Cái nhìn từ phía bên kia
Lưu tâm đến những vấn đề đương đại của Trung Quốc, Mạc Ngôn
đã tiếp cận vấn đề chiến tranh biên giới Việt – Trung từ năm 1979.
Mạc Ngôn là nhà văn đương đại nổi bật ở Trung Quốc, đoạt giải
Nobel văn học năm 2012. Trước đó, ở Việt Nam sách của ông được dịch nhiều và rất
được quan tâm, đặc biệt là những tiểu thuyết đặc sắc như Báu vật của đời,
Đàn hương hình.
Lưu tâm đến những vấn đề đương đại của Trung Quốc, Mạc Ngôn đã tiếp cận vấn đề chiến tranh biên giới Việt – Trung từ năm 1979. Sau khi quan hệ hai nước được bình thường hóa vào năm 1991, Mạc Ngôn trăn trở trước tâm tư của cựu chiến binh và của người dân Trung Quốc. Năm 1992, ông viết truyện dài Ma chiến hữu để phản ảnh quan điểm nổi cộm và nhức nhối trong xã hội, cũng là cách nhìn và thái độ của chính tác giả về cuộc chiến tranh này.
Câu chuyện bắt đầu khi một cựu chiến binh Trung Quốc đi qua
chiếc cầu bắc ngang sông đúng lúc lũ lên ngập cầu. Anh ta nhìn thấy một người
ngồi vắt vẻo trên một ngọn cây. Trèo lên cây thì nhận ra đó là một đồng đội cũ
thời chiến tranh biên giới từ mười ba năm trước. Người sống và người chết kể
chuyện cho nhau nghe. Người cõi dương sau chiến tranh trở về chật vật mưu sinh,
có người ở vùng quê đói kém, phải ăn khoai trừ bữa, vợ con nheo nhóc. Người cha
già ở vùng quê xa lặn lội xuống phía nam để đào trộm hài cốt của con mang về
quê… Người ở cõi âm thì tập hợp thành sư đoàn, có bầu bán chỉ huy, họ tiếp tục
theo dõi cuộc sống của người dương và tình hình thế sự.
Cuộc chiến tranh biên giới với Việt Nam chỉ một vài lần nhắc
tên Việt Nam với hàm ý xa xôi, còn lại đều dùng khái niệm cuộc chiến “phía nam”
của Trung Quốc. Mạc Ngôn bày tỏ thái độ trước sự vô nghĩa của chiến tranh và hậu
quả nặng nề trong tinh thần người dân và trong xã hội, nhưng là nhà văn Trung
Quốc, tất nhiên ông không thể thẳng thắn như những trí thức ở xã hội dân chủ
phương Tây. Mạc Ngôn vẫn phải nhắc lại giọng của tuyên huấn quân đội và của
chính quyền khi nói đến việc binh lính đi chống quân “xâm lược” (một lần, trong
bản dịch này), đúng như hệ thống truyền thông Trung Quốc thường xuyên tuyên
truyền.
Các chiến sĩ từ huyện nhà được đưa đến Côn Minh, rồi tiếp tục
“vượt qua không biết bao nhiêu là núi đèo và đường sá quanh co để đến một khe
núi” (trang 15). Khe núi này ám chỉ lãnh thổ của họ bị phía Việt Nam “chiếm
đóng”. Khi vào trận thì được miêu tả thoáng qua và chua chát thế này: “Một tiểu
đoàn thiện chiến của địch chiếm cứ cao điểm Không Tên với những vũ khí là súng
tiểu liên xung kích, trung liên và pháo cối. Tất cả đều là súng do Trung Quốc
chế tạo. Vũ khí Trung Quốc đối đầu với vũ khí Trung Quốc, thắng hay bại là do
con người quyết định” (trang 31). Những người lính Trung Quốc phải phá mìn để
tiếp cận một điểm cao (trang 192), úp mở vậy thôi, không nói rõ là điểm cao ở
bên nào, nhưng chắc chắn người đọc Trung Quốc hiểu rằng nó ở bên phía Trung Quốc
và Việt Nam tràn sang (thật nực cười!). Ngay cả nếu Mạc Ngôn biết đấy là đất Việt
Nam bị Trung Quốc đánh sang thì kiểm duyệt Trung Quốc cũng không cho ông viết
rõ như vậy.
Chiến tranh đã thế, còn thời hậu chiến thì sao? Các hồn ma
trong truyện theo dõi rất sát tình hình trên cõi dương và thông báo cho nhau:
“Năm ngoái có một công văn của người sống ghi rõ rằng, những đồng chí tham gia
cuộc chiến vừa qua được thưởng huy chương chiến công hạng ba trở lên sẽ được
nhà nước bố trí công tác thích đáng” (trang 93). Những người lính không có công
trạng thì không được may mắn như vậy, họ sống với thương tật, với thất nghiệp
và đói kém. Một anh lính còn sống thì: “Chuẩn bị báo cáo lên cấp trên để công
nhận danh hiệu anh hùng cho nó, nó lại bảo nó không hề có ý định dùng thân mình
để kích nổ những quả bộc phá ấy đâu… Nó trở về quê với một thân hình đầy thương
tích, mặt cũng đã bị phá nát, nằm chết gí trong làng, ngay cả cái chức chi ủy
viên cũng không đến tay nó” (trang 132).
Một chiến sĩ khác: “Cầu ông bà mãi, cán bộ thôn mới chiếu cố
cho làm cái công việc sai vặt này, mỗi ngày đến đây canh cổng, mỗi tháng lau
súng một lần, cuối tháng nhận chín mươi đồng. Khi thôn đội trưởng đi uống rượu,
tớ cũng đi theo để tăng thêm chút mỡ” (trang 133).
Khi có tin quan hệ Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu bình thường hóa, một tử sĩ ở dưới mồ đã khóc: “Tôi càng nghĩ càng cảm thấy mình chết thật oan uổng”. Sư đoàn ở cõi âm tập hợp để nghe huấn thị: “Có người bình luận không mấy tốt về vấn đề này, nào là “máu của chúng ta đổ một cách vô ích”, nào là “hy sinh của chúng ta chẳng có chút giá trị gì”… Những suy nghĩ này vô cùng nguy hiểm. Chúng ta là quân nhân, thiên chức của chúng ta là phục tùng mệnh lệnh, cấp trên bảo chúng ta đánh tới đâu, chúng ta phải xông lên tới đó. Tình hình thế giới không ngừng thay đổi, quan hệ giữa các nước với nhau cũng không ngừng thay đổi. Ngày ấy chúng ta và họ dùng súng đạn để nói chuyện với nhau, qua đó mà mới có được hòa bình hôm nay. Nhân dân không có oán thù gì với nhau, chiến tranh và hòa bình đều là biểu hiện của tình hình chính trị…” (trang 171).
Mạc Ngôn mượn lời của tuyên huấn, nhưng trong đó phản ảnh nỗi
ưu tư của ông về việc “cấp trên bảo chúng ta đánh tới đâu, chúng ta phải xông
lên tới đó”. Sự phục tùng đã biến con người thành cái máy, thành nạn nhân, dẫn
đến đổ máu. Sự phản biện không được nói ra nhưng đã hàm ý trong đó. Tác giả
cũng nhắc lại cái ý “nhân dân không có oán thù gì với nhau”, có thể rất chính
trị mà cùng lúc có thể là thực lòng.
Kết cục của cuộc chiến tranh biên giới là sự hòa giải, là
bình thường hóa quan hệ. Không chỉ là nguyện vọng của người dân mà còn được sự
đồng tình của các tử sĩ ở cõi âm. Một tử sĩ mơ thấy khi ở dưới mồ: “Buổi tối tớ
dẫn tiểu đội đi tuần tra, không hiểu làm sao tớ lại vượt qua biên giới, bị bốn
người bên đối phương chộp lấy… Tớ chạy đằng trước, họ đuổi theo sau, vừa đuổi vừa
gọi: Này, người anh em, không đánh nhau nữa, đùa với nhau một tí thôi mà”. Rồi
hồn ma thấy trong thành phố vùng biên của Việt Nam, một hình ảnh ẩn dụ của việc
lưu thông trao đổi hàng hóa giữa hai nước: “Những cô gái bên đối phương và những
chàng trai bên ta đang đứng hai bên một đường phố trêu đùa nhau. Các cô gái thì
cầm những buồng chuối ném qua, các chàng trai thì cầm những đôi giày nhựa ném lại;
các cô gái thì mang giày nhựa, các chàng trai thì ăn chuối” (trang 176).
Hầu hết người dân Trung Quốc không biết gì về cuộc chiến
tranh biên giới chống Việt Nam. Người nào “biết” thì chỉ biết theo quan điểm
tuyên huấn rằng họ bị xâm lược và chiếm đất. Mạc Ngôn đánh động người dân bằng
truyện Ma chiến hữu. Có nhà văn Việt Nam cho rằng với Ma chiến hữu, Mạc
Ngôn nợ nhân dân Việt Nam một lời xin lỗi.
Không thể mong một nhà văn dưới sự kiểm duyệt của Trung Quốc viết về chiến tranh biên giới Việt – Trung bằng một quan điểm đúng đắn và công bằng. Mạc Ngôn vẫn phải mượn những khái niệm tuyên truyền chính thống để viết, nhưng người đọc Việt Nam có thể ghi nhận sự phản kháng cuộc chiến, sự đau xót và thương cảm những người dân bình thường bị đẩy vào chiến tranh, sự vô nghĩa và hậu quả của nó còn dai dẳng trong đời sống của các cựu chiến binh và người dân Trung Quốc nói chung. Và người Việt Nam cũng cần đọc Ma chiến hữu để hiểu phía Trung Quốc đã tuyên truyền những gì về cuộc chiến tranh biên giới với người dân của họ.
Đọc lại Ma chiến hữu, truyện dài của Mạc Ngôn, Trần
Trung Hỷ dịch, Phương Nam và NXB Văn Học. Sách xuất bản từ năm 2008 cho nên chỉ
có thể tìm đọc trong thư viện hoặc các hiệu sách cũ.
10/3/2024
Hồ Anh Thái
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét