Thứ Tư, 1 tháng 10, 2025

Ẩn ức Đêm trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh

Ẩn ức Đêm trong
thơ Nguyễn Thúy Quỳnh

Có lúc, cảm giác cô đơn với Nguyễn Thuý Quỳnh thật khủng khiếp: Trong bóng tối kinh hãi của sự im lặng/ Em quờ tay không chạm được vào anh. Có khi, sự thất vọng làm cho chị trở lên hoài nghi về những gì tốt đẹp của cuộc sống: Lòng tin bị đánh cắp đêm đêm hiện về mặc áo tang trắng toát. Nhà thơ định danh cho cuộc sống và tương lai của mình một cách bi quan: Em, con bò già kéo chiếc cày số phận/ Lê trên cánh đồng mờ mịt/ Cắt xuống mặt đêm vô vàn rãnh sâu. Đôi lúc nhà thơ biểu hiện sự bất lực của mình trước cuộc đời và số phận, cố tìm một chỗ nương tựa nào đó cho tâm hồn…
Lắm khi tôi cứ nghĩ: chính cái chất nhạy cảm nghệ sĩ trong nhìn nhận cuộc sống là nguyên do mọi nỗi buồn của nhà thơ và nỗi buồn trong thơ. Hình như những bài thơ hay nhất của nhân loại không phải nói đến niềm vui mà nói đến nỗi buồn. Cuộc sống bao giờ cũng có những mặt trái của nó và do vậy, cuộc sống bao giờ cũng nảy sinh và chứa đựng những nỗi buồn. Chính cách ứng xử với nỗi buồn trong cuộc sống sẽ góp phần bộc lộ tính cách, giọng điệu cũng như bản lĩnh của mỗi nhà thơ.
Cầm trên tay bản thảo tập thơ mới của nhà thơ Nguyễn Thuý Quỳnh (những bài thơ mới sáng tác và công bố trên các báo, tạp chí và cả trên Blog Nguyễn Thuý Quỳnh trong khoảng 2 năm gần đây), đọc nhanh qua 37 bài thơ, ấn tượng chung của tôi là sự ngự trị gần như tuyệt đối, khi đằm sâu xa xót, lúc vương vất nhẹ nhàng của nỗi buồn. Nhà thơ phải xoay trở vật vã với nó. Và Đêm chính là không gian thiêng liêng, u huyền cho cuộc chiến của những suy tư và cảm xúc trước mọi hiện trạng, mọi cung bậc của cuộc sống mà nhà thơ là người trải qua, chứng kiến và chiêm nghiệm. Hiển hiện trong tôi càng lúc càng rõ rệt một mệnh đề như là tâm điểm tập thơ, nó thu hút, quyến rũ và chinh phục người viết bài này: Ẩn ức đêm trong thơ Nguyễn Thuý Quỳnh.
Thơ hay là thơ phải đảm bảo độ chân thật của cảm xúc và ý nghĩ. Khi nào thì con người ta chân thật nhất? Đó là khi một mình trong đêm, đối diện với chính mình. Mặt khác, khi không chịu sự trói buộc của ý thức thì thơ thăng hoa, bởi bản chất của thơ là tiếng nói của vô thức, ý thức chỉ là sự điều chỉnh thuần tuý về mặt kỹ thuật của bài thơ, nó định ra những chủ đề, những tư tưởng và người đọc không khôn ngoan dễ dàng bị chi phối bởi cái chủ đề, cái tư tưởng ấy, bám vào nó như một căn cứ xác thực, một bằng chứng tin cậy nhất để định giá bài thơ. Điều đó theo tôi, nếu không hoàn toàn sai lầm thì cũng dẫn người ta đến những nhận định không thoả đáng. Những câu thơ hay nhất phải được thoát ra từ vô thức, không bị bất cứ một sự kiềm chế nào. Nó cũng cho chúng ta hiểu một cách chân thực và rõ rệt nhất về con người nhà thơ.
Thực ra chân dung tinh thần của nhà thơ Nguyễn Thuý Quỳnh đã được bộc lộ khá rõ ràng, bộc lộ một cách vô thức mà có lẽ ngay cả bản thân nhà thơ cũng hình như không để ý. Đó là những câu thơ trong bài Thơ về Lạc Đà, in trong tập Mưa mùa đông của chị: Không chỉ cõng trên lưng những gì người ta chất lên/Lạc đà còn mang cả chính mình/ Những cái bướu như tiền  kiếp úp xuống lưng/ Vậy mà những dấu chân/Không để lại hình hài trên sa mạc/ Không thể nói gì về sự còn mất/Với những đám xương rồng vô tâm. Nỗi cô đơn từ đấy mà ra. Chính vì không thể sẻ chia điều gì với “những đám xương rồng vô tâm” cho nên nhà thơ phải tự chịu đựng: Ta trở về với biển hãi hùng đêm. Đêm là nơi gửi gắm, là nơi chia sẻ, là nơi nương tựa cho những trạng huống tinh thần của nhà thơ. Đêm là nơi đong chứa những kỷ niệm êm đẹp nhất của chuỗi ngày hạnh phúc vẹn tròn, là nơi chứng kiến những khổ đau dằn vặt và những bất hạnh lớn nhất trong cuộc đời của chị. Trong ngôi nhà thân yêu đêm kết thành vườn địa đàng. Và cũng ở đó, nỗi đau thể xác của người chồng cứ lặng lẽ xoáy sâu vào tâm can chị: Năm ngàn đêm dấu bao nhiêu cơn vật vã trở mình/ Trong tiếng tích tắc đóng đinh giấc mơ thập ác.
Với Nguyễn Thuý Quỳnh, đêm không chỉ là nơi trú ngụ an toàn nhất cho tâm hồn, mà còn là nơi để chị tự giải thoát, trang trải những riêng tư của tâm hồn mình với đời sống. Nhưng dường như cái chỗ trú ngụ an toàn ấy lại là một không gian quá hẹp so với nỗi cô đơn trống vắng của nhà thơ. Cảm giác bất an vẫn luôn rình rập để có lúc chị như thấy mình đang tự giăng bẫy, tự chui vào lưới. Không có sự hãi hùng và tuyệt vọng nào hơn về nỗi bất lực khi nhà thơ một mình trong đêm: Ngồi chống cằm trân trân/Thấy mình vơi dần theo thông thốc gió. Chị mang trái tim cô đơn đi tìm sự chia sẻ để rồi chỉ nhận lại được những thất vọng, xa xót vì sự bạc bẽo của nhân tình thế thái, sự đổi trắng thay đen của những con người thực dụng nhân danh thơ và nhân danh sự cao thượng để  đem lại sự nổi tiếng giả cầy. Nguy hiểm hơn là khi sự giả dối và tàn độc được ẩn náu tinh vi bên trong những hình hài trí thức để có thể ung dung mà  …vặn thừng sự thật/Dìm những đời đen xuống bùn/ Ngoi lên được cũng đã xong một kiếp. Nhà thơ từng phải thảng thốt vì cái sự bất công và quá ư vô lý ở đời, nhất là khi chính bản thân chị cũng ở trong tâm trạng đồng cảnh ngộ của những cá chép mắc lưới ngày 23 tháng chạp/ ngẩn nhìn cua ếch hùng hục qua nhan nhản vũ môn. Có lúc, cảm giác cô đơn với Nguyễn Thuý Quỳnh thật khủng khiếp: Trong bóng tối kinh hãi của sự im lặng/ Em quờ tay không chạm được vào anh. Có khi, sự thất vọng làm cho chị trở lên hoài nghi về những gì tốt đẹp của cuộc sống: Lòng tin bị đánh cắp đêm đêm hiện về mặc áo tang trắng toát. Nhà thơ định danh cho cuộc sống và tương lai của mình một cách bi quan: Em, con bò già kéo chiếc cày số phận/ Lê trên cánh đồng mờ mịt/ Cắt xuống mặt đêm vô vàn rãnh sâu. Đôi lúc nhà thơ biểu hiện sự bất lực của mình trước cuộc đời và số phận, cố tìm một chỗ nương tựa nào đó cho tâm hồn. Nhạc Trịnh Công Sơn với những giai điệu dịu êm và những ca từ đầy tính triết học và nhân văn là cứu cánh tâm hồn cho chị khi không thể chịu đựng cuộc đời này thêm một giây nào nữa. Nhưng rồi bản năng và ý thức của một nhà thơ đã giúp chị nhận ra rằng, hạnh phúc và bất hạnh chỉ là một đại lượng được đo đếm bằng sự cảm nhận của mỗi người. Ấy là khi chị chứng kiến những phút giây bất chợt của cuộc sống vẫn diễn ra thường nhật. Đó là những người đàn bà bì bọp dặm trên mặt ruộng/ Rảnh mạ chắt chiu xanh từ cân thóc giống cuối cùng giữa những ngày rét hại. Đó là những người thợ nề ngất ngưởng lưng trời/ cặm cụi miết từng mạch vữa; là bà bán nước rong khản hơi nơi bến xe rát bỏng/ Chị đồng nát oằn lưng gánh tả tơi/ lầm lũi leo dốc nắng trong những ngày nắng nóng khắc nghiệt.Và hình như nhà thơ nhận ra rằng, cả hạnh phúc hay bất hạnh đều rất cần đến sự chia sẻ. Đa cảm là bản năng tâm lý của người nghệ sĩ. Với Nguyễn Thuý Quỳnh, bản năng tâm lý ấy được cộng hưởng bằng ý thức của một người từng trải nỗi đa đoan. Sự bất công của cuộc sống hay là cái cách “Thượng đế đùa dai” để cho những bất hạnh trớ trêu cứ tìm đến chị mà phơi bày: Một người đàn bà gò lưng chở những bắp cải su hào trôi dạt trong cái thế giới trên trời dưới hoa của ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3; một em bé Hà Giang lấy ô che gánh củi trong ngày mưa dầm dề của buổi chợ phiên ở cao nguyên đá; những người đàn ông trên chiếc xe ca với tâm trạng ngổn ngang của kẻ lần đầu tiên xa xứ mưu sinh; đàn vịt  vô gia cư lang thang trên cánh đồng bởi sự khiếp đảm của con người trước nạn dịch cúm H5N1… Nguyễn Thuý Quỳnh đồng cảm và chia sẻ bằng trái tim chưa một ngày bình yên của chị, nhân hậu và bao dung. Những câu thơ dường như chỉ chực oà nên trong tiếng nấc nghẹn ngào. Từ sự chứng kiến và suy ngẫm bằng những liên tưởng sâu xa Có những người đàn bà chở nỗi nhọc nhằn đằng trước/ có những người đàn bà chở nỗi bất hạnh đằng sau, đến sự ái ngại và cảm thương bằng nỗi ưu tư kín đáo: Củi ướt ai mua làm sao đem về núi/ Mưa vô tình lây ướt cả sang tôi. Từ nỗi xót xa trước những hy sinh lặng thầm và lớn lao trong cuộc mưu sinh đã tạo nên trăm nghìn những bi kịch cuộc đời:  Bao nhiêu người đàn ông hăm hở vận may bán mồ hôi xứ dầu?/ bao nhiêu người đàn bà gửi lại con mình, vượt trùng khơi nuôi con thiên hạ?/ bao nhiêu người già ngồi hoá thạch đầu sàn?/ bao nhiêu bé lớp một đến trường không cha đưa mẹ đón?, đến sự quá ư vô cảm của con người khi chị hình dung tình cảnh của đàn vịt con trong cơn hoảng loạn bởi sự xua đuổi và trong cái giá lạnh khắc nghiệt của mùa đông: Triệu cặp mắt tròn kinh hãi xoáy vào đêm..Những quan sát nhận diện cuộc sống trong hành trình tự khám phá bắc cầu cho ngững ẩn ức của tâm trạng. Khi đó, ẩn ức đêm vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của những bi kịch cuộc sống mà chị từng trải. Nguyễn Thuý Qùynh cứ lặng lẽ, âm thầm quan sát, âm thầm sẻ chia, vừa như một cách để giải toả những ẩn ức của tâm trạng, vừa như là sự trói buộc, gắn kết những đa đoan của số phận.
Đồng hành cùng thơ Nguyễn Thuý Quỳnh, tôi cứ ngẫm ngợi về một điều, giá mà có nhiều hơn nữa những gì lấp lánh trong đêm như là vệt sáng của tương lai, của ánh ngày thì tập thơ sẽ hay hơn biết chừng nào. Một lời chúc trên điện thoại của người không quen, một lần tìm chơi trên nét và cả ý thức tự phản tỉnh sau tiếng sét đầu mùa không đủ để cân bằng những chống chếnh trong tâm hồn nhà thơ. Xét về phương diện cấu trúc và ngôn ngữ thơ thì tập thơ này của chị đã gần đạt tới sự hoàn mỹ. Nó đáp ứng những yêu cầu khắt khe nhất đối với một nhà thơ chuyên nghiệp. Nhưng những ẩn ức về đêm quả thực là nặng nề. Bốn mươi hai lần xuất hiện từ đêm trong tổng số ba mươi bảy bài thơ là một số lượng không nhỏ, nó đủ sức để ám ảnh người đọc, tuy vậy, vẫn không thắng nổi những ma sát lý tính để thơ có thể cất cánh và bay cao, bay xa trên bầu trời nghệ thuật. Ẩn ức đêm muốn trở thành một nỗi niềm thơ, một ấn tượng thi ca đau đáu, ám ảnh và làm xúc động trái tim của đông đảo bạn đọc, theo tôi nghĩ, phải được thăng hoa bằng những thi ảnh riêng và lạ, tràn đầy cảm xúc của chính chủ thể sáng tạo. Tuy nhiên, ở chị, tôi chưa thấy thật rõ điều này. Dường như ẩn ức ấy mới chỉ được chuyển giao qua một cấu trúc thơ mang nặng tính tư biện, có ít nhiều sự khép kín đậm chất lý trí của một cái tôi chưa dễ tạo ra được những rung cảm đồng điệu. Dù thế nào đi nữa, những vần thơ đỉnh cao xuất phát từ vô thức vẫn phải là âm vọng mang tính cộng hưởng hướng tới sự sẻ chia của người đọc, phải mang hết thiện chân ra đổi/ mong tìm về đôi kẻ tri âm.
Dẫu sao, với tư cách là một người đọc và một người làm thơ, tôi vẫn yêu và trân trọng những ẩn ức về nỗi đau một cách hồn nhiên trong thơ Nguyễn Thuý Quỳnh. Trong muôn ngàn nỗi ám ảnh mang lại từ tập thơ, vẫn đau đáu và da diết một tâm hồn nữ sĩ với những đam mê, khát khao và cả những bất lực của một trái tim đang thổn thức giấu nỗi niềm quả phụ vào đêm.
24/1/2020
Nguyễn Kiến Thọ
Theo https://vanhocsaigon.com/

Hoài niệm Tết trong thơ xưa

Hoài niệm Tết trong thơ xưa

Trong thơ Việt từ trước tới nay, Tết đi vào thơ của mọi thời và của nhiều người, song những cái Tết trong thơ làm tôi nhớ nhất thuộc về thời Thơ Mới lãng mạn 1932 – 1945…
Đời người, trong tất cả những năm tháng đã qua cũng như những năm tháng của tương lai, Tết bao giờ cũng là một khoảng thời gian thiêng liêng, lắng đọng, mang đến cho mỗi chúng ta thật nhiều xúc cảm. Người thì đến với Tết bằng đoàn tụ sum vầy, người thì đến với Tết bằng lạc quan hy vọng, người thì đến với Tết bởi những khắc khoải nhớ thương…
Mở lại hợp tuyển “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh – Hoài Chân, thi phẩm đầu tiên gắn với Tết mang lại cho ta bao cảm xúc bùi ngùi, buồn thương của một lớp người đã tàn phai, đã dần xa những con người của thời hiện tại. Đó là bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình Liên. Hình tượng trung tâm của tác phẩm là ông đồ cho chữ, đại diện cho một lớp người với thú vui tao nhã thanh cao.
Tác phẩm gián tiếp phản ánh với chúng ta một biến cố quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội của đất nước, đó là sự “thất sủng” của chữ Hán bởi chế độ khoa cử bằng chữ Hán đã lần lượt bị xóa sổ ở Nam Kỳ, Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Địa vị của chữ Hán thay đổi khiến cho những người tìm đến ông đồ xin chữ, xin câu đối càng ngày càng ít hơn xưa, để rồi: “Ông đồ vẫn ngồi đấy/ Qua đường không ai hay/ Lá vàng rơi trên giấy/ Ngoài trời mưa bụi bay/ Năm nay đào lại nở/ Không thấy ông đồ xưa/ Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ“.
Thực ra, toàn bài thơ không có một chữ Tết nào, nhưng cái không khí Tết mà thi phẩm gợi ra là một điều có thật. Không khí Tết ấy đến từ hoa đào nở, từ cảnh ông đồ ngồi cho chữ. Và rồi cuối cùng, cũng là một cái Tết nhưng thay vào đông vui nhộn nhịp lại là sự cô đơn lẻ loi của một người ngồi bên lề, đã bị lãng quên…
Cũng viết về Tết nhưng với Đoàn Văn Cừ lại là một cách tiếp cận khác. Bài thơ “Chợ Tết” nổi tiếng của ông gồm 44 câu chính là một trong 4 tác phẩm được Hoài Thanh – Hoài Chân tuyển chọn để đưa vào “Thi nhân Việt Nam”. Thi sĩ đã tái hiện sống động quang cảnh của chợ Tết ở một vùng nông thôn Bắc Bộ với đủ các sắc màu, nhân vật, hoạt động vô cùng phong phú, đa dạng. Trong đoạn đầu, ta bắt gặp màu trắng của mây, màu đỏ của đỉnh núi, màu xanh của mép đồi, màu biếc của cỏ, màu đỏ của áo thằng cu, màu trắng của giọt sương, màu xanh của núi.
Ở đoạn tiếp theo, ta bắt gặp một loạt các nhân vật với các hoạt động khác nhau như anh hàng tranh thì gánh đôi bồ, thầy khóa thì viết chữ, cụ đồ vuốt râu đọc câu đối, bà cụ bán hàng, cụ lý bị sấn kéo, lũ trẻ con ngắm tranh, các cô gái cười rũ rượi, một anh chàng bán pháo, một người mua gà đang kiểm tra gà. Thế nhưng ở đoạn cuối cùng với 6 câu khép lại tác phẩm, những huyên náo sống động được thay thế bằng sự vắng lặng u buồn bởi chợ Tết đã tan.
Nếu như ánh mặt trời xuất hiện trong đoạn đầu của bài thơ được diễn tả gắn với những cảm xúc vui tươi: “Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa/ Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh/ Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh“; thì ánh mặt trời trong đoạn kết thúc đượm buồn, được đặt bên cạnh hình ảnh lá rụng: “Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê/ Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ“. Dường như thi sĩ cố tình tránh nỗi buồn thời đại mà rồi cuối cùng vẫn không thể chối bỏ, không thể lãng quên được. Nỗi buồn vẫn xuất hiện như một day dứt khôn nguôi trong lòng người.
Nếu như Vũ Đình Liên và Đoàn Văn Cừ, mỗi người chỉ có một bài thơ nổi danh về Tết, thì một thi sĩ lãng mạn cùng thời khác là Nguyễn Bính đã viết rất nhiều câu thơ Tết, bài thơ Tết.
Đầu tiên, Tết xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính với tính chất tả thực: “Có cô thợ nhuộm về ăn Tết/ Sương gió đường xa rám má hồng” (Không đề); “Em chưa lấy chồng/ Má hồng còn thắm/ Tết Tết xuân xuân/ Đời vui vẻ lắm” (Xuân).
Ngày Tết trong thơ Nguyễn Bính luôn gắn với một cảm xúc, một ước ao được sum vầy đoàn tụ. Thế nên nếu Tết mà phải xa nhau, phải ly biệt thì đó chắc chắn sẽ trở thành nỗi buồn day dứt khôn nguôi trong lòng người: “Năm ngoái Tết rồi/ Năm nay lại Tết/ Ai đi biền biệt/ Hai Tết rồi đây/ Buồng hương lẳng lặng/ Then chẳng thiết cài/ Còn đợi chờ ai/ Biết bao Tết nữa” (Tết).
Những ngày Tết vui nhất trong thơ Nguyễn Bính là những ngày Tết vọng về trong hồi ức, lúc thiếu thời. Có những cái Tết gắn với hình ảnh người mẹ tần tảo, hiền từ: “Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều/ Mẹ tôi lo liệu đủ trăm chiều/ Sân gạch tường hoa người quét lại/ Vẽ cung trừ quỷ trồng cây nêu (…) Xong ba ngày Tết mẹ tôi lại/ Đầu tắt mặt tối nuôi chồng con/ Rồi một đôi khi người giậm gạo/ Chuyện trò kể lại tuổi chân son” (Tết của mẹ tôi).
Có những cái Tết gắn với hình ảnh người bạn gái thuở hoa niên: “Trời đen như mực, tối ba mươi/ Diễm lén sang nhà để gặp tôi/ Hai chúng tôi ngồi trên đệm rạ/ Lắng nghe nồi bánh rộn ràng sôi” (Thi vị).
Nhưng những cái Tết xuất hiện nhiều nhất trong thơ Nguyễn Bính là những cái Tết xa nhà, phải đón xuân nơi xứ người. Danh từ Tết vì thế thường có một loạt yếu tố đi sau để nhấn mạnh cái sự xa quê ấy như: “Tết ngoài thiên hạ”, “Tết quê người”, “Tết người ta”: “Bốn bể vẫn chưa yên sóng gió/ Xuân này em chị vẫn tha hương/ Vẫn ăn cái Tết ngoài thiên hạ/ Son sắt say hoài rượu viễn phương (…) Đêm ba mươi Tết quê người cũng/ Tiếng pháo giao thừa dậy tứ phương” (Xuân vẫn tha hương), “Quán trọ xuân này hoa lại nở/ Lại ngồi xem Tết, Tết người ta” (Quán trọ).
Và mọi cái Tết ở xứ người ấy đều là những cái Tết vô duyên, những cái Tết không mang đầy đủ ý nghĩa thực sự. Nỗi khát khao sum họp trong những ngày Tết vì thế mà càng cháy bỏng, nhưng bởi không thể trở về nên con người đành chấp nhận mà ôm lấy nỗi buồn tủi nhiều khi đến bẽ bàng: “Chiều ba mươi hết năm rồi/ Nhà tôi riêng một mình tôi vắng nhà/ Tôi còn lận đận phương xa/ Để ăn cái Tết thật là vô duyên” (Xuân về nhớ cố hương); “Rượu chẳng say cho đèn cũng lụi/ Ngày mai xuân nở khắp giang san/ Ngày mai ăn Tết bằng chi nhỉ/Ăn Tết bằng hai cánh cửa quan” (Tết biên thùy).
Bài thơ xuất hiện nhiều từ Tết nhất và khắc khoải da diết nhất là thi phẩm “Xuân tha hương”, gồm 100 câu được bắt chung một vần. Cái điệp khúc “Tết này chưa chắc em về được/ Em gửi về đây một tấm lòng” trở đi trở lại đến 7 lần trong toàn bộ bài thơ. Rải rác trong bài còn có 6 từ Tết khác, nâng tổng tần số xuất hiện của Tết trong thi phẩm lên tới 13 lần. Cái cảm giác bơ vơ, lạc lõng, cô đơn, vô định dễ khiến người ta phải trào nước mắt: “Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết/ Một mình em vẫn cứ tay không/ Vườn nhà Tết đến hoa còn nở/ Chị gửi cho em một cánh hồng/ Tha hương chẳng gặp người tri kỷ/ Một cánh hoa tươi đỡ lạnh lòng (…)/ Chị ơi Tết đến em không được/ Trông thấy quê hương thật não nùng (…)/ Tết này ồ thế mà vui chán/ Những một mình em uống rượu hồng (…)/ Chị ơi Tết đến em mua rượu/ Em uống cho say đến não nùng/ Uống say cười vỡ ba gian gác/ Ném cái chung tình xuống đáy sông…”.
Tết không chỉ như một ám ảnh mà còn trở thành định mệnh của thơ và đời Nguyễn Bính. Chẳng thế mà trong những câu cuối của bài “Nhạc xuân”, thi sĩ dường như đã buông ra một “lời sấm” cho sự ra đi mãi mãi của mình: “Năm mới tháng giêng mùng một Tết/ Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân/ Huyền Trân ơi!/ Mùa xuân, mùa xuân, mùa xuân rồi/ Giờ đây chín vạn bông trời nở/ Riêng có tình ta khép lại thôi“.
Sau 27 năm kể từ khi công bố bài “Nhạc xuân” (1939), Nguyễn Bính đã vĩnh viễn rời cõi tạm vào đúng ngày 29 tháng Chạp (năm đó không có ngày 30), ngay trước thềm mùng một Tết năm Bính Ngọ (1966), để lại bao nuối tiếc xót xa trong lòng những người ở lại.
Qua ba thi sĩ của phong trào Thơ Mới: Vũ Đình Liên, Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Bính, chúng tôi muốn làm một cuộc hành hương, hoài niệm về Tết trong thơ xưa. Đó là những mùa xuân, những cái Tết mà nỗi u buồn sầu thương vẫn còn giăng mắc, bàng bạc trong hầu hết các thi phẩm bởi đất nước chưa được độc lập tự do, vẫn còn nằm trong sự cai trị của thực dân.
Thế nhưng cái tình của con người với Tết, với quê hương, với gia đình luôn là một điều chân thành, gây niềm xúc động mạnh mẽ cho người đọc, không chỉ của thời bấy giờ mà còn tiếp tục chinh phục mỗi chúng ta hôm nay.
26/1/2020
Đỗ Anh Vũ
Theo https://vanhocsaigon.com/

Ước là người đến sau, sau thật sau, để được là sau cuối

Ước là người đến sau, sau
thật sau, để được là sau cuối

Nhà thơ Nguyên Trân là một trong những thành viên sáng lập trang Văn Học Sài Gòn, tác giả của hai tập thơ “Cỏ không tên” và “Thinh Hương”. Hôm nay 27.01 là sinh nhật của người đàn bà trẻ làm thơ sinh trưởng ở Hà Nội hiện sống và làm việc ở TP.HCM, VHSG chúc mừng Nguyên Trân và giới thiệu bài viết của nhà văn Cao Chiến về thơ chị.
Tác giả Nguyên Trân đã cho trình làng hai tập thơ: “Cỏ không tên” vào cuối 2015 và “Thinh Hương” khá dày dặn gồm 80 bài – vào năm 2016, đều dán mác Nxb Hội nhà văn. Nội dung bài viết này gói trong một vài cảm nhận về tập thơ thứ hai.
Mô-tip xuyên suốt Thinh Hương cơ bản là nói về yêu, có thể coi là một tập thơ tình, dù đó là Về phố, Hương quê, Chờ xuân, Vẫn còn một đốm lửa, Nắng hạnh, Tình ru, Bốn mùa khắc khoải, Dòng hạ… Tình trong Thinh Hương có khá nhiều cung bậc nhưng thật sự là rất ấm áp dù đây đó có chút gì oán trách giận hờn. Người thục nữ trong Thinh Hương lắng nghe tiếng thầm thì của phố, của mùa, của cơn mưa qua, của gió heo may, của những khoảng lặng trái tim, mổ xẻ và cho chúng thăng hoa.
“Em lặng lẽ choàng chiếc khăn lụa tím/như lần đầu e lệ đón lời yêu/nước hồ lay động/bóng anh xa vắng/hoài công em đã trang điểm mỹ miều” (Chờ xuân);“Em trói chặt những ý nghĩ về anh/rồi đem nhốt thật sâu vào một nơi không thể tìm thấy/…năm quá dài và tháng quá rộng/lòng người sâu nhưng lòng người trống rỗng/dẫu cố tình tìm về, liệu có lại còn nhau/em ước mình là người đến sau/sau thật sau, để được là sau cuối/là người nhen lên ngọn lửa đã nguội/để giờ này không cần chôn chặt những nhớ thương” (Vẫn còn một đốm lửa).
Nhiều người đàn bà có hành động làm đẹp như người đàn bà trong “Chờ xuân”nhưng thứ nhận được lại là sự thờ ơ khiến họ cảm thấy là mình đã hoài công trang điểm. Sự đối lập của hai trạng thái, hồi hộp náo nức rồi rơi vào trống trải chẳng phải ai cũng nói ra được. Chỉ bằng đôi hình ảnh choàng khăn, nước hồ lay động và hoài công trang điểm mỹ miều, tác giả đã lột tả trọn vẹn tâm trạng “Chờ xuân” khiến cho nhiều người phải chạnh lòng. Với “Vẫn còn một đốm lửa” thì lại là một trạng thái khác. Người đàn bà đã quyết liệt ra tay “trói chặt những ý nghĩ về anh/rồi đem nhốt thật sâu vào một nơi không thể tìm thấy” nhưng đâu đó vẫn còn một đốm lửa. Tôi thật sự rất có ấn tượng với tâm nguyện “em ước mình là người đến sau/sau thật sau, để được là sau cuối/là người nhen lên ngọn lửa đã nguội/để giờ này không cần chôn chặt những nhớ thương” (Vẫn còn một đốm lửa). Trong bài hát “Main dans la main” có câu “Mon presque premier amous”, nôm na là khi yêu thì dường như tình nào cũng là tình đầu. Phải nhân văn lắm lắm người ta mới ước mình không chỉ là người đến sau mà là sau thật sau để được làm người sau cuối.
Ngôn ngữ trong Thinh Hương có thể nói là tinh tế và có một chút gì vẻ hơi đài các khi biểu đạt trạng thái cảm xúc. Chủ quan tôi cho rằng tác giả đọc và thuộc rất nhiều thơ, bởi để có được ngôn ngữ theo lối này ngoài năng khiếu và sự si mê còn một yếu tố là năng lực hấp thụ và thẩm thấu thơ. “Văng vẳng điệu nhạc buồn/dưng nhớ người dưng quá/phố xưa bỗng hóa lạ/thiếu một làn hương quen” (Về phố); “Hoàng hôn trắng/ngu ngơ buông/mơ tiền kiếp/ngào ngạt một vùng trăng suông/nối nhớ niềm thương dâng trùng trùng điệp điệp/…gió không lời/lan nhè nhẹ/ngày nối ngày diệu vợi/giọt nắng hạnh miên tràn muôn lối” (Nắng hạnh); “Cơn gió hạ chất chồng hờn giận/ngậm hương sen tinh tấn giao hòa/khỏa đi cay đắng xót xa/nhớ thương lưu lại đậm đà mãi thôi” (Dòng hạ).
Cái hay của việc hấp thụ và tìm kiếm cho mình lối biểu đạt là ở chỗ ngôn ngữ và nhịp thơ phù hợp với tâm trạng. Ví dụ trong bài Hương quê, Nguyên Trân viết: “Giếng làng mát trong/hớ hênh yếm đài/thênh thênh sợi gầu dài/trăng thượng tuần gột rửa bụi trần/…bước nhỏ lối mòn/mái đình xưa vẫn hẹn/giọng ru hời thắm đượm/gió lành thoảng nhẹ dấu hài du hao” (Hương quê). Ở khúc thơ này ta thấy thấp thoáng bóng một miền quê cổ với giếng nước, cô gái hớ hênh yếm đài, và chút gì nữa chỉ có ở một vài nơi ví dụ như Kinh bắc hoặc một đôi  vùng ven Hà Nội, “gió lành thoảng nhẹ dấu hài du hao” man mác nhớ thương. Hoặc cái chất kim cổ giao hòa trong “Dòng hạ”mà tôi đã dẫn ở trên cũng vậy. Chính là ở sự tinh tế và có chút gì đài các của ngôn ngữ đã tạo cho Thinh Hương một giọng riêng không lẫn vào thơ của các tác giả khác, và tôi nghĩ với chút riêng như vậy đã là một thành công của người viết. Ở đôi triết lý dường như Thinh Hương bị đoản mạch khiến cho người đọc là tôi có chút hụt hẫng. “Khi biết nhận thức là biết mình thiếu thốn” (Đứa bé mồ côi), “Ôi Tổ quốc, thiêng liêng như tình mẫu tử/giữ yên bình cho Tổ quốc tràn Xuân” (Tổ quốc, đất mẹ thiêng liêng) nhàn nhạt thế nào. Dù vậy về tổng thể Thinh Hương vẫn là một tập thơ hay và rất đáng đọc.
27/1/2020
Cao Chiến
Theo https://vanhocsaigon.com/

Ngô Tất Tố - Một sự nghiệp lớn trên cả hai tư cách

Ngô Tất Tố - Một sự nghiệp
lớn trên cả hai tư cách

Nghiệp văn của Ngô Tất Tố là nằm trọn nửa đầu thế kỷ XX, thế nhưng người đọc vẫn không một chút e dè khi đặt Ngô Tất Tố vào hàng những đại văn gia của thế kỷ. Bởi ông luôn luôn là con người của thời sự, của hiện tại. Bởi ánh sáng trong tác phẩm của ông luôn luôn có sức rọi sâu và xa. Bởi sự nghiệp của ông là dự cảm, là phát ngôn, là hiện thân những vấn đề lớn của đất nước, của nhân dân, của thế kỷ.
Một thế kỷ dày đặc các sự kiện, các biến động, các đổi thay, các bước ngoặt trong đời sống vật chất và tinh thần, trong văn hoá, văn học, nghệ thuật… mà phần xuyên suốt, liền mạch, không ngắt quãng của nó là hai nhu cầu lớn và khẩn thiết: công cuộc canh tân đất nước và cách mạng dân tộc – dân chủ chúng ta đã hoàn thành; công cuộc đổi mới và cách mạng theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang theo đuổi. Đó là hai nhu cầu xen cài vào nhau, chuẩn bị cho nhau, làm tiền đề cho nhau, cùng điều chỉnh, cùng phát triển. Ở mỗi nhà văn lớn như Ngô Tất Tố, phần giá trị tác phẩm của họ là nhằm đáp ứng được một nhu cầu, hoặc gắn được một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, gần hoặc xa hai nhu cầu ấy. Đưa văn chương vào quỹ đạo các vấn đề xã hội, trong đó nổi lên cực kỳ gay gắt vấn đề áp bức và bóc lột, vấn đề quyền sống và sự an toàn của con người, vấn đề sống còn của dân tộc – đó là vấn đề bức xúc, dồn tụ suốt nửa đầu thế kỷ và đạt đỉnh điểm, để đi tới giải pháp ở thời điểm 1945. Đưa văn chương vào con đường hiện đại hoá, vào một quá trình hoà nhập với thế giới, để cho nền văn chương ấy thoát ra khỏi tình thế phong bế, lạc hậu; góp phần cải tạo dân trí, khơi gợi các khát vọng dân chủ ở con người – đó cũng là một nhu cầu lịch sử cấp bức đặt ra vào đầu thế kỷ. Nhu cầu đó tìm được cách giải quyết nhờ vào sự tiếp sức của mấy thế hệ Nho học và Tây học, trong cả một phong trào liên tục nhằm truyền bá chữ quốc ngữ, phát triển báo chí, hình thành các thể văn mới, giao lưu và hoà nhập từng phần vào nền văn hoá thế giới hiện đại…
Là nhà văn hiện đại sinh năm 1893, thuộc lớp tiền bối của số lớn nhà văn có tuổi đời thua ông trên dưới 30 năm làm nên một đội ngũ hùng hậu vào những năm 1930 đầu 1940. Với năm sinh đó, ông đã xích gần với những tên tuổi thuộc thế hệ giao thời như Tản Đà, Trần Tuấn Khải, Hồ Biểu Chánh… Thế nhưng trong ý tưởng của nhiều tầng lớp bạn đọc, ông vẫn là người của thế hệ mới, người của thời hiện đại. Đi suốt chiều dài thế kỷ XX, ông không phải là người gối đầu, người chuyển tiếp, người của buổi giao thời, mà vẫn cứ là người hiện đại. Nhà Nho đầu xứ tinh thông Nho học, am hiểu Đông phương học ấy lại là người rất tân thời, rất cùng thời với chúng ta, trong toàn bộ trước tác của ông với tư cách nhà văn, nhà báo, nhà phóng sự, nhà tiểu thuyết, nhà tiểu phẩm, và bao trùm, một nhà văn hoá, nhà học giả… Toàn bộ trước tác của ông chứa đựng nhiều mặt giá trị. Không riêng Tắt đèn, Việc làng, Tập án cái đình nói với ta bao điều nhức nhối trong sinh hoạt người nông dân và nông thôn Việt Nam trước 1945. Không riêng tiểu phẩm, báo chí nói với ta một đời sống với bao điều bức bối của một xã hội đã chuyển hẳn vào guồng quay của chế độ thuộc địa. Không riêng Lều chõng và các công trình nghiên cứu về sử, văn học sử và tiểu thuyết lịch sử cho ta hiểu Ngô Tất Tố như một nhà văn hoá sử. Quả là vậy, Ngô Tất Tố luôn luôn làm ta kinh ngạc, vì cách đặt các vấn đề xã hội từ các tầng tiềm ẩn sâu xa của sự sống và của cả nền văn hoá, và vì sự nhạy cảm, thức thời, cập nhật của thời sự, của hiện tại. Tách riêng ra, ở mỗi lĩnh vực, Ngô Tất Tố là người viết sâu sắc, và bộc lộ hết mình. Tổng hợp lại, ông càng lớn trong những thấu hiểu sâu xa về cuộc sống và con người, về xã hội và thời cuộc, về tri thức và văn hoá, về văn chương và học thuật…
Ngót hai phần ba thế kỷ qua, tên tuổi Ngô Tất Tố trước hết và gần như bao quát là gắn liền với Tắt đèn (1938), “một tiểu thuyết có luận đề xã hội hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tùng lai chưa từng thấy”, theo cách nói của tác giả Giông tố, Số đỏ. Nhà văn hoàn thành tác phẩm ngay chính trên làng quê của mình, đã đào xới vào tận cùng các tầng sâu nỗi khổ của người nông dân như trên các luống cày của đất quê, trên số phận của những người thân kẻ sơ một vùng quê không xa ánh sáng thành thị là mấy, mà cứ như hun hút ngập vào đêm đen trung cổ.
Tắt đèn ra đời vào cuối những năm 1930, như một báo hiệu tức nước vỡ bờ. Chỉ dăm năm sau khi Tắt đèn ra mắt và bị cấm, sẽ diễn ra một cuộc cách mạng làm thay đổi tận gốc số phận người dân Việt Nam. Nhưng nếu sự vùng dậy là quyết liệt, làm đổi đời hai mươi lăm triệu con người thì cái giá phải trả cho sự đổi đời đó là hai triệu người gục xuống trong một cơn đói khủng khiếp, nối dài những cơn đói triền miên trong lịch sử. Người đói ăn rau má, củ chuối, cám bã, khô dầu, bã đậu… Người đói ăn tất cả những gì có thể ăn, và cả những gì không ăn được, miễn là không gây chết người. Cái “nghệ thuật làm no” bằng cách ăn đất sét, và cách pha chế nó sao cho có vị, để nuốt trôi được, của một người làng Ngô Tất Tố trong một chuyến nhà văn về thăm quê giữa mênh mông ngập lụt, quả là một cách chống đỡ đã nâng lên trình độ nghệ thuật để đánh lừa cả dạ dày và khẩu vị. Ở đây là “nghệ thuật làm no”, chứ không phải no thật. Chuyện no thật sẽ có những trang khác, như Một bữa no của Nam Cao. Nói là no, nó vẫn cứ là một biến dạng thê thảm của cái đói, và chết vì no là một cực khác của đói khổ và tủi hổ.
Hóa thân vào người nông dân nhưng Ngô Tất Tố vẫn là một nhà Nho, một trí thức Tây học, một kẻ Sĩ của nhân dân. Ông nhìn nhân dân với cái nhìn của người trí thức và đau nỗi đau của người trí thức, không phải cái nhìn và nỗi đau của người đứng ngoài “Họ khổ mà không biết rằng mình khổ, âu là mặc quách họ!” (Vũ Trọng Phụng). Người trí thức ấy có một trục đi – về quen thuộc là nông thôn và thành thị, là Từ Sơn – Hà Nội (nay là Đông Anh – Hà Nội). Gắn với đất quê, ông cũng đồng thời tách ra khỏi đất quê, để nhìn nông thôn chìm trong tối tăm từ phía ánh sáng thành thị, và nhìn rộng ra những vấn đề của một xã hội đang chuyển động giữa ngổn ngang những bất công và đói khổ, của sự phân cực giàu – nghèo, của những nhố nhăng và thối ruỗng được che đậy hoặc không cần che đậy. Tất cả đều có cách vào văn Ngô Tất Tố với những chạm khắc thật sắc sảo qua hàng trăm phóng sự, hàng nghìn bài bút chiến, tiểu phẩm, trên nhiều mặt báo, và qua hàng chục bút danh.
Nghề báo, đó cũng chính là lĩnh vực Ngô Tất Tố chiếm lĩnh ở vị trí cao, và tác giả Ngô Tất Tố – vẫn qua nhận xét của Vũ Trọng Phụng – là “một tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà Nho”. Ở đây bộc lộ sự quyết liệt, sâu sắc trong phê phán, phanh phui, lật trở các vấn đề của xã hội thuộc địa. Ở đây vừa tiếp tục các vấn đề của bóc lột, tước đoạt, vừa bổ sung các vấn đề về phong tục, lối sống, ứng xử của văn hoá làng xã và đô thị vào một buổi giao thời Đông – Tây, giao thoa mới cũ. Ở đây không hiếm các chân dung phản diện trong bộ máy chức dịch nhà nước từ thấp lên cao, được mở ra trên một biên độ khá rộng, từ Toàn quyền, Thống sứ, Khâm sứ đến Tổng đốc, nghị viên, dân biểu, rồi các loại nha lại, chức dịch, cường hào… Cũng ở đây hiện lên thấp thoáng chân dung nhà văn – người không hoà hợp được với hiện thực nhưng vẫn phải tồn tại và gắn bó với nó trong một khát khao cải tạo và thay đổi; nếu chưa phải là cách mạng, nếu đôi lúc có sa vào ảnh hưởng cải lương thì cũng là điều khó tránh; bởi lẽ trên cái gốc cơ bản là nhập cuộc, là yêu nước và thương dân, ông không một chút thoát ly, trốn lánh, hoặc sa vào những tìm kiếm siêu hình.
Quả không dễ hình dung di sản báo chí đặc sắc gồm nhiều nghìn bài ở Ngô Tất Tố nếu không thấy ở người trí thức yêu nước yêu dân này một sự căm ghét mọi tội ác đến từ nhiều phía, sự vô nhân, và những điều phi nghĩa trong quan hệ giữa người giầu, kẻ nghèo. Ở kho tiểu phẩm đồ sộ hơn tất cả mọi người viết đương thời nào của Ngô Tất Tố, có thể cho ta một sự hình dung, một bên là đời sống xã hội phong kiến – thuộc địa ở những mặt tối tăm, nhố nhăng và bi đát của nó; và bên kia là đời sống văn chương báo chí trong thế nương tựa vào nhau, làm nên đặc thù đời sống văn hoá những năm 1930 thế kỷ XX. Báo chí đã trở thành cái nôi sinh thành nền học Quốc ngữ và văn chương Quốc ngữ; và văn học đã đưa báo chí vào một trường lực hấp dẫn, sống động cho đời sống tinh thần, góp phần thúc đẩy nhu cầu dân trí và khát vọng dân chủ của con người và xã hội.
Bên người viết văn về nông thôn, nhà văn của dân quê đằm thắm tình người, Ngô Tất Tố còn là nhà báo sắc sảo của đời sống thành thị. Nông thôn và thành thị, biểu trưng cho đời sống dân tộc trong một cơn chuyển động lớn lao của lịch sử, của thế kỷ, biểu trưng cho sự giao thoa cũ và mới, của phương Đông và phương Tây, trong tự nguyện và bắt buộc, trong giao lưu và cách bức, trong riêng rẽ và gắn nối, trong bổ sung và tương phản, trong hoà hợp và đối nghịch… trên chặng cuối một thời kỳ chuyển động để hướng tới một giải pháp cách mạng, đã tìm được một cách phát ngôn, một kiểu đại diện ở Ngô Tất Tố.
Tư cách nhà văn hoá, học giả, người nghiên cứu dày dặn và sâu sắc về văn hoá dân tộc nói riêng và văn hoá phương Đông cổ truyền có thể được xem là phần cơ bản tạo nên cốt cách riêng của Ngô Tất Tố, so với nhiều đồng nghiệp cùng thời. Ông làm sách Lão Tử, Mặc Tử, dịch Kinh Dịch, Đường thi, nghiên cứu văn học Lý-Trần, viết sách Phê bình Nho giáo của Trần Trọng Kim… Những năm 1930 và trước đó, các vấn đề của dân tộc và văn hoá dân tộc đã được đặt ra, với nhiều động cơ, mục tiêu khác nhau. Có cái là nằm trong ý đồ của chính quyền thuộc địa, nhằm phục vụ cho các âm mưu của giai cấp thống trị. Có cái là cách tìm một lối thoát ly, độc lập với chính trị, để có một khu vực riêng, độc lập cho văn chương, học thuật. Thời gian rồi sẽ dần dần giúp cho sự nhìn nhận một cách công bằng các giá trị trên một sự phân tích khách quan hơn, mối quan hệ giữa các động cơ và hiệu quả.
Xứng đáng ở nhiều tư cách, nhưng với Ngô Tất Tố, nhấn mạnh lại tư cách nhà văn hoá, như một tư thế bao trùm, và là điểm tựa cho mọi lĩnh vực sáng tạo ngôn từ và bồi đắp cho tư duy hình tượng, luôn luôn đạt được độ cao sâu và các giá trị bền vững. Ông là nhà văn đứng cùng vị trí vinh quang của nhiều đồng nghiệp cùng thời như Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao… Đồng thời ông có một vị thế riêng, ở giai đoạn 1930-1945, và cho đến hôm nay. Những đỉnh cao văn chương như ông có người đạt được, nhưng ông còn có thêm những giá trị mà nhiều người không có. Từ thời điểm hôm nay mà nhìn lại, một chân dung lớn, một sự nghiệp lớn trên cả hai tư cách: nhà văn, nhà văn hóa như Ngô Tất Tố là thuộc con số hiếm.
27/1/2020
Phong Lê
Nguồn: Văn Nghệ số 25/2019
Theo https://vanhocsaigon.com/

Những bài thơ mang đậm sắc màu tình tự của Chế Lan Viên

Những bài thơ mang đậm sắc màu
tình tự của Chế Lan Viên

Chế Lan Viên có nhiều bài thơ được đưa vào giảng dạy các bậc học như Người đi tìm hình của nước, Tiếng hát con tàu, Gửi Kiều cho em những năm đánh Mỹ… Nhưng ông cũng có nhiều bài thơ giàu chất tình tự khác. Như bài Hoa đào nở sớm, Xuân, Thu, Rét đầu mùa nhớ người đi phía biển…
Sau đây là những cảm nhận về một vài bài thơ tình tự của Chế Lan Viên.
Bài thơ: Hoa đào nở sớm
Hoa đào trước ngỏ em qua
Sáng nay bỗng ướm cành hoa vào mùa
Đầy vườn lộc biết cây tơ
Năm đi chưa hết, đã ngờ xuân đâu
Bỗng dưng một đóa hoa đầu.
Nghe như đất lạ năm nào gặp em
Phải rằng xe xích thời gian
Vầng dương bên ấy mọc sang bên này ?
Nắng hoe, bướm trở mình bay
Cành non nở vội kịp ngày chào hoa.
Lòng anh tự độ em qua
Hoa bay bướm dạo cùng ta vào đời.
Hãy đọc những lời thơ tình tự với mùa đông năm ngoái, với mùa Xuân năm nay, với cành đào tươi thắm… trong bài thơ Hoa đào nở sớm:
Hoa đào trước ngỏ em qua
Sáng nay bỗng ướm cành hoa vào mùa
Quả là không ngờ được. Như câu thơ cổ: Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Thật bất chợt, thật bất ngờ. Mỗi ngày em đều đi qua ngỏ. Mới hôm qua đây thôi, em vẫn thấy cây đào trơ cành trụi lá. Vậy mà, phút chốc chỉ một đêm trôi thật khẽ:  “Sáng nay bỗng ướm cành hoa vào mùa”. Nét thi vị làm lay động lòng người chính là cái sự “ bỗng ướm cành hoa vào mùa”. Chỉ là “ướm “thôi. Nhẹ nhàng. Rất duyên. Rất mới. Và chính cái “sự “bỗng” đáng yêu đó, mà:
Đầy vườn lộc biết cây tơ
Năm đi chưa hết, đã ngờ xuân đâu
Năm đi chưa hết, đào đã ướm hoa, khiến cho lòng thi sĩ cảm nhận cái đẹp hồn nhiên của đất trời, và ngỡ ngàng là bởi: “đã ngờ xuân đâu”.Xuân chưa đến mà vườn đã đầy lộc.Làm sao không mở căng lồng ngực mà đón gió thơ:
Bỗng dưng một đóa hoa đầu.
Nghe như đất lạ năm nào gặp em
Đóa hoa đào đầu tiên nở trên cành lộc biếc. Màu hồng đào tươi tắn hay màu hồng nhạt xinh xinh. Không hề nghe tác giả giới thiệu. Nhưng là màu hồng đậm hay nhạt, không gian như bừng sáng. Cành đào như một cô gái đang điệu đàng làm duyên. Lại dùng từ “ bỗng dưng”. Ừ thì bỗng dưng sao đào nở sớm?.Và Ừ thì bỗng dưng sao nhớ da nhớ diết về kỷ niệm một thời dấu yêu?
Kỷ niệm đã trổi dậy khi nhân vật trữ tình nhìn thấy đóa hoa đào đầu mùa ướm trên cành lộc biếc. Nên mới “nghe như”. Cách chuyển đổi cảm giác từ “thấy” thành “nghe” của nhà thơ quả thật là điêu luyện.. “Nghe như đất lạ năm nào gặp em”. Thì ra, từ cái chuyện bắt gặp đóa hoa đào nở sớm là cái cớ để nhớ về câu chuyện: “gặp em đất lạ năm nào”. Cũng là một sự “bất ngờ” thú vị. Để cho thi sĩ bật ra câu hỏi về cổ xe thời gian phiêu du chốn chốn. Rằng có phải:
Phải rằng xe xích thời gian
Vầng dương bên ấy mọc sang bên này
Mặt trời mọc phương Đông và lặn ở Phương Tây. Chuyện đã là thế từ hằng hà sa số các năm…Làm sao có chuyện: Vầng dương bên ấy mọc sang bên này? Thế là vầng dương đã có sự hoán ngôi đổi chỗ như thế. Vầng dương bên ấy là bên nào? Bên này là bên nào? Có ai biết không? Phải chăng, là bởi cái lòng yêu say yêu đắm, yêu quên cả không gian và thời gian nên mới có sự xê dịch như thế không? Nắng hanh hoe vàng óng, bướm theo hấp lực của hoa mà trở mình dậy, trở mình bay. Cành non xanh biếc cố nở vội để kịp chào bình minh lên, kịp chào đóa hao hồng đào tươi lắm:
Nắng hoe, bướm trở mình bay
Cành non nở vội kịp ngày chào hoa.
Và tình yêu của anh, tấm lòng của “anh từ độ em qua” như chấp thêm đôi cánh thiên thần, như hoa bay, bướm lượn tung tăng vào đời. Sức mạnh của tình yêu quả nhiên vô lượng:
Lòng anh tự độ em qua
Hoa bay bướm dạo cùng ta vào đời
Lời thơ như lời kể chuyện. Cộng hưởng trong kỷ niệm nhớ tình yêu ấy là không gian thi vị, là cái bỗng dưng- cái bất ngờ khi bắt gặp hình ảnh hoa đào nở sớm. Yêu là yêu say yêu đắm. Hình ảnh “hoa đào nở sớm” là cái cớ để anh nhớ về em, về một mối tình thơ. Bài thơ thật nhẹ nhàng, những hình ảnh sinh động và những lời thơ như lời hát, nhịp thơ như nhạc điệu ngân nga…Tất cả toát ra từ tâm hồn yêu đời, yêu người, yêu thơ ca của một nhà thơ tài hoa vào bậc nhất của trường phái thơ Loạn ngày ấy ở đất Quy Nhơn.
Bài thơ: Rét đầu mùa nhớ người đi phía biển
Cái rét đầu mùa se se lạnh. Chỉ se se lạnh thôi cũng đã làm nên một câu chuyện tình yêu bằng thơ. Bài thơ vỏn vẹn chỉ có 4 câu, mỗi câu 8 chữ, nhưng 32 chữ ấy đã viết nên một câu chuyện tình yêu vừa có sắc thái miên man lạnh, vừa có sắc thái ấm áp lạ lùng:
Cái rét đầu mùa anh rét xa em 
Đêm dài lạnh chăn chia làm hai nửa 
Nửa đắp cho em ở vùng sóng bể
 Nửa đắp cho mình ở phía không em.
Khí hậu đầu mùa, thu đã trở mình chuyển sang đông, chuyển cái nóng ấm sang giá lạnh. Chỉ đầu mùa đông, nhưng chính sự chuyển động của thời tiết làm gợi nhớ rằng “anh đang rét xa em”. Sự ngăn cách đã làm cho tim anh cũng rét, thân anh cũng rét. Sự diễn tả tinh tế tình cảm cách xa nằm chính trong ngôn ngữ thơ giàu chất lãng mạng.
“Anh rét xa em”, mấy ai là nhà thơ có cách diễn tả tâm trạng như thế? Và trong cái nhớ nhung rét mướt vì xa cách ấy, tấm chăn bỗng trở thành vật chứng cho sự nhớ nhung, là cầu nối cho anh và em đắp cùng một chiếc. Và chỉ một chiếc chăn chung mà thôi, dù anh và em đang “ ở hai đầu nỗi nhớ” cách xa. Thật là khéo khi bày tỏ tình cảm nhớ thương da diết thế.
Ca dao xưa có bài Tát nước đầu đình. Chàng trai trong bài ca ấy đã tỏ tình với cô  gái một cách khôn ngoan: Áo anh sứt chỉ đường tà/ Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu/ Áo anh sứt chỉ đã lâu/ Mai mươn cô ấy về khâu cho cùng/ Khâu rồi anh sẽ trả công/ Ít nữa lấy chồng anh sẽ giúp cho…Giúp cho đôi chiếu em nằm, đôi chăn em đắp đôi trầm em đeo”. Là sự trả công là người sẽ chung chăn chung gối, và đến cả đôi: đôi chiếu, đôi chăn. Nhưng chàng trai trong “ Rét đầu mùa nhớ người đi biển”lại còn khôn khéo  hơn, tình cảm hơn khi chỉ cần đôi ta chung chăn một chiếc trong đêm dài lạnh lẽo, trong đêm dài cách ngăn…nhưng sẽ chia chăn làm “hai nửa”. Và hình như cái sự “chia làm hai nửa ” ấy đã làm cho anh và em cảm thấy ấm áp hơn, tình cảm hơn, yêu thương, chia sẻ ngọt bùi với nhau hơn:
Đêm dài lạnh chăn chia làm hai nửa
 Và hai nửa ấy, một nửa là anh đắp cho em ở vùng sông bể “mưa nguồn, gió biển” bất trắc trùng trùng, còn nửa kia, anh đắp cho mình, đang rất lạnh lùng đơn chiếc “ ở phía không em”:
Nửa đắp cho em ở vùng sóng bể
 Nửa đắp cho mình ở phía không em
Cách bày tỏ tình yêu sao thật sâu sắc và ấm nồng, dù trời đang rét đầu mùa se se lạnh và sẽ…dần chuyển sang giá buốt…”Nửa đắp cho mình”, nghe đã xót lòng, nhưng tự  đắp cho mình “ở phía không em” lại càng xót lòng hơn.
Bài thơ thật ngắn, thể thơ 8 chữ có nhịp điệu như lời tâm sự. Và lời tâm sự ấy, bằng những ngôn từ giản dị, nhưng có sức nặng lan tỏa,  đã truyền đến trái tim người đọc một thông điệp: yêu nhau chia ngọt sẻ bùi” thật đáng trân trọng. Như nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công sơn đã từng hát rằng: Hãy yêu nhau đi, cho rừng xanh lá… Hãy yêu thương… hãy yêu thương bằng tất cả tấm lòng… như chàng trai trong “Rét đầu mùa nhớ người đi biển”.
Thơ là tiếng nói của cuộc sống dội vào nội tâm của thi nhân. Mỗi nhà thơ có một phong cách thể hiện khác nhau tùy thuộc vào đời sống của họ và của thời đại. Điệu hồn của cá nhân nhà thơ thể hiện qua giọng điệu thơ của họ. Và tất nhiên,  có sự tác động của nhịp điệu đời sống. Là nhà thơ mang tâm hồn cực kỳ nhạy cảm, Chế Lan Viên thích ứng rất nhanh nhạy với các tiến bộ trong nghệ thuật
Với nhà thơ Chế Lan Viên, cuộc đời thơ của ông phản ánh chận thật cái tôi của đời sống cá nhân: sáng tạo, đa sắc thái, đa giọng điệu, luôn tìm tòi nét mới cho thơ. Chế Lan Viên đã sống trọn cuộc đời cho thơ ca với nét tài hoa vào bậc nhất. Là nhất trụ trong tứ trụ của “ Bàn thành tứ hữu” vang vọng trên văn đàn Việt Nam, có những đóng góp cho Văn học Việt Nam. Và “là bậc thi hào mà những sáng tạo nghệ thuật chưa có hồi kết.
Tài liệu tham khảo:
1/ Nguyễn Đăng Điệp (2002) – Giọng điệu trong thơ trữ tình – Văn học.
2/ Đoàn Trọng Huy (2014), Chế Lan Viên- độc đáo một tiếng thơ giàu sắc điệu, Văn học và ngôn ngữ, Trường ĐH KHXH& NV tp HCM
3/ Nguồn: wikipedia.org/wiki/ Chế_Lan_Viên.
31/1/2020
Nguyễn Thị Liên Tâm
Theo https://vanhocsaigon.com/

Có một Nhượng Tống "Thiên tài dịch thuật"

Có một Nhượng Tống
"Thiên tài dịch thuật"

Nhượng Tống sinh năm 1906 (Bính Ngọ), quê ở Đô Hoàng, Nam Định, là một người có số phận hết sức đặc biệt.
Được ông nội dạy chữ Hán trong gần 10 năm, ông làm báo từ rất sớm, quãng năm 16 tuổi. Là thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng, ông bị thực dân Pháp bắt năm 1929 đày đi Côn Đảo, từ Côn Đảo về đất liền năm 1933. Làm thuốc chữa bệnh ở quê nhà từ năm 1934 đến 1944. Trong thời gian ở quê nhà, ông dồn tâm sức vào sáng tác, dịch thuật, để lại những trước tác cực kỳ có giá trị trong nền văn học Việt Nam.
Nhà phê bình văn học cuối Minh đầu Thanh Kim Thánh Thán xếp Tây Sương ký vào hàng thứ 6 trong Lục tài tử thư, còn bản dịch Tây Sương ký của Nhượng Tống, mà Nhượng Tống đã Việt hóa thành Mái Tây, nếu xếp theo thứ tự xuất bản, là bản “tài tử thư” đầu tiên! Khi dịch Tây Sương ký, Nhượng Tống đã đổi tựa đề vở kịch hát này thành Mái Tây, lấy trong một câu Kiều của Nguyễn Du, cảnh Thúy Kiều lần đầu đánh đàn cho Kim Trọng nghe:
Mái Tây để lạnh hương nguyền
Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.
Có một sự khác biệt: từ một câu chuyện tầm thường Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du đã viết nên một thiên Truyện Kiều tuyệt tác; còn Nhượng Tống thì chuyển ngữ từ một tuyệt tác văn học cổ Trung Hoa thành một tuyệt tác tiếng Việt.
Nếu các dịch phẩm sử hay triết của Nhượng Tống bộc lộ sự uyên bác, thâm trầm sâu kín thì trong Mái Tây lại là một Nhượng Tống khác lạ, tuyệt đối duy mỹ. Câu chuyện chàng – nàng lén lút yêu nhau với sự giúp sức của con hầu nhằm phản đối sự áp đặt của bà mẹ tai nghiệt là một mô-típ hết sức quen thuộc trong văn hóa cổ kim Đông Tây, dù dưới những dạng thức khác nhau. Mẹ càng cấm đoán con càng đắm say! Chàng Trương Quân Thụy mới thoáng nhìn thấy nàng Thôi Oanh Oanh đã say như điếu đổ, hồn vía rụng rời. Hỏi han dò la con hầu, bị nó mắng cho một trận, chàng mới quay ra trách nàng một cách vô lối của kẻ đang tương tư:
Ví bằng mình (nàng) sợ mẹ giữ gìn
Thì quay đi còn ngảnh lại mà nhìn chi nhau?
Muốn dứt phăng, dễ dứt được đâu
Mầm tình đã trót ăn sâu trong người! 
Bốn câu thơ dịch tài tình, không những cực kỳ phù hợp với tâm trạng nhân vật mà còn ẩn giấu một nụ cười mỉm của dịch giả! Tập hợp những câu thơ dịch đẫm màu cổ thi của Nhượng Tống trong Mái Tây có thể có được một tập thơ cổ lưu truyền hậu thế.
Ly Tao – món quà bi thiết
Tài dịch thơ cổ Trung Hoa xuất chúng của Nhượng Tống hiển hiện rõ trong Ly Tao của nhà thơ vĩ đại Khuất Nguyên. Đây là bản “tài tử thư” thứ hai cùng theo thứ tự sắp xếp của Kim Thánh Thán và thứ tự xuất bản của Nhượng Tống.
Sự đồng điệu giữa tâm hồn Khuất Nguyên với Nhượng Tống đã làm rung lên sợi dây tình cảm man mác buồn thương, khiến Nhượng Tống cảm thấy đó như là chỗ bấu víu mỗi khi đọc, để – như lời Nhượng Tống – cho tâm hồn đỡ khô héo! Từ chỗ cảm đến chỗ ngồi xuống dịch cho những dòng tình cảm tuôn ra từ đầu ngọn bút, Nhượng Tống đã để lại một mẫu mực về sự đồng cảm giữa người dịch và tác giả, dẫu cách nhau cả nghìn năm!
Thơ Đỗ Phủ – nơi gửi gắm nỗi niềm
Dịch thơ Đỗ Phủ, Nhượng Tống gửi gắm vào đó nhiều nỗi niềm. Những nỗi niềm đó được ông thể hiện đầy đủ trong bài tựa đầu sách, một bài tựa đặc biệt vì hoàn toàn là thơ của Nhượng Tống, bộc lộ những suy tư của Nhượng Tống về thời cuộc, về những điều bất như ý đã xảy ra trong đời ông, đi làm cách mạng, bị tù đày nơi đảo xa rồi về an trí nơi quê nhà, sự bế tắc trong việc tìm ra một chủ thuyết cho cuộc đời vốn hăng say của ông trong những năm tháng tuổi 20 cùng các đồng chí của mình.
Trải qua nhiều thăng trầm, Nhượng Tống, một lần nữa lại tìm thấy sự đồng điệu với cuộc đời của con người đã sống trước ông cả nghìn năm: Đỗ Phủ.
Thơ Đỗ Phủ, bản dịch Nhượng Tống lần thứ nhất do Tân Việt in tại nhà in Đông Dương Hà Nội, xong ngày 2-7-1944. Sách dày 382 trang trên chất liệu giấy dó. Đây là “tài tử thư” thứ năm theo xếp hạng của Kim Thánh Thán và là “tài tử thư” thứ ba mà Nhượng Tống dịch và xuất bản, sau Mái Tây và Ly Tao.
Với thế giới thơ mênh mông của Đỗ, Nhượng Tống mặc sức tung hoành ở các thể thơ khác nhau, phản ánh sự đa diện trong thiên tài thơ Đỗ Phủ.
Thể thất ngôn bát cú trong bài Bạch Đế:
Cửa thành Bạch Đế lớp mây đùn
Chân thành Bạch Đế trận mưa tuôn
Cây xanh, dây xám, trăng, trời tối!
Thác dốc, đèo cao, sấm sét dồn…
Thể lục bát trong bài Chiêm bao thấy Lý Bạch:
Chết xa nhau, nín đã đành!
Sống xa nhau để đinh ninh bên lòng
Giang Nam hơi độc mịt mùng!
Khách đi đày biết vân mòng ra sao!
Trong số những dịch phẩm của Nhượng Tống, Thơ Đỗ Phủ là tập thơ đa thanh đa diện nhất. Cách nhau cả nghìn năm nhưng ở Đỗ Phủ, người có cuộc đời chung một nguyên tố là đau khổ giống mình, Nhượng Tống đã đồng cảm đến tận cùng để rồi thỏa sức vẫy vùng ngòi bút, sáng tạo nên một trong những dịch phẩm thơ Đường đồ sộ nhất trong văn học Việt Nam.
Sử ký Tư Mã Thiên – bí ẩn quanh một dịch phẩm lớn
Nhượng Tống là người đầu tiên ở Việt Nam dịch Sử ký Tư Mã Thiên, bộ sử văn học đồ sộ không chỉ của lịch sử và văn chương Trung Hoa mà còn của văn hóa nhân loại. Cũng lần đầu tiên trong lời mở đầu của bản dịch này, Nhượng Tống dẫn lại những phân loại của Kim Thánh Thán.
Thi nhân Việt Nam hiện đại của tác giả Phạm Thanh nhận định rằng “Chỉ riêng một dịch phẩm Sử ký Tư Mã Thiên, văn học Việt Nam thêm một dịch phẩm vô cùng giá trị rồi”.
Sử ký vốn là một tác phẩm kỳ vĩ với 130 thiên, tổng cộng 52 vạn chữ. Ở thời điểm những năm 1930-1940, việc dịch toàn bộ tác phẩm đồ sộ này không phải là chuyện dễ dàng. Bản thân Nhượng Tống, ở bìa 4 cuốn sách cũng đề tên tác phẩm là Sử ký trích diễm, có nghĩa là trích dịch tác phẩm Sử ký.
Ngay cả khi đã biết rằng đây là trích dịch từ Sử ký thì khi đọc Sử ký do Nhượng Tống dịch, có thể dễ dàng nhận thấy các phần khá rời rạc, có nhiều truyện khá hoàn chỉnh nhưng cũng có nhiều phân đoạn rất ngắn, chỉ 9-10 dòng. Cuối mỗi phân đoạn thường có thêm lời bình của Lâm Tây Trọng, thi thoảng lại có thêm lời phụ bàn của kẻ dịch (tức Nhượng Tống).
Vậy Lâm Tây Trọng là ai?
Lâm Tây Trọng sinh năm 1628, mất năm 1697, sống đúng vào thời gian chuyển giao cuối Minh đầu Thanh ở Trung Quốc. Năm 1658, ông đỗ tiến sĩ, sau làm phán quan ở Huy Châu, tức An Huy ngày nay. Mặc dù làm phán quan nhưng Lâm Tây Trọng không chỉ phân tích các vụ án mà còn để tâm sức vào nghiên cứu cổ văn, chuyên phân tích, bình chú các tác giả, tác phẩm cổ điển Trung Hoa.
Trong số các tác phẩm của Lâm Tây Trọng, đặc biệt đáng chú ý có bộ Cổ văn tích nghĩa. Quyển thứ 8 trong bộ sách này, Lâm Tây Trọng chọn và bình các đoạn trong Sử ký Tư Mã Thiên! Đây cũng chính là quyển mà Nhượng Tống đã dịch để có bản dịch Sử ký Tư Mã Thiên đầu tiên ở Việt Nam! Nhưng Nhượng Tống không hoàn toàn dựa vào bản của Lâm Tây Trọng về thứ tự của các phần mà tự Nhượng Tống chia thành các tiết trong bản dịch Sử ký tiếng Việt.
Có thể thấy là phần nào đó, Nhượng Tống đã vừa dịch, vừa tái tạo lại một số phần nội dung trong Sử ký theo cách của ông để độc giả người Việt dễ theo dõi, đọc Sử ký như đọc những câu chuyện rời hấp dẫn. Đó là sáng tạo của Nhượng Tống ở bản dịch Sử ký đầu tiên này.
Một vũ trụ nhỏ về trí tuệ – Nam Hoa kinh
Mái Tây, bản dịch của Nhượng Tống, phần cuối cùng, hồi 4 có tựa đề Tan mộng, kể chuyện chàng Trương Quân Thụy nằm mộng thấy Thôi Oanh Oanh, phải lúc gặp giặc thì tỉnh mộng mới hết sợ. Kim Thánh Thán trong lời bình phần này nói rằng: “Câu chuyện của ông Nam Hoa kể, thật là chí lý: Trang Chu mơ hóa ra con bươm bướm xập xòe bay thật là con bướm, tự thấy thích chí, chẳng còn biết có Chu là gì. Đến khi tỉnh dậy thì lại thù lù vậy. Chu vẫn là Chu! Thật không biết Trang Chu mơ hóa ra bướm hay là bươm bướm mơ hóa ra Trang Chu nữa!”.
Trang Chu chính là Trang Tử, tác giả của Nam Hoa kinh.
Không phải ngẫu nhiên mà Kim Thánh Thán xếp Nam Hoa kinh của Trang Tử vào hàng thứ nhất trong Lục tài tử thư! Bởi ở Nam Hoa kinh kết tinh trí tuệ trác tuyệt của một trong những vĩ nhân cổ đại Trung Hoa, người có khả năng đưa vào chỉ trong một tác phẩm những suy niệm triết học, những cảm hứng thi ca, những cách ngôn có sức sống ngàn năm. Không chỉ là một tác phẩm triết học thâm sâu, Nam Hoa kinh, với ngôn ngữ diễn đạt trùng trùng lớp lớp ý tứ, những diễn giải đầy thơ mộng, còn là một tác phẩm văn học lớn theo đúng nghĩa của nó.
Cuốn Trang Tử Nam Hoa kinh, bản dịch của Nhượng Tống, in lần thứ nhất tại nhà in Đông Dương Hà Nội do nhà Tân Việt xuất bản, kiểm duyệt xong ngày 16-2-1945. Sách dày 516 trang, in trên chất liệu giấy dó. Đây là “tài tử thư” thứ năm theo thứ tự xuất bản của Nhượng Tống.
Cái cảm xúc của Nhượng Tống khi đọc Nam Hoa kinh, như ông kể trong lời cùng bạn đọc, giống như khi con người cất mình lên tiên giới, người nhẹ đi và lòng thì đầy những ngậm ngùi, tha thứ!
Nam Hoa kinh không chỉ là một công trình triết học kỳ vĩ mà còn là một tác phẩm văn học trác tuyệt lừng lẫy cổ kim. Ngòi bút dịch thuật của Nhượng Tống khi phóng túng, ảo diệu, khi khiêm cung, từ tốn, từ lời toát ý, hàm súc mà bay bổng, lãng mạn nhưng khúc chiết. Ngay mở đầu của thiên Tiêu dao du đã là một đoạn văn đẹp lộng lẫy:
“Bể Bắc có loài cá, tên nó là côn. Bề lớn của côn, không biết nó mấy nghìn dặm! Hóa mà làm loài chim, tên nó là bằng. Lưng của bằng, không biết nó mấy nghìn dặm! Vùng dậy bay, cánh nó như đám mây rủ ngang trời… Loài chim ấy, bể động thì dời sang bể Nam. Bể Nam là ao trời…
Tề hài là sách những chuyện quái lạ, nói rằng: “Khi bằng dời sang bể Nam, nước sóng sánh ba nghìn dặm. Nó liệng theo gió lốc mà lên chín muôn dặm. Đi cứ sáu tháng mới nghỉ”. Kìa bóng câu! Kìa vẩn bụi! Những vật có sống lấy hơi mà thổi nhau. Cái xanh-xanh của trời là màu của chính nó chăng?”.
Những ví dụ như vậy có rất nhiều trong Nam Hoa kinh, bản dịch Nhượng Tống. Và chỉ với riêng “Ngũ tài tử thư” mà Nhượng Tống đã dâng hiến cho văn học nước nhà, ông xứng đáng được coi là một thiên tài dịch thuật.
1/2/2020
Nhan Ngọc
Nguồn: ANTGCT
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà thơ Minh Đan: Xé toang gấm lụa lùm xùm lưa thưa

Nhà thơ Minh Đan: Xé toang
gấm lụa lùm xùm lưa thưa

Gần đây, do hay vào Sài Gòn công tác, tôi mới có nhiều cơ hội đọc thơ của đồng nghiệp ở thành phố. Đọc vậy, nên trong tôi thầm xác tín một niềm tin về thơ ta. Đó là sự chuyển động lặng lẽ nhưng rất mạnh mẽ của dòng chảy thơ theo thời gian vô cùng, vô tận. “Phút 89” của nhà báo – nhà thơ Minh Đan là một minh chứng đầy thuyết phục.
Trước khi bước vào trận đấu “Phút 89”, Minh Đan đã có một trận đấu – tập thơ “Ngày không bọt” khá đẹp. ở “Ngày không bọt”, người đọc đã nhận ra khả năng “dẫn bóng” và “làm bàn” của Minh Đan theo một lối riêng ngoạn mục.
Cũng là lối “dẫn bóng” truyền thống theo nhịp lục bát, nhưng lục bát của Minh Đan đã hoàn toàn phá vỡ phép tiểu đối cổ điển. Những gãy nhịp bất ngờ khiến cho người đọc bị dẫn dụ vào mê lộ mà quên đi những luật lẽ cũ xưa: thẫn thờ/ lườm/ nguýt/ vũng lầy/ cô đơn/ thậm thụt/ khuyết vay/ lưới tình (Ngày lạ). Gãy nhịp như không cố ý, bởi thế, sức “rê, dắt” trái bóng “đương đại” biểu hiện một cách lạ thường: cay cay khóe mắt/ nhọn đinh/ như vừa ghim ở tim mình/ chiêm bao (Động).
Có cảm giác trước khi nhập cuộc, Minh Đan đã kỳ công học nhuyễn những “ngón độc thủ” của đường thi, kết hợp cùng những “công lực” của ca dao ta, để hóa thân vào những gai góc đời mới hôm nay: thất ngôn, lục bát chia phe/ tự do đương đại lè nhè mấy câu (Thay tựa). Do đó, Minh Đan đã chủ động đưa trận đấu tới “Phút 89” mang đến nhiều hấp dẫn.
Người đọc thật khó lường đây là trận đấu giữa chàng Adam và nàng Eva muôn thuở, hay là trận đấu giữa thường dân với quyền lực hôm nay, là do cường độ của thi lực lúc căng, lúc chùng. Hoặc do những ngoặt bóng đột ngột giữa thơ tình và thơ thế sự. Phải xem kỹ càng, theo dõi cẩn trọng thì mới nhận ra những đường bóng lấp lửng chuyền đưa trong tình ái “tháo nỗi nhớ chảy vào đêm”, khác với những đường bóng thẳng, không sợ xô xát, không né va chạm trong thế sự, qua những “Đi qua cơn đói”, “Điều kỳ lạ”, “Nằm mơ thấy bao chửng khóc”, “Gã hàng xóm xấu tính”, “Ma làng”,… Nhưng dù thế nào, đây vẫn là “Phút 89” của một trận đấu đẹp.
Từ một bé gái khai sinh trong một dòng tộc nổi tiếng bên tháp Dương Long kỳ vĩ của miền Tây Sơn kiêu hùng thuộc xứ sở “đất võ, trời văn” Bình Định, vào thời điểm 1979 nhạy cảm của tổ quốc, cô thiếu nữ Minh Đan đã nhập cư Sài Gòn và chầm chậm tích điện trong mình, để mãi tới tuổi hôm nay mới tự tin bước vào “Phút 89” của trận đấu riêng mình.
Qua “Phút 89” chắc trận đấu sẽ khép lại bởi vài phút bù giờ và giải lao với tỷ số hòa sau hai hiệp đấu: về quê cởi trói gông cùm/ xé toang gấm lụa lùm xùm lưa thưa (Bình yên). Nhưng đây là trận đấu loại trực tiếp. Tôi tin Minh Đan sẽ thắng ở hai hiệp phụ và nếu có phải phân thắng bại bằng các loạt đá luân lưu, Minh Đan cũng sẽ thắng.
Mừng cho lịch sử thơ ca, nhất là thơ ca “phái đẹp” sau những Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh, Đinh Thị Như Thúy… lại xuất hiện thêm một Minh Đan đàng hoàng “ngước lên cao” với “những khát khao không thể đặt vòng”.
3/2/2020
Nguyễn Thụy Kha
Theo https://vanhocsaigon.com/

  Nhà thơ Minh Đan: xé toang gấm lụa lùm xùm lưa thưa Gần đây, do hay vào Sài Gòn công tác, tôi mới có nhiều cơ hội đọc thơ của đồng nghiệ...