Tôi ngồi
một mình, ngoài vườn đêm.
Trời
không trăng, không sao.
Không
gian sẫm tối, im lìm và tĩnh lặng.
Bỗng nhiên, tôi nghe thấy tiếng vỗ cánh vội vã của con chim lạc
đàn, về muộn, tiếng dế hát bản nhạc buồn dưới bụi cỏ ẩm sương đêm. Chỉ có thế
thôi nhưng cánh chim về muộn, con dế bé bỏng đâu ngờ rằng chúng vừa mang cho
tôi niềm an ủi vô cùng. là tôi đang không chỉ một mình. Liễu Tam Không ở ngay
nơi phút giây thầm lặng kỳ diệu này. Kẻ cho, của cho và người được cho đều
không biết nhau, nhưng trong mầu nhiệm thì kẻ cho đã vừa hành Ba La Mật, của
cho đã quá đầy và người được cho đã tiếp nhận thức ăn từ cõi nước Chúng-Hương,
nơi đức Hương-Tích-Như-Lai thuyết pháp bằng hương thơm chứ không bằng ngôn tự.
Thật thế.
Khi một mình bước ra ngoài vườn đêm, tôi đã ngồi xuống bằng
tiếng khóc nức nở trong tâm. Rồi tiếng khóc thầm ấy ứ đọng, tràn đầy, phá vỡ buồng
tim, lan ra mạch phổi, tuôn vào gan mật, len lỏi khắp tế bào ... Hết chỗ dung
thân, chúng ràn rụa trên hai khóe mắt!
Tại sao tôi lại để mình rơi vào trạng thái bi thương đến thế,
trong khi lâu nay, tôi thường rất cẩn thận kiểm soát cảm thọ của mình, chỉ một
chút bâng khuâng là lý trí nhận biết, chặn lại ngay?!
Tôi biết những nhược điểm của mình, nhưng không phải lúc nào
cũng làm chủ được chúng. Ngay trong lúc này, nhược điểm là hai chữ “Mồ côi !”.
Hai chữ “Mồ côi” của tôi là mồ côi hoàn toàn, không phải chỉ mồ côi cha hay mồ
côi mẹ. Tôi đã chuẩn bị rồi, đã rất bình tĩnh khi mẹ mất, nhưng, tận cùng thẳm
sâu tâm linh, có người con nào chuẩn bị được gì khi thực sự mất cả cha lẫn mẹ
hay không ? Tôi không tin có ai làm được điều này; có chăng, chỉ vì họ “tưởng”
là làm được mà thôi.
Học Phật, chúng ta hiểu rằng chúng sanh chìm đắm trong luân hồi
sanh tử nên chúng sanh và vạn hữu quanh ta có thể đã là ông bà, cha mẹ quá khứ.
Dù tin tưởng như thế nhưng không nhận diện được nhau thì cảm thọ khởi lên chỉ
mơ hồ trong tâm đạo là “Hãy yêu thương, hòa ái với nhau vì kẻ đó, người kia, có
thể đã cùng là gia tộc”. Cảm thọ này khó có thể cùng nguồn với ông bà, cha mẹ
hiện đời, những người mà chúng ta đã thấy, đã nhận yêu thương, đã phụng dưỡng,
đã chia xẻ ân tình suốt quãng đường dài. Đó là thực tế khi chúng ta chưa chuyển
được tâm chúng sanh thành tâm Bồ Tát. Bồ Tát có thể ra vào sinh tử nhiều đời
nhiều kiếp cứu độ chúng sanh không mệt mỏi vì Bồ Tát đã nhìn được tất cả chúng
sanh đều là thân quyến của mình nên Bồ Tát dễ dàng sống cùng chúng sanh, tu
cùng chúng sanh, lấy chúng sanh làm đối tượng để chuyển hóa mình. Như thế, dù bất
cứ hoàn cảnh nào, Bồ Tát có bao giờ cô độc?!
Trong vườn đêm, tôi đang ngồi một mình và khóc vì cảm thấy cô
độc quá ! Mười lăm năm trước, khi cha mất, tôi đã hụt hẫng, chao đảo như kẻ
đang đu giây, bất chợt nhìn xuống không thấy lưới an toàn đâu cả ! Cha chính là
lưới an toàn, là nôi hồng ấm áp cho cánh chim non bay về khi trời giông bão. Đã
bao lần tôi mạnh mẽ đứng lên, bước những bước cương quyết hơn, vững chãi hơn
sau giông tố tả tơi quật ngã. Tôi từng đứng dậy được vì có cha là tri kỷ. Cha
không chỉ yêu thương mà còn cảm thông, chia xẻ. Cha xức thuốc, xoa dầu, chữa
lành bất cứ vết thương nào mà ngọn bát phong ngoài đời giạt tới. Tôi đã quá ỷ lại
vào điểm nương tựa đó nên khi mất cha, tôi hãi hùng trước trời đất cuồng quay.
Suốt mười lăm năm, từng lá thư cha viết đã là tấm bản đồ cho tôi đi tiếp đường
đời với sự chăm lo của mẹ. Mẹ như chiếc bóng Quan Âm, lúc nào cũng sẵn sàng đáp
ứng tiếng gọi, lời xin.
Không còn cha, vai mẹ chĩu nặng hơn với các con, các
cháu.
Nhưng mẹ vừa theo cha rồi! Mẹ ra đi khi hương-tự-tứ Vu Lan
thoảng nhẹ trong không gian.
Cha ơi ! Mẹ ơi! Nỗi tủi thân của đứa con mồ côi đang tràn đầy,
có lẽ vì mẹ đã đi vào thời điểm Vu Lan, thời điểm những người con hướng tâm
thành vào sự báo đáp ơn nghĩa sanh thành.
Cha ơi! Mẹ ơi! con phải làm gì để báo đáp cha mẹ? Xin hãy
chỉ cho con!
Có tiếng động lạ ngoài hồ sen cuối vườn.
Tôi chùi nước mắt, đứng bật dậy. Trời tối quá! Trăng và sao
đi đâu vắng cả?.
Qua thềm xi măng, tôi bước trên từng phiến gỗ tròn, cưa từ
cây thông nhà hàng xóm trong mùa họ đốn cây. Đếm đủ 8 phiến gỗ, tôi bước sang
bên trái, lối đi lát bằng gạch đỏ. Sau 5 miếng gạch xếp xéo như hình quả trám
là 7 hàng gạch ngay ngắn, mỗi hàng 2 viên. Dọc theo bờ tường hàng gạch này, một
bên là dẫy thanh long đang trổ hoa, một bên là 3 cây bưởi thanh trà, 2 cây quýt
đường. Đi trên lối gạch này phải cẩn thận vì cả bưởi, quýt lẫn thanh long đều
đang có khuynh hướng vươn tay ra lối đi!
Đi hết lối gạch là tới hồ sen.
Trời tối quá, tuy không nhìn thấy gì nhưng tôi biết có 3 bông
sen nở từ hôm qua, giờ này cánh sen đang úp lại, ngủ êm đềm bên những lá tròn
xanh mướt, chờ bình minh lại tỏa ngát hương thơm.
Đứng bên hồ sen, tôi cố gắng lắng nghe và quan sát. Nhưng
không thấy gì, nghe gì lạ nữa!
Tôi đứng im như thế, lâu và hình như rất lâu, lòng thôi thổn
thức, lệ thôi chảy. Tôi đang nghe tôi tự hỏi mình “ Ta đi ra tới đây, không vấp
té, biết rõ từng bước chân, nhớ rõ từng cảnh vật dù trời tối quá, không thấy gì.
Ta biết rõ, đi được tới nơi ta muốn tới là vì lối đi quen thuộc này đã được ghi
lại trong tâm thức. Tuy không nhìn thấy nhưng ta đi mà không rụt rè, không sợ
hãi vì đường đi đã ở trong tâm, trong bộ nhớ. Nếu tất cả chúng sanh đều sẵn có
Phật tánh (như đường ra vườn đã biết có sẵn phiến gỗ, viên gạch, hàng cây) thì
tại sao hầu hết chúng sanh không biết lối về ngôi nhà Phật của mình ? Vì chưa
được ghi lại trong bộ nhớ ư ? Không phải ! Nếu con người sanh ra là đã sẵn có bản
chất thì bản chất đó phải nằm trong tâm thức chứ nằm đâu ? Trẻ thơ vừa lọt lòng
mẹ, còn trần truồng, khóc oe-oe là đã có Phật tánh, tức là đã có nơi về, nhưng
sao đường về của chúng sanh mịt mù quá vậy ? Vì vô minh che lấp nên không nhớ ư
? Tại sao, cũng những chúng sanh vô minh đó lại nhớ đường tới sở làm, đường tới
chợ búa, đường tới bác sỹ, tới nhà bạn bè mà không thể nhớ được đường về Bản
Tâm mình ? Nếu chúng sanh vô minh đó mà không nhớ đường tới sở, tới chợ, tới
bác sỹ ..v...v.. thì chúng sanh đó thường được gọi là người MẤT TRÍ, có phải
không ? Nhưng không thấy ai gọi những chúng sanh không nhớ đường về căn nhà Phật
của mình là kẻ mất trí, dù rằng con đường đó phải ở trong tâm thức từ giây phút
đầu tiên khi ta lọt lòng mẹ; những con đường khác thì còn tùy thời gian, tùy
giao tiếp, tùy sinh hoạt rồi từ từ mới có; tức là, nếu hình dung có một cuốn-sổ-tâm,
thì địa chỉ đường về Bản Tâm phải ở giòng đầu tiên, trang đầu tiên. Giòng đó,
trang đó, vẫn còn nguyên trên sổ tâm nhưng sao đa số chúng sanh đều quên hết, lại
chỉ nhớ những địa chỉ sau, những địa chỉ đưa ta tới khổ đau, phiền não chập
chùng???”.
Tự hỏi rồi tôi sửng sốt!
Có lẽ không phải chúng sanh quên địa chỉ đầu tiên, mà vì muốn
về địa chỉ đó, chúng sanh cần nhiều trí tuệ, sáng suốt, quyết tâm, can đảm,
không thối chí. Trong khi, những địa chỉ sau không cần nhiều điều kiện như vậy,
dễ đi hơn nên chúng sanh cứ lật qua trang đầu, mê mải theo những bản đồ sau mà
đi, nối nhau mà đi, nhìn trước nhìn sau, bên phải, bên trái, thấy ai cũng như
ai nên đồng thuận chấp nhận phiền não, khổ đau như là chuyện đương nhiên, huân
tập đời này qua đời khác, cứ lấy Vô Thường là Thường, Khổ là Lạc, Vô Ngã là
Ngã, Không là Tịnh!
Hơn 60 năm được cha mẹ tạo dựng hình hài, tôi cũng chỉ tìm đường
dễ mà đi, chẳng học được gì ở câu “năng hành nan hành” cả, nên vẫn mãi trôi lăn
trong phiền não. Vậy mà vào chùa cứ tụng như cái máy “ Phiền não vô tận thề
nguyện đoạn!” Chỉ ngôn hành mà tâm không hành thì đoạn sao được ???
Trong bóng tối vườn đêm, tôi chậm rãi bước vào hiên, Tôi cảm
nhận rất rõ những diễn biến vừa qua là do cha, mẹ đã về cùng tôi. Ngồi xuống thềm
rêu mát lạnh, lòng tôi ấm lại với cái xoa đầu của cha, với vòng tay ôm của mẹ
và cuốn-sổ-tâm vừa được cha lật lại trang đầu, in hai chữ “BẢN TÂM” đậm nét.
Vườn đêm tối quá, sao tôi lại nhìn thấy hai chữ Bản Tâm?
Thì ra, trăng đã lên và sao đã mọc.
Trăng vằng vặc và sao lung linh đang soi tỏ đường về nhà Phật.
Diệu Trân
Theo http://www.tuvienquangduc.com.au/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét