Nhân cách văn hóa trong ứng xử với đối tượng nghệ thuật - Văn hóa nhân gian: Con người - Sự nghiệp...
Đây là tham luận của ông Hải Liên
(Ninh Thuận) tại đại hội Hội Văn Nghệ dân gian Việt Nam vừa qua tại Hội
trường bảo tàng HCM- Hà Nội. Bài viết quyết liệt, đau đớn, chỉ ra những vệt đen
của việc tổ chức các lễ hội dân gian VN, thực ra nó là chuyện... tiền, là chuyện
chạy chọt kiếm chác, đến nỗi thầy trò cùng là NSND phải lôi nhau lên báo bôi
nhau, đến nỗi ông Ksor Phước yêu cầu QH giám sát chính phủ việc tưng bừng mở lễ
hội, chen nhau xem pháo hoa và kẻ khẩu hiệu sai bét nhè, bắt lính Trung Quốc bồng
súng dưới cờ VN... Đọc mà đau, mà xót, và hụt hẫng, rồi lo, cứ đà này rồi sẽ
như thế nào với di sản, với dân tộc và với nhân dân...
Post lên đây một đoạn trích như là sự cộng hưởng với ông Hải Liên, người lính già mà trái tim ngùn ngụt lửa, dù nó đụng đến cả 1 bác thứ trưởng... Nguồn: blog Văn Công Hùng
Kính thưa quý vị đại biểu và các bạn. Với thời lượng cho phép
được nói 10 phút, tôi chỉ xin được nói hai ý của một điều đã trải qua trong quá
khứ gần: Một cần phải kịch liệt phản đối, ngăn chặn, một cần phải tôn vinh,
phát huy.
Ý thứ nhất tôi muốn nói là: Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều
Nghị quyết về lĩnh vực văn hóa - văn nghệ, về bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc
và Hội của chúng ta trong những năm qua đã lặng lẽ, âm thầm, cố gắng hết mình,
góp phần thực hiện hóa những NQ ấy với chức năng, nhiệm vụ của mình. Thế nhưng
cùng trong một hàng trận văn - hóa, lại có sự đối đầu ngược chiều với chúng ta,
những điều mắt thấy, tai nghe trong những ngày qua không thể không kịch liệt
lên án, loại trừ. Vì nếu làm ngơ, chúng ta sẽ tự phủ định chính mình. Đó là sự
lợi dụng về văn hóa dân gian của các tộc người để kiếm tiền qua quảng bá du lịch
hoặc là đạo diễn, dàn dựng các chương trình lễ hội dân gian:
- Ở Hội An trong dịp kỷ niệm 100 năm phát hiện thánh địa Mỹ
Sơn, không biết Hội An đã mời ông đạo diễn và biên đạo múa nào dàn dựng chương
trình múa Chăm, có đoạn đưa ra hình tượng song đôi, công chúa Huyền Trân và Chế
Mân như một đám cưới Chăm - Việt để gọi là "đoàn kết dân tộc". Họ cho
2 thanh niên ăn vận quần áo, chít khăn chẳng biết là dân tộc nào, mỗi người đeo
qua vai một chiếc trống dài hình quả bí trắng mà người Chăm gọi là hagăr sit,
ra trước cô dâu, chú rể vỗ trống liên hồi ngợi ca tình yêu "vượt qua biên
giới".
Thế nhưng họ có biết đâu các nghệ nhân người Chăm chuyên sản
xuất trống kèn ở các làng Chăm không bao giờ dám làm loại trống này nếu không
phải vì mục đích để tấu trong lễ hỏa táng của người Chăm Bàlamôn. Vì thiếu hiểu
biết về nhạc cụ Chăm, vì túi tiền, họ đã đem nhạc cụ lễ tang vào đám cưới Chăm
- Việt, gây nên nhiều nguy hiểm về tâm lý dân tộc, về dư luận xã hội Chăm mà họ
không hề hay biết! Hiện tượng như thế này hầu như ở các điểm du lịch đi đến đâu
chúng ta cũng bắt gặp.
- Vừa qua tại Gia Lai có Festival cồng chiêng quốc tế, tổ chức
hoành tráng, công phu chắc chúng ta đều thấy trên tivi... Thế nhưng chúng tôi,
những đoàn cồng chiêng đến từ các tỉnh đều cảm thấy bị xúc phạm. Tại Quảng trường
khai mạc và bề mạc, người ta dựng 3 sân khấu trung tâm nối dài, sân khấu chính
giữa cao chừng 2m, sân khấu hai bên thấp hơn khoảng 0,5m. Tất cả ánh sáng cực mạnh
của hơn 100 đèn pha chớp nháy xanh, đỏ đều tập trung vào sân khấu trung tâm, đối
diện với quan khách. Đây chính là nơi phô diễn của các tiết mục múa của các
biên đạo trên nền nhạc sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Cường. Ở dưới sàn đất và hai
bên hông sân khấu lớn là nơi dành cho các đoàn mang cồng chiêng của các tộc người
từ các tỉnh đến Gia Lai. Khi các diễn viên Gia Lai nhảy múa trên 3 sân khấu
cao, nhạc của Nguyễn Cường nổi lên, đạo diễn bảo các đoàn ở dưới đất, trong ánh
sáng tù mù, tấu cồng chiêng của mình để hòa nhịp. Thưa các bạn, hòa nhịp làm
sao được. Ví như đoàn Raglai Ninh Thuận đã chọn và luyện tập đổ mồ hôi, sôi nước
mắt dưới mưa bão với những bài nhạc mã la hay nhất như là Atoq ruwơ, Ruwơ
Poriyu Chrao, Atoq Pakruk... có nhịp 3/4 - 12/8 để tham dự liên hoan ở Quảng
trường này nhưng phải bó tay, đành phải "đánh hôi" theo tiết tấu các
bài nhạc tràn lan trên sân khấu lớn, chẳng khác gì một đám "nô lệ"
bên dưới đang tung hô gia chủ đứng trên đầu mình. Ngoài Quảng trường lớn này
còn có 3 công viên dành cho các đoàn trình diễn vào ban ngày. Nhưng công viên
nào cũng chỉ có sân khấu 1 mặt để biểu diễn văn nghệ hiện đại. Đoàn nào mang đi
các trích đoạn lễ hội truyền thống để diễn tấu nhạc lễ cồng chiêng với 1 sàn diễn
4 mặt đều phải "ngậm đắng, nuốt cay", bó mình vào cái sân khấu
"nhạc rock" này! Thế nhưng trong 3 ngày đến diễn tại các công viên,
nghệ nhân các đoàn đông gấp nhiều lần khán giả và chẳng thấy mặt trợ lý đạo diễn
cũng như tổng đạo diễn đâu cả! Cái tội xem thường các tộc người anh em và bè bạn
các nước láng giềng, cái lỗi bắt người ta phải theo mình với quan điểm
"bôi son, trát phấn", "cách tân" làm méo mó NTDG cồng
chiêng hoàn toàn không phải lỗi của các đoàn mà tất cả đều do tác giả kịch bản,
nhạc sĩ, biên đạo múa và cao hơn hơn hết là người chịu trách nhiệm đứng đầu, vừa
đóng vai trò chỉ đạo nghệ thuật lại vừa là tổng đạo diễn của cuộc liên hoan có
tính quốc tế này. Đó là vì tổng đạo diễn từ Hà Nội vào chỉ đạo mọi việc. Đáng
tiếc, đáng buồn và đáng phải nói lên vì đó là vị Thứ trưởng Lê Tiến Thọ của Bộ
VHTT&DL, không ai khác! Phải chăng đây là những biểu hiện ứng xử thuộc về
NHÂN CÁCH của những con người mang danh hiệu "chiến sĩ văn hóa"?
Việc này không phải nhỏ. Từ Đại hội này, tôi xin kiến nghị với
Ban tuyên giáo Trung ương nên mở 1 cuộc hội thảo về bảo tồn di sản - tài sản
văn hóa dân gian của các tộc người như thế nào trong các cuộc liên hoan nghệ
thuật dân gian và qua việc quảng bá du lịch, qua đó đánh giá lại về liên hoan cồng
chiêng quốc tế tại Gia Lai vừa qua.
Kính thưa Đại hội.
Ý thứ hai tôi muốn nói đó là NHÂN CÁCH VĂN HÓA của những người
làm công việc sưu tầm - nghiên cứu, phổ biến và truyền dạy của chúng ta.
Sau chiến tranh, từ 25 năm trở lại đây, nhất là qua 3 nhiệm kỳ
của Hội sau này, tôi vô cùng may mắn và hạnh phúc được làm người hội viên của Hội
VNDG Việt Nam như "chuột rớt vô tĩn nếp" nhà nghèo. Làm người hội
viên của Hội không lương nhưng no đủ về tinh thần, tình nghĩa, làm được nhiều
việc có ích cho đời. Tại sao lại no đủ về tinh thần, tình nghĩa? Vì văn hoá dân
gian là VĂN HÓA MẸ. Được làm việc vì Mẹ, giúp Mẹ, tôn vinh Mẹ là không muốn
mình trở thành đứa con bất hiếu của Người. Vì Hội VNDG chúng ta là Hội tuy có
nhiều học hàm, học vị nhưng là một Hội hiền lành nhất, một Hội cần mẫn, nói ít,
làm nhiều, âm thầm hoạt động nhưng làm được nhiều việc mà vài mươi năm sau những
giá trị đích thực của nó mới phát sáng như hồng ngọc vốn ẩn mình trong bùn,
trong đá vậy.
Hơn thế nữa được làm việc trong Hội VNDG Việt Nam mà
người đại diện là các thành viên trong BCH là được sống với những con người có
NHÂN CÁCH VĂN - HÓA qua ứng xử với con người và sự nghiệp từ TW xuống các địa
phương. Điều này tưởng rất bình thường nhưng nó là một nhân tố quyết định làm
nên kết quả của kế hoạch "Tầm nhìn 2010" và các nhiệm kỳ trước đó. Nội
bộ lãnh đạo mà xa rời cơ sở, "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược", ganh
tị, soi mói lẫn nhau thì ở cơ sở mà đại đa số là những hội viên không lương chỉ
còn biết "ngồi chơi xơi nước", luận bàn thời sự "cấp đôi"
chứ đâu có được như ngày hôm nay. Tổ chức Đại hội mà đến để dành ghế, để choảng
nhau thì đó là hội tề xôi thịt chứ đâu còn là Hội Nguồn Sáng Dân Gian nói ít
làm nhiều như Hội của chúng ta. Đáng mừng là suốt trong mấy chục năm qua Hội của
chúng ta, nhất là các ban chấp hành đã không lây nhiễm những điều đã nói. Tất
nhiên, chúng ta vẫn còn những thiếu sót, hạn chế nhưng chúng ta có quyền tự hào
về cái HỘI DÂN DÃ HIỀN LÀNH mà THẬT THÀ, TỐT BỤNG, TRUNG THỰC NGHĨA TÌNH, ANH
NGÃ EM NÂNG là những tiêu chí không thể thiếu được của những người lãnh đạo và
tất cả hội viên của Hội VNDG Việt Nam của chúng ta.
19/5/2010
Hải Liên
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét