Thứ Hai, 2 tháng 6, 2025

Cánh chim hồng hộc

Cánh chim hồng hộc

Tác giả Hoàng Kiến Bình tên thật là Nguyễn Thanh Bình, sinh sống và làm việc tại Quảng Ninh. Anh từng đạt giải thưởng cuộc thi sáng tác văn học về đề tài công nhân, công đoàn giai đoạn 2021-2023 do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp cùng Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức.
Những truyện ngắn của Hoàng Kiến Bình thường lắt léo, khiến người đọc phải suy ngẫm về giá trị thông điệp tác giả gửi gắm, nhất là những tác phẩm về lịch sử. Truyện ngắn “Cánh chim hồng hộc” là một ví dụ điển hình.
Nhà văn Bùi Tuấn Minh giới thiệu
Đại Việt tháng giêng năm 1285.
Năm mươi vạn quân Nguyên chia làm ba đạo tiến đánh Đại Việt từ hai hướng.
Từ hướng Bắc, quân Nguyên chia làm hai đạo. Đạo chủ lực do Thoát Hoan chỉ huy tiến đánh từ Quảng Tây, qua Lộc Châu. Đạo thứ hai từ Vân Nam tiến qua Tuyên Quang.
Hướng Nam là đạo quân do Toa Đô chỉ huy từ Chiêm Thành tiến vào vùng Bố Chính.
Những ngày đầu quân đông lại hăng máu, thế giặc mạnh như chẻ tre gây tổn thất nặng nề cho quân dân Đại Việt. Nhiều nơi, quân Trần đã vỡ trận, tướng lĩnh bị quân Nguyên bắt và giết. Sau khi đã phá thủng nhiều phòng tuyến, quân Nguyên chia làm sáu mũi ồ ạt tấn công vào ải Nội Bàng – nơi quân Trần tập trung lực lượng chính và có đại bản doanh của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.
Thế nước Đại Việt nguy nan như ngàn cân treo sợi tóc.
Bãi Tân.
Nơi đây, dòng sông Lục Nam nhận được thêm nước từ hai chi lưu lớn bên tả và bên hữu cùng đổ vào tạo thành một vùng nước rộng lớn ngã ba sông. Dòng chảy chậm, địa hình hiểm trở, cây cối rậm rạp thuận tiện cho thuyền quân neo đậu, lui và tiến quân. Chỗ này cách ải Nội Bàng không xa, được Hưng Đạo vương chọn làm căn cứ chặn địch và lui quân theo đường thủy về Vạn Kiếp khi ải Nội Bàng có biến. Ngài đã bố trí một đội thuyền chiến nhỏ cùng một lượng quân tinh nhuệ trực chiến. Chỉ huy đội quân này là Yết Kiêu.
Đêm.
Yết Kiêu ngồi trên mũi thuyền hướng ra phía dòng sông. Màn đêm đen đặc bao trùm xung quanh như che chở cho đội thuyền chiến. Tiếng những đàn cá ăn đêm quẫy mình trên mặt sông, sóng nước vỗ về ôm ấp mạn thuyền. Gió bấc thổi nhẹ, làng quê thái ấp hai bên bờ chìm sâu vào giấc ngủ. Cảnh vật thanh bình quá! Yết Kiêu thốt lên. Cứ như không có chiến trận, hoặc chiến trận đang ở đâu đó xa lắm chứ không phải ngay trong kia, nơi ải Nội Bàng đang bừng bừng lửa cháy. Kể từ lúc Hưng Đạo Đại vương rời thuyền cùng đội kỵ binh vào đại bản doanh, lòng Yết Kiêu lúc nào cũng thấy bất an. Theo hầu Đại vương từ lúc còn thiếu niên tóc để chỏm, được Đại vương dạy dỗ, nghiêm khắc huấn luyện chỉ bảo, chàng ra sức rèn luyện võ thuật, chiến thuật, tu dưỡng. Đặc biệt, chàng có biệt tài bơi lội dưới nước như đi trên mặt đất, lập nhiều chiến công được Đại vương rất tin dùng, cất nhắc từ gia nô lên hàng tướng soái thủy quân. Mồ côi cha từ nhỏ, chàng coi Đại vương như người cha thứ hai của mình. Chàng căm hận lũ giặc Nguyên cướp nước. Bao làng mạc, thái ấp bị đốt cháy cướp phá, bao người dân vô tội bị bắt, giết và hàng ngàn quân sĩ trai tráng Đại Việt đã tử trận. Và cả Đại vương đã đến lúc an hưởng tuổi già, vậy mà vì xã tắc muôn dân vẫn phải băng mình nơi tuyến lửa.
Nhìn các quân sĩ trẻ tranh thủ ngủ trong khoang thuyền sau lúc trực chiến, trên tay vẫn nắm chặt bao gươm và cung tên, Yết Kiêu thấy tuổi trẻ đã qua từ lâu của mình bỗng đâu ùa về.
Những ngày mới theo hầu Đại vương, Yết Kiêu cũng trẻ như các quân sĩ trong kia. Một lần chàng được Đại vương lệnh đem theo một đội quân nhỏ về lộ Hải Đông kết hợp cùng quan quân địa phương dẹp loạn và cũng nhân đó khảo lại địa hình sông ngòi, thế núi để bổ sung vào bản đồ tác chiến. Thuyền từ Vạn Kiếp theo đường thủy xuôi về sông Bạch Đằng mênh mông sóng nước. Hai bên bờ sông những rừng lim xanh um tùm phủ kín các sườn đồi, chạy mãi lên các đỉnh núi phía xa xa. Làng mạc nơi đây vắng vẻ, cư dân thưa thớt.
Trên hành trình ấy, Yết Kiêu đã gặp hai cha con ông lão trên một con thuyền đánh cá nhỏ neo dưới vạt bần um tùm mọc sát mép sông. Chàng ngạc nhiên và không thể tin được ở nơi hoang sơ thâm sơn cùng cốc này lại có một người con gái đẹp đến thế. Mái tóc xoăn dài ôm lấy gương mặt thanh tú cùng làn da nâu dãi dầu sương gió khiến cho cô gái có vẻ đẹp hoang dại. Cô gái tay thoăn thoắt đang ngồi vá lưới. Nhận ra đoàn thuyền quân tiến lại phía mình, nàng thoáng chút bối rối nhưng không sợ sệt, vẫn bình thản làm việc. Cha nàng, lão ngư tuy cao tuổi nhưng vẫn nhanh nhẹn và rất khỏe mạnh, không muốn bị làm phiền liền nhổ neo nhưng khi nghe Yết Kiêu xưng danh đã dừng tay. Chàng mời ông lão lên thuyền, muốn nhờ lão dẫn đi xem xét các ngọn nguồn lạch sông của vùng này. Liền mấy ngày sau đó chàng đã toại nguyện khi được hai cha con nàng Vân dẫn đi thăm thú. Lão ngư cẩn thận cho chàng biết những đoạn sông nông sâu, dòng chảy nào thuận tiện để neo đậu thuyền; thời khắc khi nước ròng, nước rặc theo mùa, tránh cho thuyền bè bị khê cạn, bãi bờ chỗ nào để ém thuyền quân kín đáo nhất, vị trí nào trước đây Ngô vương đã cho đóng cọc gỗ trên sông đánh giặc Nam Hán. Yết Kiêu thấy lạ bởi lão ngư chỉ là một người đánh cá bình thường nhưng rất am hiểu việc quân…
Một đêm, khi chỉ có chàng trên thuyền của lão ngư, trăng thu hạ huyền ẩn hiện trên nền trời thăm thẳm, rượu được rót ra những bát lớn, cá nướng củi than thơm lừng. Ánh đuốc chập chờn gió nước làm cho vẻ đẹp của người con gái như ma mị, chuếnh choáng men say. Yết Kiêu đem những thắc mắc trong lòng hỏi lão ngư. Lão ngư buông bát rượu, gương mặt râu ria sương gió hằn sâu đầy những nếp nhăn, ánh nhìn đăm đăm về phía thượng nguồn, giọng như từ một nơi xa vọng tới. Lão ngư kể rằng thời trai trẻ, lão vốn là quân sĩ thuộc cấp của Phụng Càn vương Trần Liễu, phụ thân của đức Hưng Đạo Đại vương. Năm Đinh Dậu (1237), Trần Thủ Độ đã đưa Thuận Thiên công chúa là vợ của Trần Liễu đang có mang ba tháng vào cung lập làm hoàng hậu vì nhà vua lúc ấy chưa có con nối dõi. Phẫn uất, Trần Liễu họp quân nổi dậy chống lại nhà vua và cũng là em trai mình. Cuộc nổi dậy không thành, Trần Liễu bị Trần Thủ Độ cầm gươm định giết trên thuyền. Lúc đó, nhà vua đã đứng ra che chở cho anh trai nên Trần Liễu mới được tha tội. Nhưng quân lính nổi dậy theo Trần Liễu đều bị giết hết. Lão ngư là một trong số những người chỉ huy các binh sĩ nổi dậy theo Trần Liễu năm đó, bị thương nặng và trong lúc hỗn loạn đã nhảy xuống sông rồi được dòng nước cuốn đi.
Tỉnh dậy, chàng trai thấy mình được cha con người đánh cá ở hạ nguồn cứu. Được họ cưu mang và chữa trị, chàng qua khỏi rồi nên duyên cùng người con gái cứu mình và lưu lạc ra chốn thâm sơn cùng cốc này mưu sinh. Nhiều năm sau, hai vợ chồng mới sinh được mụn con gái nhưng được ba năm thì người vợ mất sau một cơn bạo bệnh, để lại người chồng cùng đứa con gái côi cút giữa dòng đời cuộn chảy. Từ đó, hai cha con nương nhau mà sống.
Kể xong câu chuyện, lão ngư đứng dậy bê bát rượu đầy trên tay ra mạn thuyền tưới xuống dòng sông. Đó là cách lão mời rượu những hương hồn anh em binh sĩ bị giết năm xưa. Rồi lão bảo: “Hôm gặp và biết quan quân là thuộc hạ của Hưng Đạo Đại vương, lão rất mừng. Giúp được gì cho quan quân, lão không tiếc, không giấu.”
Nói đoạn lão ngư gọi con gái. Nàng Vân nãy giờ ngồi lắng nghe câu chuyện giữa cha và vị tướng quân trẻ tuổi. Mặc dù chuyện này nàng đã được nghe nhiều lần nhưng lần nào cũng làm nàng ứa nước mắt. Nàng thương cha già, thương người mẹ vắn số, thương cả chính cuộc sống buồn tẻ của mình lênh đênh sóng nước phù du. Nhưng từ khi vị tướng quân trẻ tuổi xuất hiện, trái tim nàng như ấm lại; nó đập mạnh hơn, vui hơn. Đêm nay được ngồi gần chàng, được ngắm nhìn thân hình tráng kiện cân đối như tạc tượng của người tráng sĩ giỏi võ và bơi lội, được ngắm khuôn mặt khôi ngô tuấn tú của chàng qua ánh đuốc chập chờn, nàng thấy như trong mơ.
Nghe tiếng cha gọi, nàng cầm đuốc tiến lại gần. Lúc này, lão ngư đã cởi dải dây vải thắt lưng, kéo áo xuống để lộ những vết sẹo chằng chịt trên cơ thể. Ánh đuốc chiếu sáng, trên tấm lưng gầy guộc của lão ngư là hình xăm bản đồ một kho báu. Yết Kiêu kinh ngạc, thì ra đây chính là bản đồ mỏ sắt trong vùng mà Đại vương đã dặn dò phải tìm bằng được. Yết Kiêu reo lên: “Có sắt thì sẽ có binh khí trang bị cho quân sĩ đánh giặc. Có sắt bọc vào đầu thì những cọc gỗ đóng dưới lòng sông sẽ lợi hại muôn phần khi gặp thuyền địch…”
Quan quân đã tìm ra mỏ sắt quý giá với sự giúp đỡ của cha con lão ngư. Trong niềm phấn khích, Yết Kiêu quỳ xuống giữa chốn ba quân, cầu xin lão ngư gả nàng Vân cho mình và được đồng ý. Lão ngư rất vui, điều mà lão lo nhất là cô con gái sẽ ra sao khi lão ngày một già yếu. Giờ đây, con gái đã được theo hầu người xứng đáng, việc lớn về mỏ sắt cả đời đau đáu cũng toại nguyện, lão có chết cũng không còn gì hối tiếc.
Trên đường từ mỏ sắt trở về, đoàn thuyền của Yết Kiêu bị bọn phản loạn phục kích. Quân sĩ kịp thời phòng vệ và chống trả. Nhóm phản loạn bị tiêu diệt nhưng cha con lão ngư cùng một số binh sĩ đã tử trận. Chính nàng Vân trong lúc nguy cấp đã liều mình đỡ tên cho người thương, nàng chết trên tay Yết Kiêu. Dành trọn tình yêu cho người đã mất, Yết Kiêu thấy mình không thể mở lòng cùng ai, cho dù nhiều năm trôi qua và có rất nhiều con gái các vương tôn công tử muốn được nâng khăn sửa túi cho chàng…
Bước chân người phó tướng lại gần làm dứt mạch dòng hồi tưởng của Yết Kiêu.
“Bẩm tướng quân, đã hai đêm rồi người không ngủ. Xin hãy nghỉ ngơi và giữ sức khỏe!”
“Ta không sao. Ngươi xem, đã bước sang canh năm, tranh thủ đêm chưa tàn, hãy lệnh cho các quân sĩ lên bãi đốt lửa nấu ăn! Nhớ là phải rút hết quân sĩ xuống thuyền ém vào bãi lau sậy và xóa sạch dấu vết trước khi trời sáng.”
“Tuân lệnh!” – Người phó tướng quay bước.
Nửa đêm về sáng, gió Bấc rít lên từng cơn từ mặt sông đem theo những hạt mưa xuân quất thẳng mặt buốt lạnh thấu xương. Nhìn những quân sĩ cuối cùng rút lên thuyền vào bãi sậy khi bình minh vừa ló rạng, Yết Kiêu thấy lòng có chút nhẹ nhõm. Không lo sao được, sớm nay, khói sương lảng bảng phủ kín mặt sông một lớp dày, không rõ là do mưa mang hơi nước hay khói lửa chiến trận đã lan tới.
Có tiếng ồn ào nơi hàng quân. Người phó tướng bước tới:
“Bẩm tướng quân, có mấy xác chết trôi sông dạt vào bãi, tôi đã lệnh anh em dùng chèo đẩy đi. Sương mù quá không rõ là xác người bên ta hay bên giặc.”
“Dự rằng sẽ còn nhiều xác nữa trong một vài ngày tới. Tin báo về nói trong kia nguy cấp. Thế giặc rất mạnh.”
Đúng như Yết Kiêu dự đoán, càng lúc càng có nhiều xác người chết trôi từ thượng nguồn về. Vào sinh ra tử đã nhiều, coi cái chết tựa lông hồng nhưng khi nhìn thấy xác chết của các quân sĩ rất trẻ trôi sông kia, bất kể họ là quân ta hay quân giặc, Yết Kiêu đều cảm thấy nghẹn lòng, bởi đằng sau mỗi xác chết là hình ảnh của người mẹ già chờ con, người vợ trẻ mong chồng, con thơ gọi cha nơi quê nhà. Đau lòng hơn là xác chết đàn bà và trẻ nhỏ, họ là những người dân Đại Việt vô tội.
Tới chiều, rồi ngày hôm sau vẫn tiếp tục là những xác chết xuôi dòng Lục Nam. Đã có thể thông qua trang phục nhìn rõ những xác chết đó là của quân sĩ Đại Việt hay Nguyên. Rất nhiều xác chết không còn nguyên vẹn. Nhiều cái xác đã bắt đầu trương phình, bốc mùi hôi thối, gọi bầy quạ đen trong rừng kéo tới.
Yết Kiêu như thấy lòng có lửa. Chiến trận đã sắp lan tới đây. Bằng mắt thường cũng có thể nhìn thấy những đám khói đen bốc lên phía đằng xa. Yết Kiêu rất lo cho Đại vương và bộ chỉ huy tác chiến, họ là đầu não chỉ huy cho cuộc chiến chống giặc Nguyên, thành bại đều ở đó cả. Trước đó, Đại vương đã nói với chàng hiện thế giặc đang rất mạnh, quân ta phải tránh đối đầu trực tiếp, đánh không lại, ta sẽ lui binh để bảo toàn lực lượng. Đó là lý do chàng có mặt ở bãi Tân này chờ Đại vương. Theo lý thì Đại vương phải rút khỏi ải Nội Bàng theo đường sông Lục Nam này để về Vạn Kiếp, vậy mà đã quá thượng hoán vẫn chưa thấy tăm hơi. Đã hai ngày nay người lính kỵ binh mà Yết Kiêu lệnh đi dò la tin tức vẫn chưa thấy trở về.
Người phó tướng bước sang thuyền chỉ huy theo lệnh. Yết Kiêu nói với phó tướng:
“Ta e người kỵ binh đưa tin hôm trước đã tử trận. Ta quyết định lệnh thêm người vào ải Nội Bàng nghe ngóng. Tình hình rất nguy cấp, giặc chỉ ngày một ngày hai sẽ tràn tới đây. Chỉ với vài trăm quân sĩ và mươi chiến thuyền nhỏ này, nếu gặp đại quân của chúng, khác gì trứng chọi đá, sẽ bị chúng làm cỏ trong nháy mắt. Ngươi chấn chỉnh quân sĩ, chuẩn bị sẵn sàng cùng họ rút quân về Vạn Kiếp.”
“Còn tướng quân thì sao?” – Người phó tướng lo lắng.
“Ta đã chọn một chiến thuyền nhỏ nhất cùng mươi quân sĩ tinh nhuệ, họ đều là những tay chèo giỏi nhất, ở lại để chờ Đại vương. Phòng khi Đại vương rút lui theo đường núi về Vạn Kiếp thì với chiến thuyền nhỏ, ta sẽ đóng giả làm thuyền buôn dễ bề tẩu thoát. Trường hợp giặc Nguyên tràn tới, ta và đám quân sĩ sẽ chiến đấu tới hơi thở cuối cùng. Như vậy sẽ tránh cho hàng trăm quân sĩ không bị thiệt mạng.”
“Tướng quân, chúng tôi không cam lòng, nguyện ở lại chờ Đại vương, nếu phải chết sẽ cùng chết.” – Người phó tướng quỳ xuống.
“Đây là việc quân, là mệnh lệnh.” – Yết Kiêu quát to.
Đúng lúc ấy người kỵ binh dắt ngựa tới, quỳ nghe lệnh. Yết Kiêu bước xuống bãi:
“Ngươi vào ải Nội Bàng tìm hiểu tình hình. Truyền tin của ta cho Đại vương nếu gặp, rồi về ngay báo ta biết. Nếu như ải đã vỡ, tình hình hỗn loạn, hoặc đi giữa đường gặp giặc phải quay về ngay để bảo toàn tính mạng.”
“Bẩm, tuân lệnh!”
Yết Kiêu tự tay đỡ người lính kỵ binh lên ngựa. Bóng người ngựa thoáng chốc khuất trong ánh hoàng hôn.
Bóng tối đã loang khắp bãi sông. Yết Kiêu nhìn ra mặt sông đen thẫm; tiếng nước cuộn chảy dưới mạn thuyền. Từng luồng gió bấc thổi mạnh đem theo cái lạnh tê tái. Giấc ngủ chập chờn ập tới. Yết Kiêu thấy mình cùng nàng Vân trên một chiếc thuyền nhỏ được gió đưa đi dọc sông. Nàng Vân ngồi trước mũi thuyền hướng ra mặt sông phía trước, mái tóc xoăn bồng bềnh trong gió, nụ cười ngọt lịm bờ môi. Thỉnh thoảng, nàng quay lại ngắm nhìn người thương với vòm ngực nở nang sau lớp vải áo cùng cánh tay rắn chắc đặt nơi bao gươm, ánh mắt nhìn nàng đầy yêu thương che chở. Gió đưa thuyền đến một bến sông nơi những cây gạo nở hoa đỏ rực một góc trời. Hai người nhặt đầy một thuyền hoa. Loáng cái nàng Vân đã lấy dây tết được vòng dây hoa quàng lên cổ người thương. Yết Kiêu ngất ngây. Thuyền tiếp tục đi đến một nơi lạ lắm, càng đi càng thấy hun hút bởi cây cối rậm rạp hai bên, bãi bờ xanh rì lau sậy. Yết Kiêu muốn quay lại nhưng nàng Vân kiên quyết không dừng chèo. Cuối cùng, họ đến một bến sông hoang vắng. Đột nhiên, những cơn mưa tên từ đâu bay tới khiến họ tối tăm mặt mũi. Tiếng vó ngựa đuổi bắt, tiếng binh khí va chạm nhau nghe lạnh gáy. Khói lửa ngập trời. Rồi từ trong khói lửa, Đại vương và đoàn kỵ binh xuất hiện. Yết Kiêu mừng rỡ chào đón đoàn quân, quay lại đã thấy nàng Vân vút bay lên không trung, chàng chỉ kịp thấy ánh đỏ của vòng hoa gạo lập lòe rồi tan vào hư ảo.
Thì ra là một giấc mơ. Bao năm rồi, cứ lúc nào căng thẳng nhất thì nàng Vân lại về trong giấc mơ tiếp thêm sinh lực và sức mạnh cho chàng.
Chàng đã quyết.
Bước ra phía mũi thuyền, đêm đã sang cuối canh tư, Yết Kiêu cho gọi người phó tướng tới lệnh cho quân sĩ lên bờ đốt lửa nấu nướng. Chờ cho quân sĩ ăn uống xong, theo đúng như kế hoạch, người phó tướng cho lui quân theo đường thủy về Vạn Kiếp. Chỉ để một chiến thuyền nhỏ và mươi quân sĩ tinh nhuệ cùng Yết Kiêu ở lại bãi Tân chờ Đại vương.
Cuối canh năm. Công việc chuẩn bị đã xong. Đoàn quân xuất phát. Những tiếng hô vang đanh gọn:
– “Tướng quân bảo trọng!”
– “Các anh em quân sĩ bảo trọng!”
Tiếng khua mái chèo, tiếng khỏa nước. Đoàn thuyền chiến xa dần và như tan vào đêm tối.
Trời sáng dần. Mưa phùn giăng kín mặt sông. Bầu trời u ám mọng nước. Yết Kiêu lệnh cho quân sĩ thay quân phục, thay cờ hiệu trên thuyền, rời thuyền khỏi vị trí ẩn giấu ra chỗ dễ nhận biết nhất.
Từ phía bờ đê thoáng bóng ngựa chạy nước kiệu. Tiếng vó ngựa ngày một gần, từ phía dốc đê một con ngựa đang phi tới. Trên lưng ngựa chỉ còn bộ yên cương xộc xệch. Người lính kỵ binh đưa tin hôm qua đã không trở về.
Mưa mỗi lúc một nặng hạt trên nền trời xám xịt, từng đàn chim hơ hải bay ngang. Đã nghe thấy những âm thanh ồn ào của vó ngựa và đoàn quân từ xa vọng lại, khói đen bốc lên mù mịt. Yết Kiêu biết ải Nội Bàng đã vỡ, giặc Nguyên chỉ lát nữa sẽ tràn qua đây. Có thể Đại vương cùng Dã Tượng và đội quân hộ tống đã thoát đi theo đường núi về Vạn Kiếp. Chàng biết trong chiến trận đôi lúc phải ứng phó với tình hình thực tế, không phải lúc nào cũng theo mệnh lệnh. Nếu bây giờ chàng nhổ neo xuôi thuyền, có thể sẽ bảo toàn tính mạng cho mình và anh em quân sĩ, nhưng nếu như Đại vương không kịp rút theo đường núi mà vẫn rút theo đường sông như kế hoạch, khi ra đến bãi Tân này không thấy thuyền chàng còn cắm sào đứng đợi thì sẽ ra sao? Chàng vừa thoáng thấy bóng nàng Vân cùng con thuyền hoa đỏ rực trước mắt. Phải rồi, nàng Vân cũng đang neo thuyền đợi, hà cớ gì chàng nhổ neo?
Tiếng vó ngựa, tiếng ồn ào mỗi lúc một gần. Đằng xa thấp thoáng bóng cờ hiệu của giặc, tiếng tên bắn rít lên.
Phía sườn đê, một toán người ngựa đột ngột xuất hiện. Tiếng ngựa hí vang. Yết Kiêu và các quân sĩ không tin vào mắt mình khi thấy người dẫn đầu là Dã Tượng tướng quân, sau là Đại vương cùng nhóm quân sĩ hộ tống đang phi ngựa như bay.
Nhóm người tới bãi sông vội vàng rời ngựa, hộ tống Đại vương lên thuyền. Yết Kiên quỳ sẵn nghênh đón đợi lệnh. Dã Tượng chạm bao gươm chào người anh em, đoạn dõng dạc:
“Thưa Đại vương, đúng như Dã Tượng đã nói, Yết Kiêu mà chưa thấy Đại Vương thì nhất định không chịu dời thuyền. Nếu ta mà lui theo đường núi rút về Vạn Kiếp e khó thoát vì các ngả giặc đã bao vây khắp nơi.”
Hưng Đạo Đại vương mừng lắm, ánh mắt rưng rưng cảm động nói với hai vị tướng quân:
“Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh. Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy thì cũng chim thường thôi. Các ngươi chính là những trụ cánh đó. Quân dân ta sẽ đánh tan lũ giặc bảo vệ bờ cõi Đại Việt.”
Ngài lệnh nhổ sào, thuyền vội vã rời bãi Tân. Khi thuyền vừa cách xa bờ một quãng thì kỵ binh quân Nguyên tràn tới đông kín. Từng loạt mưa tên đuổi theo, tiếng binh khí rút ra khỏi bao, tiếng hô hoán đuổi bắt loạn xạ.
Yết Kiêu lại thoáng như thấy chiếc thuyền hoa đỏ rực của nàng Vân đi phía sau, nghiêng mình che chở cho con thuyền chàng thoát khỏi những loạt mưa tên của giặc, giống như năm xưa trên sóng nước Bạch Đằng giang, nàng đã liều mình đỡ mũi tên để cứu chàng…
Gió nổi lên mang mưa tới, con thuyền chở Đại vương cùng binh sĩ Đại Việt đã băng băng xuôi dòng Lục Nam và biến mất trong màn mưa trắng xóa.
Đà Lạt, 9/9/2023
Hoàng Kiến Bình
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...