Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2020

Tự do đầu tiên và cuối cùng 1

Tự do đầu tiên và cuối cùng 1

 LỜI TỰA (của Alduos Huxley)
Con người là vật lưỡng cư sống cùng lúc trong hai thế giới - thế giới được trao tặng và thế giới tự tạo; thế giới của vật chất, sự sống và ý thức, và thế giới của những biểu tượng. Trong sự suy nghĩ của chúng ta, chúng ta sử dụng vô số những hệ thống-biểu tượng khác nhau - ngôn ngữ, toán học, hình ảnh, âm nhạc, lễ nghi. Nếu không có những hệ thống-biểu tượng như thế chúng ta không có nghệ thuật, không có khoa học, không có luật pháp, không có triết học, không có những nguyên lý căn bản của nền văn minh: nói cách khác, chúng ta là những con thú.
Vậy thì, những biểu tượng không thể hủy bỏ được. Nhưng những biểu tượng - bởi vì lịch sử của thời đại riêng của chúng ta và mọi thời đại khác sắp xếp đặt quá minh bạch - cũng có thể gây tai họa. Ví dụ, suy nghĩ về lãnh vực khoa học ở một mặt, lãnh vực chính trị và tôn giáo ở mặt khác. Suy nghĩ phụ thuộc vào, và hành động phản ứng theo, một bộ của những biểu tượng, chúng ta đã đến được, trong mức độ nhỏ nhoi nào đó, sự hiểu rõ và kiểm soát những sức mạnh cơ bản của thiên nhiên. Suy nghĩ phụ thuộc vào, và hành động phản ứng theo, một bộ của những biểu tượng khác, chúng ta sử dụng những sức mạnh này như những dụng cụ sát nhân tập thể và tự sát đồng loạt. Trong trường hợp đầu tiên, những biểu tượng giải thích được chọn lựa kỹ càng, được phân tích cẩn thận và được thích nghi mau lẹ đến những sự kiện mới mẻ của sự tồn tại vật chất. Trong trường hợp thứ hai, những biểu tượng lúc đầu bị chọn lựa sai lầm, không bao giờ có thể có sự phân tích kỹ càng và không bao giờ được tái cơ cấu để hòa hợp với những sự kiện khẩn cấp thuộc sự tồn tại của con người. Còn tồi tệ hơn, những biểu tượng hướng dẫn sai lầm này đã được đối xử bằng một sự kính trọng thiếu chín chắn ở khắp mọi nơi, như thể là, trong một cách bí mật nào đó, chúng còn thực sự hơn những thực tế mà chúng diễn tả. Trong lãnh vực tôn giáo và chính trị, những từ ngữ không được coi như là tượng trưng, không-tương xứng, cho những sự việc và những sự kiện; trái lại, những sự việc và những sự kiện được coi như là những minh họa đặc biệt của những từ ngữ.
Từ trước đến nay những biểu tượng đã được sử dụng một cách thực tế, chỉ trong những lãnh vực mà chúng ta không cảm thấy rất quan trọng. Trong mọi tình huống liên quan sự thúc đẩy sâu sắc hơn của chúng ta, chúng ta lại khăng khăng sử dụng những biểu tượng, không chỉ không thực tế, nhưng còn quá ngưỡng mộ, thậm chí quá ngu ngốc. Kết quả là chúng ta đã có thể thực hiện, bằng sự tàn bạo và trải qua một thời gian thật dài, những hành động mà những người hung tợn có thể làm chỉ trong chốc lát và ở một mức độ không kiểm soát được của sự tức giận, ham muốn hay sợ hãi. Bởi vì họ sử dụng và thờ phụng những biểu tượng, con người có thể trở thành những người lý tưởng; và, vì là những người lý tưởng, họ có thể biến đổi sự tham lam bất chợt của thú vật thành những chủ nghĩa thực dân vĩ đại của một đại đế Rhodes hay một J. P. Morgan; sự thích thú dọa nạt bất chợt của thú vật thành chủ nghĩa Stalin hay Tòa án Dị giáo; sự quyến luyến bất chợt của thú vật đến lãnh thổ của nó thành những điên cuồng có tính toán của chủ nghĩa quốc gia. Sung sướng thay, họ cũng có thể biến đổi sự tử tế bất chợt của thú vật thành lòng từ tâm suốt đời của một Elizabeth Fry hay một Vincent de Paul; sự hy sinh bất chợt của thú vật cho bạn tình hay con cái của nó thành sự hợp tác kiên trì và thuyết phục mà, cho đến lúc này, đã chứng thực dư thừa sức mạnh để cứu thế giới khỏi những hậu quả của phe còn lại, loại chủ nghĩa lý tưởng kinh hoàng. Liệu nó sẽ tiếp tục có thể cứu thế giới? Câu hỏi không thể trả lời được. Mọi điều chúng ta có thể kết luận là rằng, với những người lý tưởng của chủ nghĩa quốc gia đang giữ quả bom A, sự thắng thế của những người lý tưởng của đồng-hợp tác và từ tâm đã chẳng còn gây ảnh hưởng bao nhiêu.
Ngay cả một quyển sách dạy nấu ăn ngon không là vật thay thế thậm chí cho một bữa ăn dở nhất. Sự kiện dường như quá rõ ràng. Và tuy nhiên, qua những thời đại, những người triết học thâm thúy nhất, những người huyền bí học tinh tế và có học thức nhất, liên tục rơi vào sai lầm khi đồng hóa những cấu trúc thuần túy thuộc từ ngữ của họ cùng những sự kiện; hay còn nghiêm trọng hơn nữa, rơi vào sai lầm khi tưởng tượng rằng những biểu tượng, trong chừng mực nào đó, còn thực sự hơn điều gì chúng tượng trưng. Sự tôn sùng từ ngữ của họ không phải không có những phản đối. St. Paul đã nói, ‘Chỉ có tinh thần cho sự sống; từ ngữ giết chết sự sống.’ Eckhart hỏi, ‘Và tại sao, tại sao bạn tán dương quá nhiều về Thượng đế? Bất kỳ điều gì bạn nói về Thượng đế đều không đúng thực.’ Ở phía bên kia của thế giới, tác giả của một trong những quyển kinh Đại thừa khẳng định rằng ‘sự thật không bao giờ được giảng thuyết bởi Phật, người thấy rằng bạn phải nhận ra nó trong chính bạn’. Những khẳng định như thế được cảm thấy là quá phá hoại đạo đức, và những người đáng kính bỏ qua chúng. Sự tôn sùng quá mức lạ lùng của những từ ngữ và biểu tượng tiếp tục không kiềm chế được. Những tôn giáo đã suy sụp; nhưng thói quen cũ kỹ của sự hình thành giáo điều và áp đặt niềm tin trong giáo điều đã tiếp tục ngay cả nơi những người vô thần.
Trong những năm mới đây, những người luận lý học và những người nghĩa ngữ học đã thực hiện một phân tích rất hoàn hảo về những biểu tượng, mà từ đó con người vận dụng suy nghĩ của họ. Ngôn ngữ học đã trở thành một khoa học, và thậm chí người ta có lẽ còn nghiên cứu một môn học mà Benjamin Whorf sau đó đã cho cái tên là vượt khỏi nghĩa ngữ học. Tất cả việc này được khen ngợi; nhưng nó vẫn chưa đủ. Luận lý học và ngôn ngữ học, nghĩa ngữ học và vượt khỏi nghĩa ngữ học – đây là những môn học thuần túy thuộc trí năng. Chúng phân tích những phương pháp khác nhau, đúng và không đúng, có ý nghĩa và không ý nghĩa, mà trong đó những từ ngữ có thể liên quan đến những sự việc, những qui trình và những sự kiện. Nhưng chúng không đưa ra sự hướng dẫn, liên quan đến vấn đề căn bản hơn nhiều về: sự liên hệ của con người trong toàn sinh lý-tâm lý của anh ấy, ở một phía; và hai thế giới của anh ấy, thế giới của những sự kiện và thế giới của những biểu tượng, ở phía kia.
Trong mọi vùng đất và mọi thời điểm lịch sử, vấn đề đã được giải quyết lặp đi lặp lại bởi những người đàn ông và phụ nữ cá thể. Thậm chí khi họ đã nói hay viết, những cá thể này không tạo ra những hệ thống – bởi vì họ đã biết rằng mỗi hệ thống là một quyến rũ có giá trị để thâu nhận một cách quá nghiêm túc những biểu tượng, để chú ý nhiều đến những từ ngữ hơn là những thực tế mà những từ ngữ được yêu cầu đại diện. Mục đích của họ là không bao giờ đưa ra những giải thích và những đáp án làm sẵn; mục đích của họ là thôi thúc con người chẩn đoán và chữa trị những căn bệnh riêng của anh ấy, thúc đẩy anh ấy đến một mấu chốt nơi vấn đề của anh ấy và giải pháp của nó yêu cầu chính anh ấy trải nghiệm một cách trực tiếp.
Trong tuyển tập từ những bài viết và những nói chuyện được ghi băng của Krishnamurti, độc giả sẽ tìm được một diễn tả đương đại rõ ràng về vấn đề căn bản của con người, cùng với một mời mọc để giải quyết nó trong cách duy nhất mà nó có thể được giải quyết – bởi chính anh ấy và cho chính anh ấy. Những giải pháp tập thể, mà quá nhiều người cột chặt sự trung thành của họ vào nó một cách vô vọng, không bao giờ trọn vẹn. ‘Muốn hiểu rõ sự đau khổ và rối loạn tồn tại bên trong chính chúng ta, và vì vậy trong thế giới, trước hết chúng ta phải tìm được sự rõ ràng bên trong chính chúng ta, và sự rõ ràng đó xảy ra qua suy nghĩ đúng đắn. Sự rõ ràng này không phải được tổ chức, vì nó không thể được trao đổi với một người khác. Suy nghĩ thành nhóm có tổ chức chỉ là lặp lại. Sự rõ ràng không là kết quả của sự khẳng định bằng ngôn ngữ, nhưng của tự-tỉnh thức và suy nghĩ đúng đắn lạ thường. Suy nghĩ đúng đắn không là kết quả của, hay sự nuôi dưỡng thuần túy của trí năng, nó cũng không là sự tuân phục vào khuôn mẫu, dù khuôn mẫu đó giá trị và cao quý đến chừng nào. Suy nghĩ đúng đắn theo cùng hiểu rõ về chính mình. Nếu không có hiểu rõ về chính mình, bạn không có nền tảng cho suy nghĩ đúng đắn; nếu không có hiểu rõ về chính mình, điều gì bạn suy nghĩ là không đúng thực.
Chủ đề cơ bản này được phát triển bởi Krishnamurti trong đoạn này tiếp theo đoạn khác. ‘Có hy vọng trong con người, không phải trong xã hội, không phải trong những hệ thống, không phải trong những hệ thống tôn giáo có tổ chức, nhưng trong bạn và trong tôi.’ Những tôn giáo có tổ chức, với những người trung gian của chúng, những quyển sách thiêng liêng của chúng, những giáo điều của chúng, những chức sắc và những lễ nghi của chúng, chỉ trao tặng một giải pháp giả dối cho vấn đề cơ bản. Khi bạn trích dẫn kinh Bhagavad Gita, hay kinh Thánh, hay quyển sách Thiêng liêng Trung quốc nào đó, chắc chắn bạn chỉ đang lặp lại, phải vậy không? Và điều gì bạn đang lặp lại không là sự thật. Nó là một dối trá, bởi vì sự thật không thể được lặp lại.’ Một dối trá có thể được mở rộng, được hoàn thiện và được lặp lại, nhưng không là sự thật; và khi bạn lặp lại sự thật, nó không còn là sự thật, và vì vậy những quyển kinh thiêng liêng không quan trọng. Không phải qua niềm tin trong những biểu tượng của ai đó, nhưng chỉ qua hiểu rõ về chính mình, một con người đến được sự thật vĩnh hằng, trong đó thân tâm của anh ấy được đặt nền tảng. Niềm tin trong sự đáp ứng trọn vẹn và giá trị tuyệt đối của bất kỳ hệ thống biểu tượng được thiết lập sẵn nào, không dẫn đến sự giải thoát, nhưng đến quá khứ, đến nặng nề hơn cùng những thảm họa cũ kỹ. ‘Chắc chắn niềm tin gây tách rời. Nếu bạn có một niềm tin, hay khi bạn tìm kiếm sự an toàn trong niềm tin đặc biệt của bạn, bạn trở nên bị cô lập khỏi những người kia mà tìm kiếm sự an toàn trong hình thức khác nào đó của niềm tin. Tất cả những niềm tin có tổ chức đều được đặt nền tảng trên sự tách rời, mặc dù chúng có lẽ giảng thuyết về tình huynh đệ.’ Người mà đã giải quyết thành công được vấn đề liên hệ của anh ấy với hai thế giới sự kiện và biểu tượng, là một người không có những niềm tin. Liên quan với những vấn đề của sống thực tế, anh ấy sẵn sàng tiếp nhận một loạt những giả thuyết tạm thời, mà phục vụ những mục đích của anh ấy, nhưng coi chúng không quan trọng hơn bất kỳ những loại công cụ hay dụng cụ nào khác. Liên quan đến những bạn bè của anh ấy và đến sự thật mà họ được đặt nền tảng, anh ấy có những trải nghiệm trực tiếp của tình yêu và thấu triệt. Do bởi sự bảo vệ chính anh ấy khỏi những niềm tin mà Krishnamurti đã ‘không đọc bất kỳ những quyển sách thiêng liêng nào, kể cả kinh Bhagavad hay Upanishads’. Thậm chí những người của chúng ta còn không đọc những tác phẩm văn chương thiêng liêng; chúng ta đọc những nhật báo, tuần báo, và những quyển truyện trinh thám ưa thích của chúng ta. Điều đó có nghĩa, chúng ta tiếp cận sự khủng hoảng của những thời đại của chúng ta, không phải bằng tình yêu và thấu triệt, nhưng ‘bằng những công thức, bằng những hệ thống’ – và những công thức và những hệ thống hầu như không đủ chất lượng cho tình yêu. Nhưng ‘con người của ý muốn tốt lành không nên có những công thức’; bởi vì chắc chắn, những công thức chỉ dẫn đến ‘suy nghĩ mù quáng’. Nghiện ngập những công thức hầu như xảy ra toàn cầu. Chắc chắn như thế; bởi vì ‘hệ thống giáo dục của chúng ta được đặt nền tảng trên chúng ta suy nghĩ cái gì, không phải trên suy nghĩ như thế nào’. Chúng ta được giáo dục như những thành viên thực hành và tin tưởng của tổ chức nào đó – một người Cộng sản hay Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Ấn độ giáo, Phật giáo, Freud. Cuối cùng, ‘bạn đáp trả những thách thức, mà luôn luôn mới mẻ, theo một khuôn mẫu cũ kỹ; và vì vậy đáp trả của bạn không có sự mới mẻ, sự trong sáng, sự giá trị tương quan. Nếu bạn phản ứng như một người Thiên chúa giáo hay một người Cộng sản – bạn đang phản ứng – theo một suy nghĩ có khuôn mẫu, đúng chứ? Thế là phản ứng của bạn không có ý nghĩa. Và người Ấn độ giáo, người Hồi giáo, người Phật giáo, người Thiên chúa giáo đã không tạo ra vấn đề này hay sao? Bởi vì ‘tôn giáo mới mẻ là sự tôn sùng của Chính thể, vậy là tôn giáo cũ kỹ là sự tôn sùng của một ý tưởng.’ Nếu bạn phản ứng đến một thách thức lệ thuộc vào tình trạng bị quy định cũ kỹ, phản ứng của bạn sẽ không làm cho bạn hiểu rõ được sự thách thức. Vì vậy điều gì ‘người ta phải làm, với mục đích gặp gỡ sự thách thức mới mẻ là, hoàn toàn cởi trói chính người ta, hoàn toàn xóa sạch chính người ta khỏi nền tảng quá khứ và gặp gỡ sự thách thức mới mẻ lại’.
Chương 1:
GIỚI THIỆU
Muốn truyền đạt với nhau, thậm chí nếu chúng ta biết nhau rất rõ, là khó khăn cực kỳ. Tôi có lẽ sử dụng những từ ngữ mà đối với bạn có lẽ có một ý nghĩa khác hẳn ý nghĩa của tôi. Hiểu rõ có được khi chúng ta, bạn và tôi, gặp gỡ nhau trên cùng mức độ tại cùng thời điểm. Điều đó xảy ra chỉ khi nào có thương yêu thực sự giữa con người, giữa người chồng và người vợ, giữa những người bạn thân thiết với nhau. Đó là hiệp thông thực sự. Hiểu rõ đến tức khắc khi chúng ta gặp gỡ trên cùng mức độ tại cùng thời điểm.
Rất khó khăn khi hiệp thông cùng nhau, một cách hiệu quả, dễ dàng và với hành động rõ rệt. Tôi đang sử dụng những từ ngữ đơn giản, không phải thuộc kỹ thuật, bởi vì tôi không nghĩ rằng bất kỳ diễn tả kỹ thuật nào sẽ giúp đỡ chúng ta giải quyết được những vấn đề khó khăn của chúng ta; vì vậy tôi sẽ không sử dụng bất kỳ những thuật ngữ hoặc tâm lý hoặc khoa học. Tôi không đọc bất kỳ quyển sách về tâm lý hay bất kỳ quyển sách tôn giáo nào, may mắn thay. Tôi muốn chuyển tải, bằng những từ ngữ rất đơn giản mà chúng ta sử dụng trong sống hàng ngày của chúng ta, một ý nghĩa sâu thẳm hơn; nhưng điều đó rất khó khăn nếu bạn không biết lắng nghe như thế nào.
Có một nghệ thuật của lắng nghe. Để có thể lắng nghe thực sự, người ta nên buông bỏ hay gạt đi tất cả những thành kiến, những định kiến và những hoạt động hàng ngày. Khi bạn ở trong một trạng thái thâu nhận liên tục của cái trí, những sự việc có thể được hiểu rõ dễ dàng; bạn đang lắng nghe khi chú ý thực sự của bạn được trao vào một điều gì đó. Nhưng bất hạnh thay hầu hết chúng ta đều lắng nghe qua một bức màn của kháng cự. Chúng ta bị che khuất bởi những thành kiến, dù thuộc tín ngưỡng hay thuộc tinh thần, thuộc tâm lý hay thuộc khoa học; hay bởi những lo âu, những ham muốn và những sợ hãi hàng ngày của chúng ta. Và cùng những sự việc này làm thành một bức màn, chúng ta lắng nghe. Vì vậy, thật ra chúng ta lắng nghe sự huyên náo riêng của chúng ta, âm thanh riêng của chúng ta, không phải điều gì đang được nói. Rất khó khăn khi gạt đi sự rèn luyện của chúng ta, những thành kiến của chúng ta, khuynh hướng của chúng ta, kháng cự của chúng ta, và, vượt khỏi sự diễn tả bằng từ ngữ, để lắng nghe đến độ chúng ta hiểu rõ ngay tức khắc. Đó sẽ là một trong những khó khăn của chúng ta.
Nếu, trong suốt nói chuyện này, bất kỳ điều gì được nói ra mà trái ngược với cách suy nghĩ và niềm tin của bạn, chỉ lắng nghe, đừng phản kháng. Bạn có lẽ đúng, và tôi có lẽ sai; nhưng bằng cách lắng nghe và suy xét cùng nhau chúng ta sẽ tìm ra sự thật là gì? Sự thật không thể được trao tặng cho bạn bởi người nào đó. Bạn phải tìm ra nó; và muốn tìm ra, phải có một trạng thái của cái trí mà trong đó có sự nhận biết trực tiếp. Không có nhận biết trực tiếp khi có một kháng cự, một phòng vệ, một bảo vệ. Hiểu rõ hiện diện qua nhận biết được cái gì là. Nhận biết chính xác cái gì là, cái thực sự, cái thực tại, mà không diễn giải nó, không chỉ trích hay biện hộ nó, là, chắc chắn, sự khởi đầu của thông minh. Chỉ khi nào chúng ta bắt đầu diễn giải, giải thích tùy theo tình trạng bị quy định của chúng ta, tùy theo thành kiến của chúng ta, lúc đó chúng ta mất đi sự thật. Rốt cuộc, nó giống như sự tìm hiểu. Muốn biết một việc gì đó là gì, chính xác nó là gì, đòi hỏi sự tìm hiểu – bạn không thể diễn giải nó tùy theo những tâm trạng của bạn. Tương tự, nếu chúng ta có thể nhìn ngắm, quan sát, lắng nghe, nhận biết được cái gì là, một cách chính xác, vậy thì vấn đề được giải quyết. Và đó là điều gì chúng ta đang cố gắng thực hiện trong tất cả những nói chuyện này. Tôi sẽ chỉ rõ cho bạn cái gì là, và không diễn giải nó tùy theo sự tưởng tượng của tôi; bạn cũng không nên diễn giải nó hay giải thích nó tùy theo nền tảng quá khứ hay sự giáo dục của bạn.
Vậy thì, liệu không thể nhận biết được mọi thứ như nó là hay sao? Chắc chắn, khởi đầu từ đó, có thể có một hiểu rõ. Thừa nhận, nhận biết được, nắm được cái là, kết thúc đấu tranh. Nếu tôi biết rằng tôi là một người nói dối, và nó là một sự kiện mà tôi nhận ra, vậy thì đấu tranh kết thúc. Thừa nhận, nhận biết được người ta là gì, là sự khởi đầu của thông minh rồi, sự khởi đầu của hiểu rõ, mà giải thoát bạn khỏi thời gian. Khi mang vào chất lượng của thời gian – thời gian, không phải trong ý nghĩa tuần tự, nhưng như một vật trung gian, như một qui trình tâm lý, qui trình của cái trí – là hủy hoại và tạo tác sự rối loạn. 
Vì vậy, chúng ta có thể hiểu rõ cái gì là khi chúng ta công nhận nó mà không chỉ trích, không biện hộ, không gắn kết. Nhận biết được rằng người ta đang ở trong một quy định nào đó, trong một trạng thái nào đó, là đã có sẵn một tiến hành giải thoát; nhưng một con người không nhận biết được quy định của anh ấy, đấu tranh của anh ấy, cố gắng là một cái gì đó khác hơn anh ấy là, tạo ra thói quen. Vì vậy, chúng ta hãy luôn luôn nhớ rằng chúng ta muốn tìm hiểu cái gì là, quan sát và nhận biết được chính xác cái gì là thực sự, không cho nó bất kỳ ý nghĩa bóng bẩy, không cho nó một giải thích. Nó cần một cái trí nhạy bén lạ thường, một tâm hồn mềm dẻo lạ thường, để nhận biết được và để theo sát cái gì là; bởi vì cái gì là đang liên tục chuyển động, đang liên tục trải qua một thay đổi, và nếu cái trí bị trói buộc vào niềm tin, vào hiểu biết, nó chấm dứt sự theo đuổi, nó không còn theo sát chuyển động mau lẹ của cái gì là. Chắc chắn, cái gì là không đứng yên – nó luôn luôn đang chuyển động, như bạn sẽ thấy nếu bạn quan sát nó rất kỹ càng. Muốn theo sát nó, bạn cần một cái trí rất nhạy bén và một tâm hồn thật mềm dẻo – mà bị chối từ khi cái trí đứng yên, cố định trong một niềm tin, trong một thành kiến, trong một nhận dạng; và một cái trí và một tâm hồn cằn cỗi không thể theo sát một cách dễ dàng, mau lẹ, cái gì là. 
Tôi nghĩ, người ta nhận biết được mà không cần có quá nhiều bàn cãi, quá nhiều diễn giải bằng từ ngữ, rằng có sự hỗn loạn, hoang mang và đau khổ cá thể cũng như tập thể. Không chỉ ở Ấn độ nhưng khắp thế giới; ở Trung quốc, Mỹ, Anh, Đức, toàn thế giới có hỗn loạn, đau khổ chồng chất. Không chỉ thuộc quốc gia, không chỉ ở đây, nó ở khắp thế giới. Có sự đau khổ vô cùng, và nó không những của cá thể nhưng còn cả của tập thể. Vì vậy nó là một thảm kịch của thế giới, và chỉ giới hạn nó vào một khu vực địa lý, một phần tô màu của tấm bản đồ, là điều vô lý; bởi vì nếu vậy bạn sẽ không hiểu rõ trọn vẹn ý nghĩa của sự đau khổ cá thể cũng như toàn thế giới này. Nhận biết được sự hỗn loạn này, phản ứng ngày hôm nay của chúng ta là gì? Chúng ta phản ứng như thế nào đây?
Có đau khổ thuộc chính trị, thuộc xã hội, thuộc tôn giáo; toàn thân tâm thuộc tâm lý của chúng ta bị hỗn loạn, và tất cả những người lãnh đạo, thuộc tôn giáo và chính trị, đã không giúp ích cho chúng ta; tất cả những quyển sách đã mất đi ý nghĩa của chúng. Bạn có lẽ dựa vào kinh Bhagavad Gita hay kinh Bible hay những quyển sách mới nhất về chính trị hay tâm lý, và bạn sẽ thấy rằng chúng đã mất đi chất lượng đặc trưng của nó, chất lượng của sự thật đó; chúng đã trở thành thuần túy những từ ngữ. Bạn, chính bạn, mà là người lặp lại những từ ngữ kia, bị rối loạn và hoang mang, và chỉ lặp lại những từ ngữ không chuyển tải được điều gì cả. Vì vậy những từ ngữ và những quyển sách đã mất đi giá trị của chúng; đó là, nếu bạn trích dẫn kinh Bible, hay Marx, hay kinh Bhagavad Gita, bởi vì bạn, người trích dẫn nó, chính bạn bị hoang mang, rối loạn, sự lặp lại của bạn chỉ trở thành lời nói láo; bởi vì điều gì được viết ra ở đó trở thành thuần túy là tuyên truyền, và tuyên truyền không là sự thật. Vì vậy khi bạn lặp lại, bạn đã chấm dứt hiểu rõ trạng thái thân tâm riêng của bạn. Bạn chỉ che đậy sự rối loạn riêng của bạn bằng những từ ngữ của uy quyền. Nhưng điều gì chúng ta đang cố gắng làm là hiểu rõ rối loạn này và không che đậy nó bằng những trích dẫn; vậy là phản ứng của bạn đến nó là gì? Bạn phản ứng đến sự hỗn loạn lạ thường này, hoang mang này, sự bất ổn của tồn tại này như thế nào? Hãy nhận biết được nó, khi tôi bàn luận về nó: theo sát, không phải những từ ngữ của tôi, nhưng sự suy nghĩ mà đang năng động trong bạn. Hầu hết chúng ta đều quen là những khán giả và không tham gia vào trò chơi. Chúng ta đọc những quyển sách nhưng không bao giờ viết những quyển sách. Nó đã trở thành truyền thống của chúng ta, thói quen toàn cầu và quốc gia của chúng ta, để là những khán giả, để xem một trận bóng đá, để xem những người chính trị và những người giảng thuyết. Chúng ta chỉ là những người đứng ngoài, nhìn vào, và chúng ta đã mất đi khả năng sáng tạo. Vì vậy chúng ta muốn thâm nhập và thẩm thấu.
Nhưng nếu bạn chỉ đang theo dõi, nếu bạn chỉ là những khán giả, bạn sẽ mất đi toàn ý nghĩa của nói chuyện này, bởi vì đây không là một nói chuyện mà bạn sẽ lắng nghe từ sức mạnh của thói quen. Tôi sẽ không trao cho bạn thông tin mà bạn sẽ tìm được trong một quyển từ điển bách khoa. Điều gì chúng ta đang cố gắng làm là theo sát những suy nghĩ của nhau, theo đuổi đến mức chúng ta có thể làm được, sâu thẳm đến mức chúng ta có thể làm được, những hàm ý, những đáp trả của những cảm thấy riêng của chúng ta. Vì vậy làm ơn hãy tìm ra phản ứng của bạn đến nguyên nhân này, đến đau khổ này, là gì; không phải những từ ngữ của người nào đó là gì, nhưng bạn, chính bạn phản ứng như thế nào. Phản ứng của bạn là một trong những dửng dưng nếu bạn có lợi lộc bởi sự đau khổ, bởi sự hỗn loạn, nếu bạn rút ra được lợi lộc từ nó, hoặc thuộc kinh tế, hoặc thuộc xã hội, thuộc chính trị hay thuộc tâm lý. Thế là bạn không thèm quan tâm nếu hỗn loạn này tiếp tục. Chắc chắn, càng có hỗn loạn, rắc rối trong thế giới nhiều bao nhiêu, người ta càng tìm kiếm an toàn nhiều bấy nhiêu. Bạn không nhận thấy điều đó hay sao? Khi có hỗn loạn trong thế giới thuộc tâm lý, và trong mọi cách, bạn tự-khóa chặt mình trong một loại an toàn nào đó, hoặc an toàn của một tài khoản ngân hàng hoặc an toàn của một học thuyết; hoặc ngược lại bạn nhờ vào sự cầu nguyện, bạn đi đến đền chùa – mà thực sự đang tẩu thoát khỏi điều gì đang xảy ra trong thế giới. Càng ngày càng nhiều giáo phái đang được thành lập, càng ngày càng nhiều thêm những ‘chủ nghĩa’ đang sinh sôi khắp thế giới. Bởi vì hỗn loạn càng có nhiều bao nhiêu, bạn càng muốn một người lãnh đạo, một ai đó mà sẽ dẫn dắt bạn ra khỏi hỗn loạn này nhiều bấy nhiêu; thế là bạn nương nhờ những quyển sách tôn giáo, hay theo sau một trong những vị thầy mới nhất; hay bạn hành động và phản ứng theo một hệ thống mà dường như giải quyết được vấn đề, một hệ thống hoặc thuộc phe tả hoặc thuộc phe hữu. Chính xác đó là điều gì đang xảy ra.
Khoảnh khắc bạn nhận biết được hỗn loạn, được chính xác cái gì là, bạn cố gắng tẩu thoát khỏi nó. Những giáo phái kia mà trao tặng bạn một hệ thống cho giải pháp của đau khổ, kinh tế, xã hội hay tôn giáo, là điều tồi tệ nhất; bởi vì lúc đó hệ thống trở thành quan trọng và không phải con người – dù nó là một hệ thống của tôn giáo, hay một hệ thống của phe tả hay của phe hữu. Hệ thống trở thành quan trọng; triết lý, ý tưởng, trở thành quan trọng, và không phải con người; và vì lợi ích của ý tưởng, của học thuyết, bạn sẵn lòng hiến dâng tất cả nhân loại, mà chính xác là điều gì đang xảy ra trong thế giới. Đây không chỉ là sự diễn giải của tôi; nếu bạn quan sát, bạn sẽ thấy rằng nó chính xác là điều gì đang xảy ra. Hệ thống đã trở thành quan trọng. Thế là, khi hệ thống đã trở thành quan trọng, con người, bạn và tôi, không còn ý nghĩa; và những người điều khiển hệ thống, dù thuộc những tôn giáo hay xã hội, dù thuộc phe tả hay phe hữu, đảm trách uy quyền, đảm trách quyền hành, và vì vậy hy sinh bạn, cá thể. Đó chính xác là điều gì đang xảy ra.
Bây giờ nguyên nhân của hỗn loạn này, đau khổ này là gì? Làm thế nào đau khổ này xảy ra, đau khổ này, không chỉ bên trong nhưng còn cả bên ngoài, sợ hãi và chờ đợi chiến tranh này, chiến tranh thế giới lần thứ ba sẽ xảy ra. Nguyên nhân của nó là gì? Chắc chắn nó phơi bày một sụp đổ của tất cả những giá trị tinh thần, đạo đức, và sự tôn vinh của tất cả những giá trị dục tình, giá trị của những sự việc được làm bởi bàn tay hay bằng cái trí. Điều gì xảy ra khi chúng ta không còn những giá trị nào khác ngoại trừ giá trị của những sự việc thuộc giác quan, giá trị của những sản phẩm của cái trí, của bàn tay hay của máy móc? Chúng ta càng đề cao những giá trị của những sự việc thuộc giác quan nhiều bao nhiêu, sự hỗn loạn càng to tát bấy nhiêu, đúng chứ? Lại nữa, đây không là lý thuyết của tôi. Bạn không cần trích dẫn những quyển sách để hiểu được những giá trị của bạn, sự giàu có của bạn, sự tồn tại thuộc kinh tế và xã hội của bạn được đặt nền tảng trên những sự việc được làm bởi bàn tay hay bởi cái trí. Vì vậy chúng ta sống và vận hành và đưa toàn thân tâm của chúng ta ngập chìm trong những giá trị thuộc giác quan, mà có nghĩa rằng những sự việc, những sự việc của cái trí, những sự việc bằng bàn tay và của máy móc, đã trở thành quan trọng; và khi những sự việc đó trở thành quan trọng, niềm tin trở thành quan trọng thống trị – mà chính xác là điều gì đang xảy ra trong thế giới, phải không?
Vẫn vậy, trao tặng càng nhiều ý nghĩa đến những giá trị của giác quan càng tạo ra hỗn loạn; và, vì ở trong hỗn loạn, chúng ta cố gắng tẩu thoát khỏi nó qua những hình thức khác nhau, dù thuộc tôn giáo, kinh tế, xã hội, hay qua tham vọng, qua quyền lực, qua tìm kiếm sự thật. Nhưng sự thật ở gần sát bên. Bạn không phải tìm kiếm nó; và một người tìm kiếm sự thật sẽ không bao giờ tìm được nó. Sự thật ở trong cái gì là – và đó là vẻ đẹp của nó. Nhưng khoảnh khắc bạn hình dung nó, khoảnh khắc bạn tìm kiếm nó, bạn bắt đầu đấu tranh; và một người đấu tranh không thể hiểu rõ. Đó là lý do tại sao chúng ta phải yên lặng, phải quan sát, nhận biết một cách thụ động. Chúng ta thấy rằng sống của chúng ta, hành động của chúng ta, luôn luôn ở trong phạm vi của hủy hoại, trong phạm vi của đau khổ; giống như một con sóng, rối loạn và hỗn loạn luôn luôn bao phủ chúng ta. Không có khoảng ngừng trong sự hỗn loạn của tồn tại. 
Hiện nay bất kỳ điều gì chúng ta làm dường như đều dẫn đến hỗn loạn, dường như đều dẫn đến đau khổ và bất hạnh. Hãy nhìn vào sống riêng của bạn và bạn sẽ thấy rằng sống của bạn luôn luôn trong vòng vây của đau khổ. Công việc của chúng ta, hoạt động xã hội của chúng ta, chính trị của chúng ta, sự qui tụ các quốc gia để chấm dứt chiến tranh, tất cả đều tạo ra chiến tranh thêm nữa. Sự hủy diệt liền ngay sau sống; bất kỳ điều gì chúng ta làm đều dẫn đến chết chóc. Đó là điều gì thực sự đang xảy ra.
Liệu chúng ta có thể kết thúc đau khổ này ngay tức khắc, và không tiếp tục bị trói buộc trong chuyển động của hoang mang và đau khổ? Đó là, những vị thầy vĩ đại, dù đó là Phật hay Chúa đã đến; họ đã đảm nhận Sự thật, làm cho chính họ, có lẽ, được tự do khỏi hỗn loạn và đau khổ. Nhưng họ đã không bao giờ ngăn cản được đau khổ, họ đã không bao giờ kết thúc được hỗn loạn. Hỗn loạn tiếp tục, đau khổ tiếp tục. Nếu bạn, khi thấy sự lộn xộn thuộc kinh tế và xã hội này, hỗn loạn này, đau khổ này, rút lui vào cái gì được gọi là đời sống tôn giáo và lẩn tránh thế giới, bạn có lẽ cảm thấy bạn đang ở chung cùng những vị thầy vĩ đại này; nhưng thế giới vẫn tiếp tục cùng những hỗn loạn của nó, đau khổ của nó và hủy hoại của nó, đau khổ mãi mãi của những người giàu có và những người nghèo khó của nó. Vì vậy, vấn đề của chúng ta, vấn đề của bạn và vấn đề của tôi, là liệu chúng ta có thể ra khỏi đau khổ này ngay tức khắc. Nếu, đang sống trong thế giới, bạn phủ nhận là một bộ phận của nó, bạn sẽ giúp đỡ những người khác ra khỏi hỗn loạn này – không phải trong tương lai, không phải ngày mai, nhưng ngay lúc này. Chắc chắn đó là vấn đề của chúng ta. Chiến tranh có thể sắp xảy ra, hủy diệt hơn, thảm khốc hơn trong hình thức của nó. Chắc chắn, chúng ta không thể ngăn cản được nó, bởi vì những bất đồng càng ngày càng sâu đậm và quá gần gũi. Nhưng bạn và tôi có thể nhận biết được sự hỗn loạn và đau khổ ngay tức khắc, đúng chứ? Chúng ta phải nhận biết được chúng, và sau đó chúng ta sẽ ở trong một vị trí của làm thức dậy một người khác cùng sự hiểu rõ Sự thật. Nói cách khác, bạn có thể được tự do ngay tức khắc hay không? – bởi vì đó là cách duy nhất để vượt khỏi sự đau khổ này. Nhận biết có thể xảy ra trong hiện tại; nhưng nếu bạn nói, ‘Tôi sẽ thực hiện nó vào ngày mai’, con sóng của hỗn loạn bủa vây bạn, và rồi thì bạn luôn luôn bị chìm nghỉm trong hỗn loạn. 
Bây giờ liệu có thể đến được trạng thái đó khi chính bạn nhận biết được sự thật ngay tức khắc và thế là kết thúc hỗn loạn? Tôi nói rằng được, và rằng nó là cách duy nhất. Tôi nói rằng nó có thể làm được và phải được làm, không bị đặt nền tảng trên giả thuyết hay niềm tin. Tạo ra sự cách mạng lạ thường này – mà không phải cuộc cách mạng để loại bỏ những người tư bản và thiết lập một nhóm người khác – tạo ra sự thay đổi kỳ diệu này, là cách mạng thực sự duy nhất, là ‘nghi vấn’. Điều gì thông thường được gọi là cách mạng chỉ là sự bổ sung hay sự tiếp tục của phe hữu tùy theo những ý tưởng của phe tả. Phe tả, sau đó, là sự tiếp tục của phe hữu trong một hình thức được bổ sung. Nếu phe hữu được đặt nền tảng trên những giá trị thuộc giác quan, phe tả không là gì cả ngoại trừ sự tiếp tục của cùng những giá trị thuộc giác quan, khác biệt chỉ trong mức độ hay diễn tả. Vì vậy cách mạng thực sự có thể xảy ra chỉ khi nào bạn, cá thể, trở nên nhận biết được trong liên hệ với một người khác của bạn. Chắc chắn điều gì bạn là trong liên hệ với một người khác, với người vợ của bạn, người con của bạn, ông chủ của bạn, người hàng xóm của bạn, là xã hội. Xã hội tự chính nó không-tồn tại. Xã hội là điều gì bạn và tôi, trong liên hệ của chúng ta, đã tạo ra; nó là sự chiếu rọi phía bên ngoài của tất cả những trạng thái tâm lý riêng, phía bên trong của chúng ta. Vì vậy nếu bạn và tôi không hiểu rõ về chính mình, chỉ chuyển đổi phía bên ngoài, mà là sự chiếu rọi của phía bên trong, không có ý nghĩa gì cả; đó là không thể có sự thay đổi hay bổ sung có ý nghĩa nào trong xã hội, chừng nào tôi còn không hiểu rõ về chính tôi trong liên hệ với bạn. Bị rối loạn trong liên hệ của tôi, tôi tạo ra một xã hội mà là bản sao chính xác, một diễn tả phía bên ngoài của điều gì tôi là. Đây là một sự kiện rõ ràng, mà chúng ta có thể bàn luận. Chúng ta có thể bàn luận liệu rằng xã hội, sự diễn tả phía bên ngoài đã sản sinh ra tôi, hay liệu rằng tôi đã sản sinh ra xã hội. 
Vì vậy, liệu nó không là một sự kiện rõ ràng rằng, tôi là gì trong liên hệ với một người khác của tôi tạo ra xã hội và rằng, nếu không có sự thay đổi cơ bản trong chính tôi, không thể có một thay đổi của vận hành cốt lõi của xã hội, hay sao? Khi chúng ta dựa vào một hệ thống cho sự thay đổi xã hội, chúng ta chỉ đang tẩu thoát khỏi vấn đề, bởi vì một hệ thống không thể thay đổi con người; con người luôn luôn thay đổi hệ thống, mà lịch sử đã phơi bày rõ ràng. Chỉ đến khi nào tôi, trong liên hệ với bạn của tôi, hiểu rõ về chính tôi, tôi là nguyên nhân của hỗn loạn, đau khổ, hủy diệt, sợ hãi, hung bạo. Hiểu rõ về chính tôi không là vấn đề của thời gian; tôi có thể hiểu rõ về chính tôi ngay khoảnh khắc này. Nếu tôi nói: ‘Tôi sẽ hiểu rõ về chính tôi vào ngày mai’, tôi đang mang vào sự hỗn loạn và đau khổ, hành động của tôi là hủy hoại. Khoảnh khắc tôi nói rằng tôi ‘sẽ’ hiểu, tôi mang vào yếu tố thời gian và vì vậy đã bị trói buộc trong chuyển động của hỗn loạn và hủy diệt. Hiểu rõ là ngay lúc này, không phải ngày mai. Ngày mai chỉ dành cho cái trí lười biếng, một cái trí lờ đờ, một cái trí không quan tâm. Khi bạn quan tâm điều gì đó, bạn thực hiện nó ngay tức khắc, có hiểu rõ ngay tức khắc, thay đổi ngay tức khắc. Nếu bạn không thay đổi ngay lúc này, bạn sẽ không bao giờ thay đổi, bởi vì thay đổi xảy ra vào ngày mai chỉ là một bổ sung, nó không là thay đổi. Thay đổi chỉ có thể xảy ra ngay tức khắc; cách mạng là ngay lúc này, không phải ngày mai.
Khi điều đó xảy ra, bạn hoàn toàn không có một vấn đề, bởi vì lúc đó cái tôi không còn tự-lo âu về chính nó; vậy thì bạn vượt khỏi chuyển động của hủy diệt.
Chương 2:
CHÚNG TA ĐANG TÌM KIẾM CÁI GÌ?
Hầu hết chúng ta đang tìm kiếm cái gì? Mỗi người chúng ta mong muốn cái gì? Đặc biệt trong thế giới hỗn loạn này, nơi mọi người đang cố gắng tìm ra một loại an bình nào đó, một loại hạnh phúc nào đó, một chỗ ẩn náu, chắc chắn rất quan trọng phải tìm ra, chúng ta đang cố gắng tìm kiếm cái gì, chúng ta đang cố gắng khám phá cái gì, đúng chứ? Có thể hầu hết chúng ta đang cố gắng tìm kiếm một loại hạnh phúc nào đó, một loại an bình nào đó; trong một thế giới mà chất chồng hỗn loạn, những chiến tranh, bất hòa, xung đột, chúng ta muốn một ẩn náu nơi có thể có một an bình nào đó. Tôi nghĩ đó là điều gì hầu hết chúng ta ao ước. Vì vậy chúng ta theo đuổi, đi từ một người lãnh đạo này sang một người lãnh đạo khác, từ một tổ chức tôn giáo này sang một tổ chức tôn giáo khác, từ một vị thầy sang một vị thầy khác.
Bây giờ, chúng ta đang tìm kiếm hạnh phúc hay chúng ta đang tìm kiếm sự thỏa mãn thuộc loại nào đó mà từ đó chúng ta hy vọng có được hạnh phúc? Có một khác biệt giữa hạnh phúc và thỏa mãn. Bạn có thể tìm kiếm hạnh phúc hay sao? Có lẽ bạn tìm ra sự thỏa mãn nhưng chắc chắn bạn không thể tìm được hạnh phúc. Hạnh phúc là phần phụ; nó là phó sản của một cái gì khác. Vì vậy, trước khi chúng ta trao những cái trí và những tâm hồn của chúng ta đến một cái gì đó mà đòi hỏi nhiều khẩn thiết, chú ý, suy nghĩ, thận trọng, chúng ta phải tìm ra, chúng ta đang tìm kiếm cái gì, đúng chứ? Liệu nó là hạnh phúc, hay thỏa mãn? 
Tôi e rằng hầu hết chúng ta đều đang tìm kiếm sự thỏa mãn. Chúng ta muốn được thỏa mãn, chúng ta muốn tìm được ‘một ý thức của tột đỉnh’ ở khúc cuối sự tìm kiếm của chúng ta. 
Rốt cuộc, nếu người ta đang tìm kiếm an bình người ta có thể tìm ra rất dễ dàng. Người ta có thể, một cách mù quáng, hiến dâng chính người ta đến một loại nguyên nhân nào đó, đến một ý tưởng, và ẩn náu ở đó. Chắc chắn điều đó không giải quyết được vấn đề. Chỉ tách rời trong một ý tưởng khép kín không là một giải thoát khỏi xung đột. Vì vậy chúng ta phải tìm ra, nó là cái gì phía bên trong, cũng như phía bên ngoài, mà mỗi người chúng ta ao ước, đúng chứ? Nếu chúng ta rõ ràng về vấn đề đó, vậy thì chúng ta không phải đi đến bất kỳ nơi nào, đến bất kỳ vị thầy nào, đến bất kỳ nhà thờ nào, đến bất kỳ tổ chức nào. Thế nên sự khó khăn của chúng ta là, phải rõ ràng trong chính chúng ta về ý định của chúng ta, phải không? Chúng ta có thể rõ ràng được chứ? Và sự rõ ràng đó hiện diện qua tìm hiểu, qua cố gắng tìm ra điều gì những người khác nói, từ những vị thầy tối cao đến người giảng đạo bình thường trong một nhà thờ ở góc đường, hay sao? Bạn phải đi đến một ai đó để tìm ra à? Tuy nhiên, đó lại là điều gì chúng ta đang thực hiện, đúng chứ? Chúng ta đọc vô số những quyển sách, chúng ta tham dự nhiều cuộc họp mặt và thảo luận, chúng ta gia nhập những tổ chức khác nhau – qua phương tiện đó, cố gắng tìm ra một phương thuốc chữa trị sự xung đột, chữa trị những đau khổ trong sống của chúng ta. Hay, nếu chúng ta không làm tất cả việc đó, chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã tìm ra; đó là chúng ta nói rằng một tổ chức đặc biệt, một vị thầy đặc biệt, một quyển sách đặc biệt làm thỏa mãn chúng ta; chúng ta đã tìm ra mọi thứ chúng ta muốn ở trong đó; và chúng ta ở lại trong đó, gạn lọc và khép kín. 
Chúng ta tìm kiếm, qua tất cả sự hỗn loạn này, một cái gì đó vĩnh cửu, một cái gì đó bền vững, một cái gì đó mà chúng ta gọi là sự thật, Thượng đế, chân lý, bất kỳ điều gì bạn thích – cái tên không thành vấn đề, từ ngữ không là sự việc, chắc chắn như thế. Vì vậy đừng để chúng ta bị trói buộc trong những từ ngữ. Hãy dành việc đó cho những người giảng thuyết chuyên nghiệp. Có một tìm kiếm điều gì đó vĩnh cửu, đúng chứ?, trong hầu hết chúng ta – một cái gì đó chúng ta có thể bám vào, một cái gì đó mà sẽ cho chúng ta sự bảo đảm, một hy vọng, một nhiệt thành vĩnh cửu, một chắc chắn vĩnh cửu, bởi vì trong chính chúng ta, chúng ta quá rối loạn. Chúng ta không biết về chính chúng ta. Chúng ta biết nhiều về những sự kiện, điều gì những quyển sách đã nói; nhưng chúng ta không biết về chính chúng ta, chúng ta không có một trải nghiệm trực tiếp. 
Và chúng ta gọi vĩnh cửu là gì? Chúng ta đang tìm kiếm cái gì, mà sẽ, hay mà chúng ta hy vọng sẽ cho chúng ta vĩnh cửu? Chúng ta không đang tìm kiếm hạnh phúc vĩnh cửu, thỏa mãn vĩnh cửu, sự chắc chắn vĩnh cửu, hay sao? Chúng ta muốn một cái gì đó mà sẽ kéo dài mãi mãi, mà sẽ thỏa mãn chúng ta. Nếu chúng ta xóa sạch chính mình khỏi tất cả những từ ngữ và những cụm từ, và thực sự nhìn vào nó, đây là điều gì chúng ta ao ước. Chúng ta muốn vui thú vĩnh cửu, thỏa mãn vĩnh cửu – mà chúng ta gọi là sự thật, Thượng đế, hay bất kỳ từ ngữ nào bạn muốn.
Tốt lắm, chúng ta muốn vui thú. Có lẽ giải thích như thế rất thô lỗ, nhưng đó thực sự là điều gì chúng ta ao ước – hiểu biết mà sẽ cho chúng ta vui thú, trải nghiệm mà sẽ cho chúng ta vui thú, một thỏa mãn mà sẽ tàn tạ đi vào ngày mai. Và chúng ta đã thử nghiệm những thỏa mãn khác nhau, và tất cả chúng đều không còn nữa; và lúc này chúng ta hy vọng tìm ra sự thỏa mãn vĩnh cửu trong sự thật, trong Thượng đế. Chắc chắn, đó là điều gì tất cả chúng ta đều đang tìm kiếm – người thông minh và người ngu dốt, người lý thuyết và người thực tế đang phấn đấu để đạt được cái gì đó. Và liệu có sự thỏa mãn vĩnh cửu hay không? Liệu có cái gì đó mà sẽ bất diệt hay không? 
Bây giờ nếu bạn tìm kiếm sự thỏa mãn vĩnh cửu, gọi nó là Thượng đế, hay sự thật, hay bất kỳ từ ngữ nào bạn muốn – cái tên không đặt thành vấn đề – chắc chắn bạn phải hiểu rõ, cái sự việc mà bạn đang tìm kiếm, phải không? Khi bạn nói, ‘Tôi đang tìm kiếm hạnh phúc vĩnh cửu’ – Thượng đế, hay sự thật, hay bất kỳ điều gì bạn thích – bạn cũng không phải hiểu rõ cái vật mà đang tìm kiếm, người tìm kiếm, người theo đuổi, hay sao? Bởi vì có lẽ không có sự việc như là an toàn vĩnh cửu, hạnh phúc vĩnh cửu. Sự thật có lẽ là một cái gì đó hoàn toàn khác hẳn; và tôi nghĩ nó là hoàn toàn khác hẳn cái gì bạn có thể nhìn thấy, hình dung, tạo thành. Vì vậy, trước khi chúng ta tìm kiếm cái gì đó vĩnh cửu, liệu không cần thiết phải hiểu rõ người tìm kiếm hay sao? Người tìm kiếm có khác biệt sự việc anh ấy tìm kiếm hay không? Khi bạn nói, ‘Tôi đang tìm kiếm hạnh phúc’, liệu có một người tìm kiếm khác biệt với sự việc của sự tìm kiếm của anh ấy? Người tìm kiếm khác biệt với sự việc được suy nghĩ? Chúng không là một hiện tượng kết hợp, khác hẳn những qui trình tách rời hay sao? Vì vậy điều cốt lõi là phải hiểu rõ người tìm kiếm là gì, đúng chứ? Phải hiểu rõ người tìm kiếm là gì, trước khi bạn cố gắng tìm ra anh ấy đang tìm kiếm cái gì.
Vậy là chúng ta phải đến được mấu chốt khi chúng ta tự-hỏi chính chúng ta, một cách thực sự nghiêm túc và sâu thẳm, liệu hòa bình, hạnh phúc, sự thật, Thượng đế hay bất kỳ từ ngữ nào bạn muốn, có thể được trao cho chúng ta bởi một người nào đó. Liệu sự tìm kiếm liên tục này, ao ước này, có thể cho chúng ta cái ý thức lạ thường của sự thật, cái thân tâm sáng tạo đó, mà hiện diện khi chúng ta thực sự hiểu rõ về chính chúng ta? Hiểu rõ về chính mình có được qua tìm kiếm, qua theo sau một người nào đó, qua lệ thuộc vào một tổ chức đặc biệt, qua đọc những quyển sách, và vân vân, hay sao? Rốt cuộc, đó là mấu chốt chính, phải không? – rằng chừng nào tôi còn không hiểu rõ về chính tôi, tôi không có nền tảng cho sự suy nghĩ, và tất cả những tìm kiếm của tôi sẽ là hão huyền. Tôi có thể tẩu thoát vào những ảo tưởng, tôi có thể chạy trốn khỏi sự bất an, xung đột, đấu tranh; tôi có thể tôn thờ một người nào khác; tôi có thể tìm kiếm sự cứu rỗi của tôi qua một ai đó. Nhưng chừng nào tôi còn dốt nát về chính tôi, chừng nào tôi còn không nhận biết được toàn qui trình của chính tôi, tôi không có nền tảng cho suy nghĩ, cho thương yêu, cho hành động.
Nhưng đó là sự việc cuối cùng mà chúng ta muốn: biết về chính chúng ta. Chắc chắn đó là nền tảng duy nhất mà chúng ta có thể thiết lập. Nhưng, trước khi chúng ta có thể thiết lập, trước khi chúng ta có thể thay đổi, trước khi chúng ta có thể chỉ trích hay xóa sạch, chúng ta phải biết ‘chúng ta là gì’. Hướng ra ngoài để tìm kiếm, thay đổi những vị thầy, những đạo sư, thực hành yoga, hít thở, thực hiện những nghi lễ, tuân theo những vị Thầy và tất cả những sự việc như vậy, đều hoàn toàn vô ích, đúng chứ? Nó không có ý nghĩa, thậm chí chính những người mà chúng ta tuân theo có lẽ nói: ‘Hãy học hành về chính bạn’, bởi vì chúng ta là gì, thế giới là như vậy. Nếu chúng ta nhỏ nhen, ganh tị, hão huyền, tham lam – đó là điều gì chúng ta tạo ra về chúng ta, đó là xã hội mà chúng ta sống. 
Dường như đối với tôi, trước khi chúng ta bắt đầu một chuyến hành trình để tìm ra sự thật, để tìm ra Thượng đế, trước khi chúng ta có thể hành động, trước khi chúng ta có thể có bất kỳ liên hệ nào với người khác, mà là xã hội, thật cần thiết rằng, đầu tiên chúng ta phải khởi đầu bằng hiểu rõ về chính chúng ta. Tôi nghĩ, một người khẩn thiết nhất là một người mà hoàn toàn quan tâm đến điều này, đầu tiên, và không phải làm thế nào đến được một mục đích đặc biệt, bởi vì, nếu bạn và tôi không hiểu rõ về chính chúng ta, làm thế nào chúng ta có thể, trong hành động, tạo ra một thay đổi trong xã hội, trong liên hệ, trong bất kỳ điều gì chúng ta làm? Và chắc chắn, nó không có nghĩa rằng hiểu rõ về chính mình là phản kháng lại, hay cô lập khỏi, sự liên hệ. Chắc chắn, nó không có nghĩa, nhấn mạnh vào cá thể, cái tôi, hay phản kháng tập thể, như phản kháng một người khác.
Bây giờ nếu không hiểu rõ về chính mình, nếu không nhận biết được cách suy nghĩ riêng của bạn và tại sao bạn suy nghĩ những sự việc nào đó, nếu không nhận biết được nền tảng của tình trạng bị quy định của bạn và tại sao bạn có những niềm tin nào đó về nghệ thuật và tôn giáo, về quốc gia của bạn, về người hàng xóm của bạn và về chính bạn, làm thế nào bạn có thể suy nghĩ trung thực về bất kỳ điều gì? Nếu không nhận biết được nền tảng quá khứ của bạn, nếu không nhận biết được chất lượng của tư tưởng của bạn và nó đến từ đâu – chắc chắn sự tìm kiếm của bạn hoàn toàn vô ích, hành động của bạn không có ý nghĩa, đúng chứ? Dù bạn là một người Mỹ hay một người Ấn độ hay bất kỳ tôn giáo nào của bạn, đều không có ý nghĩa nào cả.
Trước khi chúng ta có thể tìm ra mục đích tối hậu của sống là gì, tất cả việc đó có nghĩa gì – những chiến tranh, những hận thù quốc gia, những xung đột, toàn mớ hỗn độn đó – chúng ta phải bắt đầu với chính chúng ta, đúng chứ? Điều đó nghe ra quá đơn giản, nhưng lại khó khăn cực kỳ. Muốn theo dõi về chính người ta, muốn thấy suy nghĩ của người ta vận hành như thế nào, người ta phải tỉnh táo lạ thường, để cho, bởi vì người ta bắt đầu mỗi lúc càng cảnh giác nhiều hơn với những phức tạp tinh tế của suy nghĩ và những phản ứng và những cảm thấy riêng của người ta, người ta bắt đầu có sự nhận biết tổng thể hơn, không chỉ về chính mình nhưng còn về người khác mà người ta đang liên hệ. Biết về chính mình là học hành về chính mình trong hành động, mà là sự liên hệ. Sự khó khăn là rằng, chúng ta không đủ sự nhẫn nại; chúng ta muốn tiếp tục, chúng ta muốn đạt đến một kết thúc, và vì vậy chúng ta không có thời gian cũng như không có thời gian trao cho chính chúng ta cơ hội học hành, quan sát. Thay vì thế, chúng ta đã tự-gắn kết chính chúng ta đến những hoạt động khác nhau – kiếm sống, nuôi nấng con cái – hay thực hiện những trách nhiệm nào đó của vô số những tổ chức; chúng ta đã cam kết chính chúng ta đến vô vàn hình thức khác nhau, đến độ hầu như chúng ta không còn bất kỳ thời gian nào dành cho sự suy nghĩ, quan sát, học hành về chính chúng ta. Thế là thật ra, trách nhiệm của sự phản ứng tùy thuộc vào chính một người, không phải vào một người khác. Khắp thế giới, sự theo đuổi những vị đạo sư và hệ thống của họ, đọc những quyển sách mới nhất về điều này hay điều kia, và vân vân, đối với tôi dường như hoàn toàn trống rỗng, hoàn toàn vô ích, bởi vì bạn có thể lang thang khắp quả đất nhưng bạn lại phải quay về với chính bạn. Và, bởi vì hầu hết chúng ta hoàn toàn không nhận biết được về chính chúng ta; muốn bắt đầu thấy rõ ràng qui trình suy nghĩ và cảm thấy và hành động riêng của chúng ta là việc khó khăn cực kỳ. 
Bạn càng biết về chính mình nhiều bao nhiêu, càng có sự rõ ràng nhiều bấy nhiêu. Hiểu rõ về chính mình không có kết thúc – bạn không đạt được một thành tựu, bạn không đến một kết luận. Nó là một con sông vô tận. Khi người ta học hành về nó, khi người ta thâm nhập vào nó mỗi lúc một thăm thẳm hơn, người ta nhận được sự an bình. Chỉ khi nào cái trí yên lặng – qua hiểu rõ về chính mình và không qua kỷ luật tự-áp đặt – chỉ đến lúc đó, trong yên lặng đó, trong yên lặng đó, sự thật mới có thể hiện diện. Chỉ đến lúc đó mới có thể có hạnh phúc, mới có thể có hành động sáng tạo. Và dường như đối với tôi, nếu không có hiểu rõ này, không có trải nghiệm này, chỉ đọc những quyển sách, tham dự những buổi nói chuyện, thực hiện việc truyền bá, đều quá ấu trĩ – chỉ là một hành động mà không có nhiều ý nghĩa; trái lại nếu người ta có thể hiểu rõ về chính người ta, và vì vậy mang lại hạnh phúc sáng tạo đó, trải nghiệm cái gì đó mà không thuộc cái trí; vậy là có lẽ có một thay đổi trong sự liên hệ trực tiếp và gần gũi quanh chúng ta và vì vậy trong thế giới mà chúng ta sống. 
Chương 3:
CÁ THỂ VÀ XÃ HỘI
Câu hỏi mà hầu hết chúng ta phải giải đáp là liệu cá thể chỉ là công cụ của xã hội hay là mục đích của xã hội. Bạn và tôi, như những cá thể phải bị sử dụng, bị điều khiển, bị giáo dục, bị kiểm soát, bị định hình đến một khuôn mẫu nào đó bởi xã hội và chính phủ; hay xã hội, chính thể, tồn tại vì lợi ích của cá thể? Cá thể là mục đích của xã hội; hay anh ấy chỉ là một con rối bị dạy dỗ, bị trục lợi, bị tàn sát như một công cụ của chiến tranh. Đó là vấn đề mà hầu hết chúng ta đang đối diện. Đó là vấn đề của thế giới: liệu cá thể là một công cụ thuần túy của xã hội, một vật đùa giỡn của những ảnh hưởng bị đúc khuôn; hay liệu xã hội tồn tại vì lợi ích của cá thể.
Bằng cách nào bạn sẽ giải đáp được nghi vấn này? Nó là một vấn đề nghiêm túc, phải không? Nếu cá thể chỉ là dụng cụ của xã hội, vậy thì xã hội quan trọng nhiều hơn cá thể. Nếu điều đó đúng thực, vậy thì chúng ta phải từ bỏ tánh cá thể và làm việc cho xã hội; toàn hệ thống giáo dục của chúng ta hoàn toàn phải được cách mạng hóa và cá thể được biến thành một công cụ bị sử dụng và bị tàn sát, bị loại bỏ, bị tiêu diệt. Nhưng nếu xã hội tồn tại vì lợi ích của cá thể, vậy thì chức năng của xã hội là, không bắt buộc anh ấy phải tuân phục vào bất kỳ khuôn mẫu nào nhưng cho anh ấy sự cảm thấy, sự thôi thúc của tự do. Vì vậy chúng ta phải tìm ra điều gì là giả dối.
Bạn sẽ tìm hiểu vấn đề này như thế nào? Nó là một vấn đề sống còn, phải không? Nó không lệ thuộc vào bất kỳ học thuyết nào, hoặc của cánh tả hoặc của cánh hữu; và nếu nó có lệ thuộc vào một học thuyết, vậy thì nó chỉ là một vấn đề của quan điểm. Những ý tưởng luôn luôn nuôi dưỡng thù địch, hoang mang, xung đột. Nếu bạn lệ thuộc vào những quyển sách của phe tả hay phe hữu hay vào những quyển sách thiêng liêng, vậy thì bạn lệ thuộc chỉ vào ý tưởng, dù là của Phật, của Chúa, của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản hay bất kỳ điều gì bạn muốn. Chúng là những ý tưởng, không là sự thật. Một sự thật không bao giờ có thể bị phủ nhận. Quan điểm về sự kiện có thể bị phủ nhận. Nếu chúng ta có thể khám phá sự thật của vấn đề là gì, chúng ta có thể hành động độc lập khỏi quan điểm. Vì vậy, không cần thiết để loại bỏ điều gì những người khác đã nói, hay sao? Quan điểm của những người cánh tả hay những người lãnh đạo khác đều là kết quả của tình trạng bị quy định của họ; vì vậy nếu bạn lệ thuộc vào điều gì được tìm ra trong những quyển sách cho sự khám phá của bạn, chắc chắn bạn chỉ bị trói buộc bởi những quan điểm. Nó không là vấn đề của hiểu biết.
Làm thế nào người ta khám phá được sự thật của điều này? Mà dựa vào nó chúng ta sẽ hành động. Muốn tìm ra sự thật của điều này, phải có tự do khỏi tất cả tuyên truyền, mà có nghĩa rằng bạn có thể quan sát vấn đề không bị lệ thuộc vào quan điểm. Toàn nhiệm vụ của giáo dục là làm thức dậy cá thể. Muốn thấy được sự thật của điều này, bạn sẽ phải rất rõ ràng, mà có nghĩa bạn không thể lệ thuộc vào một người lãnh đạo. Khi bạn chọn lựa một người lãnh đạo, bạn làm như thế từ sự rối loạn, và vì vậy những người lãnh đạo của bạn cũng bị rối loạn, và đó là điều gì đang xảy ra trong thế giới. Vì vậy bạn không thể nương dựa người lãnh đạo của bạn để tìm được sự hướng dẫn hay trợ giúp. 
Một cái trí ao ước hiểu rõ một vấn đề không những phải hiểu rõ vấn đề một cách trọn vẹn, tổng thể, nhưng còn phải có thể theo sát nó thật mau lẹ, bởi vì vấn đề không bao giờ đứng yên. Vấn đề luôn luôn mới mẻ, dù nó là một vấn đề chết đói, một vấn đề tâm lý, hay bất kỳ vấn đề nào. Mọi khủng hoảng luôn luôn mới mẻ; vì vậy, muốn hiểu rõ nó, một cái trí phải luôn luôn trong sáng, rõ ràng, mau lẹ trong sự theo đuổi nó. Tôi nghĩ, hầu hết chúng ta nhận ra sự khẩn cấp của một cách mạng phía bên trong, mà tự nó có thể tạo ra một thay đổi cơ bản phía bên ngoài, xã hội. Đây là vấn đề mà chính tôi và tất cả những con người có ý định nghiêm túc phải quan tâm. Làm thế nào tạo ra một thay đổi triệt để, một thay đổi cơ bản trong xã hội, là vấn đề của chúng ta; và sự thay đổi phía bên ngoài này không thể xảy ra nếu không có sự cách mạng phía bên trong. Bởi vì xã hội luôn luôn cố định, bất kỳ hành động, bất kỳ đổi mới nào được thành tựu nếu không có cách mạng phía bên trong này, đều trở nên hoàn toàn cố định; vì vậy không có hy vọng nếu không có sự cách mạng liên tục phía bên trong này, bởi vì, nếu không có nó, hành động phía bên ngoài trở thành lặp lại, thói quen. Hành động của sự liên hệ giữa bạn và một người khác, giữa bạn và tôi, là xã hội; và xã hội đó trở nên cố định, nó không có ‘chất lượng của đang trao tặng sự sống’, chừng nào còn không có sự cách mạng liên tục phía bên trong này, một thay đổi tâm lý, sáng tạo; và do bởi không có sự cách mạng liên tục phía bên trong này nên xã hội luôn luôn bị đứng yên, cố định và vì vậy phải liên tục bị vỡ vụn.
Sự liên hệ giữa chính bạn và đau khổ, hỗn loạn, trong và quanh bạn là gì? Chắc chắn hỗn loạn này, đau khổ này, không hiện diện một mình. Bạn và tôi đã tạo ra nó, không phải một người tư bản hay một người cộng sản, hay một xã hội phát-xít, nhưng bạn và tôi đã tạo ra nó trong liên hệ lẫn nhau của chúng ta. Điều gì bạn là ở phía bên trong đã được chiếu rọi ra phía bên ngoài, vào thế giới này; điều gì bạn là, điều gì bạn suy nghĩ và điều gì bạn cảm thấy, điều gì bạn làm trong sự tồn tại hàng ngày của bạn, được chiếu rọi ra phía bên ngoài, và điều đó tạo thành thế giới. Nếu chúng ta đau khổ, hoang mang, hỗn loạn phía bên trong, bằng sự chiếu rọi điều đó trở thành thế giới, điều đó trở thành xã hội, bởi vì sự liên hệ giữa chính bạn và chính tôi, giữa chính tôi và một người khác là xã hội – xã hội là sản phẩm của sự liên hệ của chúng ta – và nếu sự liên hệ của chúng ta bị hoang mang, ích kỷ, chật hẹp, bị giới hạn, theo quốc gia, chúng ta chiếu rọi việc đó và mang sự hỗn loạn vào thế giới.
Bạn là gì, thế giới là như vậy. Vì vậy vấn đề của bạn là vấn đề của thế giới. Chắc chắn, đây là một sự kiện căn bản và đơn giản, đúng chứ? Trong sự liên hệ với một người hay nhiều người của chúng ta, trong chừng mực nào đó dường như chúng ta luôn luôn đang bỏ lỡ mấu chốt này. Chúng ta muốn tạo ra một thay đổi qua một hệ thống, hay qua một cách mạng trong những ý tưởng hoặc những giá trị được đặt nền tảng trên một hệ thống, quên bẵng rằng chính là ‘bạn và tôi’ mà tạo ra xã hội, mà gây ra rối loạn hay trật tự do bởi cách chúng ta sống trong đó. Vì vậy chúng ta phải bắt đầu từ thật gần, đó là chính chúng ta phải chú ý đến sự tồn tại hàng ngày của chúng ta, đến những suy nghĩ và cảm thấy và những hành động hàng ngày của chúng ta mà được bộc lộ trong cách kiếm sống và trong sự liên hệ với những ý tưởng hay những niềm tin của chúng ta. Đây là sự tồn tại hàng ngày của chúng ta, phải không? Chúng ta quan tâm đến sinh kế, có công ăn việc làm, kiếm tiền; chúng ta quan tâm đến sự liên hệ với gia đình của chúng ta hay với những người hàng xóm của chúng ta; và chúng ta quan tâm đến những ý tưởng và đến những niềm tin. Bây giờ, nếu bạn tìm hiểu sự quan tâm của bạn, về căn bản nó được đặt nền tảng trên ganh tị, nó không chỉ là một phương tiện kiếm sống. Xã hội được kết cấu chặt chẽ đến độ nó là một qui trình của xung đột liên tục, trở thành liên tục; nó được đặt nền tảng trên tham lam, trên ganh tị, sự ganh tị những người cao cấp hơn của bạn; người thư ký muốn trở thành người giám đốc, mà phơi bày rằng anh ấy không chỉ quan tâm đến việc kiếm sống, một phương tiện của sự tồn tại, nhưng còn quan tâm đến thâu lượm chức vụ và thanh danh. Thái độ này tự nhiên tạo ra sự bi thảm trong xã hội, trong liên hệ, nhưng nếu bạn và tôi chỉ quan tâm đến việc kiếm sống chúng ta phải tìm ra phương tiện đúng đắn để có được nó, một phương tiện không được đặt nền tảng trên ganh tị. Ganh tị là một trong những yếu tố hủy hoại nhất trong liên hệ bởi vì ganh tị phơi bày sự ham muốn có quyền hành, có vị trí, và cuối cùng dẫn đến chính trị; cả hai đều có liên hệ gần gũi. Người thư ký, khi anh ấy sục sạo để trở thành một giám đốc, trở thành một yếu tố trong sự tạo tác của chính trị-quyền hành mà sinh ra chiến tranh; vì vậy anh ấy chịu trách nhiệm trực tiếp cho chiến tranh.
Liên hệ của chúng ta được đặt nền tảng trên cái gì? Liên hệ giữa chính bạn và chính tôi, giữa chính bạn và một người khác – mà là xã hội – nó được đặt nền tảng trên cái gì? Chắc chắn không phải trên tình yêu, mặc dù chúng ta nói về tình yêu. Nó không được đặt nền tảng trên tình yêu, bởi vì nếu có tình yêu sẽ có trật tự, sẽ có hòa bình, hạnh phúc giữa bạn và tôi. Nhưng trong liên hệ giữa bạn và tôi đó, có nhiều ý muốn xấu xa được che đậy bởi từ ngữ ‘kính trọng’. Nếu cả hai chúng ta bình đẳng trong tư tưởng, trong cảm thấy, sẽ không có kính trọng, sẽ không có ý muốn xấu xa, bởi vì chúng ta sẽ là hai cá thể đang gặp gỡ, không phải như một người đệ tử và vị thầy, cũng không phải như người chồng đang chi phối người vợ, hay như người vợ đang thống trị người chồng. Khi có ý muốn xấu xa có một khao khát thống trị mà nảy sinh ghen tuông, tức giận, đam mê, tất cả việc đó trong liên hệ của chúng ta tạo ra xung đột liên tục mà từ đó chúng ta cố gắng tẩu thoát, và việc này sinh ra hỗn loạn thêm nữa, đau khổ thêm nữa. 
Bây giờ khi nói về những ý tưởng mà là thành phần của sự tồn tại hàng ngày của chúng ta, những niềm tin và những công thức, chúng không đang làm biến dạng cái trí của chúng ta hay sao? Và dốt nát là gì? Dốt nát là cho những giá trị sai lầm đến những sự việc mà cái trí tạo ra, hay đến những sự việc mà bàn tay sản xuất. Hầu hết những tư tưởng của chúng ta khởi nguồn từ bản năng tự-bảo vệ, phải không? Ồ, những ý tưởng của chúng ta, thật nhiều trong số chúng, chúng không được giao cho ý nghĩa sai lầm, ý nghĩa mà chúng không tự-có trong chính chúng hay sao? Vì vậy khi chúng ta tin tưởng bất kỳ hình thức nào, dù là tôn giáo, kinh tế hay xã hội, khi chúng ta tin tưởng Thượng đế, những ý tưởng, một hệ thống xã hội mà tách rời con người khỏi con người, trong chủ nghĩa quốc gia và vân vân, chắc chắn chúng ta đang cho ý nghĩa sai lầm đến niềm tin, mà thể hiện sự dốt nát, bởi vì niềm tin phân chia con người, không kết hợp con người. Vì vậy chúng ta thấy rằng qua cách chúng ta sống, chúng ta có thể tạo ra trật tự hay hỗn loạn, hòa bình hay xung đột, hạnh phúc hay đau khổ.
Vì vậy, nghi vấn của chúng ta là – đúng chứ? – liệu có thể có một xã hội mà ‘cố định’, và cùng lúc một cá thể trong đó có một cách mạng ‘liên tục’ này đang xảy ra? Đó là, cách mạng trong xã hội phải bắt đầu bằng sự thay đổi tâm lý phía bên trong của cá thể. Hầu hết chúng ta đều muốn thấy một thay đổi cơ bản trong cấu trúc xã hội. Đó là toàn trận chiến đang xảy ra trong thế giới – tạo ra một cách mạng xã hội qua chủ nghĩa xã hội hay bất kỳ phương tiện nào khác. Bây giờ nếu có một cách mạng xã hội, mà là một hành động liên quan đến cấu trúc phía bên ngoài của con người; dù cách mạng xã hội đó có cơ bản đến mức độ nào, chính bản chất của nó cũng là ‘cố định’ nếu không có sự cách mạng bên trong của cá thể, nếu không có sự thay đổi tâm lý. Vì vậy muốn tạo ra một xã hội không lặp lại, không cố định, nhưng có sự hội nhập, một xã hội liên tục sinh động, thật cần thiết phải có một cách mạng trong cấu trúc tâm lý của cá thể, bởi vì nếu không có cách mạng tâm lý bên trong, chỉ thay đổi bên ngoài chẳng có ý nghĩa bao nhiêu. Đó là xã hội luôn luôn đang trở thành cố định, không-thay đổi, và vì vậy luôn luôn không đang hội nhập. Luật pháp có thể được khuếch trương khôn khéo và sâu sắc đến chừng nào chăng nữa, xã hội luôn luôn đang trong tiến trình thoái hóa bởi vì cách mạng phải xảy ra phía bên trong, không chỉ phía bên ngoài.
Tôi nghĩ rất quan trọng phải hiểu rõ điều này và không lơ là với nó. Hành động phía bên ngoài, khi được thành tựu, là kết thúc, là cố định; nếu sự liên hệ giữa những cá thể, mà là xã hội, không là kết quả của cách mạng bên trong, vậy thì cấu trúc xã hội bởi vì bị cố định, thẩm thấu cá thể và thế là cũng làm cho anh ấy trở thành bị cố định, lặp lại. Nhận ra điều này, nhận ra sự quan trọng lạ thường của sự kiện này, không thể có vấn đề đồng ý hay không-đồng ý. Do bởi sự kiện rằng xã hội luôn luôn đang cố định và đang thẩm thấu cá thể, nên sự cách mạng sáng tạo liên tục đó chỉ có thể thực hiện trong cá thể, không phải trong xã hội, không phải phía bên ngoài. Đó là, cách mạng sáng tạo chỉ có thể xảy ra trong liên hệ cá thể, mà là xã hội. Chúng ta thấy cấu trúc của xã hội hiện nay ở Ấn độ, ở Châu âu, ở Mỹ, trong mọi vùng của thế giới, đang phân rã mau lẹ đến chừng nào; và chúng ta cũng biết nó trong sống riêng của chúng ta. Chúng ta có thể quan sát nó khi chúng ta ra ngoài đường phố. Chúng ta không cần những người lịch sử học vĩ đại bảo cho chúng ta sự thật rằng xã hội của chúng ta đang vỡ vụn; và phải có những người kiến trúc mới mẻ, những người xây dựng mới mẻ, để tạo ra một xã hội mới mẻ. Cấu trúc phải được thiết lập trên một nền tảng mới mẻ, trên những sự kiện và những giá trị được khám phá mới mẻ. Tuy nhiên những người kiến trúc như thế không hiện diện. Không có những người xây dựng, không có người nào, bởi vì quan sát, bởi vì trở nên nhận biết được sự kiện rằng cấu trúc đang sụp đổ, đang thay đổi chính họ thành những người kiến trúc. Đó là vấn đề của chúng ta. Chúng ta thấy xã hội đang vỡ vụn, đang phân rã; và chính là chúng ta, bạn và tôi, phải là những kiến trúc sư. Bạn và tôi phải khám phá lại những giá trị, và thiết lập một nền tảng bền vững, cơ bản sâu thẳm hơn; bởi vì nếu chúng ta nương tựa những người kiến trúc chuyên nghiệp, những người xây dựng tôn giáo và chính trị, chắc chắn chúng ta sẽ ở cùng một vị trí như trước kia.
Bởi vì bạn và tôi không-sáng tạo, chúng ta đã thâu hẹp xã hội này đến hỗn loạn này, vì vậy bạn và tôi phải sáng tạo bởi vì vấn đề là khẩn cấp; bạn và tôi phải nhận biết được những nguyên nhân gây sụp đổ xã hội, và sáng tạo một cấu trúc mới mẻ được đặt nền tảng không phải trên sự mô phỏng nhưng trên sự hiểu rõ sáng tạo của chúng ta. Bây giờ việc này hàm ý, suy nghĩ tiêu cực, phải không? Suy nghĩ tiêu cực là hình thức cao nhất của hiểu rõ. Đó là, vì mục đích hiểu rõ suy nghĩ sáng tạo là gì, chúng ta phải tiếp cận vấn đề một cách tiêu cực, bởi vì một tiếp cận tích cực đến vấn đề – vấn đề rằng bạn và tôi phải trở nên sáng tạo với mục đích xây dựng một cấu trúc xã hội mới mẻ – sẽ là sự mô phỏng. Muốn hiểu rõ cái đang vỡ vụn, chúng ta phải tìm hiểu nó, thâm nhập nó một cách tiêu cực – không phải bằng một hệ thống tích cực, một công thức tích cực, một kết luận tích cực.
Tại sao xã hội đang vỡ vụn, đang sụp đổ, như chắc chắn nó là như thế? Một trong những lý do cơ bản là: cá thể, bạn, đã không còn sáng tạo. Tôi sẽ giải thích điều gì tôi có ý? Bạn và tôi đã trở thành bản sao, chúng ta đang bắt chước, cả phía bên ngoài lẫn phía bên trong. Phía bên ngoài, khi học hỏi một phương pháp kỹ thuật, khi truyền đạt lẫn nhau trên mức độ từ ngữ, tự nhiên phải có sự bắt chước, sự sao chép nào đó. Tôi sao chép những từ ngữ. Muốn trở thành một kỹ sư, đầu tiên tôi phải học phương pháp kỹ thuật, rồi sau đó sử dụng phương pháp kỹ thuật để xây dựng một cây cầu. Phải có một lượng bắt chước, sao chép, trong kỹ thuật phía bên ngoài; nhưng khi có sự bắt chước thuộc tâm lý phía bên trong, chắc chắn chúng ta không còn sáng tạo. Giáo dục của chúng ta, cấu trúc xã hội của chúng ta, đời sống tạm gọi là tôn giáo của chúng ta, tất cả đều được đặt nền tảng trên sự bắt chước; đó là, tôi phù hợp trong một công thức xã hội hay tôn giáo đặc biệt. Tôi đã không còn là một cá thể trung thực; thuộc tâm lý, tôi đã trở thành một cái máy thuần túy lặp lại bằng những phản ứng bị quy định nào đó, dù những phản ứng đó là của người Ấn độ giáo, người Thiên chúa giáo, người Phật giáo, người Đức hay người Anh. Những phản ứng của chúng ta bị quy định tùy theo khuôn mẫu của xã hội, dù thuộc phương Đông hay phương Tây, tôn giáo hay vật chất. Vì vậy, một trong những nguyên nhân căn bản của sự phân rã xã hội là bắt chước, và một trong những yếu tố gây phân rã là người lãnh đạo, mà chính bản thể của người đó là sự bắt chước.
Với mục đích hiểu rõ bản chất của xã hội bị phân rã, liệu không quan trọng để tìm hiểu bạn và tôi, cá thể, có thể sáng tạo được hay không? Chúng ta có thể thấy rằng khi có bắt chước phải có sự phân rã; khi có uy quyền phải có đang sao chép. Và vì toàn cấu trúc thuộc tâm lý, tinh thần của chúng ta được đặt nền tảng trên uy quyền; muốn có sự sáng tạo phải có tự do khỏi uy quyền. Bạn không thấy rằng, trong những khoảnh khắc sáng tạo, những khoảnh khắc khá hạnh phúc của sự đam mê vô cùng đó, không có ý thức của lặp lại, không có ý thức của sao chép, hay sao? Những khoảnh khắc như thế đều luôn luôn mới mẻ, trong sáng, sáng tạo, hạnh phúc. Vậy là chúng ta thấy rằng, một trong những nguyên nhân căn bản gây phân rã của xã hội là sự sao chép, mà là tôn thờ uy quyền. 
Chương  4:
HIỂU RÕ VỀ CHÍNH MÌNH
Những vấn đề của thế giới là những vấn đề quá rộng lớn, quá phức tạp, đến độ muốn hiểu rõ và vì thế giải quyết được chúng người ta phải tiếp cận chúng một cách rất chân thật và mộc mạc; và chân thật, mộc mạc đó, không phụ thuộc vào những hoàn cảnh bên ngoài cũng như không phụ thuộc vào những thành kiến và tâm trạng đặc biệt của chúng ta. Như tôi đã trình bày, giải pháp không thể tìm được qua những hội nghị, những kế hoạch, hay qua sự thay thế những vị lãnh đạo cũ kỹ bằng những vị lãnh đạo mới mẻ, và vân vân. Chắc chắn, giải pháp nằm trong người tạo tác của vấn đề, trong người tạo tác của sự ranh mãnh, của sự hận thù và của sự bất hòa to tát đang tồn tại giữa những con người. Người tạo tác của sự ma mãnh này, người tạo tác của những vấn đề này, là cá thể, bạn và tôi, không phải là thế giới như chúng ta hiểu lầm. Thế giới là sự liên hệ của bạn với một người khác. Thế giới không là cái gì đó tách rời bạn và tôi; thế giới, xã hội, là sự liên hệ mà chúng ta thiết lập hay tìm kiếm để thiết lập giữa hai người.
Vì vậy bạn và tôi là vấn đề, và không phải thế giới, bởi vì thế giới là sự chiếu rọi của chính chúng ta và muốn hiểu rõ thế giới chúng ta phải hiểu rõ về chính chúng ta. Thế giới không tách rời chúng ta; chúng ta là thế giới, và những vấn đề của chúng ta là những vấn đề của thế giới. Điều này không thể bị đẩy đưa một cách chung chung, bởi vì chúng ta quá lờ đờ trong tinh thần của chúng ta đến độ chúng ta nghĩ rằng những vấn đề của thế giới không là trách nhiệm của chúng ta, chúng phải được giải quyết bởi Liên hiệp quốc hay bằng cách thay thế những vị lãnh đạo cũ kỹ bằng những vị lãnh đạo mới mẻ. Chính là một tinh thần rất lờ đờ mới suy nghĩ giống như thế, bởi vì chúng ta phải chịu trách nhiệm cho sự đau khổ và sự hỗn loạn kinh hoàng này trong thế giới, chiến tranh luôn luôn đang đe dọa này. Muốn thay đổi thế giới, chúng ta phải khởi sự từ chính chúng ta; và điều quan trọng trong khi khởi sự từ chính chúng ta là ‘ý định’. Ý định phải là hiểu rõ về chính chúng ta và không buông trôi nó cho những người khác thay đổi chính họ hay tạo ra một thay đổi được bổ sung qua cách mạng, hoặc của phe tả hoặc của phe hữu. Điều quan trọng phải hiểu rõ rằng, đây là trách nhiệm của chúng ta, trách nhiệm của các bạn và trách nhiệm của tôi; bởi vì dù chúng ta có lẽ đang sống trong thế giới nhỏ nhoi đến chừng nào, nếu chúng ta có thể tự-thay đổi chính chúng ta, tạo ra một quan điểm hoàn toàn khác hẳn trong sự tồn tại hàng ngày của chúng ta, vậy thì có lẽ chúng ta sẽ gây ảnh hưởng đến thế giới rộng lớn, sự liên hệ được mở rộng với những người khác.
Như tôi đã nói, chúng ta sẽ cố gắng và tìm ra sự tiến hành hiểu rõ về chính chúng ta, mà không là một tiến hành cô lập. Nó không là rút lui khỏi thế giới, bởi vì bạn không thể sống trong cô lập. Tồn tại là có liên hệ, và không có sự việc như sống tách rời. Do bởi không có sự liên hệ đúng đắn mới tạo ra những xung đột, đau khổ và đấu tranh; dù thế giới của chúng ta có lẽ nhỏ bé đến chừng nào, nếu chúng ta có thể thay đổi sự liên hệ của chúng ta trong thế giới hạn chế đó, nó sẽ giống như một con sóng luôn luôn đang vươn ra phía bên ngoài. Tôi nghĩ rất quan trọng phải thấy được mấu chốt đó, rằng thế giới là sự liên hệ của chúng ta, dù hạn chế đến chừng nào; và nếu chúng ta có thể tạo ra một thay đổi ở đó, không phải một thay đổi hời hợt nhưng cơ bản, vậy thì chúng ta sẽ thay đổi thế giới một cách hiệu quả. Cách mạng thực sự không lệ thuộc vào bất kỳ khuôn mẫu đặc biệt nào, hoặc của phe tả hoặc của phe hữu, nhưng nó là một cách mạng của những giá trị, một thay đổi từ những giá trị thuộc giác quan đến những giá trị không thuộc giác quan hay không bị tạo tác bởi những ảnh hưởng thuộc môi trường sống. Muốn tìm ra những giá trị thực sự này mà sẽ tạo ra một cách mạng cơ bản, một thay đổi hay một tái sinh, điều cốt lõi là phải hiểu rõ về chính mình. Hiểu rõ về chính mình là sự khởi đầu của thông minh, và vậy là sự khởi đầu của thay đổi hay tái sinh. Muốn hiểu rõ về chính mình phải có ý định để hiểu rõ – và đó là nơi sự khó khăn của chúng ta hiện diện. Mặc dầu hầu hết chúng ta đều bất mãn, chúng ta ao ước tạo ra một thay đổi đột ngột, sự bất mãn của chúng ta bị đúc khuôn chỉ để kiếm được một kết quả nào đó; bởi vì bất mãn, chúng ta hoặc tìm kiếm một công việc khác hoặc chỉ đầu hàng đến môi trường sống. Bất mãn, thay vì đang hừng hực trong chúng ta, đang thôi thúc chúng ta, một sống nghi vấn về toàn qui trình của sự tồn tại, lại bị đúc khuôn. Và thế là chúng ta trở nên tầm thường, mất đi động cơ đó, mãnh liệt đó để tìm ra toàn ý nghĩa của sự tồn tại. Vì vậy rất quan trọng phải khám phá những điều này cho chính chúng ta, bởi vì hiểu rõ về chính mình không thể trao tặng cho chúng ta bởi người khác, nó không thể tìm được qua bất kỳ quyển sách nào. Chúng ta phải khám phá, và muốn khám phá phải có ý định, tìm kiếm, thâm nhập. Chừng nào ý định để tìm được đó, để thâm nhập sâu thẳm đó, còn yếu ớt hay không hiện diện; thuần túy khẳng định hay một ao ước ngẫu nhiên để khám phá về chính chúng ta chẳng có ý nghĩa bao nhiêu.
Vẫn vậy sự thay đổi thế giới được tạo ra bởi sự thay đổi của chính một người, bởi vì cái tôi là sản phẩm và một bộ phận thuộc toàn qui trình của sự tồn tại con người. Thay đổi chính mình, hiểu rõ về chính mình là cốt lõi; nếu không biết bạn là gì, không có nền tảng cho sự suy nghĩ đúng đắn, và nếu không hiểu rõ về chính bạn, không thể có sự thay đổi. Người ta phải hiểu rõ về chính mình như người ta là, không phải như người ta ao ước là mà chỉ là một lý tưởng và vì vậy là tưởng tượng, không có thật; chỉ có cái gì là có thể được thay đổi, không phải cái mà bạn ao ước là. Muốn hiểu rõ về chính mình như người ta là, cần một tỉnh táo lạ thường của cái trí, bởi vì cái gì là liên tục đang trải qua sự biến đổi, sự thay đổi, muốn mau lẹ bám sát nó cái trí phải không bị trói buộc vào bất kỳ giáo điều hay niềm tin đặc biệt nào, vào bất kỳ khuôn mẫu hành động đặc biệt nào. Bạn không thể bị trói buộc nếu bạn muốn theo sát bất kỳ điều gì. Muốn hiểu rõ về chính bạn, phải có sự tỉnh thức, sự tỉnh táo của cái trí mà trong đó có tự do khỏi tất cả những niềm tin, khỏi tất cả sự lý tưởng hóa, bởi vì những niềm tin và lý tưởng chỉ cho bạn một màu sắc, làm biến dạng sự nhận biết trung thực. Nếu bạn muốn biết bạn là gì, bạn không thể tưởng tượng hay có niềm tin trong điều gì đó mà bạn không là. Nếu tôi tham lam, ganh tị, hung bạo, chỉ có một lý tưởng của không-bạo lực, không-tham lam, chẳng có giá trị bao nhiêu. Nhưng thấy rằng người ta tham lam hay bạo lực, nắm chặt và hiểu rõ nó, cần một nhận biết lạ thường, đúng chứ? Nó đòi hỏi sự chân thật, sự rõ ràng của tư tưởng, trái lại theo đuổi một lý tưởng tách khỏi cái gì là là một tẩu thoát; nó ngăn cản bạn không phát giác và hành động trực tiếp vào cái gì bạn là. 
Hiểu rõ bạn là gì, dù nó là gì chăng nữa – xấu xí hay đẹp đẽ, quỉ quyệt hay ma mãnh – hiểu rõ bạn là gì, mà không biến dạng, là sự khởi đầu của đạo đức. Đạo đức là tối thiết, bởi vì nó mang lại tự do. Chỉ trong đạo đức bạn mới có thể khám phá, bạn mới có thể sống – không phải trong sự vun quén của một đạo đức, mà chỉ tạo ra sự kính trọng, không-hiểu rõ và không-tự do. Có một sự khác biệt giữa ‘đạo đức’ và ‘trở thành đạo đức’. Đạo đức hiện diện qua hiểu rõ cái gì là, trái lại trở thành đạo đức là sự trì hoãn, sự che đậy cái gì là bằng cái gì bạn muốn là. Vì vậy trong trở thành đạo đức bạn đang lẩn tránh hành động trực tiếp vào cái gì là. Qui trình lẩn tránh cái gì là này qua sự vun quén của lý tưởng được nghĩ là đạo đức; nhưng nếu bạn quan sát nó một cách kỹ càng và thẳng thắn, bạn sẽ thấy rằng nó không thuộc loại này. Nó chỉ là một trì hoãn của đối diện cái gì là. Đạo đức không phải trở thành cái gì không là; đạo đức là hiểu rõ cái gì là và vì vậy tự do khỏi cái gì là. Đạo đức là cốt lõi trong một xã hội đang bị phân rã mau lẹ. Với mục đích tạo ra một thế giới mới mẻ, một cấu trúc mới mẻ khỏi cái cũ kỹ, phải có tự do để khám phá; và muốn tự do, phải có đạo đức, bởi vì nếu không có đạo đức không có tự do. Liệu một con người vô luân mà đang cố gắng trở thành đạo đức có khi nào biết được đạo đức? Con người không-đạo đức không bao giờ được tự do, và vì vậy anh ấy không bao giờ có thể tìm ra sự thật là gì. Sự thật có thể tìm được chỉ trong hiểu rõ cái gì là, và muốn hiểu rõ cái gì là, phải có tự do, tự do khỏi sợ hãi cái gì là.
Muốn hiểu rõ tiến hành đó phải có ý định hiểu rõ cái gì là, theo sát mỗi suy nghĩ, mỗi cảm thấy và mỗi hành động; và cực kỳ khó khăn để hiểu rõ cái gì là, bởi vì cái gì là không bao giờ cố định, không bao giờ bất động, nó luôn luôn chuyển động. Cái gì là là cái gì bạn là, không phải cái gì bạn muốn là; nó không là lý tưởng, bởi vì lý tưởng là ảo tưởng, nhưng nó thực sự là bạn đang làm gì, đang suy nghĩ gì và đang cảm thấy gì từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc. Cái gì là là thực tại, và muốn hiểu rõ thực tại cần sự nhận biết, một cái trí nhạy bén, rất tỉnh táo. Nhưng nếu chúng ta bắt đầu chỉ trích cái gì là, nếu chúng ta bắt đầu chê trách hay chống cự nó, vậy thì chúng ta không hiểu rõ chuyển động của nó. Nếu tôi muốn hiểu rõ một người nào đó, tôi không thể chỉ trích anh ấy: tôi phải quan sát, học hành về anh ấy. Tôi phải thương yêu chính sự việc tôi đang học hành. Nếu bạn muốn hiểu rõ một em bé, bạn phải thương yêu và không chỉ trích em. Bạn phải nô đùa cùng em, nhìn ngắm những chuyển động của em, những đặc điểm của em, cách cư xử của em; nhưng nếu bạn chỉ chỉ trích, kháng cự hoặc chê trách em, không có hiểu rõ về em bé. Tương tự như thế, muốn hiểu rõ cái gì là, người ta phải quan sát người ta suy nghĩ, cảm thấy và làm gì từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc. Đó là thực tại. Bất kỳ hành động nào khác, bất kỳ lý tưởng hay hành động thuộc học thuyết nào khác, không là thực tại; nó chỉ là một ao ước, một ham muốn tưởng tượng để là một cái gì đó khác hẳn cái gì là.
Muốn hiểu rõ cái gì là yêu cầu một trạng thái của cái trí mà trong đó không có sự đồng hóa hay sự chỉ trích, mà có nghĩa một cái trí tỉnh táo nhưng thụ động. Chúng ta ở trong trạng thái đó khi chúng ta thực sự đam mê muốn hiểu rõ về điều gì đó; khi sự mãnh liệt của quan tâm hiện diện ở đó, trạng thái đó của cái trí hiện diện. Khi người ta quan tâm hiểu rõ cái gì là, trạng thái thực sự của cái trí, người ta không cần cưỡng bách, kỷ luật, hay kiểm soát nó; trái lại có tỉnh thức thụ động, cảnh giác. Trạng thái tỉnh thức này hiện diện khi có đam mê, ý định để hiểu rõ.
Hiểu rõ cơ bản về chính mình không xảy ra qua hiểu biết hay qua tích lũy những trải nghiệm, mà chỉ là sự vun quén của ký ức. Hiểu rõ về chính mình là từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc; nếu chúng ta chỉ tích lũy hiểu biết về chính chúng ta, chính hiểu biết đó ngăn cản hiểu rõ thêm nữa, bởi vì hiểu biết và trải nghiệm được tích lũy trở thành trung tâm mà qua đó tư tưởng tập trung và có sự tồn tại của nó. Thế giới không khác biệt chúng ta và những hoạt động của chúng ta, bởi vì chính điều gì chúng ta là mới tạo ra những vấn đề của thế giới; sự khó khăn của đa số chúng ta là rằng, chúng ta không biết một cách trực tiếp về chính chúng ta, nhưng chúng ta tìm kiếm một hệ thống, một phương pháp, một phương tiện của vận hành để nhờ đó giải quyết nhiều vấn đề của nhân loại.
Bây giờ liệu có một phương tiện, một hệ thống, để hiểu rõ về chính mình, hay không? Bất kỳ một người thông minh, bất kỳ một người triết lý, đều có thể sáng chế một hệ thống, một phương pháp; nhưng chắc chắn sự tuân theo một hệ thống sẽ chỉ sản sinh một kết quả được tạo ra bởi hệ thống đó, phải không? Nếu tôi tuân theo một phương pháp đặc biệt để hiểu rõ về chính tôi, vậy thì tôi sẽ có kết quả mà hệ thống đó đòi hỏi; nhưng chắc chắn, kết quả không là hiểu rõ về chính tôi. Đó là bằng cách tuân theo một hệ thống, một phương pháp, một phương tiện mà nhờ đó hiểu rõ về chính tôi, tôi định hình suy nghĩ của tôi, những hoạt động của tôi, tùy theo một khuôn mẫu; nhưng sự tuân theo một khuôn mẫu không là hiểu rõ về chính mình.
Vì vậy không có phương pháp dành cho hiểu rõ về chính mình. Tìm kiếm một phương pháp luôn luôn hàm ý sự ham muốn để đạt được kết quả nào đó – và đó là điều gì tất cả chúng ta đều mong muốn. Chúng ta tuân theo uy quyền – nếu không là uy quyền của một người, vậy thì uy quyền của một hệ thống, của một học thuyết – bởi vì chúng ta muốn một kết quả mà sẽ gây thỏa mãn, mà sẽ cho chúng ta an toàn. Chúng ta thực sự không muốn hiểu rõ về chính chúng ta, những thôi thúc và những phản ứng đột ngột của chúng ta, toàn qui trình suy nghĩ của chúng ta, tầng ý thức bên ngoài cũng như tầng ý thức bên trong; chúng ta thích theo đuổi một hệ thống mà bảo đảm cho chúng ta một kết quả. Nhưng sự theo đuổi một hệ thống luôn luôn là kết quả của ham muốn cho an toàn, cho chắc chắn, và rõ ràng, kết quả không là hiểu rõ về chính mình. Khi chúng ta tuân theo một phương pháp, chúng ta phải có những uy quyền – người dẫn dắt, vị đạo sư, Đấng Cứu rỗi, Bậc Thầy – mà sẽ bảo đảm cho chúng ta điều gì chúng ta khao khát; và chắc chắn đó không là phương cách để hiểu rõ về chính mình.
Uy quyền ngăn cản hiểu rõ về chính mình, đúng chứ? Trong sự ẩn náu của một uy quyền, một hướng dẫn, có lẽ tạm thời bạn có một ý thức của an toàn, một ý thức của hưng thịnh, nhưng đó không là hiểu rõ về toàn qui trình của chính mình. Trong chính bản chất của nó, uy quyền ngăn cản ý thức trọn vẹn về chính mình, và thế là cuối cùng hủy diệt tự do; chỉ trong tự do mới có sáng tạo. Có thể có sáng tạo chỉ qua hiểu rõ về chính mình. Hầu hết chúng ta đều không sáng tạo; chúng ta là những cái máy lặp lại, những máy đĩa đang hát đi hát lại vài bài hát nào đó của trải nghiệm, những kết luận và những kỷ niệm nào đó, hoặc của riêng chúng ta hoặc của người khác. Sự lặp lại như thế không là ‘đang hiện diện’ sáng tạo – nhưng đó là điều gì chúng ta mong muốn. Bởi vì chúng ta muốn được an toàn phía bên trong, chúng ta liên tục đang tìm kiếm những phương pháp và những phương tiện cho sự an toàn này, và thế là chúng ta tạo ra uy quyền, sự tôn sùng một người khác, mà hủy hoại hiểu rõ, sự yên lặng tự phát của cái trí mà trong chính nó có một trạng thái sáng tạo.
Chắc chắn khó khăn của chúng ta là hầu hết chúng ta đã mất đi ý thức của sáng tạo này. Sáng tạo không có nghĩa chúng ta phải vẽ những bức tranh hay viết những bài thơ và trở nên nổi tiếng. Đó không là sáng tạo – nó chỉ là khả năng diễn tả một ý tưởng, mà công chúng hoan nghênh hay không hoan nghênh. Không nên lẫn lộn giữa khả năng và sáng tạo. Khả năng không là sáng tạo. Sáng tạo là một trạng thái của đang hiện diện hoàn toàn khác hẳn, đúng chứ? Nó là một trạng thái trong đó ‘cái tôi’ không còn, trong đó cái trí không còn là một tập trung của những trải nghiệm của chúng ta, những tham vọng của chúng ta, những theo đuổi của chúng ta và những ham muốn của chúng ta. Sáng tạo không là một trạng thái liên tục, nó mới mẻ từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc, nó là một chuyển động mà trong đó không có ‘cái tôi’, ‘cái của tôi’, trong đó tư tưởng không bị tập trung vào bất kỳ trải nghiệm, tham vọng, thành tựu, mục đích và động cơ đặc biệt nào. Có sáng tạo chỉ khi nào cái tôi không hiện diện – trạng thái của hiện diện đó, một mình nó, có thể có Sự thật, sự Sáng tạo của tất cả mọi sự vật. Nhưng trạng thái đó không thể bị hình dung hay tưởng tượng, nó không thể bị định hình hay sao chép, nó không thể kiếm được qua bất kỳ hệ thống, qua bất kỳ triết lý, qua bất kỳ kỷ luật nào; trái lại, nó hiện diện chỉ qua hiểu rõ về toàn qui trình của chính mình.
Hiểu rõ về chính mình không là một kết quả, một kết luận cuối cùng; nó là đang thấy chính mình từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc trong cái gương của sự liên hệ – liên hệ của người ta với tài sản, với những sự vật, với những con người và với những ý tưởng. Nhưng chúng ta phát giác rằng tỉnh thức, nhận biết là việc quá khó khăn, và chúng ta thích làm đờ đẫn những cái trí của chúng ta bằng cách tuân theo những phương pháp, bằng cách chấp nhận những uy quyền, những mê tín và những lý thuyết gây thỏa mãn; vì vậy cái trí của chúng ta trở nên mệt mỏi, kiệt sức và vô cảm. Một cái trí như thế không thể ở trong một trạng thái sáng tạo. Trạng thái sáng tạo đó hiện diện chỉ khi nào cái tôi, mà là qui trình của công nhận và tích lũy, không còn tồn tại; bởi vì, rốt cuộc, ‘trạng thái ý thức’ như ‘cái tôi’ là trung tâm của sự công nhận, và sự công nhận chỉ là qui trình của sự tích lũy trải nghiệm. Nhưng tất cả chúng ta đều sợ hãi khi ‘không là gì cả’, bởi vì tất cả chúng ta đều muốn là một cái gì đó. Một người nhỏ nhen muốn là một người cao quý, người không đạo đức muốn là người đạo đức, người yếu ớt và hèn kém khao khát quyền lực, vị trí và uy quyền. Đây là hoạt động không ngừng nghỉ của cái trí. Một cái trí như thế không thể yên lặng và vì vậy không bao giờ có thể hiểu rõ trạng thái sáng tạo.
Với mục đích thay đổi thế giới quanh chúng ta, cùng những đau khổ, chiến tranh, thất nghiệp, đói khát, phân chia giai cấp và sự hỗn loạn hoàn toàn của nó, phải có một thay đổi trong chính chúng ta. Cách mạng phải bắt đầu trong chính một người – nhưng không phụ thuộc vào bất kỳ niềm tin hay học thuyết, bởi vì cách mạng được đặt niềm tin vào một ý tưởng, hay trong tuân phục đến một khuôn mẫu đặc biệt, chắc chắn không là cách mạng gì cả. Muốn tạo ra một cách mạng cơ bản trong chính người ta, người ta phải hiểu rõ toàn qui trình của tư tưởng và cảm thấy của người ta trong liên hệ. Đó là giải pháp duy nhất cho tất cả những vấn đề của chúng ta – không phải để có nhiều kỷ luật hơn, nhiều niềm tin hơn, nhiều học thuyết hơn và nhiều vị thầy hơn. Nếu chúng ta có thể hiểu rõ về chính chúng ta như chúng ta là, từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc mà không có qui trình của tích lũy, vậy thì chúng ta sẽ thấy một yên lặng hiện diện mà không là một sản phẩm của cái trí, một yên lặng mà không bị tưởng tượng hay bị vun quén; và chỉ trong yên lặng đó mới có thể có sáng tạo.
Chương 5:
HÀNH ĐỘNG VÀ Ý TƯỞNG
Tôi muốn bàn luận về chủ đề hành động. Thoạt đầu điều này có lẽ khá khó hiểu và sâu sắc nhưng tôi hy vọng qua suy nghĩ nó cẩn thận chúng ta sẽ có thể thấy vấn đề rõ ràng, bởi vì toàn sự tồn tại của chúng ta, toàn sống của chúng ta, là một tiến hành của hành động. 
Hầu hết chúng ta đều sống trong một chuỗi của những hành động, của những hành động dường như không liên kết, không rõ ràng, đang dẫn đến sự phân rã, sự tuyệt vọng. Nó là một chủ đề liên quan đến mỗi người chúng ta, bởi vì chúng ta sống nhờ hành động và nếu không có hành động không có sống, không có trải nghiệm, không có suy nghĩ. Tư tưởng là hành động; và chỉ theo đuổi hành động tại một mức độ đặc biệt nào đó của ý thức, mà là phía bên ngoài, chỉ bị trói buộc trong hành động phía bên ngoài mà không hiểu rõ về toàn qui trình của chính hành động, chắc chắn sẽ dẫn dắt chúng ta đến tuyệt vọng, đến đau khổ.
Sống của chúng ta là một chuỗi của những hành động hay một qui trình của hành động tại những mức độ khác nhau của ý thức. Ý thức là đang trải nghiệm, đang đặt tên và đang ghi lại. Đó là, ý thức là thách thức và phản ứng, mà là trải nghiệm, sau đó quy định hay đặt tên, và cuối cùng ghi lại, mà là ký ức. Qui trình này là hành động, đúng chứ? Ý thức là hành động; và nếu không có thách thức, phản ứng, nếu không có trải nghiệm, đặt tên hay quy định, nếu không có ghi lại, mà là ký ức, không có hành động. 
Bây giờ hành động tạo ra người hành động. Đó là, người hành động hiện diện khi hành động có một kết quả, một mục đích trong cái trí. Nếu không có kết quả trong hành động, vậy thì không có người hành động; nhưng nếu có một kết quả hay một mục đích trong cái trí, vậy thì hành động tạo ra người hành động. Vậy là người hành động, hành động, và kết quả hay mục đích là một qui trình duy nhất, một qui trình nhất thể, mà hiện diện khi hành động có một mục đích trong cái trí. Hành động hướng về một kết quả là ý muốn; ngược lại không có ý muốn, phải không? Ham muốn để đạt được một mục đích tạo ra ý muốn, mà là người hành động – tôi muốn thành tựu, tôi muốn viết một quyển sách, tôi muốn là một người giàu có, tôi muốn vẽ một bức tranh.
Chúng ta quen thuộc với ba trạng thái này: người hành động, hành động và kết quả. Đó là sự tồn tại hàng ngày của chúng ta. Tôi chỉ đang giải thích cái gì là; nhưng chúng ta sẽ bắt đầu hiểu rõ làm thế nào để thay đổi cái gì là chỉ khi nào chúng ta tìm hiểu nó một cách rõ ràng, để cho không có ảo tưởng hay thành kiến, không có khuynh hướng liên quan đến nó. Bây giờ ba trạng thái này mà cấu thành trải nghiệm – người hành động, hành động và kết quả – và chắc chắn là một qui trình của trở thành. Ngược lại không có trở thành, phải không? Nếu không có người hành động, và nếu không có hành động hướng về một kết quả, không có trở thành; nhưng sống như chúng ta biết nó, sống hàng ngày của chúng ta, là một qui trình của trở thành. Tôi nghèo khổ và tôi hành động với một mục đích trong cái trí, mà là trở thành giàu có. Tôi xấu xí và tôi muốn trở thành đẹp đẽ. Vì vậy, sống của tôi là một qui trình của trở thành cái gì đó. Ý muốn để hiện diện là ý muốn để trở thành, tại những mức độ khác nhau của ý thức, trong những trạng thái khác nhau, mà trong đó có thách thức, phản ứng, đặt tên và ghi lại. Bây giờ trở thành này là xung đột, trở thành này là đau khổ, đúng chứ? Nó là một đấu tranh liên tục: tôi là cái này và tôi muốn trở thành cái kia.
Vậy thì, tiếp theo, vấn đề là, liệu có hành động mà không có trở thành này? Liệu có hành động mà không có đau khổ này, không có đấu tranh liên tục này? Nếu không có mục đích, không có người hành động, bởi vì hành động có một mục đích trong cái trí tạo ra người hành động. Nhưng liệu có thể có hành động mà không có một mục đích trong cái trí, và thế là không có người hành động – đó là không có ham muốn một kết quả? Hành động như thế không là một trở thành, và vì vậy không là một xung đột. Có một trạng thái của hành động, một trạng thái của trải nghiệm, không có người trải nghiệm và trải nghiệm. Điều này có vẻ hơi hơi triết lý nhưng thật ra, nó rất đơn giản.
Trong khoảnh khắc của trải nghiệm, bạn không nhận biết được về chính bạn như người trải nghiệm tách rời vật được trải nghiệm; bạn ở trong trạng thái trải nghiệm. Hãy suy nghĩ một ví dụ rất đơn giản: bạn tức giận. Trong khoảnh khắc của sự tức giận đó, không có người trải nghiệm lẫn vật được trải nghiệm; chỉ có đang trải nghiệm. Nhưng khoảnh khắc bạn ra khỏi nó, một tích tắc sau khi đang trải nghiệm, có người trải nghiệm và vật được trải nghiệm, người hành động và hành động có một mục đích trong cái trí – mà là loại bỏ hay kiềm chế sự tức giận. Lặp đi lặp lại chúng ta ở trong trạng thái này, trong trạng thái của đang trải nghiệm; nhưng luôn luôn chúng ta ra khỏi nó và cho nó một thuật ngữ, đặt tên và ghi lại nó, và thế là cho sự tiếp tục vào trở thành. 
Nếu chúng ta có thể hiểu rõ ‘hành động’ theo ý nghĩa căn bản của từ ngữ, vậy thì sự hiểu rõ căn bản đó sẽ ảnh hưởng đến những hoạt động phía bên ngoài của chúng ta; nhưng trước hết chúng ta phải hiểu rõ bản chất căn bản của hành động. Bây giờ, liệu hành động được tạo ra bởi một suy nghĩ? Bạn có một ý tưởng trước và sau đó, hành động? Hay hành động trước và sau đó, bởi vì hành động tạo ra xung đột, bạn dựng lên quanh nó một ý tưởng? Hành động tạo ra người hành động hay người hành động đến trước?
Rất quan trọng phải khám phá cái nào đến trước. Nếu ý tưởng đến trước, vậy thì hành động chỉ tuân phục vào một ý tưởng, và vì vậy nó không còn là hành động nữa nhưng là sự bắt chước, sự ép buộc tùy theo một ý tưởng. Rất quan trọng phải nhận ra điều này; bởi vì, do bởi đa phần xã hội của chúng ta được kết cấu trên mức độ từ ngữ hay trí năng, đối với tất cả chúng ta ý tưởng đến trước và hành động theo sau. Vì vậy hành động là một nô bộc của ý tưởng, và chắc chắn cấu trúc thuần túy của những ý tưởng gây hư hại cho hành động. Những ý tưởng nuôi dưỡng những ý tưởng thêm nữa, và khi chỉ có sự nuôi dưỡng của những ý tưởng liền có hận thù, và xã hội trở thành quá chênh vênh bởi qui trình trí năng của sự hình thành ý tưởng. Cấu trúc xã hội của chúng ta rất có trí năng; chúng ta đang vun quén trí năng mà không thèm lưu tâm đến bất kỳ yếu tố nào khác thuộc sự tồn tại của chúng ta, và vì vậy chúng ta bị kiềm tỏa bởi những ý tưởng.
Liệu những ý tưởng có thể sinh ra hành động, hay những ý tưởng chỉ đúc khuôn tư tưởng và vì vậy giới hạn hành động? Khi hành động bị thúc ép bởi một ý tưởng, hành động không bao giờ có thể giải thoát con người. Hiểu rõ mấu chốt này là điều quan trọng lạ thường cho chúng ta. Nếu một ý tưởng định hình hành động, vậy thì hành động không bao giờ có thể mang lại giải pháp cho những đau khổ của chúng ta bởi vì, trước khi nó có thể được đặt vào hành động, trước hết chúng ta phải tìm ra ý tưởng hiện diện như thế nào. Tìm hiểu về sự hình thành ý tưởng, về việc dựng lên những ý tưởng, dù rằng của những người xã hội học, những người tư bản, những người cộng sản, hay của vô số tôn giáo, có tầm quan trọng bậc nhất, đặc biệt khi xã hội của chúng ta đang bị nguy khốn, đang mời mọc một kết thúc bi thảm khác, một hủy diệt khác. Những người thực sự nghiêm túc trong ý định của họ để tìm ra giải pháp của con người cho nhiều vấn đề của chúng ta, trước hết phải hiểu rõ qui trinh hình thành ý tưởng này.
Chúng ta có ý gì qua từ ngữ một ý tưởng? Làm thế nào một ý tưởng hiện diện? Và liệu ý tưởng lẫn hành động có thể được hợp lại cùng nhau? Giả sử tôi có một ý tưởng và tôi muốn thực hiện nó. Tôi tìm kiếm một phương pháp để thực hiện ý tưởng đó, và chúng ta suy xét, lãng phí thời gian và năng lượng của chúng ta để tranh cãi nên thực hiện ý tưởng như thế nào. Vì vậy, phải tìm ra những suy nghĩ hiện diện như thế nào là điều rất quan trọng; và sau khi tìm được sự thật của nó chúng ta có thể bàn luận về vấn đề của hành động. Nếu không có bàn luận về những ý tưởng, chỉ tìm ra phương cách hành động không có ý nghĩa gì cả.
Bây giờ làm thế nào bạn có một ý tưởng – một ý tưởng rất đơn giản, nó không nhất thiết phải là triết học, tôn giáo hay kinh tế? Rõ ràng nó là một qui trình suy nghĩ, đúng chứ? Ý tưởng là kết quả của một qui trình suy nghĩ. Nếu không có một qui trình suy nghĩ, không thể có ý tưởng. Vì vậy tôi phải hiểu rõ chính qui trình suy nghĩ trước khi tôi có thể hiểu rõ sản phẩm của nó, ý tưởng. Chúng ta có ý gì qua từ ngữ suy nghĩ? Bạn suy nghĩ khi nào? Rõ ràng suy nghĩ là kết quả của một phản ứng, thuộc thần kinh hay tâm lý, đúng chứ? Nó là phản ứng tức khắc của những giác quan đến một cảm xúc, hay nó là phản ứng thuộc tâm lý của ký ức được lưu trữ. Có phản ứng tức khắc của hệ thần kinh đến một cảm xúc, và có phản ứng thuộc tâm lý của ký ức được lưu trữ, ảnh hưởng của chủng tộc, nhóm người, vị đạo sư, gia đình, truyền thống, và vân vân – tất cả điều đó chúng ta gọi là tư tưởng. Vì vậy qui trình suy nghĩ là sự phản ứng của ký ức, đúng chứ? Bạn sẽ không có những suy nghĩ nếu bạn không có ký ức; và phản ứng của ký ức đến một trải nghiệm nào đó mang qui trình suy nghĩ vào hành động. Ví dụ, tôi có những ký ức được lưu trữ về chủ nghĩa quốc gia, đang gọi chính tôi là một người Ấn độ giáo. Kho lưu trữ những ký ức của những phản ứng, những hành động, những hàm ý, những truyền thống, những phong tục quá khứ, phản ứng đến sự thách thức của một người Hồi giáo, một người Phật giáo hay một người Thiên chúa giáo, và phản ứng của ký ức đến sự thách thức chắc chắn tạo ra một qui trình suy nghĩ. Hãy nhìn ngắm qui trình suy nghĩ đang vận hành trong chính bạn và bạn có thể thể nghiệm trực tiếp sự thật của điều này. Bạn đã bị sỉ nhục bởi một ai đó, và điều đó vẫn còn trong ký ức của bạn; nó hình thành bộ phận của nền tảng quá khứ. Khi bạn gặp lại người đó, mà là sự thách thức, phản ứng là ký ức của sự sỉ nhục đó. Vì vậy phản ứng của ký ức, mà là qui trình suy nghĩ, tạo ra một ý tưởng; vì vậy ý tưởng luôn luôn bị quy định – và hiểu rõ điều này rất quan trọng. Đó là nói, ý tưởng là kết quả của qui trình suy nghĩ, qui trình suy nghĩ là phản ứng của ký ức, và ký ức luôn luôn bị quy định. Ký ức luôn luôn trong quá khứ, và ký ức đó được trao sự sống trong hiện tại bởi một thách thức. Ký ức không có sự sống trong chính nó; nó có sự sống trong hiện tại khi bị đối diện bởi một thách thức. Và tất cả ký ức, dù tiềm ẩn hay hoạt động; bị quy định, phải không? 
Vì vậy phải có một cách tiếp cận hoàn toàn khác hẳn. Bạn phải tìm ra cho chính bạn, phía bên trong, dù liệu bạn đang hành động dựa trên một ý tưởng, và liệu có thể có hành động mà không hình thành ý tưởng. Chúng ta hãy tìm ra đó là gì: hành động mà không được đặt nền tảng trên một ý tưởng.
Khi nào bạn hành động mà không hình thành ý tưởng? Khi nào có một hành động mà không là kết quả của trải nghiệm? Như chúng ta đã nói, một hành động được đặt nền tảng trên trải nghiệm là giới hạn, và vì vậy một cản trở. Hành động không là kết quả của một ý tưởng là tự phát, khi qui trình suy nghĩ, được đặt nền tảng trên trải nghiệm, không đang kiểm soát hành động; mà có nghĩa rằng có hành động độc lập khỏi trải nghiệm khi cái trí không đang kiểm soát hành động. Đó là trạng thái duy nhất trong đó có hiểu rõ: khi cái trí, được đặt nền tảng trên trải nghiệm, không đang hướng dẫn hành động: khi suy nghĩ, được đặt nền tảng trên trải nghiệm, không đang định hình hành động. Hành động là gì, khi không có qui trình suy nghĩ. Liệu có thể có hành động mà không có qui trình suy nghĩ? Đó là, tôi muốn làm một cái cầu, một ngôi nhà, tôi biết phương pháp kỹ thuật, và phương pháp kỹ thuật nói cho tôi cách thực hiện nó. Chúng ta gọi đó là hành động. Có hành động của viết một bài thơ, của vẽ một bức tranh, của những trách nhiệm thuộc chính phủ, của những phản ứng thuộc môi trường, thuộc xã hội. Tất cả đều được đặt nền tảng trên một ý tưởng hay trải nghiệm sẵn có, đang định hình hành động. Nhưng liệu có một hành động khi không có sự hình thành ý tưởng? 
Chắc chắn có hành động như thế khi ý tưởng kết thúc; và ý tưởng kết thúc chỉ khi nào có tình yêu. Tình yêu không là ký ức. Tình yêu không là trải nghiệm. Tình yêu không là suy nghĩ về con người mà người ta thương yêu, bởi vì lúc đó nó chỉ là tư tưởng. Bạn không thể suy nghĩ về tình yêu. Bạn có thể suy nghĩ về người bạn thương yêu hay hiến dâng – vị đạo sư của bạn, hình ảnh của bạn, người vợ của bạn, người chồng của bạn; nhưng suy nghĩ, biểu tượng, không là sự thật mà là tình yêu. Vì vậy tình yêu không là một trải nghiệm. 
Khi có tình yêu có hành động, phải không? Và hành đó không đang giải thoát hay sao? Nó không là kết quả của trạng thái tâm lý, và không có khoảng trống giữa tình yêu và hành động, giống như có khoảng trống giữa ý tưởng và hành động. Ý tưởng luôn luôn cũ kỹ, tỏa bóng của nó vào ‘hiện tại’ và chúng ta luôn luôn đang cố gắng bắc một cây cầu giữa hành động và ý tưởng. Khi có tình yêu – mà không là một trạng thái tâm lý, mà không là sự hình thành ý tưởng, mà không là ký ức, mà không là kết quả của một trải nghiệm, của một kỷ luật bị rèn luyện – vậy thì chính tình yêu đó là hành động. Đó là cách duy nhất tạo ra sự giải thoát. Chừng nào còn có trạng thái tâm lý, chừng nào còn có sự định hình hành động bởi một ý tưởng mà là trải nghiệm, không thể có giải thoát; và chừng nào qui trình đó còn tiếp tục, tất cả hành động đều bị giới hạn. Khi sự thật của điều này được thấy, chất lượng của tình yêu, mà không là trạng thái tâm lý, mà bạn không thể suy nghĩ về nó, hiện diện.
Người ta phải nhận biết được toàn qui trình này: những ý tưởng hiện diện như thế nào, hành động khởi nguồn từ những ý tưởng như thế nào, và những ý tưởng kiểm soát hành động như thế nào, và vì vậy giới hạn hành động, gây lệ thuộc vào cảm xúc. Không đặt thành vấn đề chúng là những ý tưởng của ai, dù thuộc phe tả hay từ phe hữu. Chừng nào chúng ta còn đang bám vào những ý tưởng, chúng ta vẫn còn ở trong một trạng thái mà không có ‘trải nghiệm’ gì cả. Lúc đó chúng ta chỉ đang sống trong lãnh vực của thời gian – trong quá khứ, mà cho cảm xúc hơn nữa, hay trong tương lai, mà là một hình thức khác của cảm xúc. Chỉ khi nào cái trí được tự do khỏi ý tưởng, có thể có trải nghiệm.
Những ý tưởng không là sự thật; và sự thật là cái gì đó mà phải được trải nghiệm trực tiếp, từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc. Nó không là một trải nghiệm mà bạn mong muốn – mà lúc đó chỉ là cảm xúc. Chỉ khi nào người ta có thể vượt khỏi mớ tạp nhạp của những ý tưởng đó – mà là ‘cái tôi’, mà là cái trí, mà có một tiếp tục từng phần hay hoàn toàn – chỉ khi nào người ta có thể vượt khỏi điều đó, khi tư tưởng hoàn toàn yên lặng, có một trạng thái trải nghiệm. Vậy thì người ta sẽ biết sự thật là gì.
Chương 6:
NIỀM TIN
Niềm tin và hiểu biết liên quan rất mật thiết với ham muốn; và có lẽ, nếu chúng ta có thể hiểu rõ hai vấn đề này, chúng ta có thể thấy ham muốn vận hành như thế nào và hiểu rõ những phức tạp của nó. 
Dường như đối với tôi, một trong những sự việc mà hầu hết chúng ta hăm hở chấp nhận và quá quen thuộc là vấn đề của những niềm tin. Tôi không đang chỉ trích những niềm tin. Điều gì chúng ta đang cố gắng làm là, tìm ra tại sao chúng ta chấp nhận những niềm tin; và nếu chúng ta có thể hiểu rõ những động cơ, nguyên nhân của sự chấp nhận, vậy thì có lẽ chúng ta có thể không những hiểu rõ tại sao chúng ta bấu víu nó, nhưng còn cả được tự do khỏi nó. Người ta có thể thấy được những niềm tin thuộc chính trị và tôn giáo, thuộc quốc gia và vô số loại niềm tin khác nhau, phải gây tách rời con người, phải tạo ra xung đột, hỗn loạn, và hận thù – mà là sự kiện hiển nhiên; và tuy nhiên chúng ta lại không sẵn lòng từ bỏ chúng. Có niềm tin Ấn độ giáo, niềm tin Thiên chúa giáo, niềm tin Phật giáo – vô số giáo phái và những niềm tin quốc gia, vô số học thuyết chính trị; tất cả đều đang đấu tranh để thắng thế nhau, để cố gắng thay đổi nhau. Rõ ràng, người ta có thể thấy rằng, niềm tin đang tách rời con người, đang tạo ra tính không khoan dung; liệu có thể sống mà không có niềm tin? Người ta có thể tìm ra điều đó chỉ khi nào người ta có thể hiểu rõ về chính mình trong sự liên hệ với một niềm tin. Liệu có thể sống trong thế giới này mà không có một niềm tin – không phải thay đổi những niềm tin, không phải thay thế một niềm tin này bằng một niềm tin khác, nhưng hoàn toàn được tự do khỏi tất cả mọi niềm tin, để cho người ta gặp gỡ sống mới mẻ lại trong từng giây phút? Rốt cuộc, đây là sự thật: có khả năng gặp gỡ mọi thứ mới mẻ lại, từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc, mà không có phản ứng bị quy định của quá khứ, để cho không có hậu quả tích lũy mà hành động như một rào chắn giữa chính người ta và sự việc hiện diện.
Nếu bạn suy xét cẩn thận, bạn sẽ thấy rằng một trong những lý do của ham muốn chấp nhận một niềm tin là sự sợ hãi. Nếu chúng ta không có niềm tin, điều gì sẽ xảy ra cho chúng ta? Chắc là chúng ta rất sợ hãi về điều gì có lẽ xảy ra? Nếu chúng ta không có khuôn mẫu của hành động, được đặt nền tảng trên niềm tin – hoặc Thượng đế, hoặc cộng sản, hoặc chủ nghĩa xã hội, hoặc chủ nghĩa đế quốc, hoặc một loại công thức tôn giáo nào đó, một giáo điều nào đó mà chúng ta bị quy định – chúng ta cảm thấy hoàn toàn bị lạc lõng, phải không? Và sự chấp nhận của một niềm tin này không là sự che đậy của sợ hãi đó – sợ hãi của thực sự không là gì cả, của trống không hay sao? Rốt cuộc, một cái tách có ích lợi chỉ khi nào nó trống không; và một cái trí bị nhét đầy bởi những niềm tin, những giáo điều, những khẳng định, những trích dẫn, thực sự là một cái trí không sáng tạo; nó chỉ là một cái trí lặp lại.
Muốn tẩu thoát khỏi sợ hãi đó – sợ hãi của trống không đó, sợ hãi của cô độc đó, sợ hãi của trì trệ, của không đến được, không thành công, không đạt được, không là cái gì đó, không trở thành cái gì đó – chắc chắn là một trong những lý do, phải không? Tại sao chúng ta chấp nhận những niềm tin quá hăm hở và thèm khát. Và qua sự chấp nhận niềm tin, liệu chúng ta hiểu rõ về chính chúng ta? Ngược lại, chắc chắn một niềm tin thuộc tôn giáo hay chính trị cản trở hiểu rõ về chính chúng ta. Nó hành động như một bức màn mà qua đó chúng ta đang quan sát về chính chúng ta. Và liệu chúng ta có thể nhìn vào chính chúng ta mà không có những niềm tin? Nếu chúng ta xóa sạch những niềm tin đó, nhiều niềm tin mà người ta có, liệu có bất kỳ cái gì còn lại để quan sát? Nếu chúng ta không có những niềm tin mà cái trí đã tự-nhận dạng, vậy thì cái trí, không còn sự nhận dạng, có thể nhìn vào nó như nó là – và vậy thì, chắc chắn, có khởi đầu của hiểu rõ về chính mình. 
Nó thực sự là một vấn đề rất lý thú, vấn đề của niềm tin và hiểu biết này. Nó đã đảm trách một vai trò lạ lùng trong sống của chúng ta! Biết bao nhiêu niềm tin chúng ta đã có! Chắc chắn một con người càng có trí năng nhiều bao nhiêu, càng có văn hóa nhiều bao nhiêu, càng có ‘tâm linh’ nhiều bao nhiêu, nếu tôi có thể sử dụng từ ngữ đó, anh ấy càng có ít khả năng để hiểu rõ nhiều bấy nhiêu. Những người man rợ có vô số những niềm tin, thậm chí trong thế giới hiện đại. Người ta càng chín chắn bao nhiêu, càng thức tỉnh bao nhiêu, càng sáng suốt bao nhiêu, có lẽ người ta càng có ít niềm tin bấy nhiêu. Đó là, bởi vì những niềm tin trói buộc, những niềm tin gây tách rời; và chúng ta thấy điều đó xảy ra khắp thế giới, thế giới chính trị và thế giới kinh tế, và cũng cả trong thế giới tạm gọi là tinh thần. Bạn tin tưởng có Thượng đế, và có lẽ tôi tin tưởng không có Thượng đế; hay bạn tin tưởng sự kiểm soát hoàn toàn mọi thứ và mọi cá thể của Chính thể, và tôi tin tưởng tính riêng tư và mọi chuyện của nó; bạn tin tưởng rằng chỉ có một Đấng cứu rỗi và qua ngài bạn có thể đạt được mục đích của bạn, và tôi không tin tưởng như thế. Vì vậy bạn, cùng niềm tin của bạn, và tôi, cùng niềm tin của tôi, đang khẳng định chính chúng ta. Tuy nhiên cả hai chúng ta lại đang nói về tình yêu, về hòa bình, về sự hợp nhất của nhân loại, về một sự sống – mà có nghĩa hoàn toàn vô nghĩa; bởi vì thật ra chính niềm tin là qui trình của sự tách rời. Bạn là một người Bà la môn, tôi không là người Bà la môn; bạn là người Thiên chúa giáo, tôi là một người Hồi giáo, và vân vân. Bạn nói về tình huynh đệ và tôi cũng nói về tình huynh đệ như thế, tình yêu và hòa bình; nhưng trong thực tế chúng ta bị tách rời, chúng ta đang phân chia chính chúng ta. Một con người muốn hòa bình và muốn tạo ra một thế giới mới mẻ, một thế giới hạnh phúc, chắc chắn không thể tự-tách rời chính anh ấy qua bất kỳ hình thức nào của niềm tin. Điều đó rõ ràng chứ? Nó có lẽ chỉ là những từ ngữ; nhưng, nếu bạn thấy ý nghĩa và giá trị và sự thật của nó, nó sẽ bắt đầu hành động.
Chúng ta thấy rằng, nơi nào có một qui trình của ham muốn đang vận hành phải có qui trình của tách rời qua niềm tin, bởi vì chắc chắn bạn tin tưởng với mục đích được an toàn về kinh tế, về tinh thần, và cũng vậy phía bên trong. Tôi không đang nói về những người tin tưởng vì những lý do kinh tế, bởi vì họ được nuôi dưỡng để lệ thuộc vào những công việc của họ và vì vậy sẽ là những người Thiên chúa giáo, những người Ấn độ giáo – không đặt thành vấn đề tôn giáo nào – miễn là có một công việc cho họ. Chúng ta cũng không đang bàn luận về những người mà bám chặt vào niềm tin vì lợi ích của sự thuận tiện. Có lẽ với hầu hết chúng ta nó cũng giống như thế. Vì sự thuận tiện, chúng ta tin tưởng vào sự việc nào đó. Gạt đi những lý do kinh tế này, chúng ta phải tìm hiểu sâu thẳm hơn vào nó. Ví dụ, một người tin tưởng mãnh liệt vào bất kỳ thứ gì, thuộc kinh tế, thuộc xã hội hay thuộc tinh thần; qui trình đằng sau nó là sự ham muốn thuộc tâm lý để được an toàn, đúng chứ? Và rồi thì có sự ham muốn phải tiếp tục. Ở đây chúng ta không đang bàn luận liệu có hay không có sự tiếp tục; chúng ta chỉ đang bàn luận sự thôi thúc, sự thúc đẩy liên tục để tin tưởng. Một con người của hòa bình, một con người thực sự muốn hiểu rõ toàn qui trình của sự tồn tại của con người, không thể bị trói buộc bởi một niềm tin, đúng chứ? Anh ấy thấy được ham muốn của anh ấy đang vận hành như một phương tiện để được an toàn. Làm ơn đừng lạc qua bên kia và nói, tôi đang thuyết giảng không-tôn giáo. Đó không là quan điểm của tôi. Quan điểm của tôi là rằng, chừng nào chúng ta còn không hiểu rõ qui trình của ham muốn trong hình thức của niềm tin, phải có bất mãn, phải có xung đột, phải có đau khổ và con người sẽ chống lại con người – mà nhìn thấy được mỗi ngày. Vì vậy nếu tôi nhận biết, nếu tôi tỉnh thức được rằng, qui trình mang hình thức của niềm tin này, mà là một biểu lộ của sự khao khát được an toàn phía bên trong; vậy thì vấn đề của tôi không phải rằng tôi nên tin tưởng điều này hay điều kia, nhưng rằng tôi nên làm tự do chính tôi khỏi ham muốn được an toàn. Liệu cái trí có thể được tự do khỏi ham muốn được an toàn hay không? Đó là vấn đề – không phải tin tưởng cái gì và tin tưởng sâu đậm bao nhiêu. Đây chỉ là sự biểu lộ của những khao khát phía bên trong để được an toàn thuộc tâm lý, để được chắc chắn về cái gì đó, khi mọi thứ trong thế giới đều quá không chắc chắn.
Liệu một cái trí có thể, liệu một cái trí ý thức có thể, một cá thể có thể được tự do khỏi ham muốn được an toàn này hay không? Chúng ta muốn được an toàn và thế là cần sự trợ giúp của những bất động sản của chúng ta, tài sản của chúng ta và gia đình của chúng ta. Chúng ta muốn được an toàn phía bên trong và cũng thuộc tinh thần bằng cách dựng lên những bức tường của niềm tin, mà là một biểu lộ của sự khao khát được chắc chắn này. Liệu bạn như một cá thể có thể được tự do khỏi sự thôi thúc này, sự khao khát được an toàn này, mà tự-biểu lộ chính nó trong sự ham muốn tin tưởng vào cái gì đó? Nếu chúng ta không được tự do khỏi tất cả việc đó, chúng ta là một cái nguồn của sự bất mãn; chúng ta không đang tạo hòa bình; chúng ta không có tình yêu trong tâm hồn của chúng ta. Niềm tin hủy diệt; và điều này được thấy trong sống hàng ngày của chúng ta. Liệu tôi có thể thấy về chính tôi khi tôi bị trói buộc trong qui trình của ham muốn này, mà tự-biểu lộ chính nó trong việc bám vào một niềm tin? Liệu cái trí có thể làm tự do chính nó khỏi niềm tin – không phải tìm ra một thay thế cho niềm tin nhưng hoàn toàn được tự do khỏi nó hay không? Bạn không thể trả lời bằng từ ngữ ‘có’ hay ‘không’ đối với điều này; nhưng bạn có thể dứt khoát đưa ra một câu trả lời nếu ý định của bạn là phải được tự do khỏi niềm tin. Vậy thì, chắc chắn bạn đến được mấu chốt là: bạn đang tìm kiếm phương tiện để làm tự do chính bạn khỏi sự thôi thúc được an toàn. Rõ ràng, không có sự an toàn phía bên trong sẽ tiếp tục, như bạn thích tin tưởng. Bạn thích tin tưởng có một Thượng đế mà luôn luôn đang chăm sóc cẩn thận những sự việc nhỏ nhoi tầm thường của bạn, chỉ bảo cho bạn nên gặp ai, nên làm gì và nên làm nó như thế nào. Đây là suy nghĩ trẻ con và thiếu chín chắn. Bạn nghĩ rằng Người Cha Vĩ đại đang nhìn ngắm mỗi người chúng ta. Đó là sự chiếu rọi thuần túy của ưa thích cá nhân riêng của bạn. Chắc chắn điều đó không đúng thực. Sự thật phải là cái gì đó hoàn toàn khác hẳn.
Vấn đề tiếp theo của chúng ta là vấn đề hiểu biết. Liệu hiểu biết cần thiết cho hiểu rõ về sự thật? Khi tôi nói, ‘Tôi biết’, hàm ý rằng có hiểu biết. Liệu một cái trí như thế có thể tìm hiểu và tìm ra sự thật là gì? Và vả lại, chúng ta biết cái gì, mà chúng ta quá tự hào về nó? Thật ra, chúng ta biết cái gì? Chúng ta biết thông tin; chúng ta đầy ắp thông tin và trải nghiệm được đặt nền tảng trên tình trạng bị quy định của chúng ta, ký ức của chúng ta và những khả năng của chúng ta. Khi bạn nói ‘Tôi biết’, bạn có ý gì? Sự khẳng định rằng bạn biết, hoặc nó là sự công nhận về một sự kiện, về thông tin nào đó, hoặc nó là một trải nghiệm mà bạn đã có. Sự tích lũy liên tục của thông tin, sự thâu lượm vô vàn hình thức của hiểu biết, tất cả tạo thành sự khẳng định ‘Tôi biết’; và bạn bắt đầu diễn giải điều gì bạn đã đọc, tùy theo nền tảng quá khứ của bạn, ham muốn của bạn, trải nghiệm của bạn. Hiểu biết của bạn là một sự việc trong đó một qui trình tương tự như qui trình của ham muốn đang vận hành. Thay vì niềm tin chúng ta thay thế bằng hiểu biết. ‘Tôi biết, tôi đã có trải nghiệm, nó không thể bị phủ nhận; trải nghiệm của tôi là điều đó, tôi hoàn toàn lệ thuộc vào nó’; đây là những biểu lộ của hiểu biết đó. Nhưng khi bạn tìm hiểu nó, phân tích nó, quan sát nó một cách thông minh và cẩn thận hơn, bạn sẽ phát hiện rằng chính sự khẳng định ‘tôi biết’ là một bức tường khác đang ngăn cách bạn và tôi. Đằng sau bức tường đó, bạn ẩn náu, tìm kiếm sự an toàn, sự thanh thản. Vì vậy một cái trí càng chất nặng hiểu biết nhiều bao nhiêu, nó càng có ít khả năng hiểu rõ bấy nhiêu. 
Tôi không biết liệu có khi bạn nào suy nghĩ về vấn đề thâu lượm hiểu biết này – rốt cuộc, liệu hiểu biết có giúp chúng ta thương yêu, được tự do khỏi những chất lượng kia mà tạo tác xung đột trong chính chúng ta và với những người hàng xóm của chúng ta; liệu hiểu biết có khi nào làm tự do cái trí khỏi tham vọng. Bởi vì, rốt cuộc, tham vọng là một trong những đặc tính hủy hoại sự liên hệ, đưa con người chống lại con người. Nếu chúng ta muốn sống thanh bình với nhau, chắc chắn tham vọng phải hoàn toàn kết thúc – không chỉ tham vọng thuộc chính trị, kinh tế, xã hội, mà còn cả những tham vọng nhỏ nhiệm nguy hại nhiều hơn, tham vọng thuộc tinh thần – để là một điều gì đó. Liệu cái trí có khi nào được tự do khỏi qui trình tích lũy của hiểu biết này, ham muốn để biết này?
Rất lý thú khi quan sát trong sống của chúng ta hai vấn đề này, hiểu biết và tin tưởng, đảm trách một vai trò quan trọng lạ thường. Hãy quan sát cách chúng ta tôn sùng những người có nhiều hiểu biết và học thức biết chừng nào! Bạn có thể hiểu rõ sự quan trọng của nó chứ? Nếu bạn muốn tìm ra cái gì đó mới mẻ, trải nghiệm một cái gì đó mà không là sự chiếu rọi tưởng tượng của bạn, cái trí của bạn phải được tự do, đúng chứ? Nó phải có thể thấy cái gì đó mới mẻ. Bất hạnh thay, mỗi lần bạn thấy cái gì đó mới mẻ bạn liền mang vào mọi thông tin có sẵn, mọi hiểu biết, mọi ký ức quá khứ của bạn; và rõ ràng bạn không thể nhìn ngắm, không thể thâu nhận bất kỳ cái gì mới mẻ, mà không thuộc về cũ kỹ. Làm ơn đừng ngay lập tức diễn giải điều này thành chi tiết. Nếu tôi không biết làm thế nào quay về ngôi nhà của tôi, tôi sẽ bị lạc; nếu tôi không biết làm thế nào để vận hành một cái máy, tôi sẽ chẳng sử dụng được bao nhiêu. Đó là một vấn đề hoàn toàn khác hẳn. Ở đây chúng ta không đang bàn luận điều đó. Chúng ta đang bàn luận về hiểu biết mà được sử dụng như một phương tiện dẫn đến sự an toàn, sự ham muốn bên trong thuộc tâm lý để trở thành cái gì đó. Bạn nhận được gì qua hiểu biết? Uy quyền của hiểu biết, ảnh hưởng của hiểu biết, ý thức của quan trọng, cao quý, ý thức của năng động và mọi chuyện cùng loại? Một con người mà nói ‘Tôi biết’, ‘Có’ hay ‘Không có’ chắc chắn đã ngừng tìm hiểu, đã không còn học hành toàn qui trình ham muốn này. 
Vậy thì, như tôi thấy nó, vấn đề của chúng ta là chúng ta bị trói buộc, bị đè nặng bởi niềm tin, bởi hiểu biết; và liệu cái trí có thể được tự do khỏi ngày hôm qua và khỏi những niềm tin mà đã được thâu lượm qua qui trình của ngày hôm qua? Bạn hiểu rõ câu hỏi chứ? Liệu tôi, như một cá thể và bạn, như một cá thể có thể sống trong xã hội này và vẫn được tự do khỏi những niềm tin mà trong đó chúng ta đã được nuôi dưỡng hay không? Liệu cái trí có thể được tự do khỏi tất cả hiểu biết đó, tất cả uy quyền đó? Chúng ta đọc vô số kinh thánh, những quyển sách tôn giáo. Ở đó chúng đã diễn tả rất cẩn thận phải làm gì, không được làm gì, làm thế nào đạt được mục đích, mục đích là gì và Thượng đế là gì. Tất cả các bạn đều thuộc lòng điều đó và đã theo đuổi điều đó. Đó là hiểu biết của bạn, đó là điều gì bạn đã thâu lượm được, đó là điều gì bạn đã học hành; bạn theo đuổi con đường đó. Rõ ràng điều gì bạn theo đuổi và tìm kiếm, bạn sẽ tìm ra. Nhưng đó là sự thật hay sao? Đó không là sự chiếu rọi của sự hiểu biết riêng của bạn hay sao? Đó không là sự thật. Liệu có thể nhận ra điều đó bây giờ – không phải ngày mai, nhưng ngay lúc này – và nói ‘Tôi thấy sự thật của nó’, và buông bỏ nó đi, để cho cái trí không bị khập khễnh bởi qui trình của tưởng tượng, của chiếu rọi này?
Liệu cái trí có thể được tự do khỏi niềm tin? Bạn chỉ có thể được tự do khỏi nó khi bạn hiểu rõ bản chất phía bên trong của những nguyên nhân khiến cho bạn bám chặt nó, không chỉ tầng ý thức bên ngoài nhưng cả những động cơ ngấm ngầm của tầng ý thức bên trong nữa, mà khiến bạn tin tưởng. Rốt cuộc, chúng ta không chỉ là một thực thể hời hợt đang vận hành trên mức độ tầng ý thức bên ngoài. Chúng ta có thể tìm ra những hoạt động tầng ý thức bên trong sâu thẳm hơn nếu chúng ta cho tầng ý thức bên trong một cơ hội, bởi vì nó phản ứng mau lẹ hơn tầng ý thức bên ngoài. Trong khi cái trí tầng ý thức bên ngoài của bạn đang suy nghĩ, đang lắng nghe và đang nhìn ngắm một cách yên lặng, cái trí tầng ý thức bên trong năng động hơn nhiều, tỉnh táo hơn nhiều và thâu nhận hơn nhiều; vì vậy, nó có thể có một câu trả lời. Liệu cái trí mà đã bị khuất phục, đã bị ép buộc, đã bị kinh hãi, đã bị thúc đẩy phải tin tưởng, liệu cái trí như thế có thể được tự do để suy nghĩ? Liệu nó có thể nhìn ngắm mới mẻ lại và loại bỏ qui trình gây tách rời giữa bạn và một người khác hay không? Làm ơn đừng nói rằng niềm tin mang con người lại cùng nhau. Không phải như vậy. Điều đó rõ ràng rồi. Không tôn giáo có tổ chức nào đã từng thực hiện được việc đó. Hãy nhìn chính các bạn trong quốc gia riêng của các bạn. Tất cả các bạn là những người tin tưởng, nhưng các bạn có cùng nhau? Tất cả các bạn có hợp nhất? Chính các bạn biết các bạn không-hợp nhất. Các bạn đã bị phân chia thành quá nhiều đảng phái, giai cấp nhỏ nhoi tầm thường; bạn biết vô số phân chia. Qui trình giống hệt như vậy khắp thế giới – dù phương Đông hay phương Tây – những người Thiên chúa giáo đang hủy diệt những người Thiên chúa giáo, đang tàn sát lẫn nhau trong những vấn đề nhỏ nhen tầm thường, đang xô đẩy con người vào những trại tập trung và vân vân, nỗi sợ hãi kinh hoàng của chiến tranh. Vì vậy niềm tin không hợp nhất con người. Điều đó quá rõ ràng. Nếu điều đó là rõ ràng, và điều đó là sự thật, và nếu bạn thấy nó, vậy thì nó phải bị xóa sạch. Nhưng điều khó khăn là rằng, hầu hết chúng ta đều không thấy, bởi vì chúng ta không dám đối diện sự mất an toàn bên trong đó, ý thức cô đơn bên trong đó. Chúng ta muốn có cái gì đó để nương tựa, dù nó là một Chính thể, dù nó là một giai cấp, dù nó là chủ nghĩa quốc gia, dù nó là một vị Thầy hay một Đấng Cứu rỗi hay bất kỳ điều gì khác. Và khi bạn thấy được sự giả dối của tất cả điều này, vậy thì cái trí có thể – nó có thể kéo dài chỉ trong một giây – thấy được sự thật của nó; mặc dù khi nó thụ hưởng no đủ, nó rơi lại. Nhưng thấy một cách nhất thời cũng đủ rồi; nếu bạn có thể thấy nó trong một tích tắc, từng đó đủ rồi; bởi vì lúc đó bạn sẽ nhận biết một sự việc lạ thường đang xảy ra. Cái trí tầng ý thức bên trong đang làm việc, mặc dù tầng ý thức bên ngoài có lẽ phủ nhận. Nó không là một giây xảy ra liên tục; nhưng giây đó là sự việc duy nhất, và nó có những kết quả riêng của nó, thậm chí bất kể cái trí tầng ý thức bên ngoài đang đấu tranh chống lại nó.
Vì vậy câu hỏi của chúng ta là: Liệu cái trí có thể được tự do khỏi hiểu biết và niềm tin? Liệu cái trí không bị cấu thành bởi hiểu biết và niềm tin? Liệu cấu trúc của cái trí không là niềm tin và hiểu biết? Niềm tin và hiểu biết là những qui trình của công nhận, trung tâm của cái trí. Qui trình đang khép kín, qui trình là tầng ý thức bên ngoài cũng như tầng ý thức bên trong. Liệu cái trí có thể được tự do khỏi cấu trúc riêng của nó? Liệu cái trí có thể không còn hiện diện? Đó là nghi vấn. Như chúng ta biết, cái trí có niềm tin đằng sau nó, có sự ham muốn, sự thôi thúc được an toàn, hiểu biết và sự tích lũy của sức mạnh. Nếu, bằng tất cả quyền năng và quyền hành tối thượng của nó, người ta có thể tự-suy nghĩ cho chính người ta: không thể có hòa bình trong thế giới. Bạn có lẽ diễn thuyết về hòa bình, bạn có lẽ tổ chức những đảng phái chính trị, bạn có thể công bố trước mọi người; nhưng bạn không thể có hòa bình; bởi vì trong cái trí là chính bản thể của sự tạo tác mâu thuẫn, sự cô lập và sự phân chia. Một con người hòa bình, một con người nghiêm túc, không thể tự-cô lập chính anh ấy và tuy nhiên lại nói về tình huynh đệ và hòa bình. Nó chỉ là một trò chơi thuộc chính trị hay tôn giáo, một ý thức của thành tựu và tham vọng. Một con người mà thực sự nghiêm túc về điều này, mà muốn khám phá, phải đối diện vấn đề của hiểu biết và niềm tin; anh ấy phải vào thăm thẳm của nó, để khám phá toàn qui trình của ham muốn đang vận hành, ham muốn được an toàn, ham muốn được chắc chắn.
Một cái trí muốn ở trong một trạng thái mà cái mới mẻ có thể hiện diện – dù nó là sự thật, dù nó là Thượng đế, hay bất kỳ điều gì bạn muốn – chắc chắn phải không còn thâu lượm, không còn kiếm được; nó phải xóa sạch tất cả hiểu biết. Chắc chắn một cái trí bị nhét đầy hiểu biết không thể hiểu rõ cái đó mà là sự thật, mà là vô hạn.
Chương 7:
NỖ LỰC
Đối với hầu hết chúng ta, toàn sống của chúng ta đều được đặt nền tảng trên nỗ lực, một loại ý muốn nào đó. Chúng ta không thể hình dung được một hành động mà không có ý muốn, mà không có nỗ lực; sống của chúng ta được đặt nền tảng trên nó. Sống kinh tế, xã hội và tạm gọi là tinh thần của chúng ta là một chuỗi của những nỗ lực, luôn luôn đạt được một kết quả nào đó. Và chúng ta nghĩ rằng nỗ lực là cần thiết, cốt lõi.
Tại sao chúng ta tạo ra nỗ lực? Nói một cách đơn giản, không phải rằng bởi vì mục đích đạt được một kết quả, trở thành cái gì đó, đến được một mục tiêu hay sao? Nếu chúng ta không tạo ra một nỗ lực, chúng ta nghĩ rằng chúng ta sẽ bị trì trệ. Chúng ta có một ý tưởng về mục đích mà chúng ta liên tục đang cố gắng hướng đến, và cố gắng này đã trở thành bộ phận thuộc sống của chúng ta. Nếu chúng ta muốn thay đổi chính chúng ta, nếu chúng ta muốn tạo ra một thay đổi cơ bản trong chính chúng ta, chúng ta thực hiện một nỗ lực khủng khiếp để loại bỏ những thói quen cũ kỹ, để kháng cự lại những ảnh hưởng của quy định sống theo thói quen và vân vân. Thế là, chúng ta quen thuộc với chuỗi nỗ lực này vì mục đích tìm được hay thành tựu cái gì đó, vì mục đích để sống. 
Liệu mọi nỗ lực như thế không là hoạt động của cái tôi hay sao? Liệu nỗ lực không là hoạt động tự cho mình là trung tâm hay sao? Nếu chúng ta tạo ra một nỗ lực từ trung tâm của cái tôi, chắc chắn nó phải sinh ra nhiều xung đột hơn, nhiều hỗn loạn hơn, nhiều đau khổ hơn. Tuy nhiên chúng ta cứ tiếp tục tạo ra nỗ lực này tiếp nối nỗ lực kia. Chẳng mấy người trong chúng ta nhận ra rằng, hoạt động tự cho mình là trung tâm của nỗ lực không dọn dẹp bất kỳ vấn đề nào của chúng ta. Trái lại, nó chỉ gia tăng sự hỗn loạn, đau khổ và phiền muộn của chúng ta. Chúng ta biết điều này; và vẫn vậy chúng ta tiếp tục hy vọng, trong chừng mực nào đó, sẽ phá vỡ hoạt động tự cho mình là trung tâm của nỗ lực này, hành động của ý chí này.
Tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ hiểu rõ ý nghĩa của sống, nếu chúng ta hiểu rõ tạo ra một nỗ lực có nghĩa gì. Bạn có khi nào cố gắng để được hạnh phúc hay chưa? Không thể được, phải không? Bạn đấu tranh để được hạnh phúc, và không có hạnh phúc, đúng chứ? Hân hoan không đến qua kiềm chế, qua kiểm soát hay buông thả. Bạn có lẽ buông thả, nhưng tại khúc cuối bạn sẽ gặp gỡ sự cay đắng. Bạn có lẽ kiềm chế hay kiểm soát, nhưng luôn luôn có xung đột ẩn nấp đâu đó. Vì vậy hạnh phúc không hiện diện nhờ vào nỗ lực, hân hoan cũng không xảy ra qua kiềm chế và kiểm soát; và cũng vậy tất cả sống của chúng ta là một chuỗi của những kiềm chế, một chuỗi của những kiểm soát, một chuỗi của những buông thả đầy hối tiếc. Cũng có một khắc phục liên tục, một đấu tranh liên tục chống lại những đam mê của chúng ta, sự tham lam của chúng ta và sự dốt nát của chúng ta. Thế là chúng ta đấu tranh, chiến đấu, tạo ra nỗ lực, trong hy vọng tìm ra hạnh phúc, tìm ra một cái gì đó mà sẽ cho chúng ta một cảm thấy của hòa bình, một ý nghĩa của tình yêu? Vẫn vậy tình yêu hay hiểu rõ hiện diện qua xung đột hay sao? Tôi nghĩ, hiểu rõ điều gì chúng ta có ý qua những từ ngữ đấu tranh, xung đột, hay nỗ lực là điều rất quan trọng. 
Nỗ lực không có nghĩa một đấu tranh để thay đổi cái gì là thành cái gì không là, hay thành cái gì nên là hay nên trở thành, hay sao? Đó là, chúng ta đang liên tục đấu tranh để lẩn tránh đối diện cái gì là, hay chúng ta đang cố gắng tẩu thoát hay chuyển đổi hay bổ sung cái gì là. Một người thực sự mãn nguyện là người hiểu rõ cái gì là, đưa ra ý nghĩa đúng đắn cho cái gì là. Đó là sự mãn nguyện trung thực; nó không liên quan đến việc có ít hay nhiều tài sản, nhưng liên quan đến hiểu rõ toàn ý nghĩa của cái gì là; và điều đó chỉ có thể hiện diện khi bạn nhận ra cái gì là, khi bạn tỉnh thức được nó, không phải khi bạn đang cố gắng bổ sung nó hay thay đổi nó. 
Vì vậy chúng ta thấy rằng, nỗ lực đó là một xung đột hay một đấu tranh để chuyển đổi cái gì là thành cái gì đó mà bạn ao ước nó là. Tôi chỉ đang nói về sự đấu tranh tâm lý, không phải sự đấu tranh về vấn đề vật chất, giống như công việc khoa học hay một vài khám phá hay thay đổi mà thuần túy thuộc kỹ thuật. Tôi chỉ đang nói về sự đấu tranh tâm lý đó mà luôn luôn chi phối sự đấu tranh kỹ thuật. Bằng sự cẩn trọng lớn lao, bạn có thể thiết lập một xã hội tuyệt vời, sử dụng hiểu biết vô hạn mà khoa học đã trao tặng cho chúng ta. Nhưng chừng nào sự xung đột và đấu tranh và tranh luận thuộc tâm lý còn không được hiểu rõ, và những thái độ lẫn cảm xúc thuộc tâm lý còn không được khắc phục, cấu trúc của xã hội, dù được xây dựng tuyệt vời bao nhiêu, chắc chắn sẽ bị sụp đổ, như nó đã xảy ra lặp đi lặp lại.
Nỗ lực là một xao nhãng khỏi cái gì là. Khoảnh khắc tôi chấp nhận cái gì là, không còn đấu tranh. Bất kỳ hình thức nào của đấu tranh hay xung đột là một thể hiện của xao nhãng; và xao nhãng, mà là nỗ lực, phải tồn tại chừng nào thuộc tâm lý tôi còn ao ước thay đổi cái gì là thành điều gì đó nó không là.
Trước hết chúng ta phải được tự do để thấy rằng hân hoan và hạnh phúc không hiện diện qua nỗ lực. Sáng tạo xảy ra qua nỗ lực, hay có sáng tạo chỉ theo cùng sự kết thúc của nỗ lực? Bạn viết, vẽ hay hát khi nào? Bạn sáng tạo khi nào? Chắc chắn khi không có nỗ lực, khi bạn hoàn toàn khoáng đạt, khi trên mọi mức độ bạn hiệp thông trọn vẹn, hòa hợp trọn vẹn. Vậy thì có hân hoan, và vậy thì bạn bắt đầu hát, hay viết một bài thơ, hay vẽ một bức tranh, hay làm ra cái gì đó. Khoảnh khắc của sáng tạo không được sinh ra từ đấu tranh.
Có lẽ khi hiểu rõ ý nghĩa của trạng thái sáng tạo chúng ta sẽ có thể hiểu rõ chúng ta có ý gì qua từ ngữ nỗ lực. Liệu sáng tạo là kết quả của nỗ lực, và chúng ta nhận biết được trong những khoảnh khắc chúng ta sáng tạo? Hay sáng tạo là một ý thức của tự-xóa sạch hoàn toàn cái tôi, ý thức đó khi không còn hoang mang, khi người ta hoàn toàn không nhận biết được chuyển động của tư tưởng; khi chỉ có một hiện diện tràn đầy, trọn vẹn? Trạng thái đó là kết quả của lao dịch, của đấu tranh, của xung đột, của nỗ lực? Tôi không hiểu bạn có khi nào nhận thấy rằng, khi bạn làm việc gì đó một cách dễ dàng, mau lẹ, không-nỗ lực, có sự kết thúc hoàn toàn của đấu tranh; nhưng bởi vì hầu hết sống của chúng ta là một chuỗi của những đấu tranh, những xung đột và những nỗ lực, chúng ta không thể tưởng tượng một sống, một trạng thái của hiện diện, trong đó xung đột hoàn toàn kết thúc.
Muốn hiểu rõ trạng thái của hiện diện không-xung đột, trạng thái của hiện diện sáng tạo đó, chắc chắn người ta phải tìm hiểu toàn vấn đề của nỗ lực. Qua từ ngữ nỗ lực, chúng ta có ý sự cố gắng tự-thành tựu, trở thành cái gì đó, phải không? Tôi là điều này, và tôi muốn trở thành điều kia ; tôi không là điều kia, và tôi phải trở thành điều kia. Trong trở thành ‘điều kia’ có xung đột, đấu tranh, mâu thuẫn, nỗ lực. Trong đấu tranh này rõ ràng chúng ta quan tâm đến sự thành tựu qua sự đạt được một mục đích; chúng ta tìm kiếm tự-thành tựu trong một vật, trong một con người, trong một ý tưởng, và việc đó đòi hỏi đấu tranh, xung đột liên tục, nỗ lực để trở thành, để thành tựu. Vì vậy chúng ta chấp nhận nỗ lực này như điều tự nhiên; và tôi tự hỏi liệu nó có là tự nhiên – đấu tranh này để trở thành cái gì đó? Tại sao có đấu tranh này? Nơi nào có ham muốn cho thành tựu, ở bất kỳ mức độ nào và ở bất kỳ tầng bậc nào, phải có đấu tranh. Thành tựu là động cơ, sự thúc đẩy đằng sau nỗ lực; dù nó là người giám đốc, người nội trợ hay người nghèo khổ, có đấu tranh này để trở thành, để thành tựu, đang xảy ra.
Bây giờ tại sao lại có ham muốn để thành tựu cho chính mình? Rõ ràng, ham muốn để thành tựu, để trở thành cái gì đó, nảy sinh khi có sự nhận biết của ‘không là gì cả’. Bởi vì tôi không là gì cả, tôi thiếu thốn, trống không, nghèo khó bên trong, tôi đấu tranh để trở thành cái gì đó; phía bên ngoài hay bên trong tôi đấu tranh để thành tựu cho chính tôi trong một con người, trong một sự việc, trong một ý tưởng. Lấp đầy sự trống không đó là toàn qui trình của sự tồn tại của chúng ta. Ý thức được rằng chúng ta trống rỗng, nghèo khó phía bên trong, chúng ta đấu tranh hoặc để thâu lượm những sự vật bên ngoài, hoặc để bồi đắp sự phong phú phía bên trong. Có nỗ lực chỉ khi nào có một tẩu thoát khỏi sự trống không bên trong đó qua hành động, qua suy nghĩ, qua thâu lợi, qua thành tựu, qua quyền hành, và vân vân. Đó là sự tồn tại hàng ngày của chúng ta. Tôi ý thức được sự thiếu thốn của tôi, sự nghèo khó bên trong của tôi, và tôi đấu tranh để chạy trốn khỏi nó hay để lấp đầy nó. Chạy trốn này, lẩn tránh này, hay cố gắng lấp đầy trống không, gây ra đấu tranh, xung đột, nỗ lực.
Bây giờ nếu người ta không tạo ra một nỗ lực để chạy trốn, điều gì xảy ra? Người ta sống cùng cô độc đó, trống không đó; và trong chấp nhận trống không đó người ta phát hiện rằng, kia kìa hiện diện một trạng thái sáng tạo không dính dáng với xung đột, không dính dáng với nỗ lực. Nỗ lực tồn tại chỉ khi nào chúng ta còn đang cố gắng lẩn tránh sự trống không, cô độc bên trong đó, nhưng khi chúng ta nhìn ngắm nó, quan sát nó, khi chúng ta chấp nhận cái gì là mà không lẩn tránh, chúng ta sẽ tìm ra một trạng thái của hiện diện mà trong đó tất cả đấu tranh đều kết thúc. Trạng thái của hiện diện đó là trạng thái sáng tạo, và nó không là kết quả của đấu tranh.
Nhưng khi có sự hiểu rõ về cái gì là, mà là trống không, thiếu thốn bên trong, khi người ta sống cùng thiếu thốn đó và hiểu rõ nó trọn vẹn, kia kìa hiện diện sự thật sáng tạo, thông minh sáng tạo, mà tự chính nó mang lại hạnh phúc.
Vì vậy thật ra, hành động như chúng ta biết là phản ứng, nó là một trở thành không ngừng nghỉ, mà là sự phủ nhận, sự trốn tránh cái gì là; nhưng khi có nhận biết được trống không mà không-chọn lựa, không-chỉ trích hay không-bênh vực, vậy thì trong hiểu rõ cái gì là đó liền có hành động, và hành động này là ‘đang hiện diện sáng tạo’. Bạn sẽ hiểu rõ điều này nếu bạn nhận biết được về chính bạn trong hành động. Hãy nhìn ngắm về chính bạn khi bạn đang hành động, không những phía bên ngoài nhưng còn cả thấy chuyển động của cảm thấy và suy nghĩ của bạn. Khi bạn nhận biết được chuyển động này, bạn sẽ thấy rằng qui trình suy nghĩ, mà cũng là cảm thấy và hành động, được đặt nền tảng trên một ý tưởng của trở thành. Ý tưởng của trở thành nảy sinh chỉ khi nào có một ý thức của không-an toàn, và ý thức không-an toàn đó đến khi người ta nhận biết được sự trống không bên trong. Nếu bạn nhận biết được qui trình suy nghĩ và cảm thấy đó, bạn sẽ thấy rằng có một trận chiến liên tục đang xảy ra, một nỗ lực để thay đổi, để bổ sung, để biến đổi cái gì là. Đây là nỗ lực để trở thành, và trở thành là một lẩn tránh trực tiếp khỏi cái gì là. Qua hiểu rõ về chính mình, qua tỉnh thức liên tục, bạn sẽ thấy rằng mâu thuẫn, đấu tranh, xung đột của trở thành, dẫn đến phiền muộn, đau khổ và dốt nát. Chỉ khi nào bạn nhận biết được ‘sự nghèo khó phía bên trong’ và sống cùng nó mà không chạy trốn, thâu nhận nó trọn vẹn, khi đó bạn sẽ khám phá một yên lặng lạ thường, một yên lặng không bị xếp đặt vào chung, bị cấu thành, nhưng một yên lặng theo cùng hiểu rõ cái gì là. Chỉ trong trạng thái yên lặng đó, có ‘đang hiện diện sáng tạo’.
Chương 8:
MÂU THUẪN
Chúng ta thấy mâu thuẫn trong chúng ta và quanh chúng ta; bởi vì chúng ta ở trong mâu thuẫn, không có an bình trong chúng ta và vì vậy bên ngoài chúng ta. Trong chúng ta có một trạng trái của phủ nhận và khẳng định liên tục – điều gì chúng ta muốn là và điều gì chúng ta là. Trạng thái mâu thuẫn tạo ra xung đột và xung đột này không mang lại an bình – mà là một sự kiện rõ ràng, đơn giản. Mâu thuẫn bên trong này không nên được diễn giải thành một loại lý thuyết phân hai thuộc triết học nào đó, bởi vì đó là một tẩu thoát rất dễ dàng. Đó là bằng cách nói, mâu thuẫn là một trạng thái của phân hai, chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã giải quyết được nó – mà rõ ràng chỉ là một thỏa thuận ngấm ngầm, một tẩu thoát thêm nữa khỏi sự kiện. 
Bây giờ chúng ta có ý gì qua từ ngữ xung đột, qua từ ngữ mâu thuẫn? Tại sao có một mâu thuẫn trong tôi? – đấu tranh liên tục này để là một cái gì đó tách khỏi tôi là gì. Tôi là cái này, và tôi muốn là cái kia. Mâu thuẫn này trong chúng ta là một sự kiện, không phải một phân hai lý thuyết. Sự phân hai lý thuyết không có ý nghĩa gì trong hiểu rõ về cái gì là. Chúng ta có lẽ bàn luận, nói chuyện, sự phân hai, nó là gì, liệu nó tồn tại, và vân vân; nhưng nó có ý nghĩa gì nếu chúng ta không biết rằng có mâu thuẫn trong chúng ta, những ham muốn đối nghịch, những vui thú đối nghịch, những theo đuổi đối nghịch. Tôi muốn tốt lành và tôi không thể. Mâu thuẫn này, đối nghịch này trong chúng ta, phải được hiểu rõ bởi vì nó tạo ra xung đột; và trong xung đột, trong đấu tranh, chúng ta không thể sáng tạo một cách cá thể. Chúng ta hãy rõ ràng về trạng thái chúng ta đang có. Có mâu thuẫn, vì vậy có đấu tranh; và đấu tranh là phá hoại, phung phí. Trong trạng thái đó chúng ta không sản sinh ra bất kỳ thứ gì khác ngoại trừ hận thù, xung đột, cay đắng hơn và đau khổ hơn. Nếu chúng ta có thể hiểu rõ trọn vẹn điều này và vì vậy được tự do khỏi xung đột, vậy thì có an bình phía bên trong, mà sẽ mang lại hiểu rõ lẫn nhau.
Vấn đề là như thế này. Thấy rằng xung đột là phá hoại, phung phí, tại sao trong mỗi người chúng ta lại có mâu thuẫn? Muốn hiểu rõ điều đó, chúng ta phải tìm hiểu sâu hơn chút nữa. Tại sao có ý thức của những ham muốn đối nghịch? Tôi không hiểu liệu chúng ta có nhận biết được điều đó trong chính chúng ta – mâu thuẫn này, ý thức của muốn và không-muốn này, nhớ điều gì đó và cố gắng quên nó với mục đích tìm ra điều gì đó mới mẻ. Chỉ cần nhìn ngắm nó. Nó rất đơn giản và rất bình thường. Nó không là điều gì đó lạ thường. Sự kiện là, có mâu thuẫn. Vậy thì tại sao mâu thuẫn này lại nảy sinh?
Chúng ta có ý gì qua từ ngữ mâu thuẫn? Nó không hàm ý một trạng thái bất ổn nhất thời đang đối nghịch với một trạng thái bất ổn nhất thời khác hay sao? Tôi nghĩ tôi có một ham muốn vĩnh cửu, tôi ấp ủ trong tôi một ham muốn vĩnh cửu và một ham muốn khác nảy sinh mà mâu thuẫn nó; mâu thuẫn này tạo ra xung đột, mà là phung phí. Đó có nghĩa là, có một phủ nhận liên tục của một ham muốn bởi một ham muốn khác, một theo đuổi đang thắng thế một theo đuổi khác. Bây giờ liệu có một sự việc như ham muốn vĩnh cửu? Chắc chắn, tất cả mọi ham muốn đều nhất thời – không phải lý thuyết, nhưng thực sự. Tôi muốn một việc làm. Đó là, tôi nương dựa một công việc nào đó như một phương tiện của hạnh phúc; và khi tôi có nó, tôi không thỏa mãn. Tôi muốn trở thành một giám đốc, rồi người chủ, và vân vân và vân vân, không phải chỉ trong thế giới này nhưng còn cả trong thế giới tạm gọi là tinh thần – người thầy trở thành hiệu trưởng, vị linh mục trở thành vị giám mục, đệ tử trở thành bậc thầy. 
Sự trở thành liên tục này, đang đến một trạng thái tiếp nối một trạng thái khác, tạo ra mâu thuẫn, đúng chứ? Vì vậy, tại sao không nhìn sống, không như một ham muốn vĩnh cửu nhưng như một chuỗi của những ham muốn thoáng chốc luôn luôn đang đối nghịch lẫn nhau? Thế là cái trí không cần thiết phải ở trong một trạng thái của mâu thuẫn nữa. Nếu tôi nhìn ‘sống’ không như một ham muốn vĩnh cửu nhưng như một chuỗi của những ham muốn nhất thời mà đang thay đổi liên tục, vậy thì không còn mâu thuẫn.
Mâu thuẫn nảy sinh chỉ khi nào cái trí có một mục đích cố định của ham muốn; đó là khi cái trí không suy nghĩ tất cả ham muốn như đang chuyển động, thoáng chốc, nhưng ôm chặt một ham muốn và biến nó thành vĩnh cửu – chỉ như vậy, khi những ham muốn khác nảy sinh, sẽ có mâu thuẫn. Nhưng tất cả những ham muốn đều ở trong chuyển động liên tục, không có sự cố định của ham muốn. Không có mục đích cố định trong ham muốn; nhưng cái trí thiết lập một mục đích cố định bởi vì nó cư xử mọi sự việc như một phương tiện để đến được, để đạt được; và phải có mâu thuẫn, xung đột chừng nào người ta còn đang đến. Bạn muốn đến, bạn muốn thành công, bạn muốn tìm ra một sự thật hay Thượng đế tối thượng, mà sẽ là sự thỏa mãn vĩnh cửu của bạn. Vì vậy bạn không đang tìm kiếm sự thật, bạn không đang tìm kiếm Thượng đế. Bạn đang tìm kiếm sự thỏa mãn vĩnh cửu và với sự thỏa mãn đó bạn bao bọc bằng một ý tưởng, một từ ngữ có vẻ đầy kính trọng như Thượng đế, sự thật; nhưng thật ra tất cả chúng ta đều đang tìm kiếm sự thỏa mãn, và chúng ta đặt thỏa mãn đó, hài lòng đó, tại điểm cao nhất, gọi là Thượng đế, và điểm thấp nhất là nhậu nhẹt. Chừng nào cái trí còn đang tìm kiếm thỏa mãn, chẳng có bao nhiêu khác biệt giữa Thượng đế và nhậu nhẹt. Theo xã hội, nhậu nhẹt có lẽ xấu xa; nhưng ham muốn bên trong cho sự thỏa mãn, cho sự kiếm được, thậm chí còn độc hại hơn nhiều, phải không? Nếu bạn thực sự muốn tìm ra sự thật, bạn phải rất chân thật, không phải chỉ ở mức độ từ ngữ nhưng toàn bộ, bạn phải minh bạch một cách lạ thường, và bạn không thể minh bạch nếu bạn không sẵn lòng đối diện những sự kiện.
Bây giờ điều gì tạo ra xung đột trong mỗi người chúng ta? Chắc chắn nó là ham muốn trở thành cái gì đó, phải không? Tất cả chúng ta đều ham muốn trở thành cái gì đó; trở thành thành đạt trong thế giới và, phía bên trong, đạt được một kết quả. Chừng nào chúng ta còn suy nghĩ dựa vào thời gian, dựa vào thành tựu, dựa vào vị trí, phải có xung đột. Rốt cuộc, cái trí là sản phẩm của thời gian. Tư tưởng được đặt nền tảng trên ngày hôm qua, trên quá khứ; và chừng nào tư tưởng còn đang vận hành trong lãnh vực của thời gian, suy nghĩ dựa vào tương lai, của trở thành, của kiếm được, của thành tựu, phải có mâu thuẫn, bởi vì lúc đó chúng ta không thể đối diện chính xác cái gì là. Chỉ trong nhận ra, trong hiểu rõ, trong tỉnh thức không-chọn lựa được cái gì là, mới có thể được tự do khỏi nhân tố không-hòa hợp đó mà là mâu thuẫn. 
Vì vậy, điều cần thiết là phải hiểu rõ toàn qui trình suy nghĩ của chúng ta, bởi vì chính ở đó chúng ta phát hiện mâu thuẫn, đúng chứ? Mặc dầu chính tư tưởng đã trở thành một mâu thuẫn, bởi vì chúng ta đã không hiểu rõ toàn qui trình của chính chúng ta; và hiểu rõ đó chỉ có thể xảy ra khi chúng ta hoàn toàn nhận biết được suy nghĩ của chúng ta, không phải như một người quan sát đang vận hành vào suy nghĩ của anh ấy, nhưng hòa hợp và không-chọn lựa – mà gian lao cực kỳ. Vậy thì chỉ như vậy mới có sự tan biến của mâu thuẫn đó mà quá hủy hoại, quá đau khổ.
Chừng nào chúng ta còn đang cố gắng đạt được một kết quả thuộc tâm lý, chừng nào chúng ta còn muốn an toàn phía bên trong, phải có một mâu thuẫn trong sống của chúng ta. Tôi không nghĩ hầu hết chúng ta đều nhận biết được mâu thuẫn này; hoặc, nếu chúng ta nhận biết được, chúng ta không thấy ý nghĩa thực sự của nó. Trái lại, mâu thuẫn cho chúng ta một động lực để sống; chính yếu tố mâu thuẫn làm cho chúng ta cảm thấy rằng chúng ta đang sống. Nỗ lực, đấu tranh của mâu thuẫn, cho chúng ta một ý thức của sức sống. Đó là lý do tại sao chúng ta thương yêu những chiến tranh, đó là lý do tại sao chúng ta tận hưởng trận chiến của những tuyệt vọng. Chừng nào còn có ham muốn để đạt được một kết quả, mà là ham muốn để được an toàn thuộc tâm lý, phải có mâu thuẫn; và nơi nào có mâu thuẫn, không có một cái trí yên lặng. Sự yên lặng của cái trí là cốt lõi cho sự hiểu rõ toàn ý nghĩa của sống. Tư tưởng không bao giờ có thể yên lặng; tư tưởng, mà là sản phẩm của thời gian, không bao giờ có thể tìm ra cái không-thời gian, không bao giờ có thể biết được cái vượt khỏi thời gian. Chính bản chất suy nghĩ của chúng ta là một mâu thuẫn, bởi vì chúng ta luôn luôn đang suy nghĩ dựa vào quá khứ hay vào tương lai; vì vậy chúng ta không bao giờ tỉnh thức trọn vẹn, nhận biết trọn vẹn được hiện tại.
Muốn nhận biết trọn vẹn được hiện tại là một việc khó khăn lạ thường, bởi vì cái trí không thể đối diện trực tiếp một sự kiện mà không-lừa dối. Tư tưởng là sản phẩm của quá khứ, và vì vậy nó chỉ có thể suy nghĩ dựa vào quá khứ hay vào tương lai; nó không thể nhận biết trọn vẹn được một sự kiện trong hiện tại. Chừng nào suy nghĩ, mà là sản phẩm của quá khứ, còn cố gắng xóa sạch mâu thuẫn và tất cả những vấn đề mà nó tạo tác, nó còn đang theo đuổi một kết quả, nó còn đang cố gắng đạt được một mục đích, và suy nghĩ như thế chỉ tạo ra nhiều mâu thuẫn hơn và thế là xung đột, đau khổ và hoang mang trong chúng ta và, vì vậy, quanh chúng ta.
Muốn được tự do khỏi mâu thuẫn, người ta phải nhận biết được hiện tại mà không-chọn lựa. Làm thế nào có thể có chọn lựa khi bạn bị đối diện với một sự kiện? Chắc chắn hiểu rõ về sự kiện không thể xảy ra được, chừng nào tư tưởng còn đang cố gắng vận hành vào sự kiện tùy theo quy định của trở thành, thay đổi, chuyển đổi. Vì vậy hiểu rõ về chính mình là khởi đầu của hiểu rõ; nếu không có hiểu rõ về chính mình, mâu thuẫn và xung đột sẽ tiếp tục. Hiểu rõ về toàn qui trình, tổng thể của chính mình, không nương nhờ bất kỳ chuyên gia nào, bất kỳ uy quyền nào. Theo đuổi uy quyền chỉ nuôi dưỡng sợ hãi. Không người chuyên môn, không người đặc biệt, có thể chỉ cho chúng ta làm thế nào hiểu rõ về qui trình của cái tôi. Người ta phải học hành về nó cho chính người ta. Bạn và tôi có thể giúp đỡ lẫn nhau tìm hiểu nó bằng cách nói chuyện về nó, nhưng không một ai có thể cởi bỏ nó cho chúng ta, không người chuyên môn, không vị thầy, có thể khai sáng nó cho chúng ta. Chúng ta có thể nhận biết được nó chỉ trong liên hệ của chúng ta – trong liên hệ của chúng ta đến những sự vật, đến tài sản, đến con người và đến những ý tưởng. Trong liên hệ, chúng ta sẽ phát giác rằng, mâu thuẫn nảy sinh khi hành động đang phỏng chừng chính nó đến một ý tưởng. Ý tưởng chỉ là sự cô đọng của tư tưởng như một biểu tượng, và nỗ lực sống dựa vào biểu tượng tạo ra một mâu thuẫn.
Vẫn vậy, chừng nào còn có một khuôn mẫu của tư tưởng, mâu thuẫn sẽ tiếp tục; muốn kết thúc khuôn mẫu, và vì vậy kết thúc mâu thuẫn, phải có hiểu rõ về chính mình. Hiểu rõ về chính mình này không là một qui trình dành riêng cho một ít người. Cái tôi được hiểu rõ trong những câu nói hàng ngày của chúng ta, trong cách chúng ta suy nghĩ và cảm thấy, trong cách chúng ta quan sát một người khác. Nếu chúng ta có thể nhận biết được mỗi suy nghĩ, mỗi cảm nhận từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc, vậy thì chúng ta sẽ thấy rằng trong liên hệ những phương cách của cái tôi đều được hiểu rõ. Chỉ như vậy mới có thể có sự yên lặng của cái trí, và qua chính yên lặng đó sự thật tối thượng có thể hiện diện.
Chương 9:
CÁI TÔI LÀ GÌ?
Chúng ta biết chúng ta có ý gì qua từ ngữ ‘cái tôi’? Qua từ ngữ đó, tôi có ý nói về những ý tưởng, ký ức, kết luận, trải nghiệm, những hình thức khác nhau của những ý định hiển lộ hay mơ hồ, những gắng sức có ý thức để là hay không là, ký ức được tích lũy của tầng ý thức bên trong, chủng tộc, nhóm người, cá thể, bộ lạc, và toàn bộ của nó, dù nó được chiếu rọi phía bên ngoài trong hành động hay được chiếu rọi phần tinh thần như đạo đức; nỗ lực để theo đuổi tất cả điều này là cái tôi. Trong nó được bao gồm ganh đua, ham muốn để hiện diện. Toàn qui trình của điều đó là cái tôi; và khi chúng ta bị đối diện với nó, chúng ta thực sự biết rằng nó là một vật xấu xa. Tôi đang cố ý sử dụng từ ngữ ‘xấu xa’, bởi vì cái tôi đang phân chia, cái tôi đang tự-khép kín, những hoạt động của nó, dù cao quý, đều tách rời và cô lập. Chúng ta biết tất cả điều này. Chúng ta cũng biết những khoảnh khắc lạ thường khi cái tôi không hiện diện, trong đó không có ý thức của gắng sức, của nỗ lực, và nó xảy ra khi có tình yêu.
Dường như đối với tôi, hiểu rõ được sự trải nghiệm củng cố cái tôi như thế nào là điều rất quan trọng. Nếu chúng ta nghiêm túc, chúng ta nên hiểu rõ vấn đề của trải nghiệm này. Bây giờ chúng ta có ý nói gì qua từ ngữ trải nghiệm? Chúng ta luôn luôn trải nghiệm, những ấn tượng; và chúng ta diễn giải những ấn tượng đó, chúng ta phản ứng hay hành động tùy theo chúng; chúng ta đang tính toán, đang so đo, và vân vân. Có sự trao đổi liên tục giữa điều gì được thấy một cách khách quan và phản ứng của chúng ta đến nó, và trao đổi qua lại giữa tầng ý thức bên ngoài và những kỷ niệm của tầng ý thức bên trong.
Theo những kỷ niệm của tôi, tôi phản ứng đến bất kỳ thứ gì tôi nhìn thấy, bất kỳ thứ gì tôi cảm giác. Trong qui trình của phản ứng đến cái gì tôi nhìn thấy, cái gì tôi cảm giác, cái gì tôi nhận biết, cái gì tôi tin tưởng, sự trải nghiệm đang xảy ra, đúng chứ? Phản ứng, đáp lại một cái gì đó được nhìn thấy, là trải nghiệm. Khi tôi thấy bạn, tôi phản ứng; đặt tên sự phản ứng đó là trải nghiệm. Nếu tôi không đặt tên phản ứng đó, nó không là một trải nghiệm. Hãy quan sát những phản ứng riêng của bạn và điều gì đang xảy ra quanh bạn. Không có trải nghiệm nếu không có một qui trình đặt tên đang xảy ra tại cùng thời điểm. Nếu tôi không công nhận bạn, làm thế nào tôi có trải nghiệm của gặp gỡ bạn? Điều đó nghe ra đơn giản và đúng đắn. Nó không là một sự kiện hay sao? Đó là nếu tôi không phản ứng tùy theo những kỷ niệm của tôi, tùy theo tình trạng bị quy định của tôi, tùy theo những thành kiến của tôi, làm sao tôi biết rằng tôi đã có một trải nghiệm?
Tiếp theo có sự chiếu rọi của vô số ham muốn. Tôi ham muốn được bảo vệ, có an toàn bên trong; hay tôi ham muốn có một vị Thầy, một đạo sư, một người dẫn đường, một Thượng đế; và tôi trải nghiệm sự việc mà tôi đã chiếu rọi; đó là tôi đã chiếu rọi một ham muốn mà mang một hình thể, mà tôi đã đặt tên; tôi phản ứng đến điều đó. Nó là sự chiếu rọi của tôi. Nó là sự đặt tên của tôi. Ham muốn đó mà cho tôi một trải nghiệm khiến tôi nói: ‘Tôi có trải nghiệm’, ‘Tôi đã gặp vị Thầy’, hay ‘Tôi đã không gặp vị Thầy’. Bạn biết toàn qui trình của công việc đặt tên một trải nghiệm. Ham muốn là điều gì bạn gọi là trải nghiệm, phải không?
Khi tôi ham muốn sự yên lặng của cái trí, điều gì đang xảy ra? Điều gì xảy ra? Tôi thấy sự quan trọng của có một cái trí yên lặng, một cái trí tĩnh lặng, vì vô số lý do; bởi vì kinh Upanishads đã nói như thế, những quyển sách cổ của tôn giáo đã nói như thế, những vị thánh đã nói như thế, và cũng vậy thỉnh thoảng chính tôi cảm thấy được sự yên lặng tốt lành làm sao, bởi vì cái trí của tôi quá huyên thuyên suốt ngày. Thỉnh thoảng tôi cảm thấy một cái trí an bình, một cái trí yên lặng thật là hạnh phúc và dễ chịu. Ham muốn là phải trải nghiệm sự yên lặng, tôi muốn có một cái trí yên lặng, và thế là tôi hỏi, ‘Làm thế nào tôi có thể có được nó?’ Tôi biết điều gì quyển sách này hay quyển sách kia nói về thiền định, và vô số hình thức của kỷ luật. Vì vậy qua kỷ luật tôi tìm kiếm để trải nghiệm sự yên lặng. Vì vậy cái ngã, ‘cái tôi’, đã tự-thiết lập chính nó trong sự trải nghiệm của yên lặng.
Tôi muốn hiểu rõ sự thật là gì; đó là ham muốn của tôi, ao ước của tôi, kế tiếp là sự chiếu rọi của tôi về điều gì tôi tưởng tượng là sự thật, bởi vì tôi đã đọc nhiều về nó; tôi đã nghe nhiều người kể về nó, những quyển sách tôn giáo đã diễn tả nó. Tôi muốn tất cả điều đó. Việc gì xảy ra? Chính mong muốn đó, chính ao ước đó được chiếu rọi, và tôi trải nghiệm bởi vì tôi công nhận sự vật được chiếu rọi đó. Nếu tôi không công nhận nó, tôi sẽ không gọi nó là sự thật. Tôi công nhận nó và tôi trải nghiệm nó; và trải ngiệm đó củng cố sức mạnh cho cái ngã, cho ‘cái tôi’, đúng chứ? Vì vậy cái tôi trở nên mạnh mẽ hơn trong trải nghiệm. Sau đó bạn nói ‘Tôi biết’, ‘vị Thầy tồn tại’, ‘có Thượng đế’ hay ‘không có Thượng đế’; bạn nói rằng một hệ thống chính trị đặc biệt là đúng và những cái khác đều sai.
Vì vậy trải nghiệm luôn luôn đang củng cố ‘cái tôi’. Bạn càng gắn bó với trải nghiệm của bạn nhiều bao nhiêu, cái tôi càng được củng cố nhiều thêm bấy nhiêu. Vì vậy bạn có một sức mạnh nào đó của nhân cách, sức mạnh nào đó của hiểu biết, của niềm tin, mà bạn phô diễn cho những người khác, bởi vì bạn biết họ không thông minh như bạn, và bởi vì bạn có tài năng của viết lách hay của thuyết giảng và bạn đang bày trò gian trá. Bởi vì cái tôi vẫn còn đang hành động, vì thế những niềm tin của bạn, những vị Thầy của bạn, những giai cấp của bạn, hệ thống kinh tế của bạn, tất cả đều là qui trình của cô lập, và thế là chúng mang lại sự đấu tranh. Bạn phải, nếu bạn nghiêm túc hay khẩn thiết trong điều này, xóa sạch hoàn toàn cái trung tâm này và không bênh vực nó. Đó là lý do tại sao chúng ta phải hiểu rõ qui trình của trải nghiệm.
Liệu có thể cho cái trí, cho cái tôi, không chiếu rọi, không ham muốn, không trải nghiệm? Chúng ta thấy rằng tất cả những trải nghiệm của cái tôi là một tiêu cực, một hủy hoại, và tuy nhiên chúng ta lại gọi chúng là hành động tích cực, đúng chứ? Đó là điều gì chúng ta gọi là cách sống tích cực. Đối với bạn, xóa sạch toàn qui trình này là tiêu cực. Liệu bạn đúng đắn trong việc đó? Liệu chúng ta, bạn và tôi, như những cá thể, có thể thâm nhập tận gốc rễ của nó và hiểu rõ qui trình của cái tôi? Bây giờ điều gì tạo ra sự tan biến của cái tôi? Tôn giáo và những nhóm khác đã cống hiến sự đồng hóa, phải không? ‘Hãy tự-đồng hóa chính bạn cùng cái gì đó vĩ đại hơn, và cái tôi tan biến’, là điều gì họ nói. Nhưng chắc chắn sự đồng hóa vẫn còn là qui trình của cái tôi; đơn giản cái vĩ đại hơn chỉ là sự chiếu rọi của ‘cái tôi’, và thế là củng cố ‘cái tôi’.
Chắc chắn, tất cả những hình thức khác nhau của kỷ luật, niềm tin và hiểu biết chỉ củng cố cái tôi. Liệu chúng ta có thể tìm ra một yếu tố mà sẽ xóa sạch cái tôi? Hay đó là một câu hỏi sai lầm? Theo căn bản, đó là điều gì chúng ta muốn. Chúng ta muốn tìm ra điều gì đó mà sẽ xóa sạch ‘cái tôi’, đúng chứ? Chúng ta nghĩ có vô số phương tiện, gọi tên được, đồng hóa, niềm tin, vân vân; nhưng tất cả chúng đều ở cùng mức độ; cái này không cao quý hơn cái kia, bởi vì tất cả chúng đều có sức mạnh bằng nhau trong việc củng cố cái ngã, ‘cái tôi’. Vì vậy liệu tôi có thể thấy ‘cái tôi’ bất kỳ nơi nào nó vận hành, và thấy sức mạnh và năng lượng hủy hoại của nó? Dù có lẽ tôi cho nó bất kỳ cái tên nào, nó là một sức mạnh gây cô lập, nó là một sức mạnh gây hủy diệt, và tôi muốn tìm ra một phương cách để giải quyết nó. Bạn chắc đã hỏi điều này cho chính bạn – “Tôi thấy ‘cái tôi’ luôn luôn đang vận hành và luôn luôn mang lại lo âu, sợ hãi, thất vọng, tức giận, đau khổ, không chỉ cho chính tôi mà còn cho tất cả những người quanh tôi. Liệu cái tôi đó có thể được xóa sạch, không phải từng phần nhưng toàn bộ?” Liệu chúng ta có thể thâm nhập tận gốc rễ của nó và xóa sạch nó? Đó là cách vận hành đúng đắn duy nhất, phải không? Tôi không muốn thông minh từng phần nhưng thông minh trong một trạng thái hòa hợp. Hầu hết chúng ta đều thông minh trong những khía cạnh khác nhau, bạn có thể thông minh trong một khía cạnh này và tôi trong một khía cạnh khác nào đó. Một số các bạn thông minh trong việc kinh doanh, một số khác trong văn phòng làm việc của các bạn, và vân vân; người ta thông minh trong nhiều lãnh vực khác nhau; nhưng chúng ta không thông minh một cách hòa hợp. Thông minh một cách hòa họp có nghĩa hiện diện không có cái tôi. Liệu có thể được không?
Liệu lúc này cái tôi có thể hoàn toàn tan biến? Bạn biết là nó có thể. Những yếu tố cần thiết, những bắt buộc cần thiết là gì? Yếu tố nào tạo ra nó? Tôi có thể tìm ra nó không? Khi tôi đặt ra câu hỏi đó, ‘Tôi có thể tìm ra nó không?’ chắc chắn tôi được thuyết phục rằng có thể được; thế là tôi đã tạo ra một trải nghiệm mà trong đó cái tôi sắp sửa được củng cố, đúng chứ? Hiểu rõ về cái tôi cần đến nhiều thông minh, nhiều cảnh giác, tỉnh táo, quan sát không ngừng nghỉ, để cho nó không len lẻn trốn thoát. Tôi, người rất khẩn thiết muốn xóa sạch cái tôi. Khi tôi đưa ra câu hỏi đó, tôi biết cái tôi có thể xóa sạch được. Khoảnh khắc tôi nói rằng ‘Tôi muốn làm tan biến cái này’, trong đó vẫn còn có đang trải nghiệm của cái tôi; và thế là cái tôi được củng cố. Vậy thì làm thế nào cái tôi có thể không-trải nghiệm? Người ta có thể thấy rằng trạng thái của sáng tạo không là sự trải nghiệm của cái tôi. Sáng tạo hiện diện khi cái tôi không còn; bởi vì sáng tạo không thuộc trí năng, không thuộc cái trí, không tự chiếu rọi, sáng tạo là cái gì đó vượt khỏi tất cả trải nghiệm. Vì vậy liệu cái trí có thể hoàn toàn yên lặng, trong một trạng thái của không-công nhận hay không-trải nghiệm, trong một trạng thái mà sáng tạo có thể hiện diện, mà có nghĩa khi cái tôi không còn ở đó, khi cái tôi vắng mặt? Vấn đề là điều này, phải không? Bất kỳ chuyển động nào của cái trí, tích cực hay tiêu cực, thật ra là một trải nghiệm củng cố ‘cái tôi’. Liệu cái trí có thể không-công nhận? Điều đó chỉ có thể xảy ra khi có sự yên lặng hoàn toàn, nhưng không phải sự yên lặng mà là một trải nghiệm của cái tôi và vì vậy củng cố cái tôi.
Liệu có một thực thể tách khỏi cái tôi, và nhìn vào cái tôi và làm tan biến cái tôi? Liệu có một thực thể tinh thần vĩ đại hơn cái tôi và hủy diệt cái tôi, xóa sạch cái tôi? Chúng ta nghĩ là có, đúng chứ? Hầu hết những người tôn giáo đều nghĩ rằng, có một thực thể như thế. Những người theo chủ nghĩa vật chất lại nói rằng, ‘Cái tôi không thể xóa sạch được; nó chỉ có thể bị quy định và bị kiềm hãm – thuộc chính trị, thuộc kinh tế, và thuộc xã hội; chúng ta có thể giam cầm nó trong một khuôn mẫu nào đó và chúng ta có thể định hình nó; và thế là nó có thể được uốn nắn để theo một sống cao quý hơn, một sống đạo đức hơn, và không can thiệp bất kỳ việc gì nhưng tuân theo khuôn mẫu xã hội và vận hành chỉ như một cái máy’. Chúng ta biết điều đó. Còn có những người khác, những người tạm gọi là tôn giáo – thật ra họ không là tôn giáo, mặc dù chúng ta gọi họ như thế – nói rằng, ‘Theo căn bản, có một thực thể như thế. Nếu chúng ta có thể tiếp xúc nó, nó sẽ làm tan biến cái tôi’.
Liệu có một thực thể như thế sẽ làm tan biến cái tôi? Làm ơn hãy nhìn thấy điều gì chúng ta đang làm. Chúng ta đang dồn ép cái tôi vào một góc. Nếu bạn để cho chính bạn bị dồn ép vào một góc, bạn sẽ thấy điều gì sẽ xảy ra. Chúng ta thích có một yếu tố mà không-thời gian, không thuộc cái tôi, mà, chúng ta hy vọng, sẽ hiện xuống và làm trung gian và xóa sạch cái tôi – mà chúng ta gọi là Chúa. Bây giờ liệu có một sự việc như thế mà cái trí có thể hình thành? Có lẽ có hay có lẽ không có; đó không là mấu chốt. Nhưng khi cái trí tìm kiếm một trạng thái tinh thần không-thời gian mà sẽ hành động với mục đích xóa sạch cái tôi, liệu đó không là một hình thức khác của trải nghiệm mà đang củng cố ‘cái tôi’ hay sao? Khi bạn tin tưởng, liệu đó không là điều gì thực sự đang xảy ra? Khi bạn tin tưởng rằng có sự thật, Thượng đế, trạng thái không-thời gian, bất tử, đó không là qui trình của củng cố cái tôi hay sao? Cái tôi đã chiếu rọi sự việc đó mà bạn cảm thấy và tin tưởng sẽ hiện xuống và xóa sạch cái tôi. Vì vậy, khi đã chiếu rọi ý tưởng của sự tiếp tục trong trạng thái không-thời gian như một thực thể tinh thần, bạn có một trải nghiệm; và một trải nghiệm như thế chỉ củng cố thêm cái tôi; và thế là bạn đã làm gì? Thật ra bạn đã không xóa sạch cái tôi nhưng chỉ cho nó một danh tánh khác, một chất lượng khác; cái tôi vẫn còn đó, bởi vì bạn đã trải nghiệm nó. Vẫn vậy hành động của chúng ta từ khi bắt đầu cho đến kết thúc là cùng hành động, chỉ là chúng ta nghĩ nó đang tiến hóa, đang tăng trưởng, đang trở thành tốt lành nhiều hơn và nhiều hơn; nhưng, nếu bạn quan sát phía bên trong, nó là cùng hành động đang xảy ra, cùng ‘cái tôi’ đang vận hành ở những mức độ khác nhau với những nhãn hiệu khác nhau, những danh tánh khác nhau.
Khi bạn thấy toàn qui trình, những sáng chế kỳ quặc, ma mãnh, sự khôn ngoan của cái tôi, cách nó tự-che đậy chính nó qua đồng hóa, qua đạo đức, qua trải nghiệm, qua niềm tin, qua hiểu biết; khi bạn thấy rằng cái trí đang chuyển động trong cái vòng tròn, trong một cái cũi của sự tạo tác riêng của nó, điều gì xảy ra? Khi bạn nhận biết được nó, khi bạn hoàn toàn thấy được nó, vậy thì bạn không trở nên yên lặng lạ thường – không qua ép buộc, không qua bất kỳ phần thưởng, không qua bất kỳ sợ hãi nào, hay sao? Khi bạn nhận ra rằng, mỗi chuyển động của cái trí chỉ là một hình thức để củng cố cái tôi, khi bạn nhìn ngắm nó, thấy nó, khi bạn hoàn toàn tỉnh thức được nó trong hành động, khi bạn đến được mấu chốt đó – không thuộc học thuyết, không thuộc từ ngữ, không qua trải nghiệm được chiếu rọi, nhưng khi bạn thực sự trong trạng thái đó – vậy thì bạn sẽ thấy rằng cái trí, hoàn toàn yên lặng, không còn khả năng tạo tác. Bất kỳ điều gì cái trí tạo ra đều ở trong một vòng tròn, trong lãnh vực của cái tôi. Khi cái trí không còn tạo tác có sáng tạo, mà không là một qui trình công nhận.
Sự thật, chân lý không thể được công nhận. Muốn sự thật hiện diện, niềm tin, hiểu biết, trải nghiệm, theo đuổi đạo đức – tất cả điều này phải biến mất. Con người đạo đức mà ý thức được sự theo đuổi đạo đức không bao giờ có thể tìm ra sự thật. Anh ấy có lẽ là một con người rất ngay thẳng; nhưng điều đó hoàn toàn khác hẳn là một con người của sự thật, một con người mà hiểu rõ. Đối với con người của sự thật, sự thật đã hiện diện. Một người đạo đức là một người chính trực, và một người chính trực không bao giờ hiểu rõ sự thật là gì, bởi vì đối với anh ấy đạo đức là che đậy cái tôi, củng cố cái tôi, bởi vì anh ấy đang theo đuổi đạo đức. Khi anh ấy nói, ‘Tôi phải không có tham lam’, trạng thái không-tham lam mà anh ấy trải nghiệm chỉ củng cố thêm cái tôi. Đó là lý do tại sao rất quan trọng phải ‘nghèo khó’, không chỉ trong những sự việc của thế giới, nhưng cũng còn trong niềm tin và trong hiểu biết. Một con người giàu có của cải thuộc thế giới trần tục hay một con người dư thừa hiểu biết và niềm tin sẽ không bao giờ biết bất kỳ thứ gì ngoại trừ bóng tối, và sẽ là trung tâm của tất cả ma mãnh lẫn đau khổ. Nhưng nếu bạn và tôi, như những cá thể, có thể thấy toàn sự vận hành của cái tôi, vậy thì chúng ta sẽ biết tình yêu là gì. Tôi bảo đảm với bạn rằng đó là sự đổi mới duy nhất mà có thể thay đổi được thế giới. Tình yêu không thuộc cái tôi. Cái tôi không thể nhận ra tình yêu. Bạn nói rằng ‘Tôi thương yêu’; nhưng ngay lúc đó, trong chính đang nói về nó, trong chính đang trải nghiệm về nó, tình yêu không hiện diện. Nhưng, khi bạn biết tình yêu, cái tôi không còn. Khi có tình yêu, cái tôi không hiện diện.
Chương 10:
SỢ HÃI
Sợ hãi là gì? Sợ hãi chỉ hiện diện trong liên hệ với cái gì đó, không phải trong tách rời. Làm thế nào tôi có thể sợ hãi về chết, làm thế nào tôi có thể sợ hãi một điều gì đó mà tôi không biết? Tôi chỉ có thể sợ hãi về điều gì tôi biết. Khi tôi nói rằng tôi sợ hãi về chết, liệu tôi thực sự sợ hãi về cái không biết được, mà là chết, hay tôi thực sự sợ hãi về mất đi cái gì tôi đã biết? Sợ hãi của tôi không phải về chết, nhưng về mất mát sự kết giao của tôi với những sự việc đang thuộc về tôi. Luôn luôn sợ hãi của tôi liên quan với cái đã được biết, không phải với cái không biết được.
Lúc này, sự tìm hiểu của tôi là làm thế nào được tự do khỏi sợ hãi về cái đã được biết, mà là sợ hãi của mất đi gia đình tôi, danh tiếng của tôi, nhân cách của tôi, tài khoản ngân hàng của tôi, những ham muốn vật chất của tôi và vân vân. Bạn có lẽ nói rằng sợ hãi sinh ra từ lương tâm; nhưng lương tâm của bạn được hình thành bởi tình trạng bị quy định của bạn, vì vậy lương tâm vẫn còn là kết quả của cái đã được biết. Tôi biết cái gì? Hiểu biết là có những ý tưởng, có những quan điểm về những sự việc, có một ý thức của sự tiếp tục do bởi liên quan đến cái đã được biết, và không còn gì thêm nữa. Những ý tưởng là những kỷ niệm, kết quả của trải nghiệm, mà là phản ứng đến thách thức. Tôi sợ hãi về cái đã được biết, mà có nghĩa tôi sợ hãi về mất mát con người, những sự vật sự việc hay những ý tưởng, tôi sợ hãi về phát giác tôi là gì, sợ hãi về bị lạc lõng, sợ hãi về đau khổ mà có thể xảy ra khi tôi bị mất mát, hay không có được, hay không còn vui thú nữa.
Có sợ hãi về đau khổ. Sự đau đớn thuộc thân thể là một phản ứng thần kinh, nhưng sự đau khổ tâm lý nảy sinh khi tôi bám vào những sự việc mà cho tôi sự thỏa mãn, bởi vì lúc đó tôi sợ hãi bất kỳ người nào hay bất kỳ cái gì mà có thể tước đoạt chúng khỏi tôi. Những tích lũy thuộc tâm lý chặn đứng sự đau khổ tâm lý chừng nào chúng còn không gây xáo trộn; đó là, tôi là một mớ tạp nhạp của những tích lũy, những trải nghiệm, mà ngăn cản bất kỳ hình thức nghiêm trọng nào của xáo trộn – và tôi không muốn bị xáo trộn. Vì vậy tôi sợ hãi về bất kỳ ai gây xáo trộn chúng. Vẫn vậy, sợ hãi của tôi là về cái đã được biết, tôi sợ hãi về những tích lũy, thuộc vật chất hay tâm lý, mà tôi đã thâu lượm như một phương tiện để chặn đứng đau khổ hay ngăn cản phiền muộn. Nhưng đau khổ ở trong chính qui trình của sự tích lũy để ngăn cản sự đau khổ thuộc tâm lý. Hiểu biết cũng giúp đỡ phòng ngừa sự đau khổ. Giống như hiểu biết về y khoa giúp đỡ phòng ngừa sự đau đớn thuộc thân thể, vì vậy những niềm tin giúp đỡ phòng ngừa sự đau khổ thuộc tâm lý, và đó là lý do tại sao tôi sợ hãi về mất mát những niềm tin của tôi, mặc dầu tôi không có sự hiểu biết hoàn hảo hay chứng cớ cụ thể về sự thật của những niềm tin đó. Tôi có lẽ phủ nhận một số niềm tin truyền thống mà đã ép buộc tôi phải chấp nhận, bởi vì trải nghiệm riêng của tôi tạo cho tôi sức mạnh, sự tự tin, sự hiểu biết; nhưng những niềm tin như thế và sự hiểu biết mà tôi đã thâu lượm đều giống hệt nhau, một cách cơ bản – một phương tiện để ngăn cản sự đau khổ. 
Sợ hãi tồn tại chừng nào còn có sự tích lũy về cái đã được biết, mà tạo ra sợ hãi của mất mát. Vì vậy thật ra, sợ hãi về cái không biết được là sợ hãi về mất mát cái đã được biết đã tích lũy. Luôn luôn sự tích lũy có nghĩa sợ hãi, mà phản hồi là đau khổ. Và khoảnh khắc tôi nói, ‘Tôi không được mất mát’, có sợ hãi. Mặc dù ý định của tôi trong tích lũy là chặn đứng đau khổ, chính sự đau khổ lại đã có sẵn trong qui trình của tích lũy. Chính những sự việc mà tôi đã tạo ra sợ hãi, đó là đau khổ. 
Hạt giống của sự phòng vệ mang lại đối kháng. Tôi muốn sự an toàn vật chất; vì vậy tôi tạo ra một chính phủ chuyên quyền, mà phải có lực lượng quân đội, mà có nghĩa chiến tranh, mà hủy diệt sự an toàn. Bất kỳ nơi nào có sự ham muốn cho tự-phòng vệ, có sợ hãi. Khi tôi thấy ảo tưởng của sự đòi hỏi an toàn, tôi không còn tích lũy nữa. Nếu bạn nói rằng bạn thấy nó nhưng bạn không thể cưỡng lại sự tích lũy, đó là do bởi bạn không thực sự thấy rằng, đã có sẵn rồi, trong sự tích lũy có đau khổ. 
Sợ hãi tồn tại trong qui trình tích lũy, và niềm tin trong cái gì đó là bộ phận của qui trình tích lũy. Con trai tôi chết, và tôi tin tưởng vào việc đầu thai để ngăn cản tôi, thuộc tâm lý, không có thêm nhiều đau khổ; nhưng, trong chính qui trình của tin tưởng, có ngờ vực. Phía bên ngoài tôi tích lũy những sự vật, và mang lại chiến tranh; phía bên trong tôi tích lũy những niềm tin, và mang lại đau khổ. Vì vậy chừng nào tôi còn muốn được an toàn, có những tài khoản ngân hàng, những vui thú và vân vân, chừng nào tôi còn muốn trở thành cái gì đó, thuộc sinh lý hay tâm lý, phải có đau khổ. Chính những sự việc tôi đang làm để ngăn cản đau khổ mang lại cho tôi sợ hãi, đau khổ.
Sợ hãi hiện diện khi tôi ham muốn ở trong một khuôn mẫu đặc biệt. Sống không-sợ hãi có nghĩa sống không-một khuôn mẫu đặc biệt. Khi tôi đòi hỏi một cách sống đặc biệt, trong chính đòi hỏi đó là một nguồn của sợ hãi. Khó khăn của tôi là ham muốn được sống trong một cái khung nào đó của tôi. Tôi không thể phá vỡ cái khung đó hay sao? Tôi có thể phá vỡ, chỉ khi nào tôi thấy sự thật: rằng cái khung đang gây ra sợ hãi, và rằng sợ hãi này đang củng cố cái khung. Nếu tôi nói tôi phải phá vỡ cái khung bởi vì tôi muốn được tự do khỏi sợ hãi, vậy thì tôi chỉ đang tuân theo một khuôn mẫu khác mà sẽ gây nhiều sợ hãi thêm nữa. Bất kỳ hành động nào của tôi được đặt nền tảng trên ham muốn phá vỡ cái khung, sẽ chỉ tạo ra khuôn mẫu khác, và thế là sợ hãi. Làm thế nào tôi phá vỡ cái khung mà không gây ra sợ hãi, đó là không có bất kỳ hành động ý thức hay không-ý thức của tôi liên quan đến nó? Điều đó có nghĩa tôi không được hành động, tôi không được chuyển động để phá vỡ cái khung. Điều gì xảy ra cho tôi khi tôi chỉ nhìn ngắm cái khung mà không làm bất kỳ điều gì về nó? Tôi thấy rằng chính cái trí là cái khung, cái khuôn mẫu; nó sống trong một khuôn mẫu thuộc thói quen mà nó đã tạo ra cho chính nó. Vì vậy, chính cái trí là sợ hãi. Bất kỳ điều gì cái trí thực hiện đều hướng về sự củng cố một khuôn mẫu cũ kỹ hay sự hình thành một khuôn mẫu mới mẻ. Điều này có nghĩa bất kỳ điều gì cái trí thực hiện để loại bỏ sợ hãi đều gây ra sợ hãi. 
Sợ hãi tìm được vô số những tẩu thoát. Vô số tẩu thoát thông thường là sự đồng hóa, phải không? – đồng hóa với quốc gia, với xã hội, với một ý tưởng. Bạn không nhận thấy cách bạn phản ứng khi bạn xem một cuộc diễu hành, một cuộc duyệt binh hay một đám rước tôn giáo, hay khi quốc gia đang gặp hiểm họa xâm lăng hay sao? Lúc đó bạn tự-đồng hóa chính mình với quốc gia, với một con người, với một học thuyết. Có những thời gian khác khi bạn đồng hóa chính bạn với người con của bạn, với người vợ của bạn, với một hình thức đặc biệt của hành động, hay không-hành động. Đồng hóa là một qui trình của tự-quên lãng. Vì vậy chừng nào tôi còn ý thức được ‘cái tôi’, tôi biết có đau khổ, có đấu tranh, có sợ hãi liên tục. Nhưng nếu tôi có thể tự-đồng hóa chính tôi với cái gì đó to tát hơn, với cái gì đó cao quý hơn, với vẻ đẹp, với sự sống, với sự thật, với niềm tin, với hiểu biết, ít ra là tạm thời, có một tẩu thoát khỏi ‘cái tôi’, phải không? Nếu tôi nói về ‘quốc gia của tôi’, tạm thời tôi quên bẵng chính tôi, phải không? Nếu tôi có thể nói một cái gì đó về Thượng đế, tôi quên bẵng chính tôi. Nếu tôi có thể tự-đồng hóa chính tôi với gia đình của tôi, với một nhóm người, với một đảng phái đặc biệt, với một học thuyết nào đó, vậy thì có một tẩu thoát tạm thời.
Vì vậy sự đồng hóa là một hình thức tẩu thoát khỏi cái tôi, thậm chí giống như đạo đức là một hình thức tẩu thoát khỏi cái tôi. Con người mà theo đuổi đạo đức đang tẩu thoát khỏi cái tôi và anh ấy có một cái trí hẹp hòi. Đó không là cái trí đạo đức, vì đạo đức là cái gì đó không thể được theo đuổi. Bạn càng cố gắng trở thành đạo đức nhiều bao nhiêu, bạn càng củng cố sức mạnh cho cái ngã, cho ‘cái tôi’ nhiều bấy nhiêu. Sợ hãi, mà phổ biến với tất chúng ta trong nhiều hình thức khác nhau, phải luôn luôn tìm ra một vật thay thế và vì vậy phải làm gia tăng sự đấu tranh của chúng ta. Bạn càng đồng hóa với một thay thế thâm sâu bao nhiêu, sức mạnh bám chặt thay thế đó để sẵn sàng đấu tranh, để sẵn sàng chết càng mãnh liệt bấy nhiêu, bởi vì sợ hãi ở ngay sau lưng.
Lúc này, liệu chúng ta biết sợ hãi là gì? Nó không là sự không-chấp nhận cái gì là, hay sao? Chúng ta phải hiểu rõ từ ngữ ‘chấp nhận’. Tôi không đang sử dụng từ ngữ đó trong ý nghĩa thực hiện nỗ lực để chấp nhận. Không có vấn đề của chấp nhận khi tôi nhận biết được cái gì là. Khi tôi không thấy rõ ràng cái gì là, vậy thì tôi mang vào qui trình của chấp nhận. Vì vậy sợ hãi là sự không-chấp nhận cái gì là. Làm thế nào tôi, mà là một mớ tạp nhạp của tất cả những phản ứng, những đáp trả, những ký ức, những hy vọng, những trầm uất, những tuyệt vọng này, mà là hậu quả của chuyển động của ý thức ‘bị tắc nghẽn’, có thể vượt khỏi? Liệu cái trí, không-tắc nghẽn và không-cản trở này, có thể nhận biết được? Chúng ta biết, khi không-tắc nghẽn, có hân hoan lạ thường. Bạn biết, khi thân thể hoàn toàn khỏe mạnh có một hân hoan, một hạnh phúc nào đó; và bạn biết, khi cái trí hoàn toàn được tự do, không có bất kỳ cản trở nào, khi trung tâm của sự công nhận như ‘cái tôi’ không hiện diện ở đó, bạn trải nghiệm một hân hoan nào đó? Bạn đã không trải nghiệm trạng thái này khi cái tôi không còn, hay sao? Chắc chắn chúng ta đều đã trải nghiệm.
Có hiểu rõ và tự do khỏi cái tôi chỉ khi nào tôi nhìn ngắm nó trọn vẹn và hòa hợp như một ‘tổng thể’; và tôi có thể làm điều đó chỉ khi nào tôi hiểu rõ toàn qui trình của tất cả hoạt động được sinh ra từ ham muốn mà chính là sự diễn tả của tư tưởng - bởi vì tư tưởng không khác biệt ham muốn - mà không bênh vực nó, không chỉ trích nó, không kiềm chế nó; nếu tôi có thể hiểu rõ điều đó, vậy thì tôi sẽ biết liệu có thể thoát khỏi những kiềm chế của cái tôi?.
Krishnamurti
Ông Không dịch
Theo http://anphat.org/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...