Thơ của niềm "Trinh tĩnh" đầu nguồn
Tôi cho rằng toàn bộ thơ Trần Hùng, thật nhất quán, đều sáng lên vẻ đẹp của niềm “trinh tĩnh” đầu nguồn. Chữ “trinh tĩnh” được chiết xuất ra từ bài thơ “thời gian”, (“Thảm thắc”, NXB Hội nhà văn, 2015, tr.21), nằm trong câu thơ: “niềm trinh tĩnh vỡ òa”. “Trinh tĩnh” là một sáng tạo ngôn từ của nhà thơ, biểu đạt sự hòa phối của hai trạng thái: thanh khiết và tĩnh lặng. Rất lạ, sống trong một đời sống bụi bặm và hỗn độn này, nhà thơ chỉ quan tâm tới những gì thuộc về thanh khiết và tĩnh lặng yên lành…
Trong cách thế hiện hữu giữa đời sống văn chương, mỗi nhà thơ
sẽ có những lựa chọn khác nhau. Có người thích là nhân vật của đám đông. Có người
lại chọn lối lánh đời gần như là ẩn dật. Có người linh hoạt hơn, tùy những lúc
khác nhau, có thể thế này thế khác… Ngay cả chuyện viết cũng vậy. Có người
viết chậm, viết khó như người đàn bà hiếm muộn. Có người lại mắn đẻ, cứ sòn sòn
lớn bé chào đời. Còn nói về chuyện công bố tác phẩm thì có người chọn lối xuất
bản càng nhiều càng tốt. Có người lại in ấn đến mức dè xẻn… Thôi thì cũng là do
cái tính cái tạng của mỗi người mà ra cả, khó bảo cái nào hơn kém cái nào.
Nhà thơ Trần Hùng từ lâu đã cắm chắc đời mình ở mảnh đất Cao
Bằng, yên thân yên phận với mảnh đất này. Trần Hùng cũng là người viết chậm, viết
không nhiều. In ấn đối với nhà thơ lại càng tiết kiệm. Không phải ông không có
khả năng di chuyển nơi chốn khác hoặc làm khác về những điều vừa nói. Vấn
đề là ở chỗ ông chủ động lựa chọn như vậy, và thấy con người mình hợp khuôn với
những lựa chọn ấy. Ngay cả điều này cũng cần một độ quyết liệt cần thiết, để
mình không bị phân tâm hoặc bị khác đi cái bản ngã của mình, để được là chính
mình.
Cứ thế, Trần Hùng đã tạo dựng một cá tính thơ đặc sắc, không
lẫn trong diện mạo thơ đương đại.
Tôi cho rằng toàn bộ thơ Trần Hùng, thật nhất quán, đều sáng
lên vẻ đẹp của niềm “trinh tĩnh” đầu nguồn. Chữ “trinh tĩnh” được chiết
xuất ra từ bài thơ “thời gian”, (“Thảm thắc”, NXB Hội nhà văn, 2015, tr.21), nằm
trong câu thơ: “niềm trinh tĩnh vỡ òa”. “Trinh tĩnh” là một sáng tạo ngôn từ của
nhà thơ, biểu đạt sự hòa phối của hai trạng thái: thanh khiết và tĩnh lặng. Rất
lạ, sống trong một đời sống bụi bặm và hỗn độn này, nhà thơ chỉ quan tâm tới những
gì thuộc về thanh khiết và tĩnh lặng yên lành.
Nhưng niềm trinh tĩnh này nằm ở đâu, thuộc về đâu? Hóa ra
trong thi cảm của Trần Hùng, niềm trinh tĩnh chỉ có thể tìm thấy trong vẻ đẹp đầu
nguồn, tức là những thứ thuộc về khởi nguyên, ban đầu, nơi bắt đầu, vẹn nguyên,
nơi lần đầu tiên cất tiếng. Đó là tiếng nói của tuổi thơ, quê hương, của tình
yêu, tình bạn, của không gian thiên nhiên, phong cảnh. Tất cả được hòa phối,
làm nên một vẻ đẹp tinh khôi, lặng lẽ. Chẳng phải tuổi thơ và thiên nhiên tự
ngàn đời nay vẫn là nơi lưu giữ những vẻ đẹp đầu nguồn trong suốt đó sao!
Cho nên, có thể nói rằng Cái đẹp, hay là mỹ học Trần Hùng
chính là niềm trinh tĩnh đầu nguồn. Như một xác tín mang quyền năng chi phối
toàn bộ thế giới nghệ thuật thơ Trần Hùng. Điều này được trải ra trên ba điểm cốt
lõi: những hồi cố vọng về thực tại, những bức tranh tâm cảnh; và cuối cùng,
không gian vườn như một kết tinh nghệ thuật.
1. Những hồi cố vọng về
Nguồn thi cảm khởi đầu được cất lên từ thì hiện tại.
Nhưng không dừng ở hiện tại, không thu gọn trong hiện tại, mà Trần Hùng thường
quay ngược về quá khứ, trải lòng trong những hồi ức với nhiều liên tưởng phong
phú, bất ngờ.
Việc quay ngược về quá khứ thường rất phổ biến trong thơ ca từ
cổ chí kim. Tuy nhiên, quá khứ hiện lên ở mỗi người mang theo những giá trị
khác nhau. Có thể là nỗi đau, nỗi tiếc, nỗi hờn trách, sự thức tỉnh, có thể là
ý niệm về cái vô thường…Riêng ở Trần Hùng, quá khứ vọng về như là cách được tái
sinh, được sống lại, được triển nở thêm lần nữa.
Đây là nỗi nhớ cánh đồng hoa cùng người con gái ngày nào: “Tôi
nhớ hoa đồng nhỏ bé/bông hoa thoảng hơi bùn/cả cánh đồng hoa nở thản
nhiên/riêng em nở về tôi, tự nhiên như trời cho” (“Nhớ hoa”, Thảm thắc, tr.
135)
Đây là nỗi nhớ mùa thu: “Mây lang thang/nhớ mùa thu rất xa/từ
khu rừng cổ/nơi dòng nước mỏng mảnh/nhỏ từng giọt thời gian trong suốt” (“đồng
hồ mùa thu”, Thảm thắc, tr. 25).
Còn đây là nỗi nhớ người yêu:: “anh yêu em như mưa trên
sông/anh không em như gió hoang trên đồng/ước gì em là chim nhỏ cánh ướt/ngày
ngày nhặt từng hạt thời gian anh” (“Nhắn tin cho diễm xanh”, Vườn khuya ,
tr.57).
Có khi, nhà thơ tìm ngược về quá khứ theo cách gọi hồn.
Những con người, khung cảnh quá khứ cứ thế theo về: “Về đây/những dấu chân lấm
láp phù sa/nắng hanh hao vườn chè vạt mía / qua thác cao bão nước/ niềm trinh
tĩnh vỡ òa” (“Thời gian”, Thảm thắc, tr.21). Gọi hồn là một nghi thức tín ngưỡng
dân gian. Khi tiến hành gọi hồn, người ta tin rằng cái thể phách không còn nữa,
nhưng cái hồn vía, tinh anh sẽ còn và sẽ trở về cùng thực tại. Cái được gọi phải
là những giá trị hết sức thiêng liêng đối với người gọi. Có lần, nhà thơ Trần
Hùng tiến hành “gọi nguồn”, Thảm thắc, tr.147) với những cảm xúc nhớ nhung, tiếc
nuối:
Người ơi về đi (…)
Trở về đi ngày xưa nu na nu nống
Con thuyền tăm tắp hàng chân non trắng
bãi bờ ngô đã trở mình, phấn ngô bay
cây gạo cao sáo cũng đã về (…)
giờ người ở đâu
họa mi đang gắng lên hồi cuối
hãy về đi”.
Nhân vật trữ tình cất tiếng gọi một “em” nào đó, trong khung
cảnh thiên nhiên thanh sạch, động cựa, bừng thức. Cả vẻ đẹp tâm hồn, cả vẻ đẹp
của khung cảnh đều thuộc về những giá trị đầu nguồn trong veo, thanh sáng,
không hề thấy chất bụi bặm của niềm tục lụy.
Hầu như phần lớn các bài thơ của Trần Hùng đều là tiếng hồi
nhớ, tiếng vọng của quá khứ thức dậy. Có quá khứ thuộc tình yêu. Có quá khứ thuộc
tuổi thơ. Có quá khứ thuộc quê hương bản quán…Nhưng dù thế nào đi nữa, những mảng
màu quá khứ được phục sinh lần nữa trong vẻ trinh tĩnh nguyên khôi. Trong tâm hồn
nhà thơ, quá khứ không chịu kết lắng, mà thỉnh thoảng quẫy lên, sáng lên như tiếng
vọng thì thầm. Hồn thơ Trần Hùng ít (chứ không phải là không) quan tâm đến thì
hiện tại có tính xã hội. Hay nói cách khác, có thể đây là một biểu thị thái độ
đối với thực tại của nhà thơ chăng? Và cũng có thể đây là cách để “Đi tìm thời
gian đã mất”? Không thể đòi hỏi nhà thơ cứ nhất thiết phải thế này thế khác. Mỗi
người sẽ lựa chọn cho mình một cách nhìn thế giới. Về điểm này, Trần Hùng có
chút gì đồng điệu với nhà thơ Mai Văn Phấn. Họ gắn bó với thế giới này theo
cách của riêng họ.
Khi những hồi ức đẹp được đánh thức trong tâm hồn con người,
tự nó có ý nghĩa thanh tẩy tinh thần, dẫn chiếu con người hướng đến những giá
trị, những vẻ đẹp cao quý. Thơ Trần Hùng, khi trực tiếp nói ra như những câu
thơ dưới đây hoặc khi không nói ra, vẫn xem hổi ức như một thứ dưỡng chất tinh
thần nuôi nấng tâm hồn và nhân cách con người:
“cố hương ơi/ nếu không nhong nhong ấu thơ, không lùm tre lân
tinh, không những đêm trăng ướt, ngày ngày rực nắng, ta đã chết rồi/ta đâu còn
ngồi nhìn con đau ngủ/ta đâu còn mơ mơ bàn tay nhỏ/ta đâu còn chờ người đàn bà
xây lưng về hoàng hôn (“Cố hương”, Thảm thắc, tr.147).
2. Những bức tranh người – cảnh cộng sinh
Với một mật độ dầy đặc, thiên nhiên đã đi vào thơ Trần Hùng bằng
một con đường tự nhiên nhất. Có thể nói, mỗi bài thơ là một bức tranh sống động,
trong đó hiện lên thế giới thiên nhiên, phong cảnh trong mối quan hệ tương
giao, quấn quýt với con người. Như trên đã nói, cảm xúc thơ Trần Hùng thường vận
động ngược về quá khứ, nên những gì hiện lên trong thơ tựa như một bức tâm cảnh,
nghĩa là khung cảnh thuộc quá khứ, khung cảnh được nhớ lại, được chắt qua lớp
rây lọc của hồi nhớ nội tâm. Vì thế, những bức tâm cảnh ấy bao giờ cũng được phủ
lên một không khí lặng lẽ, mơ màng.
“Dưới vòm đêm hương đất dịu dàng lan tỏa
hoa ru im ánh trăng
se sẽ ánh sáng tươi trong
se sẽ vòm đêm tươi trong
đâu đây rơi tiếng lá cuối cùng
dư âm mịn màng thấm vào trong đất
ánh sáng mơ màng thấm vào trong đất
chỉ hoa trắng ru im
lối về thiêm thiếp” (“Lối trăng”, Thảm thắc, tr.133)
Hàng loạt những từ dịu dàng, ru im, se sẽ, rơi tiếng lá,
mơ màng, thiêm thiếp cộng hưởng lại, dựng lên một bức tranh đặc tả con đường
dưới ánh trăng, thời gian như ngừng lại, chỉ còn sự trinh tĩnh vĩnh hằng. Trong
bức tranh này, con người tuy vẫn có mặt, nhưng không lộ diện, được ẩn đi, nhường
chỗ cho thiên nhiên hiện lên toàn phần. Bài thơ đưa lại cảm giác như bức tranh
mầu với các đường nét, cường độ ánh sáng, hơi thở của thiên nhiên dâng phủ lên
mặt toan vậy.
Ở một biểu đạt khác, “Mơ quê” (Thảm thắc, tr.117) cũng phục dựng
một tâm cảnh trong mơ, đồng nghĩa với ám ảnh, nỗi nhớ. Con trâu, bó lạt, lưỡi
hái, con đỉa, con cua càng, con dế mèn, cánh đồng, dòng sông, đống dấm, sách
đèn, vở mực, bàn tay, em… đồng loạt hiện lên trong cơn mơ có phần như thảng thốt,
vô trật tự, có cả những phi lý. Câu thơ “có đàn voi bay nằm ăn lá ké” là một
câu thơ thật bất ngờ, đặc sắc, mang tính siêu thực. Tất cả thêu lên một bức
tranh quê sống động, chi tiết, nhưng cũng vô cùng trinh tĩnh, phi thời gian,
ngưng đọng, hiện hình.
Thơ Trần Hùng về cơ bản chỉ chăm chú biểu đạt thời gian quá
khứ như một đại lượng lớn bao trùm, ít dừng lại ở thì hiện tại, và không sử dụng
thì tương lai. Trong các bức tâm cảnh cụ thể, hầu như sự chuyển động của thời
gian bị tước bỏ, chỉ còn là trạng thái dừng lại, ngưng kết. Khi đó, sự sống
thiên nhiên và con người đồng hiện.
Một câu hỏi đặt ra đối với các nhà nghệ sĩ: tương quan giữa
con người và thiên nhiên trong tranh sẽ được xử lý như thế nào? Với họa sĩ, đây
là một câu hỏi thiết yếu. Nhưng trong thơ, không hẳn nhà thơ nào cũng ý thức được
về điều này. Nếu nhìn sâu hơn, nó còn phụ thuộc vào khung cảnh văn hóa của mỗi
dân tộc và mỗi thời đại.Thí dụ, nhìn một cách tổng quát, mỗi một loại hình/thời
kỳ văn học có cách xử lý vấn đề này khác nhau. Trong văn học dân gian, mối quan
hệ giữa con người với thiên nhiên về cơ bản theo tinh thần “thiên nhân hợp nhất”,
chưa tách con người ra khỏi thế giới tự nhiên, đồng nhất mình với tự nhiên. Đến
văn học trung đại, thiên nhiên được hiểu như một sự cảm ứng tương giao “Người
buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Truyện Kiều). Sang văn học hiện đại, lấy con người
làm trung tâm, thiên nhiên thường bị biến thành phông nền, phương tiện cho con
người. Tất cả buổi chiều mộng, cây me, cặp chim chuyền, mây biếc, con cò… trong
bài Thơ duyên (Xuân Diệu) tạo nên một bức “thu êm”, “chiều hôm ngơ ngẩn”, tất cả
như đồng lõa, như xúi giục khiến “Lòng anh thôi đã cưới lòng em”. Ở đây, hóa ra
thiên nhiên được tinh thần phân tích phương Tây biến thành phương tiện của con
người, thiên nhiên là nền cảnh và con người là trung tâm điểm.
Thế hệ sau Thơ Mới, một số nhà thơ đã có cách xử lý
khác. Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, Trần Hùng được xem như đồng dạng,
coi thiên nhiên như một niềm hoài nhớ, tiếc nuối, mất mát tuy cường độ mỗi người
mỗi vẻ. Mai Văn Phấn có khác các thi sĩ kể trên, phần lớn ông nhìn ngắm
và biểu đạt thiên nhiên ở thì hiện tại, theo lối trực họa, mang tính chất bạo động
và nhục cảm: “Sau cơn mưa dáng cây thon nhỏ/Mướt xanh hai mặt lá/Bàn tay lá ấy
luôn mềm//Tiếng chim bách thanh tung lưới/Thít chặt anh cùng bòng bưởi, rễ si/
Hoa cẩm quỳ, oải hương, phong lữ…/Dịu dàng thêm khăn áo mùa thu//Mắt em lóng
lánh khắp nơi khép lại//Anh bước lên vạt nắng/Một con thuyền ban mai/Em bảo hãy
chờ để khóa chặt cổng” (“Vườn em”). Tuy nhiên, các thi sĩ kể trên, về cơ bản có
chung một cách cảm nhận thiên nhiên và ứng xử với thiên nhiên: con người
và thiên nhiên là một mối quan hệ cộng sinh, tương thuộc, chung sống hài hòa.
Đây là một điểm rất mới so với thơ Việt truyền thống . Ở thời kỳ văn học chiến
tranh, cái nhìn coi thiên nhiên như một phương tiện không chỉ nằm trong địa hạt
tình yêu như tiền nhiệm của nó là Thơ Mới, mà còn được hình dung như vũ khí chiến
đấu tiêu diệt kẻ thù: “Đến ong dại cũng luyện thành chiến sĩ/ Và
hoa trái cũng biến thành vũ khí” (Tố Hữu). Các thi sĩ hậu
chiến, bằng một cảm quan mới về sinh thái, họ đã biểu đạt thiên nhiên và con
người trong mối quan hệ tương đối quân bình, hài hòa, không sa vào chủ nghĩa
nhân loại trung tâm (Anthropocentrism), nơi coi con người là vị trí số một và lấy
con người làm thước đo vạn vật trong vũ trụ.
Trở lại với thơ Trần Hùng, cảm quan về sự sống cộng sinh giữa
con người và thiên nhiên có mặt trong bất cứ bài thơ nào. Bài “Như mơ” (Thảm thắc,
tr.131) chính là một bức tranh vấn vít, hòa phối giữa người và cảnh: “Cơn mưa
đêm tung vó/những hạt mưa vỡ sáng/và ngọn phồn linh đã thắp lên/mở to trên lá
nước buồn như mắt/bao nhiêu tươi tốt bao nhiêu sinh lực/khúc hoan ca dâng hiến/và
chim đêm đã chuyền/và suối đã dòng…//Nhưng em không nói/nhưng em không lại/em
rùng mình như cây sau mưa/em đến thật rồi em đi thật rồi sao/vẫn còn đây đầm
đìa những cánh hoa/vẫn còn đây dấu chân trần đẫm nước/bậm những ngón hồng bé bỏng/và
kiêu hãnh”. Bài thơ chan chứa một tình yêu non trẻ, thanh khiết, platonic. Có lẽ,
chỉ khi để cho thiên nhiên tham dự vào tình yêu, cuộc yêu, thì sự biểu đạt mới
mang vẻ đẹp thuần khiết, thiêng liêng được. Không gian xã hội thế tục dễ vấy bẩn
lên tình yêu, hẳn vậy.
Nhà thơ rất hay thiết lập các tương quan so sánh, phần
lớn là tương quan giữa con người và thiên nhiên, theo cách: “mình lặng im trong
ngõ/mơ màng như hai trái ổi đêm” (“Mùa đom đóm” , Thảm thắc, tr.107). Nhưng có
khi tác giả cũng tiến hành đảo ngược lại, trao cho thiên nhiên địa vị là cái so
sánh, nhân hóa mang tâm trạng người:
– mở to trên lá nước buồn như mắt (“Như mơ”, Thảm
thắc, tr.131)
– mùa đông rồi sẽ qua/ đừng ánh trăng cửa sổ/ đừng thì
thầm nắng non (“Ánh lên gương mặt”, Thảm thắc, tr.5)
– mắt trời như say (…) /trái bòng non nông nổi/lăn
về (“Mùa hè ấy”, Thảm thắc, tr.71)
-“cho mùa vân tay” (“Mùa vân tay”, Vườn khuya, tr. 63)…
Dù ở tương quan nào, thiên nhiên cũng có mặt với một mật độ
bao phủ, tham gia vào biểu đạt tâm trạng, mở rộng liên tưởng, làm nhòe nghĩa,
và luôn luôn mang niềm trinh tĩnh đầu nguồn. Thiên nhiên trong thơ Trần Hùng
như một sinh quyển-thi quyển với trữ lượng lớn phổ khắp, tràn đầy.
Để cắt nghĩa về điều này, đọc vào văn bản cùng với quan sát đời sống tiểu sử của nhà thơ, khiến tôi nghĩ tới mấy điểm: i, tuổi thơ của nhà thơ trọn vẹn trong vùng nông thôn những năm 50-60 của thế kỷ trước, nơi thể hiện đầy đủ vẻ đẹp nguyên sơ, đầu nguồn của môi trường sinh thái; ii, sau này, khi lớn lên, nhà thơ lại sống và gắn bó trọn vẹn với mảnh đất Cao Bằng và cả một vùng Đông Bắc bạt ngàn rừng núi, sông suối, cỏ cây… Thổ nhưỡng ấy đã nuôi nấng tâm hồn thi sĩ, và thi sĩ đã tìm đến thiên nhiên như một nguồn dưỡng chất dồi dào và lành tính. Đây cũng chỉ là một suy đoán vậy thôi. Nó không phải là một tất yếu. Có người sống ở đô thị mà vẫn cứ thiên nhiên, có người sống giữa thiên nhiên làng cảnh, núi rừng mà lại chẳng thiên nhiên chút nào… Âu cũng là do cái tông cái tạng của người nghệ sĩ. Và cũng có thể có hay không một sự thức nhận đoạt quyền chi phối.
3. “Vườn” – một kết tinh nghệ thuật thơ
Rất dễ nhận thấy hình ảnh vườn với nhiều lặp lại, nhiều biến
thể có mặt đầy rẫy trong thơ Trần Hùng: vườn chè vạt mía, bờ vườn hoe nắng,
em hồn nhiên như lá cỏ trong vườn, rừng trăng, cánh đồng, vòm đêm, trăng vàng
ươm khu vườn quả thơm trễ nải, vườn trăng, vườn khuya, khu vườn trống, vườn nắng,
vườn người… Mảnh vườn là một không gian sinh hoạt thân thuộc của các gia
đình người Việt truyền thống, với những cây cối, côn trùng, hoa trái bốn mùa.
Khi đi vào thơ ca, từ dân gian cho tới thành văn, vườn đã trở thành một biểu tượng
đa nghĩa. Đặc biệt trong thơ Nguyễn Bính, vườn trở thành nơi hẹn hò thơ mộng,
nơi bày tỏ nỗi nhớ, nơi chứng kiến những sự lỡ làng trong tình yêu… Đến Trần
Hùng, vườn biểu đạt hai nét nghĩa: vườn biểu tượng cho nỗi nhớ cố hương, và vườn
biểu tượng của tình yêu.
Cố hương, quê cũ. Người ta sử dụng cách nói này để chỉ những
người vì lý do nào đó phải sống xa quê, xa trong khoảng cách địa lý, và xa cả
trong thời gian, ít có dịp trở về. Trần Hùng có cả một bài mang tên “Cố hương”
(Thảm thắc, 113) nói về nỗi nhớ, niềm ơn chịu đối với quê hương tuổi thơ của
mình:
Cánh bướm vàng bay bay
phấn hoa cải vàng bay bay
cá trăng thiêm thiếp
ngó sen thiêm thiếp
ai còn nhớ rõ
những ngón tay đồng trinh lấm bùn từ khi nào (…)
cố hương ơi
nếu không nhong nhong ấu thơ, không lùm tre lân tinh,không những
đêm trăng ướt, ngày ngày rực nắng, ta đã chết rồi…
Ở một biểu đạt khác, nhà thơ tiếp tục mượn cánh đồng, khu vườn
để nói lên nỗi nhớ quê với một chiều sâu thẳm: “giờ chim đã xa mây đã xa, nước
im/những hòn sỏi chơi ô ăn quan, những que bàn chuyền/những con quay gỗ nằm
đâu, chỉ cánh đồng làng mới biết/khu vườn nào nhiều sên đen, nhiều lũ đom đóm
ma, chỉ cánh đồng làng mới biết” (“Trên cánh đồng”, Thảm thắc, tr.129). Cùng vệt
với bài thơ này, còn là những bài “Mùa đom đóm”, “Mơ quê”, “Gọi nguồn”…(Thảm thắc)
cũng có hình ảnh mảnh vườn với nỗi nhớ, lòng ơn huệ đối với cố hương. Tất cả hiện
lên như những bức tâm cảnh trong vẻ đẹp trinh tĩnh đầu nguồn.
Vườn trong thơ Trần Hùng cũng là nơi cất lên muôn sắc tình
yêu. Vẫn nhất quán trong chiều hướng hồi nhớ, vẫn lặng lẽ ảo mờ, “Vườn
xưa” (Vườn khuya, NXB Hội nhà văn, 2015, tr.11) là một minh chứng thuyết
phục cho tính biểu tượng của hình ảnh “vườn” ở tác giả này:
“Em xa rồi phải không
mình tôi trong khu vườn lặng lẽ
vườn yêu xưa giờ nắng lá
phủ những dấu chân, phủ những lối mòn
phủ lên lời yêu ngàn lần lời yêu thật buồn
phủ ánh mắt như sương
hôm nay tôi niêm phong tình em
niêm phong lối vào khu vườn không cài then”
Niêm phong chưa phải là hết. Hành động niêm phong như là sự tố
cáo về một tình yêu đang còn vương vấn nặng.
Tôi muốn dẫn một trường hợp nữa, cũng để gia tăng thêm cái ý
cho rằng hình ảnh vườn trong thơ Trần Hùng đông đúc và nhiều ngụ ý như thế nào.
Trong bài “Thảm thắc” (lấy tên cho tập thơ, tr. 45), nhà thơ viết: “thôi chào
nhé/những bờ vườn hoe nắng/hoa rau dền gai, hoa rau sam tím/ chào dòng sông lặng
im (…) tôi đi/tôi đi/tôi đi/nhẹ-nhàng-như-cánh-bướm/tìm về giấc thụy miên vĩnh
viễn”. “Thảm thắc” là một hình dung từ rất riêng của nhà thơ để nói về nỗi nhớ
khắc khoải, có chút day dứt không yên của nhân vật trữ tình, tuy đã quyết lìa
xa nhưng lòng còn nhiều bịn rịn…
Thì vẫn là một bức tâm cảnh về tình yêu con người trong mối gắn kết hài hòa với thế giới thiên nhiên, tạo nên một thi quyển sống động. Có thể nói, số lượng thơ tình chiếm đến hơn một nửa trong thơ Trần Hùng. Và trong số này, phần lớn đi theo hướng đặt tình yêu trong khung cảnh vườn hoặc những biến thể của vườn, với rất nhiều cây, hoa, trăng, nước, tiếng chim, cánh bướm, tiếng ong… Nhờ vậy, tình yêu có được sự giao hòa chan chứa giữa cảnh và người, sự thanh sáng thiêng liêng, mang phẩm tính của thiên nhiên thuần khiết. Có thể kể khá nhiều những bài thơ tình của Trần Hùng đi theo hướng này: “Cúc xanh”, “Tan tác”, “Như mơ”, “Sonate ánh trăng”, “Nhắn cho diễm xanh”… (Thảm thắc); “Lưng hoa bóng đòng”, “Không màu”, “Ong đêm không cánh”, “Thỉnh giấc”, “Trong vườn khuya”…(Vườn khuya). Tôi tin những câu thơ: “anh yêu em như mưa trên sông/anh không em như gió hoang trên đồng/ước gì em là chim nhỏ cánh ướt/ngày ngày nhặt từng hạt thời gian anh” (“Nhắn tin cho diễm xanh”, tr.57) sẽ tươi tốt mãi trong lòng độc giả.
Quan sát đời sống văn học hiện thời, thấy có một xu hướng
đáng lo: dường như thiên nhiên ngày càng suy giảm, thưa dần trong trang viết của
các nhà văn. Cắt nghĩa điều này không hẳn dễ. Có thể do cảm thức đô thị đang ở
thế thượng phong? Hay các nhà văn bị hút vào những câu chuyện gay gắt của đời sống
thế sự và xã hội? Hay cảm quan về chủ nghĩa nhân loại trung tâm vẫn đang còn thống
ngự? Hoặc cũng có thể, ở tầng ý thức, các nhà văn chưa có một thái độ rõ rệt và
mạnh mẽ về vấn đề văn học sinh thái?…Trong khi đó, trên thực tế, thiên nhiên,
môi trường của chúng ta đang bị tàn hủy từng giờ từng ngày với đủ các loại động
cơ khác nhau. Nếu không cẩn thận, rồi mai sau con cháu chúng ta sẽ trở nên trơ
cằn và khánh kiệt về đời sống tinh thần, giá trị nhân văn, cả về kho tàng ngôn
từ vô cùng giàu có được sinh ra từ cội nguồn thiên nhiên nhờ nỗ lực biểu đạt
ngàn đời của cha ông.
Trên một tinh thần ấy, con đường thơ của nhà thơ Trần Hùng
càng trở nên quý giá. Làm sao có thể không yêu những câu thơ:
-“chim kêu sương nặng
râm ri lá đồng
sen tàn nước trong cành khô soi bóng…”
– “mình lặng im trong ngõ
mơ màng như hai trái ổi đêm”…
Quả thật, niềm trinh tĩnh đầu nguồn đã làm nên chân mệnh thi sĩ Trần Hùng.
13/6/2023
Văn Giá
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét