Bế Thành Long - Phác thảo
Nhà thơ Bế Thành Long – Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đã qua đời lúc 7h50 ngày 16.7.2023 (nhằm ngày 29.5 năm Quý Mão) tại quê nhà Cao Bằng, hưởng thọ 86 tuổi. Từ vùng biên cương này ở phía Bắc, nhà văn Hữu Tiến đã gửi về bài viết sâu sắc và xúc động tưởng nhớ đồng nghiệp đồng hương tài hoa Bế Thành Long, Vanvn.vn trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Bế Thành Long làm thơ từ những năm 60 của thế kỷ trước. Từ những
bài thơ đầu tiên Bế Thành Long đã tạo được dấu ấn riêng.
Trong bài “Hoa Mười Giờ” cái tạng thơ Bế Thành Long biểu
hiện rất rõ: Gọi là hoa mười giờ lan như cỏ/ Đón nắng nguồn cơn cõi ấu
thơ/ Mà tôi thường dễ như hoa nọ/ Hễ nắng tràn lên cứ nở bừa. Hình như bài
thơ này đã dẫn hướng và tạo nên giọng điệu của Bế Thành Long.
Thơ ông rất cần cái “nắng nguồn cơn”. Có cái nắng kia thì hoa
mới “nở bừa” được. Ông đặt cảm xúc lên hàng đầu. “Nở bừa” mới là xúc cảm
mãnh liệt. mới là sự khát vọng giải phóng tâm hồn, tình cảm không gì ngăn cản
được và cuối cùng mới đích thực là Bế Thành Long. Có “nở bừa” thì ông mới ngẩn
ngơ trước một cô gái trong tranh: Tôi có cả một thời mê mả / Xem tranh cứ
ngẩn ngơ/ Em có mặt trước tôi vài thế kỷ/ Tôi già đi em trẻ vĩnh hằng. (Cô
Gái Mang Bình)
Nếu người làm thơ bình thường có thể sẽ đặt dấu hỏi chấm ở cuối
bài. Nhưng Bế Thành Long không đặt câu nghi vấn mà khẳng định. Ông khẳng định “Tôi
già đi, em trẻ vĩnh hằng”. Nhờ vậy, bài thơ này trở thành bài thơ tôn vinh cái
đẹp vĩnh cửu của nghệ thuật.
Có “Nở bừa” ông mới đưa người đọc đến một thế giới hư
vô của riêng ông: Ta thấy em/ Em chẳng nói gì/ Ta cũng chẳng nói gì/ Đất
nhẹ nở đầy hoa cúc dại/ Hương thơm khắc khổ vậy ư? (Hư Không)
Có “ Nở bừa “ ông mới vẽ được chân dung Tagor một cách xác thực
và sinh động đến vậy:Râu tóc cũng phải lòng mây gió/ Du hành suy tưởng trắng
phơ phơ/ Tương tư những đỉnh đời hóa đá/ Trong hư vô, cũng lạ trơ trơ… ( Chân
Dung Tagor)
Nhờ sự “Nở bừa” ấy mà ông nghe được tiếng đêm chìm vào không
gían tĩnh lặng đến mơ màng: Trăng lặn đi tìm yên tĩnh/ Trời dâng trong suốt
đung đưa.
Và:Sương ngủ dềnh dàng sông suối/ Gió thơm quên mất lối về (Tiếng
Đêm)
Thơ Bế Thành Long có yếu tố ảo, đã đành, nhưng ảo đến mức có
người yêu mà không xác định nổi thì quả là hiếm gặp: Ta bước đến còn em sững
lại/ Ta lặng người nghe năm tháng qua đi/ Cuộc đời vẫn có em mà chẳng biết /
Nên bạc đầu anh cũng chẳng có em (Ánh Trăng). Nhân vật trữ tình trong bài
thơ như sống trong mộng ảo, mơ màng thật đáng yêu. Mỗi lần đọc bài thơ
này không hiểu sao tôi hay liên tưởng đến bài thơ “Như Không” mà nhà thơ Trần
Hùng viết tặng ông: Tuổi bảy mươi/ tự tin như trẻ lên ba, bồng bột như một
ông già, buồn buồn như con gái/ Vầng trán lang thang nơi nào ấy chưa về…Bạn ngồi
râu như cỏ/ ngọn khói lắc lư cười.
Năm 2012 cuốn tiểu thuyết Hữu Hạn của tôi vừa in xong, tôi phấn
khởi đem sách đến nhà tặng ông. Ông vui vẻ đón nhận rồi cẩn thận cất trên giá
sách. Khoảng tháng sau tôi đến dò xem nhận xét của ông về cuốn sách:
– Anh đọc cuốn sách của em chưa? Tôi hỏi.
– Mắt mình độ này kém quá ngại đọc lắm! Ông cười trả lời.
– Thế anh có đưa cho chị đọc không? Tôi lại hỏi.
– Không! Bà ấy đọc thì lục xục cả đêm không ngủ được! Ông trả
lời rồi đứng dậy pha chè mời tôi.
Nghe ông nói thế tôi không hề tự ái. Bởi tôi biết tính ông. Nếu
người khác sẽ nói khéo hơn để tránh tác giả bị sốc. Với Bế Thành Long thì
không, ông cứ hồn nhiên trải lòng mình như thế.
Bài thơ “Bóng Quê Hương” ông viết năm 1960. Hoàn cảnh ra đời
bài thơ trong khi ông xa quê hương. Chẳng thế mà bài thơ có năm khổ hai
mươi câu thì khổ nào mở đầu cũng bằng từ “chắc” nên hình ảnh quê hương hiện lên
bằng sự phỏng đoán: “Chắc sáng nay quê tôi mù sương bạc/ Chắc buổi trưa nay gió
núi ngừng/ Chắc chiều xuống hút rừng xào xạc/ Chắc sương đêm nặng khô tàu chuối/
Chắc không quên rau hàm ếch đắng”. Nhưng mọi sự phỏng đoán đều rất chính
xác bởi quê hương luôn nằm trong tiềm thức của ông. Ông dùng từ “chắc”ở đây chỉ
đơn thuần là thủ pháp mà thôi. Nhờ thủ pháp phỏng đoán nên Bế Thành Long đã có
nhiều câu thơ hay về quê hương: Chắc chiều xuống hút rừng xào xạc/ Lũng mờ
xanh, xanh ngái hương chàm/ Cỏ xanh cứ bời bời không ngủ/ Bước trâu chờ bước
nghé lang thang/ Chắc đêm nay lạnh khô tàu chuối/ Lệch tiếng xe trâu chở gỗ
ngàn/ Em trai tròn giấc trong rơm ấm/ Lòng ghập ghềnh xa lắc gõ mênh mang. Bài
thơ này in trên tạp chí Văn nghệ Quân Đội và tạo được dư luận tốt từ bạn
đọc.
Bài “Mơ Hồ” ông thừa nhận: “Còn tôi mơ hồ ở đâu chẳng
rõ?/ Có cái gì tôi cũng bỏ quên”. Ông nói là không nhớ gì nhưng thực chất
ông nhớ lắm. Nhớ chính xác tới từng chi tiết nhỏ của đời sống quanh
ông. Ông nhớ: Cỏ mùa xuân hoa gạo rơi/ Quả gạo bung bay trời sông Mãng/
Người thợ ngõa đạp bàn xuay nặn đất/ Bà thím thắt tạp dề làm bánh cao chằng.
Thơ Bế Thành Long ảo. Nhưng thơ Bế Thành Long cũng rất thực.
Thực khi ông viết về con người về thiên nhiên. Thơ ông không hề xa rời cuộc sống
mà rất gần gũi cuộc sống hôm nay. Bế Thành Long có cái nhìn độc đáo và chính
xác về cuộc sống, về thiên nhiên tươi đẹp: Vòm động thức con dơi treo giấc
ngủ/ Nhũ đá gầy buông thõng tháng năm đi ( Xuân Rừng)
Bài thơ hay ở cái nhìn trái qui luật. Vòm động là tĩnh nhưng
lại động (thức). Con dơi động nhưng lại tĩnh (ngủ ). Và nhũ đá trong hang động
được tạo bởi những giọt nước qua hàng nghìn năm chỉ tĩnh một cách tương đối bởi
tháng năm níu vào đấy kéo dài mãi ra. Qua hình ảnh “nhũ đá gầy” Bế Thành Long
đã thu cả nghìn năm vào một câu thơ ngắn. Ở đây không những thể hiện tài quan
sát mà còn nói lên sức liên tưởng không cùng của tác giả.
Hay ở bài “Tre cuối xuân” cũng vậy. Sự kỳ diệu của thiên
nhiên được ông miêu tả kỹ càng: Cụng cựa tre giằng răng rắc/ Vặn mình phơi
hết lá đỏ au / Xin trả cho trời tất cả/ Trả trời bao nắng nỏ đã vay.
Sự lạc quan yêu đời của ông còn thể hiện ở một bài thơ khác
cũng nói về cây tre: Xuân chín đem tre rộ sức vàng/ Bập bùng lên nắng gió
hoe ran/ Lao xao ngang khúc ghềnh khô khát/ Đổ bóng sông xô rực rỡ tàn (Tre
Xuân Trên Ghềnh Sông Hát Gia)
Bài “Dưới Sao Chiều Lấp Lánh” là bài thơ tả thực nói về sự hồn
nhiên của trẻ thơ. Đọc nó ta thấy ấm áp trong lòng: Thằng bé ăn mày tới cửa/
Chỉ thấy chủ nhân kháu khỉnh chạy ra Và chìa tay/ Ăn mày chỉ có mỗi chiếc bích
qui/ Nó đặt vào tay em bé rồi đi/ Dưới sao chiều lấp lánh.
Bài thơ như một câu truyện ngắn, kiệm lời nén ý. Thằng bé ăn
mày đưa cả chiếc bích qui cho bạn cùng trang lứa không quen biết. Có thể nó sẽ
đói nhưng trong lòng lại rất vui. Chẳng thế mà với hai bàn tay không nó tung
tăng đi dưới sao trời lấp lánh. Bài thơ ngắn nhưng nặng tính nhân văn.
Ông cảm thông với các cô gái quá lứa, lỡ thì trên cung đường
giao thông trên núi cao, hẻo lánh: Diều hâu lượn những vòng tê cóng / Mây
bay mù mịt / Mà hoa đào vẫn nhớ/ ỗi lần xuân thức dậy một lần hoa (Núi Trắng)
Ông có những câu thơ hay nói về tâm trạng của những người xa
quê nhớ về quê hương hoặc là gặp lại bạn bè sau nhiều năm xa cách: Em giặt
áo bên dòng sông nọ/ Mấy lần thơm lại nắng quê hương
Hay:Gặp bạn cũ ông già run rẩy/ Kiến bò ra trời ấm nôn nao
(Cảm xuân)
Có thể ví thơ Bế Thành Long như một dòng sông chảy giữa hai bờ
thực và ảo. Hai yếu tố này tạo ra giọng thơ độc đáo mang thương hiệu Bế Thành
Long. Sau hơn nửa thế kỷ cầm bút đến nay Bế Thành Long mới cho công bố hai tập
thơ, Một ở nxb Văn hóa dân tộc, năm 1996 tập “Cỏ May”. Một ở nxb Hội nhà văn tập
“Ở Nguồn”, năm 2005. Nhưng tầm của nhà thơ không phụ thuộc vào số lượng tác phẩm
mà được đo bằng chất lượng của từng bài thơ.
Bế Thành Long không chỉ đằm mình vào chữ nghĩa mà ông còn
cháy hết mình trong mỗi dịp đọc thơ. Ông đứng dậy không nói câu rào trước đón
sau, không thưa gửi, ông giơ bàn tay lên, ngón trỏ động đậy. Ấy là lúc ông bước
vào cõi thơ linh thiêng và huyền diệu. Còn nhớ dịch giả Phạm Vĩnh Cư lên Cao Bằng
dự đám cưới của nhà văn Tạ Duy Anh, ông là giảng viên trường viết văn Nguyễn Du
có gặp gỡ một số văn nghệ sĩ Cao Bằng. Trong buổi gặp đó nhà thơ Bế Thành Long
có đọc cho ông nghe bài thơ lục bát do chính Bế Thành Thành Long phóng tác từ
tiểu thuyết Đông ky sốt của nhà văn Mi guel Cer Vantec. Đông ky sốt
là nhân vật điển hình của sự ảo tưởng, sống xa thực tế. Ông Phạm Vĩnh Cư
rất thích. Riêng tôi đã được ông đọc cho nghe nhiều lần, nhưng chưa bao giờ thấy
chán. Không hiểu vì sao trong hai tập thơ của ông lại vắng bài thơ này. Bài thơ
lục bát khá dài, lâu rồi, nay tôi chỉ còn nhớ hai câu cuối:
Xăng xô ơi! Bạn chung tình/ Chiến công sau đến với mình còn
to.
Xăng xô là anh chàng nông dân lùn làm giám mã cho Đông ky sốt.
Trong buổi gặp gỡ đó ông còn đọc bài thơ ông dịch ra tiếng
Tày bài thơ của nhà thơ Thổ Nhĩ Kỳ Na Zim Hikmetmet (1902- 1963). Xin chép ra
đây một đoạn theo trí nhớ:
Mủa thu vuồm mà thâng/ Tọ chang suôn co mác/ Co mác slúc van
năm/ Lao hí mác van tốc/ Vảng gạ đạ lùm căn/ Khay tu chài thả nọong/Thả nọong
tu khay lầng.
Ông Phạm Vĩnh Cư không hiểu tiếng Tày nhưng ông bảo âm hưởng
tiếng Tày nghe rất thích.
Bế Thành Long làm thơ để gửi nỗi lòng vào câu chữ là chính
ông không màng đến giải thưởng hay để được kết nạp vào Hội nhà văn. Một lần vào
năm 2006 nhà thơ Trần Hùng mời tôi đi uống cà phê và nói:
– Hội Nhà văn gửi công văn do nhà thơ Trần Đăng Khoa ký về việc
tìm tác giả tiêu biểu để xem xét kết nạp. Theo anh ở Cao Bằng ai xứng đáng?
– Theo mình chi có Bế Thành Long thôi! Tôi trả lời.
Trần Hùng nhất trí rồi bảo tôi đến gặp Bế Thành Long nhắc ông
làm đơn. Tôi liền thực hiện ngay. Cẩn thận tôi đem theo cả giấy bút từ cơ quan
đề phòng ông không có sẵn. Đầu năm 2007 ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt
Nam. Biết ông có tin vui, tôi cùng mấy người bạn văn kéo đến chia sẻ, ông thản
nhiên đón nhận những lời chúc mừng của bè bạn. Ông không nói gì mà chỉ cười hiền.
Ánh mắt ông nhìn về một nơi nào đó xa lắm, hình như ông đang mải mê nắm bắt một
ý tưởng mơ hồ vừa hình hành trong đầu. Tâm trạng ông lúc này đúng như câu thơ
ông viết: Còn tôi mơ hồ ở đâu chẳng rõ/ Có cái gì tôi cũng bỏ quên. Biết
đâu lúc này ông đã quên cả việc mình vừa được kết nạp vào Hội Nhà văn rồi cũng
nên. Tôi thầm nghĩ.
“Vầng trán lang thang nơi nào ấy chưa về”. Câu thơ của Trần
Hùng khắc họa thần thái của Bế Thành Long thật chính xác.
Vâng! Bế Thành Long là vậy: Vừa như gần gũi vô cùng lại
vừa như xa vời vợi.
16/7/2023
Hữu Tiến
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét