Thêm một góc nhìn về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là một sự kiện vĩ đại của dân tộc
đã được tiếp cận, phân tích từ nhiều góc độ chính trị, lịch sử, văn hóa, văn học…
Bài viết này tiếp cận từ một góc nhìn khác – góc nhìn bình đẳng giới.
Đến giữa thế kỷ 20, nhân loại mới dần hoàn thiện để đưa ra lý
thuyết về bình đẳng giới, nhưng ở Việt Nam, tinh thần ấy đã được thể hiện sinh
động trong truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ từ nghìn năm. Lạc
Long Quân giống Rồng, Âu Cơ giống Tiên, không hợp nhau về tập quán sinh hoạt,
tính cách, họ tự nguyện chia tay một cách bình đẳng. Mỗi người đem theo “năm
mươi con”. Cho đến tận hôm nay, cả thế giới vẫn ngạc nhiên vì từ những năm 40,
41 sau Công nguyên, khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa với mục đích: “Một
xin rửa sạch nước thù/ Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng/ Ba kêu oan ức lòng
chồng/ Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”. Đó không chỉ là dấu mốc bằng
vàng của một quốc gia mà còn làm thay đổi dòng chảy văn hóa của cả phương Đông
và thế giới. Thay đổi hẳn một quan niệm, từ “nữ nhi tầm thường” thành “nữ nhi
anh hùng”.
Đã có nhiều nhận định đề cao sự kiện này, xin được trích lại hai ý kiến đích đáng, một là của sử gia Lê Văn Hưu: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều nhất tề hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay. Xem thế cũng đủ biết hình thế đất Việt ta đủ để có thể dựng được nghiệp bá vương…” (Đại Việt sử ký toàn thư; Ngoại kỷ, quyển 3). Một là của Hồ Chí Minh: “Hai Bà Trưng có đại tài/ Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian/ Ra tay khôi phục giang san/ Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta” (Lịch sử nước ta).
Logic bài viết buộc phải phản biện lại một số ý kiến trong và
ngoài nước khi cho rằng, thời Hai Bà Trưng vẫn còn thời mẫu hệ, hoặc còn “dấu vết”,
hoặc “ảnh hướng lớn” thời mẫu hệ. Ý kiến này vô tình hay cố ý đã làm giảm đi
tính chất anh hùng cực kỳ lớn lao của cuộc khởi nghĩa. Còn nhiều ý kiến khác
nhau nhưng có thể phỏng đoán, thời phụ hệ đã có trước thời văn hóa Phùng
Nguyên, cách nay khoảng 4.000-5.000 năm. Ngay trong chùm truyền thuyết Hùng
Vương cũng nhiều lần nhấn mạnh: “Đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo,
thay đời truyền cho nhau đều hiệu là Hùng Vương không đổi”. Ngay trong truyền
thuyết Hai Bà có chi tiết được lặp lại nhiều lần là quan lại đô hộ bắt các thiếu
nữ về làm “tì thiếp” cũng nói lên thực tế xã hội đã ở thời phụ quyền. Thế nên,
nhìn từ “bình đẳng giới” sẽ thấy toát lên những vấn đề sau:
Một là, thời kỳ này không chỉ có một cuộc khởi nghĩa của Hai
Bà Trưng mà còn nhiều cuộc khởi nghĩa khác, có nhiều phụ nữ làm lãnh đạo.
Nguyên nhân trực tiếp là tội ác của Thái thú Tô Định vừa dùng hình phạt đàn áp,
bóc lột dân ta dã man, vừa thú tính dâm loạn. Chùm truyền thuyết về các nữ tướng
nói rất rõ điều này. Thần tích kể Ả Chạ (hay Ngọc Trinh Công chúa) là em ruột Ả
Chàng (tên khác là Ngọc Thanh) cùng nổi tiếng xinh đẹp và khỏe mạnh. Cha mẹ mất
sớm, Ả Chàng bị nhà quan bắt về làm thiếp khổ sở đến chết. Ả Chạ tức giận, tập
hợp lực lượng để chống quan lại. Được tin Hai Bà Trưng phát động khởi nghĩa ở
Hát Môn, Ả Chạ liền đem quân theo. Nhờ lập được nhiều công lao, Ả Chạ được
Trưng Nữ Vương phong làm Công chúa, chức Đại tướng. Truyền thuyết về Bát Nàn kể
vì quá uất ức do Tô Định giết cha để bắt mình về làm thiếp, Bát Nàn chạy về
trang Tiên La (thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày nay) mộ quân khởi nghĩa
rồi nhập vào quân Hai Bà, được trao quyền chỉ huy quân tiên phong.
Mô-típ Thái thú Tô Định giết người để cướp người (về làm tỳ
thiếp) ở nhiều truyền thuyết càng khẳng định Tô Định (đại diện cho kẻ thống trị)
là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự nổi dậy của các anh hùng nữ tướng. Cái lõi
của các truyền thuyết đều có một sự thật: Dù đã ở chế độ phụ quyền nhưng vai
trò của phụ nữ thời này vẫn rất lớn. Và khi kẻ thù tạo ra một bất bình đẳng giới
sâu sắc, phi nhân tính thì sự phản kháng mạnh mẽ của phái nữ như là một sự tất
yếu.
Hai là, mục đích lớn nhất của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là
“rửa sạch nước thù”, tức đặt lợi ích, quyền lợi quốc gia lên trên hết. Như vậy
đàn bà cũng ngang với đàn ông “quốc gia hưng vong nữ nhi hữu trách”. Trước khi
về tập hợp dưới cờ Hai Bà, nhiều nữ tướng đã khẳng định bằng sự nghiệp, cơ đồ của
chính họ chẳng khác gì các đấng nam nhi tài năng. Vốn quê Đông Triều (Quảng
Ninh), căm thù Tô Định giết cha mẹ, thương dân khốn khổ dưới ách đô hộ, Lê Chân
bỏ xứ đến đất An Biên (nay thuộc Hải Phòng) tổ chức khai hoang và lập ra đội
dân binh chống lại chính quyền ngoại bang. Bà đã đem quân sĩ theo Hai Bà Trưng
lập nhiều chiến công xuất sắc. Quân Hán khâm phục gọi bà là “Đông hải kình ngư”
(cá kình Biển Đông). Nhiều nữ tướng khác cũng có hoàn cảnh giống Lê Chân. Thù
nhà và nợ nước như hai dòng suối mạnh mẽ dồn về một con sông hừng hực sóng nước
sục sôi tinh thần khởi nghĩa, họ đã chủ động đứng dậy chống lại kẻ thù. Gặp
“minh chủ” cùng cơ hội thuận lợi, họ đều tập trung về dưới lá cờ đại nghĩa.
Ba là, đặt cái chung (nợ nước) lên trên cái riêng (thù nhà)
nên cuộc khởi nghĩa được quan lang quanh vùng ủng hộ. Như “tiếng gọi đàn”, nhờ
tinh thần “bình đẳng giới” nên quy tụ, tập hợp được nhiều tài năng nữ, trong đó
có tấm gương tiêu biểu là bà Man Thiện-mẹ đẻ Hai Bà Trưng. Chồng chết sớm, bà
thay chồng nuôi dạy con nghề trồng dâu và truyền dạy võ nghệ. Chính bà đóng vai
trò tổ chức lực lượng, liên hệ với các thủ lĩnh… Tướng lĩnh cuộc khởi nghĩa nữ
nhiều hơn nam. Họ đánh thắng nhiều trận khiến kẻ thù kinh hồn bạt vía.
Bốn là, cuộc khởi nghĩa là “tiếng thơm dài…”, thơm mãi vào cả
lịch sử nhân loại. Không chịu chấp nhận sự thật Hai Bà thua trận, dân gian đã
lý giải nguyên nhân thất bại theo hướng kết tội tướng giặc dùng mưu hèn kế bẩn
là cho quân lính… không mặc quần áo ra trận. Phần lớn là nữ nên quân Hai Bà xấu
hổ mà bối rối mất tinh thần. Chi tiết này chỉ có trong truyền thuyết, không có
trong chính sử. Đó cũng là một cách “thiêng hóa” tôn vinh các liệt nữ. Hướng
thiêng hóa này còn đi sâu vào tập quán tôn vinh các bà thành phúc thần, thành
hoàng làng trong các đình, đền… Vẫn chưa đủ, nó tràn ra cả bên ngoài đời sống kết
thành các lễ hội dân gian truyền đời lưu giữ. Kết hợp với tín ngưỡng thờ mẫu, sự
thiêng hóa còn ánh xạ vào các nghi lễ hát văn, hầu bóng. Điều này lý giải vì
sao các nghi lễ này thường diễn ra tại các di tích thờ nữ thần. Sự thiêng hóa ấy
đã làm nên sức mạnh nội sinh để tạo ra truyền thống bình đẳng giới sau này: “Giặc
đến nhà đàn bà cũng đánh”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đội quân “tóc
dài” ở miền Nam hay “đường cày ba đảm đang” ở miền Bắc chính là nét văn hóa thể
hiện rõ nhất tinh thần yêu nước quật khởi của Hai Bà Trưng vĩ đại.
Ngày hôm nay, thế giới nhìn nhận về khởi nghĩa Hai Bà Trưng,
trước hết là sự khẳng định, tôn vinh tinh thần “bình đẳng giới”, không chỉ ở
phương diện chính trị, sâu sắc hơn là ở phương diện văn hóa là đẩy lui cái tiêu
cực thủ cựu để cân bằng lại cả một nền văn minh phương Đông!.
9/3/2024
Nguyễn Thanh Tú
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét