàng nhạn).
“anh không còn hát em nghe/ người lính môi kèn. lưng ngựa trắng/ khung cửa sổ mùa lá rụng” – (Lưng ngựa trắng)
Không gian kỳ ảo của những giấc mơ trong thơ Đào Quốc Minh chứa những diễn tiến của nhiều tầng cảm xúc. Đoạn thơ dưới đây của anh giải mã được đa tầng cảm xúc của người viết. Cá nhân tôi cảm nhận như có cơn gió mạnh thổi qua những thi ảnh trong đoạn thơ này, làm bạt cả ngọn nến… Nhưng cơn gió đó chỉ là một “làn gió hiu hắt”, cái nghịch lý này thể hiện rõ cảm xúc đa tầng của tác giả.
“ngọn nến lắt lay trên bàn hoa đã thắp/ nhưng kỳ lạ làm sao làn gió hiu hắt cuối đông/ đã thổi tung chiếc hộp ra khỏi ô cửa cũ/ bay về phía dải đất phù sa trồng đào phai…/ trong ánh nến sáng lập lòa. của ngôi nhà bóng đổ…” – (Tặng phẩm của mùa xuân).
Một số bài thơ trong “Phục sinh” được viết theo phong cách hiện đại toàn triệt từ kết cấu, cách liên tưởng, thiết lập thi ảnh đến sử dụng ngôn ngữ… Thơ hiện đại của Đào Quốc Minh gợi mở, giản dị, khá gần với ngôn ngữ sinh hoạt đời thường, nhưng ám ảnh, có hấp lực mạnh. Xin dẫn nguyên văn một bài thơ.
Mùa khô Tây Nguyên
Tây Nguyên… mùa khô
tôi sống trong một kho củi mục…
hằng đêm có đứa bé ăn mày
đứng trước mặt tôi
ngạc – nhiên và đau – khổ
kể trong tia – chớp xanh – xao
rạch – ngang chân – trời
có một đám người tí hon
khuôn mặt xanh đen u sầu
đang gánh cát mịt mù
và bước đi vội vã…
“Mùa khô Tây Nguyên” là một truyện lồng trong truyện, một thực tại ảo đặc trưng của nhà thơ. Hình ảnh “đứa bé ăn mày” bất  ngờ xuất hiện như một ảo ảnh trong hiện thực tâm tưởng, đứa bé đến để kể câu chuyện của mình và nhà thơ kể câu chuyện về nó. Hình ảnh đứa bé “ngạc nhiên và đau khổ” hiện ra trong kho củi mục và hình ảnh đám người tí hon “mặt xanh đen u sầu” trên vùng đất cao nguyên mịt mù là một sự đồng hiện rất ám ảnh, tựa những cái bóng được ánh sáng hắt lên một mặt phẳng. Những cái bóng thoắt ẩn thoắt hiện trong không gian mịt mù đó khiến tim ta nhói buốt vì gánh nặng mà họ phải mang vác trong mùa khô khắc nghiệt ở Tây Nguyên.
Cùng với “Mùa khô Tây Nguyên”, Đào Quốc Minh có một số bài thơ hiện đại khác khá lạ, đẹp và nhiều ấn tượng, như: “Đôi chim liền cánh”, “Có và không”, “Ngã ba sương”, “Lời hoa hồng dại”, “Cánh hạc đầu tiên”, “Tấm gương đêm”, “Bóng đen gọi mặt trời”, “Những tiếng gào”, “Lũ trẻ trần truồng”, “Không còn những đoàn quân”, “Đồi hoa quế trắng”…
“hài nhi nào/ nằm – lạnh mãi/ bên song/ con mắt vẫn xanh/ mái đầu đã bạc/ thương cánh chim câu/ rời rã khát/ chân trời/ một thế kỷ rầu…/ như hơi thở trong nôi” – (Đôi chim liền cánh);
“đêm như con chim nhỏ/ lông màu xanh biếc/ hót bên em một…/ điệu hót không lời”– (Lời hoa hồng dại)…
Thơ Đào Quốc Minh trong “Phục sinh” nhìn chung có tiết tấu chậm, khoan thai, thể hiện một phong thái an nhiên, tự tại của người thiền định. Đoạn thơ dưới đây cho thấy, tâm hồn người viết đã thoát khỏi mọi ràng buộc, cám dỗ, mọi chấp niệm.
“những con kiến. bò qua thành phố cũ/ thành phố đóng băng bỗng cất tiếng trầm buồn/ cuộc hành hương. qua nhân gian. vô định!/ chỉ một người bật khóc trước hoàng hôn…”– (Những con kiến).
Khổ thơ trên và một số bài thơ của Đào Quốc Minh sử dụng thủ pháp dòng ý thức, một kỹ thuật tự sự hiện đại, nhằm diễn tả dòng chảy của cảm giác, thị giác, thính giác, xúc giác, liên tưởng, tiềm thức… Đặc điểm nổi bật của bút pháp này là coi trọng ý thức và những phản ánh tâm lý của chủ thể. Một số bài thơ của Đào Quốc Minh có những dấu chấm khá lạ ở giữa câu, tạo sự bất ngờ, thú vị. Những chữ xuất hiện ngay sau dấu chấm thường không viết hoa, đó phải chăng là ngụ ý riêng của người viết. Với cá nhân tôi, những dấu chấm ấy mang lại hiệu ứng thị giác, giống như dấu lặng nhằm thể hiện một khoảng nghỉ trong tác phẩm âm nhạc; nó mang cho người đọc cảm giác lắng đọng, hay thoáng chốc được đảo nhịp thở; Tuy vậy, ta vẫn thấy các thi ảnh trong mạch thơ chuyển động liên tục theo quỹ đạo của riêng chúng.
Nhà thơ Đào Quốc Minh sinh năm 1986, tại Hà Nội. Những tác phẩm của anh đã xuất bản gồm chín tập thơ (“Mưa tháng ba”, “Nguyệt nương”, “Dấu vân tay màu xanh lục”, “Những người vũ công Memphis”, “Phục sinh”), hai tập truyện ngắn (“Người tù không số”, “Đứa con của nấm mồ”), và trên 20 đầu sách dịch thuộc nhiều lĩnh vực, bao gồm Lịch sử, Triết học, Giáo dục, Nghệ thuật… Năm 2015, tập thơ “Những người vũ công Memphis” của Đào Quốc Minh được trao tặng Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội.
Đào Quốc Minh là người lặng lẽ, kiệm lời. Cách đây mấy năm, tôi tình cờ gặp Minh chốc lát trong sân Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Sau đó, tôi đọc truyện ngắn “Hải âu lạc lõng” của anh đăng trong Đặc san Viết & Đọc (số Mùa Xuân 2024). Tôi thích cách tạo tình huống và giọng văn của Đào Quốc Minh, và bị cuốn hút vào đoạn kết của truyện ngắn này. Nhân vật “tôi” trong truyện dường như đã khắc họa chân dung Đào Quốc Minh: “Tôi đứng trầm ngâm, bên bờ biển gầm vang tiếng sóng. Bất giác, nghe như có tiếng hải âu lạc lõng, từng con, từng cặp, từng bầy rời bỏ bến tàu hoang phế, chỉ còn mình tôi, như ngọn hải đăng, mà con mắt chói lọi cứ sáng lên, dọi vào đêm tối trước mặt…”. Cảm giác cô đơn, lạc lõng như tiếng con hải âu kia có thể sẽ thường đến với Đào Quốc Minh khi anh bứt phá thi pháp, tiếp tục thử nghiệm, mạnh dạn mở lối đi riêng cho hành trình sáng tạo.
Trước khi kết thúc bài viết tôi muốn trở lại với hình tượng chiếc cầu bập bênh đã nhắc ở trên. Giữa thi pháp truyền thống và thi pháp hiện đại của Đào Quốc Minh, tôi thiên về thi pháp hiện đại của anh hơn. Thi pháp đó mở ra nhiều phương chiều không-thời-gian, rất ám gợi, được kiến tạo bằng hiện thực kỳ ảo của giấc mơ. Những giấc mơ đã kết thành không gian thơ trong “Phục sinh”.
27/10/2024
Mai Văn Phấn
Theo https://vanhocsaigon.com/

Cảm xúc trữ tình trong tập thơ "Đợi tri âm" của nhà thơ Võ Văn Hân

Cảm xúc trữ tình trong tập thơ "Đợi
tri âm" của nhà thơ Võ Văn Hân

“Đợi tri âm” là tập thơ có nhiều bài thơ hay, nhiều câu thơ hay. Đọc văn chương là tháo gỡ mã các ký hiệu văn chương trong văn bản, tìm hiểu ý nghĩa của tác phẩm thông qua cấu trúc của văn bản.
1. Dẫu biết “tri âm khó kiếm, tri kỉ khó tìm”, nhưng nhà thơ Võ Văn Hân vẫn “Đợi tri âm” vì trong anh là niềm khao khát, mong mỏi “mỗi người đọc là một nhà thơ khác, mỗi bài thơ là một bài thơ khác” – mong tìm được mối giao cảm, giao hòa với độc giả: “Lục khắp mười phương/ ta tìm em/ như từ quy/ giữa đại ngàn đêm thâu gọi bạn/ ta khát em/ như cánh đồng khô hạn/ đợi chờ/ hạt cỏ nảy mầm… Ta bốn mùa/ vời vợi chờ mong/ gọi em về câu thơ tròn ý/ gởi vào trời/ tình thơ bình dị/ trải lòng/ ngóng đợi… tri âm” (Đợi tri âm).
Cảm xúc trữ tình chân thật, cầu thị trong bài thơ “Đợi tri âm” cũng là lời nhắn gửi tha thiết đến độc giả tình cảm chân thành của thi nhân. Bởi vì, thơ gắn với chiều sâu thế giới nội tâm sâu kín của con người, với chiều sâu tâm hồn; nên không dễ khơi nguồn, nắm bắt. Vẻ đẹp của thơ khi mềm mại, khi triết lí, suy tưởng… tâm hồn thi nhân càng đẹp, tứ thơ càng bay bổng. Tập thơ có nhiều bài hay. Tôi thích cái tôi thi sĩ lãng đãng, tiêu sái trong bài thơ “Rượu hồng đào”: “Hồng đào mong đợi đã lâu/ Mời em nâng chén tiêu sầu cùng tôi/ Chiếu trăng gió trải ta ngồi/ Chút duyên tao ngộ giữa đời bao la”. Bài thơ gợi nhớ về những câu thơ của Thi tiên Lý Bạch: “Hoa gian nhất hồ tửu/ Độc chước vô tương thân/ Cử bôi yêu minh nguyệt/ Đối ảnh thành tam nhân” – (Nguyệt hạ độc chước kỳ 1, Lý Bạch – Có rượu không có bạn/ Một mình chuốc dưới hoa/ Cất chén mời trăng sáng/ Mình với bóng là ba – Bản dịch Nam Trân).
Trong không gian tĩnh lặng, đối ẩm cùng trăng, nhà thơ Võ Văn Hân đối diện lòng mình rồi tự vấn: “Gót mòn phiêu bạt trời xa/ Xoay vần con tạo đâu là cố nhân?”. Bước qua độ tuổi “Ngũ thập tri thiên mệnh”, đến khoảng thời gian “Lục thập nhi nhĩ thuận” – đạt đến độ hoàn hảo về tri thức và kinh nghiệm cuộc đời, thì câu hỏi: “Xoay vần con tạo đâu là cố nhân?” là nghĩ suy có chiều sâu trong thi tứ và cũng là cuộc đời. Bài thơ hay bởi trong cái thinh không tĩnh lặng, những nghĩ suy, những giải bày về thế thái nhân tình qua thể thơ lục bát nhuần nhị, luyến láy đã mang giá trị thẩm mĩ của thơ ca. Đó là giá trị cốt lõi của thơ ca. Thơ tác động đến người đọc vừa bằng sự nhận thức cuộc sống vừa bằng khả năng gợi cảm sâu sắc, vừa trực tiếp với những cảm xúc suy nghĩ cụ thể, vừa gián tiếp qua liên tưởng và những tưởng tựơng phong phú…
Đề tài trong tập thơ “Đợi tri âm” với 50 bài khá đa dạng: về nơi “chôn rau cắt rốn”, về “nơi đất lành chim đậu”, về núi về biển, về những kỉ niệm thân thương và những địa danh – nơi nhà thơ có dịp dừng chân.
2. Quê hương đau đáu trong tâm thức nhà thơ khi anh lập nghiệp xa quê, xa cha mẹ. “Hương đồng thơm ngát giấc mơ/ Lấm lem bùn đất tuổi thơ trên đồng/ Chiêm bao nơi chốn bụi hồng/ Về nơi cố quận hương đồng mênh mang”… “Chiêm bao giữa chốn bụi hồng/ Sà vào lòng Mạ chua nồng mồ hôi/ canh gà thôi giấc mơ rồi/ Bần thần nhớ Mạ… bồi hồi hương quê” (Hương đồng). Tứ thơ “hương đồng” quấn quýt thân thương về kỉ niệm tuổi thơ “lấm lem bùn đất” và mùi của mạ – “chua nồng mồ hôi” đã gợi hình dung về chân dung thi sĩ “chân quê” từ trong kí ức, hoài niệm. Thèm cái “chân quê” trong thơ anh bởi nơi đó biết bao gần gũi, thân thương, biết bao nỗi nhớ, nỗi nhớ là sợi dây níu giữ tình yêu với quê nhà, dù có đi đâu vẫn vọng về quê hương.
Tôi từng viết trong tập thơ “Đồng vọng”: “Anh viết về mạ – da diết, đau đáu một nỗi nhớ thương, “người mẹ quê” trong thơ anh mang vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam: tảo tần, chịu thương chịu khó, một lòng vì chồng, vì con”, đến tập thơ này vẫn là giọng thơ thương nhớ da diết đó. Chưa về đến quê trong anh đã là hình bóng mạ với cánh đồng mùa đông, cái nhìn của thi nhân chăm chăm về nơi ấy: “Nhớ ngày về xa ngái/ Quang gánh chất mùa đông/ Mẹ gánh rét ra đồng/ Chắn gió mùa đông bắc/ Nay mẹ không còn nữa/ bếp chẳng có lửa hồng/ không người gánh mùa đông/ Lạnh tràn nhà tê tái” (Quê nhà mùa đông).
Câu thơ “Mẹ gánh rét ra đồng” quá hay, hình tượng thơ thật đa nghĩa, người mẹ suốt đời lam lũ, tảo tần với đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, gánh vác bao lo toan nhọc nhằn mưu sinh cho gia đình. Hình ảnh đó hiện về trong tâm thức nhà thơ, để rồi trở về với thực tại, nỗi buồn càng trĩu nặng: “Nay mẹ không còn nữa/ bếp chẳng có lửa hồng/ không người gánh mùa đông/ Lạnh tràn nhà tê tái”. Người mẹ và bếp lửa là nơi sưởi ấm lòng con nơi xa ngái, nay không còn nữa, hụt hẩng chơi vơi đến nhường nào.
Tìm về chốn xưa” nỗi buồn man mác “Dặm trường mỗi bước thiên di/ Mưa về lối cũ thương thì… thanh xuân”. Chốn xưa trong “Hoa gạo đợi chờ” với thi ảnh vấn vương, thương nhớ, kí ức và hiện tại hòa quyện trong cái nhìn tâm tưởng của nhà thơ: “Ngày về làng cũ bên sông/ Xoan thủ thỉ rung rung hoa tím/ rét nàng bân chiều quê ngọt lịm/ Gạo trổ hoa thắp lửa ấm nồng”. Bài thơ gợi nhớ về chiến dịch K8 thời chiến tranh, lúc đó chắc anh chỉ là cậu bé mới 7, 8 tuổi, xa nhà đến Nam Định – quê hương thứ hai, và ở cùng thầy bu – bố mẹ thứ hai. Dù sau này, trở về với gia đình, quê hương thì nơi đó mãi mãi thân thương, da diết, kí ức tuổi thơ được kể bằng thơ chắt lọc, lắng đọng: “Miền cổ tích ngày về thăm lại/ Gạo tủi hờn… thẹn đỏ mặt sông”.
Hình ảnh nhân hóa “Gạo tủi hờn…” quá hay, câu chuyện “thằng Nhà, con Gạo” trong truyện cổ tích xưa chợt hiện về trong thi ảnh hoa gạo “thẹn đỏ mặt sông” – hình tượng vừa nhân hóa, vừa ẩn dụ chứa chan bao nỗi niềm của cậu bé K8 năm xưa nhớ nhà, nhớ mạ; rồi nay trở về chốn cũ “Bến đò xưa vẫn còn cây gạo/ Cầu sang sông… sao nỡ quên đò?… Mộc miên ơi em nồng nàn rực rỡ/ Ấm áp bên sông thương nhớ đợi ta về”. Từ một loài hoa giản dị ở đồng quê mà mê hoặc lòng người đến lạ thường và từ lâu đã trở thành biểu tượng cũng như món quà ấm áp của tháng ba, nhà thơ Võ Văn Hân đã đưa vào thi tứ, làm điểm tựa cho việc bộc lộ cảm xúc nhớ thương da diết về nơi chốn cưu mang mình trong những năm tháng chiến tranh.
Người con ở “Sông Hiền Lương” – “Hai mươi năm cách trở/ Bến nối nhịp chèo qua/ Cho mình lại gặp ta/ Ngọt lịm tình thống nhất”, lập thân ở Đắk Nông, gắn bó cả thanh xuân của mình vào mảnh đất có nhiều địa danh du lịch nổi tiếng, có hồ Tà Đùng được ví như một Hạ Long thứ hai của Việt Nam, nhà thơ không thể không viết về nơi đây. Những bài thơ viết về văn hóa, lễ hội, phong tục, địa danh… là cảm xúc thơ sâu lắng, ân tình: “Âm vang từ lòng đất”; “Hòa vàng chờ mong”; “Chuyện tình hồ Lắk”; “Cổ tích Liêng Nung”; “Mắc nợ tiếng chim từ quy”; “Mưa rừng”; “Mênh mông tình Buôn Chóah Nâm Nung”…
Từ những cổ tích, huyền thoại, từ câu chuyện tình đêm khuya bên bếp lửa nhà dài, nhà thơ đã kể lại “Chuyện tình hồ Lắk” bằng thơ cô đọng, súc tích, dạt dào cảm xúc. Cái nhìn của thi nhân vừa trở về lịch sử xa xưa, vừa lắng đọng ở hiện tại và những thi ảnh như khơi, như gợi, như tâm sự, như nhắn gửi. Hình ảnh thơ sinh động, lung linh trong vần điệu, câu chữ, bài thơ mang sắc màu cao nguyên độc đáo: “Bóng trăng hồ Lắk trinh nguyên/ chiêng ngân ánh vàng lay động/ khèn đinh năm bồng bềnh con sóng/ tiếng đàn goong hồn lúa theo về/ hương rượu cần ngất ngây đê mê/ lúng liếng nồng nàn sơn nữ/ lịm hồn kẻ bồng phiêu lữ thứ/ say chuyện tình hồ Lắk/ say…em”. Những câu thơ thật hay trong bài thơ “Hoa vàng chờ mong”: “Cánh phượng rơi… nhớ thời nhẫn cỏ/ cà phê chín tím thương ngọn gió/ nhớ em thổn thức hoa vàng/ có khi nào em nghĩ về phương anh?” – cũng là hỏi người, hỏi ta, bởi nơi “Gia Nghĩa chờ mong” – “chờ em lỡ độ hoa vàng mùa thu”… đó cũng là cái cớ gợi lên cảm xúc thơ trong trạng thái chơi vơi “bung biêng bảng lảng la đà”…
Sắc màu lễ hội cao nguyên trong bài thơ “Cổ tích Liêng Nung” với thể thơ tự do, những dòng thơ ngắn như nhịp chân nhún nhảy, như thanh âm của đại ngàn “mênh mang màu cổ tích” cùng “thảo nguyên Châu Mạ”: “Ta say trong tình rừng/ Mênh mang/ màu cổ tích/ lung linh sợi nắng/ thác tuôn trào/ bung biêng sương nắng/ bảy sắc cầu vồng nối nhịp tình yêu”– “Goong lú của giàng/ treo vách lá Liêng Nung/ dâng tấu khúc tình ca/ nơi thảo nguyên Châu Mạ/ thang âm thánh thần thon thả/ tiếng nhạc rừng…/ từ thuở hồng hoang”. Thi ảnh thơ linh hoạt, phóng khoáng chuyển động cùng thi tứ và ngôn từ uyển chuyển hòa điệu cùng sắc màu riêng của con người và thiên nhiên nơi đây.
Người ở cao nguyên khi về với biển, cảm xúc dạt dào. “Về Lý Sơn”; “Đảo Ngọc Phú Quốc”; “Ngàn năm sau có còn không/ Thu về với biển phiêu phong tung trào” (Thu về với biển). Hình tượng ẩn dụ “biển – bờ” không mới trong thơ ca, nhưng trong bài thơ “Biển hát” nhà thơ Võ Văn Hân đã làm mới bằng thể thơ tự do, câu chữ, ý tứ hòa quyện trong một dòng ý tưởng: “Biển…/ Ngàn năm thủy chung bờ cát”. Tứ bài thơ liên kết trong 3 khổ thơ, khổ 1, 2 kết bằng câu thơ 1 chữ: “Sóng…”; “Biển…” – kết khổ thứ nhất, mở ra khổ thứ 2, nên dường như không nhận ra khổ thơ, chỉ nhận biết ý thơ trong 3 mạch thơ; và hai chữ “Biển hát…” là chủ đề của cả bài thơ cũng là điểm nhấn, khắc khoải một tình yêu với biển: “Đêm ảo điệu/ Phú yên biển hát/ Bản tình ca của biển và bờ/ Từ ngàn xưa cho đến bây giờ/ Biển vẫn mãi yêu bờ tha thiết/ Sóng…”.
Ai ngậm ngãi tìm trầm/ ai ao ước kỳ hương?/ lắng tai nghe…/ người đàn bà năm lăm tự hát” (Lời ru trầm hương). “Người đàn bà tuổi năm lăm” vượt ngưỡng thuở xuân thì, vậy mà trong mắt thi sĩ, cái đẹp ở độ tuổi này lại tròn đầy, đằm thắm “cất lời ru trầm hương” – qua thời gian tinh chất được tích tụ “vi diệu giọt trầm” trong thi tứ nhà thơ. Bài thơ hay không bởi từ thi tứ, từ đối tượng trữ tình mà từ lối cảm nhận sâu sắc về cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng về một loại gỗ quý hiếm với hình tượng “Người đàn bà tuổi năm lăm”.
Dù ở đâu, đi đâu, với nhà thơ Võ Văn Hân, Huế mãi là “cố nhân”, thi tứ thơ anh viết về Huế “ảo điệu” trong câu chữ, ý tứ và vần điệu. Thể thơ tự do không giới hạn bởi những câu thơ xuống dòng trong bài thơ “Giao tình” thật mới. Ba khổ thơ trong bài là ba mạch thơ rời, kết với nhau bằng tứ thơ “giao tình”. Nếu khổ một các thi ảnh chuyển động màu sắc từ tím biếc đến xanh, rồi trở vàng; cái nhìn chuyển động từ sen Tịnh Tâm đến sông Hương và đọng lại trên “giọt nắng bâng khuâng”. Thì khổ thơ thứ hai, “thu” đã ngỡ ngàng từ “Vĩ Dạ đò sang”, đến Cồn Hến… Các địa danh dịch chuyển trong tâm thức nhà thơ như những thước phim quay chậm, thi ảnh có định danh, định tính nhưng có vẻ như đã cảm từ tâm thức rồi viết ra trong vô thức. Đến khổ thơ thứ ba, tác giả như chợt bừng tỉnh bởi “khúc giao tình Thu – Hạ” vấn vương: “Thu buồn xao xuyến ngẩn ngơ/ Mưa nguồn chớp bể ngóng chờ Hạ thương”. Vì cái vô thức lấn át, mà bất chấp quy luật thời gian: “xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng”, để đảo ngược thời gian, đảo ngược mùa: Thu – Hạ.
Đi qua mỗi mùa ngâu, con người lại có thêm chút hoài niệm, nên ở bài thơ “Mưa Ngâu” của nhà thơ Võ Văn Hân ý tứ tròn đầy, câu chuyện tình “Ngưu Lang – Chức Nữ” được kể bằng thơ súc tích, lắng đọng, da diết bởi ngôn từ lấp lánh chất thơ: “Sông Ngân Ô thước bắc cầu/ Nối bờ thương nhớ nàng Ngâu gặp chồng/ Nỗi niềm biền biệt chờ mong/ Lửa hương tình ái mặn nồng trúc mai/ hạt thương thầm ướt bờ vai/ Châu sa thánh thót vắn dài thành mưa/ Ngưu lang Chức Nữ chuyện xưa/ Tình Ngâu tháng bảy… mưa lưa đến chừ” (Mưa Ngâu).
3. Đặc biệt, trong nhiều bài thơ nhà thơ sử dụng tứ thơ độc đáo: “Thương quê”; “Về miền quan họ”; “Mê luyến”: “Đêm trở gió/ đông về trước ngõ/ thu đã đi về biển xa vời/ dìu dặt mưa rơi/ khoan nhặt bên đồi/ đêm sâu thẳm/ cung đàn trời thánh thót”; “Sen – Làng sen”: “Lối quê/ thơm ngát sen hồng/ tím hương ngày hạ ao đồng/ làng Sen… Hương sen/ ảo điệu thần tiên/ hương sen minh triết… trinh nguyên… khí trời”… Ngoài những bài thơ thành công với thể thơ tự do cùng nhịp điệu linh hoạt, vần điệu luyến láy; nhà thơ còn sử dụng thể lục bát biến thể với nhịp điệu biến thiên (2/4, 4/2, 3/5, 6/2, 4/4) với các bài “Cù lao ông Hồ”; “Cụ Nguyễn Công Trứ”; thuần thục với thể ngũ ngôn ở các bài thơ: “Sa vĩ – Trà cổ”; “Về Lý Sơn”; “Sông Hiền Lương”; Khúc giao mùa”; “Quê nhà mùa đông”; “Đảo Ngọc Phú Quốc”. Nhịp thơ 5 chữ như vó ngựa trên đường núi gập ghềnh trong bài thơ “Đá Đồng văn”. Bài thơ được viết trong cảm thức “du miên” về đá, núi, những em gái người Mông và phiên chợ vùng cao nhộn nhịp từ điệu múa, tiếng khèn môi, náo nức từ bước chân trai bản và lòng thi nhân cũng “Say tình đá Đồng Văn”. Đây là bài thơ hay về ngôn từ, ý tứ.
Con người dẫu đi đâu, hay làm gì thì đến khoảng lặng cuộc đời sẽ ngoái đầu nhìn lại. Nhà thơ Võ Văn Hân cũng vậy, nỗi nhớ như là cái cớ để thi nhân bộc bạch, giải bày: “Tứ tuyệt cuộc đời” gồm 6 bài: “Tứ tuyệt được vần vui độc ẩm/ Chẳng hổ thẹn lòng với cỏ hoa” (Tự vui). Khi ngoái nhìn lại, nhà thơ tự tình với “cố nhân”: “Thiên thai lãng đãng sương mù/ Tìm về Vọng Cảnh dấu xưa phai mờ” (Không tên số 2). Nhà thơ “tự tri giả minh” – tự biết về mình… “Khi mình về chốn thiên thu/ ta đi cùng mảnh trăng lu cuối rừng/ ba thu duyên khởi tương phùng/ Chuyện ngày xưa cũ ta cùng bỏ buông” (Không tên cuối).
Có lẽ sự “tự tri”, “bỏ buông” đã chắp cánh cho hồn thơ anh bay bổng, tứ thơ hay, giọng thơ ngọt ngào và lắng đọng. “Đợi tri âm” là tập thơ có nhiều bài thơ hay, nhiều câu thơ hay. Đọc văn chương là tháo gỡ mã các ký hiệu văn chương trong văn bản, tìm hiểu ý nghĩa của tác phẩm thông qua cấu trúc của văn bản. Tác giả sáng tạo ra hình tượng, hình tượng văn học lại tồn tại như một khách thể tinh thần đặc thù, người đọc tiếp nhận một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mình; tiếp nhận tác phẩm “Đợi tri âm” là phát hiện lại tác phẩm, thêm nhập vào chiều sâu có thể là bất ngờ đối với tác giả, cũng là giai đoạn hoàn tất quá trình sáng tác – giao tế của nhà thơ Võ Văn Hân.
28/10/2024
Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thơ 1-2-3 trong không gian văn học đương đại Việt Nam

 Thơ 1-2-3 trong không gian văn
học đương đại Việt Nam

Hơn nửa năm trước, tại cuộc Hội thảo Khoa học Quốc tế “Văn hóa – Ngôn ngữ – Văn chương – Nghệ thuật Việt Nam ở Nam Bộ” diễn ra tại Trường Đại học Tây Đô cuối tháng 3.2024, Tiến sĩ văn học Nguyễn Minh Ca đã có tham luận nghiên cứu công phu “Thơ 1-2-3 trong không gian văn học đương đại Việt Nam”. Đây cũng chính là một trong những nguồn cảm hứng cho cuộc Tọa đàm “Thơ 1-2-3 trong không gian văn học hiện đại” do Hội Nhà văn Cần Thơ phối hợp Khoa Khoa học xã hội và Nhân văn Trường Đại học Cần Thơ tổ chức ngày 6.11.2024. Có mặt tại tọa đàm, Tiến sĩ Nguyễn Minh Ca trình bày tóm tắt về tiểu luận và phát biểu thêm một số ý kiến về thơ 1-2-3. Xin trân trọng giới thiệu lại bài nghiên cứu quan trọng của ông.
Với các phương pháp khảo sát, thống kê, so sánh, phỏng vấn,… cùng các thao tác bình luận, chứng minh,… bài viết tìm hiểu các đặc trưng thể loại thơ 1-2-3, một thể loại thơ hiện đại, mới xuất hiện gần đây và nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà thơ và các nhà lí luận phê bình văn học ở Việt Nam. Trong bài viết này, tác giả trình bày những đặc trưng cơ bản của thể loại thơ 1-2-3 như đề tài, chủ đề, cấu trúc,… Bên cạnh đó, tác giả khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Phan Hoàng (người sáng lập thể thơ) và một số nhà thơ khác ở Việt Nam nhằm nhận diện các đặc trưng và ghi nhận đóng góp của thể thơ này trong dòng văn học Việt Nam đương đại.
1. Mở đầu:
 Sáng tạo trong thơ nói riêng và sáng tạo nghệ thuật nói chung là sáng tạo có mục đích và là bản chất của nhận thức về nghệ thuật. Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ, không chấp nhận sự lặp lại và dễ dãi trong sáng tác. Nhà thơ luôn là người có ý thức cao trong cách vận dụng ngôn từ, đi từ hình ảnh đơn giản, chân phương cho đến việc xây dựng chất liệu đó đạt đến tính hình tượng. Để đạt đến tính hình tượng trong thơ đòi hỏi nhà thơ, nhà văn nói chung phải trải qua quá trình lao động nghiêm túc, vừa nghiêm túc vừa sáng tạo, tìm ra hướng đi mới cho thơ,… đạt đến sự khác biệt và tạo nên phong cách. Ông Phạm Văn Đồng cho rằng: “Văn học nghệ thuật là một mặt hoạt động của con người nhằm hiểu biết, khám phá, và sáng tạo thực tại xã hội”; “Cái mới là cái đẹp. Cái mới là đối tượng, là nội dung, là mục đích của người nghệ sĩ” (Phạm Văn Đồng, 1969, tr.126). Nhà thơ nếu không tìm được hướng đi cho mình về phong cách và sự sáng tạo ngôn ngữ, sáng tạo về hình thức,… thì cũng thể xem như là bế tắc.
Trong gần một thập niên trở lại đây, một thể loại thơ trữ tình được sáng tác theo một hình thức mới được nhà thơ Phan Hoàng sáng tạo ra – thơ 1-2-3. Là một nhà thơ nghiêm túc với nghề, Phan Hoàng luôn ý thức được vấn đề sáng tạo trong nghệ thuật là một nguyên tắc và là tôn chỉ của bản thân trong hoạt động nghệ thuật. Sau thời một gian thể loại thơ 1-2-3 ra đời, ban đầu, các nhà lí luận phê bình, các nhà thơ cũng nghi ngại về giá trị của nó trong thực tiễn sáng tác. Tuy nhiên, không lâu sau đó, có nhiều nhà thơ đã đi từ tò mò, thích thú đến sáng tác, xuất bản bằng hình thức này và thơ 1-2-3 dần trở thành một hiện tượng văn học đương đại ở Việt Nam.
Một thể loại thơ không tiêu đề mà lấy dòng thơ đầu tiên làm tiêu đề thì đúng là chưa từng thấy ở Việt Nam và thế giới. Phát biểu tại buổi Toạ đàm về Thơ 2023 tại thành phố Cần thơ, tác giả Phan Hoàng cho rằng: “Cách sử dụng một dòng thơ đầu tiên để làm tiêu đề cho bài thơ cũng xuất phát từ thực tế, tránh đạo thơ hiện nay, và bản thân cũng muốn tìm ra một hướng đi mới cho thơ và đóng góp một phần nhỏ bé của mình cho văn chương nước nhà”. Với sự mới lạ về một thể loại thơ mới, thể loại thơ đang được quan tâm nhiều ở Việt Nam, tác giả bài tham luận trình bày một số nội dung liên quan đến thể loại thơ 1-2-3 như: một số nội dung về tác giả, hoàn cảnh ra đời của thể loại thơ 1-2-3; đặc trưng thể loại thơ 1-2-3 nhìn từ thi pháp học; điểm mới và đóng góp của thơ 1-2-3 trong dòng văn học đương đại. Bài viết giới thiệu và ghi nhận những giá trị mà thể loại thơ này mang lại trong “bức tranh” văn học Việt Nam – bức tranh mà các nhà nghiên cứu cho rằng sự đóng góp của thể loại thơ còn khá khiêm tốn so với các thể loại còn lại trong nền văn học đương đại.
2. Nội dung:
Về phạm vi khảo sát: Trong bài viết này tác giả tiến hành khảo sát các chùm thơ 1-2-3 của nhà thơ Phan Hoàng, đồng thời cũng là người sáng lập thể thơ 1-2-3; khảo sát các tập thơ: Thủ thỉ phù sa – tác giả Nguyễn Đinh Văn Hiếu, NXB Hội Nhà văn, 2022; Vọng núi – Trần Nguyệt Ánh, NXB Hội Nhà văn, 2022; Lối sen sương – Vũ Thanh Thủy, NXB Văn hóa Dân tộc, 2022; Phòng hờ hơi ấm – Hoàng Hải Phương, NXB Hội Nhà văn, 2022; Những ký tự xê dịch – Trần Thanh Dũng, NXB Hội Nhà văn, 2023; Những cánh hoa mở đêm, Phạm Thị Phương Thảo, NXB Hội Nhà văn, 2023; Hoa rong mùa bấc – Trần Nhã My, NXB Hội Nhà văn, 2024; Những đóa hoa khẽ hương – Bùi Thanh Hà, NXB Phụ nữ Việt Nam, 2024.
Bên cạnh đó, các chùm thơ của các tác giả chưa xuất bản cũng được khảo sát: Lê Phượng, Vũ Hà, Phạm Phương Lan, Hà Phi Phượng, Trần Thị Hồng Anh, Đỗ Thu Hằng, Lưu Minh Hải, Nguyễn Đức Bá, Vũ Trần Anh Thư, Đặng Toán, Hà Vinh Tâm, Khang Quốc Ngọc, Mai Thìn, Đặng Tường Vy, Hoài Thơ, Lê Đỗ Lan Anh, Võ Hoàng Phương, Bình Địa Mộc, Đỗ Xuân Thu, Bảo Ngọc, Đoàn Thị Diễm Thuyên, Trần Thùy Linh, Nguyễn Hồng Linh, Trương Mỹ Ngọc, Nguyên Trân, Nguyễn Thị Thanh, Hoa Nip, Phạm Thị Kim Khánh, Lương Mỹ Hạnh, Trần Huy Minh Phương, Võ Văn Thọ, Tạ Hùng Việt, Trần Thị Bảo Thư, Huỳnh Thị Quỳnh Nga, Vũ Tuyết Nhung, Huỳnh Khang, Lê Thanh Hùng, Võ Văn Trường, Nguyễn Tiến Nên, Doãn Thụy Như, Lê Văn Ri, Nguyễn Thị Nguyệt Thu, Hà Nguyên, Lê Kim Phượng, Thanh Yến, Nguyễn Hữu Thông, Đặng Văn Thắng, Khuê Anh, Ngọc Tình, Nguyễn Thị Lai, Mai Xuân Thắng, Trần Mai Ngân, Hồ Trung Chính, Trần Thế Vinh, Quách Mộc Ngôn, Nguyễn Quỳnh Anh, Võ Thị Như Mai, Nguyễn Minh Ngọc Hà, Trần Thu Hằng, Lê Hải Kỳ, Lê Thị Ngọc Nữ, Lê Lệ Thủy, Trần Văn Chính, Doãn Minh Trịnh, Mai Hân Hạnh, Phạm Thị Hồng Thu, Thanh Trần, Châu Mộng Thúy, Đỗ Mạnh Hùng, Phan Minh Thoại, Phan Phương Loan, Cao Ngọc Toản, Tặng Vũ, Đỗ Thu Yên, Trần Thị Ngọc Tuyết, Lê Tuyết Lan, Vương Thanh Lan, Đình Giao, Hoàng Thị Bích Hà, Vũ Kim Liên, Hồ Loan, Như Hoa, Nguyễn Đại Duẫn, Lê Hồng Trứ, Chu Giang Phong, Trần Ngọc Hoàng Anh, Nguyễn Trọng Lĩnh, Nguyễn Thế Thanh, Phạm Tuyết Hạnh, Đoàn Hạnh, Hồ Xuân Đà, Hạ Như Trần, Sang Trương, Mai Bá Ấn, Châm Võ, Nguyễn Kim Lan, Phan Thảo Hạnh, Vũ Việt Thắng, Lương Sơn, Nguyễn Hương Lan, Dương Vũ, Lê Hương, Lương Ngọc Đại, Như An, Hải Trần, Chiên Nguyễn… và nhiều tác giả khác.
2.1. Tác giả và hoàn cảnh ra đời thơ 1-2-3
* Nhà thơ – nhà báo Phan Hoàng
Nhà thơ Phan Hoàng sinh ngày 10.10.1967 phía hữu ngạn cuối sông Đà Rằng (hạ nguồn sông Ba) thuộc thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên. Ông tốt nghiệp chuyên ngành Ngôn ngữ học Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh. Ông từng làm phóng viên – biên tập viên tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, Chủ biên tờ Người Đương Thời.
Nhà thơ Phan Hoàng nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành – Trưởng ban Nhà văn trẻ kiêm phụ trách báo chí – truyền thông Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh khoá VI (2010-2015), Phó Chủ tịch Thường trực Hội kiêm Chủ tịch Hội đồng Thơ – Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh khoá VII (2015-2020), Chủ nhiệm Văn phòng miền Nam Báo Văn Nghệ thuộc Hội Nhà văn Việt Nam. Hiện nay ông là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa X (2020-2025), Giám đốc – Chủ biên Vanvn.vn.
Tập thơ Chất vấn thói quen của nhà thơ Phan Hoàng được dịch sang tiếng Anh (xuất bản ở Canada năm 2022), sau đó được dịch và xuất bản ở Hungary. Tập thơ được trao Giải thưởng Nghệ thuật Danube của nước Hungary năm 2023. Trước đó tập thơ này đã được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh và Tặng thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2012.
Nhà thơ Phan Hoàng hiện đã xuất bản nhiều tập thơ, trường ca, ký sự, tản văn, phỏng vấn,… và đạt được nhiều giải thưởng trong và ngoài nước. Thể loại thơ 1-2-3 được xem là đóng góp đáng kể của tác giả cho sự sáng tạo trong văn chương đương đại. Việc sáng tạo ra một thể loại thơ mới như thơ 1-2-3 thể hiện tinh thần làm việc trách nhiệm, nghiêm túc của nhà thơ và phản ánh đặc điểm của nghệ thuật nói chung là luôn sáng tạo, nhiệt huyết, thậm chí là khổ luyện.
Trả lời phỏng vấn nhà báo, nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế trên báo Tinh hoa Việt, nhà thơ Phan Hoàng bày tỏ: “Từ trải nghiệm của mình, tôi muốn góp phần tiếp thêm động lực cho các bạn trẻ mới bước vào nghề, nhất là những bạn có tài năng và nội lực có thể đi đường dài…” (Nguyễn Tham Thiện Kế, 2021). Hiện tại, thể loại thơ được sự đón nhận nồng nhiệt của nhiều nhà thơ trẻ và dần trở thành một hiện tượng văn học Việt Nam Nam đương đại.
* Về hoàn cảnh ra đời của thể loại thơ 1-2-3
Tác giả có dịp tiếp xúc với Phan Hoàng vào tháng 6 năm 2023 và được nghe nhà thơ trình bày tham luận của mình các vấn đề về thơ (Tọa đàm Thơ 2023 tại thành phố Cần Thơ), trong đó ông có bàn luận, trình bày về đặc điểm và hoàn cảnh ra đời của thơ 1-2-3. Như đã nói ở trên, Phan Hoàng là người lao động nghệ thuật lâu năm trong nghề, trách nhiệm, nhiều trăn trở về thơ. Nhà thơ luôn tìm tòi, sáng tạo cho thơ và muốn đóng góp phần công sức, trí tuệ của mình cho nghệ thuật nước nhà, cụ thể là sáng tác thơ. Đây là một trong những yếu tố trọng yếu thúc đẩy nhà thơ sáng tạo ra một thể loại thơ được nhiều nhà thơ đương đại đón nhận.
Trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Tham Thiện Kế và nói về hoàn cảnh ra đời của thơ 1-2-3 tại buổi Tọa đàm Thơ 2023 ở thành phố Cần Thơ, tác giả cho biết trong một lần đi du lịch để tìm hướng đi mới cho thơ đã hình thành một thể loại thơ mới – thơ 1-2-3. Nhà thơ – nhà báo Phan Hoàng cho biết:
Năm 2018 là một năm đầy “biến động” đối với tôi. Từ bỏ nhiều hoạt động xã hội, tôi tranh thủ thời gian du lịch nhiều nơi, tập trung đọc sách, nghiên cứu tìm con đường mới cho sáng tác. Sau chuyến tham quan hai thành phố lớn Moskva và Saint Petersburg đầy ấn tượng về văn hoá Nga, trên chuyến bay trở về khi ngang vịnh Ba Tư ở Trung Đông tự dưng tôi nảy ra ý tưởng thể nghiệm một hình thức thơ mới gọi là Thơ 1-2-3” (Nguyễn Tham Thiện Kế, 2021).
2.2. Đặc trưng thơ 1-2-3
* Đặc trưng về đề tài
Khảo sát các tập thơ đã xuất bản và các chùm thơ của một số tác giả, chúng tôi cho rằng: thơ 1-2-3 rất đa dạng về đề tài hay nói cách khác không giới hạn về đề tài. Một số đề tài tác giả ghi nhận như: đề tài về thiên nhiên, đề tài tình yêu đôi lứa, đề tài về tình yêu quê hương, đề tài về lịch sử văn hóa,… Thơ 1-2-3 cốt là ở sự “tinh” không quan trọng là viết về đề tài gì. Thơ là tiếng nói của nội tâm, giải bày tâm trạng, nỗi niềm của một ai đó,… riêng thơ 1-2-3 đi từ ngoại cảnh dần vào chiều sâu nội tâm của tác giả. Chính Phan Hoàng cũng chia sẻ: “Đề tài thơ 1-2-3 hoàn toàn tự do, nội dung chủ yếu đi từ ngoại cảnh dần vào chiều sâu nội tâm tác giả muốn biểu hiện… Tôi rất ngạc nhiên và vui khi ngày càng có nhiều nhà thơ, cây bút chọn thể thơ 1-2-3 để giải bày những tâm tư, cảm xúc, trăn trở… của mình. Nhiều tập thơ 1-2-3 ra đời. Sự thành công của thể thơ 1-2-3 thuộc về rất nhiều nhà thơ ở nhiều vùng miền của đất nước” (Văn học Sài Gòn, 2023).
Nhà thơ trẻ Trần Thị Hồng Anh nhận định: “Mặc dù có một số quy định nhưng cơ bản thể thơ 1-2-3 không bị ràng buộc bởi các phép tắc tu từ, hài thanh, ngắt nhịp hay hiệp vần chặt chẽ như các thể thơ truyền thống. Điều này khiến cho người viết thoải mái hơn trong việc sử dụng ngôn từ và cách trình bày ý tưởng. Do đó, thơ 1-2-3 chứa mọi đề tài, mọi giọng điệu và tất cả các khả năng thể hiện”. (Trần Thị Hồng Anh, 2020)
Thơ 1-2-3 sử dụng nhiều đề tài từ thiên nhiên để bày tỏ tình cảm sâu kín của tác giả, đặc điểm này làm cho thơ 1-2-3 gần với thơ ca trung đại (tả cảnh ngụ tình) và thơ Haiku của Nhật Bản – một thể loại thơ rất nổi tiếng trên thế giới, cũng sử dụng đề tài thiên nhiên để thể hiện chiều sâu bên trong của nhân vật trữ tình. Đề tài về thiên nhiên chiếm số lượng lớn tính đến thời điểm khảo sát và có thể xem là đề tài đặc trưng nhất của thơ 1-2-3. Xin được dẫn ra một số bài thơ:
Từ những trang thơ cái đẹp gọi tên
Đàn ngựa phi nước đại trong tuyết rơi rừng vắng
Đột ngột dừng dựng bờm hí vang bến sông sâu
Trăng mờ ảo sau cơn mơ kỳ lạ
Moskva về khuya như thiếu phụ khát yêu thương
Tôi rót ly vodka nhớ Yesenin và những thi sĩ tha phương.
(Phan Hoàng).
Bài thơ làm nổi bật vẻ đẹp của nước Nga vừa hùng vĩ vừa lãng mạn, sử dụng nhiều hình ảnh mang tính tưởng tượng cao như ngựa phi nước đại, rừng vắng, sông sâu,… vừa mang tính lịch sử của cuộc chiến tranh vệ quốc Nga, (có thể vừa thể hiện tinh thần nhân vật trữ tình) ẩn bên trong, tâm sự của nhân vật trữ tình trong thơ 1-2-3. Điểm này khá tương đồng với thơ Haiku của Nhật Bản. Bài thơ sử dụng khá nhiều hình ảnh thiên nhiên liên tưởng, đặc biệt là việc gọi tên một nhà thơ tài hòa của nước Nga (Yesenin) càng cho thấy ý chí, tâm trạng của nhân vật trữ tình. Hình ảnh so sánh ly vodka về khuya, với phép so sánh như cô thiếu phụ càng trở nên mơ màng, lãng mạn, thậm chí tò mò với người đọc. Tuy nhiên, chỉ có như vậy mới phù hợp với câu kết, từ tâm trạng nhân vật trữ tình – mượn vodka – nhớ Yesenin. Dòng đầu (câu đầu) – câu cuối có tính chất hô – ứng (Trang thơ cái đẹp gọi tên – nhớ Yesnin và còn lại là thi sĩ tha phương (tâm sự của nhân vật trữ tình) nằm trong cấu trúc thống nhất từ đề tài, chủ đề, và nội dung tư tưởng nhiều hơn là quy định như chúng ta vẫn thường gọi (và đây là vấn đề nhà thơ từng chia sẻ). Đây là bài thơ điển hình của tác giả và thể loại loại thơ 1-2-3, đồng thời mang hơi hướng định hình về đặc trưng thể loại.
Như đã đề cập, cho đến nay, nhiều nhà thơ từ không chuyên đến chuyên nghiệp đang muốn tìm hiểu, thử sức mình với thể loại thơ 1-2-3, trong đó chủ đề thiên nhiên được nhiều nhà thơ lựa chọn. Nhà thơ Vũ Thanh Thủy với Lối sen sương mang hồn trà Việt với văn hóa trà đạo Việt Nam. Nhân vật trữ tình đang tận hưởng thiên nhiên. Trên con thuyền độc mộc, vào buổi tinh mơ, cộng hưởng cùng “hoa nào” đượm hương, tỏa ngát. Thiên nhiên vừa quen thuộc, đặc trưng của đồng quê, vừa đậm tính triết trí của trà đạo.
Lối sen sương
Thuyền độc mộc rẽ lối sen sương nâng ngân ngấn đợi
Tinh mơ ngan ngát gọi
Lứa hoa nào đượm hương
Người thưởng thức tinh thơm sảng khoái
Nhấp ngụm trà lắng đọng Việt Nam
(Vũ Thanh Thủy)
Bên cạnh các đề tài đã nói, các tác giả còn lựa chọn nhiều đề tài khác nhau như: Đề tài tình yêu đôi lứa; Đề tài quê hương và mẹ; Đề tài lịch sử văn hóa;…
Về tình yêu đôi lứa, về mẹ, người đọc có thể tìm thấy trong thơ Vũ Hà trong Ve réo rắt góc sân trường ngày hạ hay Tình yêu vụn vỡ mang hình hoa ti gôn.
Ve réo rắt góc sân trường ngày hạ
Dàn đồng ca hòa âm trong nắng vàng óng ả
Giọt giọt mồ hôi nóng hổi đổ thương yêu
Em bấm đốt tay đếm ngược
Ngày xa nhau bịn rịn
Thao thiết ngóng chờ mùa tựu trường vơi bớt tương tư.
 (Vũ Hà)
Viết về quê hương, vùng đất Tây Nguyên nhà thơ Trần Nguyệt Ánh đã có một “Bảng kí họa” đầy đặc trưng về vùng đất và con người, thêm vào đó còn là văn hóa lịch sử của người Tây Nguyên: tiếng nói của người dân bản địa với Yang (trời – đất), với con sông sôi sục Sê Rê Pốc, với không gian cồng chiên của xứ đại ngàn.
Bản hòa tấu cồng chiêng vút lên// Âm thanh cuộn trào từ dòng Sê Rê Pốk/ Bật ra từ những cánh rừng già// Bung lên từ lòng đất ba zan/Tiếng của núi sông, hòa âm vào hồn dân tộc/Bên nhà rông, lễ thổi tai cho một sinh linh chào đời. (Trần Nguyệt Ánh)
Ngoài ra, quê hương miền Tây cũng được nhà thơ Thành Dũng khắc họa trong bài thơ Tháng Bảy miền Tây mưa trắng trời trắng đất.
Đề tài về lịch sử văn hóa thể hiện rõ trong thơ 1-2-3 Vũ Thanh Thủy. Những hình ảnh về Đất Tổ, làng Văn Lang, cầu Văn Lang, đường Văn Lang,… đậm chất lịch sử văn hóa Việt Nam.
Truyện Văn Lang bay lan đồng ruộng// Những tiếng cười nở bung miền văn hóa/Vùng đất cội nguồn rơm rạ cưới ngô khoai// Truyện Văn Lang bay lan đất nước/Mong ước lâu dần tích tụ hóa hài vui/Ai dừng chân Phú Thọ nhớ mua kho sảng khoái làng tôi. (Vũ Thanh Thủy)
Như đã trình bày, đề tài trong thơ 1-2-3 là không giới hạn. Việc khảo sát và phân loại đề tài của bài viết chỉ mang tính chất tương đối vì không thể phân định rõ ràng, rành mạch và đôi khi trong cùng một bài thơ có thể có nhiều đề tài được tác giả sử sụng. Trong lương lai, có thể có nhiều đề tài tiếp tục được các nhà thơ khai thác. Ví như đề tài về giai cấp, về chiến tranh, môi trường, tôn giáo, tâm linh, chính trị,…
* Đặc trưng chủ đề và nội dung tư tưởng
Chủ đề là nội dung chính yếu được tác giả đề cập trong tác phẩm của mình. Một tác phẩm văn chương thường sẽ hướng đến một chủ đề chính, tuy nhiên, các tác phẩm có tính phản ánh lớn sẽ có nhiều chủ đề khác nhau như Truyện Kiều (Nguyễn Du). Chủ đề của tác phẩm văn chương thường được nhận diện thông qua đề tài mà tác giả đã dụng công lựa chọn. Dựa vào việc lựa chọn một đề tài nào đó (thường có dụng ý) tác giả sẽ đi lí giải, trình bày những đặc điểm, những yếu tố liên quan đến đề tài lựa chọn. Ngoài ra còn có thể có chủ đề chính yếu và các chủ đề phụ. Qua khảo sát các đề tài trong thơ 1-2-3, chúng tôi ghi nhận các chủ đề cơ bản trong thơ 1-2-3 khá tương đồng với các đề tài được khảo sát. Nhìn chung các chủ đề trong thơ 1-2-3 bám sát vào đề tài được lựa chọn và đây cũng là yêu cầu của thể loại thơ này. Câu 1 và câu 6 có tính chất hô – ứng, tránh việc đi quá xa chủ đề, lan man, lạc đề.
Qua khảo sát, các chủ đề trọng tâm chúng tôi ghi nhận như: chủ đề về quê hương, đất nước, chủ đề người mẹ, các chủ đề về văn hóa lịch sử,… Các chủ đề thường được ẩn sau các cảnh sắc, âm thanh tự nhiên, hình ảnh của làng quê. Điển hình như bài thơ Đêm Tân Quy ngồi mạn xuồng nghe kể bối trên sông. Hình ảnh sông nước, chất Nam Bộ được khắc họa cùng tính cách phóng khoáng, hào sảng của người dân Nam Bộ. Bài thơ mang hơi thở lịch sử của vùng đất mới – hơn 300 năm, thời điểm ông cha khai phá vùng đất mới, làm cho bài thơ vừa thực vừa xa xôi trong dòng lịch sử.
Đêm Tân Quy ngồi mạn xuồng nghe kể bối trên sông// Nâng chén rượu ngang mày uống phù sa cạn cùng bồi bãi/Gió đun đúc cửa vàm thấp thoáng bao ánh lửa ngoài xa// Vọng cổ xuống hò váng mặt sông lênh láng cống xự xang/ Dấu chân cha ông mở đất hiện trong hình hài bãi tiên/ Mặc kệ con vịt, con gà, vải vóc sau xuồng vừa bị cuỗm (Nguyễn Đinh Văn Hiếu).
Hay hình ảnh người mẹ tảo tần, quang gánh cuộc đời lo lắng cho con; người mẹ bao dung cho những lỗi lầm cho con trẻ trong thơ Vũ Hà. Mẹ quẩy quang gánh cuộc đời// Bên hàng xáo vơi dần theo nhịp bước đẫm mồ hôi/Bên nợ chồng con nặng oằn khúc khuỷu// Tiếng kẽo kẹt nhịp nhàng trên lưng mẹ/Bước nhanh chân kẻo lỡ chuyến đò chiều/Bóng mẹ nghiêng nghiêng tạc dáng hi sinh bất tận. (Vũ Hà)
Đặc điểm thơ 1-2-3 thường bám sát chủ đề được lựa chọn nên giữa chủ đề và đề tài và nội dung tư tưởng gắn bó chặt chẽ với nhau. Thông qua việc miêu tả một đối tượng văn học nào đó, nhà thơ trình bày quan niệm (thế giới quan, nhân sinh quan) của mình về một vấn đề nào đó trong đời sống xã hội. Như vậy, để tìm hiểu tư tưởng của tác giả, chúng ta cần thông qua việc giải mã chủ đề và lựa chọn đề tài.
Đặc trưng thơ 1-2-3 là tính đa nghĩa (ý tại ngôn ngoại), hình ảnh thơ được lựa chọn cẩn thận, chắt lọc,… nên tư tưởng nhà thơ khó nắm bắt. Để hiểu được tư tưởng trong thơ 1-2-3, ngoài văn bản thơ, ta cần tìm hiểu hoàn cảnh ra đời, phong cách tác giả và đặc biệt hoàn cảnh sống của nhà thơ,… mới có thể hiểu được tư tưởng của họ.
Ví dụ bài thơ của nhà thơ Phan Hoàng sáng tác tại Nga là một trong những bài thơ như thế. Người đọc có thể hiểu được cảnh đẹp hùng vĩ của nước Nga, chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nước Nga, hiểu được tâm sự của nhân vật trữ tình khi về khuya khi nhớ về Yesnin,… nhưng tư tưởng của nhà thơ là gì thì không phải là câu hỏi dễ trả lời. Nếu dựa vào cấu trúc của thơ 1-2-3, liên hệ câu 1 và câu 6 cùng với các hình ảnh thơ, giọng thơ,… người đọc có thể nhận diện tư tưởng của nhà thơ là người luôn đi tìm cái đẹp, khát khao cống hiếng như “thiếu phụ khát yêu thương”, tiếc thương cho số phận của một người tài hoa đoản mệnh Yesenin. Tuy nhiên để hiểu rõ hơn, chuẩn xác hơn tư tưởng của nhà thơ cần nghiên cứu về tác giả và hoàn cảnh ra đời của bài thơ. Ngay khi người viết từng tiếp xúc, nói chuyện, phỏng vấn nhà thơ nhưng cũng không vội vàng võ đoán về tư tưởng trong bài thơ này được.
Từ những trang thơ cái đẹp gọi tên// Đàn ngựa phi nước đại trong tuyết rơi rừng vắng/đột ngột dừng dựng bờm hí vang bến sông sâu// Trăng mờ ảo sau cơn mơ kỳ lạ/ Moskva về khuya như thiếu phụ khát yêu thương/ Tôi rót ly vodka nhớ Yesenin và những thi sĩ tha phương. (Phan Hoàng).
Có thể nói, tư tưởng của nhà thơ nói riêng và nhà nghệ thuật nói chung là nội dung khó nắm bắt khi chúng ta giải mã một tác phẩm nghệ thuật nào đó, trong đó có tác phẩm thơ. Qua khảo sát, nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận tư tưởng tác giả trong thơ 1-2-3 khó nắm bắt, thậm chí nặng suy tưởng, đôi khi có tính triết lí. Có điều này là do yêu cầu tính cô đọng cao (quý hồ tinh bất quý hồ đa). Và yếu tố này khá gần với thơ Haiku của Nhật Bản.
* Đặc trưng về cấu trúc
Cấu trúc của thơ 1-2-3 được tác giả Phan Hoàng chia sẻ tại buổi Tọa đàm Thơ 2023 tại thành phố Cần Thơ (6.2023) và trả lời báo chí trên một số diễn đàn khác. Việc nắm được cấu trúc rất quan trọng đối với các nhà thơ muốn sáng tác thể loại thơ này. Với người đọc, hiểu được cấu trúc góp phần hiểu được ý đồ của tác giả về xây dựng hình tượng trong thơ, có cái nhìn khái quát về bài thơ nếu nắm được cấu trúc, đặc biệt với thể loại thơ 1-2-3 là câu 1 và câu kết (6) cùng hướng về một chủ đề.
Hiện những quy định về sáng tác được Ban Biên tập trang web Văn học Sài Gòn đăng tải và hàng tháng đều có trao giải cho các nhà thơ gửi bài về tham dự (giải thưởng bao gồm tiền và quà lưu niệm). Nhà thơ Phan Hoàng chia sẻ “tôi đã đọc hơn 500 bài thơ 1-2-3 của các nhà thơ cả nước gửi về” và ông cũng bất ngờ về hiệu ứng tích cực của các văn nghệ sĩ trên cả nước.
Một số vấn đề về cấu trúc thơ 1-2-3 cần chú ý:
Thơ 1-2-3 mỗi bài thơ là chỉnh thể độc lập gồm 3 đoạn, 6 câu.
Trong đó, đoạn 1 chỉ có 1 câu gồm tối đa 11 chữ hoặc ít hơn, đồng thời cũng là tên bài thơ, nhằm tránh trùng lắp tên những bài thơ đã xuất hiện. Đoạn 2 có 2 câu, với mỗi câu tối đa 12 chữ hoặc ít hơn. Còn đoạn 3 có 3 câu, với mỗi câu tối đa 13 chữ hoặc ít hơn. Chữ càng tinh lọc càng đa nghĩa càng giá trị. Đề tài Thơ 1-2-3 hoàn toàn tự do, nội dung chủ yếu đi từ ngoại cảnh dần vào chiều sâu nội tâm tác giả muốn biểu hiện.
Đặc biệt khuyến khích tính độc lập từng câu thơ trong mối tương quan toàn bài, đồng thời giữa câu 1 và câu 6 cùng hướng về một đề tài, để nội dung bài thơ chặt chẽ, thống nhất trong một không gian thẩm mỹ riêng biệt (dẫn theo Văn học Sài Gòn, 2020).
Qua tiếp xúc một số nhà thơ, tác giả ghi nhận ý kiến của những người trong cuộc về thơ 1-2-3: đa phần thích thú về thể loại thơ này và cho rằng để viết một bài thơ 1-2-3 không khó nhưng để viết một bài hay thì rất khó. Theo chúng tôi, cấu trúc thể thơ này khá chặt chẽ, tuy không quy định về luật bằng – trắc, đối, niêm,… nhưng các hình ảnh thơ phải được chọn lọc kĩ càng, thậm chí phải là từ “đắc” mới có thể cô đọng được ở các thể thơ kiểu như 1-2-3, Haiku Nhật Bản. Cấu trúc 1-2-3 theo tác giả sẽ phù hợp với cách viết (phong cách) của những nhà thơ phản ánh chiều sâu bên trong. Và thể loại thơ này cần đọc chậm và đọc nhiều lần mới có thể giải mã được chủ đề cũng như tư tưởng của nhà thơ như tác giả đã từng đề cập.
2.3. Điểm mới và đóng góp của thơ 1-2-3 trong dòng văn học đương đại
Văn học đương đại Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay có nhiều biến chuyển và có những thành tự đáng ghi nhận. Tuy nhiên, so với các giai đoạn trước còn khá khiêm tốn, đặc biệt là ở thể loại thơ chưa đạt được sự mong đợi của nhân dân, Đảng và Nhà nước kỳ vọng. Thực trạng này đòi hỏi các nhà văn nghệ sĩ nói chung và các nhà thơ nói riêng không ngừng lao động, sáng tạo nghệ thuật trước diễn trình giao lưu văn hóa – nghệ thuật toàn cầu như hiện nay.
Đối với đội ngũ văn nghệ sĩ, Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Tài năng văn học nghệ thuật là vốn quý của dân tộc, vì vậy, chăm lo bồi dưỡng, quý trọng, phát huy và phát triển các tài năng là trách nhiệm của toàn xã hội” (Trương Tấn Sang, 2009, tr 14). Tại buổi Hội thảo khoa học Văn học nghệ thuật trong cơ chế thị trường và hội nhập, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh: “Trong bối cảnh rất mới, phong phú và phức tạp đó, yêu cầu của cách mạng và mong mỏi của nhân dân là sự nghiệp văn học, nghệ thuật của chúng ta phải lớn mạnh hơn, chủ động và bản lĩnh hơn để sáng tạo ra những tác phẩm có giá trị và tác giả có tài năng và tâm huyết xứng đáng với vị thế, tầm vóc của dân tộc”. (Trương Tấn Sang, 2009, tr 16)
Trở lại với thể thơ 1-2-3, chưa thể khẳng định vị thế của mình trong thơ Việt Nam đương đại nhưng là điểm sáng đáng ghi nhận cho các nhà văn nghệ sĩ dám nghĩ dám làm, nghiêm túc trong nghệ thuật và không ngừng sáng tạo. Nhà thơ Phan Hoàng sáng tạo ra một thể loại thơ mới và đang được các nhà thơ, nhà lí luận quan tâm; càng có nhiều nhà thơ muốn thử sức mình với thơ 1-2-3 minh chứng cho tài năng và sự phù hợp của thể loại thơ này với thời đại; minh chứng cho việc cần có những cải biến, cách tân cho thơ, tạo điều kiện để thơ vận động và phát triển. Không chỉ có thơ văn mà các loại hình nghệ thuật khác cũng cần có không gian sáng tạo.
Đóng góp của nhà thơ – nhà báo Phan Hoàng trước hết là tinh thần làm việc nghiêm cẩn của một nhà quản lí, nhà báo, nhà thơ và việc sáng tạo ra thể thơ 1-2-3 là đóng góp rất đáng ghi nhận. Trên các diễn dàn văn học nghệ thuật, chủ đề thơ 1-2-3 được nhiều nhà thơ, nhà lí luận bàn luận sôi nổi trong những năm gần đây (2018 – 2023). Khảo sát cho thấy, tính đến tháng 3.2024, đã có 8 tập thơ 1-2-3 được xuất bản, trong đó có tập thơ Vọng núi của Trần Nguyệt Ánh được trao Giải thưởng Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk năm 2022, tập thơ Lối sen sương của Vũ Thanh Thủy được trao Giải thưởng Hội Văn học Nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2022. Và rất nhiều chùm thơ 1-2-3 được các nhà thơ trẻ sáng tác dự thi với tinh thần hồ hởi, thích thú.
Nhà lý luận phê bình Lê Xuân cho rằng: “Sau hơn 3 năm thử nghiệm thể thơ này, tôi đã đọc mấy trăm bài thơ dự thi của hơn 500 tác giả và đặc biệt đọc 3 tập thơ 1-2-3 khá hay do nhà thơ Phan Hoàng viết lời giới thiệu, tôi lại càng bị cuốn hút, từng bước thấy được những “chân trời mới” của thể thơ này đem lại.” (Lê Xuân, 2023)
Đóng góp thứ hai là người tiên phong, đi đầu trong sáng tác và là người tạo cảm hứng cho các nhà thơ trẻ. Trên tờ Tinh Hoa Việt, Phan Hoàng đã có cuộc trò chuyện với nhà văn – nhà báo Nguyễn Tham Thiện Kế về văn học và báo chí, trong đó có đề cập đến các bạn văn trẻ: “Từ trải nghiệm của mình, tôi muốn góp phần tiếp thêm động lực cho các bạn trẻ mới bước vào nghề, nhất là những bạn có tài năng và nội lực có thể đi đường dài…” (báo Tinh Hoa Việt, 2021).
Là người làm báo sáng tác thơ lâu năm, nhà thơ Phan Hoàng đã có nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại được xuất bản và đạt nhiều giải thưởng trong và ngoài nước, nhà thơ luôn quan tâm các thế hệ trẻ và mong muốn nền văn học nước nhà sẽ đạt được thành tự trong nền văn học đương đại. Chính với mong muốn và trăn trở đó, nhà thơ đã tìm hướng đi mới cho thơ qua thể loại thơ 1-2-3.
Thực trạng thơ đương đại Việt Nam là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, bàn luận. Thực trạng về chất lượng thơ sau 1975 là vấn đề được nói đến nhiều nhất so với số lượng nhà thơ càng ngày càng tăng nhưng người đọc và chất lượng thì ngược lại. Nhà lý luận phê bình văn học Phong Lê nhận định: “Trước hết đó là sự hờ hững hoặc quay lưng giữa người viết và người đọc. Người viết thì đông lên, đông lên như chưa từng có. Còn người đọc thì giảm đi trông thấy, trên rất nhiều chỉ số” (Phong Lê, 2005, tr 270).
Nhà nghiên cứu Phong Lê cũng cho rằng, việc có quá nhiều các bài, các tập thơ như hiện nay là lý do chính đáng vì sau chiến tranh là thơ đi vào chiều sâu bên trong của con người – thứ mà vào thời chiến không cho phép chúng ta làm như vậy. Đó cũng là một thay đổi lớn của thơ Việt Nam đương đại và cũng là nghệ thuật Việt Nam nói chung. Vấn đề ở đây vẫn là chất lượng của thơ đương đại chưa xứng tầm với yêu cầu của thời đại và việc cho ra đời một thể thơ mới, mang phong vị vừa cổ điển vừa mới như thơ 1-2-3 là một tín hiệu đáng mừng cho thơ Việt Nam đương đại. Xin kết ý này với lời giới thiệu của nhà thơ Phan Hoàng trong tập thơ Vọng núi của Trần Nguyệt Ánh, nội dung chia sẻ rất chân thành và tâm huyết của ông: “Trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng, đi tìm phương thức mới để biểu hiện bao giờ cũng rất khó, và càng khó hơn khi không dễ được bạn đọc tiếp nhận, chia sẻ. Chỉ có sự đam mê và dũng cảm mới giúp chúng ta tự tin tìm tòi, khám phá” (Lê Xuân, 2023).
3. Kết luận:
Thơ 1-2-3 ra đời trong bối cảnh thơ ca Việt Nam đương đại cần có một luồng gió mới cho những biến chuyển lớn của thơ sau hòa bình thống nhất đất nước. Điểm sáng của thơ sau 1975 ở nước ta là số lượng các văn nghệ sĩ, các bài thơ, tập thơ,… tăng lên đáng kể về số lượng nhưng chất lượng (giá trị) thơ vẫn chưa được như kỳ vọng của nhân dân, Đảng và Nhà nước.
Bài nghiên cứu đặc điểm thơ 1-2-3 trong nền văn học đương đại Việt Nam hy vọng giới thiệu đến bạn đọc và các nhà nghiên cứu về những đặc trưng của thể loại thơ 1-2-3 và tâm huyết của người sáng tạo ra nó. Một thể loại thơ mới vừa xuất hiện chưa lâu (từ 2018) đang được sự quan tâm của các nhà văn nghệ sĩ trên cả nước. Cần có nhiều thời gian hơn để thẩm định giá trị và ảnh hưởng của nó với thơ ca Việt Nam hiện đại, nhưng với tinh thần đổi mới, những đóng góp và ảnh hưởng của thơ 1-2-3 đến phong trào sáng tác thể loại này trong vài năm trở lại đây là đáng được ghi nhận. Cần thời gian và nghiên cứu thơ 1-2-3 trên nhiều phương diện khác để có cái nhìn khái quát hơn về thể loại thơ này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Báo Tin hoa Việt. (2021). Nhà thơ – nhà báo Phan Hoàng: Tôi muốn góp phần tiếp thêm động lực cho bạn trẻ. Truy cập từ Chân dung & phỏng vấn. Truy xuất từ https://vanvn.vn/.
2. Hà Minh Đức. (1998). Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại. Quảng Trị: Nhà xuất bản Giáo dục.
3. Hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương. (2009). Văn học nghệ thuật trong cơ chế thị trường và hội nhập. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.
4. Lê Xuân. (2023). Nhà thơ Phan Hoàng – Người khai sinh và thể nghiệm thể thơ mới 1- 2- 3. Truy câp từ Chân Dung – Văn chương Phương Nam. Truy xuất từ https://vanchuongphuongnam.vn/.
5. Nguyễn Tham Thiện Kế. (2022). Nhà thơ – nhà báo Phan Hoàng: Tôi muốn góp phần tiếp thêm động lực cho bạn trẻ. Truy cập từ https://vanvn.vn/.
6. Phạm Văn Đồng. (1969). Tổ quốc ta nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học.
7. Phong Lê. (2005). Về văn học Việt Nam hiện đại nghĩ tiếp…. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
8. Phương Thảo. (2023). Tập thơ 1-2-3 Phạm Thị Phương Thảo: Những cánh hoa mở đêm. Truy cập từ https://vanhocsaigon.com/.
9. Trần Hồng Anh. (2020). Thơ 1-2-3 đa sắc, đa thanh, mang đậm hồn cốt Việt. Truy cập từ Lí luận phê bình – Văn học Sài Gòn. Truy xuất từ https://vanhocsaigon.com/.
10. Văn chương phương Nam. (2019). Nhà thơ Phan Hoàng. Văn chương phương Nam – Diễn đàn văn học-nghệ thuật. Truy cập từ https://vanchuongphuongnam.vn/.
8/11/2024
Nguyễn Minh Ca
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Mẹ của anh" - Tiếng lòng yêu thương tha thiết của Xuân Quỳnh

"Mẹ của anh" - Tiếng lòng yêu thương tha thiết của Xuân Quỳnh Mở đầu là lời khẳng định “Mẹ của chúng mình” và kết thúc bài thơ “...