Cảm xúc trữ tình trong "Gửi em cô gái
đỏng đảnh" của Nguyễn
Quang Hà
“Gửi em cô gái đỏng đảnh” (1) là tập thơ thứ ba của
nhà thơ Nguyễn Quang Hà (Tập thơ do NXB Hội Nhà văn ấn hành, gồm
138 trang, trong đó có 54 bài thơ, 07 bài thơ phổ nhạc, và 02 bài phê bình về
thơ Nguyễn Quang Hà). Là nhà văn có thế mạnh về văn xuôi, tiểu thuyết(2) nên
thơ anh vừa dạt dào cảm xúc, vừa giàu chất triết lý.
Chọn tên bài thơ “Gửi em cô gái đỏng đảnh” làm tựa đề tập thơ, bởi bài thơ đã thể hiện cảm xúc trữ tình đa chiều của nhà thơ về đối tượng trữ tình là em: “Em đừng tưởng chỉ mình em là thiếu nữ/ Chỉ mình em với mắt biếc và môi hồng/ Cứ cho em tha hồ tô son điểm phấn/ Không có anh thì đẹp mấy cũng bằng không” (Gửi em cô gái đỏng đảnh). Lối lý sự của cái tôi trữ tình là anh với em vừa hóm, vừa duyên đáo để. Anh và em là tương ánh trong nhau, em “đáo để” – “chỉ mình em là thiếu nữ” thì anh đây cũng “đay đả” – “Không có anh thì đẹp mấy cũng bằng không”. Tình cảm giữa anh và em phải đến độ nào anh mới nói theo lối “mần đày” như thế.
Cảm hứng thơ đi về linh hoạt, nhẹ nhàng giữa lí tưởng và hiện
thực, giữa cái chân và cái ảo, cái xác định cụ thể và phần tưởng tượng ước mơ.
Trái tim thi sĩ dạt dào sâu lắng bởi cảm xúc tình yêu dâng trào: “Dắt nhau về
chốn bồng lai/ Cởi nghìn tục lụy vất ngoài trần gian/ Tình say say đến ngút
ngàn/ Vành trăng nghiêng ngửa cung đàn lả lơi/ Thời gian chết quách cả rồi/ Chỉ
còn anh với mặt trời là em/ Bồng bềnh trôi giữa cõi tiên/ Bồng bềnh giọt nhớ giọt
quên bồng bềnh” (Bồng bềnh). Tứ của bài thơ “Bồng bềnh” thật kì diệu, tình đến
mức chạm cõi tiên, vừa say đến ngút ngàn, vừa lả lơi và cũng quên cả thời gian,
chỉ còn lại là bồng bềnh trôi giữa mây trời tiên cảnh. Yêu đến mức vượt thoát,
cởi bỏ cõi trần, tìm đến cõi tiên thì chỉ có thi nhân mới dám bạo liệt đến vậy.
Bạo liệt, thăng hoa, quên cả thực tại, thơ nâng cảm xúc vào cõi mộng, quả là
tình thơ dạt dào. Với ông hoàng thơ tình Việt Nam, vì sợ thời gian trôi chảy mà
“Tôi muốn tắt nắng đi/ Cho màu đừng nhạt mất/ Tôi muốn buộc gió lại/
Cho hương đừng bay đi” (Vội vàng – Xuân Diệu), ngỡ thế cũng là bạo liệt;
nào ngờ nhà thơ Nguyễn Quang Hà còn bạo liệt hơn khi làm ngưng đọng thời gian “Thời
gian chết quách cả rồi”, thì chắc chắn đó là khoảng thời gian “bồng bềnh”
tuyệt vời đến mức nó trở thành vĩnh cữu.
“Thơ ca là nhạc của tâm hồn” (Vonte); “Thơ là sự giao động giữa
âm thanh và ý nghĩa” (Valery); bài thơ “Bồng bềnh” mang ý nhạc từ nhịp của thể
thơ lục bát và sự nhấn nhịp bởi phép lặp 3 lần liên tiếp nhau của từ láy “bồng
bềnh” gợi tả sự chuyển động lên xuống nhẹ nhàng giữa cõi thực và “cõi tiên”.
Tương tự, ở bài thơ “Bối rối” nhà thơ sử dụng thành công thủ
pháp lặp từ “rối bời” và nhịp ngắn giữa các dòng thơ. Rối bời về cảm xúc mới là
“rối bời” đúng nghĩa – bề bộn ngổn ngang không biết đường nào mà lần, nên đã “quanh
quẩn” rồi mà còn “bâng khuâng”, vừa “thôi” – buông xuôi lại “nhớ rồi/ lạ
không”… Diễn tả tâm trạng, cảm xúc rối bời trong tình yêu bằng thơ như nhà thơ
Nguyễn Quang Hà quả là sâu sắc và ấn tượng: “Lánh xa những tưởng quên đi/ dối
lòng thôi/ có dễ gì mà quên/ Trở về/ Quanh quẩn/ trốn em/ Đã rối bời/ Lại càng
thêm/ Rối bời/ Bâng khuâng/ Tự nhủ/ Rằng/ Thôi/ vừa nhủ xong/ Lại nhớ rồi/ Lạ
không!” (Bối rối)
Tình cảm trong thơ gắn trực tiếp với chủ thể sáng tạo, đó là
những rung động mạnh mẽ từ trong tâm hồn, nên thơ là cảm xúc mãnh liệt đã được
ý thức. Từ danh thắng hòn Trống Mái ở Hạ Long, nhà thơ Nguyễn Quang Hà có bài
thơ với xúc cảm mới lạ: “Đến như đá cũng đa tình/ Nữa là hai đứa chúng mình với
nhau/ Xòe đuôi đá trống nghiêng đầu/ Rỉ tai nói được một câu với nàng/ Bâng
khuâng đá mái mơ màng/ Lần đầu tiên biết xốn xang là gì/ Nghìn năm đá mãi xuân
thì/ Bởi cho nhau một chữ “vì” mà thôi/ Đất sinh đá cũng thành đôi/ Hèn chi chếch
choáng cả trời Sầm Sơn” (Hòn Trống Mái). Những câu thơ được viết ra tự nhiên mà
lắng đọng bởi cái nhìn biện chứng và phép tu từ nhân hóa: “Đến như đá cũng đa
tình/ Nữa là hai đứa chúng mình với nhau”.
Thơ gắn với chiều sâu thế giới nội tâm. Vẻ đẹp của thơ khi mềm mại, khi triết lí, khi suy tưởng… Từ mối quan hệ giữa con người với vạn vật – “Thiên nhân tương dữ”, nhà thơ có cái nhìn rất riêng và mới về tình yêu: “Hai người yêu nhau lắm/ Sông chen vào cách chia/ Thành đôi bờ từ đó/ Mấy nghìn năm đợi chờ/ Nói với nhau nhờ gió/ Thư cho nhau nhờ thuyền/ Cảm mối tình đôi lứa/ Cầu đứng ra xe duyên/ Đôi bờ đã thành đôi/ Mà cầu thì đơn chiếc/ Dòng sông xanh xanh biếc/ Như màu xanh hẹn hò/ Trăng nghìn năm ngây thơ/ Tình nghìn năm sâu lặng/ Cớ sao cầu cô độc/ Giữa đôi bờ bình yên” (Cây cầu). Bài thơ như tự sự về câu chuyện tình yêu cách trở bởi đôi bờ, mà xúc cảm trữ tình chan chứa trong câu chữ, vừa gợi hi vọng, vừa gợi chút buồn mà nỗi buồn dịu ngọt, bởi dẫu cây cầu có bị “cô độc” thì cũng không “cô đơn” vì đã xe duyên cho “đôi bờ thành đôi”. Thi hứng thật lạ, thi ảnh “đôi bờ, dòng sông, cây cầu” là những tín hiệu thẩm mĩ quen thuộc đã mới mẻ nhờ cái nhìn lãng mạn của nhà thơ.
Những rung cảm trong trái tim thi sĩ chân thành, tự nhiên; “nhân
vật trữ tình” khi bộc lộ những xúc cảm không nén lại được vừa có hồn, vừa tự
tin và như khẳng định: “Khi mắt em lúng liếng/ Ấy là em yêu anh/ Cây đang đứng
lặng thinh/ Bỗng nở ngàn hoa tím/ Ấy là mùa xuân đến/ Trời xôn xao mưa bay” (Cây
sầu đông). Nhìn hoa sầu đông tim tím mà lòng thi sĩ đã khẳng định tình em: “Ấy
là em yêu anh”, ta ngỡ như gặp lại câu thơ “Lòng anh thôi đã cưới lòng em” (Thơ
duyên – Xuân Diệu). Khi nhìn vào mắt em, vào mưa xuân, và hoa sầu đông thì
anh khẳng định được tình em, không cần cắt nghĩa, hay lí giải, đó là xúc cảm trữ
tình trong anh, và cũng là sự rung động hồn nhiên của tâm hồn. Đọc bài thơ “Chiếc
răng khểnh” ta hiểu thêm đặc trưng của thơ là không phải chỉ nói đến cái đẹp của
cuộc sống, mà nói về cuộc sống với một lí tưởng đẹp. “Rất lạ kỳ chiếc răng khểnh
của em/ Đã bao lần làm anh bối rối/ Anh là lính quen có hàng có lối/ Anh không
ưa bước lỗi nhịp còi”. Viết về chiếc răng khểnh nhà thơ như đã khẳng định nét
duyên ngầm của em, cái duyên mà làm anh “bối rối”, nhưng anh cũng có cái tự tin
của anh, vì “anh là lính quen có hàng có lối”. Từ quy luật của mâu thuẫn, sự vận
động của cảm xúc trong anh thật lạ, dù “Anh không ưa bước lỗi nhịp còi” mà “Vậy
cớ sao cứ làm anh bối rối/ Mỗi khi nhìn chiếc răng khểnh của em”. Bài thơ như
là chuyện tình yêu, cảm xúc trữ tình xoáy sâu vào cái nhìn của nhà thơ về nét
duyên ngầm của em nhờ chiếc răng khểnh, nhưng chiều sâu của hình tượng thơ lại
nằm ở triết lý nhân sinh: “Và ghét cay ghét đắng ở đời/ Bất cứ kẻ nào lánh xa đồng
đội”. Chất trữ tình đưa đẩy giá trị nhân văn về sự trung thành, chính trực của
người lính, viết thế thì thật là tài hoa.
Viết về tình yêu đôi lứa, thơ của nhà thơ Nguyễn Quang
Hà thật là đa giọng, khi thì anh, khi thì em, mà cảm xúc tình yêu lúc nào
cũng mới, cũng đắm say dịu ngọt, và cũng thật ngây thơ khờ khạo. Quả thực khi đọc
những vần thơ trữ tình này người đọc như hiểu ra cái cảm xúc tình yêu vốn dĩ là
giản dị mà cũng thật tuyệt vời; lúc dâng trào mãnh liệt, lúc êm đềm như nước chảy
mây trôi: “Anh gấp ánh trăng/ làm lụa mỏng/ đem về/ may áo cho em/ Gió thổi/ Lật
tung/ gió thổi/ Em ngây thơ/ dại dột/ ngủ bên thềm” (Ngây thơ). Anh đa tình “gấp
trăng… may áo”; em “hớ hênh” đáng yêu “ngủ bên thềm” – viết thế thì cõi thơ,
cõi mộng hòa quyện, người thơ đắm chìm mộng ảo, còn độc giả thì cứ mãi bâng
khuâng. “Thời gian bao giờ cũng đói/ Như trò chạy chợ ăn đong/ Gặp nhau lần nào
cũng vội/ Cầm tay lệ ứa lưng tròng/ Nhớ nhau thở dài ngơ ngác/ nghe rung rung tận
đáy lòng/ Lại như thấy ai hong tóc/ Bồi hồi tựa cửa bên song” (Hoa đào hoa mai
đã nở) – Thời gian tình yêu mà so với thời “chạy chợ ăn đong” quả là độc đáo, mới
lạ, con người từng trải, con người trải qua biết bao lận đận mới có thể có cái
nhìn so sánh độc lạ như thế, lối so sánh này thật thú vị với quá trình tiếp nhận
tác phẩm. Câu thơ “Nhớ nhau thở dài ngơ ngác” như đo được không gian, thời
gian và tâm trạng.
Viết về tình yêu nhà thơ dường như bỏ quên lý trí, chỉ có
rung động mạnh mẽ từ tâm hồn và đó cũng là cách thổ lộ tình cảm mãnh liệt đã được
ý thức. “Gió đập cửa ngỡ ai về bất chợt/ Hồi hộp tan trống trải dâng đầy/ Ngồi
gỡ tóc thèm bàn tay ấm nóng/ Chợt bàng hoàng nghe trời nổi heo may” (Đáy lòng).
Hồi hộp, nhớ nhung, bàng hoàng… như là cái tình đã thấm, cái lòng đã say mà
thành thơ thì càng thêm lãng mạn. “Mắt đong đưa đan lưới tơ duyên/ Như tơ nhện
chăng đầy lối gió/ Những chàng trai hồn nhiên như thỏ/ Bị sập bẫy rồi chưa hết
ngây thơ… Đong đưa cười đôi mắt đò đưa/ Đẹp như thể chưa bao giờ đẹp thế/ chưa
kịp hoàn hồn tôi vừa chợt ngộ/ Đã bị mắt nàng thiêu cháy thành than” (Đong đưa).
Tứ bài thơ “Đong đưa” đã “thanh minh” cho đôi mắt “đò đưa” của em, dù biết “Những
chàng trai hồn nhiên như thỏ/ Bị sập bẫy rồi chưa hết ngây thơ” mà rồi
chính “cái tôi” thi nhân cũng “Đã bị mắt nàng thiêu cháy thành than”. Lúc “luận
tội” em thì tỏ ra lý sự, vướng vào mắt em rồi đành thúc thủ chịu thua, và thừa
nhận cái đẹp đã ngự trị tâm hồn “Đẹp như thể chưa bao giờ đẹp thế”. Người đẹp
không có tội, cái tội là những chàng trai ngây thơ và đa tình. Bài thơ có nhạc
tính bởi phép lặp động từ “đong đưa” và nhịp đều đặn trong cả bài thơ (nhịp ¾ ở
những câu thơ 7 chữ; nhịp 4/4 ở câu thơ 8 chữ).
Chủ thể trữ tình đã bộc lộ tình cảm, cảm nhận tinh tế về xứ sở
thơ mộng qua nét tương tư về “má hồng” thật dễ thương: “Mimosa vàng say lòng du
khách/ Vạn trái hồng chín đỏ trời thu/ hoa trái cao nguyên muôn màu tươi tắn thế/
Chỉ có má hồng làm anh tương tư” (Má hồng Đà Lạt). Và quê hương trong thơ anh
thật thương, thật nhớ; xa quê từ ngày nhập ngũ (1967), Huế đã là quê hương thứ
hai của anh, vậy mà kí ức vẫn rõ mồn một, từ “nong tằm”, đến “bờ ao đánh dậm”,
“tắm trưa bến Hớt”, tâm trạng “xốn xang” nhớ, rồi bước chân trở về như kẻ mộng
du “bước bồng bềnh”: “Dâu xanh bên song mẹ hái nuôi tằm/ Nong kén vàng ươm như
lòng mẹ/ Mẹ kéo tơ. Nhộng nhem thèm em bé/ Một củ khoai lùi lũ trẻ chia nhau”…
“Số ngặt nghèo phải đi xa quê/ Mới thấy thèm bờ ao đánh dậm/ Mới thấy thèm tiếng
ru đưa cánh võng/ thèm nắng hè tắm bến Hớt ban trưa”… “Xa quê lâu ngày về đến cầu
Vân/ Xốn xang nghe chích chòe gọi bạn/ Cảm thấy lòng trút đi gánh nặng/ Bước bồng
bềnh trên đất quê hương” (Nhớ quê).
Điều được mặc nhiên thừa nhận thế mạnh của nhà văn Nguyễn Quang Hà là ở thể loại văn xuôi, tiểu thuyết; với thơ nhà thơ cũng thực sự ấn tượng vì tình cảm bùng cháy trong những bài thơ dạt dào cảm xúc của anh. Thơ gắn với chiều sâu tâm hồn, với thế giới nội tâm sâu kín của con người nên không dễ khơi nguồn, nắm bắt. Đọc những bài thơ với cảm xúc trữ tình chan chứa trong tập thơ “Gửi em cô gái đỏng đảnh” độc giả nhận ra những bài thơ hay trong tập thơ là những bài thơ được sáng tác với cảm xúc cao độ, tình cảm mạnh mẽ và sâu lắng đến tận cùng, diễn tả trực tiếp đối tượng và có tính thẩm mĩ cao.
Chú thích:
(1) Tập thơ được Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế và Tạp
chí Sông Hương phối hợp giới thiệu với độc giả vào ngày 19/12/2019
(2) Tuyển tập “Thời tôi mặc áo lính” 2.519 tr.
Huế, 9/11/2023
Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét