Bản giao hưởng nhiều bè
trong "Chiếc giỏ mây trắng"
Ngay khi đọc nhan đề tập thơ “Chiếc giỏ mây trắng” (Nxb. Hội
Nhà văn, 2021) mà tác giả Bùi Thúy gửi, tôi đã rất bất ngờ, rất lạ và ám ảnh, cảm
giác có một sự mới mẻ xâm chiếm tâm hồn, một sự gợi mở thôi thúc tôi muốn biết
liệu chiếc giỏ mây trắng đó chứa đựng những gì? Tôi đã đọc từ những dòng đầu
tiên và cứ thế cuốn theo mạch chảy tâm hồn, những dòng hồi ức bộn bề các cung bậc
buồn vui, với các nốt thăng của “những mùa xuân đã đi ngang” và các nốt giáng của
“những mùa trăng khuyết” mà em đã từng nếm trải và chiêm nghiệm.
Tập thơ có ba mươi chín bài thơ được sắp xếp logic chặt chẽ,
tinh tế như một cuốn phim quay chậm mà hình ảnh, cảm xúc của từng giai đoạn cuộc
đời được hiện ra theo trình tự thời gian, có lúc đồng hiện.
Cảm xúc khởi điểm tinh khôi, trinh nguyên với ánh sáng, gió và nước: Em từng ở nơi ngọn gió bắt đầu/ Nơi ánh sáng bắt đầu/ Nơi mạch nước bắt đầu…
Tuyên Quang, phải chăng là nơi chôn rau cắt rốn, nơi “em từng
ở” mà kí ức luôn lưu giữ với những ấn tượng đẹp về quê hương xứ sở, về một thời
niên thiếu đã xa. “em từng ở” là nơi “rừng đã già bao nhiêu năm tuổi/ từ
lúc em được sinh ra đã thấy mảnh trăng vàng treo trên từng ngọn biếc”, nơi
“bầy dúi khọt khẹt gọi tiếng đêm”, nơi “ngọn nước quay tròn lời then
lời đọi/ cá quẫy nước trườn lên bờ con suối”. Đó là nơi “đám trai
làng mang bùa thả lùng tùng vào hội”. Đó là nơi “lá khô dấu kín vết
chân nai”. Đó là nơi “sương bay từ khe núi”. Đó là nơi có không gian trong
lành: “đất sạch lắm/ cỏ nằm xoài trên đất”… Đó là nơi có người mẹ hiền
thường gội đầu bằng cỏ mần trầu như “bện làn hương lên tóc”, nơi có người
cha giáo viên rất quan tâm đến việc học hành của con nên mỗi sáng ông đều “bật
dậy nhóm bình minh vào trang vở của con”, nơi có những người hàng xóm thân thiện
với “nụ cười đơm hoa đỏ”, nồng ấm tình người mỗi khi họ gặp nhau… Tất cả
những chi tiết ấy hiện lên kí ức của tuổi thơ êm đềm, ấm áp, trong trẻo, tinh
khôi đã khiến từng tế bào thuở đầu đời “no đầy vị ngọt” mà em đã chẳng thể
nào quên. (Tôi yêu thơ Thúy bởi thấy có bóng quê hương tôi trong đó).
Thời gian cũng như dòng nước trôi đi, mang theo những buồn
vui bộn bề của cuộc sống, nhưng thời gian lại lưu giữ trong tâm hồn hình ảnh
nguyên trinh, trong veo, thanh sạch, óng ả, ấm áp: “em quàng một dải mưa
xuân/ hạt trong veo nứt nẩy từ lòng đất ấm”, “Những tế bào phù
sa óng ả sơ sinh da thịt/ vươn mình dưới bầu trời thanh sạch/ nơ
ron nguyên trinh/ linh hồn nở sáng”
Cảm xúc và liên tưởng vui, buồn của cuộc sống được ghi lại giống
như bản nhạc, có nốt thăng, nốt giáng ở những quãng khác nhau. Em đã từng có
khoảng thời gian buồn đắng, không có nụ cười, chỉ có mồ hôi và nước mắt “xếp chồng
gầy vạt áo”, mang theo tâm trạng đầy những trăn trở suy tư:
Có tiếng thở trở mình khẽ chìm vào khoảng trống
phía xa những ý nghĩ trườn ra khỏi cửa
đi thâu đêm dắt díu tận sang ngày …
Đọc thơ Thúy, ngoài việc thấy được cảm xúc tâm trạng cá nhân
người thơ, người đọc còn đồng thời thấy được từng giai đoạn lịch sử của đất nước:
thời chiến tranh, thời bao cấp, thời kinh tế thị trường; thấy được cảnh quê, cảnh
phố, người phố, người quê…
Thời chiến tranh được phác họa qua những câu thơ tài hoa ấn
tượng:
– Ngày cha khoác ba lô lên vai đi xuyên bóng núi/ Bụi phấn giảng
đường theo khói súng nở hoa
– đêm cổ thụ nhớ rông dài những mảnh hồn thuở chân trời vác đạn…
Và rồi thời bao cấp cũng được Bùi Thúy diễn đạt rất thành
công: Em đã đi xuyên qua những viên gạch dán đầy tem phiếu/ vẽ hình hài
bóng mát cho con khi đất nước chờ đợi vặn mình/ treo ngược niềm tin/ nhìn lên để
thở/ đã vắt cạn khô/ đã không còn lệ…
Thời bao cấp là cái thuở mà mọi người còn xếp gạch để mua
hàng bằng tem phiếu, thời mà đất nước đang “chờ đợi vặn mình” để đột phá, chuyển
sang nền kinh tế thị trường. Những câu thơ trong khổ này đang nhịp dài bỗng đột
ngột chuyển sang nhịp ngắn, gấp gáp, dồn dập, thể hiện sự mệt mỏi, khó thở, kiệt
sức, cạn khô nước mắt. Nhưng em vẫn cố gắng giữ vững niềm tin bằng cách
“treo ngược” nó lên để mà hi vọng sau cái “vặn mình” của đất nước là sự vươn
vai thần thánh của nền kinh tế mới. Thuý hi vọng điều kì diệu đó sẽ đem lại
“hình hài bóng mát cho con”, cho thế hệ sau, cho những lớp người không phải trải
qua chiến tranh và nghèo khó.
Và rồi những nốt thăng trong bản giao hưởng cuộc đời đã đến,
cộng hưởng với sự hồi sinh và phát triển của đất nước:
Em đã đến những vườn hồng trong giấc mơ vừa nở / những đại lộ
vươn về bốn phía/ em lạc giữa quê mình/ gặp mơn mởn hồi sinh… Cuộc sống đổi
thay đã khiến em như lạc vào một giấc mơ, lạc vào mảnh vườn ngát hương hoa hồng.
Nơi “đại lộ vươn về bốn phía” phải chăng là Sài Gòn phố thị, là “vùng đất
phương Nam”, nơi em lập nghiệp; để rồi em bỗng trở thành “người xứ sở”, mải miết
mưu sinh thời kinh tế thị trường “trần mình dưới nắng”, quen thuộc từng “tán me
xanh rì”, “gốc xà cừ rỉ mặn”… của những “con đường cạn hết gian truân”…
Vùng đất ấy đã gắn liền với tuổi trẻ của Bùi Thúy, gắn liền với
những vui, buồn đến độ; mặn, ngọt, xanh, chín đủ đầy: “Em đã xanh ngăn ngắt đến
bật mầm tuổi trẻ/ đã hồng hào chín đỏ tháng năm/ chở gánh đời đi nghiêng khúc nắng/
chở tấm đa đoan giằng díu cõi người. Và “tình đất phương Nam cứ mãi rộng
mãi dài bao dung dòng mặn ngọt” ở nơi em.
Nỗi buồn trong thơ Thúy có hình hài, có thể “cầm” trên tay được,
nhưng em chỉ nói về nó bằng những nét chấm phá, không nặng về than vãn. Em
không để mất đi niềm kiêu hãnh, mất đi nghị lực sống, cho dù bão tố thế nào thì
em vẫn “vượt sóng bay lên”.
Quên đi những “giọt nước mắt đắng lặng lẽ/ rơi” trong
những đêm cô đơn “nằm im mắt nhìn vào trống vắng”, quên đi “giọt nước
mắt đã mấy lần xanh lên màu nín nhịn”, Thúy đã có những giọt nước mắt
hạnh phúc: “…như cánh hoa rũ băng bừng nở/ giọt nước mắt nở hoa”. Thúy
trở lại yêu đời và yêu bản thân hơn: “em đã biết nuông chiều bản thân/ thắm
mầu môi son/ tô từng nét phấn/ đôi chân chẳng ngại ngần dạo bước chốn phồn hoa
đô hội, “chải mi đen cong cóng nếp chờ”, “ướm gót hài thấy mình còn hôi hổi
thanh tân”…
Theo quy luật cuộc sống thì “hết cơn bĩ cực tới tuần thái
lai”, thăng trầm như một sơ đồ hình sin vậy. Một tâm hồn thơ tưởng đã bị ngủ
quên bởi cơm áo đời thường đã được đánh thức, em như “con ve sầu thoát kiếp
hồi sinh”.
Theo dõi bước đi trong cuộc sống của Thúy, tôi thấy Thúy càng
ngày càng chín; con đường tự học, tự vươn lên của Thúy đã gặt hái được nhiều
thành quả. Ngoài việc sắp xếp, chăm lo cuộc sống vật chất cho mình và cho con
cái thì thành quả tinh thần còn là sự ra đời của một tập thơ đầu tay đủ đầy cảm
xúc, rất đáng đọc này đây.
Mỗi chúng ta có nhiều cách học, cách học nhanh nhất là đọc
sách nhiều hoặc chơi với những người thông tuệ (Thúy có nhiều bạn bè là những bậc
đàn anh, đàn chị mà Thúy cảm thấy ngưỡng mộ vì sự hiểu biết cuộc sống cũng như
những kiến văn sâu sắc được tích lũy bằng tuổi tác và kinh nghiệm của họ:“Một lời
thông tuệ/ hằn vết chân chim…/ em có thể lặng im hàng giờ để nghe anh
nói/ ngập ngừng từng câu hỏi/ lục lọi giữa đời tìm kiếm nét nhân
văn”…
Hình tượng “anh” trong thơ Thúy như biểu tượng của những điều
tốt đẹp, như tri âm, tri kỉ với biết bao sự trân trọng mến yêu, ngưỡng mộ. (Từ
“anh” của Thúy có nghĩa là bạn tri âm chứ không phải bạn đời, bởi “Nói câu
ân tình rồi mà anh vẫn nợ em”). Có tri âm, cô cảm thấy có chỗ dựa tinh thần: “em
tựa lên vai anh niềm tin ngự trị”; thấy mình bé nhỏ được chở che, được là phụ nữ:
“dưới tán rộng dài em được làm liễu yếu đào tơ”; thấy ấm áp cõi lòng: “Nửa
nghiêng về phía anh/ em thấy mình ấm lạ”; thấy học hỏi được nhiều hơn ở người bạn
lớn: “em liu chiu lớn dậy với đất trời”, và họ truyền cho nhau năng lượng
tích cực: “chín theo ngày/ ta lớn dần trong vô tận lòng nhau” để rồi
cùng biết đứng cao hơn một cảnh giới: “Biết mỉm cười trước những lời nông
nổi/ thứ tha những điều lầm lỗi/ đi qua bóng tối ân xá cho đời”, và
để “nụ cười kiêu hãnh đi qua những bon chen thường nhật…
Những khoảnh khắc, tâm trạng của cuộc sống được Bùi Thúy khắc
họa bằng ngôn ngữ thơ rất riêng. Để trở thành một nhà thơ thì dứt khoát người
làm thơ phải có giọng riêng, giọng đó thể hiện qua ngôn ngữ và cách diễn đạt.
Thơ Bùi Thúy có rất nhiều những “kết hợp lạ” tạo nên sự khác
biệt, nhưng vẫn giữ được cảm xúc trong trẻo và chân thật nhất.
Văn là người, Thúy là một nữ doanh nhân, ưa hoạt động nên những
cụm động từ trong thơ chiếm ưu thế hơn những cụm tính từ. Có thể dẫn ra một loạt
những cách diễn đạt mới mẻ như sau:
“gấp lại ân tình”, “gói lại hồn làng”, “gói lại
tuổi quê”, “nắng vội vã ôm riết mình chen lên đường phố”, “cơn
mưa ghé lại gọi giao mùa”, sợi nắng sớm “vá mảnh đông còn sót lại”,
“cây vươn vai hoa nắng trổ buổi mai”, “câu thơ chở đầy
vũ hội”, ánh trăng “rót mật”, hạt nắng “rơi sâu trong mắt”, thương nhớ
“bung tràn”, “ái tình bung nở”, “bung lụa” ngữ điệu, “nụ cười rũ bụi
mọc lên”, “kí tự xanh mọc lên” “dòng chữ chạy dọc”,
“gió len lỏi trườn vào ưu tư”, “cháy hết điều ô trọc”, “hòn sỏi
nhỏ ngậm cười tan chảy”, “gió tấu trầm khúc dạ” “mưa nắng chạm nhau”,
sóng “ghé bến hoài ca”, “dệt nỗi nhớ qua đêm thành lụa”, “niềm tin “gõ mõ”,
“gió kéo mùa rơi qua liếp cửa”, “cọng cỏ gầy kéo vạt
yếm đón sương”, “ kéo sợi nắng”, “chong nắng lên” , “cung
đường di căn”, “lọc lừa làm xước mùa thu”, “giọt nước ở bên trời thất
lạc”, “cành sân hận trẫm mình dưới lớp bùn nâu”, “cài thương nhớ
xôn xao”, “con tắc kè gá vào văn chương gánh nặng”, “hơi thở gầy cộng
hưởng hồi sinh”, “triệu nơ ron giao thoa trên mặt hồ xúc cảm”,
“dòng suy nghĩ dạo nguyệt cầm chảy mãi”, “con sóng vẫn trườn mình
đau xót tận đáy sâu”…
Thơ Thúy có rất nhiều sắc màu thể hiện các cung bậc tình cảm
khác nhau. Các gam màu xuất hiện trong những kết hợp từ lạ cùng với cách diễn đạt
hiện đại cũng tạo thêm một nên nét riêng khó lẫn.
Thúy liên tưởng đến màu tím khi viết về kí ức, kỉ
niệm: “phơi áo tím hoa cà thành ngọn rét tháng ba”, “vạt áo mẹ đơm
lên tràng hoa tím”, “hạt ngọc giấu vào mây tím ôm buổi chiều cay
nồng khói rạ”, “sắc tím chiều luênh loang”…
Thúy liên tưởng đến màu vàng khi ấn tượng về trăng,
về nắng, về lá, về hoa: “mảnh trăng vàng treo trên từng ngọn biếc”,
“nắng khảm vàng mặt đất”, “vờ dửng dưng để vàng thêm muôn
ngàn sắc lá/ vờ ngây thơ trước thăm thẳm trăng vàng”, “thương nhớ lao xao
bung tràn xuống sắc vàng hoa cúc”,…
Thúy liên tưởng đến màu đỏ khi nói về những hình ảnh
đẹp ấm áp hay những tình cảm thân thương, nồng nhiệt, mạnh mẽ. Có màu đỏ của hiện
thực: “bình minh đỏ/ cây lá đỏ/ mặt trời đỏ/ áo em màu đỏ”,
“màu son đỏ”; có màu đỏ của sự tưởng tượng: “nụ cười đơm hoa đỏ”,
“sóng vỗ màu vang đỏ”, “một ngọn sóng xa cuộn vồng lên sắc màu đồng đỏ”,
“con sóng đỏ cuộn linh hồn rạn đá”, và thậm chí màu đỏ còn là cao độ
của nỗi đau: “rám đỏ cơn đau”, …
Nhưng khi người thơ hạnh phúc, những nốt thăng của nhạc điệu
tâm hồn đã mang đến cho thơ Thúy màu xanh, hồng rực rỡ và màu trắng thanh
sạch, tinh khôi cùng với cách kết hợp từ ngữ lạ hóa.
Có thể thấy, màu xanh của Thúy là màu hi vọng,
lạc quan: “những lời đầu tiên xanh như cây cỏ/ bén rễ xuống mùa thành
trầm tích lòng nhau”, “những kí tự mọc xanh lên”, “điệu thảo
nguyên xanh”, “mầm không ngủ/ tí tách vươn mình đội giấc mơ xanh”,
“khóm khát vọng vẫn mọc xanh lên từ nơi lồng ngực”, …Màu xanh có nhiều
gam nhưng trong thơ Bùi Thúy là những gam màu xanh dương tính: xanh biếc hoặc xanh
thẳm, xanh ngăn ngắt, thiên thanh… chứ không phải những màu xanh âm tính
như xanh xao, xanh xám, xanh đen… Vâng, đó là: “có một khoảng trời xanh
biếc ở trong nhau, “mở ngàn trang xanh biếc phía hừng đông”, “tuổi
vút thành mây trời xanh thẳm”, “anh cứ mãi thẳm xanh”… Tất
cả những màu xanh ấy là màu xanh hoan hỉ, thậm chí giọt lệ khóc khi hạnh phúc
cũng có màu xanh: “một giọt lệ ngọc mọc xanh lên”…
Màu hồng trong thơ Thúy là màu của thời thanh nữ với
những ước mơ lãng mạn, của mây, của lửa: “em gót hồng khe khẽ/ mơ
màng ba hạt dẻ trên tay/ óng ánh bình minh gọi nắng ngày, “em mặc áo mây hồng’,
“lửa thức hồng hồng”, ….
Thúy cũng nói nhiều đến màu trắng, màu trắng trong thơ
em không bao giờ là biểu tượng cho nỗi buồn tang tóc mà thường là biểu tượng
cho sự tinh khôi, thanh sạch, trinh nguyên: “chiếc giỏ mây trắng tỏa
hương”, “gối đầu lên mây trắng”, “dải san hô trắng bạc”, “em
mang hoa sưa trắng gói lòng mình ra biển”…
Nếu như màu thời gian của Đoàn Phú Tứ “không xanh” mà “tím
ngát” thì màu thời gian của Bùi Thúy cũng thật đặc biệt, như rất gần mà lại như
thăm thẳm:
Em từng thấy màu thiên thanh triệu năm còn nguyên trinh bạch
màu hổ phách triệu năm ngậm vàng hạt lúa
màu thời gian triệu năm mặn má mặn môi
Khi hạnh phúc, người thơ còn thấy vạn vật đều tỏa hương: “dưới tán tâm hồn khóm biếc trổ đài hương”, “đợi cơn mưa về từ mùa hạ/ mang theo làn hương thơm mùi quả chín”, “hương tỏa lên từ đất”, “mùi hương tràm lẩn khuất quanh đây”, “ngọn gió có mùi hương anh”, “gặp nhau nơi mùa thu hương đời êm dịu quá”, “giấc trầm hương nơi vầng trăng sinh thành trong lồng ngực/ cộng sáng lớn dần tỏa nhiệt sang nhau”…
Đọc thơ Thúy, tôi nhận ra đây là tiếng lòng của một người
lãng mạn với những câu thơ siêu thực đẹp như tranh của Salvador Dali: “gối đầu
lên mây trắng”, “gối đầu lên gợn biếc lăn tăn”, “gối đầu lên hơi thở bình yên”…
cùng với bao sắc hương của đất trời, vạn vật…
Đọc thơ Thúy, tôi dễ dàng nhận ra đây là tiếng lòng của một
người nhiều nghị lực, sẵn sàng đi “ngược phía cơn mưa”, “đi ngược lá vàng tìm đến
mùa thu”, chủ động “bước vượt bước chân mình”… Bởi thế chăng nên thơ em có rất
nhiều những động từ sinh sôi mạnh mẽ như mọc, bung, bùng, trổ, nở, bật (mầm),
vươn, mở, hồi sinh, cộng hưởng…
Tập thơ gần như là một câu chuyện cuộc đời của Bùi Thúy với
những kí ức và hiện tại khi đan xen, khi đồng hiện. Có kí ức tuổi thơ êm đềm
trên quê hương miền sơn cước yêu dấu; có kí ức về một thời dĩ vãng vất vả, buồn
đau và cuối cùng là kết thúc có hậu với nhiều tín hiệu vui, hồi sinh cuộc sống,
hy vọng mở ra trước mắt.
“Chiếc giỏ mây trắng đựng đầy nước mắt và trăng ấy” chứa
trong đó nhiều cung bậc phong phú của cảm xúc, có vui, có buồn; có ngọt ngào,
có cay đắng; có bất hạnh và hạnh phúc. Niềm lạc quan, niềm yêu tin cuộc sống được
ẩn mình trong một nội tâm, một ẩn ức mãnh liệt. Phải thế chăng, mà khi đọc thơ,
giải mã thơ, ta giải mã được tâm hồn tác giả. Đó cũng chính là điều làm nên sự
hấp dẫn của dòng chảy thi ca đương đại.
Với thể thơ tự do hiện đại, với cách kết hợp từ ngữ mới mẻ độc
đáo, cách diễn đạt ấn tượng, nhiều biểu tượng đẹp, nhiều trường liên tưởng,
mang nhiều ẩn dụ trên một nền xúc cảm chân thật, tập thơ “Chiếc giỏ mây trắng”
của Bùi Thúy thực sự đáng được thưởng thức và trân trọng.
Xin bày tỏ sự ngạc nhiên và chúc mừng tác giả!.
23/11/2023
Hoàng Kim Ngọc
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét